PDA

View Full Version : Vài bài tập lớp 3



Thiên Lang
30-08-2011, 20:11
Phát hiện cuốn Vở bài tập Tiếng Việt 3 có vài thứ khá hay cho ae, cụ thể dư lày

Với mỗi từ sau hãy tìm 3 từ ghép có mặt nó trong đó (vd áo: áo mưa)
- sào
- xào
- gắn
- gắng
- khăn
- khăng
- xét
- sét
- nặn
- nặng
- sinh
- xinh

AntiVichoco
30-08-2011, 20:38
sào chọc................
xào rau
gắn liền
gắng gượng
khăn lau bẹn
khăng khít
xem xét
sấm sét
đất nặn
gánh nặng
sinh đẹp
xinh xắn
Không biết ghép vào để thanh động từ hay danh từ hay tính từ chứ cứ ghép vào mà có nghĩa thì nolimited :D

LetMeDie4Rock
30-08-2011, 20:42
sào chọc................
xào rau
gắn liền
gắng gượng
khăn lau bẹn
khăng khít
xem xét
sấm sét
đất nặn
gánh nặng
sinh đẹp
xinh xắn
Không biết ghép vào để thanh động từ hay danh từ hay tính từ chứ cứ ghép vào mà có nghĩa thì nolimited :D

học hành kiểu gì mà bài tập lớp 3 cũng sai thế này :-<

AntiVichoco
30-08-2011, 20:44
nhầm nha sinh đẻ :))............................................... ............................

Thiên Lang
30-08-2011, 20:53
3 từ lận, 1 từ thì nói làm gì :))

LetMeDie4Rock
30-08-2011, 20:56
3 từ lận, 1 từ thì nói làm gì :))

dễ quá, ếch muốn làm :->

Lightpearl
30-08-2011, 21:05
Phát hiện cuốn Vở bài tập Tiếng Việt 3 có vài thứ khá hay cho ae, cụ thể dư lày

Với mỗi từ sau hãy tìm 3 từ ghép có mặt nó trong đó (vd áo: áo mưa)
- sào ........... Sào ruộng, yến sào, cây sào
- xào............... Xào nấu, xào bài, xào xạc
- gắn ............... xe gắn máy, gắn đồ, hàn gắn
- gắng ............. cố gắng, gắng sức,
- khăn .......... khăn tay, khăn choàng, khăn mùi soa
- khăng ..........khăng khít, khăng khăng,
- xét ............xét nét, xem xét, xét lại
- sét ............. đất sét, sấm sét, sét đánh
- nặn ............ nhào nặn, nặn tượng, bóp nặn
- nặng ............ nặng chình chịch, dấu nặng, khiêng nặng
- sinh.............. sinh kế, sinh nhai, sơ sinh
- xinh ............ xinh đẹp, xinh xinh, xinh xắn

Đệch, có khi mình thi lớp 3 k dc 10 điểm X_X

†Nhất Chi Mai†
30-08-2011, 21:08
Tên sói bị em nhờ làm bài tập hộ nhưng khôn làm được nên bày đặt lập topic lừa mọi người làm giúp đây [-(
PS: 3 từ cũng khó đấy :(

Aether
30-08-2011, 21:23
Lấy cuốn từ điển tiếng Việt ra mà tra. Đừng nghĩ người Việt thì không cần dùng từ điển tiếng Việt. Mỗi khi tôi viết văn hay soạn thảo một bài đọc nào đấy đều phải dùng đến nó cả. Nước ngoài họ cũng như ta thôi, Tàu, Hàn, Nhật, thậm chí cả Anh, Mẽo đều phải dùng từ điển tiếng mẹ đẻ.

Việc không nghĩ ra từ cũng chẳng có vấn đề gì cả. Còn bài tập trên là dạng bài tập tìm hiểu, tạo điều kiện cho học sinh tìm tòi mở rộng vốn từ nên việc dùng từ điển là việc nên làm.

Hoa Man Thien
30-08-2011, 21:28
Phát hiện cuốn Vở bài tập Tiếng Việt 3 có vài thứ khá hay cho ae, cụ thể dư lày

Với mỗi từ sau hãy tìm 3 từ ghép có mặt nó trong đó (vd áo: áo mưa)
- Yến sào, cây sào, sào phơi.
- Xào nấu, món xào , xào bài...
- Gắn bó, gắn kết, hàn gắn.
- Cố gắng, gắng sức, gắng gượng.
- Khăn gói, khăn áo, khó khăn.
- khăng khít, cây khăng, đánh khăng.
- Xét nét, tra xét, xét duyệt.
- Sấm sét, đất sét, tia sét.
- Nhào nặn, bóp nặn, tô nặn.
- Nặng nề, gánh nặng , sức nặng.
- Sinh vật, sinh sản, học sinh.
- Xinh đẹp, xinh tươi, xinh ngoan.

Có gì khó hay bất thường sao/... :-??

