PDA

View Full Version : Ngày xưa có tồn tại trọng nữ khinh nam không?



Beach
21-04-2011, 12:59
Mình có đọc được câu thơ:
"Ba đồng một mớ đàn ông
Đem bỏ vào lồng cho kiến nó tha
Ba trăm một nụ đàn bà
Đem về mà trải chiếu hoa cho ngồi"

Theo như mình nghĩ thì câu này có từ lâu đời, chắc vào khoảng thời phong kiến. Vậy trong thời phong kiến, có giai đoạn nào thân phận người đàn ông bị rẻ rúm, còn phụ nữ thì được đưa lên cao không?

Thiên Lang
21-04-2011, 13:05
Muốn hiểu vấn đề này, phải hiểu rõ Nho giáo.
Vốn từ xưa các thị tộc theo chế độ Mẫu hệ. Chế độ này còn kéo dài đến thời kỳ Chiếm hữu nô lệ (cái truyền thuyết Nữ oa vá trời của TQ hay Thần Mặt trời của Nhật). Về tư tưởng thời kỳ này cũng chưa chặt chẽ, tồn tại nhiều luồng tư tưởng khác nhau.
TQ bắt đầu thời kỳ chỉnh đốn quy củ bằng Khỏng giáo do Khổng Tử sáng lập, đc hoàn thiện và trở nên độc tôn vào thời Hán, Đường và nhất là thời Tống (với tên tuổi Trình Di, Trình Hạo). Nho giáo coi đàn ông là trụ cột, là quyền lực chính trong gia đình cũng như trong quốc gia. Nói chung ý thức "phụ hệ" đến nỗi "trọng nam khinh nữ" bắt nguồn 1 phần lớn từ các tư tưởng Nho giáo.
Ở VN Nho giáo đc truyền bá vào thời Bắc thuộc, đc các đời du nhập và lên vị trí độc tôn thời Lê. Trc đó hay thậm chí sau thời Lê, ý thức hệ làng xã của VN rất phổ biến, hầu như 1 làng biết chuyện làng mình ít khi giao du (hoặc có nhưng vẫn kiểu làng mày làng tao). Nên mới có câu "Phép vua thua lệ làng". Tập tính làng xã đã bảo tồn rất nhiều giá trị riêng của VN, (1 phần lớn việc bảo tồn đc tiếng nói hay phong tục qua ngàn năm Bắc thuộc cũng là từ cái ý thức làng xã này).
Nói chung k phải hễ phong kiến có nghĩa là trọng nam khinh nữ, dù dĩ nhiên đây là 1 kiểu suy nghĩ rất phổ biến nhưng k phải độc tôn. Mà xh VN thì khác nhiều so với xh TQ

Dantuyenquang
21-04-2011, 13:11
Đây có thể hiểu như là 1 sư coi trọng phụ nữ hiếm hoi của văn hóa Phương Đông thôi bạn ơi

Beach
21-04-2011, 14:25
Muốn hiểu vấn đề này, phải hiểu rõ Nho giáo.
Vốn từ xưa các thị tộc theo chế độ Mẫu hệ. Chế độ này còn kéo dài đến thời kỳ Chiếm hữu nô lệ (cái truyền thuyết Nữ oa vá trời của TQ hay Thần Mặt trời của Nhật). Về tư tưởng thời kỳ này cũng chưa chặt chẽ, tồn tại nhiều luồng tư tưởng khác nhau.
TQ bắt đầu thời kỳ chỉnh đốn quy củ bằng Khỏng giáo do Khổng Tử sáng lập, đc hoàn thiện và trở nên độc tôn vào thời Hán, Đường và nhất là thời Tống (với tên tuổi Trình Di, Trình Hạo). Nho giáo coi đàn ông là trụ cột, là quyền lực chính trong gia đình cũng như trong quốc gia. Nói chung ý thức "phụ hệ" đến nỗi "trọng nam khinh nữ" bắt nguồn 1 phần lớn từ các tư tưởng Nho giáo.
Ở VN Nho giáo đc truyền bá vào thời Bắc thuộc, đc các đời du nhập và lên vị trí độc tôn thời Lê. Trc đó hay thậm chí sau thời Lê, ý thức hệ làng xã của VN rất phổ biến, hầu như 1 làng biết chuyện làng mình ít khi giao du (hoặc có nhưng vẫn kiểu làng mày làng tao). Nên mới có câu "Phép vua thua lệ làng". Tập tính làng xã đã bảo tồn rất nhiều giá trị riêng của VN, (1 phần lớn việc bảo tồn đc tiếng nói hay phong tục qua ngàn năm Bắc thuộc cũng là từ cái ý thức làng xã này).
Nói chung k phải hễ phong kiến có nghĩa là trọng nam khinh nữ, dù dĩ nhiên đây là 1 kiểu suy nghĩ rất phổ biến nhưng k phải độc tôn. Mà xh VN thì khác nhiều so với xh TQ

