PDA

View Full Version : Cuộc khởi nghĩa của Mai Hắc Đế



nguoibanso25
14-02-2011, 23:38
Mình mới gia nhập diễn đàn, không biết, chủ đề này đã có chưa, cách đây vài năm mình có đọc 1 bài báo trong đó nêu ra nghi vấn về việc Mai Hắc Đế gánh vải triều cống vua nhà Đường, dựa trên những luận cứ sau:
1. Về vấn đề ngày đó ở Việt Nam có loại vải nào ngon để được triều cống, theo đó có nghi vấn là hiện nay vùng miền trung nước ta không có loại vải đặc sản nào. Loại vải ngon nhất nước ta la vải thiều Lục Ngạn, cũng chỉ xuất hiện gần đây (Theo mình nhớ không nhầm khoảng 1 thế kỉ, do 1 người ăn vải Trung Quốc thấy ngon, đã mang hạt về ươm, cây vải tổ đến nay vẫn còn)
2. Khoảng cách giữa Trường An và nước ta quá xa, việc giữ vải lâu không bị hỏng rất khó với kĩ thuật thời đó.
Đây là những điểm chính mà mình nhớ được, tiếc là không có điều kiện tìm hiểu sâu, và nghe ý kiến phản biện. Rất mong mọi người cho ý kiến về vấn đề này. Thân :D

SkeletonKing
15-02-2011, 15:41
Có lẽ là loại vải đã phơi khô. Xem Anh hùng xạ điêu có đoạn cũng nhắc đến món này, nhưng tên Hán của nó là gì tớ không rõ.

Nếu tác giả Kim Dung viết dựa trên tư liệu có thật, thì vải sấy khô đã có mặt ở Trung Hoa từ thời Tống rồi.

bungbia
15-02-2011, 17:53
Nguyên nhân cuộc khởi nghĩa theo sử Việt ta là do một thằng cha nào đấy lấy vải ăn cho đỡ khát. ( Truyền thuyết nó thế ).
Mà nói chung, dù gì ổng cũng khởi nghĩa rồi, không biểu ổng dừng được đâu.;));));))

Muitenbac777
15-02-2011, 18:08
Có lẽ là vải khô! Vải tươi mà đi gần 4000km thì dù có phi ngựa như bay suốt ngày đêm cũng không bảo quản kịp!

Khởi nghĩa Mai Thúc Loan có sai lầm về mặt quân sự khi thủ thành Vạn An trong khi quân chính quy nhà Đường đã có nhiều kinh nghiệm đánh thành lũy (thực tế họ tấn công ban đêm và ta thua)!

nguoibanso25
15-02-2011, 20:44
Hì, dĩ nhiên cuộc khởi nghĩa đã diễn ra, dù thất bại nhưng ý nghĩa của nó vẫn rất lớn. Mình chỉ muốn tìm hiểu chính xác hơn, việc nguyên nhân trực tiếp dẫn đến cuộc khởi nghĩa, có phải do việc triều cống vải thời Đường (Nhớ đến Đường Minh Hoàng và Dương Quý Phi) như 1 số tài liệu viết. 1 điều thắc mắc là có thể vải được sấy khô, nhưng đó là giống vải gì, ở đâu? Có còn đến ngày nay không? (Hì, có lẽ giống vải đó đã bị thoái hóa :D).

lleekeung
16-02-2011, 08:34
Có lẽ là loại vải đã phơi khô. Xem Anh hùng xạ điêu có đoạn cũng nhắc đến món này, nhưng tên Hán của nó là gì tớ không rõ.

Nếu tác giả Kim Dung viết dựa trên tư liệu có thật, thì vải sấy khô đã có mặt ở Trung Hoa từ thời Tống rồi.

tên nó là "lệ chi hạch"

thái mỏng phơi hay sấy khô được dùng làm thuốc.
Theo Đông y, vải có tác dụng ích tâm, ôn tỳ, tư thận, bổ huyết, dưỡng can, trừ phiền khát, làm tỉnh táo tinh thần, minh mẫn trí óc, tăng sức lực, tăng thân nhiệt, trừ hàn, tráng dương, tiêu thũng, làm đẹp nhan sắc.
<:P
.................................................. .................

nguoibanso25
16-02-2011, 21:02
Giả sử vải triều cống là vải khô. Như vậy mình thấy có 1 vấn đề đó là phải có 1 lượng vải lớn để sấy khô (Vì việc Mai Hắc Đế đã huy đông lượng lớn dân phu khởi nghĩa, chứng minh phải có rất nhiều vải khô được vận chuyển). Để có lượng vải lớn như vậy cần nguồn nghuyên liệu lớn. Phải chăng có thể đặt câu hỏi về việc ngành trồng vải (nói riêng và hoa quả nói chung :D) phát triển nhất định thời đó? Liệu có những "công xưởng" sản xuất vải khô triều cống không nhỉ? Cũng như việc buôn bán. Hì, mọi người cùng thảo luận nào.
Mà chưa ai cho ý kiến về giống vải ở nước ta nhỉ? Có thể là không hẳn ngon nhưng có yếu tố đặc biệt để được triều cống (Như công dụng làm thuốc......)

ruby527
17-02-2011, 08:11
Về cây ăn quả nước ta ngày xưa có rất nhiều tài liệu ghi chép. Có thể dẫn ra đây sách của sư giả Sài Thung thời Nguyên hay của Lê Quý Đôn. Chuyên canh cây ăn quả thì chưa thấy nhưng đồ ăn thức uống thì mái thoải.:D

SeaBoy
17-02-2011, 10:37
nếu dùng cách của quân báo thì việc di chuyển giữa Long Biên và Trường An không quá khó khăn.

sử dụng ngựa khỏe tải ít chừng chục cân. rồi chạy liên tục đến dịch trạm tiếp theo đổi người. với cách làm này ngựa phi nước đại tầm 6-8 tiêng cũng đã đi được cả mấy trăm km. khoảng cách trường an - long biên tầm 3000-4000km thì ngựa chạy kiểu này mất chừng 2 ngày đến 3 ngày.

chienbinhgiuden
17-02-2011, 11:31
2 đến 3 ngày àh :-? nếu là 2 đến 3 ngày mà biết canh độ chín của Vải thì hoàn toàn có khả năng vải đến có mỏ của ông vua ĐƯờng là chín nhỉ ? :-?

crazy.com
17-02-2011, 11:38
nếu dùng cách của quân báo thì việc di chuyển giữa Long Biên và Trường An không quá khó khăn.

sử dụng ngựa khỏe tải ít chừng chục cân. rồi chạy liên tục đến dịch trạm tiếp theo đổi người. với cách làm này ngựa phi nước đại tầm 6-8 tiêng cũng đã đi được cả mấy trăm km. khoảng cách trường an - long biên tầm 3000-4000km thì ngựa chạy kiểu này mất chừng 2 ngày đến 3 ngày.

Chưa chắc đã thế bởi ngựa còn phải qua nhiều địa hình nên có thể chậm hơn nhiều !!! VD như gặp sông nhưng không có thuyền ở chỗ hoang vu thì lại mất thời gian để đi vòng qua sông hay xin thuyền chẳng hạn

chienbinhgiuden
17-02-2011, 11:58
Đây là chuyện đồ ăn của Vua , tất cả điều phải đc chuẩn bị kỹ càng thuận lợi chứ !! Đang ngồi buồn buồn lệnh xây 1 toàn tháp để dzo ăn chơi còn đc xá gì 1 (hay 1 chục) bến thuyền chứ .

Thiên Lang
17-02-2011, 12:07
Có 1 giả thuyết là "Mai Thúc Loan chỉ làm phu mộ vải", có nghĩa là vận chuyển vải thôi. Như vậy không cần thiết phải vùng quê Mai Thúc Loan có vải, mà có thể là vải từ vùng khác, và lúc đó do cần lương nhân công lớn nên chiêu mộ phu gánh vải từ khắp nơi vùng Giao Châu.
Mai Thúc Loan không phải có chí thống lĩnh toàn cõi, tài cao Bắc Đẩu gì để mà k thua. Nếu xem kỹ hành trạng chẳng qua là do bất mãn bởi công việc cực nhọc mà đứng lên tấn công thôi. Nói kiểu như nay là "tự phát" chứ không có "tự giác" ;)) quân Đô hộ thật ra cũng chỉ mất có vài cái thành chứ có mất toàn cõi đâu, và sau 1 lúc bất ngờ thì củng cố lại đc lực lượng rồi

nguoibanso25
18-02-2011, 00:20
1. Thứ nhất, mình không cho rằng việc vận chuyển vải sử dụng như cách quân báo vì:
- Việc sử dụng lượng phu vải lớn chứng tỏ việc cống vải với số lượng lớn.
- Với số lượng lớn như thế cần tốn kém rất nhiều ngựa, xây dựng các trạm ven đường dự trữ vải, ngựa, cũng như huấn luyện phu vải sử dụng ngựa (Hoặc là sử dụng lính Đường??????)
- Việc vận chuyển vải như vậy theo mình nghĩ chưa đến mức nặng nhọc để xảy ra khởi nghĩa.
2. Thứ hai, giả thuyết Mai Hắc Đế là phu mộ vải theo mình cũng có nhiều khả năng (Hì, không tin vùng Nghệ An có vải gì ngon, vải thôi nhé!!!). Như thế lại càng chứng minh cần vận chuyển 1 số lượng vải lớn. Mình không có tài liệu viết về lịch sử hoa quả Việt Nam (Trừ cuốn Lịch sử Việt Nam có nói sơ qua, hì), mọi người có thể tìm hiểu về loại vải triều cống này không? Thao mình biết Lê Quý Đôn có nói về giống vải Thanh Hà, nhưng cũng không đặc sắc lắm (Bây giờ không nổi tiếng bằng vải thiều- híc, lại có gốc Trung Quốc). Liệu có khả năng là phu Việt ta sang Trung Quốc vận chuyển vải từ vùng phía Nam Trung Quốc đến Trường An không?????????
3. Hì, có vài vấn đề thêm là khởi nghĩa diễn ra trong 10 năm hay chỉ trong 1 năm (722)???. Trên Wiki có đưa ra việc Mai Hắc Đế la 1 phú nông?????????
Vậy là chúng ta vẫn chưa đưa ra phương án vận chuyển vải tốt nhất, cũng như giống vải ngon nước ta thời đó (Híc, có lẽ tuyệt chủng rồi chăng?). Hì, lịch sử nhiều vấn đề còn uẩn khúc.

nguoibanso25
08-03-2011, 17:52
Hì, tìm ra rồi, đây là bài báo của tác giả Lê Mạnh Chiến công bố phản bác của ông đăng trên ba số 526, 527, 528 của tạp chí Thế giới mới với đầu đề: Phải chăng "nạn cống vải" là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến khởi nghĩa Mai Thúc Loan năm 722?", gồm các ý chính:

1.Thứ nhất, việc bảo quản quả vải để vận chuyển bộ từ Nghệ An sang kinh đô Tràng An (thời Đường) để cống cho Dương Quý Phi là không thể thực hiện được, quãng đường 4000km, đi trong nhiều tháng trời quả vải sẽ thối rữa.

2.Thứ hai, hàng ngàn năm nay, quả vải là đặc sản của Trung Quốc, chúng được trồng trong khu vực từ 23-35 độ vĩ bắc các tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây, Quế Lâm (TQ), ở đây từng tồn tại hàng chục giống vải cho quả rất ngon. Vải Thiều ở Hưng Yên được lấy giống từ giống vải ngon Thiều Châu của TQ từ hơn 100 năm nay.

3.Thứ ba, nói rằng vua Đường Minh Hoàng vì quá chiều chuộng Dương Quý Phi nên bắt quan lại ở An Nam Đô hộ phủ cho phu gánh vải quả từ nước ta để thỏa mãn nàng không thể xảy ra vào năm 722, vì khi đó Dương Quý Phi mới 3 năm tuổi, chưa thể là Ái phi của vua Minh Hoàng, và chưa thể có việc Mai Thúc Loan và đoàn phu gánh vải ấy!

4.Thứ tư, Mai Thúc Loan khởi nghĩa là vì tinh thần yêu nước chống xâm lược, chứ không phải vì vất vả, nhục nhã do phải làm phu phen gánh vải. Chúng ta không nên hạ thấp ý nghĩa lịch sử của khởi nghĩa Mai Thúc Loan.

Trong bài viết này Lê Mạnh Chiến chỉ ra sự bày đặt phi lịch sử của các sách lịch sử mới được biên soạn từ những năm 70 của thế kỷ XX cho đến nay, mà hầu hết các sử cũ của nước ta như đã dẫn, cả đến sách Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim xuất bản cách đây hơn nửa thế kỷ cũng không biết đến.

Ngoài ra khi tìm hiểu về các vị vua nhà Hán, còn tìm thấy chi tiết: Vua Hán Hòa Đế (trị vì 88-105): Năm 103, ông ra chiếu chỉ “cấm chỉ tiến cống”, nhờ đó giảm nhẹ cho nhân dân và quan lại các nơi các khoản đóng góp nặng nề và tốn kém; trong đó có cả việc bỏ lệ mang vải tươi, nhãn tươi từ miền Lĩnh Nam dâng lên vua trong dịp tế lễ
Vải tươi, nhãn tươi vùng Lĩnh Nam.

RedKnight89
08-03-2011, 18:23
Mai Thúc Loan không phải có chí thống lĩnh toàn cõi, tài cao Bắc Đẩu gì để mà k thua. Nếu xem kỹ hành trạng chẳng qua là do bất mãn bởi công việc cực nhọc mà đứng lên tấn công thôi. Nói kiểu như nay là "tự phát" chứ không có "tự giác" ;)) quân Đô hộ thật ra cũng chỉ mất có vài cái thành chứ có mất toàn cõi đâu, và sau 1 lúc bất ngờ thì củng cố lại đc lực lượng rồi

Anh không biết em xem kĩ cỡ nào :)

Hay là vẫn như là hồi trước,bằng trí tưởng tượng của mình, vẽ ra 1 thảm cảnh của đứa trẻ cù bơ cù bất bi kẻ thù giết mẹ giết cha xém chết đuối cho Nguyễn Ánh khi cầu viện giặc Xiêm La!

nguoibanso25
08-03-2011, 18:59
Anh không biết em xem kĩ cỡ nào :)

Hay là vẫn như là hồi trước,bằng trí tưởng tượng của mình, vẽ ra 1 thảm cảnh của đứa trẻ cù bơ cù bất bi kẻ thù giết mẹ giết cha xém chết đuối cho Nguyễn Ánh khi cầu viện giặc Xiêm La!
Mình không hiểu rõ lắm ý bạn, bạn định nói về nguyên nhân thất bại của khởi nghĩa Mai Thúc Loan không phải như bạn Thiên Lang nói :-??:-??:-??