Thiên Lang
30-08-2011, 21:33
Khó hay bất thường là mỗi cái phải tìm đủ 3 từ, cứ thử tìm đi
Và nên nhớ đây là lớp 3, bài này chấm điểm mỗi ngày ;))

Hoa Man Thien
30-08-2011, 21:43
Khó hay bất thường là mỗi cái phải tìm đủ 3 từ, cứ thử tìm đi
Và nên nhớ đây là lớp 3, bài này chấm điểm mỗi ngày ;))

Anh làm đủ 3 từ rồi đấy, có 3 từ khó tìm thôi, còn lại hoàn toàn ko quá khó với học sinh lớp 3... :P

truong_minh553
30-08-2011, 21:48
Khó gì. Dễ mà =.=
Làm biếng gõ.
Thôi anh cho các bé 10d tròn nhé. Các bé về ngủ đi nè. Thức lâu thành panda mất :))
Bé Sói ko làm đc bài tập nên vờ thế đới, vote ban :">

Hoa Man Thien
30-08-2011, 21:49
Đệch, có khi mình thi lớp 3 k dc 10 điểm X_X

- xào............... Xào nấu, xào bài, xào xạc
- khăng ..........khăng khít, khăng khăng,
- xinh ............ xinh đẹp, xinh xinh, xinh xắn

Xạc, xắn ko có nghĩa. Xào xạc, khăng khăng, xinh xinh và xinh xắn là từ láy chứ ko phải từ ghép nạ, bé Lightpearl đổi từ mới héng... http://www.tangthuvien.com/forum/images/smilies/img/bye.gif

AntiVichoco
30-08-2011, 22:13
xinh vãi ......,xinh như minh tinh =))

Thiên Lang
30-08-2011, 22:21
- xào............... Xào nấu, xào bài, xào xạc
- khăng ..........khăng khít, khăng khăng,
- xinh ............ xinh đẹp, xinh xinh, xinh xắn

Xạc, xắn ko có nghĩa. Xào xạc, khăng khăng, xinh xinh và xinh xắn là từ láy chứ ko phải từ ghép nạ, bé Lightpearl đổi từ mới héng... http://www.tangthuvien.com/forum/images/smilies/img/bye.gif

Từ khăng có 2 từ thế ;))
xào bài thì nói làm gì :))

Hoa Man Thien
30-08-2011, 22:22
Từ khăng có 2 từ thế ;))
xào bài thì nói làm gì :))


Với mỗi từ sau hãy tìm 3 từ ghép có mặt nó trong đó (vd áo: áo mưa)
- Yến sào, cây sào, sào phơi.
- Xào nấu, món xào , xào bài...
- Gắn bó, gắn kết, hàn gắn.
- Cố gắng, gắng sức, gắng gượng.
- Khăn gói, khăn áo, khó khăn.
- khăng khít, cây khăng, đánh khăng. ( khăng là một loại trò chơi dân gian)
- Xét nét, tra xét, xét duyệt.
- Sấm sét, đất sét, tia sét.
- Nhào nặn, bóp nặn, tô nặn.
- Nặng nề, gánh nặng , sức nặng.
- Sinh vật, sinh sản, học sinh.
- Xinh đẹp, xinh tươi, xinh ngoan.

Bài anh làm đây cơ mà...

Thiên Lang
30-08-2011, 22:24
Với mỗi từ sau hãy tìm 3 từ ghép có mặt nó trong đó (vd áo: áo mưa)
- Yến sào, cây sào, sào phơi.
- Xào nấu, món xào , xào bài...
- Gắn bó, gắn kết, hàn gắn.
- Cố gắng, gắng sức, gắng gượng.
- Khăn gói, khăn áo, khó khăn.
- khăng khít, cây khăng, đánh khăng. ( khăng là một loại trò chơi dân gian)
- Xét nét, tra xét, xét duyệt.
- Sấm sét, đất sét, tia sét.
- Nhào nặn, bóp nặn, tô nặn.
- Nặng nề, gánh nặng , sức nặng.
- Sinh vật, sinh sản, học sinh.
- Xinh đẹp, xinh tươi, xinh ngoan.

Bài anh làm đây cơ mà...

Đánh khăng
3 cái xét là học sinh lớp 3 làm gì biết ;))

Hoa Man Thien
30-08-2011, 22:27
Đánh khăng
3 cái xét là học sinh lớp 3 làm gì biết ;))

Xét xử, xét hỏi, khám xét... 3 từ ghép này chắc chắn lớp 3 có biết ( dù là chưa chắc đủ cả 3)

Hà hà, cược ko/..

xautraionline
30-08-2011, 23:36
bài dạng này khó bỏ sừ ... giờ nhìn vào còn chả hiểu được ... nữa là hồi nhỏ ...

hồi cấp 1 học lệt đẹt mãi mới hết cấp ... phải chuyển trường hồi lớp 2 vì học mãi ko viết được hic hic ... đọc ko được ... mãi về sau lớp 4 mới đọc viết được ... hic

Lightpearl
31-08-2011, 09:30
Đệch, đòi "từ ghép" mới vãi :( Thôi, làm học bạ mới xin đi học lại lớp 10 :((

wiwi
31-08-2011, 11:26
Với mỗi từ sau hãy tìm 3 từ ghép có mặt nó trong đó (vd áo: áo mưa)
- Yến sào, cây sào, sào phơi.
- Xào nấu, món xào , xào bài...
- Gắn bó, gắn kết, hàn gắn.
- Cố gắng, gắng sức, gắng gượng.
- Khăn gói, khăn áo, khó khăn.
- khăng khít, cây khăng, đánh khăng. ( khăng là một loại trò chơi dân gian)
- Xét nét, tra xét, xét duyệt.
- Sấm sét, đất sét, tia sét.
- Nhào nặn, bóp nặn, tô nặn.
- Nặng nề, gánh nặng , sức nặng.
- Sinh vật, sinh sản, học sinh.
- Xinh đẹp, xinh tươi, xinh ngoan.