Thế có phải câu ca dao đó có từ thời Công xã nguyên thủy, rồi được các làng xã bảo lưu đến thời phong kiến và đến ngày nay không bạn?

lleekeung
21-04-2011, 14:32
Thế có phải câu ca dao đó có từ thời Công xã nguyên thủy, rồi được các làng xã bảo lưu đến thời phong kiến và đến ngày nay không bạn?

Ít khả năng, vì ngôn ngữ bị biến đổi đi rất nhiều. :|
còn chuyện trọng nữ thì Luật nước ta cùng thời kì cũng có nhiều điểm tiến bộ, cân nhắc đến vai trò của người Phụ nữ (so với các nước cùng chịu ảnh hưởng Khổng Giáo Nho học)
Xã hội ta cũng khác xã hội Trung Quốc. Nho Học là lai căng từ bên ngoài, trước khi "Bắc thuộc", văn hóa nước ta vẫn có sự bình đẳng nam nữ, hok quá câu nệ. Những nét đặc trưng này vẫn còn có thể tìm thấy ở các dân tộc gần gũi như đồng bào Mường.

boconganh
21-04-2011, 14:47
Đúng là trước thời Lê vấn đề "trọng nam khinh nữ" không quá gắt gao, điển hình như thời Đinh, Lê bà Dương Vân Nga chồng chết vẫn có thể tái giá.

Akimadinh
21-04-2011, 15:17
Các bạn đọc đoạn này thì sẽ hiểu: ( tại sao lại có câu thơ đó, tại sao là lưu truyền trong dân gian, tại sao lại viết theo kiểu trào phúng)


Khái niệm truyền thống văn hóa dân gian biểu thị những yếu tố của văn hóa dân gian - những giá trị tương đối ổn định được kết tinh trong quá trình lâu dài để phát triển xã hội, được đúc kết thành khuôn mẫu xã hội. Theo GS. Trần Quốc Vượng, “Có thể hiểu “truyền thống” như là một hệ thống các tính cách, các thế ứng xử của một cộng đồng, được hình thành trong lịch sử, trong một môi trường sinh thái và nhân văn nhất định, trở nên ổn định, trường tồn nhưng không vĩnh cửu, có thể được định chế hóa bằng luật hay bằng lệ (phong tục tập quán) và được trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, có thể gọi là sự di truyền văn hóa, bên cạnh sự di truyền sinh vật và thân xác - để bảo đảm tính đồng nhất của một cộng đồng”(20).

Những truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc đã hình thành và được vun đắp trong suốt chiều dài lịch sử, trong đó phải nói đến truyền thống trọng Mẫu của nhân dân ta.

Việt Nam thuộc loại văn hóa gốc nông nghiệp. Nền kinh tế nông nghiệp lúa nước đặc biệt thích ứng với sự đảm đang, khéo léo của người phụ nữ, vì thế, người Việt cổ tôn thờ nước, lúa, và người phụ nữ. Mặt khác, con người nông nghiệp ưa sống theo nguyên tắc trọng tình, điều đó dẫn đến thái độ trọng người phụ nữ. Người Việt ghi nhớ công cha nghĩa mẹ nhưng cha thì kính mà mẹ thì thờ, trong tâm thức dân gian thì người mẹ có vị trí, vai trò quan trọng nhất: “Con dại cái mang”, “Cha sinh không tày mẹ dưỡng”, “Phúc đức tại Mẫu”. Điều đó cho thấy vị trí, vai trò không thể thay thế của người mẹ đồng thời cho thấy lòng kính ngưỡng thiêng liêng, sâu sắc của tâm thức dân tộc ta dành cho người Mẹ. Người Việt thờ Mẫu trước hết là thờ người mang nặng đẻ đau, ôm ấp chăm bẵm và đến hết đời vẫn còn lo lắng cho con cái của mình, rộng ra là thờ người Mẹ của xứ sở, bảo hộ, bảo trợ cho con người.

