PDA

View Full Version : Cùng chia sẻ kinh nghiệm xài Máy vi tính!



pt1506
04-04-2008, 19:53
Pt1506 không biết nhiều về máy tính cho lắm. Nhưng thi thoảng cũng được tự khắc phục các sự cố theo kinh nghiệm đã tích lũy về từ trước ở trên mạng. Pt muốn lập topic này để mọi người trao đổi với nhau!

Khi chạy Windows XP, chúng ta có thể gặp một số lỗi về hệ thống. Trong trường hợp này, một số người trong chúng ta sẽ cài đặt lại Windows. Việc này rất mất thời gian vì phải cài đặt lại các phần cứng và ứng dụng. Để tiết kiệm thời gian, tôi có một số mẹo để khắc phục các lỗi về hệ thống như sau:

1. Lỗi NTOSKRNL. Nếu bị lỗi "NTOSKRNL not found" hãy làm theo các bước sau:
* Khởi động lại máy tính bằng CD cài đặt Windows XP.
* Tại tuỳ chọn R=Repair, nhấn phím R.
* Kế tiếp nhập vào số tương ứng với ổ đĩa chứa thư mục hệ thống Windows bạn muốn sửa chữa (ổ C là ổ số 1, ổ D là ổ số 2...). Thông thường thư mục Windows được cài đặt tại ổ đĩa C nên nhập số 1.
* Chuyển đến ổ đĩa CD, vào thư mục i386.
* Gõ lệnh: expand ntkrnlmp.ex_ C: Windowssystem32 toskrnl. exe
* Nếu Windows được cài đặt trong một thư mục hoặc ổ đĩa khác thì chỉ cần thay đổi phần C: Windows
* Lấy đĩa CD ra và gõ exit.

2. Lỗi hal.dll. Nếu bạn bị lỗi thiếu tập tin hal.dll, thông thường là do lỗi tập tin BOOT.INI trên thư mục gốc của ổ đĩa C: đã bị cấu hình sai. Để sửa lại bạn hãy làm như sau: Khởi động lại máy bằng CD Windows XP. Tại tuỳ chọn đầu tiên, chọn R=Repair. Kế tiếp nhập số tương ứng với ổ đĩa cài đặt hệ thống Windows mà bạn muốn sửa chữa. Thông thường là ổ C, nên chọn số 1. Nhập administrator password nếu có. Gõ lệnh:

bootcfg/list (để hiển thị nội dung tập tin BOOT.INI).
bootcfg/rebuild (để sửa chữa lại nó).
Sau khi máy sửa chữa xong, bạn gõ exit.

3. Lỗi "WINDOWSSYSTEM32CONFIG". Báo lỗi như sau: "Windows could not start because the following files Is missing or corrupt: WINDOWSSYSTEM32CONFIGSYSTEM (Hoặc WINDOWSSYSTEM32CONFIGSOFTWARE)". Các bước 1, 2 và 3 làm giống như trên. Sau đó nhập vào lệnh cdwindowssystem32config. Ơ thư mục này tuỳ thuộc lỗi xuất hiện mà gõ lệnh: ren software software.bad hoặc: ren system system.bad. Kế tiếp gõ lệnh: copywindows epair system hoặc copywindows epairsoftware. Cuối cùng lấy đĩa CD ra và gõ exit.

Lưu ý: Trước quá trình sửa phải chắc chắn bạn đã có CD-KEY đúng của bản Windows đang sử dụng và cả administrator password. Nếu không bạn sẽ phải cài lại từ đầu tất cả từ phần cứng đến phần mềm.



4. Tiết kiệm tài nguyên. Nếu xài Windows XP trong một thời gian dài, bạn có thể thấy sự hiện diện của file hiberfil.sys, chiếm gần hết bộ nhớ của máy và có dung lượng rất lớn (trên dưới 300MB). Đó là tập tin của chức năng "ngủ đông" (hibernate) của Windows XP. Khi sử dụng chức năng này, tất cả thông tin về hệ điều hành, các chương trình đang sử dụng, cách sắp đặt hệ thống... sẽ được lưu lại trong tập tin hiberfil.sys trước khi tắt máy.

Khi bạn mở máy ra, các thông tin đang ngủ đông trên sẽ được trả về trạng thái cũ. Nhưng chức năng này tiêu tốn rất nhiều tài nguyên của máy (bộ nhớ và dung lượng). Nếu bạn không bao giờ sử dụng chức năng hibernate, tức là sự tồn tại của tập tin hiberfil.sys trên máy là thừa, bạn nên xóa nó đi bằng cách: chọn Start/Run, sau đó gõ powercfg.cpl. Một cửa sổ sẽ hiện lên, bạn chọn phiếu Hibernate. Ở khung Hibernate, bạn đánh dấu bỏ chọn phần Enable Hibernation. Tập tin hiber fil.sys sẽ tự động bị xoá bỏ.

5. Khởi động nhanh Windows. Bạn chọn Start/Run, sau đó gõ vào khung Open dòng Regedit, click OK. Sau đó, bạn lần lượt mở khoá sau: HKEY_LOCAL_MACHINE\SOFTWARE\Microsoft\Dfrg\Boot OptimizeFunction. Bạn nhìn qua cửa sổ bên phải, double click vào biểu tượng Enable. Trong khung Value Data, bạn thay đổi giá trị Y thành giá trị N. Click OK và khởi động lại máy. Windows XP sẽ khởi động nhanh hơn từ 5-8 giây tùy theo cấu hình máy của bạn.

6. Làm rõ font chữ. Mở Control Panel và chọn Display. Chọn phiếu Appearence và nhấn vào Effects. Chọn chức năng Use The Following Method To Smooth Edges of Screen Fonts, sau đó chọn Clear Types. Bạn sẽ thấy các font chữ trên màn hình rất rõ. Nếu bạn sử dụng màn hình LCD, bạn sẽ nhận thấy dễ dàng hơn sự thay đổi: Các fonts chữ sắc sảo hơn, các nét chữ mịn hơn.

7. Đổi tên nhiều file cùng một lúc. Với các phiên bản Windows trước, việc đổi tên một số lượng lớn các tập tin trong Windows thực sự là một "ác mộng". Nhưng đối với WinXP, bạn có thể thực hiện việc này một cách dễ dàng. Đầu tiên, bạn mở đường dẫn đến các tập tin cần đổi tên. Sau đó chọn chúng. Một lưu ý nhỏ: Tập tin nào bạn muốn làm tập tin khởi đầu thì bạn phải chọn nó sau cùng. Nhấn F2 để đổi tên. Tên của tập tin mới có dạng <abc(số).xyz>. Ví dụ: baitap (0).txt. Các tập tin sau sẽ có cùng tên khởi đầu và phần mở rộng nhưng số của chúng sẽ lớn dần: baitap (1).txt, baitap (2).txt...



Mong có nhiều đóng góp thực sự của các bạn!

Covancapcao
05-04-2008, 03:13
Em thì hông có kinh nghiệm dùng máy tính gì cả, nhưng vì anh kêu ủng hộ nên em vào góp vài con cá từ hồ câu cá:D.

pt1506
05-04-2008, 20:19
Em thì hông có kinh nghiệm dùng máy tính gì cả, nhưng vì anh kêu ủng hộ nên em vào góp vài con cá từ hồ câu cá.

Chú định rán hay kho đây? Có mời anh không?

Đây là Ebook về thủ thuật WinXP. Mọi người đọc kỹ hướng dẫn sử dụng trước khi Voọc nhá!

THINHRAZOR21428
06-04-2008, 09:12
#:-s Chỉ tui vài phần mềm diệt virus đi . Nhớ chỉ crack nhá ,BKAV thì không có xiến mua đâu anh.
Theo em thì covancapcao bị chém cảnh cáo cũng hơi oan . Vì TOPIC này nên ở chổ khác không phải ở hội chợ.

pt1506
06-04-2008, 23:42
Chỉ tui vài phần mềm diệt virus đi . Nhớ chỉ crack nhá ,BKAV thì không có xiến mua đâu anh.


Từ trước tới nay anh không tin vô mấy cái diệt Virus cho lắm. Mà máy gia định cũng không thật sự cần tới chúng. Anh hay cài đầy đủ rồi Ghost hoặc dùng True Image để sao lưu hệ điều hành.
Chú ý: Không dùng phần mềm đóng băng ổ cứng Deepfree vì nó rất hại cho HDD.


Theo em thì covancapcao bị chém cảnh cáo cũng hơi oan . Vì TOPIC này nên ở chổ khác không phải ở hội chợ.


Anh được các Mod gợi ý xây dựng topic này ở hội chợ này mà!

THINHRAZOR21428
08-04-2008, 16:43
=)) Nghe anh nói anh không xài chương trình diệt virus là em biết anh Super Chicken rồi .TOPIC này nên giao cho 1 người nào rành hơn làm quản lí thôi .

pt1506
08-04-2008, 19:45
Nghe anh nói anh không xài chương trình diệt virus là em biết anh Super Chicken rồi .TOPIC này nên giao cho 1 người nào rành hơn làm quản lí thôi .


Thế hả? Mà anh lập topic này đâu phải để quản lý nó, mà là để cho mọi người trao đổi kinh nghiệm cơ mà! Nếu chú có nhiều kinh nghiệm thì xây cho cái topic này nhiều của đi!

pt1506
09-04-2008, 20:27
Không có luật nào cấm chúng ta phá máy tính. Tự phá hoại tài sản cá nhân là quyền của mỗi người. Nếu một ngày nào đó bạn muốn cho cái máy ngớ ngẩn đi đời thì đây chính là kim chỉ nam cho bạn.

1. Bật máy, hoặc ít ra là cầm nguyên phích điện trong lúc trời đang có mưa bão sấm chớp. Nếu bạn may mắn thì mùi khét lẹt sẽ phát ra từ thùng máy tính theo sau những ánh chớp, tiếng sấm trên trời.

Nếu ai đó vô tình rút phích điện máy tính ra thì coi như kế hoạch của bạn sẽ thất bại.

2. Đặt thùng máy (CPU) xuống sàn. Chuyện bí ẩn này dựa trên một môn học phức tạp thời phổ thông có tên gọi là Vật lý. Theo đó, bụi nặng hơn không khí nên sẽ bay là là mặt sàn và có nhiều cơ hội chui vào máy tính.

3. Cuộc sống chật chội khiến chúng ta phải tiết kiệm từng centimet vuông. Nếu đống sách, báo, tạp chí, tài liệu quá nhiều thì hãy dùng nóc màn hình và CPU để làm giá sách.

Hãy lèn chặt, che kín bất cứ lỗ hổng nào bạn nhìn thấy xung quanh bộ máy tính. Đó là những lỗ thoát hơi nóng ấy mà. Đảm bảo máy của bạn sẽ chết nóng vì không có chỗ thoát nhiệt.

Nếu may mắn, bạn còn có cơ hội gọi điện cho đội cứu hỏa 114. Đó là khi đống giấy bắt nhiệt từ trong máy tính và phát lửa.

4. Bình thường thì nước lọc không thể làm hỏng máy được, nhưng nếu cứ kệ cho nước đổ tùm lum vào CPU thì khả năng thành công của bạn sẽ rất cao. Các loại nước ngọt, trà, cà phê càng được khuyến khích dùng.

Đừng đổ vào bàn phím làm gì. Bàn phím rẻ hơn CPU nhiều.

5. Bạn có biết khái niệm tĩnh điện không? Hãy để tất cả những thứ có khả năng tích điện như nylon, len, dạ, tóc... gần máy tính. Những thứ tưởng chừng vô hại đó lại sẽ giúp bạn rất nhiều.

6. Máy hút bụi cũng hay lắm. Sáng kiến lôi cái thứ hiện đại ấy ra để hút bụi thùng máy cũng rất hiệu quả trong việc hút luôn cả những thứ bé li ti của máy tính.

Thiếu bất kể cái gì trong số những vật nhỏ ấy, máy tính của bạn càng dễ hỏng.

7. Làm rơi đi. Cái gì làm rơi cũng hỏng trừ quả bóng. Nếu là máy tính xách tay thì càng làm rơi sẽ càng nhanh hỏng.

Cứ quăng quật lung tung vào. Nếu rơi thấp không hỏng thì lôi lên cao mà thả xuống. Cứ để các thứ trong máy bung ra, đảm bảo máy sẽ chết.

8. Làm rơi, lại làm rơi tiếp. Nhưng không phải làm rơi máy mà là những thứ bạn đang ăn vào bên trong bàn phím, thùng máy ấy. Có người bảo cứ lật úp cái bàn phím xuống mà vỗ vỗ thì biết ngay chủ nhân ăn gì trong vòng hai năm trở lại đây.

Lần này bạn cứ làm quá luôn đi. Ta mở tê hê CPU ra mà thả thức ăn vào. Các con mạch sẽ đụng chạm nhau, bằng những cách bí ẩn nào đó.