Thiên Lang
08-03-2011, 19:32
Ngoài ra khi tìm hiểu về các vị vua nhà Hán, còn tìm thấy chi tiết: Vua Hán Hòa Đế (trị vì 88-105): Năm 103, ông ra chiếu chỉ “cấm chỉ tiến cống”, nhờ đó giảm nhẹ cho nhân dân và quan lại các nơi các khoản đóng góp nặng nề và tốn kém; trong đó có cả việc bỏ lệ mang vải tươi, nhãn tươi từ miền Lĩnh Nam dâng lên vua trong dịp tế lễ
Vải tươi, nhãn tươi vùng Lĩnh Nam.
đó là thời Hán, thời Đường đặt tô dung điệu thì cái lệ nộp này nó đã thành hình rồi

Anh không biết em xem kĩ cỡ nào

Hay là vẫn như là hồi trước,bằng trí tưởng tượng của mình, vẽ ra 1 thảm cảnh của đứa trẻ cù bơ cù bất bi kẻ thù giết mẹ giết cha xém chết đuối cho Nguyễn Ánh khi cầu viện giặc Xiêm La!
a lại chích e :)) e có bảo NÁ là đứa trẻ cù bơ cù bất đâu, chỉ bảo là bị giết dòng họ phải chạy trốn khắp nơi ấy chứ :)

nguoibanso25
08-03-2011, 19:41
À, ý mình là lệ cống vải đã có từ xưa, và đó là ở vùng Lĩnh Nam. Có lẽ vải triều cống thời Đường, cũng ở vùng Lĩnh Nam, chưa chắc đã là vùng Giao Châu.

jesuisseul
08-03-2011, 19:54
Việc tranh cãi này đã lên đến tầm mức cao nhất giữa các nhà sử học, cụ thể là giữa GS. Phan Huy Lê và nhóm những người phản bác quan điểm trên [1]. Mình thì nghiêng về nhóm phản bác do lý thuyết thì có thể, nhưng phương tiện, trình độ khoa học kỹ thuật thời đó là không thể đưa đc nhãn tươi từ nước ta sang đến kinh thành Tràng An ở tận Thiểm Tây bên Tầu nếu đi bằng đường bộ. Còn nếu Dương Quí Phi chỉ ăn nhãn khô thì còn gì là quí phi nữa.

Cuộc nổi dậy của Mai Thúc Loan phải do rất nhiều yếu tố khác nữa, như đi phu mò ngọc trai, săn tê giác... và phục vụ chủ yếu là quyền lợi của thái thú nhà Đường đóng ở nước ta khi đó. Cuộc nổi dậy này có vẻ giống cuộc nổi dậy của Spartacus chống lại Cộng Hòa La Mã hơn [2]. Nghe nói cụ Mai Thúc Loan làm dân phu nhưng khỏe mạnh, đen trũi chắc khỏe chẳng kém võ sỹ giác đấu Spartacus.

[1] http://daibieunhandan.vn/default.aspx?tabid=78&NewsId=200938
[2] http://en.wikipedia.org/wiki/Spartacus

Galahad
08-03-2011, 21:14
Có khi hồi đấy tay thái thú Giao Chỉ bắt dân chúng gánh vải cống cho hắn rồi chém gió là vải này dành để tiến vua cũng nên.

nguoibanso25
10-03-2011, 22:28
Có khi hồi đấy tay thái thú Giao Chỉ bắt dân chúng gánh vải cống cho hắn rồi chém gió là vải này dành để tiến vua cũng nên.
Có lẽ không, lệ cống vải có từ xưa, chẳng lẽ đời thái thú nào cũng chém :D, mà nếu cống cho hắn thì vất vả gì đâu, đến mức khởi nghĩa chứ!


Bổ xung 1 tý: bạn jesuisseul có 1 nhận xét khá hay la khởi nghĩa Mai Thúc Loan có nét giống khởi nghĩa của Spartacus, hì bạn có thể nêu rõ hơn không?


Mình nhận thấy rằng trong các cuộc khởi nghĩa thời Bắc thuộc, thường là do các hào trưởng 1 phương lãnh đạo như Hai Bà Trưng, Anh em Triệu Quốc Đạt,
Phùng Hưng,..... Trên wiki viết là: "Sinh thời Mai Thúc Loan vốn rất khỏe mạnh, giỏi vật, học rất giỏi và có chí lớn. Ông mở lò vật, lập phường săn, chiêu mộ trai tráng trong vùng mưu việc lớn. Vợ ông giỏi việc nông trang, nhờ đó "gia sản ngày một nhiều, môn hạ ngày một đông". Vậy thì Mai Thúc Loan cũng là địa phú ư?

jesuisseul
11-03-2011, 19:33
Bổ xung 1 tý: bạn jesuisseul có 1 nhận xét khá hay la khởi nghĩa Mai Thúc Loan có nét giống khởi nghĩa củong caca Spartacus, hì bạn có thể nêu rõ hơn không?



Một trong những đặc điểm nổi bật của các cuộc nổi dậy dạng này đó chính là chính tự phát khi hành động. Người nô lệ, người phu gánh vải đều có một mục tiêu duy nhất là thoát khổ không phải là ý tưởng cao cả hơn là vì nền độc lập cho nước nhà hay đơn giản lập nên một vương triều, một xã hội mới. Trong trường hợp Spartacus, ông đánh lại quân Rome để trốn chạy kiếp nô lệ thoát khỏi La Mã chứ chẳng có tham vọng cao sang gì bởi ông không có khả năng đó. Trong khi xuất thân của Mai Thúc Loan khác đôi chút (dù giống hoàn toàn các nhà lãnh đạo Đại Việt khác), lại rơi vào hoàn cảnh phải lãnh đạo một cuộc khởi nghĩa cũng tự phát nhưng lại là một nhà lãnh đạo có tham vọng hơn Spartacus. Việc ông thua quân nhà Đường chứng tỏ ông không hơn Spartacus về tài năng quân sự nhưng chỉ ra được mục đích cuối cùng của khởi nghĩa, sau này người Đại Việt ta hiểu được "lối thoát" và liên tục khởi nghĩa để chống lại sự cai trị hà khắc của các triều đình phong kiến Phương Bắc.


Hồi đọc sử về cuộc khởi nghĩa của Mai Hắc Đế, mình cứ liên tường ông giống Lý Quỳ, hai vai gánh 4 sọt vải nặng trĩu đi thoăn thoắt. Rồi sau này xem phim võ sỹ giác đâu (gladiator), mình lại thấy ông giống Spartacus thần tượng của các nhà cách mạng Phương Tây. :)

nguoibanso25
12-03-2011, 03:52
Đồng ý với bạn về điều này "Người nô lệ, người phu gánh vải đều có một mục tiêu duy nhất là thoát khổ không phải là ý tưởng cao cả hơn là vì nền độc lập cho nước nhà hay đơn giản lập nên một vương triều, một xã hội mới". Nhưng mình không hiểu đoạn này "sau này người Đại Việt ta hiểu được "lối thoát" và liên tục khởi nghĩa để chống lại sự cai trị hà khắc của các triều đình phong kiến Phương Bắc." (có nghĩa là từ cuộc khởi nghĩa của Mai Thúc Loan người Việt mới liên tục đấu tranh?). Bạn giải thích rõ hơn được không? Mình thấy đây là nhận xét thú vị :D

Bàn thêm 1 chút, khi dân chúng đói khổ tất sẽ loạn, bất cứ triều đại nào áp bức bóc lột dân chúng, thì dân chúng sẽ vùng lên. Thời Bắc thuộc, 1 cuộc khởi nghĩa diễn ra thường lấy nguyên nhân do sự hà khắc của bọn đô hộ. Vậy liệu tinh thần độc lập dân tộc của người Việt có được xét là 1 trong những nguyên nhân chính khiến chúng ta luôn vùng lên chống quân xâm lược? Hay là do người Việt ta không bị đồng hóa, bọn phong kiến phương Bắc bóc lột thậm tệ hơn so với người nước chúng, dân ta đói khổ hơn nên hay làm loạn dù ở phương Bắc đang là thời thái bình thịnh trị?

RegimentalHeavy
12-03-2011, 06:49
Thời Bắc thuộc, 1 cuộc khởi nghĩa diễn ra thường lấy nguyên nhân do sự hà khắc của bọn đô hộ. Vậy liệu tinh thần độc lập dân tộc của người Việt có được xét là 1 trong những nguyên nhân chính khiến chúng ta luôn vùng lên chống quân xâm lược? Hay là do người Việt ta không bị đồng hóa, bọn phong kiến phương Bắc bóc lột thậm tệ hơn so với người nước chúng, dân ta đói khổ hơn nên hay làm loạn dù ở phương Bắc đang là thời thái bình thịnh trị?

Tinh thần dân tộc của người Việt Nam thì luôn là nguyên nhân và động lực cơ bản cho mọi cuộc khởi nghĩa giành độc lập. Truyền thống văn hóa hàng nghìn năm và lòng yêu nước thương nòi là giá trị truyền đời không phai mờ, luôn túc trực trong lòng mỗi người Việt. Nhưng chỉ riêng mỗi tinh thần dân tộc thôi thì chưa phải là điều kiện đủ để có một cuộc khởi nghĩa.
Điều đó có thể hiểu đơn giản như thế này, rằng còn lòng yêu nước thương nòi, còn tinh thần dân tộc, thì chắc chắn sớm muộn cũng sẽ có cuộc khởi nghĩa nổ ra, khởi nghĩa giành độc lập dân tộc sẽ nổ ra là điều tất yếu. Nhưng khởi nghĩa diễn ra cụ thể như thế nào, khi nào sẽ bùng phát, khi nào thành cao trào, ... thì ấy lại phụ thuộc vào nhiều nguyên nhân khác. Những nguyên nhân ấy là cả về chủ quan lẫn khách quan, chính là sự cai trị của kẻ thù và bản thân sự giác ngộ và trình độ, năng lực, ý chí, hành động của người khởi nghĩa. Khi kẻ thù lâm vào thời kì thoái trào, triều đại phong kiến trở nên thối nát dần, thì cũng tương ứng với nó, mức độ bóc lột càng trở nên thậm tệ. Về phần chủ quan, mỗi khi hoàn cảnh trở nên khó khăn, thì đồng thời hoàn cảnh cũng thúc đẩy sản sinh ra những cá nhân kiệt xuất để đứng lên phá bỏ cái cũ, thiết lập trật tự mới, như các cụ nói "cái khó ló cái khôn", vậy nên các anh hùng thường xuất hiện vào thời kì khó khăn là vậy.
Như vậy, hoàn cảnh, thời cơ lịch sử cụ thể, nói theo kiểu các nhà nho, ấy là "thời thế", "mệnh trời", là nguyên nhân chủ yếu cho các cuộc khởi nghĩa, còn lòng yêu nước thương nòi ấy là nguyên nhân cơ bản của mọi cuộc khởi nghĩa.

nguoibanso25
12-03-2011, 12:54
Tản mạn 1 chút: :D
- Thời phong kiến, địa chủ quý tộc là tầng lớp lãnh đạo. Các hào trưởng, quý tộc Việt thời Bắc thuộc là giai cấp trên của xã hội mà bọn đô hộ dựa vào để thống trị nhân dân?
- Đa phần khởi nghĩa do các hào trưởng 1 phương lãnh đạo?
- Có câu chuyện về Hoàn Ôn thời Nam - Bắc triều ở Trung Quốc: Khi Hoàn Ôn khi đánh Tiền Tần, khi tới ngoại thành Tràng An, dân chúng người Hán bị khổ bị sự cai trị của Ngũ Hồ, đua nhau đổ ra đón, lấy lương thực ra khao quân Tấn. Có người già trong vùng cảm động nói: “Không ngờ hôm nay còn được thấy quan quân”. Nhưng các địa chủ ở gần Tràng An lại không có ai hoan nghênh ông. Hoàn Ôn lấy làm lạ. Hỏi ra ông mới biết rằng từ khi vào chiếm trung nguyên, các triều đình người Hồ đã dùng chính sách ưu đãi địa chủ người Hán, cất nhắc làm quan và cho miễn sưu dịch. Vì thế các địa chủ người Hán rất ủng hộ các triều đình Ngũ Hồ. Hoàn Ôn đóng quân thêm một thời gian nữa nhưng vẫn không thể kêu gọi được tầng lớp này. Hoàn Ôn cũng đã cầu danh sĩ người Hán là Vương Mãnh ra giúp mình, nhưng Mãnh từ chối và quay sang giúp quý tộc Tiền Tần (người sau đó trở thành vua Tần là Phù Kiên).
- Cuối mỗi thời phong kiến suy tàn, phong trào nông dân nổi lên khắp nơi, giữa những cuộc khởi nghĩa nông dân đó và những cuộc khởi nghĩa thời Bắc thuộc có gì khác nhau?

jesuisseul
14-03-2011, 00:05
Mình khằng định với bạn các cuộc khởi nghĩa, nỗi dậy thành công ở Đại Việt đều không phải là một nông dân lãnh đạo. Tất cả đều là những quý tộc địa phương từ Lạc Hầu, Lạc Tướng thời Hai Bà Trưng đến vua Lê Lợi, Nguyễn Trãi sau này đều là cựu địa chủ, cựu văn thần đời Trần. Họ luôn có sách lược, chiến lược rõ ràng kết hợp tuyên truyền lòng yêu nước, căm thù cai trị hà khắc của giặc phương Bắc để hướng người dân đến một triều đại tốt đẹp hơn về vật chất, tinh thần. Đây chính là ý mình muốn nói sự khác biệt giữa cuộc chạy trốn của Spartacus với khởi nghĩa của Mai Hắc Đế.

Về việc Hoàng Ôn hay Lưu Dụ tiến quân đến Tràng An, "mắt trước mắt sau" chực rút chạy thì đã được nhiều người đã nói trước rồi. Họ chỉ cần một chiến thắng về "đất tổ" chứ giải phóng dân Hán khỏi ách cai trị của tộc Tiên Ti, Hồ thì chỉ có mơ thôi. Chiến thắng này cần thiết để khi về triều đình Tấn ở phía Nam họ có chiến công để lật vua Tấn thôi.

Khi đọc câu truyện wiki của các văn nhân kiêm sử học các triều đại gốc Hán phía Nam trong thời Nam-Bắc triều thì sự khách quan là "chỉ mành treo chuông". Mình lấy các ví dụ về các cuộc chiến nhà Bắc Ngụy với quân Nam Tống thôi nhé [1]

Ví dụ 1,

"Thôi Hạo của Bắc Ngụy thấy quân Tống mắc sai lầm chí mạng là chỉ có 5 vạn (50 000) mà dàn ngang 2000 dặm đông tây nên lực lượng rất yếu ớt"

Ví dụ 2,

"Sau khi củng cố thực lực, năm 450, Thái Vũ Đế nhà Bắc Ngụy điều 10 vạn quân vây đánh Huyền Hồ. Tướng Tống Trần Hỷ chỉ có 1000 quân chống trả trong 42 ngày, quân Ngụy bị thiệt hại hơn 1 vạn (10 000) nhưng không hạ được thành. Tuy vậy, các thành xung quanh đều sợ thế Ngụy và bỏ thành rút chạy."

Ví dụ 3,

"Tướng Bắc Ngụy Trương Thị Liên Đề không chống nổi, tử trận cùng 3000 quân. 2 vạn quân Bắc Ngụy bị bắt, được Nguyên Cảnh cho thả hết."