Bài anh làm đây cơ mà...
Từ "sào phơi", "món xào" là tổ hợp từ chứ không phải từ ghép.
"Xinh ngoan" thì có vẻ giống từ ghép, nhưng không có trong từ điển. Chắc cái này mới chế ra gần đây nên từ điển chưa ghi nhận.

Cần phân biệt giữa "từ ghép" và "tổ hợp từ". Từ ghép trong tiếng Việt chỉ có 2 loại: Đẳng lập và Chính phụ, đặc điểm là 2 tiếng trong từ đều phải có nghĩa và có liên hệ mật thiết về ý nghĩa. Những từ như "con chó", "con mèo", "cái hồ", v.v. không phải là từ ghép bởi tuy nó có quan hệ về ngữ nghĩa nhưng rất lỏng lẻo, bằng chứng là có thể ghép thêm từ đơn vào "con chó con" chẳng hạn.

Vấn đề này rất phức tạp chứ không đùa:

2. Về việc phân biệt từ ghép với cụm từ

Việc phân biệt từ ghép với cụm từ khó khăn và nan giải hơn nhiều hơn so với việc phân biệt từ đơn - từ ghép. Bởi vậy, từ trước tới nay, giới Việt ngữ học đã phải đề xuất khá nhiều tiêu chuẩn dùng làm chỗ dựa dể phân biệt từ ghép với cụm từ. Cụ thể :



2.1 Dựa vào đặc điểm nghĩa và mối quan hệ giữa các yếu tố



a. Về mối quan hệ giữa các yếu tố

- Một tổ hợp hình vị được coi là từ thì sự kết hợp giữa các hình vị đó phải rất chặt chẽ. Việc tách các hình vị ra sẽ ảnh hưởng đến ngữ nghĩa của từ.

Ví dụ: học sinh, công nhân, nông dân, dưa chuột, dưa gang, ăn mặc... là các từ ghép, không thể “tách” hoặc “chen” thêm yếu tố nào vào giữa các từ đó.

- Trong cụm từ: quan hệ các từ là quan hệ “lỏng” nên có thể “tách”, “chen” hay “mở rộng” cụm từ.

Ví dụ: học giỏi à học rất giỏi

cầm bút à cầm cái bút



b. Về mặt ngữ nghĩa

- Đối với từ ghép: nghĩa của từ ghép là nghĩa tổng thể, tức là toàn bộ các hình vị trong từ hợp lại mới biểu thị một sự vật, hành động hay tính chất và nghĩa của từng hình vị trong từ ghép về cơ bản không giữ nguyên nghĩa gốc của nó.

Ví dụ:

“ăn nói” là từ ghép (động từ) để chỉ một hoạt dộng nói năng chung, chứ không phải một tổ hợp từ gồm hai từ gộp lại : “ăn” + “nói”

“đầu ruồi” là từ ghép (danh từ) để chỉ đầu ngắm - một bộ phận của khẩu súng, chứ không phải là “đầu của con ruồi”.

- Đối với cụm từ: nghĩa của cụm từ tự do là nghĩa tổng cộng, tức là nghĩa của toàn cụm từ bằng nghĩa của từng từ cộng lại và nghĩa của từng từ về cơ bản vẫn giữ nguyên nghĩa gốc của chúng.

Ví dụ:

Học giỏi = học (hoạt động) + giỏi (tính chất)

Cầm bút = cầm (hoạt động) + bút (sự vật)



2.2 Dựa vào khả năng cải biến của tổ hợp



Để phân biệt từ ghép với cụm từ, các nhà nghiên cứu còn đưa ra các thủ pháp cải biến, tức đem tổ hợp đang xét cải biến đi để xem các thành tố trong tổ hợp hoạt động với tư cách là thành tố của một chỉnh thể hay với tư cách là những đơn vị riêng lẻ, lâm thời hợp lại. Các thủ pháp cải biến thường hay được nhắc tới là: mở rộng , chen, thay thế, rút gọn.



a. Thủ pháp "mở rộng"

Nếu cho A, B là hai dơn vị đang xét thì khi thêm một yếu tố x vào tổ hợp AB:

- Nếu x có quan hệ với cả tổ hợp (A+B) thì tổ hợp đó là từ ghép.

Ví dụ: học sinh những học sinh



học sinh giỏi

những và giỏi có quan hệ với toàn tổ hợp học sinh, vậy học sinh là từ ghép.

- Nếu x quan hệ với từng yếu tố A, B một cách riêng lẻ thì A, B là tổ hợp tự do.