Tinh thần Mẫu quyền còn in đậm trong nhân dân cả khi đã chuyển sang chế độ phụ quyền như những câu tục ngữ “Lệnh ông không bằng cồng bà”, “Nhất vợ nhì giời”. Và không phải ở vào một thời đại nào khác mà ở vào chính thời cực thịnh của Nho giáo, Mẫu Liễu bước lên đài cao uy nghiêm của điện thờ. Sự thắng thế của tín ngưỡng thờ Mẫu, của Đạo Mẫu đã khẳng định chiến thắng tinh thần tuyệt đối của tinh thần trọng Mẫu Việt Nam, một tinh thần giàu tính nhân bản, nhân đạo và nhân văn.

Hình ảnh người Mẹ trong tâm thức của người Chăm cũng chiếm một vị trí vô cùng quan trọng. Người Chăm theo chế độ Mẫu hệ, ngay từ khi hình thành bộ lạc Cau - một trong hai bộ lạc lớn hình thành nên nhà nước Champa sau này, người phụ nữ - người Mẹ có vai trò to lớn trong đời sống, văn hóa và tâm linh của họ. Hình tượng Người Mẹ Xứ sở Pô Yan Inư Nagar trong truyền thuyết của người Chăm mang đậm truyền thống trọng Mẫu của “xứ sở Mẫu hệ”.


Tinh thần trọng Mẫu ấy vẫn được vun đắp trong suốt chiều dài lịch sử. Tư tưởng “nam tôn nữ ty” của chế độ phụ quyền từ trung Hoa truyền vào Việt Nam đã không được người dân hưởng ứng mà trong dân gian đã lưu truyền tục thờ Mẫu, điển hình là đề cao các Thánh Mẫu khắp ba miền Bắc - Trung - Nam và còn đề cao người phụ nữ qua câu ca dao mang tính trào phúng như:

“Ba đồng một mớ đàn ông

Đem bỏ vào lồng cho kiến nó tha;

Ba trăm một mụ đàn bà,

Đem về mà trải chiếu hoa cho ngồi”

kieuphong
21-04-2011, 15:24
Đây là chị em phụ nữ thời phong kiến tự sướng với nhau cho đỡ... ức đấy mà. =((

Hồi lão còn bé tẹo, từng chứng kiến 1 bà má chồng lu loa ầm ĩ và gọi bà thông gia đến ... trả con gái vì chẳng may nó nhỡ phát... rắm khi bê mâm cơm lên mời gia đình chồng. Gia đình nhà gái xấu hổ lắm, vì chẳng may đẻ đứa con gái... trắc nết làm vậy 8-}

Được cái mấy nhà truyền giáo phương Tây nhìn nhận phụ nữ VN dễ thở hơn phụ nữ TQ tí đỉnh. Ông này bắt gặp 1 phụ nữ đội đơn kêu oan cho chồng quì bên vệ đường chờ vua qua để kêu (vua Lê thì phải). Rút cục đơn cũng đến tay người nhận.

Beach
21-04-2011, 15:41
À, bây giờ thì mình đã hiểu.......................................

Dạt Vòm
21-04-2011, 16:23
Đấy là 1 sự hài hước cay đắng.