9. Hãy tự sửa máy. Theo những gì tôi được biết thì nếu người dùng càng tìm cách tự sửa máy thì nguy cơ máy tính "đi đời" càng cao.

Thậm chí tỷ lệ hỏng hẳn còn cao hơn cả máy bị sắt đánh. Cứ bình tĩnh, tự tin, quyết thắng mà làm. Đảm bảo không ai cứu nổi cái máy tính ngốc nghếch của bạn nữa.

Còn nhiều cách nữa, chẳng hạn dùng tuốc-nơ-vit hay vật nhọn vặn tất cả các con vit bạn nhìn thấy, hay cứ vô tư cầm cái que chọc chọc vào cánh quạt... tất cả đều giúp chúng ta thực hiện cái quyền bất khả xâm phạm là Phá Máy Tính.

Có cái này đáng nhẽ tôi phải nói từ đầu, nếu thật sự thương xót cái máy tính của bạn, hãy làm ngược lại những gì tôi nói.


Các bạn chuyên tin thử nhé: trong win xp tạo 2 uses 1 là administrators, 1 là limited sau đó vào uses administrators bạn disable các uses administrators rồi log off ra vào bằng uses limited. các bạn thử làm xem chuyện gì sẽ xảy ra nhé.

pt1506
02-05-2008, 20:11
Nhờ có những thủ thuật nhỏ mà thao tác sử dụng máy tính của bạn sẽ nhanh hơn, hiệu quả hơn và chính xác hơn. Một số "mách nước" sau sẽ giúp bạn về điều này....


* Lên lịch chống phân mảnh cho đĩa:

Chạy Disk Defragmenter định kỳ là một phần của công việc bảo trì máy tính vì nó giúp tăng tốc quá trình truy xuất dữ liệu.

Nếu không thích cài thêm nhiều phần mềm, bạn có thể tận dụng những gì có sẵn của Windows để thực hiện tác vụ này. Mở Notepad rồi nhập defrag c: (chỉ định thêm ổ đĩa khác bằng cách nhập defrag d:, defrag e: trên một dòng). Sau đó, lưu file vừa tạo với tên defrag.bat. Lưu file xong, bạn vào menu Start > All programs > Accessories > System Tools > Scheduled Task. Tạo một task mới với tên Defrag Hard Drives, chỉ đường dẫn đến file defrag.bat vừa tạo, thiết lập thời gian mà bạn muốn chạy trình chống phân mảnh đĩa. Giờ thì bạn có thể yên tâm giao phó việc bảo trì cho Windows.


* Tạo thanh công cụ mới:

Khi việc phải mở đi mở lại My Computer hoặc My Documents trong lúc làm việc khiến bạn thấy mệt mỏi thì đã là lúc dùng đến thủ thuật nhỏ sau. Click chuột phải lên taskbar, chọn Toolbars > New Toolbar > chỉ đường dẫn đến My Computer hoặc My Documents tùy theo "nhu cầu sử dụng". Ngay sau khi click OK, nội dung của My Computer được đặt trên thanh taskbar sẽ giúp bạn dễ dàng truy xuất bất cứ lúc nào. Bạn sẽ không phải tốn thời gian click lên icon My Computer như thường lệ. Để bỏ chức năng này, bạn hãy bỏ chọn bằng cách xóa dấu tick trước chức năng này trong danh mục Toolbars.


* Điều chỉnh thứ tự file trong danh mục:

Việc điều chỉnh lại thứ tự của vài trăm hay vài ngàn file sẽ trở nên hết sức dễ dàng sau khi bạn tham khảo nguyên tắc đặt tên file dưới đây. Windows sắp xếp files dựa theo thứ tự bảng chữ cái nhưng các số lại có giá trị nhỏ hơn chữ cái. Do vậy, file 20.txt sẽ xuất hiện trước file a.txt. Nhờ vào nguyên tắc này, bạn có thể đưa nhóm file lên đầu hoặc cuối danh sách một cách dễ dàng. Ngoài ra, thêm vào tên file những ký tự đặc biệt sẽ giúp chuyển file lên vị trí đầu trong danh sách. Ví dụ, các ký tự như _ hoặc ! sẽ luôn xuất hiện trước con số. Nếu muốn "tống" file xuống vị trí cuối cùng của danh mục, bạn chỉ việc nhập zz vào tên file.


* Điều chỉnh header & footer trong Firefox:

Mỗi lần in webpage, bạn có lưu ý đến nội dung của header & footer? Thông thường, những thông tin như tiêu đề trang, URL hay số trang được các trình duyệt web "tự ý" đưa vào. Bạn có thể dễ dàng thay đổi chúng bằng cách sau, vào menu File > Page Setup > mở thẻ Margins & Header/Footer rồi lựa chọn thông tin theo ý bạn. Có khá nhiều lựa chọn để cho ra một "sản phẩm đẹp" như canh lề, chèn ngày in, tiêu đề, URL, số trang ở bên trái hoặc bên phải...

phóng viên dỏm
13-05-2008, 03:46
chỉ em tại sao máy em đang chạy tự động tắt nguồn nhất là lúc mở võ lâm nó củng tắt

pt1506
13-05-2008, 07:22
chỉ em tại sao máy em đang chạy tự động tắt nguồn nhất là lúc mở võ lâm nó củng tắt


Cụ thể hơn đi! Chú cho anh biết cấu hình máy chú, hệ thống mạng của chú? Có tính được thời gian tự động tắt nguồn không? Máy bị từ khi nào? Chú có cài phần mềm tự động tắt máy không?

THINHRAZOR21428
13-05-2008, 07:40
Hướng dẫn Fomat và định dạng lại phân vùng HDD bằng hình ảnh


Step 1: + Chuẩn bị cho Leo 1 CD Hiren's boot phiên bản nào cũng Ok (khuyến khích càng mới càng tốt). Có thể tìm mua tại các tiệm bán Soft's . Nếu ngại đi thì tự ghi lấy 1 cái Down tại đây: Hiren’ Boot CD Version 8.8

+ Chuẩn bị cho Leo cái ổ cứng cần Fomat để cài lại win chẳng hạn. 1 ổ CD còn hoạt động tốt.

Step 2: Các lưu ý trước khi bắt đầu hành động.
+ Tháo các ổ cứng đang còn dữ liệu ra khỏi CPU (bước này là cần thiết để tạo sự an tòan cho dữ liệu)
+ Có thể dùng HDD ở bất kì máy nào miễn có đủ chân cắm vào HDD và như Step 1.
+ Phải chắc chắn rằng bạn định sẽ Fomat tòan ổ (vì bài viết này chủ yếu nói về Fomat tòan ổ)
+ Ở bài viết này Leo sử dụng định dạng NTFS (không chơi với Fat 32)

Step 3: Bật máy và liên tục nhấn phím DELETE để vào Bios của máy.
Ở hình bên dưới là ví dụ về Bios của Main Intel 865GBF
Step 4: Sau khi nhấn F10 máy sẽ khởi động lại. Lúc này hãy nhanh tay cho CD Hiren's Boot vào ổ CD.
Do đã được cấu hình từ Step 3 nên lúc này máy bắt đầu thực hiện chế độ Boot


Step 5: Giờ thì chờ nó load đã nhé (không cần bấm Yes/No gì đâu, để nó tự chuyển).
Step 6: Sau khi Delete sạch sẽ. Lúc này bạn đã có trong tay 1 HDD sạch sẽ chẳng có j.
Step 7: Lúc này bạn chỉ còn chờ nó chạy xong và khởi động lại hệ thống và tiến hành cài đặt Win. Nếu sau khi hòan thành mà bạn vẫn lo ngại liệu HDD của mình có bị BAD hay không thì làm tiếp Step 8 (bước kiểm tra lỗi HDD đơn giản nhất!)
Step 8: Tiến hành Check lỗi HDD (bước đơn giản)

Sau khi máy tính đã khởi động lại. Bạn tiếp tục vào Partion Magic Pro theo Step 4 và 5.
Sau khi nó chạy xong mà báo không có lỗi nào thì Ok! HDD của bạn đã hòan tòan khỏe mạnh và sẵn sàng làm việc. Bấm Close để khởi động lại và cài WIN.

Còn nếu HDD xuất hiện lỗi, thì tốt nhất đem đi bảo hành hoặc sửa chữa.



Step 9: CHÚC THÀNH CÔNG!

THINHRAZOR21428
13-05-2008, 07:59
RAM MÁY TÍNH VÀ NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT

Nếu như vài năm trước đây chúng ta không có nhiều điều để nói về RAM bởi đa số các hệ thống đều được trang bị SDRAM với tốc độ từ 66MHz tới 133MHz thì trong khoảng thời gian ngắn trở lại đây, đã xuất hiện khá nhiều chủng loại bộ nhớ mới như DDR SDRAM, Rambus RDRAM, DDR-II SDRAM... khiến người dùng ''hoa cả mắt'' khi chọn lựa


Trong những năm qua, người dùng đã chứng kiến sự thay đổi nhanh chóng của hệ thống máy tính để bàn. Hai dòng CPU chính của Intel và AMD thay đổi liên tục không chỉ về tốc độ (từ vài trăm MHz lên tới hàng GHz) mà còn cả giao tiếp (Intel: Socket 370/ 423/ 478 /775, AMD: Slot A, Socket 462-A/ 754 /940/ 939...) và dĩ nhiên chúng kéo theo sự thay đổi của bo mạch chủ và nhiều thành phần khác. Một trong những thành phần chịu ảnh hưởng lớn nhất là bộ nhớ hệ thống (RAM). Bài viết này sẽ giúp các bạn hiểu rõ hơn về những khái niệm của bộ nhớ RAM máy tính kèm theo một số thông tin bổ ích khác. Tuy nhiên chúng ta sẽ tập trung vào bộ nhớ DDR và DDR2 vì hiện tại, chúng là loại thống trị trên thị trường. SDRAM đã quá cũ còn RDRAM thì giá quá cao mà chỉ được dùng trong một số máy tính Pentium 4 đời đầu.

1. KHÁI NIÊM CƠ BẢN VỀ RAM

TÊN GỌI
Hiện nay nhiều người thường nhầm lẫn về cách gọi tên của các loại RAM. Nếu như RDRAM không có gì để nói thì với dòng SDRAM, việc nhầm lẫn ngày càng lớn. Khái niệm RAM (Random Access Memory) thì chắc hẳn ai cũng biết. DRAM hay SDRAM là khái niệm mở rộng hơn (Synchronous Dynamic Random Access Memory - RAM đồng bộ). Ban đầu và thậm chí hiện nay khi nói đến SDRAM người ta thường nghĩ ngay đến RAM loại cũ với tốc độ 100MHz hay 133MHz; tuy nhiên từ sau khi DDR SDRAM (Double Data Rate SDRAM) ra đời thì quan niệm này hoàn toàn sai. Tham khảo một vài bảng báo giá linh kiện, bạn sẽ thấy các công ty đã góp phần không nhỏ vào việc khiến người dùng hiểu sai vấn đề. SDRAM là tên gọi chung của một dòng bộ nhớ máy tính, nó được phân ra SDR (Single Data Rate) và DDR (Double Data Rate). Do đó nếu gọi một cách chính xác, chúng ta sẽ có hai loại RAM chính là SDR SDRAM và DDR SDRAM. Cấu trúc của hai loại RAM này tương đối giống nhau, nhưng DDR có khả năng truyền dữ liệu ở cả hai điểm lên và xuống của tín hiệu nên tốc độ nhanh gấp đôi. Trong thời gian gần đây xuất hiện chuẩn RAM mới dựa trên nền tảng DDR là DDR-II, DDR-II có tốc độ cao hơn nhờ cải tiến thiết kế.

TỐC ĐỘ (SPEED)
Đây có lẽ là khái niệm được người dùng quan tâm nhất, tuy nhiên có người thắc mắc về cách gọi tên, đối với DDR thì có hai cách gọi theo tốc độ MHz hoặc theo băng thông. Ví dụ, khi nói DDR333 tức là thanh RAM đó mặc định hoạt động ở tốc độ 333MHz nhưng cách gọi PC2700 thì lại nói về băng thông RAM, tức là khi chạy ở tốc độ 333MHz thì nó sẽ đạt băng thông là 2700MB/s (trên lý thuyết). Tương ứng như thế chúng ta sẽ có bảng sau:
Thường ở Việt Nam thông dụng các loại RAM có bus 333 và 400, những loại có bus cao hơn thường xuất hiện ở những loại cao cấp như Kingston HyperX, Corsair , Mushkin LV nhưng nói chung khá hiếm.