Ví dụ 4,

"Tướng Bắc Ngụy Thác Bạt Nhân đánh Thọ Dương, hạ Huyền Hồ và Hạng Thành. Tống Văn Đế điều Lưu Khang Tổ cứu Thọ Dương. Quân Tống chỉ có 8000, đụng 8 vạn (80 000) quân Ngụy ở Úy Vũ. Chiếm ưu thế quân số, Thác Bạt Nhân tiêu diệt toàn bộ cánh quân này, giết chết Khang Tổ."

Bình luận :

Quân Nam Tống luôn có con số đơn vị là ngàn, quân Bắc Ngụy luôn có đơn vị là vạn. Sao vua Nam Tống thích "anh dũng" "bắc tiến" hoành tráng thế nhỉ.


[1] http://vi.wikipedia.org/wiki/B%E1%BA%AFc_Ng%E1%BB%A5y

nguoibanso25
15-03-2011, 00:54
Mình khằng định với bạn các cuộc khởi nghĩa, nỗi dậy thành công ở Đại Việt đều không phải là một nông dân lãnh đạo. Tất cả đều là những quý tộc địa phương từ Lạc Hầu, Lạc Tướng thời Hai Bà Trưng đến vua Lê Lợi, Nguyễn Trãi sau này đều là cựu địa chủ, cựu văn thần đời Trần.

- Mình đồng ý quan điểm này! :D
- Hì, có lẽ bạn đọc không kỹ câu chuyện Hoàn Ôn của mình. Tầng lớp quý tộc địa phương được bọn xâm lược lợi dụng để cai trị nhân dân, nhân dân đói khổ, họ sung sướng, nhân dân muốn nhớ đến nhà Tấn nhưng quý tộc địa phương chỉ muốn bảo vệ quyền lợi của mình.
- Tinh thần yêu nước của tầng lớp hào trưởng, quý tộc ở Việt Nam không ngừng đứng lên đấu tranh, đó là cái đáng quý vì họ là tầng lớp lãnh đạo, tinh hoa thời đó

jay210992
20-04-2011, 05:08
:D, cùng bàn luận nào
Cuộc khởi nghĩa của Mai Hắc Đế (http://lichsuvn.info/forum/showthread.php?t=19212)

Bạn đọc qua xem có giúp được gì không? Hì, thích liên tưởng của Tú tài jesuisseul. Khi bạn định hình được ý tưởng cốt truyện, chia sẻ mọi người cùng biết nhé! ;;), nếu bạn định làm truyện dã sử cũng không cần quá chuẩn xác đâu, lịch sử nhiều tranh luận!

Tài liệu nếu mọi người tìm được sẽ giúp bạn :-?

cám ơn bạn, mình tìm thêm dc rất nhiều chi tiết ko nghĩ tới, rất nhiều ý kiến tham khảo của mọi người, cám ơn tất cả, và đây là một số chi tiết của truỵen :).
kịch bản đại khái là:
Mai Thúc Loan quê ở châu Hoan thuộc quận Nhất Nam (nay là miền trung du của Nghệ An), vốn xuất thân từ tầng lớp bình dân, nhưng là người có tài năng và chí khí lớn. Cha là Mai Sinh, mẹ là Vương Thị, đều là người hiền đức, suốt đời chăm lo chí thú làm ăn và làm nhiều việc nghĩa. Tương truyền lúc sắp sinh ra nhà vua, bà mẹ nằm mộng thấy một thiếu phụ vận quần áo màu đỏ, đến trao cho một viên ngọc lớn. Bà nhìn xem, thấy đó là viên ngọc bích có năm sắc màu lung linh, hình dáng giống như quả trứng gà nhưng to hơn một chút. Bà cảm động, giơ tay đón lấy, nhưng chẳng may lỡ hụt, làm viên ngọc rơi xuống đá vỡ tan. Thế là bà tỉnh mộng. Đến khi sinh, nhận thấy đứa trẻ ở đùi bên trái có vết xanh đen, giống như hình đồng tiền, bà đem chuyện nằm mộng nói lại với chồng. Ông Mai Sinh lấy làm lạ, rồi suy gẫm hồi lâu mà giải mộng như sau:Ngọc hình quả trứng gà, lại có năm sắc lung linh, đấy là điềm của loài linh điểu mang năm đức tính tốt vận vào. Còn ngọc rơi xuống, có tiếng vang, lại bắn đi khắp nơi, ấy cũng là điềm lành, sau này đứa trẻ nhất định sẽ làm vẻ vang cho gia đình và đất nước, tiếng tăm sẽ vang dậy khắp nơi và lưu lại đến muôn đời. Chẳng biết ông Mai Sinh có như người ta "với tay một tấc đến trời" hay không, mà chỉ biết niềm tin của ông là sắt đá. Ông mời mọi người đến ăn mừng, rồi tuyên bố đặt con là Phượng, tự là Thúc Loan, lấy ngay các từ trong mộng. Nhưng thực không may, đến năm Mai Thúc Loan lên mười thì bà mẹ vào rừng kiếm củi bị hổ vồ, ông bố buồn rầu sinh bệnh, chẳng bao lâu sau cũng mất.Một người bạn của cha là Đinh Thế, gia tư giàu có nhưng lại trọng nghĩa khinh tài, thấy vậy, đem Thúc Loan về nuôi, coi như con đẻ.Ông quả là có con mắt tinh đời, thấy trước mọi việc. Đến khi lớn lên, quả nhiên Mai Thúc Loan có tướng quý và có nhiều tài năng xuất chúng, đúng như lời ông bố đã giải mộng.

Bộ Tân, vốn là thợ săn ở vùng Diễn Châu, từ nhỏ, ông đã dc cha dạy cách săn bắn, cưỡi ngựa cầm cung. 10 tuổi, Bộ Tân Đã bắn chết dc hổ. lớn lên, Bộ Tân trở thành thiện xa vùng Diễn Châu, người vùng này còn ví Bộ Tân như Hâu NGhệ, "Đứng xa ngàn dặm chỉ cần bóng ngươi không bé hơn hạt cát, mũi tên này sẽ đâm xuyên qua con mắt phải, chọc thủng vào não sọ... và kết liễu nhà ngươi trong nháy mắt". ( trong 1 lần đi chu du gặp dc Sỹ Lâm đang bị bọn quan lại ức hiệp bèn ra tay tương trợ)
Sỹ Lâm, 1 chàng trai ham học, từng đọc qua binh pháp, và các sách thánh hiền, có tài cầm quân, 1 lần ông mơ thấy có mặt trời màu đen mọc lên ở phía nam, cho là trời báo mộng, Lâm tin rằng rồi một ngày ông sẽ tìm được quân chủ xứng đáng, theo phò tá, hòng xây nghiệp lớn. Sỹ Lâm ở ẩn trên núi 6 năm cùng vợ(không muốn đi phu cho giặc) một lần xuống núi tình cờ ông chạm trán vs quan binh nhà đường, nhờ sự giúp đỡ của Mai thúc loan, Bộ Tân và dân chúng, 3 người trốn thoát dc, kết hảo hữu.
* tình cảnh đất nước lúc bấy giờ rất khốn khổ, trai tráng trong vùng bị bắt đi phu cho nhà đường, hằng năm nhân dân phải cống nộp những vật phẩm quý giá, đóng những thứ thuế hà khắc do nhà đường đặtra.
Sỹ Lâm vốn rất khéo hành xử, dễ nhận biết tâm tính người khác, qua cách nói chuyện Lâm biết họ Mai có y` làm loạn, lại mang mệnh thủy (trích wiki:Mai Hắc Đế mang mệnh thủy tức là nước, mà nước được tượng trưng là màu đen) rất hợp tình lại vừa hợp lí với giấc mơ của mình, ban đêm Lâm bèn mò vào phòng Mai Thúc Loan bàn chuyện cơ mật.... "dân khổ tất sẽ loạn, mệnh trời đã định, thời thế đã đến" bán tính xong 2 người về phòng.
hôm sau họ bèn đem truyện bàn lại vs Bộ Tân, vồn chất phác Bộ Tân hưởng ứng rất nhiệt tình! 3 người kết nghĩa huynh đệ, thề đánh đường dẹp bắc, sinh tử có nhau. (nhái tí 3 quốc)
sau này khởi nghĩa rồi thì sẽ có thêm các nv là các hào kiệt hội tụ dưới cờ ông... cái này thì có trong wiki, ko nhớ tên... :D
còn diễn biến về sau thì dài dòng lắm, mong mọi người giúp đỡ và cho mình thêm thông tin về Mai Thúc Loan nhé... :0 tks.

thức cả đêm rồi, đang buồn ngủ nên viết hơi chuối... mọi người thông cảm... :0
bài hát về Mai Hắc Đế này, hay đấy chứ... :)
http://www.youtube.com/watch?v=1V1Poca80qo

còn đây là 1 số hình ảnh trong truyện, có mấy tờ chưa des... :)
http://cB6.upanh.com/21.450.28400185.arV0/page01.jpg
http://cB2.upanh.com/21.450.28400241.cSS0/page03.jpg
http://cB3.upanh.com/21.450.28400272.QnK0/page04.jpg
http://cB3.upanh.com/21.574.28527662.B8x0/page05.jpg
http://cB9.upanh.com/21.574.28527668.u1E0/page06.jpg
http://cB8.upanh.com/21.574.28527677.uNA0/page07.jpg

Bách Việt 18
21-04-2011, 14:04
Khởi nghĩa Mai Thúc Loan không phải khởi nghĩa nhỏ qua một số chi tiết:

- Mai Hắc Đế liên kết với Chân Lạp và Lâm Ấp. Việt nam sử lược viết : "... Mai Hắc Đế lại kết hiếu với nước Lâm Ấp và nước Chân Lạp để làm ngoại viện..."

Tân Đường thư cũng ghi chép về liên minh quân sự này: “An Nam có Mai Thúc Loan làm phản, xưng Hắc Đế, dấy dân chúng 32 châu, bên ngoài liên kết với các nước Lâm Ấp, Chân Lạp, Kim Lân, chiếm giữ vùng Hải Nam, quân chúng có 40 vạn”.
Rõ ràng quân số của Mai Thúc Loan rất đông đảo (40 vạn), địa bàn hoạt động rộng lớn (32 châu), nhiều khả năng đã bành trướng sang cả địa phận Lào ngày nay.

- Mai Thúc Loan xưng Hắc Đế. Đã là đế thì phải lập quốc. Vậy tên nước khi đó là gì? Điều này không thấy sách nào ghi chép cả. Hắc Đế theo Việt Điện U linh có nghĩa là Thủy Đế. Màu đen, mệnh thủy, rõ ràng là vận dụng ngũ hành để chỉ... phương hướng. Hắc Đế nghĩa là vua phương Nam. Như vậy có phải nước của Mai Hắc Đế gọi là... nước Nam (Nam Bang) hay không?

Việc nhìn nhận khởi nghĩa Mai Thúc Loan là khởi nghĩa trên một địa bàn lớn, người tham gia đông đảo, lập quốc trong cả chục năm cho thấy chuyện cho rằng nguyên nhân khởi nghĩa là do sưu cao thuế nặng, gánh vải vất vả chẳng có lý chút nào.

lleekeung
21-04-2011, 14:15
cho rằng nguyên nhân khởi nghĩa là do sưu cao thuế nặng, gánh vải vất vả chẳng có lý chút nào.


thường thì trong SGK Lịch sử vẫn ghi "nguyên nhân sâu xa" và "nguyên nhân trực tiếp" ;))

Ta biết gì?
24-04-2011, 19:41
Vừa đọc được bài của GS Phan Huy Lê trả lời ông Lê Mạnh Chiến trên tạp chí Xưa Nay số mới. Về nhà mở mạng thì ra bài này vốn đăng trên tờ Đại Biểu Nhân Dân và đã được up lên rồi. Tbg? post chung với mấy bài của ông Lê Mạnh Chiến
Lê Mạnh Chiến
Đừng "gia hạn" cho những sai lầm trong sách giáo khoa
Báo Người đại biểu Nhân dân, số 67 và 68, ra ngày 27 và 29/4/2005
Trên tạp chí Thế giới Mới từ số 526 đến 528 (từ 10/3 đến 24/3 năm 2003), chúng tôi đã công bố bài “Phải chăng, "nạn cống Vải" là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến cuộc khởi nghĩa của Mai Thúc Loan năm 722?” Dựa vào rất nhiều cứ liệu thuộc nhiều lĩnh vực tri thức khác nhau, chúng tôi đã kết luận rằng, trong lịch sử nước ta, không thể có chuyện cống nạp quả Vải sang tận kinh đô Tràng An của nhà Đường như các nhà sử học hiện thời đã khẳng định trong tất cả các sách về lịch sử Việt Nam, trong đó có sách giáo khoa lịch sử lớp 6. Bài báo ấy đã được nhiều người hưởng ứng, họ chờ đợi ý kiến phản hồi từ giới sử học. Nếu thật sự là sách giáo khoa đã phạm sai lầm thì phải sửa chữa. Nhưng giới sử học vẫn im lặng, sách giáo khoa lịch sử lớp 6 vẫn được in lại y nguyên, sai lầm của họ được “gia hạn”. Theo lẽ thường, thì không ai có thể làm ngơ khi thành quả khoa học của mình bị bác bỏ. Các giáo sư của chúng ta không hề “nhu nhược” trong trường hợp như thế. Nếu bài báo kia đã nêu lên những luận cứ sai trái, làm ảnh hưởng đến uy tín của giới sử học thì nó không thể tránh khỏi sự “lên án” gay gắt. Âm thầm “gia hạn” cho sai lầm của mình là một cách xử sự kém văn minh. Các giáo sư hàng đầu mà còn xử sự như thế việc chấn hưng nền giáo dục hãy còn gay go lắm...

Sau đây, chúng tôi xin tóm lược bài “Phải chăng, "nạn cống Vải" là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến cuộc khởi nghĩa của Mai Thúc Loan năm 722?” cùng với những điều xung quanh nó.


1. Một phát kiến của các nhà sử học hiện đại

Tất cả các sách lịch sử từ các triều đại phong kiến Việt Nam đến khoảng năm 1955 đều nói đến cuộc khởi nghĩa của Mai Thúc Loan năm 722 nhưng không sách nào nói đến mối liên quan giữa "nạn cống Vải" với cuộc khởi nghĩa này. Nhưng, từ khoảng năm 1960 cho đến nay, hầu như tất cả các sách lịch sử mới biên soạn đều khẳng định rằng, "nạn cống Vải" chính là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến cuộc khởi nghĩa của Mai Thúc Loan. Xin nêu một số ví dụ.

Sách Lịch sử lớp 6 [1] dạy rằng:

"...Hàng năm, nhân dân ta phải cống nạp những sản vật quý hiếm như ngọc trai, ngà voi, sừng tê, đồi mồi, vàng, bạc…Đặc biệt, cứ đến mùa Vải, nhân dân An Nam phải thay nhau gánh Vải (quả) sang Trung Quốc nộp cống" (trang 63).

Cuối mục lớn "Khởi nghĩa Mai Thúc Loan (722)", các tác giả này viết:

"Khoảng cuối những năm 10 của thế kỷ VIII, nhân phải tham gia đoàn người gánh Vải (quả) nộp cống, Mai Thúc Loan đã kêu gọi những người dân phu bỏ về quê, mộ binh nổi dậy.