MrDNQ
21-04-2011, 16:47
Theo mình người phụ nữ ít nhiều vẫn có một vị trí nhất định trong lòng xã hội Việt Nam từ trước đến nay, tuy mỗi thời có nhiều ít khác nhau. Tìm được bài viết này có nói về quyền của người phụ nữ trong các bộ luật thời xưa mọi người đọc tham khảo:


Năm 1483, vua Lê Thánh Tông sai các triều thần sưu tập tất cả các điều luật, các pháp lệnh đã ban bố và thi hành trong các triều vua thời Lê sơ, soạn định lại, xây dựng lại thành một bộ luật hoàn chỉnh. Đó là bộ "Quốc triều hình luật" hay còn gọi là bộ Luật Hồng Đức. Luật Hồng Đức nói riêng và pháp luật thời Lê nói chung mang đặc thù của pháp luật Đại Việt, phản ánh chân thực và sâu sắc tình trạng xã hội nước ta thế kỷ XV và sau này.

Tính đặc thù của "Quốc triều hình luật" thể hiện rõ trong hai chương "Hộ hôn" và "Điền sản". Qua hai chương này, các nhà làm luật đã coi trọng cá nhân và vai trò của người phụ nữ - điều mà các bộ luật trước và sau không mấy quan tâm. Có 53/722 điều luật (7%) bàn về hôn nhân - gia đình; 30/722 điều luật (4%) bàn về việc hương hỏa, tế lễ, thừa kế và sở hữu tài sản. Những điều luật này ít nhiều đã đề cập đến một số quyền lợi của người phụ nữ trong xã hội và trong gia đình.

Người vợ, trên lý thuyết, bị đòi hỏi phải lệ thuộc vào chồng và không được làm điều gì nếu không có sự chỉ đạo hay đồng ý của chồng. Nhưng trên thực tế, địa vị của người vợ - chồng thay đổi nhiều tùy thuộc theo vị trí xã hội và kinh tế của họ. Cũng giống như chồng, người phụ nữ Việt Nam xưa có tài sản riêng và tham gia các hoạt động kinh tế. Đó là điều khác biệt với người phụ nữ Trung Quốc. Trong lao động, người phụ nữ được trả công ngang bằng với người thợ nam, "không có sự phân biệt về tiền công nhật cho lao động đàn ông với đàn bà"(1). Điều 23 trong "Quốc triều hình luât" quy định tiền công nhật cho nô tỳ là 30 đồng. Việc trả công ngang bằng như thế rõ ràng cho thấy lao động của phụ nữ được đánh giá cao và vị trí của người phụ nữ được tôn trọng trong xã hội.

Trong hôn nhân, người phụ nữ cũng có thể yêu cầu ly hôn (đâm đơn kiện).

Điều 322 - "Quốc triều hình luật" ghi: "Con gái thấy chồng chưa cưới có ác tật có thể kêu quan mà trả đồ sính lễ", nếu "con rể lăng mạ cha mẹ vợ, đem thưa quan, cho ly dị". Trong gia đình người vợ tương đối bình quyền với người chồng và do đó, hôn nhân không được coi là sự chuyển giao hoàn toàn cô gái từ gia đình bên nội của mình sang gia đình chồng như ở Trung Quốc. Không những thế, luật pháp còn bảo vệ người phụ nữ. Họ được phép đến nhà đương chức xin ly hôn trong trường hợp chồng không chăm nom, săn sóc vợ trong 5 tháng (1 năm - nếu vợ đã có con). Nếu vợ đem đơn đến công đường thì bộ luật cho phép cưỡng bức ly hôn. Nghĩa là, người chồng không làm tròn nghĩa vụ với vợ thì người vợ cũng không buộc phải làm tròn bổn phận của mình. Quy định này không có trong bất kỳ bộ luật nào của Trung Quốc cũng như các văn bản cổ luật trước hay sau triều Lê. Ngay cả khi luật bắt buộc người chồng phải bỏ vợ ngoài ý muốn chủ quan, điều 310 quy định "Vợ, nàng dâu đã phạm vào điều "thất xuất" mà người chồng ẩn nhẫn không bỏ thì phải tội biếm tùy theo nặng nhẹ". Tuy nhiên, sẽ không thể ly hôn được nếu như khi phạm vào điều thất xuất người vợ đang ở trong ba trường hợp (tam bất khứ): đã để tang nhà chồng 3 năm; khi lấy nhau nghèo mà sau giàu có; khi lấy nhau có bà con mà khi bỏ lại không có bà con để trở về. Đồng thời, khi hai bên vợ chồng đang có tang cha mẹ thì vấn đề ly hôn cũng không được đặt ra. Khi ly hôn, con cái thường thuộc về chồng, nhưng nếu muốn giữ con, người vợ có quyền đòi chia một nửa số con. Điều 167 - Hồng Đức thiện chính thư - quy định rõ hình thức thuận tình ly hôn: Giấy ly hôn được làm dưới hình thức hợp đồng, người vợ và người chồng mỗi bên giữ một bản làm bằng. Vậy là, bên cạnh sự ưng thuận của cha mẹ hay các bậc tôn thuộc rất quan trọng thì sự ưng thuận của hai bên trai - gái cũng là một thành tố được nhà lập pháp chú ý đến.

Quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng sau khi ly hôn hoàn toàn chấm dứt, hai bên đều có quyền kết hôn với người khác mà không bị pháp luật ngăn cấm.

Thông thường, nếu ly hôn không do lỗi của người vợ thì phần tài sản riêng (gồm cả điền sản và tư trang), người vợ có quyền mang về nhà mình. Trong trường hợp có lỗi; thường thì tự ý người vợ không đem theo tài sản hoặc trong một vài trường hợp luật định người vợ buộc phải để lại tài sản đó cho chồng, "người vợ mà đi gian dâm, tài sản phải trả về cho chồng"(2).

Ngoài ra, việc phân chia và thừa kế tài sản còn tùy thuộc vào việc vợ chồng có con hay không có con. Pháp luật quy định cụ thể ở các điều 374, 375 và 376 (Quốc triều hình luật). Tài sản của vợ chồng được hình thành từ 3 nguồn: Tài sản của chồng thừa kế từ gia đình nhà chồng; tài sản của người vợ thừa kế từ gia đình nhà vợ và tài sản do hai vợ chồng tạo dựng trong quá trình hôn nhân (tài sản chung). Khi gia đình tồn tại, tất cả tài sản được coi là của chung. Khi ly hôn, tài sản của ai, người đó được nhận riêng và chia đôi tài sản chung của hai người.

Còn khi chồng chết trước (hay vợ chết trước) tài sản có do bố mẹ dành cho được chia làm hai phần bằng nhau, một phần dành cho gia đình bên chồng/vợ để lo việc tế lễ (bố mẹ bên chồng/vợ hoặc người thừa tự bên chồng/vợ giữ). Một phần dành cho vợ/chồng để phụng dưỡng một đời (nhưng không có quyền sở hữu). Khi người vợ/chồng chết, thì phần tài sản này giao lại cho gia đình bên chồng.

Đối với tài sản do hai người tạo ra cũng chia làm hai phần bằng nhau: một phần dành cho vợ/chồng làm của riêng; một phần dành cho vợ/chồng chia ra như sau: 1/3 dành cho gia đình nhà chồng/vợ để lo việc tế lễ; 2/3 dành cho vợ/chồng để phụng dưỡng một đời, không được làm của riêng, khi chết giao lại cho gia đình bên chồng. "Quốc triều hình luật" không nhắc tới động sản, chỉ đề cập tới điền sản, theo Vũ Văn Mẫu: "Điểm này cũng dễ hiểu vì trong một nền kinh tế trọng nông, các động sản khác chỉ là những vật có ít giá trị". Song trong "Hồng Đức thiện chính thư" (điều 258-259) đã không gạt hẳn các động sản ra ngoài thừa kế. "Đến như nhà cửa chỉ có thể chia làm hai, người sống được một phần làm chỗ ở, người chết được một phần làm nơi tế lễ". "Còn đến của nổi, phải để cung vào việc tế tự và theo lệ dân trả nợ miệng, còn thừa bao nhiêu cũng chia cho vợ con". "Của nổi" ở đây được hiểu là vàng, bạc, lụa, vải, thóc lúa, giường chiếu, đồ sứ, mâm thau... Như vậy, pháp luật đã ghi nhận một cách bình đẳng sự đóng góp của người vợ trong tài sản chung của vợ chồng và bảo vệ quyền sở hữu hợp pháp đối với tài sản do hai vợ chồng làm ra.