Ví dụ: cầm đũa, đang cầm đũa, đang cầm đũa ngà

đang chỉ có quan hệ trực tiếp với cầm, ngà chỉ quan hệ trực tiếp với “đũa” , vậy “cầm đũa” là tổ hợp từ tự do.



b. Thủ pháp "chen"

Nếu x chen vào giữa tổ hợp thep sơ đồ AxB thì AB là tổ hợp tự do. Nếu không chen được thì AB là từ ghép. So sánh:

(1) Trong câu “Cho tôi đổi chiếc áo ngắn này lấy chiếc áo dài kia” thì “áo dài” cụm từ vì có thể chen từ “hơi” hay “rất” vào giữa thành “áo hơi dài” hay “áo rất dài”.

(2) Trong câu “Cô thiếu nữ Việt Nam duyên dáng trong bộ áo dài truyền thống” thì áo dài là từ ghép vì không thể chen rất hay hơi vào giữa thành “áo rất dài” hoặc “áo hơi dài”.



c. Thủ pháp thay thế

Dùng các yếu tố tương tự thay thế cho AB. Nếu có thể thay thế dễ dàng AB thành A’B, AB’, A’B’,... thì AB là cụm từ, nếu trái lại thì AB là từ ghép.

(1) Trong câu “Mèo tha chân vịt” thì “chân vịt” là cụm từ tự do, vì có thể thay thế tổ hợp đó thành chân gà, đầu gà, đầu vịt...

(2) Trong câu “Máy khâu bị hỏng chân vịt” thì “chân vịt” là từ ghép không thể thay thế bằng một tổ hợp khác tương đương.



d. Thủ pháp rút gọn

Một trong hai yếu tố A hoặc B nếu rút gọn được thì AB là cụm từ; nếu không rút gọn thì AB là từ ghép. So sánh:

(1) ăn cơm à ăn gì ? Có thể trả lời rút gọn : cơm ! ( +) à ăn cơm : cụm từ tự do

(2) nhà máy à nhà gì ? Không thể trả lời rút gọn : máy ! (-) à nhà máy: từ ghép



Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu lại nhận thấy rằng các thủ pháp trên chỉ giúp phân biệt được từ ghép với cụm từ trong một số hoản cảnh nhất định và chỉ phân biệt được khi tự nó đã chặt chẽ, rõ ràng: chúng là các từ ghép điển hình và các cụm từ điển hình. Trên thực tế, các thủ pháp trên đã tỏ ra bất lực trong khá nhiều trường hợp.

Ví dụ : nhà trẻ là từ ghép nhưng lại có thể chen một yếu tố thành “nhà giữ trẻ”. Ngược lại như trường hợp “bụng cóc”, “mắt bồ câu” dù không xen kẽ được nhưng mấy ai đã mạnh dạn cho chúng là từ ghép.



3. Cần phải khoanh vùng các từ ghép để phân biệt các trường hợp điển hình với các trường hợp đáng ngờ dễ lẫn với cụm từ.



3.1. Trường hợp từ ghép điển hình, bao gồm:



- Từ ghép có ít nhất một hình vị không độc lập, như: xanh lè, xanh ngắt, đỏ rực, đỏ ối, tròn xoe, thẳng tuột, thẳng tắp, cứng đơ...



- Từ ghép biệt lập: tai hồng, chân vịt (tàu thuỷ), đầu ruồi (súng), (quạt) tai voi, (giày) mõm nhái, (cổ) lá sen...



- Từ ghép hợp nghĩa phi cá thể : chợ búa, đường sá, thuyền bè, bếp núc, ăn nói, cơm nước, viết lách...



- Từ ghép phân nghĩa hai chiều điển hình: đảng viên, đoàn viên, đội viên, đảng uỷ, đảng bộ, đảng tịch...



- Từ ghép phân nghĩa một chiều do các hình vị có nghĩa tự do tạo nên nhưng chặt chẽ về hình thức như: máy bay, nhà máy, xe đạp, xe hơi, xe hoả, máy tiện, máy bơm, máy nổ...

Các trường hợp trên khó có thể nhầm lẫn với cụm từ nên có thể gạt ra ngoài vùng trong điểm rắc rối.



3.2. Trường hợp từ ghép "đáng ngờ" dễ lẫn với cụm từ bao gồm:



a. Trường hợp 1: cái nhà, cây tre, con gà, quyển sách, người thợ, vị chủ tịch, đứa em...

Đây là trường hợp có cấu tạo : loại từ + danh từ biệt loại. Loại này có khuôn ngữ pháp cố định (như từ ghép), nhưng lại có bộ phận biến đổi được về từ vựng (như cụm từ): cái nhà, cái chổi, cái áo, cái quạt, con gà, con vịt, con chó, con mèo... Nhưng về mặt ý nghĩa thì cả phức thể bao gồm: loại từ + danh từ mới biểu thị một sự vật (như từ). Trường hợp 1 vừa mang đặc điểm của cụm từ lại vừa mang đặc điểm của từ ghép nên có tác giả cho là cụm từ (hay ngữ), có tác giả xếp vào từ ghép.



b. Trường hợp 2: niềm vui, nỗi buồn, sự hi sinh, việc nghiên cứu, vẻ đẹp, niềm tin...