ĐỘ TRỄ (LATENCY)
CAS Latency là khái niệm mà người dùng thắc mắc nhiều nhất. Trước đây, khi đi mua RAM, người mua thường chỉ quan tâm tới tốc độ hoạt động như 100MHz hay 133MHz nhưng gần đây, khái niệm CAS đang dần được người dùng để ý bởi nó đóng vai trò khá quan trọng vào tốc độ xử lý tổng thể của hệ thống; đặc biệt trong ép xung. Vậy CAS là gì?

CAS là viết tắt của 'Column Address Strobe' (địa chỉ cột). Một thanh DRAM được coi như một ma trận của các ô nhớ (bạn có thể hình dung như một bảng tính excel với nhiều ô trống) và dĩ nhiên mỗi ô nhớ sẽ có toạ độ (ngang, dọc). Như vậy bạn có thể đoán ngay ra khái niệm RAS (Row Adress Strobe)là địa chỉ hàng nhưng do nguyên lý hoạt động của DRAM là truyền dữ liệu xuống chân nên RAS thường không quan trọng bằng CAS.

Khái niệm độ trễ biểu thị quãng thời gian bạn phải chờ trước khi nhận được thứ mình cần. Theo từ điển Merriam-Webster thì latency có nghĩa là 'khoảng thời gian từ khi ra lệnh đến khi nhận được sự phản hồi'. Vậy CAS sẽ làm việc như thế nào? CAS Latency có ý nghĩa gì?
Để hiểu khái niệm này, chúng ta sẽ cùng điểm nhanh qua cách thức bộ nhớ làm việc, đầu tiên chipset sẽ truy cập vào hàng ngang (ROW) của ma trận bộ nhớ thông qua việc đưa địa chỉ vào chân nhớ (chân RAM) rồi kích hoạt tín hiệu RAS. Chúng ta sẽ phải chờ khoảng vài xung nhịp hệ thống (RAS to CAS Delay) trước khi địa chỉ cột được đặt vào chân nhớ và tín hiệu CAS phát ra. Sau khi tín hiệu CAS phát đi, chúng ta tiếp tục phải chờ một khoảng thời gian nữa (đây chính là CAS Latency) thì dữ liệu sẽ được tìm thấy. Điều đó cũng có nghĩa là với CAS 2, chipset phải chờ 2 xung nhịp trước khi lấy được dữ liệu và với CAS3, thời gian chờ sẽ là 3 xung nhịp hệ thống.

Bạn sẽ thắc mắc như vậy phải chăng CAS2 nhanh hơn CAS3 tới 33%, không đến mức như vậy bởi có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến hiệu năng tổng thể của bộ nhớ điển hình như:
+ Chuỗi xử lý thông tin: kích hoạt RAS, chờ khoảng thời gian trễ RAS-to-CAS Delay và CAS Latency.
+ Truy cập bộ nhớ theo chuỗi: đôi khi chipset sẽ đọc dữ liệu trong bộ nhớ RAM theo chuỗi (burst) như vậy rất nhiều dữ liệu sẽ được chuyển đi một lần và tín hiệu CAS chỉ được kích hoạt một lần ở đầu chuỗi.
+ Bộ vi xử lý có bộ đệm khá lớn nên chứa nhiều lệnh truy cập và dữ liệu; do đó thông tin được tìm kiếm trên bộ đệm trước khi truy cập vào RAM và tần số dữ liệu cần được tìm thấy trên bộ đệm (hit-rate) khá cao (vào khoảng 95%).
Nói tóm lại việc chuyển từ CAS 3 sang CAS 2 sẽ tăng hiệu năng xử lý cho tất cả các ứng dụng. Những chương trình phụ thuộc vào bộ nhớ như game hay ứng dụng đồ họa sẽ chạy nhanh hơn. Điều này đồng nghĩa với việc những thanh RAM được đóng dấu CAS2 chắc chắn chạy nhanh hơn những thanh RAM CAS3. Nếu bạn dự định mua đồ chơi cho một cuộc đua ép xung hay đơn giản chỉ cần hệ thống đạt tốc độ tối ưu, hãy chọn RAM CAS2 nhưng nếu chỉ là công việc văn phòng, CAS 3 hoàn toàn vẫn đáp ứng yêu cầu.

TẦN SỐ LÀM TƯƠI
Thường thì khi nhắc tới khái niệm tần số làm tươi (RAM Refresh Rate), người ta thường nghĩ ngay đến màn hình máy tính, tuy nhiên bộ nhớ DRAM (Dynamic Random Access Memory) cũng có khái niệm này. Như bạn đã biết module DRAM được tạo nên bởi nhiều tế bào điện tử, mỗi tế bào này phải được nạp lại điện hàng nghìn lần mỗi giây vì nếu không dữ liệu chứa trong chúng sẽ bị mất. Một số loại DRAM có khả năng tự làm tươi dữ liệu độc lập với bộ xử lý thường được sử dụng trong những thiết bị di động để tiết kiệm điện năng.

SDRAM ACCESS TIME
Việc cho ra đời cách đọc dữ liệu theo từng chuỗi (Burst Mode) đã giúp khắc phục nhiều nhược điểm và tăng hiệu năng cho RAM, chu kì của chuỗi ngắn hơn rất nhiều chu kì trang của RAM loại cũ. Chu kì của chuỗi cũng được coi như là chu kì xung nhịp của SDRAM và chính vì thế nó được coi như thang xác định cho tốc độ của RAM bởi đó là khoảng thời gian cần thiết giữa các lần truy xuất dữ liệu theo chuỗi của RAM. Những con số -12, -10, -8... ghi trên các chip RAM cho biết khoảng thời gian tối thiểu giữa mỗi lần truy xuất dữ liệu: nhãn -12 xác định chu kì truy cập dữ liệu của RAM là 12ns (nano-giây) đồng nghĩa với việc tốc độ hoạt động tối đa của RAM sẽ là 83MHz. Thường RAM có tốc độ cao sẽ sử dụng chip RAM có chu kì truy xuất thấp nhưng với chu kì truy xuất thấp chưa chắc RAM đã có thể hoạt động ở tốc độ cao do còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác. Do đó đôi khi bạn sẽ gặp trường hợp thanh RAM có tốc độ thấp nhưng khi đem vào 'thử lửa' ép xung thì lên được tốc độ cao hơn nhiều so với những loại RAM mặc định dán nhãn tốc độ cao. Nếu muốn biết thêm thông tin, bạn có thể truy cập vào địa chỉ: http://www.dewassoc.com/performance/memory/memory_speeds.htm.


2. CHỌN ĐÚNG LOẠI RAM
Khi mua hay ráp máy tính, việc chọn đúng loại RAM là khá quan trọng nhưng lại ít người để ý. Mỗi hệ thống sử dụng CPU Intel hay AMD lại 'thích' một kiểu RAM khác nhau, ngoài ra việc chọn lựa RAM còn phụ thuộc vào chipset và nhu cầu làm việc của người dùng. Thông thường CPU Intel Pentium 4 và Athlon 64 yêu cầu RAM tốc độ cao (bus 400MHz) trở lên do FSB của CPU khá lớn cho phép băng thông dữ liệu rộng. Nếu như RAM không đáp ứng được mức băng thông đó thì sẽ bị hiện tượng 'nghẽn cổ chai' (bottle-neck), ứng dụng sẽ hoạt động rất chậm. Nếu không xét đến việc ép xung (overclock), thông thường khi mua RAM cho máy tính, bạn hãy mua như sau:

DDR SDRAM
Như đã nói ở trên, đây đang là loại RAM thông dụng và thịnh hành nhất cho toàn bộ các loại máy tính để bàn vào thời điểm bạn đọc bài viết này.

A. ĐỐI VỚI CPU INTEL
+ Intel Pentium 4-C/E/G/J Front Side Bus (FSB) 800MHz: Những loại CPU này có FSB rất lớn nên nếu sử dụng trên nền bo mạch chủ 865/875 hay 915/925 mới nhất, bạn sẽ đạt tốc độ cao khi lắp đặt bộ nhớ kênh đôi (Dual Channel DDR) đúng cách. Về nguyên tắc Dual Channel DDR khá giống với chế độ RAID của đĩa cứng, với 100MB dữ liệu chuyển vào RAM, thay vì vào một thanh RAM đủ 100MB, chipset sẽ chuyển đồng thời vào mỗi thanh RAM 50MB nên sẽ rút ngắn thời gian làm việc xuống chỉ còn một nửa. Và như vậy hai thanh RAM DDR bus 400 sẽ cho băng thông lý thuyết lên mức 800MHz, tương xứng với bus của CPU. Điều đó cho thấy nếu bạn sử dụng CPU có bus 800 thì việc mua hai thanh RAM DDR bus 400 giống nhau là lựa chọn lý tưởng. Chú ý hai thanh RAM phải giống nhau cả về tốc độ và loại chip nhớ sử dụng, đặc biệt là khi bạn chạy trên nền chipset i875P bởi chipset này khá 'khó tính', nếu không giống nhau thì rất có thể tính năng PAT sẽ không được kích hoạt và làm giảm hiệu năng hệ thống.
+ Intel Celeron/Pentium4 bus 400MHz/533MHz: Mặc dù những loại CPU có bus khá cao nhưng do thuộc thế hệ cũ hoặc dòng rẻ tiền nên chúng thường được lắp chung với các loại chipset 845, cho đến chipset 845PE thì tốc độ RAM cao nhất được chính thức hỗ trợ chỉ là 333MHz. Do đó nếu bạn lắp RAM DDR400 thì sẽ không kinh tế. Như vậy trừ khi bạn dùng bo mạch chủ có chipset 845PE, còn nếu không bạn nên chọn các loại RAM có bus 266MHz và để dành khoản tài chính dư ra cho một lần nâng cấp tổng thể hệ thống sau này.

B. ĐỐI VỚI AMD
Nếu như từ trước đến nay những dòng CPU của AMD không được phổ biến ở Việt Nam do chế độ phân phối và bảo hành thì giờ đây với việc Silicom chính thức trở thành nhà phân phối cho AMD, người dùng sẽ hoàn toàn yên tâm sử dụng dòng vi xử lý này. Mặt khác, trên thị trường cũng xuất hiện thêm nhiều sản phẩm bo mạch chủ và phụ kiện (quạt tản nhiệt, đế lắp socket...) cho CPU AMD. Tuy nhiên có một điều đáng buồn là trước kia sản phẩm của AMD được yêu thích do chi phí thấp mà hiệu năng cao, còn giờ đây phương châm đó không còn được như vậy bởi những dòng CPU cao cấp của AMD giá quá cao, thậm chí vượt hơn Intel. Tuy nhiên người dùng AMD cần chú ý là bộ xử lý AMD (đặc biệt là AthlonXP) sẽ cho hiệu năng tốt nhất khi RAM chạy đồng bộ với FSB (tốc độ ngang nhau) và CAS Latency thấp (tốt nhất là 2) nên việc chọn đúng RAM là rất quan trọng.
+ Duron/Athlon XP/Sempron Bus 266MHz: Nếu bạn đang sử dụng những loại CPU này thì dĩ nhiên lựa chọn lý tưởng nhất vẫn là DDR 266MHz. Thường thì do bus thấp nên bạn có thể tìm được nhiều loại RAM có CAS2, hãy chú ý chi tiết này và chọn lựa sao cho hợp lý.
+ AthlonXP bus 333/400MHz: Với hai loại CPU này, việc chọn RAM phụ thuộc nhiều vào chipset của mainboard mà bạn sử dụng. Thường thì với các loại chipset thông dụng VIA có số hiệu từ 333 trở xuống như KT333, KT266, KM266... bạn nên dùng RAM tốc độ 333MHz.
Tại sao lại không tìm mua RAM bus 400MHz? Lý do rất đơn giản, việc tìm mua một thanh RAM bus 266 hay 333 có CAS thấp đơn giản hơn nhiều so với tìm một thanh RAM 400MHz CAS2. Đối với những chipset như KT400, KT600 hay đặc biệt là nVIDIA nForce 2, bạn nên mua DDR400 bởi ngoài việc chúng hỗ trợ sẵn tốc độ này thì đa số CPU AthlonXP Barton của AMD đều có thể chạy tốt ở bus 400MHz cho dù mặc định chúng chỉ là 333MHz mà thôi. Tuy nhiên nhớ chú ý lựa chọn thật kĩ trước khi mua vì trên thị trường hiện nay có rất nhiều chủng loại RAM DDR400 với nguồn gốc khác nhau. Chi tiết về việc chọn lựa RAM bạn có thể tham khảo bài viết 'Overclock - Được, mất và những điều cần biết' (Thế Giới Vi Tính A 9/2003). Chú ý nForce2 hỗ trợ Dual Channel DDR 400MHz.
+ Athlon 64: Hầu như tất cả các hệ thống Athlon64 đều yêu cầu tối thiểu RAM có bus 400MHz, những hệ thống Socket939 mới hỗ trợ Dual Channel nên bạn phải nhớ chọn mua cho phù hợp.