Trong quyền thừa kế tài sản của cha mẹ để lại, pháp luật nhà Lê không phân biệt con trai - con gái. Nếu cha mẹ mất cả thì lấy 1/20 số ruộng đất làm phần hương hỏa, giao cho người con trưởng giữ, còn lại chia đều cho các con (điều 388); "người giữ hương hỏa có con trai trưởng thì dùng con trai trưởng, không có con trai trưởng thì dùng con gái trưởng" (điều 391). "Ruộng hương hỏa giao cho con trai, cháu trai, nếu không có thì giao cho cháu gái ngành trưởng".

Về việc áp dụng hình phạt "ngũ hình" (3), có sự phân biệt giữa đàn ông và đàn bà: không áp dụng hình phạt "trượng" cho đàn bà và áp dụng riêng từng loại tội "đồ" cho đàn ông và đàn bà (điều 1 - Quốc triều hình luật).

Tóm lại, bộ luật Hồng Đức có ý nghĩa rất lớn trong lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam. Pháp luật ấy về cơ bản được duy trì để thi hành ở những thế kỷ sau, cho đến khi nhà Nguyễn ban hành bộ luật Gia Long thì uy tín, tinh thần những điều khoản luật Hồng Đức vẫn còn sống trong dân gian. Bộ luật ấy đã có những quy định tương đối tiến bộ, công nhận cho người phụ nữ trong xã hội phong kiến một số quyền lợi và phần nào bảo vệ họ đối với thái độ "trọng nam khinh nữ"... Có lẽ vì thế mà chúng ta mới thấy xuất hiện trong lịch sử những Đoàn Thị Điểm, Hồ Xuân Hương, Bà huyện Thanh Quan... mạnh mẽ, mãnh liệt, khát khao bày tỏ tình cảm, mà cũng sâu sắc, trầm lắng biết bao! Họ lên tiếng cho người phụ nữ. Họ đấu tranh cho người phụ nữ... Và cho đến bây giờ, dưới thời đại Hồ Chí Minh, người phụ nữ đã bình đẳng với nam giới, không còn sự "trọng nam khinh nữ" nữa, quyền lợi của người phụ nữ đã được công nhận và bảo vệ như nam giới, thì chúng ta mới thấy được những quyền lợi của người phụ nữ xưa vẫn còn quá ít ỏi, họ còn bị gò bó, ràng buộc, chi phối bởi biết bao nhiêu nguyên tắc đạo đức phong kiến, những "tam tòng, tứ đức"... Tuy nhiên, phải thấy rằng, nhà nước thời Lê đã bắt đầu nhận thấy vai trò lớn lao của người phụ nữ trong sản xuất và trong cuộc sống. Đó là điều tiến bộ trong các triều đại phong kiến Việt Nam.

Về mặt khác đề tài "địa vị phụ nữ" luôn luôn được sự hưởng ứng nhiệt tình của đông đảo giới chị em, kể cả các đấng mày râu! Và điệp khúc muôn thuở vẫn là những lời lên án đầy phẫn nộ, đại loại như: "chế độ phong kiến VN đè nén quyền lợi của người phụ nữ" hoặc "gia đình gia tộc nô lệ hóa người phụ nữ VN"...khiến cho chúng ta đôi lúc cũng phải tán đồng và nhìn lại chế độ phong kiến xưa bằng một cặp mắt khá gay gắt!

Nhưng thực sự có như vậy không? Có nhiều bằng chứng cho thấy: phụ nữ Việt Nam không đến nỗi bị đối xử tàn tệ như vậy! Trước hết bởi vì phụ nữ VN luôn yêu thương chồng con, khoan hòa giản dị nên có cuộc sống tương đối cởi mở, tự do hơn nhiều phụ nữ khác trên thế giới, chẳng hạn như Trung Quốc, Ấn Độ hoặc các xứ Hồi giáo. Mặt khác, lịch sử cho thấy pháp luật và phong tục Việt Nam ngoài việc tỏ ra hòa hoãn còn bảo vệ tích cực cho quyền lợi của người phụ nữ.