Đây là trường hợp có cấu tạo: loại từ + vị từ

Trường hợp 2 này có đặc điểm giống trường hợp 1, nên có tác giả xếp vào loại cụm từ, có tác giả xếp vào loại từ ghép.



c. Trường hợp 3: hoa hồng, lò cao, chim non, sổ vàng...

Các phức thể trên có cấu tạo: danh từ + tính từ. Những phức thể loại này thường gồm hai hình vị tự do, có kết cấu không thật chặt chẽ, có thể tách, chen hay mở rộng, tuỳ thuộc vào ngữ cảnh cụ thể. Vì vậy, xếp trường hợp 3 vào loại từ ghép hay cụm từ cũng phải căn cứ vào ngữ cảnh mà chúng xuất hiện.



Ví dụ 1: Cô hái cho cháu cái hoa hồng vàng ấy.

Trong ngữ cảnh trên, hoa hồng được dùng với ý nghĩa chỉ tên một loài hoa, như hoa cúc, hoa lan nên nó là từ ghép.

Ví dụ 2 : Cô hái cho cháu cái bông hoa to ấy.

Cô hái cho cháu cái hoa tim tím ấy.

Cô hái cho cháu cái hoa hồng ấy.

Trường hợp này có thể tìm thấy sự tương đương của hồng với to và tim tím. Do đó, hoa hồng ở đây là cụm từ.



d. Trường hợp 4 : nhà đạo diễn, nhà biên kịch, nhà đạo diễn điện ảnh, nhà soạn kịch cổ điển, nhà nghiên cứu văn học dân gian, tính tích cực, tính hiện thực, chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa hiện thực, khoa học tự nhiên...

Nếu so sánh các phức thể nhiều âm tiết ở trên với các phức thể song tiết kiểu như : nhà văn, nhà báo, nhà buôn, nhà sư... thì thấy chúng tuy được xây dựng theo cùng một mẫu, nhưng khác nhau về số lượng âm tiết. Các hình thức hai âm tiết có tính chặt chẽ hơn, có giá trị từ ghép rõ hơn. Với các hình thức ba, bốn âm tiết, nhiều người nghiên cứu cho rằng chúng gần với cụm từ nhiều hơn và có thể xem chúng là những ngữ cố định. Nhưng một số nhà nghiên cứu khác khẳng định rằng mặc dầu có những đặc điểm của cụm từ (số lượng âm tiết dài, kết cấu giống cụm từ), nhưng điều quan trọng là từ - ngữ nghĩa của chúng là từ - ngữ nghĩa của từ ghép như các từ ghép khác cùng kiểu (kiểu phân nghĩa một chiều như : nhà văn, nhà báo, nhà buôn...) cho nên tư cách từ ghép của chúng là rõ ràng.



e. Trường hợp 5: mắt lươn, mắt phượng, mắt ốc nhồi, mũi sư tử, mũi lõ, mũi diều hâu, cười ruồi, cười khẩy, cười nhạt, mát tay, vui tính...

Đây là trường hợp phức thể gồm hai đơn vị, kết cấu khá chặt chẽ, rất giống từ ghép phân nghĩa. Nhưng các đơn vị trung tâm : mắt, mũi, cười, mát, vui... về cơ bản vẫn giữ nguyên ý nghĩa khái quát của nó (giống cụm từ). Do đó có thể coi loại này là những đơn vị trung gian giữa từ ghép với ngữ cố định.



Ngoài 5 trường hợp “đáng ngờ” trên, tiếng Việt còn nhiều trường hợp khác rất khó xác định tư cách từ ghép hay cụm từ. Theo GS Đỗ Hữu Châu thì “ở vùng này có sự “thẩm thấu” những đặc tính cụm từ sang từ và ngược lại. Bản chất của những hiện tượng “đáng ngờ”, trung gian là như thế” (Đỗ Hữu Châu, Các bình diện của từ và từ Tiếng Việt, NXB KHXH, 1986, trang 226). Giáo viên cần phân biệt các từ ghép điển hình với các trường hợp trung gian. Khi giảng dạy, nên chọn các trường hợp điển hình. Với các trường hợp trung gian, cần hiểu được hướng phân loại và bản chất của chúng để không cảm thấy lúng túng, đặc biệt không đánh đồng trường hợp trung gian với trường hợp cụm từ đích thực như : học giỏi, cầm bút, nhà trên, nhà ngang, nóc bếp...
http://nguvan.hnue.edu.vn/?comp=content&id=188&Giap-hoc-sinh,-giao-vien-pho-thong-phan-biet-tu-don,-tu-ghep,-cum-tu--trong-tieng-Viet.html

katorea ran
31-08-2011, 12:57
- sào yến, sào huyệt, sào ti.
- xào xạc, xì xào, xào nấu.
- gắn bó, gắn hàn, gắn dính.
- gắng gượng, gắng công, cố gắng
- khăn lụa, khăn khó, khăn mặt.
- khăng khăng, khăng khít, khăng khéo
- xét hỏi, xét nét, xét án.
- sét đánh, rỉ sét, sấm sét.
- nặn tượng, nặn óc, nặn máu.
- nặng lòng, nặng nề, nặng nhọc.
- sinh đẻ, diêm sinh, sinh nữ (cháu ngoại)
- xinh xinh, xinh xắn, xinh đẹp.

wiwi
31-08-2011, 13:07
Bạn Ran chú ý là từ láy không phải từ ghép. Thế nên "xinh xinh", "xì xào", v.v. đều không ghi điểm. :-@

Panzerklein
31-08-2011, 13:17
Giờ anh em đắng lại lớp 3 học ghép từ đi =)).