DDR-II
Mặc dù đã xuất hiện được một thời gian dài nhưng DDR-II dường như chưa tạo được ấn tượng tốt với người dùng, chìa khóa chính để nhà sản xuất nâng băng thông của DDR-II lên chính là việc nhân chip nhớ chạy ở một nửa tần số của bộ đệm I/O và điều này đồng nghĩa với việc bộ đệm dữ liệu chạy ở tốc độ gấp đôi nhân. Thông thường nếu RAM có tốc độ 100MHz thì bộ đệm dữ liệu cũng chạy ở tốc độ 100MHz, nhưng với DDR, tốc độ này là 200MHz. Trong DDR-II, bộ đệm dữ liệu chạy ở 200MHz vẫn với xung nhịp 100MHz của RAM, điều này cho phép chúng xử lý được 4 bit dữ liệu trong một xung nhịp vì tốc độ gấp đôi nên khi áp dụng nguyên tắc DDR lên thì chúng ta sẽ được tần số dữ liệu thực lên tới 400MHz với chỉ 100MHz tốc độ hoạt động của RAM. Nói một cách đơn giản hơn:
Với DDR1: 100MHz xung thực -> 100MHz bộ đệm dữ liệu -> 200MHz tốc độ dữ liệu (DDR).
Với DDR2: 100MHz xung thực -> 200MHz bộ đệm dữ liệu -> 400MHz tốc độ dữ liệu (DDR).
Như vậy độ trễ CAS của DDR-II sẽ có nhiều điểm khác biệt so với DDR-I hiện tại và thường được đặt ở mức 4 hoặc 5. Hiện nay ở thị trường trong nước không có nhiều sự lựa chọn về bộ nhớ DDR-II do nhu cầu của người dùng chưa cao mà sản phẩm hiếm, giá đắt. Ngoài ra nếu bạn muốn sử dụng DDR-II cho máy tính để bàn của mình, bạn không có sự lựa chọn nào ở thị trường Việt Nam ngoài những bo mạch chủ có chipset Intel 915 và 925, điều này sẽ kéo theo nhiều nâng cấp khác như CPU Socket 775 và card đồ họa PCI-Express. Mặc dù vậy, tốc độ của DDR-II vào thời điểm hiện tại chưa chứng tỏ được sức cạnh tranh so với DDR truyền thống nên không được người dùng quan tâm nhiều. Bạn có thể tìm thấy một vài sản phẩm của Samsung, Kingston hay KingMax ở nhiều cửa hàng trong cả nước nếu cần.

THINHRAZOR21428
13-05-2008, 07:59
3. KINH NGHIÊM
Chắc chắn bạn cũng nhận thấy một điều là sự lựa chọn vào thời điểm hiện tại gần như chỉ giới hạn trong loại RAM DDR bởi DDR-II và RDRAM hầu như không phổ biến. Đa số những loại DDR đang được bán ở các cửa hàng linh kiện máy tính đều có khả năng hoạt động trơn tru trên mọi hệ thống. Tuy nhiên, để có được loại RAM tốt, hiệu năng cao đồng thời bạn vẫn muốn 'nghịch ngợm' ép xung được thì sẽ phải bỏ ra một chút công sức. Thông dụng nhất là DDR400 hay còn gọi là PC3200 với hàng chục loại khác nhau và giá cả chênh nhau từ vài USD cho tới vài chục USD! Để tiện, chúng ta sẽ phân làm hai loại: 'bình dân' và 'cao cấp'. Những loại RAM bình dân thường không có vỏ thép mà chỉ gồm thanh RAM không, một số hàng thuộc dòng này của những hãng tên tuổi như Corsair hay Kingston thì có thêm hộp nhựa đựng rất lịch sự và ghi rõ là Value RAM. Dòng Value RAM nói chung chất lượng không được đồng đều và phụ thuộc khá nhiều vào loại chipset mà hãng sản xuất sử dụng, mỗi đợt hàng chất lượng lại rất khác nhau nên việc mua được sản phẩm tốt hay dở đa phần đều nhờ may mắn. Ví dụ như Kingston Value RAM PC3200 có đợt là RAM CAS 2,5, có đợt lại là CAS 3; Adata PC3200 có vỏ nhựa lúc mới ra thì bị xem thường nhưng về sau thì lại được khen và sức mua mạnh dẫn tới hiếm hàng. Vậy bí quyết là gì? Thường khi mua RAM thuộc dòng cấp thấp, bạn có thể rất dễ dàng nhìn thấy những kí hiệu ghi trên chip RAM và những thanh RAM có chất lượng tốt thường sử dụng chip nhớ của những hãng có tên tuổi như Winbond, Samsung, Hynix, Huyndai, Kingston, Kingmax... chú ý chọn loại RAM có 8 chip nếu có thể. Ngoài ra bạn có thể kiểm tra thông số Access Time thông qua đoạn mã ghi trên chip RAM ví dụ như với một thanh Elixir bình thường có mã số là N2DS25680BT-5T thì -5 chính là thông số bạn cần tìm, từ đó suy ra tốc độ của thanh RAM này khoảng 400MHz trở lên. Yếu tố cuối cùng mà bạn kiểm tra là chất lượng bản mạch và độ tinh xảo của mạch in, hãy thử uốn nhẹ thanh RAM để kiểm tra độ bền, một số RAM có các lớp bản mạch dập không được khít và phát ra tiếng kêu khi uốn hơi cong sẽ dễ hỏng hơn những thanh khác.

Với những dòng RAM cao cấp thì việc lựa chọn sẽ khó khăn hơn nhiều do vỏ hộp lẫn bản thân thanh RAM đều được đóng gói bảo vệ rất kĩ lưỡng (tham khảo hình bên). Việc tháo vỏ đóng gói để xem bên trong là không thể, bạn chỉ có thể nhận diện chất lượng của RAM thông qua mã số sản phẩm và ngày tháng sản xuất, nhìn chung những sản phẩm thuộc dòng cao cấp có chất lượng khá tốt đáp ứng được hầu hết người dùng kể cả khi bạn muốn ép xung, chỉ trừ một vài người thuộc loại 'quái kiệt' với đầy đủ đồ nghề 'xịn' cho overlocking mới có yêu cầu cao hơn. Những loại RAM tốc độ cao thuộc series cao cấp nổi bật ở thị trường Việt Nam vào thời điểm hiện tại có thể kể:

+ Kingston HyperX: Với tốc độ từ 400MHz cho tới 500MHz và được phân phối thông qua đại lý chính hãng nên người dùng có thể yên tâm sử dụng, tuy nhiên hệ số CAS của HyperX khá cao nên không được người dùng AMD ưa chuộng. Một số series HyperX sản xuất trước kia sử dụng chipset Winbond BH-5 được dân overlocker săn lùng liên tục.

+ Adata Vitesta: Tốc độ từ 500MHz đến 600MHz, giá thành khá rẻ, trong thử nghiệm một thanh Atada Vitesta ngẫu nhiên có thể chạy CAS 2,5 (mặc định của nhà sản xuất là 3) ở bus 500MHz (chế độ kênh đôi Dual Channel) ổn định.

+ Mushkin Level 2 Black Cover: Tốc độ từ 400MHz tới 466MHz. Hiện tại đây là loại RAM được giới sành đồ chơi máy tính đánh giá khá cao về khả năng nâng lên tốc độ cao và CAS thấp, đặc biệt dòng mới nhất sử dụng chip nhớ Samsung kí hiệu TCCD cho kết quả tốt hơn nhiều và thậm chí còn vượt xa dòng BH-5 trước kia. Loại chip nhớ TCCD còn được sử dụng cho cả những series RAM có bus mặc định là 600MHz (PC4800).

+ Corsair: Sau một thời gian dài vắng bóng, hiện tại Corsair đang dần lấy lại phong độ với dòng sản phẩm RAM XMS C2PT cao cấp mới nhất (revision 4.1) dùng chipset TCCD, trong những thử nghiệm của diễn đàn VOZ, hầu hết các loại RAM sử dụng chipset TCCD đều có thể vượt qua bus 550MHz dễ dàng thậm chí với hệ số CAS chỉ ở mức 2,5. Ngoài ra hãng còn cung cấp dòng RAM có CAS 2 với dàn đèn Data Indicator nháy theo hoạt động khá đẹp. Tuy nhiên bạn cần lưu ý theo ý kiến nhiều người dùng thì những sản phẩm RAM cao cấp của Corsair có chất lượng không được đồng đều cho lắm.

+ Gskill: Đây là một tên tuổi mới đối với người dùng trong nước, tuy nhiên sự ra mắt của hãng với dòng RAM DDR600 (chip nhớ TCCD) thực sự gây ấn tượng. Mặc dù vậy số lượng hàng không nhiều và việc tìm mua rất khó khăn.
Ngoài ra những nhà sản xuất như OCZ hay Geil cũng có nhiều sản phẩm cao cấp mà bạn có thể tìm mua nhưng thường khá hiếm vì không có đại lý phân phối chính thức trong nước.


3. ĐIỀU CHỈNH BIOS CHO PHÙ HỢP

A. TỐC ĐỘ
Muốn tối ưu hóa hiệu năng của RAM, bạn chỉ có cách sử dụng BIOS của máy tính, nhấn Del khi khởi động để vào BIOS. Thường các thông số của RAM chia làm hai mục, tỉ lệ của RAM sẽ nằm trong phần CPU Voltage/Frequency (một số hãng sản xuất lại đưa chúng vào nhóm riêng ví dụ như Soft Menu (Abit), Genie Bios (DFI)... Trong phần này, mỗi hãng có cách sắp xếp khác nhau nhưng đều dựa trên một nguyên tắc chung là tốc độ của RAM tỉ lệ với FSB của CPU theo một hệ số nhất định. Một số hãng như Asus chọn cách hiển thị tốc độ RAM trực tiếp giúp người dùng không mất thời gian tính toán còn Abit lại chọn cách sử dụng tỉ lệ, bạn sẽ phải nhân, chia để có kết quả tốc độ tuy nhiên điều này sẽ giúp bạn có thêm kiến thức và hiểu rõ hơn về thông số của máy tính. Tốc độ của RAM được tính theo tỉ số CPU/DRAM, ví dụ khi CPU có bus ngoài là 200MHz (ở những CPU bus 800MHz) và tỉ lệ này là 1:1 thì RAM sẽ chạy ở bus 200MHz (400MHz DDR). Khi tỉ lệ là 5:4, bus ngoài CPU là 200MHz thì tốc độ RAM sẽ là (200/5)*4 = 160MHz (320MHz DDR).
Riêng những thông số khác về RAM như CAS Latency, RAS-to-CAS Delay... đều được tất cả các nhà sản xuất đưa vào một nhóm chung có tên là Advance Chipset Configuration. Có thể bạn sẽ cảm thấy hoa mắt nhưng thông số quan trọng nhất là phần DRAM Timing bao gồm bốn thông số chính theo thứ tự là CAS Latency, Act to Precharge Delay, Ras-to-CAS Delay và DRAM Ras Precharge. Nếu bạn gặp thông số RAM kiểu như 2-2-2-5 hay 2-3-3-7 thì đó chính là bốn thông số được xếp theo đúng thứ tự như vậy. Ý nghĩa của những thông số còn lại bạn có thể tham khảo sách hướng dẫn đi kèm của từng bo mạch chủ.

B. ĐIÊN THẾ:
Cũng trong những hình ảnh trên, bạn có thể thấy có một chỉ số về điện thế cung cấp cho RAM (DRAM Voltage). Thường thì DDR sử dụng mức điện thế 2,5v và DDR-II là 1,8v. Một số loại RAM DDR tốc độ cao có thể yêu cầu tới 2,8v hoặc 2,85v, đối với những loại này bạn phải tham khảo tài liệu hướng dẫn đi kèm để có được thông tin. Tuy nhiên bạn cần tuân theo một nguyên tắc an toàn là: Không nên kéo điện thế lên quá 2,9v nếu không có giải pháp tản nhiệt hữu hiệu vì RAM có thể sẽ bị cháy hoặc phồng IC sau một thời gian sử dụng. Đối với những loại bo mạch chủ rẻ tiền, bạn sẽ không chỉnh được điện thế của RAM mà chỉ có thể thay đổi được tốc độ. Trong trường hợp này bạn có thể sử dụng một vài món đồ chơi chuyên dụng như DDR Booster của OCZ. Theo thống kê từ phía người dùng, những chip RAM của Samsung có khả năng chịu được điện cao nhất và ép xung lên được mức tốc độ tương xứng, còn những loại chip của Winbond thì có thể chạy ở tốc độ cao ngay cả với điện thế mặc định hoặc nhỉnh hơn một chút. Điện thế của RAM thậm chí còn ảnh hưởng cả đến timing nên nếu thanh RAM bạn mua về không chạy được ở mức timing thấp (ví dụ như 2) thì bạn có thể thử đẩy điện thế lên một chút xem sao.