Quay lại thời xa xưa, Khổng giáo chủ trương "nam tôn nữ ty", ngoài ra còn có tam cương ngũ thường (tam cương: vua tôi, cha con, vợ chồng; ngũ thường: tình cha con, nghĩa vua tôi, nghĩa vợ chồng, thứ tự lớn nhỏ và lòng tin vào bạn bè), thuyết tam tòng và hàng lô hàng đống các giáo điều khác khiến cho người phụ nữ phải khép nép vào một góc xã hội, suốt đời phải dựa vào người đàn ông. Nhưng như đã nói ở trên, pháp luật và phong tục Việt Nam không như vậy!

Từ ngay từ thời Lê, các nhà tư pháp đã tỏ ra tích cực trong việc bảo vệ hạnh phúc người phụ nữ bằng pháp luật, điều mà những tổ chức phụ nữ hiện nay đang hô hào nhưng chưa có xi-nhê gì (!) Điều 308 của Quốc triều hình luật khẳng định: đức ông chồng có khả năng mất vợ nếu không đi lại trong 5 tháng và ngăn cản vợ cũ lấy chồng mới sẽ bị tội biếm! Quả là một quy định tuyệt vời nhỉ!

Luật Gia Long còn lo xa hơn cho đời sống của các chị em nếu phải ly dị, do đó có quy định ba trường hợp khiến cho chồng không thể bỏ vợ được trừ khi người vợ ngoại tình là: vợ đã để tang cha mẹ chồng, vợ đã làm nên giàu có, ngoài nhà chồng ra vợ không còn chỗ nào nương tựa nữa. Nếu vi phạm một trong ba trường hợp ấy sẽ bị trừng trị đích đáng. Qua đó cho thấy bản luật rất tôn trọng hiếu nghĩa của người phụ nữ!

Đó là mặt nhân quyền, còn quyền lợi vật chất thì sao? Pháp luật truy tố những ai tự tiện bán tài sản của người vợ mà không có sự chấp thuận hoặc những ai bán vợ, bắt vợ làm thuê. Thậm chí họ còn chấp nhận việc cho con gái giữ hương hỏa của gia tộc, điều mà người Trung Quốc không bao giờ chấp nhận. Sắc chỉ của Lê Chiêu Tôn năm 1517 có nói "con gái trưởng có đủ các quan hệ nghĩa vụ về pháp luật và tôn giáo như một người gia trưởng". Vì vậy không phải tự nhiên mà có câu tục ngữ "vô nam dụng nữ"!

Một điều rất thú vị nữa là ở vào thế kỷ 18-19, các bậc đáng kính trong triều đình đã nghĩ đến việc trừng trị tội "quấy rối tình dục"! Điều 17 khoản 168 luật Gia Long quy định "người nào dùng lời thô tục dâm đãng làm cho người đàn bà đến xấu hổ mà tự tử thì phải xử đến hình giảo giam hậu", điều 12 còn nói thêm là "trong trường hợp không cố ý vẫn sẽ bị xử hình trượng nhất bách lưu tam thiên lý".

Qua đó cho thấy những nhà làm luật còn dành cho phụ nữ một quyền lợi khá rộng rãi. Những quyền lợi này được xác nhận và bảo đảm đối với nhà nước. Không như ta vẫn tưởng: pháp luật tiếp tay với Nho giáo đè nén phụ nữ.

Tóm lại bấy lâu nay, chúng ta đã quá bị ảnh hưởng của nền văn hóa Trung Quốc mà nhìn xã hội Việt Nam rất phiến diện! Nếu như với một chế độ áp bức như thế thì làm sao lịch sử có những vị nữ anh hùng trong vai trò lãnh đạo như Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Bùi Thị Xuân v.v....? Chúng ta xem văn chương Trung Quốc, học lịch sử, văn hóa Trung Quốc rồi cũng dần dần xem Việt Nam như một mô hình của Trung Quốc! Thật ngớ ngẩn! Rất mong hãy nhìn lại quá khứ theo hướng tích cực của nó!

Nguồn:
http://www.trangsachhong.com/forums/archive/index.php/t-828.html