†Nhất Chi Mai†
31-08-2011, 13:18
Đùa! Kê vương mở lớp bình dân học vụ bổ túc kiến thức tiểu học cho thần dân gấp thôi :(

Hoa Man Thien
31-08-2011, 18:19
Từ "sào phơi", "món xào" là tổ hợp từ chứ không phải từ ghép.
"Xinh ngoan" thì có vẻ giống từ ghép, nhưng không có trong từ điển. Chắc cái này mới chế ra gần đây nên từ điển chưa ghi nhận.

Cần phân biệt giữa "từ ghép" và "tổ hợp từ". Từ ghép trong tiếng Việt chỉ có 2 loại: Đẳng lập và Chính phụ, đặc điểm là 2 tiếng trong từ đều phải có nghĩa và có liên hệ mật thiết về ý nghĩa. Những từ như "con chó", "con mèo", "cái hồ", v.v. không phải là từ ghép bởi tuy nó có quan hệ về ngữ nghĩa nhưng rất lỏng lẻo, bằng chứng là có thể ghép thêm từ đơn vào "con chó con" chẳng hạn.

Vấn đề này rất phức tạp chứ không đùa:

2. Về việc phân biệt từ ghép với cụm từ

Việc phân biệt từ ghép với cụm từ khó khăn và nan giải hơn nhiều hơn so với việc phân biệt từ đơn - từ ghép. Bởi vậy, từ trước tới nay, giới Việt ngữ học đã phải đề xuất khá nhiều tiêu chuẩn dùng làm chỗ dựa dể phân biệt từ ghép với cụm từ. Cụ thể :



2.1 Dựa vào đặc điểm nghĩa và mối quan hệ giữa các yếu tố



a. Về mối quan hệ giữa các yếu tố

- Một tổ hợp hình vị được coi là từ thì sự kết hợp giữa các hình vị đó phải rất chặt chẽ. Việc tách các hình vị ra sẽ ảnh hưởng đến ngữ nghĩa của từ.

Ví dụ: học sinh, công nhân, nông dân, dưa chuột, dưa gang, ăn mặc... là các từ ghép, không thể “tách” hoặc “chen” thêm yếu tố nào vào giữa các từ đó.

- Trong cụm từ: quan hệ các từ là quan hệ “lỏng” nên có thể “tách”, “chen” hay “mở rộng” cụm từ.

Ví dụ: học giỏi à học rất giỏi

cầm bút à cầm cái bút



b. Về mặt ngữ nghĩa

- Đối với từ ghép: nghĩa của từ ghép là nghĩa tổng thể, tức là toàn bộ các hình vị trong từ hợp lại mới biểu thị một sự vật, hành động hay tính chất và nghĩa của từng hình vị trong từ ghép về cơ bản không giữ nguyên nghĩa gốc của nó.

Ví dụ:

“ăn nói” là từ ghép (động từ) để chỉ một hoạt dộng nói năng chung, chứ không phải một tổ hợp từ gồm hai từ gộp lại : “ăn” + “nói”

“đầu ruồi” là từ ghép (danh từ) để chỉ đầu ngắm - một bộ phận của khẩu súng, chứ không phải là “đầu của con ruồi”.

- Đối với cụm từ: nghĩa của cụm từ tự do là nghĩa tổng cộng, tức là nghĩa của toàn cụm từ bằng nghĩa của từng từ cộng lại và nghĩa của từng từ về cơ bản vẫn giữ nguyên nghĩa gốc của chúng.

Ví dụ:

Học giỏi = học (hoạt động) + giỏi (tính chất)

Cầm bút = cầm (hoạt động) + bút (sự vật)



2.2 Dựa vào khả năng cải biến của tổ hợp



Để phân biệt từ ghép với cụm từ, các nhà nghiên cứu còn đưa ra các thủ pháp cải biến, tức đem tổ hợp đang xét cải biến đi để xem các thành tố trong tổ hợp hoạt động với tư cách là thành tố của một chỉnh thể hay với tư cách là những đơn vị riêng lẻ, lâm thời hợp lại. Các thủ pháp cải biến thường hay được nhắc tới là: mở rộng , chen, thay thế, rút gọn.



a. Thủ pháp "mở rộng"

Nếu cho A, B là hai dơn vị đang xét thì khi thêm một yếu tố x vào tổ hợp AB:

- Nếu x có quan hệ với cả tổ hợp (A+B) thì tổ hợp đó là từ ghép.

Ví dụ: học sinh những học sinh



học sinh giỏi

những và giỏi có quan hệ với toàn tổ hợp học sinh, vậy học sinh là từ ghép.