Sau khi đã có đủ những giải pháp về phần cứng, điều quan trọng nhất của việc chọn RAM chính là hiệu năng cao và ổn định, bạn sẽ cần đến những phần mềm chuyên dụng để kiểm tra tốc độ cũng như khả năng hoạt động lâu dài của RAM cho dù chạy ở tốc độ mặc định hay ép xung. Hai chương trình sáng giá nhất được nhiều người dùng đánh giá cao là Sisoft Sandra 2005 (http://www.sisoftware.co.uk/) và Passmark Burn-in Test (http://www.passmark.com). Hai chương trình này có khả năng kiểm tra băng thông của RAM kèm theo thử nghiệm tối đa 'nội lực' của RAM để phát hiện lỗi nếu có. Nếu như RAM của bạn đạt được thời gian kiểm tra từ 8 đến 10 tiếng và tốc độ chấp nhận được thì bạn là người may mắn, nếu không hãy kiểm tra lại toàn bộ mọi thiết bị hoặc liên hệ với nơi bán để đổi loại khác.

Tóm lại, việc chọn mua một loại RAM đúng với cấu hình máy tính và phù hợp với công việc của mình là rất quan trọng. Việc mua RAM từ các hãng tên tuổi dĩ nhiên sẽ đảm bảo cho bạn về chất lượng cũng như bảo hành. Mặc dù đa số các loại RAM trên thị trường vào thời điểm hiện tại đều có thời hạn bảo hành 3 năm nhưng sẽ thật phiền toái nếu RAM hỏng và bạn phải chạy đi chạy lại để liên lạc với nơi bán; chưa kể chuyện thanh RAM chập chờn có thể cho dữ liệu quan trọng của bạn ra đi không lời từ biệt chỉ trong tích tắc. Nói chung nếu là máy tính cho văn phòng, bạn hoàn toàn có thể mua những loại RAM phổ thông để tiết kiệm chi phí, dĩ nhiên là phải kiểm tra cẩn thận. Còn nếu như bạn là 'dân chơi' overlock sành sỏi hoặc thường xuyên chơi game tốc độ cao hay chỉ đơn giản là muốn làm cho chiếc máy tính của mình trông 'xịn' hơn thì có thể lướt qua dòng sản phẩm cao cấp nhưng hãy nhớ kiểm tra cái ví của mình trước! Giá của chúng chắc chắn không hề rẻ chút nào. Để biết thêm thông tin và giải đáp thắc mắc của mình, bạn có thể ghé thăm diễn đàn Vietnam Overclocker Zone tại địa chỉ
www.vozforums.com.

Nguyễn Thúc Hoàng Linh
Email: valkyrie.lenneth@usa.com

Gọi tên theo
băng thông Gọi tên theo
tốc độ MHz
PC1600 DDR200
PC2100 DDR266
PC2700 DDR333
PC3000 DDR366
PC3200 DDR400
PC3500 DDR433
PC3700 DDR466
PC4000 DDR500
PC4200 DDR533
PC4400 DDR550
PC4800 DDR600


Những món đồ chơi không thể thiếu
Bạn có thể nhận thấy một điều rất rõ ràng đó là tốc độ của RAM và điện thế sử dụng ngày càng cao hơn. Ban đầu chúng ta có DDR200/2,5v thì giờ đây chúng ta đã có DDR500/2,8v (thậm chí là 2,85v đối với một số loại nhất định) hay DDR2-667/1,8v. Hai yếu tố này đã góp phần làm cho nhiệt độ của RAM ngày càng tăng, đó cũng chính là lý do tại sao các loại RAM cao cấp thường có lá thép ốp ở mặt ngoài; ngoài lý do bảo vệ thì nó còn góp phần tản nhiệt. Tuy nhiên nếu bạn mua được RAM loại thường nhưng có tốc độ tốt và khả năng ép xung cao, bạn có thể tham khảo những giải pháp tản nhiệt dành riêng cho RAM của những nhà sản xuất thứ ba như tản nhiệt cho RAM của CoolerMaster (xem hình).

Nếu cảm thấy khả năng tài chính có giới hạn, bạn có thể tự chế những mẩu tản nhiệt như hình bên với một cục tản nhiệt lớn của CPU và một chiếc cưa sắt. Nếu khéo tay, bạn sẽ có những sản phẩm đẹp mắt không thua gì hàng hiệu. Một số nhà sản xuất lại chọn giải pháp đơn giản hơn bằng cách làm những tấm giải nhiệt giống của hàng hiệu với chất liệu như hợp kim dẫn nhiệt hay đồng đỏ nhưng thực tế chúng không hiệu quả cho lắm.

Một món đồ chơi nữa cũng đang được dân overclock ưa chuộng hiện nay là DDR Booster của OCZ tuy nhiên nó khá nguy hiểm và bạn chỉ nên dùng nếu có kinh nghiệm về máy tính. DDR Booster không phải là một thanh RAM mặc dù khi mới nhìn thì có vẻ hơi giống. Tuy nhiên nó lại rất gần gũi với RAM nhờ khả năng can thiệp vào hệ thống cấp điện cho RAM, chính vì thế với DDR Booster, bạn có thể chỉnh được điện năng tiêu thụ cho RAM một cách chính xác nhờ đồng hồ đo đi kèm.

Việc sử dụng rất đơn giản, bạn chỉ việc cắm vào khe RAM trống rồi vặn chiết áp trong khi theo dõi đồng hồ sao cho hợp lý vì nếu nhiệt độ lên quá cao, RAM có thể bị cháy. Có thể DDR Booster khá đáng sợ nhưng hiệu quả nó mang lại thì không ai có thể chê được. Trước kia bạn cần đến mỏ hàn và trình độ điện tử vào loại có hạng nếu muốn chỉnh lại điện của RAM bằng tay thì với DDR Booster, việc cần làm chỉ đơn giản là cắm và vặn. Bạn có thể hình dung những thanh RAM rất thường bình thường bán đầy ngoài cửa hàng có thể chạy ở tốc độ gần gấp đôi hoặc chí ít cũng ngang với các loại RAM xịn hay không? Câu trả lời là có, dĩ nhiên là với DDR Booster và những giải pháp tản nhiệt hợp lý.

Các bước nâng cấp bộ nhớ
Khi nhận thấy máy tính chạy chậm chạp, có thể bạn nghĩ ngay tới việc nâng cấp card màn hình, bộ xử lý hay bo mạch chủ (mainboard). Nhưng bạn có biết rằng trong nhiều tình huống, nâng cấp bộ nhớ RAM giúp tăng đáng kể hiệu năng máy tính mà chi phí lại rẻ?

XÁC ĐỊNH DUNG LƯỢNG
Dung lượng bộ nhớ phụ thuộc vào hệ điều hành và ứng dụng. Windows XP yêu cầu bộ nhớ RAM tối thiểu 64MB nhưng khuyến khích 128MB. Windows Me yêu cầu tối thiểu 32MB, trong khi Windows 98 chỉ cần 16MB. Nếu cài thêm bộ Office XP trên hệ điều hành Windows XP, bạn cần tối thiểu 128MB RAM. Để chạy cùng lúc các ứng dụng như Word, Excel và Power Point, bạn cần tối thiểu 152MB. Nói chung, bạn nên trang bị 256MB RAM khi sử dụng hệ thống WinXP. Nếu để chơi game, thiết kế đồ họa, xử lý phim, bạn nên có 512MB RAM; càng nhiều càng tốt nhưng còn phụ thuộc vào khả năng hỗ trợ của bo mạch chủ .

XÁC ĐỊNH LOẠI BỘ NHỚ
Hiện có 3 công nghệ bộ nhớ phổ biến là SDRAM, DDR-SDRAM và RDRAM nên bạn cần xác định loại bộ nhớ dựa theo tài liệu hướng dẫn của bo mạch chủ.
SDRAM: Phổ biến trong các hệ thống Pentium, Pentium II, và Pentium III, SDRAM có 3 loại: PC66, PC100 và PC133; tương ứng với tần số làm việc 66MHz, 100MHz và 133 MHz.
DDR SDRAM: Phổ biến trong hệ thống Pentium IV hay AMD. Cũng giống như SDRAM, DDR SDRAM cũng có nhiều loại tốc độ khác nhau như PC2100, PC2700, PC3200, PC3500 và PC3700 (xung làm việc tương ứng là 266MHz, 333MHz, 400MHz, 433MHz, và 466MHz)
RDRAM: Là công nghệ bộ nhớ 'xịn' nhất, RDRAM sử dụng cho các hệ thống Xeon và Pentium IV cao cấp. Do giá còn mắc nên không được phổ biến như 2 loại RAM trên.

ĐỘ TƯƠNG HỢP
Đừng vội chọn loại RAM tốc độ nhanh vì chưa chắc thích hợp với máy bạn mà nên chọn loại bộ nhớ có thông số giống như bộ nhớ hiện thời trên hệ thống. Mua thanh DDR-SDRAM PC3700 tốc độ 466MHz trong khi bo mạch chủ chỉ hỗ trợ tối đa RAM 266MHz thì xem ra không hiệu quả bằng mua loại DDR SDRAM PC2100 tốc độ 266MHz.

LẮP ĐẶT
Trước tiên, bạn phải mở thùng máy và nhớ đeo vòng khử tĩnh điện hoặc tiếp đất để tránh làm hỏng linh kiện điện tử. Quan sát trên bo mạch chủ, tìm những khe cắm RAM (có lẽ là dài nhất). Nhấn chốt 2 bên khe cắm RAM còn trống ra hai bên rồi đặt thanh RAM vào đúng vị trí, nhấn đều 2 đầu (để không làm hỏng hay trầy xước mạch điện tử) đến khi thấy 2 chốt cắm vào hai thành thanh RAM. Lắp đặt RDRAM cũng tương tự nhưng cần lắp các thanh RDRAM theo cặp và đặt CRIMM trong khe cắm trống để khép kín mạch điện. Đối với loại SDRAM, bạn sẽ phải đẩy nghiêng.

CHẠY THỬ
Hãy quan sát con số báo dung lượng bộ nhớ khi hệ thống khởi động. Nếu sai biệt thì nên kiểm tra lại vị trí gắn các thanh RAM. Nếu cần có thể nhấn phím Pause/ Break để tạm dừng màn hình khởi động.

Khi thấy hệ thống báo dung lượng RAM đủ và khởi động bình thường vào Windows, bạn tiếp tục chạy thử một số ứng dụng và kiểm tra xem chúng có hoạt động tốt không; bởi RAM không tương thích có thể gây ra sự cố treo máy hay đóng băng.

Nguyễn Thành Công
Email: tcka8483@yahoo.com

Bộ nhớ video
Bên cạnh chip bộ nhớ chính còn nhiều loại chip nhớ đặc biệt phát triển riêng cho ứng dụng video.

VIDEO RAM (VRAM)
VRAM được phát triển dựa trên công nghệ FPM (fast page mode), có hai cổng giao tiếp thay vì một cổng như thông thường: một cổng dành cho chức năng làm tươi màn hình) cổng còn lại xuất ảnh ra màn hình. Nhờ thiết kế này, VRAM hoạt động hiệu quả hơn DRAM trong những ứng dụng video. Tuy nhiên, do sản lượng tiêu thụ chip video ít hơn chip nhớ chính nên giá còn cao. Vì thế, trong một số hệ thống card video ít tiền, người ta có thể dùng DRAM thông thường để giảm giá thành.

GRAPHIC DDR (GDDR)
GDDR (DDR đồ họa) được phát triển dựa trên công nghệ DDR SDRAM dành riêng cho đồ họa. Sau phiên bản GDDR-2 thiết kế dựa trên DDR-II, ATI và NVIDIA đã kết hợp chặt chẽ với các nhà sản xuất bộ nhớ để đưa ra phiên bản GDDR-3 có điện áp làm việc thấp hơn GDDR-2, làm việc từ tần số 500MHz đến 800MHz với mục tiêu giảm điện năng tiêu thụ, tăng mật độ chip nhớ và đơn giản hóa giải pháp tản nhiệt.

WINDOW RAM (WRAM)
WRAM là một dạng bộ nhớ hai cổng khác, được dùng trong những hệ thống chuyên xử lý đồ họa. Hơi khác VRAM, WRAM có cổng hiển thị nhỏ hơn và hỗ trợ tính năng EDO (Extended Data Out).

SYNCHRONOUS GRAPHIC RAM (SGRAM)
SGRAM là loại SDRAM thiết kế riêng cho video với chức năng đọc/ghi đặc biệt. SGRAM cho phép truy xuất và chỉnh sửa dữ liệu theo khối thay vì từng đơn vị nên giảm bớt số lượt đọc/ghi bộ nhớ và tăng hiệu năng của bộ điều khiển đồ họa.