Nghệ An, nay còn truyền lại một bài hát chầu văn kể tội bọn đô hộ nhà Đường:

Nhớ khi nội thuộc Đường triều,
Giang sơn cố quốc nhiều điều ghê gai.
Sâu quả Vải vì ai vạch lá,
Ngựa hồng trần kể đã héo hon...

Sách Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến 1884 của Gs Phan Quang và Ts Vũ Xuân Đàn [2] , ở trang 73 cũng viết:

"Năm 722, Mai Thúc Loan kêu gọi những người dân đã cùng ông đi phu gánh Vải nộp cống nổi dậy khởi nghĩa. Từ một nhóm quân mấy trăm người, Mai Thúc Loan phát triển cuộc khởi nghĩa ra khắp vùng Hoan-Diễn-Ái (Thanh-Nghệ-Tĩnh)".

Quyển Việt Nam - Những sự kiện lịch sử từ khởi thuỷ đến 1858 của Viện Sử học [3] , viết về cuộc khởi nghĩa của Mai Thúc Loan như sau:

"Hàng năm, chúng bắt nhân dân Phong Châu phải cống loại tơ "bát tàm" (tơ của loại tằm một năm tám lứa), tàn nhẫn hơn nữa là bắt hàng ngàn nhân dân Hoan Châu phải đi cống nạp Vải quả. Quả Vải tươi phải gánh bộ sang kinh đô nhà Đường. Nhân dân cả nước căm giận, đặc biệt là nhân dân Hoan Châu, Phong Châu. Mầm khởi nghĩa của nhân dân ta bắt đầu từ những vùng này" (trang 39).

Sách Tóm tắt niên biểu lịch sử Việt Nam của Hà Văn Thư và Trần Hồng Đức [4] , trang 34 ghi:

"Năm 722, Mai Thúc Loan kêu gọi những người dân phu gánh Vải quả nộp cống cho nhà Đường (Dương Quý Phi rất thích ăn quả Vải đất Giao Châu) nổi dậy khởi nghĩa, nhân tài khắp các châu Hoan, Diễn, Ái theo về tụ hội dưới cờ nghĩa và suy tôn Mai Thúc Loan làm Mai Hắc Đế, đóng đô ở thành Vạn An (Nghệ An)".

Trong sách Các triều đại Việt Nam [5] các tác giả Quỳnh Cư và Đỗ Đức Hùng ghi nhận:

"Châu Hoan ngày ấy luôn bị giặc Chà Và (Gia-va), Côn Lôn (Mã Lai) cướp phá, nhất là ách đô hộ tàn bạo của nhà Đường, làm cho nhân dân vô cùng cực khổ. Đặc biệt, nạn cống quả Lệ chi (quả Vải) là một gánh nặng khôn cùng đối với nhân dân Hoan Châu. Nguyên do, ở Trường An, vua Đường có một nàng ái phi, thường gọi là Dương Quý Phi nhan sắc tuyệt vời mà tính tình cũng thật thất thường. Dương Quý Phi thích ăn thứ quả Lệ chi xinh xắn, chỉ ở An Nam mới có. Nên vua Đường bắt dân An Nam phải cống Vải" (trang 52).

Giáo trình Lịch sử Việt Nam, tập I [6] cũng có một đoạn y như ở sách Lịch sử 6 (đã được trích dẫn trên đây), ngoài ra, còn cho biết thêm:

"Nhân dân ta đời đời nhớ ơn Mai Hắc Đế, lập đền thờ ông trên núi Vệ Sơn và trong thung lũng Hùng Sơn. Một bài thơ chữ Hán còn ghi trong "Tiên chân bảo huấn tân kinh" để ở đền, ca tụng công đức ông như sau (tạm dịch):

Hùng cứ châu Hoan đất một vùng,
Vạn An thành lũy khói hương xông.
Bốn phương Mai Đế lừng uy đức,
Trăm trận Lý Đường phục võ công.
Lam Thủy trăng in tăm ngạc lặn,
Hùng Sơn gió lặng khói lang không.
Đường đi cống Vải từ đây dứt,
Dân nước đời đời hưởng phúc chung

Tương truyền, từ sau cuộc khởi nghĩa lớn lao này, nhà Đường không dám bắt nhân dân ta nộp cống Vải quả hàng năm nữa" (trang 287).

Sách Đại cương lịch sử Việt Nam, toàn tập [7] , khi viết về cuộc khởi nghĩa của Mai Thúc Loan cũng khẳng định: "Nhân dân hàng năm còn phải vận chuyển nhiều thức ngon vật lạ , nhất là Nhãn, Vải tươi nộp cho nhà Đường. Nhân dân ta rất căm phẫn, đó là lý do dẫn đến cuộc khởi nghĩa của Mai Thúc Loan" (trang 90).

Qua những quyển sách vừa nêu, độc giả đã thấy rõ sự nhất trí tuyệt đối của giới sử học khi nói về "nạn cống Vải". Thật vậy, rất khó tìm thấy một quyển sách lịch sử Việt Nam được viết trong mấy chục năm gần đây mà không khẳng định điều này.


2. Những chỗ dựa cho phát kiến của các nhà sử học hiện đại

Các nhà sử học coi những câu hát chầu văn còn lưu truyền ở huyện Nam Đàn và bài thơ trong đền thờ Mai Hắc Đế (cũng ở Nam Đàn, Nghệ An) là bằng chứng lịch sử làm chỗ dựa chính cho sự "phát hiện" của mình. Phát kiến đó còn được bảo đảm bởi các sự việc sau đây:

a) Các thư tịch của Trung Quốc xác nhận rằng, quả Vải (chữ Hán gọi là Lệ chi) là một đặc sản của vùng đất Giao Chỉ, chỉ ở nước ta mới có.

Thư tịch cổ của Trung quốc nhiều lần nói đến quả Lệ chi ở đất Giao Chỉ. Ví dụ, theo sách Nam phương thảo mộc trạng của Kê Hàm, đời nhà Tấn (265 – 420) thì từ năm 111 trước Công nguyên, Hán Vũ Đế dã cho mang hàng trăm cây Vải từ vùng Giao chỉ về trông ở Vườn Thượng Lâm ở kinh đô Tràng An, nhưng không cây nào sống được. Cứ phải trồng đi trồng lại mãi, cuối cùng cũng có một cây sống sót, cánh lá tốt tươi nhưng không có quả. Được một thời gian rồi cây đó cũng chết nốt.

b) Dương Quý Phi rất thích ăn quả Vải. Bà này được vua Đường Huyền Tông (tức Đường Minh Hoàng) sủng ái đặc biệt, nhà vua đã sai người vận chuyển quả Vải từ phương nam xa xôi về kinh đô Tràng An để chiều lòng bà ta. Nạn cống Vải bắt đầu từ đó. Đường Huyền Tông là kẻ đã sai Dương Tư Húc đem quân sáng đánh dẹp cuộc khởi nghĩa của Mai Thúc Loan năm 722.

Trong nhiều sách của Trung Quốc, khi nói về Dương Quý Phi hoặc nói về quả Lệ chi, thường thấy nhắc đến bài thơ "Quá Hoa Thanh cung" (“Qua cung Hoa Thanh” [8] ) của Đỗ Mục (803-852), một nhà thơ nổi tiếng thời nhà Đường. Bài thơ đó gồm bốn câu:

长 安 回 望 绣 成 堆
Tràng An hồi vọng tú thành đôi,
山 顶 天 门 次 第 开
Sơ đỉnh thiên môn thứ đệ khai.
一 骑 红 尘 妃 子 笑
Nhất kỵ hồng trần Phi Tử tiếu,
无 人 知 是 荔 枝 来
Vô nhân tri thị Lệ chi lai.

Nhà thơ Tương Như đã dịch sang tiếng Việt như sau:

Ngoảnh lại Tràng An tựa gấm thêu,
Đầu non nghìn cửa mở liền nhau.
Bụi hồng ngựa ruổi, Phi cười nụ.
Vải tiến mang về, ai biết đâu!

Hai câu cuối được coi là bằng chứng về việc Đường Huyền Tông bắt thuộc hạ phải lặn lội từ phương xa để đưa quả Vải về dâng cho Dương Quý Phi. Bài hát chầu văn còn lưu truyền ở Nam Đàn đã lấy ý từ hai câu này nhưng các nhà sử học hiện thời không nhận thấy điều đó.

Những điều vừa nêu tưởng như quá đủ để khẳng định lý lẽ của các nhà sử học, không còn phải bàn cãi gì nữa. Nhưng, xem xét cho kỹ thì thấy rằng, chính đó là những chỗ dựa hờ, là những cái bẫy đã khiến các nhà sử học của chúng ta bị "mắc bẫy”.


3. Một chuỗi sai lầm của các nhà sử học hiện đại

Ở nước ta, mọi giống Vải ở các địa phương đều chua, cùi mỏng và ít quả, thua kém hẳn so với giống Vải Thiều ở huyện Thanh Hà, Hải Dương. Cũng không có tài liệu nào cho biết rằng, trước đây ở châu Hoan có những rừng Vải có quả ngon tuyệt trần. Cây Vải Thiều đầu tiên hiện đang thuộc quyền sở hữu của cụ Hoàng Văn Thu (sinh năm Canh Ngọ, 1930) ở thôn Thúy Lâm, xã Thanh Sơn. Trong những năm cuối thế kỷ 19 hoặc đầu thế kỷ 20, ông nội của cụ Thu là cụ Hoàng Phúc Thành từng làm phu khuân vác ở cảng Hải Phòng. Thấy mấy ông lái buôn người Trung Quốc quê ở Thiều Châu (thuộc tỉnh Quảng Đông) ăn quả Vải rồi vứt hạt đi, cụ Thành đã nhặt được 6 hạt, đem về quê ương giống và mọc được 3 cây. Khi dọn cỏ, cụ bà sơ ý làm chết mất 2 cây, chỉ còn 1 cây rồi từ đó mới nhân giống ra. Chúng tôi đã đến thăm cây Vải tổ này và miếu thờ cụ Hoàng Phúc Thành. Tấm bia bằng bê tông ghi tên cụ Thành là Hoàng Văn Cơm. Cụ Thu giải thích rằng, vì cụ Thành đem được giống Vải Thiều về trồng ở quê nhà, cũng là đem cơm gạo về cho dân làng nên được mọi người xưng là cụ Cơm.

Nên nhớ rằng, ban đầu, cái tên Giao Chỉ (đến năm 203 thì đổi thành Giao Châu) bao gồm cả Quảng Đông và Quảng Tây cùng với miền Bắc Việt Nam. Từ thế kỷ 6, Giao Chỉ hay Giao Châu mới có nghĩa là một bộ phận của miền Bắc nước ta, với tư cách một quận thuộc Trung Quốc. Tuy nhiên, Giao Chỉ (hoặc Giao Châu) vẫn là tên gọi chung để chỉ vùng đất gồm Quảng Đông, Quảng Tây và Việt Nam. Bởi vậy, các từ Giao Chỉ hoặc Giao Châu trong thư tịch cổ của Trung Quốc thường không dùng để chỉ riêng miền Bắc nước ta nếu không kèm theo các từ quận, huyện. Vì vậy, quả Vải ở Giao Chỉ không có nghĩa là quả Vải ở Việt Nam. Các giống Vải ngon được trồng ở nhiều nước trên thế giới đều lấy giống từ Trung Quốc. Trong tiếng Anh và tiếng Pháp, cây Vải có tên là litchi, bắt nguồn từ chữ Lệ chi, còn các nhà thực vật học thì gọi cây Vải là litchi chinensis, nghĩa là Lệ chi Trung Quốc.

Hiện nay, ở Trung Quốc có hơn 70 giống Vải ngon, chúng đều có "lý lịch" hẳn hoi, vì hiện còn giữ được hàng trăm cuốn sách khảo cứu về các giống Vải, trong đó có sách Lệ chi phả của Thái Tương (1012-1067), viết về các giống Vải ở Phúc Kiến. Giống Vải Trần Tử ở huyện Phủ Điền tỉnh Phúc Kiến, quả to bằng trứng gà, vỏ màu tím, được nhân giống từ cây Vải của Trần Kỳ, môt quan chức thời Tống. Phòng văn hoá của huyện này đang trông nom một cây Vải 1300 tuổi, tên là Tống Hương hoăc Tống Gia Hương, do Tống Hàm trồng từ thời nhà Đường, hạt nhỏ, cùi dày, có mùi thơm đặc biệt. Giống Vải Trạng Nguyên Hồng ở Phúc Kiến vốn là của trạng nguyên Từ Đạc thời Tống, lúc đầu có tên là Diên Thọ Hồng. Tỉnh Quảng Đông có các giống Vải nổi tiếng như Phi Tử Tiếu, Quải Lục, Thủy Tinh Cầu, Tam Nguyệt Hồng, v.v...

Các nhà sử học đã coi mấy câu hát chầu văn và bài thơ trong đền thờ Mai Thúc Loan là bằng chứng lịch sử. Đây là một sai lầm thuộc về nguyên tắc. Ca dao, thơ văn, truyện cổ tích, truyền thuyết có thể gợi ý cho nhà sử học trên đường tìm tòi phát hiện sự thật lịch sử, nhưng không thể coi là sự thật lịch sử.

Chúng ta biết rằng, Dương Quý Phi nguyên là vợ của Thọ Vương Lý Mạo, con trai thứ 18 của Đường Huyền Tông. Năm 25 tuổi, bà xuất gia làm nữ đạo sĩ với pháp danh là Thái Chân để từ đó bước vào hậu cung của Đường Huyền Tông cho khỏi mang tiếng loạn luân. Lai lịch của bà ta như thế, ai cũng biết, nhưng ở bài “Trường hận ca", nhà thơ vĩ đại Bạch Cư Dị, đã viết như sau:

汉 皇 重 色 思 倾 国
Hán hoàng trọng sắc tư khuynh quốc,
御 宇 多 年 求 不 得
Ngự vũ đa niên cầu bất đắc.
杨 家 有 女 初 长 成
Dương gia hữu nữ sơ trưởng thành,
养? 在 深? 闺ở 人? 未 识ả
Dưỡng tại thâm khuê nhân vị thức.


Nhà thơ Tản Đà đã dịch là:

Đức vua Hán mến người khuynh quốc,
Trải bao năm tìm chuốc công tai.
Nhà Dương có gái mới choai,
Buồng xuân khoá kín chưa ai bạn cùng.


Hẳn là Bạch Cư Dị (772-864) chẳng lạ gì lai lịch của Dương Quý Phi. Trong bài thơ nổi tiếng này, ông chê trách thói ăn chơi hưởng lạc hiếu sắc của Đường Huyền Tông để đến nỗi sắp mất nước, và có phần thương xót cho số phận của Dương Quý Phi khi bà bị quân lính bắt phải thắt cổ nên ông đã bỏ qua những nét không đẹp trong lý lịch của bà ta để khỏi làm mờ nhạt chủ ý của mình. Vì vậy, không thể coi thơ ca hoặc truyền thuyết là bằng chứng lịch sử. Huống chi, các câu hát chầu văn ở Nam Đàn chỉ lấy lại ý trong thơ của Đỗ Mục mà các nhà sử học không biết đó thôi.