- Nếu x quan hệ với từng yếu tố A, B một cách riêng lẻ thì A, B là tổ hợp tự do.



Ví dụ: cầm đũa, đang cầm đũa, đang cầm đũa ngà

đang chỉ có quan hệ trực tiếp với cầm, ngà chỉ quan hệ trực tiếp với “đũa” , vậy “cầm đũa” là tổ hợp từ tự do.



b. Thủ pháp "chen"

Nếu x chen vào giữa tổ hợp thep sơ đồ AxB thì AB là tổ hợp tự do. Nếu không chen được thì AB là từ ghép. So sánh:

(1) Trong câu “Cho tôi đổi chiếc áo ngắn này lấy chiếc áo dài kia” thì “áo dài” cụm từ vì có thể chen từ “hơi” hay “rất” vào giữa thành “áo hơi dài” hay “áo rất dài”.

(2) Trong câu “Cô thiếu nữ Việt Nam duyên dáng trong bộ áo dài truyền thống” thì áo dài là từ ghép vì không thể chen rất hay hơi vào giữa thành “áo rất dài” hoặc “áo hơi dài”.



c. Thủ pháp thay thế

Dùng các yếu tố tương tự thay thế cho AB. Nếu có thể thay thế dễ dàng AB thành A’B, AB’, A’B’,... thì AB là cụm từ, nếu trái lại thì AB là từ ghép.

(1) Trong câu “Mèo tha chân vịt” thì “chân vịt” là cụm từ tự do, vì có thể thay thế tổ hợp đó thành chân gà, đầu gà, đầu vịt...

(2) Trong câu “Máy khâu bị hỏng chân vịt” thì “chân vịt” là từ ghép không thể thay thế bằng một tổ hợp khác tương đương.



d. Thủ pháp rút gọn

Một trong hai yếu tố A hoặc B nếu rút gọn được thì AB là cụm từ; nếu không rút gọn thì AB là từ ghép. So sánh:

(1) ăn cơm à ăn gì ? Có thể trả lời rút gọn : cơm ! ( +) à ăn cơm : cụm từ tự do

(2) nhà máy à nhà gì ? Không thể trả lời rút gọn : máy ! (-) à nhà máy: từ ghép



Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu lại nhận thấy rằng các thủ pháp trên chỉ giúp phân biệt được từ ghép với cụm từ trong một số hoản cảnh nhất định và chỉ phân biệt được khi tự nó đã chặt chẽ, rõ ràng: chúng là các từ ghép điển hình và các cụm từ điển hình. Trên thực tế, các thủ pháp trên đã tỏ ra bất lực trong khá nhiều trường hợp.

Ví dụ : nhà trẻ là từ ghép nhưng lại có thể chen một yếu tố thành “nhà giữ trẻ”. Ngược lại như trường hợp “bụng cóc”, “mắt bồ câu” dù không xen kẽ được nhưng mấy ai đã mạnh dạn cho chúng là từ ghép.



3. Cần phải khoanh vùng các từ ghép để phân biệt các trường hợp điển hình với các trường hợp đáng ngờ dễ lẫn với cụm từ.



3.1. Trường hợp từ ghép điển hình, bao gồm:



- Từ ghép có ít nhất một hình vị không độc lập, như: xanh lè, xanh ngắt, đỏ rực, đỏ ối, tròn xoe, thẳng tuột, thẳng tắp, cứng đơ...



- Từ ghép biệt lập: tai hồng, chân vịt (tàu thuỷ), đầu ruồi (súng), (quạt) tai voi, (giày) mõm nhái, (cổ) lá sen...



- Từ ghép hợp nghĩa phi cá thể : chợ búa, đường sá, thuyền bè, bếp núc, ăn nói, cơm nước, viết lách...



- Từ ghép phân nghĩa hai chiều điển hình: đảng viên, đoàn viên, đội viên, đảng uỷ, đảng bộ, đảng tịch...



- Từ ghép phân nghĩa một chiều do các hình vị có nghĩa tự do tạo nên nhưng chặt chẽ về hình thức như: máy bay, nhà máy, xe đạp, xe hơi, xe hoả, máy tiện, máy bơm, máy nổ...

Các trường hợp trên khó có thể nhầm lẫn với cụm từ nên có thể gạt ra ngoài vùng trong điểm rắc rối.



3.2. Trường hợp từ ghép "đáng ngờ" dễ lẫn với cụm từ bao gồm:



a. Trường hợp 1: cái nhà, cây tre, con gà, quyển sách, người thợ, vị chủ tịch, đứa em...

Đây là trường hợp có cấu tạo : loại từ + danh từ biệt loại. Loại này có khuôn ngữ pháp cố định (như từ ghép), nhưng lại có bộ phận biến đổi được về từ vựng (như cụm từ): cái nhà, cái chổi, cái áo, cái quạt, con gà, con vịt, con chó, con mèo... Nhưng về mặt ý nghĩa thì cả phức thể bao gồm: loại từ + danh từ mới biểu thị một sự vật (như từ). Trường hợp 1 vừa mang đặc điểm của cụm từ lại vừa mang đặc điểm của từ ghép nên có tác giả cho là cụm từ (hay ngữ), có tác giả xếp vào từ ghép.



b. Trường hợp 2: niềm vui, nỗi buồn, sự hi sinh, việc nghiên cứu, vẻ đẹp, niềm tin...