BASE RAMBUS VÀ CONCURRENT RAMBUS
Trước khi trở thành công nghệ bộ nhớ chính, công nghệ Rambus được dùng làm bộ nhớ video. Công nghệ bộ nhớ Rambus dùng làm bộ nhớ chính hiện tại được gọi là Direct Rambus. Còn hai dạng Rambus sơ khai là Base Rambus và Concurrent Rambus được dùng cho ứng dụng video trong máy trạm và hệ thống game video như Nintendo 64.

Duy Khánh
Kingston-The Ultimate Memory Guide


Bộ nhớ cải tiến
ENHANCED SDRAM (ESDRAM)
Để tăng tốc độ và hiệu năng, thanh nhớ chuẩn có thể được tích hợp thêm bộ đệm SRAM (Static RAM) trực tiếp trên chip. ESDRAM là SDRAM có thêm bộ đệm SRAM để có khả năng làm việc với tần số 200MHz. Cũng tương tự nguyên lý bộ nhớ đệm ngoài, DRAM cũng dùng một bộ đệm SRAM để lưu dữ liệu thường dùng, nhằm rút ngắn thời gian truy xuất DRAM. Ưu điểm của SRAM trên chip là tạo lập tuyến bus rộng hơn giữa SRAM và DRAM, tăng cường băng thông và tốc độ DRAM một cách hiệu quả.

FAST CYCLE RAM (FCRAM)
FCRAM được Toshiba và Fujitsu đồng phát triển nhằm phục vụ máy chủ, máy in cao cấp và hệ thống chuyển mạch viễn thông. Bộ nhớ được phân thành nhiều mảng và có thiết kế hàng đợi nên tăng được tốc độ truy xuất ngẫu nhiên và giảm điện năng tiêu thụ.

SYNCLINK DRAM (SLDRAM)
Hiện tại tuy đã lỗi thời nhưng SLDRAM từng được cộng đồng chế tạo DRAM phát triển nhằm cạnh tranh với Rambus vào cuối thập niên 1990.

VIRTUAL CHANNEL MEMORY (VCM)
Do NEC phát triển, VCM cho phép các 'khối' bộ nhớ khác nhau giao tiếp độc lập với bộ điều khiển nhớ và có đệm riêng. Cách này cho phép mỗi tác vụ hệ thống thành một khối riêng, không chia sẻ hay dùng chung với các tác vụ cùng chạy khác.

BỘ NHỚ FLASH
Bộ nhớ Flash là dạng bộ nhớ ghi lại được, không mất, trạng thái ổn định, có chức năng kết hợp của RAM và ổ đĩa cứng. Bộ nhớ flash lưu bit dữ liệu dưới dạng tín hiệu điện trong ô nhớ (giống DRAM) nhưng có khả năng nhớ cả khi ngắt điện (giống đĩa cứng). Nhờ đặc tính điện thế thấp, ổn định, tốc độ cao, bộ nhớ flash thích hợp với rất nhiều ứng dụng di động như máy ảnh số, máy quay phim số, điện thoại di động, máy in, PDA, máy nhắn tin, máy ghi âm số, máy MP3, hệ thống GPS.

Duy Khánh
Kingston-The Ultimate Memory Guide


BIOS của BMC Abit IC7 MAX3, tương tự như của Asus nhưng tốc độ RAM được xác định qua tỉ lệ (DRAM Ratio).

BIOS của BMC Asus P4C800 Deluxe. Bạn có thể thấy phần điều chỉnh tốc độ (DRAM Frequency) và phần chỉnh điện thế (DDR Reference Voltage).

THINHRAZOR21428
13-05-2008, 08:00
Trong những năm vừa qua, người dùng đã chứng kiến sự thay đổi nhanh chóng của hệ thống máy tính để bàn. Với hai dòng CPU chính của Intel và AMD thay đổi liên tục không chỉ về tốc độ (từ vài trăm Mhz lên tới hàng Ghz) mà còn cả giao tiếp (Intel: Socket 370/ 423/ 478 /775, AMD: Slot A, Socket 462-A/ 754 /940/ 939...) và dĩ nhiên chúng kéo theo sự thay đổi của bo mạch chủ và nhiều thành phần khác của máy tính. Một trong những thành phần chịu sự ảnh hưởng lớn nhất là bộ nhớ RAM hệ thống. Nếu như vài năm trước đây, chúng ta không có nhiều điều để nói về RAM bởi đa số các hệ thống đều được trang bị SDRAM với tốc độ từ 66Mhz tới 133Mhz. Tuy nhiên trong một khoảng thời gian ngắn trở lại đây, đã có khá nhiều chủng loại bộ nhớ mới với thiết kế tiên tiến và đa dạng như DDR SDRAM, Rambus RDRAM, DDR-II SDRAM... được hỗ trợ bởi nhiều loại chipset khác nhau khiến người dùng đôi khi hoang mang khi chọn lựa. Bài viết này sẽ giúp các bạn hiểu rõ hơn về những khái niệm của bộ nhớ RAM máy tính kèm theo một số thông tin bổ ích mà bạn nên biết. Tuy nhiên chúng ra sẽ tập trung chủ yếu và bộ nhớ DDR và DDR2 là chính vì vào thời điểm hiện tại chúng là loại bộ nhớ thống trị trên thị trường máy tính toàn thế giới. SDRAM đã quá cũ còn Rambus RDRAM thì giá quá cao mà chỉ được dùng trong một số máy tính Pentium 4 đời đầu.
I. Những khái niệm cơ bản về RAM:

1. Cách gọi tên:
Hiện nay nhiều người thường nhầm lẫn về cách gọi tên của các loại RAM. Nếu như RAMbus RDRAM không có gì để nói thì với dòng SDRAM, việc nhầm lẫn ngày càng lớn dần. Khái niệm RAM (Random Access Memory) thì chắc hẳn ai cũng biết. DRAM hay SDRAM là khái niệm mở rộng hơn (Synchronous Dynamic Random Access Memory – Ram đồng bộ). Ban đầu và thậm chí hiện nay khi nói đến SDRAM người ta thường nghĩ ngay đến RAM loại cũ với tốc độ 100Mhz hay 133Mhz bởi tuy nhiên từ sau khi DDR SDRAM (Double Data Rate SDRAM) ra đời thì khái niệm này hoàn toàn sai lâm. Hãy tham khảo một vài báo giá của các công ty, bạn sẽ thấy họ đã góp phần không nhỏ vào việc khiến người dùng hiểu sai vấn đề. SDRAM là tên gọi chung của một dòng bộ nhớ máy tính, nó được phân ra SDR (Single Data Rate) và DDR (Double Data Rate). Do đó nếu gọi một cách chính xác, chúng ta sẽ có hai loại RAM chính là SDR SDRAM và DDR SDRAM. Cấu trúc của hai loại RAM này tương đối giống nhau, những DDR có khả năng truyền dữ liệu ở cả hai điểm lên và xuống của tín hiệu cho tốc độ nhanh gấp đôi. Trong thời gian gần đây xuất hiện chuẩn RAM mới dựa trên nền tảng DDR là DDR-II, DDR-II có tốc độ cao hơn bởi các thiết kế có nhiều điểm khác biệt.
2. Tốc độ (Speed):
Đây có lẽ là khái niệm được người dùng quan tâm nhất, tuy nhiên có người thắc mắc về cách gọi tên, đối với DDR thì có hai cách gọi theo tốc độ Mhz hoặc theo băng thông mà nó cung cấp, ví dụ khi nói DDR333 tức là thanh RAM đó mặc định hoạt động ở tốc độ 333Mhz những cũng thanh RAM đó theo cách gọi PC2700 thì lại nói về băng thông RAM tức là khi RAM chạy ở tốc độ 333Mhz thì nó sẽ đạt được mức băng thông là 2700MB/s (trên lý thuyết). Tương ứng như thế chúng ta sẽ có bảng sau:

Gọi tên theo băng thông____Gọi tên theo tốc độ Mhz
PC1600__________________DDR200
PC2100__________________DDR266
PC2700__________________DDR333
PC3000__________________DDR366
PC3200__________________DDR400
PC3500__________________DDR433
PC3700__________________DDR466
PC4000__________________DDR500
PC4400__________________DDR533
PC4800__________________DDR600

Thường thì ở Việt Nam thông dụng các loại RAM bus 333 và 400, những loại có bus cao hơn thường xuất hiện ở những series RAM cao cấp như Kingston HyperX, Corsair , Mushkin LV những nói chung khá hiếm tại Việt Nam.
3. CAS Latency:
Đây là khái niệm mà người dùng thắc mắc nhiều hơn bất cứ khái niệm nào khác. Trước đây, khi đi mua RAM, người mua thường chỉ quan tâm tới tốc độ hoạt động của RAM như 100Mhz hay 133Mhz nhưng gần đây, khái niệm CAS đang dần được người dùng để ý bởi nó đóng vai trò khá quan trọng vào tốc độ xử lý tổng thể của hệ thống đặc biệt là với việc ép xung. Vậy CAS là gì ?
CAS là viết tắt của “Column Address Strobe” (địa chỉ cột theo chiều dọc). Một thanh DRAM có thể được coi như là một ma trận của các ô nhớ (bạn có thể hình dung như một bảng tính excel với nhiều ô trống) và dĩ nhiên mỗi ô nhớ sẽ có địa chỉ ngang và dọc. Như vậy bạn có thể đoán ngay ra khái niệm RAS (Row Adress Strobe) nhưng do nguyên lý hoạt động của DRAM là truyền dữ liệu xuống chân nên RAS thường không quan trọng bằng CAS.
Khái niệm độ trễ Latency biểu hiện quãng thời gian bạn phải chờ trước khi nhận được thứ mình cần, theo từ điểm Merriam-Webster thì Latency có nghĩa là “khoảng thời gian từ khi ra lệnh đến khi nhận được sự phản hồi lại”. Vậy CAS sẽ làm việc như thế nào ? và CAS Latency có ý nghĩa gì ? Để hiểu khái niệm này, chúng ta sẽ cùng điểm nhanh qua cách thức bộ nhớ làm việc, đầu tiên chipset sẽ truy cập vào hàng ngang (ROW) của ma trận bộ nhớ thông qua việc đưa địa chỉ vào chân nhớ (chân RAM) rồi kích hoạt tín hiệu RAS. Chúng ta sẽ phải chờ một lát khoảng vài xung nhịp hệ thống (RAS to CAS Delay) trước khi địa chỉ cột hàng dọc được đặt vào chân nhớ và tín hiệu CAS phát ra. Sau khi tín hiệu CAS phát đi, chúng ta tiếp tục phải chờ một khoảng thời gian nữa (đây chính là CAS Latency) thì dữ liệu sẽ được tìm thấy. Điều đó cũng có nghĩa là với CAS 2 chipset phải chờ 2 xung nhịp trước khi lấy được dữ liệu và với CAS3 thời gian chờ sẽ là 3 xung nhịp hệ thống.
Bạn sẽ thắc mắc như vậy phải chăng CAS2 nhanh hơn CAS3 tới 33%, không đến mức như vậy đâu bởi có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến hiệu năng tổng thể của bộ nhớ điển hình như:
+ Chuỗi xử lý thông tin: kích hoạt RAS, chờ khoảng thời gian trế RAS-to-CAS Delay và CAS Latency.
+ Truy cập bộ nhớ theo chuỗi: đôi khi chipset sẽ đọc dữ liệu trong bộ nhớ RAM theo chuỗi (burst) như vậy rất nhiều dữ liệu sẽ được chuyển đi một lần và tín hiệu CAS chỉ được kích hoạt một lần ở đầu chuỗi.
+ Bộ vi xử lý có bộ đệm khá lớn nên sẽ chứa nhiều lệnh truy cập và dữ liệu do đó thông tin sẽ được tìm kiếm trên bộ đệm trước khi truy cập vào RAM và tần số dữ liệu cần được tìm thấy trên bộ đệm (hit-rate) khá cao (vào khoảng 95%).
Nói tóm lại việc chuyển từ CAS 3 sang CAS 2 sẽ tăng hiệu năng xử lý cho tất cả các ứng dụng. Những chương trình phụ thuộc vào bộ nhớ như game hay ứng dụng đồ họa sẽ chạy nhanh hơn. Điều này đồng nghĩa với việc những thanh RAM được đóng dấu CAS2 chắc chắn chạy nhanh hơn những thanh RAM CAS3, nếu bạn dự định mua đồ chơi cho một cuộc đua ép xung hay đơn giản chỉ cần hệ thống đạt tốc độ tối ưu, hãy chọn RAM CAS2 nhưng nếu chỉ là công việc văn phòng, CAS 3 hoàn toàn vẫn đáp ứng được yêu cầu.