Nhưng, lời thơ của Đỗ Mục thì rất đáng tin vì có cơ sở thực tế. Qua đó, người ta hiểu rằng, quả Vải được đưa tới tay Dương Quý Phi bằng ngựa vốn được dùng để chuyển công văn hoả tốc từ trạm này sang trạm khác, liên tục suốt ngày đêm. Hệ thống dịch các trạm chuyển công văn hoả tốc đã được thiết lập từ thời nhà Tùy (581-617). Tốc độ kỷ lục của ngựa hiện nay là 69km/giờ. Các chú "dịch mã" (ngựa chuyển công văn) đủ sức chạy với tốc độ khoảng 30 km/giờ trong vài giờ liên tục. Trong một ngày đêm (24 giờ), thời gian vận chuyển quả Vải có thể đến 20 giờ nhờ 5-6 con ngựa chạy tiếp sức nên có thể vượt được quãng đường dài 600-700km. Quả Vải thì có thể lấy ở Quảng Đông hoặc Phúc Kiến, cách Trường An khoảng 2.000km. Như vậy, chỉ mất chừng 4 ngày là có thể đưa quả Vải từ trên cây tới miệng Dương Quý Phi.

Một điều rất buồn cười là, các nhà sử học của chúng ta gắn liền "nạn cống Vải" với Dương Quý Phi và với cuộc khởi nghĩa của Mai Thúc Loan. Họ không biết rằng, Dương Quý Phi sinh năm 719. Khi Mai Thúc Loan bại trận (năm 722) thì bà ta mới lên 3 tuổi, và đến 25 tuổi (năm 744) mới trở thành ái phi của Đường Minh Hoàng. Lúc này, cuộc khởi nghĩa của Mai Thúc Loan đã bị dập tắt 22 năm rồi. Theo họ thì "từ sau cuộc khởi nghĩa lớn lao này, nhà Đường không dám bắt nhân dân ta nộp cống Vải quả hàng năm nữa" [9] . Vậy mà, sau cuộc khởi nghĩa này hơn 20 năm, Dương Quý Phi vẫn có Vải quả để ăn.


4. Một phép tính nhẩm đầy ý nghĩa

Mọi lý lẽ mà các nhà sử học sử dụng để xây dựng nên luận đề về "nạn cống Vải" đều đã trở thành vô nghĩa. Chúng tôi phải bác bỏ từng điểm như trên là để vạch rõ cách làm việc cẩu thả và thiếu suy nghĩ của họ. Thực ra, nếu có tài liệu lịch sử ghi chép về “nạn cống Vải” và hai chỗ dựa kia của họ đều hoàn toàn đúng thì tài liệu ấy là sai và vẫn không thể có "nạn cống Vải". Có thể chứng minh điều đó bằng một phép tính thật đơn giản, như sau.

Quãng đường từ Nghệ An đến Trường An dài không dưới 4.000km. Trước đây, các cán bộ từ Nam Bộ ra chiến khu Việt Bắc phải đi bộ mất ba tháng trên quãng đường chưa đến 2.000km. Họ không phải mang vác quá nặng, dọc đường còn có các trạm nghỉ ngơi và ăn uống. Những đoàn dân phu cách đây 1.300 năm không thể có một hệ thống hậu cần dọc đường như thế. Vì vậy, nếu chẳng mang vác gì mà phải trèo đèo lội suối thì họ sẽ chết dọc đường chứ không thể vượt được 4.000km. Nhưng, cứ cho là họ đi được như các cán bộ của ta thì cũng phải mất hơn nửa năm mới lê bước đến đất Tràng An. Mà quả Vải rất khó bảo quản, trong vòng 10 ngày là đã thối rồi, làm sao có thể giữ được tươi nguyên trong nửa năm? Bọn vua chúa nhà Đường dẫu vô cùng tham lam tàn ác cũng không dại gì bày ra cái trò cống Vải.


5. Đừng cố tình làm ngơ trước luận cứ khoa học chặt chẽ

Ngay sau khi công bố bài “Phải chăng, nạn cống Vải là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến cuộc khởi nghĩa của Mai Thúc Loan?”, chúng tôi nhận được nhiều cú điện thoại và một số thư từ bày tỏ sự đồng tình và hoan nghênh nhiệt liệt. Một số người cho biết, họ đã gửi bài báo đó tới các cơ quan báo chí và các nhà xuất bản có liên quan. Có lần tôi đến thăm một ông bạn là phó giáo sư, tiến sĩ, cán bộ nghiên cứu lâu năm của Viện Sử học vì ông bị ốm, thế là tình cờ, tôi gặp rất nhiều cán bộ ở Viện Sử học tới thăm ông. Mọi người đều đã đọc bài báo ấy nên khi gặp tôi, ai cũng nói chuyện rất chân thành và cởi mở xung quanh chủ đề của bài báo. Họ rất hưởng ứng, không ai có ý kiến trái ngược. Có người thành thực nói rằng, bài ấy rất có giá trị đối với khoa học lịch sử, nhưng làm cho nhiều giáo sư đau đầu, tạp chí của chúng tôi cũng không dám đăng. Tôi rất thông cảm với họ. Tuy nhiên, điều mà chúng tôi và đông đảo độc giả mong đợi nhiều nhất là hồi âm từ phía từ những người khởi xướng hoặc đã từng ủng hộ luận đề về "nạn cống Vải". Tiếc thay không thấy ai lên tiếng. Nhiều bạn đọc cho rằng, như vậy là họ đã “chịu” rồi nhưng không tiện nói thẳng ra. Giáo sư tiến sĩ Kiều Thu Hoạch cũng chờ đợi họ sửa chữa sai lầm trong sách lịch sử lớp 6 trước khi in lại, nhưng năm ngoái ông đã phải phàn nàn trên tạp chí Thế giới Mới, vì bản in lại không hề sửa chữa gì cả. Quyển Tư liệu lịch sử 6 [10] cũng vẫn khẳng định luận đề về "nạn cống Vải".

Dư luận xã hội vẫn mong các các tác giả của “nạn cống Vải” xử sự thật nghiêm túc. Nếu không chứng minh được chỗ sai của chúng tôi thì nên sửa chữa những sai lầm mà họ đã viết trong các sách vở, mà trước hết là sách giáo khoa. Lẽ nào các vị giáo sư đạo cao đức trọng lại bắt con cháu học mãi những sự việc không hề có trong lịch sử?


[1]Phan Ngọc Liên, Trương Hữu Quýnh, Đinh Ngọc Bảo, Nguyễn Sĩ Quế, NXB Giáo dục, 2002.
[2]NXB Thành phố Hồ Chí Minh 2000.
[3]Đỗ Đức Hùng, Nguyễn Đức Nhuệ, Trần Thị Vinh, Trương Thị Yến. NXB Giáo dục, HN 2001.
[4]NXB Văn hoá-Thông tin, HN 2001.
[5]NXB Thanh Niên, HN 2001.
[6]Phan Huy Lê, Trần Quốc Vượng, Hà Văn Tấn, Lương Ninh NXB Đại học và Trung học chuyên nghiệp, HN 1991.
[7]khổ 16x24cm, 1175 trang, tái bản lần thứ 5, NXB Giáo dục 2002, do Gs Trương Hữu Quýnh, Gs Đinh Xuân Lâm, PGs Lê Mậu Hãn chủ biên cùng bảy giáo sư khác chấp bút.
[8]Cung Hoa Thanh - nơi vui chơi hưởng lạc của Đường Huyền Tông và Dương Quý Phi.
[9]Lịch sử Việt Nam, tập I, NXB Đại học và Trung học chuyên nghiệp, trang 287.
[10]Của Lê Đình Hà và Bùi Tuyết Hương do NXB Giáo dục ấn hành năm 2004.


Đôi điều về “Nạn cống vải”
Đại biểu nhân dân số 13 (2492) ngày 13.1.2011



Chuyện về ông Lưxenkô ở Liên Xô trước đây
Lưxenkô (Lysenko Trofim Denisovich, 1898 – 1972) là một nhà nông học Liên Xô, viện sĩ Viện Hàn lâm Khoa học Nông nghiệp toàn Liên Xô (1935), viện sĩ Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô (1939), Anh hùng Lao động Xã hội chủ nghĩa (1954), ba lần đoạt Giải thưởng Stalin (1941, 1943, 1949), 8 lần đoạt Huân chương Lenin. Tuy vậy, Lưxenkô lại là kẻ lừa đảo lớn bậc nhất trong lịch sử khoa học thế giới.

Lưxenkô nêu lên quan điểm cho rằng có thể tạo ra mọi loài thực vật mới mang những phẩm chất ưu việt bằng cách thay đổi môi trường tự nhiên. Từ đó, ông ta đề xướng cái gọi là “học thuyết Mítsurin” (theo tên của nhà chọn giống và lai - tạo giống nổi tiếng là Mitsurin Ivan Vlađimirovich, 1855 - 1935), đối lập với học thuyết di truyền học dựa trên quan niệm về gen và nhiễm sắc thể. “Học thuyết Mítsurin” rất phù hợp với luận điểm của giới cầm quyền về đấu tranh giai cấp để cải tạo xã hội nên được chính quyền Liên Xô ra sức ủng hộ. Lưxenkô hứa hẹn áp dụng học thuyết của mình để đưa nền nông nghiệp Liên Xô phát triển rực rỡ, trở thành nhất thế giới. Từ năm 1929 trở đi con đường thăng tiến của Lưxenkô đi lên như diều gặp gió. Năm 1938, ông ta trở thành Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học Nông nghiệp toàn Liên Xô và từ đó áp đặt “học thuyết Mítsurin” lên toàn bộ hoạt động của viện này. Để “minh chứng” cho “học thuyết” của mình, Lưxenkô đã sai người đi phá hoại các cơ sở thí nghiệm của các nhà khoa học đối lập, ăn cắp thành quả thí nghiệm của họ rồi tự nhận là của mình. Các nhà bác học không tin vào “học thuyết Mítsurin” đều bị bỏ tù, trong số đó có viện sĩ Nikolai Ivanovich Vavilov (1887 – 1943), là một nhà di truyền học rất có uy tín ở Liên Xô và ở nước ngoài. Năm 1940, Vavilov bị bắt giam và bị đày đọa đến chết trong nhà tù ở Kolyma năm 1943. Dưới sự lãnh đạo của Lưxenkô và sự áp đặt học thuyết của ông ta trong khoa học và trong sản xuất, nền nông nghiệp của Liên Xô chịu nhiều thất bại nặng nề và trở nên lụn bại. Năm 1947, nhiều nhà khoa học đã vạch rõ tai hại của đường lối Lưxenkô cho giới lãnh đạo Liên Xô biết nhưng tất cả bọn họ đều bị bắt giam. Mãi đến năm 1966, quan điểm sai lầm và tội ác của Lưxenkô mới bị cả nước và chính phủ Liên Xô lên án kịch liệt, chấm dứt thời kỳ làm mưa làm gió của ông ta trong sinh vật học và trong nông nghiệp.

Hoạt động của Lưxenkô là một chuỗi lừa dối chưa từng có trong lịch sử khiến cho di truyền học chân chính bị cấm đoán, học thuyết Đacuyn bị xuyên tạc, các nhà khoa học có tâm huyết và tài năng bị hãm hại, họ đều bị giam cầm cho đến chết, và đặc biệt là đã kéo khoa sinh vật học và khoa học nông nghiệp ở Liên Xô thụt lùi hàng chục năm.

Vụ án giáo sư Hwang Woo - Suk ở Hàn Quốc

Hwang Woo - Suk (đọc theo âm Hán – Việt là Hoàng Vũ Tích) sinh năm 1953, là một giáo sư về sinh sản học thú y (theriogenology) và công nghệ học sinh vật (biotechnology) ở Đại học Quốc gia Seoul, Hàn quốc. Cho đến tháng 11 năm 2005, Hwang Woo Suk được coi là chuyên gia tiên phong trong lĩnh vực nghiên cứu tế bào gốc, nổi tiếng trên thế giới với các bài đăng trên tạp chí Science năm 2004 và 2005, nơi ông từng thông báo là đã thành công trong việc tạo ra tế bào gốc phôi người bằng phương pháp nhân bản thuần hệ vô tính (cloning). Nếu điều này là có thật thì công trình của Hwang Woo Suk là một thành tựu cực kỳ vĩ đại trong khoa học và sẽ được áp dụng trong y học để thay thế các bộ phận của con người bị hư hỏng hoắc phải cắt bỏ vì mắc bệnh nguy hiểm.

Nhưng, sau đó người ta đã phát hiện rằng ông này đã ngụy tạo hàng loạt thí nghiệm, và những kết quả mà ông ta công bố đều là giả mạo. Ngày 12.5.2006, Hwang Woo Suk bị buộc tội dối trá, tham nhũng vì đã sử dụng công quỹ vào những công việc ám muội, vi phạm đạo đức trong nghiên cứu sinh vật học qua việc nghiên cứu tế bào gốc giả mạo. Trường Đại học Seoul đã sa thải ông ta, chính phủ cắt hết kinh phí và không cho phép ông ta nghiên cứu trong lĩnh vực này nữa. Ngày 26.10.2009, tòa án quận Trung tâm Seoul đã tuyên phạt Hwang Woo Suk hai năm án treo.

Sự gian dối trong khoa học lịch sử

Ở nước ta, trong thời gian từ giữa những năm 60 của thế kỷ trước đến nay, một số kết luận về lịch sử đã được xác quyết một cách vội vàng, không có cơ sở khoa học. Riêng chúng tôi đã phát hiện được hai sai lầm nghiêm trọng và đã công bố trên báo chí từ năm 2003. Trước sự phát hiện của chúng tôi, người đứng đầu giới sử học từ mấy chục năm nay là ông Phan Huy Lê đã biểu lộ thái độ lẩn tránh, thậm chí, khi không thể phản bác được thì ông quay ra xuyên tạc lý lẽ của chúng tôi để đánh lừa độc giả rồi cướp luôn kết quả nghiên cứu của chúng tôi, nhận vơ rằng đó là kết quả nghiên cứu của ông.

Thay đổi thuật ngữ “thời đại đồ đồng” thành “thời đại đồng thau” - một sai lầm nghiêm trọng, và biểu hiện tính không trung thực

Từ sau năm 1960, giới sử học nước ta đã đổi thuật ngữ “thời đại đồ đồng” thành “thời đại đồng thau”. Làm như vậy, họ đã phạm sai lầm nghiêm trọng, bởi vì từ “đồng” trong thuật ngữ “thời đại đồ đồng” dùng để chỉ thứ hợp kim tự nhiên của đồng mà tổ tiên chúng ta đã dùng để đúc các công cụ lao động, thứ “đồng” ấy là “đồng điếu” (tương ứng với bronze trong tiếng Anh, tiếng Pháp) chứ không phải là “đồng thau”. Đồng thau không thể dùng để đúc các công cụ lao động như búa, rìu v.v… nhằm mở ra một thời đại trong lịch sử. Bởi vậy, không thể chấp nhận khái niệm “thời đại đồng thau”.