Đây là trường hợp có cấu tạo: loại từ + vị từ

Trường hợp 2 này có đặc điểm giống trường hợp 1, nên có tác giả xếp vào loại cụm từ, có tác giả xếp vào loại từ ghép.



c. Trường hợp 3: hoa hồng, lò cao, chim non, sổ vàng...

Các phức thể trên có cấu tạo: danh từ + tính từ. Những phức thể loại này thường gồm hai hình vị tự do, có kết cấu không thật chặt chẽ, có thể tách, chen hay mở rộng, tuỳ thuộc vào ngữ cảnh cụ thể. Vì vậy, xếp trường hợp 3 vào loại từ ghép hay cụm từ cũng phải căn cứ vào ngữ cảnh mà chúng xuất hiện.



Ví dụ 1: Cô hái cho cháu cái hoa hồng vàng ấy.

Trong ngữ cảnh trên, hoa hồng được dùng với ý nghĩa chỉ tên một loài hoa, như hoa cúc, hoa lan nên nó là từ ghép.

Ví dụ 2 : Cô hái cho cháu cái bông hoa to ấy.

Cô hái cho cháu cái hoa tim tím ấy.

Cô hái cho cháu cái hoa hồng ấy.

Trường hợp này có thể tìm thấy sự tương đương của hồng với to và tim tím. Do đó, hoa hồng ở đây là cụm từ.



d. Trường hợp 4 : nhà đạo diễn, nhà biên kịch, nhà đạo diễn điện ảnh, nhà soạn kịch cổ điển, nhà nghiên cứu văn học dân gian, tính tích cực, tính hiện thực, chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa hiện thực, khoa học tự nhiên...

Nếu so sánh các phức thể nhiều âm tiết ở trên với các phức thể song tiết kiểu như : nhà văn, nhà báo, nhà buôn, nhà sư... thì thấy chúng tuy được xây dựng theo cùng một mẫu, nhưng khác nhau về số lượng âm tiết. Các hình thức hai âm tiết có tính chặt chẽ hơn, có giá trị từ ghép rõ hơn. Với các hình thức ba, bốn âm tiết, nhiều người nghiên cứu cho rằng chúng gần với cụm từ nhiều hơn và có thể xem chúng là những ngữ cố định. Nhưng một số nhà nghiên cứu khác khẳng định rằng mặc dầu có những đặc điểm của cụm từ (số lượng âm tiết dài, kết cấu giống cụm từ), nhưng điều quan trọng là từ - ngữ nghĩa của chúng là từ - ngữ nghĩa của từ ghép như các từ ghép khác cùng kiểu (kiểu phân nghĩa một chiều như : nhà văn, nhà báo, nhà buôn...) cho nên tư cách từ ghép của chúng là rõ ràng.



e. Trường hợp 5: mắt lươn, mắt phượng, mắt ốc nhồi, mũi sư tử, mũi lõ, mũi diều hâu, cười ruồi, cười khẩy, cười nhạt, mát tay, vui tính...

Đây là trường hợp phức thể gồm hai đơn vị, kết cấu khá chặt chẽ, rất giống từ ghép phân nghĩa. Nhưng các đơn vị trung tâm : mắt, mũi, cười, mát, vui... về cơ bản vẫn giữ nguyên ý nghĩa khái quát của nó (giống cụm từ). Do đó có thể coi loại này là những đơn vị trung gian giữa từ ghép với ngữ cố định.



Ngoài 5 trường hợp “đáng ngờ” trên, tiếng Việt còn nhiều trường hợp khác rất khó xác định tư cách từ ghép hay cụm từ. Theo GS Đỗ Hữu Châu thì “ở vùng này có sự “thẩm thấu” những đặc tính cụm từ sang từ và ngược lại. Bản chất của những hiện tượng “đáng ngờ”, trung gian là như thế” (Đỗ Hữu Châu, Các bình diện của từ và từ Tiếng Việt, NXB KHXH, 1986, trang 226). Giáo viên cần phân biệt các từ ghép điển hình với các trường hợp trung gian. Khi giảng dạy, nên chọn các trường hợp điển hình. Với các trường hợp trung gian, cần hiểu được hướng phân loại và bản chất của chúng để không cảm thấy lúng túng, đặc biệt không đánh đồng trường hợp trung gian với trường hợp cụm từ đích thực như : học giỏi, cầm bút, nhà trên, nhà ngang, nóc bếp...
http://nguvan.hnue.edu.vn/?comp=content&id=188&Giap-hoc-sinh,-giao-vien-pho-thong-phan-biet-tu-don,-tu-ghep,-cum-tu--trong-tieng-Viet.html

Dạ, bé biết ồi. Tại bí từ nên dùng đại mừ... TT.TT

wiwi
01-09-2011, 00:03
Thôi chúng ta cứ tự nhận ko bằng học sinh lớp 3 cho nhanh. Đỡ nhức đầu. Danh lợi như cát bụi ý mà. :-"