4. RAM Refresh Rate:
Thường thì khi nhắc tới khái niệm tần số làm tươi, người ta sẽ nghĩ ngay đến màn hình máy tính CRT tuy nhiên bộ nhớ DRAM (Dynamic Random Access Memory) cũng có khái niệm này. Như bạn đã biết module DRAM được tại nên bởi nhiều tế bào điện tử, mỗi tế bào này phải được nạp lại điện hàng nghìn lần mỗi giây bởi nếu không dữ liệu chứa trong chúng sẽ bị mất. Một số loại DRAM có khả năng tự làm tươi dữ liệu độc lập với bộ xử lý giúp tiết kiệm điện năng thường được sử dụng trong những thiết bị di động (ví dụ như Laptop hay Notebook).

5. SDRAM Access Time:
Việc cho ra đời cách đọc dữ liệu theo từng chuỗi Burst Mode đã giúp khắc phục nhiều nhược điểm và tăng hiệu năng cho RAM, chu kì của chuỗi ngắn hơn rất nhiều chu kì trang của RAM loại cũ. Chu kì của chuỗi cũng được coi như là chu kì xung nhịp của SDRAM và chính vì thế nó được coi như thang xác định cho tốc độ của RAM bởi nó là khoảng thời gian cần thiết giữa các lần xuất dữ liệu theo chuỗi của RAM, những con số -12, -10. -8... ghi trên các chip RAM là đánh dấu khoảng thời gian tối thiểu giữa mỗi lần truy xuất dữ liệu. Nhãn -12 xác định chu kì truy cập dữ liệu của RAM là 12ns (nano-giây) đồng nghĩa với việc tốc độ họat động tối đa của RAM sẽ là 83Mhz. Thường thì RAM có tốc độ cao sẽ sử dụng chip ram có chu kì truy xuất thấp nhưng với chu kì truy xuất thấp thì chưa chắc RAM đã có thể hoạt động ở tốc độ cao do còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác. Do đó đôi khi bạn sẽ gặp trường hợp thanh RAM có tốc độ thấp nhưng khi đem vào “thử lửa” ép xung thì lên được tốc độ cao hơn nhiều so với những loại RAM mặc định dán nhãn tốc độ cao. Nếu muốn biết thêm thông tin, bạn có thể truy cập vào địa chỉ: http://www.dewassoc.com/performance/...ory_speeds.htm
II. Chọn lựa đúng loại RAM:
Khi mua một chiếc máy tính, việc chọn đúng loại RAM là khá quan trọng nhưng lại ít người để ý tới. Mỗi hệ thống sử dụng CPU Intel hay AMD lại “thích” một kiểu RAM khác nhau, ngoài ra việc chọn lựa RAM còn phụ thuộc vào chipset và nhu cầu làm việc hàng ngày của từng người dùng. Thông thường CPU Intel Pentium 4 và Athlon 64 yêu cầu RAM tốc độ cao (bus 400Mhz) trở lên do FSB của CPU khá lớn cho phép băng thông dữ liệu rộng. Nếu như RAM không đáp ứng được mức băng thông đó thì hiện tượng “nghẽn cổ chai” (bottle-neck) sẽ xảy ra, ứng dụng sẽ hoạt động rất chậm. Nếu không xét đến việc Overclock, thông thường khi bạn mua RAM cho máy tính, hãy mua như sau:
1. DDR SDRAM: Như đã nói ở trên, đây đang là loại RAM thông dụng và thịnh hành nhất cho toàn bộ các loại máy tính để bàn vào thời điểm bạn đọc bài viết này.
a. Đối với CPU Intel:
+ Intel Pentium 4-C/E/G/J Front Side Bus 800Mhz: Những loại CPU này có FSB rất lớn nên nếu sử dụng trên nền bo mạch chủ 865/875 hay những chipset series 9 mới nhất (915/925) sẽ đạt tốc độ cao khi có bộ nhớ kênh đôi (Dual Channel DDR) được lắp đặt đúng cách. Về nguyên tắc Dual Channel DDR khá giống với chế độ RAID của đĩa cứng, với 100MB dữ liệu chuyển vào RAM, thay vì vào một thanh RAM đủ 100MB như bình thường, chipset sẽ chuyển vào mỗi thanh RAM 50MB cho rút ngắn thời gian làm việc xuống chỉ còn một nửa. Và như vậy hai thanh RAM DDR bus 400 sẽ cho băng thông lý thuyết lên ngang với mức 800Mhz tương xứng với bus của CPU điều đó cho thấy nếu bạn sử dụng CPU có bus 800 thì việc mua hai thanh RAM DDR bus 400 giống nhau là lựa chọn lý tưởng. Chú ý hai thanh RAM phải giống nhau cả về tốc độ và loại chip nhớ sử dụng, đặc biệt là khi bạn chạy trên nền chipset i875P bởi chipset này khá khó tính, nếu không giống nhau thì rất có thể tính năng PAT sẽ không được kích hoạt và hiệu năng hệ thống sẽ bị giảm sút.
+ Intel Celeron / Pentium4 BUS 400Mhz/533Mhz: Mặc dù những loại CPU có bus khá cao những do thuộc thế hệ cũ hoặc dòng rẻ tiền nên chúng thường được lắp chung với các loại chipset 845, cho đến chipset 845PE thì tốc độ RAM cao nhất được chính thức hỗ trợ chỉ là 333Mhz. Do đó nếu bạn mua RAM DDR400 lắp vào thì sẽ không hợp lý về mặt kinh tế. Như vậy nếu trừ khi bạn dùng bo mạch chủ có chipset 845PE còn nếu không bạn nên chọn các loại RAM có bus 266Mhz và để dành khoản tài chính dư ra cho một lần nâng cấp tổng thể hệ thống sau này.

b. Đối với AMD:
Nếu như từ trước đến nay những dòng CPU của AMD không được ưa chuộng ở Việt Nam do chế độ phân phối và bảo hành không hoàn thiện thì giờ đây với việc Silicom chính thức trở thành nhà phân phối cho AMD, người dùng sẽ hoàn toàn yên tâm sử dụng dòng vi xử lý này, đồng thời trên thị trường cũng xuất hiện thêm nhiều sản phẩm bo mạch chủ và phụ kiện (quạt tản nhiệt, đế lắp socket...) cho CPU AMD. Tuy nhiên có một điều đáng buồn là trước kia sản phẩm của AMD được yêu thích do chi phí thấp mà hiệu năng cao thì giờ đây phương châm đó không còn được như vậy bởi những dòng CPU cao cấp của AMD giá quá cao, thậm chí còn vượt hơn Intel. Tuy nhiên người dùng AMD cần chú ý là bộ xử lý AMD (đặc biệt là AthlonXP) sẽ cho hiệu năng tốt nhất khi RAM chạy đồng bộ với FSB (tốc độ ngang nhau) và CAS Latency thấp (tốt nhất là 2) nên việc chọn đúng RAM là rất quan trọng.
+ Duron/Athlon XP/ Sempron Bus 266: Nếu bạn đang sử dụng những loại CPU này thì dĩ nhiên lựa chọn lý tưởng nhất vẫn là DDR Bus 266Mhz,thường thì do bus thấp nên bạn sẽ có thể tìm được nhiều loại RAM có CAS2, hãy chú ý chi tiết này và chọn lựa sao cho hợp lý.
+ AthlonXP bus 333/400Mhz: Với hai loại CPU này, việc chọn RAM phụ thuộc nhiều vào chipset của mainboard mà bạn sử dụng. Thường thì với các loại chipset thông dụng Via có số hiệu từ 333 trở xuống như KT333, KT266, KM266... thì bạn hãy dùng RAM tốc độ 333, có thể bạn sẽ thắc mắc tại sao lại không tìm mua RAM bus 400Mhz ? Lý do rất đơn giản, việc tìm mua một thanh RAM bus 266 hay 333 có CAS thấp đơn giản hơn nhiều so với tìm được một thanh RAM 400Mhz Cas2. Đối với những chipset như KT400, KT600 hay đặc biệt là nVIDIA nForce 2 thì bạn nên mua DDR400 bởi ngoài việc chúng hỗ trợ sẵn tốc độ này thì đa số CPU AthlonXP Barton của AMD đều có thể chạy tốt ở bus 400Mhz cho dù mặc định chúng chỉ là 333Mhz mà thôi. Tuy nhiên nhớ chú ý lựa chọn thật kĩ trước khi mua vì trên thị trường hiện nay có rất nhiều chủng loại RAM DDR400 với nguồn gốc khác nhau. Chi tiết về việc chọn lựa RAM bạn có thể tham khảo bài viết “Overclock – Được, Mất và những điều cần biết” (PCWorld VN số tháng 9-2003). Chú ý nForce2 hỗ trợ Dual Channel DDR 400Mhz.
+ Athlon 64: Hầu như tất cả các hệ thống Athlon64 đều yêu cầu tối thiểu là RAM bus 400Mhz, những hệ thống Socket939 mới hỗ trợ Dual Channel nên bạn phải nhớ chọn mua cho phù hợp.

2.DDR-II:
Mặc dù đã xuất hiện được một thời gian dài những DDR-II dường như chưa tạo được ấn tượng tốt với người dùng, chìa khóa chính để nhà sản xuất nâng băng thông của DDR-II lên chính là việc nhân chip nhớ chạy ở một nửa tần số của bộ đệm I/O và điều này đồng nghĩa với việc bộ đệm dữ liệu chạy ở tốc độ gấp đôi nhân. Thông thường nếu Ram có tốc độ 100Mhz thì bộ đệm dữ liệu cũng chạy ở tốc độ 100Mhz nhưng với DDR, tốc độ này là 200Mhz. Trong DDR-II, bộ đệm dữ liệu chạy ở 200Mhz vẫn với xung nhịp 100Mhz của RAM, điều này cho phép chúng xử lý được 4 bit dữ liệu trong một xung nhịp vì tốc độ gấp đôi nên khi áp dụng nguyên tắc DDR lên thì chúng ta sẽ được tần số dữ liệu thực lên tới 400Mhz với chỉ 100Mhz tốc độ họat động của RAM. Nói một cách đơn giản hơn:
Với DDR1: 100Mhz xung thực -> 100Mhz bộ đệm dữ liệu -> 200Mhz tốc độ dữ liệu (DDR).
Với DDR2: 100Mhz xung thực -> 200Mhz bộ đệm dữ liệu -> 400Mhz tốc độ dữ liệu (DDR).
Như vậy độ trễ CAS của DDR-II sẽ có nhiều điểm khác biệt so với DDR-I hiện tại và thường được đặt ở mức 4 hoặc 5. Hiện nay ở thị trường trong nước không có nhiều sự lựa chọn về bộ nhớ DDR-II do nhu cầu của người dùng chưa cao mà sản phẩm hiếm, giá đắt. Ngoài ra nếu bạn muốn sử dụng DDR-II cho máy tính để bàn của mình, bạn không có sự lựa chọn nào ở thị trường Việt Nam ngoài những bo mạch chủ có chipset Intel 915 và 925, điều này sẽ kéo theo nhiều nâng cấp khác như CPU Socket 775 và card đồ họa PCI-Express. Mặc dù vậy nhưng tốc độ của DDR-II vào thời điểm hiện tại chưa chứng tỏ được sức cạnh tranh so với DDR truyền thống nên không được người dùng quan tâm nhiều. Bạn có thể tìm thấy một vài sản phẩm của Samsung, Kingston hay KingMax ở nhiều cửa hàng trong cả nước nếu cần.