Sai lầm này là một “công trình tập thể”, trong đó có đóng góp to lớn của các GS Trần Quốc Vượng, Phan Huy Lê… Chính các ông đã rao giảng nó, truyền bá nó, tự hào về nó và ra sức bảo vệ nó.

Trên tạp chí Thế Giới Mới số 534 ngày 5.5.2003, chúng tôi đã đăng bài Có hay không “thời đại đồng thau” ở nước ta? để chứng minh rằng, sử dụng thuật ngữ “thời đại đồng thau” là phản khoa học, phản lịch sử. Sau đó, bài báo này còn được đăng trên báo Người Đại biểu Nhân dân và vài tạp chí khác nữa. Cho đến nay (cuối năm 2010) giới sử học vẫn không thể phản bác được. Ông Phan Huy Lê cũng không thể làm gì hơn nhưng vẫn tiếp tục sử dụng thuật ngữ “thời đại đồng thau” trong khi giảng dạy, trong các bài vở của mình, và ông cương quyết đưa thuật ngữ sai trái này vào Từ điển Bách khoa Việt Nam tập 4 (xuất bản năm 2005). Quyết tâm “duy trì cái sai” của ông Phan Huy Lê đã bị cố giáo sư Nguyễn Văn Chiển ngăn chặn, và ông Phan Huy Lê đành phải từ bỏ thuật ngữ “thời đại đồng thau” để trở lại với thuật ngữ “thời đại đồ đồng” đã có từ trước. Tuy vậy, khi viết về “thời đại đồ đồng”, ông Phan Huy Lê vẫn nèo thêm một câu để vớt vát cái gọi là “thời đại đồng thau” - vốn là niềm tự hào của Phan Huy Lê, nhưng lại càng bộc lộ rõ thêm sự thiếu hụt kiến thức của chính ông. Đây là một biểu hiện về tính không trung thực.

Độc giả có thể biết rõ mọi luận chứng của chúng tôi về vấn đề này qua bài Thời đại đồng thau và văn hóa đồng thau - những thuật ngữ phản khoa học, phản lịch sử đã được đưa lên mạng Internet tại địa chỉ: http://phongdiep.net/default.asp?action=article&ID=8474

Việc sáng tác “nạn cống quả vải” và việc bịa đặt cứ liệu lịch sử

Trong tất cả các sách giáo khoa lịch sử từ tiểu học đến đại học suốt những năm 1960 đến nay, khi nói đến các cuộc khởi nghĩa trong thời kỳ Bắc thuộc, các giáo sư sử học luôn luôn nhấn mạnh rằng, “nạn cống vải” là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến cuộc khởi nghĩa Mai Thúc Loan hồi đầu thế kỷ VIII. “Nạn cống vải” ở đây được họ giải thích là, hàng năm, hàng ngàn nông dân vùng quê của Mai Thúc Loan phải gánh quả vải tươi đến kinh đô Tràng An để cung phụng cho Dương Quý Phi, ái thiếp của hoàng đế nhà Đường.

Các nhà sử học đã khẳng định rằng, điều này đã được ghi chép trong các bộ sách lịch sử của Trung Quốc, rồi họ nêu ra bốn nguyên do và những chứng cứ làm cơ sở cho kết luận của mình. Trong bài Phải chăng “nạn cống vải là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến cuộc khởi nghĩa của Mai Thúc Loan đăng trên tạp chí Thế Giới Mới số 526, 525, 528 (từ 10.3 đến 24.3 năm 2003) chúng tôi đã hoàn toàn bác bỏ bốn nguyên do và chứng cứ của các giáo sư sử học về “nạn cống vải” và đã kết luận rằng, bốn luận cứ trên đây là hoàn toàn trái với sự thực, mọi lý lẽ của giới sử học về sự kiện này đều sai hoàn toàn. Hơn bảy năm qua, chưa có ai phản bác được,

Hãy làm một phép tính nhỏ. Khoảng cách từ Nghệ An đến Tràng An, nếu đo theo đường thẳng trên bản đồ là khoảng 4.000 km, còn trên thực tế thì lên đến khoảng 6.000 km. Một người đi bộ, lại phải gánh gồng, nếu thật khỏe mạnh cũng chỉ có thể đi được mỗi ngày 30km trong vài ngày đầu. Cứ cho là sức khỏe của anh ta luôn luôn ở mức cao nhất thì cũng phải mất hơn 200 ngày mới đi hết quãng đường cống vải. Chỉ riêng một phép tính nhỏ này cũng đủ bác bỏ hoàn toàn sự kiện cống vải để khẳng định rằng “nạn cống vải” theo kiểu các nhà sử học nước ta đã mô tả, là hoàn toàn không thể xảy ra trong lịch sử, bất cứ ở thời đại nào.

Tra cứu trong các bộ sách lịch sử của Trung Quốc, chúng tôi thấy sách Tân Đường thư (viết cách đây gần 1.000 năm, và là bộ sách lịch sử nhà Đường được tin cậy nhất từ xưa đến nay) đã xác nhận: về việc các kỵ sĩ phóng ngựa kế tiếp nhau chở quả vải từ phương nam về cho Dương Quý Phi

Sách Hậu Hán Thư (bộ sách chính thức và đầy đủ nhất, được tin cậy nhất về lịch sử thời Đông Hán, hoàn thành từ nửa đầu thế kỷ V) đã xác nhận: việc vận chuyển quả vải tươi từ Lĩnh Nam về kinh đô (Lạc Dương, ở tỉnh Hà Nam) thời nhà Hán được thực hiện bằng ngựa kế tiếp qua các dịch trạm cách nhau không xa.

Như vậy, bằng luận cứ khoa học, bằng cứ liệu lịch sử, chúng tôi đã hoàn toàn bác bỏ câu chuyện hoang đường về “nạn cống vải” do các nhà sử học dựng lên từ những năm 60 của thế kỷ trước.

Độc giả có thể biết rõ mọi lý lẽ phản bác của chúng tôi từng được công bố nhiều lần, qua bài Bác bỏ mọi luận cứ của giới sử học cho rằng “nạn cống vải” là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến khởi nghĩa Mai Thúc Loan hiện đang có mặt trên mạng Internet tại địa chỉ:

http://phongdiep.net/default.asp?action=article&ID=8410 (phần 1)

http://phongdiep.net/default.asp?action=article&ID=8411 (phần 2)

Ông Phan Huy Lê cùng bảy nhà sử học khác còn khẳng định rằng, sự kiện Mai Thúc Loan làm phu cống vải đã được ghi ở sách Đường thư.

Trong sách Lịch sử Hà Tĩnh tập I (Đặng Huy Báu chủ biên; các tác giả: Đinh Xuân Lâm, Phan Huy Lê, Hà Văn Tấn, Trương Hữu Quýnh, Hoàng Văn Khoán, Ngô Đăng Tri, Nguyễn Xuân Đình, Đinh Văn Thiềm, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000) có câu: Theo sử cũ (Đường thư, Dương Tư Húc truyện), đầu thời Khai Nguyên vào một năm được mùa vải tươi, Mai Thúc Loan bị bắt đi làm phu gánh vải nộp cống cho triều Đường.

Tôi đã tra cứu hai bộ sách về lịch sử thời nhà Đường là Tân Đường thư và Cựu Đường thư (vì Đường thư là tên gọi chung của cả hai bộ sách này) trên mạng Internet và tìm hết (bằng máy tính) các đoạn có cái tên Dương Tư Húc thì không hề có câu nào như các giáo sư sử học đã trích dẫn, nhưng cũng trong bộ sách này, tôi lại tìm thấy đoạn nói về việc các kỵ sĩ phi ngựa chở quả vải về cho Dương Quý Phi. Vì vậy, tôi đã viết bài Chớ nên bịa đặt cứ liệu lịch sử và đã đăng trên báo Người Đại biểu Nhân dân (số 240 và 241, ngày 7 và 8.12.2005), rồi đăng ở tạp chí Nghiên cứu và Phát triển. Trong bài ấy, tôi đã chứng minh rằng, tám nhà sử học, trong đó có sáu giáo sư, ba người thuộc nhóm “tứ trụ” của giới sử học, đã bịa ra cứ liệu kể trên. Ngoài ra, các giáo sư này chưa từng biết Đường thư, Tân Đường thư, Cựu Đường thư là những sách gì. Họ chỉ biết vài đoạn của các sách đó qua bản dịch chép tay của các cụ nhà nho làm việc ở Viện Sử học hồi những năm 1960.

Là người “cao giá” nhất trong số tám nhà sử học viết Lịch sử Hà Tĩnh tập I, ông Phan Huy Lê không thể chối bỏ trách nhiệm trong vụ sáng tác sử liệu này.

Độc giả có thể biết rõ câu chuyện sáng tác sử liệu này sau khi đọc bài Những nhà sử học bịa đặt “cứ liệu” lịch sử tại địa chỉ: http://phongdiep.net/default.asp?action=article&ID=8434

Tà thuật “phản biện” giả, xuyên tạc và chiếm đoạt thành quả nghiên cứu của người khác

Độc giả đã biết rằng, câu chuyện về “nạn cống vải” do các nhà sử học sáng tác đã bị bác bỏ hoàn toàn. Chúng tôi đã chứng minh rằng, cả bốn nguyên do và chứng cứ mà họ đưa ra là hoàn toàn trái ngược với sự thực. Suốt gần tám năm qua họ đã không thể chối cãi. Các giáo sư sử học vốn mê sách vở, thích có cứ liệu trong sách cổ, đến nỗi không có cứ liệu thì họ tự bịa đặt ra, vậy thì tôi cũng tra cứu sách cổ để tìm cứ liệu, và tôi đã tìm thấy. Cả sách Tân Đường thư và sách Hậu Hán thư đều xác nhận rằng, việc vận chuyển quả vải tươi từ phía nam Trung Quốc về kinh đô nước này đã được thực hiện bằng sức ngựa kế tiếp nhau qua các trạm. Với lý lẽ và chứng cứ chắc nịch như thế thì ông Phan Huy Lê không thể phản bác được. Vậy mà sau thời gian im hơi lặng tiếng từ đầu năm 2003 đến đầu năm 2009, ông ta đã tìm được cách phản bác, và ông ngỡ là đã phản bác được rồi. Nhưng bài Khởi nghĩa Mai Thúc Loan – Lầm lẫn kéo dài và sự tráo trở lịch sử của Lê Hà & Thái Hoàng đăng trên tuần báo Văn nghệ TP Hồ Chí Minh số 64 và 65, ngày 28.5 và 4.6.2009 (bài này đã được đăng lại trên blog trannhuong.com ngày 10.9.2009 tại mục Bầu bạn góp cổ phần) đã vạch rõ việc ông ta xuyên tạc lý lẽ của tác giả Lê Mạnh Chiến khiến ông ta im bặt từ đó đến nay.

Ông Phan Huy Lê đã “phản bác” tác giả Lê Mạnh Chiến ở đâu và bằng cách nào?

Xin thưa rằng, ông ta đã phản bác ở bài Khởi nghĩa Mai Thúc Loan – Những vấn đề cần xác minh trong tạp chí Nghiên cứu Lịch sử số 2-2009 và trên tạp chí điện tử Diễn đàn ngày 18.3.2009 (có thể đọc tại địa chỉ: http://www.diendan.org/phe-binh-nghien-cuu/khao-cuu-lai-cuoc-khoi-nghia-cua-mai-thuc-loan).

Nếu muốn phản bác ý kiến của tôi, đương nhiên là phải phản bác những điểm mà tôi vừa nêu. Nhưng ông Phan Huy Lê không mảy may đụng chạm đến một điểm nào cả, vì nếu đụng đến thì ông bó tay, vậy thì ông chỉ có cách xuyên tạc ý của tôi, nhặt nhạnh vài cái râu ria rồi làm cho độc giả của ông tưởng đó là cốt lõi trong lý lẽ của tôi, rồi bám vào đó mà “phản biện”.

Muốn biết ông ta đã xuyên tạc lý lẽ của tôi ra sao, xin mời quý vị độc giả đọc mục 1 và mục 3 trong bài của ông ta theo địa chỉ mà tôi vừa nêu.

Sau khi cắt xén hết tất cả mọi lý lẽ của tôi và chỉ để lại vài chút râu ria, coi đó như là toàn bộ lý lẽ của tôi để “phản bác”, ông Phan Huy Lê viện dẫn sách này sách nọ, làm ra vẻ thông kim bác cổ nhưng khi nói đến hai bộ sách Tàu mà tôi cũng đã trích dẫn, ông còn viết sai tên tác giả. Viết lan man một lúc, có câu còn sai ngữ pháp và hoàn toàn không chứng minh được điều gì cả, ông ta liền phán một câu: Nhưng theo kết quả tra cứu của tôi (tức là của ông Phan Huy Lê – LMC) thì vào thời thuộc Đường không tìm thấy một tư liệu đáng tin cậy nào về chế độ cống vải từ Giao Châu hay An Nam, tức là nước ta.

Xin lỗi ông Phan Huy Lê, việc này thì ông chẳng thể tìm thấy được tư liệu đáng tin cậy về chế độ cống vải, bởi vì khi một sự việc đã không thể xảy ra thì chẳng có tư liệu đáng tin cậy nào ghi chép về nó, chỉ có những người quen thói bịa đặt mới ghi bậy mà thôi. Chúng tôi cũng không thể tìm được tài liệu nào ghi chép rằng không hề có nạn cống vải, nhưng đã chứng minh được điều đó như độc giả và chính ông Phan Huy Lê đã thấy (nên ông ta mới đành phải “phản bác” giả vờ).

Sau khi thừa nhận rằng không có (tài liệu đáng tin cậy) về chế độ cống vải ở thời thuộc Đường, ông Phan Huy Lê lại đẩy chế độ cống vải lên thời nhà Hán để nói lên một điều: việc cho rằng Mai Thúc Loan từng đi phu gánh vải cũng “có cơ sở”. Ông Phan quên rằng, như tôi đã tìm thấy, sử nhà Hán đã sổ toẹt điều ấy rồi.

Cách đây gần tám năm, tôi đã chứng minh rằng, không có chế độ cống vải ở thời thuộc Đường và cũng không có chế độ cống vải (bằng cách gánh đi một mạch sang kinh đô nước Tàu) ở bất cứ triều đại nào. Vậy mà nay ông Phan Huy Lê tìm mọi cách để vạch “cái sai giả” của tôi, rồi lấy kết quả nghiên cứu của tôi làm “kết quả tra cứu” của ông ta. Thử hỏi, nên gọi hành động đó là gì?

Chuyện về ông Phan Huy Lê còn dài, nhưng xin tạm nghỉ ở đây.


Đôi điều cần trả lời GS Phan Huy Lê
Báo Đại Biểu NHân Dân 06/04/2011
Trên báo Đại biểu nhân dân số 13 (2492) ngày 13.1.2011, có bài Đôi điều về nạn cống vải của ông Lê Mạnh Chiến. Trước đây tôi có đọc một số bài viết của ông Lê Mạnh Chiến về nạn cống vải trên Thế giới mới và Văn nghệ tp Hồ Chí Minh. Tôi rất quan tâm đến vấn đề ông nêu lên, nhưng tôi tự thấy không thể thảo luận những vấn đề học thuật khá sâu, đi vào phân tích, giám định, xử lý những cứ liệu trong thư tịch cổ của ta và Trung Quốc trên những báo không chuyên môn. Còn ĐBND là “Tiếng nói của Quốc hội, diễn đàn của đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân và cử tri”, có tòa soạn đặt ở Văn phòng Quốc hội 35 Ngô Quyền, thì tôi nghĩ rằng đây là một tờ báo chính trị xã hội của cơ quan quyền lực cao nhất của nhân dân và chắc phải nghiêm túc, thể hiện thái độ trách nhiệm cao trước công luận và cử tri, cung cấp những thông tin đáng tin cậy cho nhân dân.

Vì tôn trọng tờ báo mà tôi thấy có trách nhiệm trả lời hết sức vắn tắt đôi điều cần thiết để làm sáng tỏ đúng sai, phải trái trước “tiếng nói của Quốc hội”.

Tôi xin gạt bỏ tất cả những lời lẽ không lấy gì làm văn hóa, những chuyện xa xôi bên Nga, bên Hàn, cố lọc lấy những thông tin cần thiết trả lời để người đọc thấy được thực chất của vấn đề và kết quả nghiên cứu khoa học cho đến nay.

1. Ông Lê Mạnh Chiến coi tôi là “người đứng đầu giới sử học mấy chục năm nay”. Tôi xin trả lời ngay trong giới sử học không có ai là người đứng đầu cả và cũng không hề có chức danh đó. Còn chủ tịch Hội KHLSVN mà đại hội bầu thì chỉ đứng đầu Ban CH Hội, sau nhiệm kỳ bầu lại. Hội hoạt động theo tôn chỉ, mục đích được quy định rõ trong điều lệ do Chính phủ phê duyệt và chỉ chịu trách nhiệm về những hoạt động của Hội, không thể gán mọi ấn phẩm về lịch sử của các cơ quan, các tác giả vào trách nhiệm của Hội hay chủ tịch Ban CH hội. Tục ngữ có câu “giơ cao đánh sẽ”, còn ở đây tôi biết dụng ý “nâng cao” để quy tất cả trách nhiệm vào một người mang tính đại diện rồi “hạ gục” hay “làm mất mặt” cả giới sử học như một “ngón võ” trên “đấu trường”. Cách “tranh luận” đó thật xa lạ với hành xử văn hóa trên diễn đàn khoa học chân chính.

2. Về thuật ngữ “thời đại đồng thau”, ông cho rằng đưa ra thuật ngữ sai lầm này là “công trình tập thể, trong đó có đóng góp to lớn của các GS Trần Quốc Vượng, Phan Huy Lê...”. Xin ông hãy dẫn chứng? Đây là thuật ngữ khảo cổ học do các nhà khảo cổ học đưa ra tương ứng với thuật ngữ “bronze age” trong tiếng Anh, từ những năm 1960. Tôi là một nhà sử học, không liên quan gì đến sự ra đời của thuật ngữ này. Đúng là thuật ngữ này được giới khảo cổ học sử dụng phố biến và khi khai thác các tư liệu khảo cổ học, người nghiên cứu thuộc các chuyên ngành khác, trong đó có tôi, cũng dùng theo. Tôi rất kinh ngạc, ông dựa vào đâu để cho rằng khi biên soạn Từ điển bách khoa VN, tôi đã “cương quyết đưa thuật ngữ sai trái này vào” và đã bị cố GS Nguyễn Văn Chiển ngăn cản. Sách TĐBKVN còn đó và trừ một ít nhà khoa học cao tuổi đã ra đi, phần lớn tác giả cùng ban biên soạn, ban biên tập còn đó, thế mà ông dám dựng lên chuyện bịa đặt 100% như thế. Ban biên soạn TĐBKVN có 36 tiểu ban với hàng trăm nhà khoa học trên các lĩnh vực khoa học và công nghệ, trong đó có tiểu ban khảo cổ học. Các tiểu ban chịu trách nhiệm về các mục từ trong phạm vi chuyên môn của mình.

Trong T.I có thuật ngữ “đồng thau” tương ứng với từ “brass” trong tiếng Anh hay “laiton” trong tiếng Pháp (TĐBKVN, T.I, tr. 876), do tiểu ban Hóa biên soạn. Tiểu ban Khảo cổ học lúc đầu biên soạn mục từ “thời đại đồng thau” tương ứng với thuật ngữ “bronze age”. Như vậy là có sự khác biệt về thuật ngữ giữa hai tiểu ban trong cùng một công trình. Chính GS Nguyễn Văn Chiển là người phát hiện ra vấn đề này và theo GS, nên dùng thuật ngữ “thời đại đồ đồng” tương ứng với “bronze age”. Tôi với tư cách Phó trưởng ban thứ nhất Ban biên soạn đã cùng GS Nguyễn Văn Chiển là Ủy viên Ban thường trực, mời đại diện tiểu ban Khảo cổ học lên làm việc và sau khi trao đổi, Tiểu ban đã chỉnh sửa lại thành mục từ “thời đại đồ đồng”, trong đó có ghi chú “trước đây trong ngành khảo cổ học VN quen gọi là thời đại đồng thau” (TĐBKVN, T.IV, tr.262). Theo tôi, tiểu ban Khảo cổ học chỉnh sửa lại như vậy là cần thiết để bảo đảm sự nhất quán trong bộ TĐBKVN và thêm ghi chú như vậy là thỏa đáng. Tuy nhiên, trong khi trao đổi, chúng tôi thấy cụm từ “thời đại đồ đồng” còn chung chung, chưa phân biệt được sự khác nhau giữa “đồng” (đồng nguyên chất hay đồng tự nhiên) và các hợp kim “bronze”, “brass” trong nghiên cứu khảo cổ học, nên cần tiếp tục nghiên cứu. Cho đến nay, trong các công trình khoa học hay bài viết về khảo cổ học vẫn có người dùng “đồ đồng”, có người dùng “đồng thau”. Tôi xin nói thêm, các thuật ngữ khoa học, nhất là về KHXH&NV, cho đến nay còn chưa được chuẩn hóa nên còn có sự khác biệt giữa các nhà khoa học và giữa các ngành. Trong Lời nói đầu của TĐBKVN tập IV có nhận xét: “Các thuật ngữ khoa học do các chuyên ngành sử dụng chưa có sự thống nhất và chuẩn hóa mang tính quốc gia”. Công việc chuẩn hóa thuật ngữ khoa học không thể do một cá nhân quyết định mà cần được sự tham gia, đồng thuận trong giới chuyên môn và nên do một ủy ban hay hội đồng nhà nước nghiên cứu trình Quốc hội quyết định như nhiều quốc gia trên thế giới.

3. Về “nạn cống vải” thời thuộc Đường liên quan đến nguyên nhân cuộc khởi nghĩa Mai Thúc Loan, ông Chiến đã viết nhiều bài và phê phán, thách đố cả giới sử học đủ điều với lời lẽ nào là “bịa đặt”, “xuyên tạc”, “tà thuật”, “đánh lừa độc giả”..., trong đó cũng quy trách nhiệm chủ yếu cho tôi. Tôi chỉ trả lời mấy điểm chính:

3.1. Ông đã dẫn ra 7 cuốn sách và bài trên ĐBND bổ sung thêm cuốn Lịch sử Hà Tĩnh, T.I rồi quy trách nhiệm chính cho tôi. Trong 8 cuốn sách đó, tôi có tên trong 2 cuốn: Lịch sử VN, T.I (Nxb ĐH&THCN, 1983) và Lịch sử Hà Tĩnh, T.I (Nxb CTQG, 2000). Trong cuốn thứ nhất, tôi là người chủ trì (không phải chủ biên) và tác giả từng chương được ghi rõ trong sách, tôi không viết về thời Bắc thuộc và khởi nghĩa Mai Thúc Loan. Trong cuốn thứ hai, tôi không phải là chủ biên mà là một thành viên biên soạn được phân công viết các chương từ thế kỷ XV đến XIX. Điều này, trong Ban biên soạn ai cũng biết và tôi đã viết rõ trong Lịch sử và văn hóa VN, tiếp cận bộ phận (2007, tr. 564). Tôi không phủ nhận trách nhiệm liên đới trong một công trình chung, nhưng ông Chiến quy kết “là người “cao giá” nhất trong số tám nhà sử học viết Lịch sử Hà Tĩnh tập I, ông Phan Huy Lê không thể chối bỏ trách nhiệm trong vụ sáng tác sử liệu này” thì thật là áp đặt vô căn cứ. Như vậy là trước cuộc hội thảo về “Mai Thúc Loan với khởi nghĩa Hoan Châu” ngày 8 và 9 tháng 11 năm 2008, tôi chưa hề viết một bài báo hay một chương nào trong bất cứ cuốn sách nào về nạn cống vải. Thế mà ông Chiến cố tình quy kết trách nhiệm cho tôi, vậy trung thực ở đâu và mục tiêu là gì, xin để mọi người phán xét.

3.2. Giới sử học, trong đó có tôi, không muốn tranh luận với ông trên các báo không chuyên môn nhưng không hề né tránh vấn đề khoa học ông đã nêu lên trước công luận. Cụ thể là ngày 8 và 9.11.2008, Viện sử học và Đại học Vinh đã phối hợp tổ chức một cuộc Hội thảo khoa học mang tiêu đề “Mai Thúc Loan với khởi nghĩa Hoan Châu” tại thành phố Vinh. Ban tổ chức nhận được hơn 30 báo cáo và số người tham gia hội thảo đến trên 100 người, trong đó có nhiều nhà sử học đến từ các viện, các trường đại học ở trung ương và địa phương. Sau hai ngày làm việc, nghe báo cáo và thảo luận về hầu như tất cả các vấn đề liên quan đến cuộc khởi nghĩa Mai Thúc Loan, trong đó có chế độ cống vải trong thời Bắc thuộc nói chung và thời khởi nghĩa họ Mai nói riêng. Hội thảo thấy còn nhiều vấn đề cần tiếp tục thu thập và xác minh tư liệu, nhưng đã thống nhất được nhiều vấn đề cơ bản, nâng hiểu biết về cuộc khởi nghĩa Hoan Châu lên một trình độ mới so với trước. Một kỷ yếu tạm thời đã in, phát trong hội thảo và sau khi biên tập, ban tổ chức đã xuất bản thành sách mang tên Kỷ yếu hội thảo khoa học toàn quốc: Mai Thúc Loan với khởi nghĩa Hoan Châu do Nxb KHXH in, nộp lưu chiểu tháng 3.2010.

Về các truyền thuyết đi phu cống quả vải, bản Tổng kết hội thảo nhận định và đánh giá: “Trong các truyền thuyết về Mai Thúc Loan có truyền thuyết đi phu cống vải và từ dạng truyền khẩu đã đi vào hát chầu văn, vào thơ, khá phố biến ở vùng Nghệ Tĩnh nhất là vùng Nam Đàn. Đó là một bộ phận trong kho tàng truyền thuyết dân gian mà giá trị của nó cần được nhìn nhận và đánh giá theo tiêu chí của thể loại văn học dân gian. Những truyền thuyết đó ít nhiều có xuất phát từ lịch sử và phản ánh những khía cạnh khác nhau, trực tiếp hay gián tiếp, thực tế lịch sử đã qua được lưu giữ hay ảnh xạ qua ký ức của nhiều thế hệ. Nhưng coi truyền thuyết như lịch sử là một sai lầm về nhận thức và phương pháp luận sử học. Một số tác giả khi biên soạn sách giáo khoa hay lịch sử địa phương, lịch sử dân tộc, không nghiên cứu, đối chiếu với các sử liệu đáng tin cậy, đem các truyền thuyết Mai Thúc Loan đi phu cống vải vào lịch sử là sai lầm” (Kỷ yếu, Tổng kết, tr. 226).

Về chế độ cống quả vải thời Bắc thuộc, hội nghị xác nhận: “Căn cứ vào ghi chép của Kê Hàm trong Nam phương thảo mộc trạng thì năm 111 TCN, Hán Vũ đế sau khi chiếm Nam Việt, đã sai đem cây vải từ Giao Chỉ về trồng, nhưng thất bại nên bắt cống nạp hàng năm (tuế cống). Giao Chỉ ở đây là quận Giao Chỉ ở miền bắc nước ta, chứ không thể là bộ Giao Chỉ bao gồm cả miền Lĩnh Nam (nam Trung Quốc) vì đơn vị này thành lập sau đó, vào năm 106 TCN (Tiền Hán thư, Q.6). Hơn nữa, Cổ kim sử loại văn tùng (Q.25) còn cho biết đến thời Tam quốc, vua Ngụy Văn đế (220-226) hạ chiếu bắt Giao Chỉ và Cửu Chân hàng năm phải cống nạp quả lệ chi (vải) và long nhãn (nhãn). Từ những cứ liệu đó, có thể xác định chế độ cống vải đã từng tồn tại ở nước ta, bắt đầu từ thời Tây Hán và ít nhất cho đến đầu thời Tam Quốc vẫn còn. Còn cách thức bảo quản và vận chuyển như thế nào, sử sách không ghi chép và chúng ta cần tiếp tục nghiên cứu. (Kỷ yếu, Tổng kết, tr. 226-227). Xin lưu ý kinh đô nhà Tây Hán và nhà Đường đều ở Tràng An.

Về chế độ cống quả vải thời Đường, hội nghị kết luận: “Nhưng đến thời Đường, theo Tân Đường thư (Q.43 thượng), Tư trị thông giám (Q.250), Thông giám tổng loại (Q.6) thì vải cống lấy từ Lĩnh Nam, chủ yếu từ Nam Hải, và vận chuyển khẩn cấp bằng ngựa trạm. Sau đó nhà Đường cho ngâm vải vào nước muối hay mật để bảo quản. Đến đời vua Đường Ý Tông (860-874) thì có lệnh đình chỉ chế độ tiến vải (Đường đại chiếu lệnh tập, Q. 86). Như vậy vào thời nhà Đường, chế độ cống vải không còn thi hành ở nước ta nữa và dĩ nhiên, không thể dựa vào truyền thuyết để cho rằng Mai Thúc Loan đã từng đi phu cống vải và cũng không thể coi chế độ lao dịch cống vải là nguyên nhân, dù là nguyên nhân trực tiếp, của cuộc khởi nghĩa. Truyền thuyết này có thể phản ánh chế độ lao dịch hà khắc của thời Bắc thuộc nói chung” (Kỷ yếu, Tổng kết, tr. 227).

Về chế độ cống vải, thái độ của giới sử học, ít nhất là tập thể những nhà sử học tham gia hội thảo ở Vinh rất rõ ràng. Nội dung quan trọng bậc nhất của hội thảo này là xác định năm mở đầu cuộc khởi nghĩa Mai Thúc Loan là năm 713 và năm kết thúc là năm 722, chứ không phải cuộc khởi nghĩa bùng nổ rồi thất bại trong năm 722. Đây là một thành tựu lớn nhất của hội thảo và là một thành tựu quan trọng của sử học VN nói chung. Với thành tựu này, khởi nghĩa Mai Thúc Loan trước đây thường chỉ được coi là một cuộc khởi nghĩa địa phương giới hạn trong năm 722 thì nay được nhìn nhận là một cuộc khởi nghĩa quy mô lớn, có vị trí và ý nghĩa trọng đại trong cuộc đấu tranh giải phóng đất nước thời Bắc thuộc. Sau khi nổi dậy ở Hoan Châu (Nghệ Tĩnh), nghĩa quân đã tiến ra Bắc, chiếm lĩnh phủ thành, giải phóng cả nước và xây dựng, bảo vệ chính quyền độc lập Mai Hắc Đế trong gần 10 năm. Đây là một trong bốn cuộc khởi nghĩa lớn nhất thời chống Bắc thuộc trước khi thành lập chính quyền của họ Khúc: khởi nghĩa Hai Bà Trưng, khởi nghĩa Lý Bý, khởi nghĩa Mai Thúc Loan, khởi nghĩa Phùng Hưng.

Hội thảo cũng đã thông qua kiến nghị gửi đến các cơ quan có trách nhiệm về khoa học và giáo dục, nhất là về biên soạn sách giáo khoa và lịch sử, trong đó kiến nghị thứ nhất như sau:

“a. Các cơ quan có trách nhiệm về biên soạn sách giáo khoa, về biên soạn lịch sử cần đính chính lại các sai lầm trước đây về khởi nghĩa Mai Thúc Loan như cho rằng cuộc khởi nghĩa bùng nổ và thất bại trong năm 722, về truyền thuyết đi phu cống vải, đồng thời cần viết lại cuộc khởi nghĩa Hoan Châu (713-722) với quy mô to lớn, thắng lợi oanh liệt và ý nghĩa lịch sử trọng đại mà những tư liệu mới sưu tầm và xác minh đã cho phép khẳng định” (Kỷ yếu, Tổng kết, tr. 228).

Chế độ cống quả vải trong thời Bắc thuộc nói chung và thời thuộc Đường nói riêng, đã được một hội thảo khoa học của giới sử học giải quyết như thế từ tháng 11 năm 2008 và Kỷ yếu đã được xuất bản vào tháng 3 năm 2010.

4. Nhận thức lịch sử là một quá trình tiến dần tới chân lý, càng ngày càng tiếp cận sự thật lịch sử một cách khách quan và xác thực hơn. Trên con đường vạn dặm đó, mỗi nhà sử học, mỗi thế hệ sử gia có những tìm tòi, khám phá đóng góp vào sự phát triển chung và lúc này lúc khác, người này người khác, khó tránh khỏi những sai lầm, hạn chế. Trước một thành tựu, một bước tiến của nhận thức sử học được coi là công lao nhiều người, mỗi người tự nhìn vào đó để khắc phục những sai lầm và vui mừng về phần cống hiến của mình. Dĩ nhiên qua sự sàng lọc của thời gian và công luận, một số phát hiện, một số công trình có giá trị sẽ được nhìn nhận và tôn vinh bằng những giải thưởng khoa học. Đấy là chuyện khác, còn trong nghiên cứu và tranh luận, không nên vội vàng tự khẳng định mình rồi ồn ào thách thức, phê phán mọi người, đòi hỏi phải công nhận thành tựu của mình. Đó là động cơ và thái độ xa lạ với lao động khoa học chân chính và phẩm chất của nhà khoa học thực sự. Trong kết quả xác định lại quy mô và ý nghĩa lịch sử lớn lao của khởi nghĩa Mai Thúc Loan, dĩ nhiên có đóng góp của những nhà khoa học cụ thể qua báo cáo và thảo luận của họ mà ai cũng biết, nhưng trong bản Tổng kết được hội nghị thông qua không nêu tên tuổi cá nhân và cũng không có nhà khoa học nào đòi hỏi phải được vinh danh. Có lẽ ông Lê Mạnh Chiến, nếu muốn tham gia nghiên cứu, thảo luận những vấn đề lịch sử, cũng có thể nhìn vào kết luận của hội thảo và dễ nhận thấy phần đóng góp của ông và cả phần chưa đúng, chưa thỏa đáng của ông. Tôi cần nói thêm, tuy hội thảo đã đi đến một số kết luận được mọi người nhất trí, nhưng bên cạnh còn nhiều vấn đề cần nghiên cứu tiếp và ngay cả kết luận đạt được đến lúc nào đó, với những tư liệu mới phát hiện hay với trình độ tiếp cận mới, cũng có thể đưa ra thảo luận để xác nhận, bổ sung thêm hay nhận thức lại. Trong khoa học không bao giờ có kết luận cuối cùng và mọi vấn đề luôn luôn để mở cho sự khám phá mới, nhận thức mới cao hơn. Trong khoa học, tranh luận, đối thoại, hội thảo rất cần thiết và cần được coi là một phương thức, một động lực của sự phát triển khoa học. Nhưng tranh luận, dù có thể bút chiến gay gắt, pha chút tiêu ớt không sao, chỉ có ý nghĩa và phát huy giá trị khi được tiến hành trong môi trường văn hóa với động cơ vì chân lý, thái độ khách quan, trung thực và tôn trọng nhau.


Vậy dân ta từng phải còng lưng cõng vải cống nạp cho bọn vua quan phương Bắc thật. Chuyện này kéo dài ít nhất là đến thời Tam Quốc. Nhưng đến thời Mai Hắc Đế thì tổ tiên đã thoát được cái màn hành xác này.

Atula
24-04-2011, 22:07
Vậy dân ta từng phải còng lưng cõng vải cống nạp cho bọn vua quan phương Bắc thật. Chuyện này kéo dài ít nhất là đến thời Tam Quốc. Nhưng đến thời Mai Hắc Đế thì tổ tiên đã thoát được cái màn hành xác này.

Thông qua các trạm ngựa mà anh Tbg? ;;).

Trước cũng thắc mắc cái vụ phương tiện cống vải mà không rõ, cứ tưởng các cụ phải gánh trên vai như mấy bà bán tàu hũ 8->.

Ta biết gì?
24-04-2011, 22:27
Thì Gs Lê có nói là không biết dân ta phải bảo quản vận chuyển vải thế nào. Thời Đường vận chuyển bằng ngựa trạm thì không còn lấy vải An Nam nữa rồi. Tbg? tưởng tượng lung tung nên viết thế cho nó hình tượng một tý.

Anakin Solo
24-04-2011, 23:17
chuyển bằng ngựa báo tin là 1 chuyện nhưng đường xá khó khăn, xấu òm chứ có phải đường cao tốc phi 80 90kmh như bây giờ đâu mà 2 3 ngày đã đi dc 4000km ta :-?

Lí Tĩnh
24-04-2011, 23:39
1.Thứ nhất, việc bảo quản quả vải để vận chuyển bộ từ Nghệ An sang kinh đô Tràng An (thời Đường) để cống cho Dương Quý Phi là không thể thực hiện được, quãng đường 4000km, đi trong nhiều tháng trời quả vải sẽ thối rữa.

2.Thứ hai, hàng ngàn năm nay, quả vải là đặc sản của Trung Quốc, chúng được trồng trong khu vực từ 23-35 độ vĩ bắc các tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây, Quế Lâm (TQ), ở đây từng tồn tại hàng chục giống vải cho quả rất ngon. Vải Thiều ở Hưng Yên được lấy giống từ giống vải ngon Thiều Châu của TQ từ hơn 100 năm nay.

3.Thứ ba, nói rằng vua Đường Minh Hoàng vì quá chiều chuộng Dương Quý Phi nên bắt quan lại ở An Nam Đô hộ phủ cho phu gánh vải quả từ nước ta để thỏa mãn nàng không thể xảy ra vào năm 722, vì khi đó Dương Quý Phi mới 3 năm tuổi, chưa thể là Ái phi của vua Minh Hoàng, và chưa thể có việc Mai Thúc Loan và đoàn phu gánh vải ấy!

4.Thứ tư, Mai Thúc Loan khởi nghĩa là vì tinh thần yêu nước chống xâm lược, chứ không phải vì vất vả, nhục nhã do phải làm phu phen gánh vải. Chúng ta không nên hạ thấp ý nghĩa lịch sử của khởi nghĩa Mai Thúc Loan.

Các lí do khác đều thỏa đáng, chỉ có lí do thứ tư này cần phải xem xét lại vì đây là quan điểm hiện đại. Cấu trúc về các khái niệm "dân tộc", "quốc gia",etc trước thế kỷ thứ 15 Tĩnh đã nói qua nhiều rồi, hoàn toàn không giống với thời hiện đại.

Em xem lại vụ này, nhưng về Ts Phan Huy Lê, em đã đọc qua quyển Cuộc Kháng Chiếng Chống Xâm Lược Nguyên Mông Thế Kỷ XIII bản đầu tiên năm 1968. Nhìn chung tác giả có kiến thức rất rõ về nguồn, nhưng kiểu cách suy luận rõ ràng nặng tính dân tộc chủ nghĩa, thiên vị và phiến diện. Sử dụng các tư liệu hiện đại khác hi vọng sẽ phát hiện những sai lầm mà tác giả phạm phải.

http://vanhoanghean.com.vn/goc-nhin-van-hoa/nhung-goc-nhin-van-hoa/52-kho-cu-li-cuc-khi-ngha-mai-thuc-loan.html

Ai có hứng thú vào đây tìm hiểu thêm
Về phần nguồn dẫn ra bên dưới, đa số các thống tin quan trọng em đều có cách tiếp cận, hi vọng sẽ có thể tra nguồn.

giosamac
25-04-2011, 22:25
chuyện cống vải chưa chắc đã có thật
theo một số nghiên cứu trên báo gần đây mình đã đọc thì vải cống xuất xứ từ Tứ Xuyên Trung Quốc chứ ko phải đất An Nam ta đâu
quả thật cũng vô lý thật vì quãng đường từ Việt Nam ta đến thành Trường An kinh đô nhà Đường là quá xa để đi gánh vải
Một sự nhầm lẫn đáng tiếc mà dc giảng dạy trong SGK đến mấy chục năm???
vậy nguyên nhân của cuộc khởi nghĩa Mai Thúc Loan? là từ đâu?

Một sự nhầm lẫn đáng tiếc mà dc giảng dạy trong SGK đến mấy chục năm???
một số tài liệu mình đọc có nói nguyên nhân là do Dương Quý Phi,mê vải cống,mà Đường Huyền Tông thì yêu chiều người đẹp này mà bắt dân phu ta phải đi gánh vải qua Trung Quốc
lên google tra,dương quí phi sinh năm 719,tức vào lúc Ngô Thúc Loan khởi nghĩa,mới có 3 tuối
bó tay
nhiều điếm vô lý thật

nguoibanso25
26-04-2011, 11:51
Các lí do khác đều thỏa đáng, chỉ có lí do thứ tư này cần phải xem xét lại vì đây là quan điểm hiện đại. Cấu trúc về các khái niệm "dân tộc", "quốc gia",etc trước thế kỷ thứ 15 Tĩnh đã nói qua nhiều rồi, hoàn toàn không giống với thời hiện đại.

Xin lỗi bạn 1 chút, mình hơi bận nên chưa có thời gian tìm đọc về sự khác nhau giữa quan điểm "dân tộc", "quốc gia" thời xưa :D, bạn cho mình vài link về điểm này không, mình thấy nó khá hay. 8->

Nếu chúng ta xây dựng 1 định nghĩa về tinh thần yêu nước, với những đặc trưng của nó (theo quan điểm hiện đại) và áp dụng vào lịch sử. Nếu mang đầy đủ đặc trưng đó (hoặc 1 phần, hoặc không có gì) thì hoàn toàn có thể kết luận rằng: có tinh thần yêu nước (1 phần hoặc không có). Đó là cách làm trong Toán học, để nói rằng đó là Đa giác thì phải thỏa mãn đặc trưng: là đường gấp khúc khép kín. Như vậy sẽ có nhiều hình thỏa mãn định nghĩa, nhưng nhiều khi ta theo thói quen thông thường không có là đa giác nhưng nó là đa giác, ví dụ: (*), đây là đa giác 10 cạnh (thập giác) :D. Tất nhiên trong lịch sử thì không thể tuyệt đối, nhiều phần tế nhị, nhưng mình nghĩ cách làm thế sẽ tương đối chính xác và dễ nghiên cứu hơn.



Em xem lại vụ này, nhưng về Ts Phan Huy Lê, em đã đọc qua quyển Cuộc Kháng Chiếng Chống Xâm Lược Nguyên Mông Thế Kỷ XIII bản đầu tiên năm 1968. Nhìn chung tác giả có kiến thức rất rõ về nguồn, nhưng kiểu cách suy luận rõ ràng nặng tính dân tộc chủ nghĩa, thiên vị và phiến diện. Sử dụng các tư liệu hiện đại khác hi vọng sẽ phát hiện những sai lầm mà tác giả phạm phải.

http://vanhoanghean.com.vn/goc-nhin-van-hoa/nhung-goc-nhin-van-hoa/52-kho-cu-li-cuc-khi-ngha-mai-thuc-loan.html

Ai có hứng thú vào đây tìm hiểu thêm
Về phần nguồn dẫn ra bên dưới, đa số các thống tin quan trọng em đều có cách tiếp cận, hi vọng sẽ có thể tra nguồn.

Cảm ơn bạn, hi vọng chúng ta có thể tìm hiểu được nhiều điều :D



cám ơn bạn, mình tìm thêm dc rất nhiều chi tiết ko nghĩ tới, rất nhiều ý kiến tham khảo của mọi người, cám ơn tất cả, và đây là một số chi tiết của truỵen :).
kịch bản đại khái là:


Cảm ơn bạn đã chia sẻ, nếu bạn cần tìm hiểu thêm điều gì, hoặc cần thêm ý tưởng cứ nói nhé. Mọi người đang tranh luận, hi vọng sẽ giúp bạn hoàn thiện hơn... Về trang phục thời đó, mình không có nhiều hiểu biết, nhưng trong diễn đàn nhiều người có kiến thức điều này, bạn có thể tham khảo thêm. Đang chờ theo dõi diễn biến chuyện của bạn 8-> (À, bạn có thể để ảnh vào mục ẩn như
Ta biết gì? được không, mình load trang hơi chậm)



Tái bút: 1 số vấn đề đã được bàn luận ở những trang trước, mọi người đọc qua trước khi Comment nhé!

hoagievang_2305
27-05-2011, 23:55
Chuyện cống vải là thật. Vải đó có lẽ là vải Thanh Hà, Hải Dương. Có lẽ chưa hẳn là đưa sang Trung Quốc mà là đưa đến nơi làm vải khô rồi mới đem sang, hoặc là do quan lại nhà Đường khi sang cai trị bắt dân ta gánh vải đến cho họ dùng.
Còn chuyện Dương Quý Phi, quê miền Tứ Xuyên. Quê cô cũng có vải ngon nổi tiếng, lúc đó gọi là quả Lệ Chi. Vào cung vua, nhưng cô luôn muốn ăn thứ quả quê hương. Và An Lộc Sơn lợi dụng việc này đã đem vải vào cung tư thông với nàng.