3. Kinh nghiệm:
Chắc chắn bạn cũng nhận thấy một điều là sự lựa chọn vào thời điểm hiện tại gần như chỉ giới hạn trong loại ram DDR bởi DDR-II và RDRAM hầu như không được quan tâm. Đa số những loại DDR đang được bày bán ở các cửa hàng linh kiện vi tính trong thành phố đều có khả năng họat động trơn tru trên mọi hệ thống, tuy nhiên để có được loại RAM tốt, hiệu năng cao đồng thời lại vẫn nghịch ngợm ép xung được thì bạn sẽ phải bỏ ra một chút công sức. Thông dụng nhất là DDR400 hay còn gọi là PC3200 với hàng chục những thể loại khác nhau và giá cả cũng chỉ chênh nhau từ vài USD cho tới vài chục USD có thể khiến nhiều người mua cảm thấy chóng mặt. Chúng ta sẽ phân nó ra làm hai loại: “bình dân” và “cao cấp”. Những loại RAM bình dân thường không có vỏ thép mà chỉ gồm thanh RAM không, một số hàng thuộc dòng này của những hãng tên tuổi như Corsair hay Kingston thì có thêm hộp nhựa đựng rất lịch sự và ghi rõ là Value RAM. Dòng Value RAM nói chung chất lượng không được đồng đều và phụ thuộc khá nhiều vào loại chipset mà hãng sản xuất sử dụng, mỗi đợt hàng chất lượng lại rất khác nhau nên việc mua được sản phẩm tốt hay dở đa phần đều nhờ may mắn. Ví dụ như Kingston Value RAM PC3200 có đợt là RAM CAS 2.5, có đợt lại là CAS 3, Adata PC3200 có vỏ nhựa lúc mới ra thì bị xem thường nhưng về sau thì lại được khen và sức mua mạnh dẫn tới hiếm hàng. Vậy bí quyết là gì ? Thường thì khi mua RAM thuộc dòng cấp thấp, bạn có thể rất dễ dàng nhìn thấy những kí hiệu ghi trên chip ram và những thanh RAM có chất lượng tốt thường sử dụng chip nhớ của những hãng có tên tuổi như Winbond, Samsung, Hynix, Huyndai, Kingston, Kingmax... chú ý chọn loại RAM có 8 chip nếu có thể. Ngoài ra bạn có thể kiểm tra thông số Access Time thông qua đoạn mã ghi trên chip RAM ví dụ như với một thanh Elixir bình thường có mã số là N2DS25680BT-5T thì -5 chính là thông số bạn cần tìm từ đó suy ra được tốc độ của thanh RAM này là từ khoảng 400Mhz trở lên. Yếu tố cuối cùng mà bạn kiểm tra là chất lượng bản mạch và và độ tinh xảo của mạch in, hãy thử uốn nhẹ thanh RAM để kiểm tra độ bền, một số RAM có các lớp bản mạch dập không được khít và phát ra tiếng kêu khi uốn hơi cong sẽ dế bị hỏng hơn những thanh khác.
Với những dòng RAM cao cấp thì việc lựa chọn sẽ khó khăn hơn nhiều do vỏ hộp lẫn bản thân thanh RAM đều được đóng gói bảo vệ rất kĩ lưỡng (tham khảo hình bên). Việc tháo vỏ đóng gói ra để xem bên trong là không thể, bạn chỉ có thể nhận diện chất lượng của RAM thông qua mã số sản phẩm và ngày tháng sản xuất, tuy nhiên nhìn chung những sản phẩm thuộc dòng cao cấp có chất lượng khá tốt đáp ứng được hầu hết người dùng kể cả khi bạn muốn ép xung, chỉ trừ một vài người thuộc loại hardcore với đầy đủ đồ nghề “xịn” cho Overlocking mới có yêu cầu cao hơn. Những loại RAM tốc độ cao thuộc Series cao cấp nổi bật ở thị trường Việt Nam vào thời điểm hiện tại như sau:
+ Kingston HyperX: Với tốc độ từ 400Mhz cho tới 500Mhz và được phân phối thông qua đại lý chính hãng nên người dùng có thể yên tâm sử dụng, tuy nhiên hệ số CAS của HyperX khá cao nên không được người dùng AMD ưa chuộng. Một số series HyperX sản xuất trước kia sử dụng chipset Winbond BH-5 được dân overlocker săn lùng liên tục.
+ Adata Vitesta: Tốc độ từ 500Mhz đến 600Mhz, giá thành khá rẻ, trong thử nghiệm một thanh Atada Vitesta ngẫu nhiên có thể chạy cas 2.5 (mặc định của nhà sản xuất là 3) ở bus 500Mhz (chế độ kênh đôi Dual Channel) ổn định.
+ Mushkin Level 2 Black Cover: Tốc độ từ 400Mhz tới 466Mhz. Hiện tại đây là loại RAM được giới sành đồ chơi máy tính đánh giá khá cao do khả năng lên được tốc độ cao và CAS thấp, đặc biệt Series mới nhất sử dụng chip nhớ Samsung kí hiệu TCCD cho kết quả tốt hơn nhiều và thậm chí còn vượt xa dòng BH-5 trước kia. Loại chip nhớ TCCD còn được sử dụng cho cả những series RAM có bus mặc định là 600Mhz (PC4800).
+ Corsair: Sau một thời gian dài vắng bóng, hiện tại Corsair đang dần lấy lại phong độ với dòng sản phẩm RAM XMS C2PT cao cấp mới nhất (Revision 4.1) cũng dùng chipset TCCD, trong những thử nghiệm của diễn đàn VOZ, hầu hết các loại RAM sử dụng chipset TCCD đều có thể vượt qua bus 550Mhz dễ dàng thậm chí với hệ số CAS chỉ ở mức 2.5. Ngoài ra hãng còn cung cấp dòng RAM có CAS 2 với dàn đén Data Indicator nháy theo họat động khá đẹp. Tuy nhiên bạn cần lưu ý rằng theo ý kiến nhiều người dùng thì những sản phẩm RAM cao cấp của Corsair có chất lượng không được đồng đều cho lắm.
+ Gskill: Đây là một tên tuổi mới đối với người dùng trong nước, tuy nhiên sự ra mắt của hãng với dòng RAM DDR600 (chip nhớ TCCD) thực sự gây ấn tượng. Mặc dù vậy số lượng hàng không được nhiều và việc tìm mua rất khó khăn.
Ngoài ra những nhà sản xuất như OCZ hay Geil cũng có nhiều sản phẩm cao cấp mà bạn có thể tìm mua nhưng thường khá khó khăn vì không có đại lý phân phối chính thức trong nước.

III. Điều chỉnh BIOS cho phù hợp:
1.Tốc độ:
Muốn tối ưu hóa hiệu năng của RAM, bạn chỉ có cách sử dụng BIOS của máy tính, nhấn Del khi khởi động để vào được BIOS. Thường thi các thông số của RAM chia làm hai mục, tỉ lệ của RAM sẽ nằm trong phần CPU Voltage / Frequency (một số hãng sản xuất lại đưa chúng vào nhóm riêng ví dụ như Soft Menu (Abit), Genie Bios (DFI) ... Trong phần này thì mỗi hãng có cách sắp xếp khác nhau nhưng đều dựa trên một nguyên tắc chung là tốc độ của RAM sẽ tỉ lệ với FSB của CPU theo một hệ số nhất định. Một số hãng như Asus sẽ chọn cách hiển thị tốc độ RAM trực tiếp giúp người dùng không mất thời gian tính toán còn Abit lại chọn cách sử dụng tỉ lệ, bạn sẽ phải nhân chia để có kết quả tốc độ tuy nhiên điều này sẽ giúp bạn có thêm kiến thức và hiểu rõ hơn về thông số của máy tính. Tốc độ của RAM được tính theo tỉ số CPU/DRAM , ví dụ khi CPU có bus ngoài là 200Mhz (ở những CPU bus 800Mhz) và tỉ lệ này là 1:1 thì RAM sẽ chạy ở bus 200Mhz (400Mhz DDR). Khi tỉ lệ là 5:4, bus ngoài CPU là 200Mhz thì tốc độ RAM sẽ là (200/5)*4 = 160Mhz (320Mhz DDR).


Riêng những thông số khác về RAM như CAS Latency, RAS-to-CAS Delay... đều được tất cả các nhà sản xuất đưa vào một nhóm chung có tên là Advance Chipset Configuration. Có thể bạn sẽ cảm thấy hoa mắt nhưng thông số quan trọng nhất là phần DRAM Timing bao gồm bốn thông số chính theo thứ tự là CAS Latency, Act to Precharge Delay, Ras-to-CAS Delay và DRAM Ras Precharge. Nếu bạn gặp thông số RAM kiểu như 2-2-2-5 hay 2-3-3-7 thì đó chính là bốn thông số được xếp theo đúng thứ tự như vậy. Ý nghĩa của những thông số còn lại bạn có thể tham khảo sách hướng dẫn đi kèm của từng bo mạch chủ để biết thêm thông tin.


2. Điện thế:
Cũng trong những hình ảnh trên, bạn có thể thấy có một chỉ số về điện thế cung cấp cho RAM (DRAM Voltage). Thường thì DDR sử dụng mức điện thế 2.5v và DDR-II là 1.8v. Một số loại RAM DDR tốc độ cao có thể yêu cầu tới 2,8v hoặc 2,85v như đã đề cập, đối với những loại này thì bạn phải tham khảo tài liệu hướng dẫn đi kèm để có được thông tin. Tuy nhiên bạn cần tuân theo một nguyên tắc an toàn là: Không nên kéo điện thế lên quá 2,9v nếu không có giải pháp tản nhiệt hữu hiệu vì RAM có thể sẽ bị cháy hoặc phồng IC sau thời gian sử dụng dài. Đối với những loại bo mạch chủ rẻ tiền, bạn sẽ không chỉnh được điện thế của RAM mà chỉ có thể thay đổi được tốc độ. Trong trường hợp này bạn có thể sử dụng một vài món đồ chơi chuyên dụng như DDR Booster của OCZ. Theo thống kê từ phía người dùng, nhưng Chip RAM của Samsung là có khả năng chịu được điện cao nhất và ép xung lên được mức tốc độ tương xứng còn những loại chip của Winbond thì có thể chạy ở tốc độ cao ngay cả với điện thế mặc định hoặc nhỉnh hơn một chút. Điện thế của RAM thậm chỉ cũng ảnh hưởng cả đến Timing nên nếu thanh RAM bạn mua về không chạy được ở mức timing thấp (ví dụ như 2) thì bạn có thể thử đẩy điện thế lên một chút xem sao.



IV. Những món đồ chơi không thể thiếu:
Bạn có thể nhận thấy một điều rất rõ ràng đó là tốc độ của RAM và điện thế sử dụng ngày càng cao hơn. Ban đầu chúng ta có DDR200/ 2.5v thì giờ đây chúng ta đã có DDR500 2,8v (thậm chí là 2.85v đối với một số loại nhất định) hay DDR2-667/1.8v. Hai yếu tố này đã góp phần làm cho nhiệt độ của RAM ngày càng tăng, đó cũng chính là lý do tại sao các loại RAM cao cấp thường có lá thép ốp ở mặt ngoài như bạn thường thấy, ngoài lý do bảo về thì nó còn là giải pháp tản nhiệt mà nhà sản xuất kèm theo sản phẩm của mình. Tuy nhiên nếu bạn mua được RAM loại thường nhưng có tốc độ tốt và khả năng ép xung cao, bạn có thể tham khảo những giải pháp tản nhiệt dành riêng cho RAM đến từ những nhà sản xuất thứ ba như tản nhiệt cho RAM của CoolerMaster.
Nếu cảm thấy khả năng tài chính của mình có giới hạn, bạn có thể tự chế những mẩu tản nhiệt như hình bên với một cục tản nhiệt lớn của CPU và một chiếc cưa sắt. Nếu khéo tay, bạn sẽ có những sản phẩm đẹp mắt không thua gì hàng hiệu. Một số nhà sản xuất lại chọn giải pháp đơn giản hơn bằng cách làm những tấn giải nhiệt giống của hàng hiệu nhưng chất liệu tốt hơn như hợp kim dẫn nhiệt hay đồng đỏ nhưng thực tế chúng không hiệu quả cho lắm mà chỉ mang tính chất trang trí là chính.


Một món đồ chơi nữa cũng đang được ưa chuộng hiện nay là DDR Booster của OCZ tuy nhiên nó khá nguy hiểm và bạn chỉ nên dùng nếu có kinh nghiệm về máy tính. DDR Booster không phải là một thanh RAM mặc dù khi mới nhìn qua thì có vẻ hơi giống. Tuy nhiên nó lại rất gần gũi với RAM nhờ khả năng can thiệp vào hệ thống cấp điện cho RAM, chính vì thế với DDR Booster, bạn có thể chỉnh được điện năng tiêu thụ cho RAM một cách chính xác nhớ đồng hồ đo đi kèm. Việc sử dụng rất đơn giản, bạn chỉ việc cắm vào khe RAM trống rồi vặn chiết áp trong khi theo dõi đồng hồ sao cho hợp lý vì nếu nhiệt độ lên quá cao, RAM có thể bị cháy. Có thể DDR Booster khá đáng sợ nhưng hiệu quả nó mang lại thì không ai có thể chê được vì nếu trước kia bạn phải cần đến mỏ hàn và trình độ điện tử vào loại có hạng nếu muốn chỉnh lại điện của RAM bằng tay thì với DDR Booster, việc cần làm chỉ đơn giản là cắm và vặn. Bạn có thể hình dung những thanh RAM rất thường bình thường bán đầy ngoài hàng có thể chạy ở tốc độ gần gấp đôi hoặc chí ít cũng ngang với các loại RAM xịn hay không ? Câu trả lời là có, dĩ nhiên là với DDR Booster và những giải pháp tản nhiệt hợp lý.
Sau khi đã có đủ những giải pháp về phần cứng, điều quan trọng nhất của việc chọn RAM chính là hiệu năng cao và ổn định, bạn sẽ cần đến những phần mềm chuyên dụng để kiểm tra tốc độ cũng như khả năng hoạt động lâu dài của RAM cho dù chạy ở tốc độ mặc định hay ép xung. Hai chương trình sáng giá nhất được người dùng đánh giá cao là Sisoft Sandra 2005 (http://www.sisoftware.co.uk/) và Passmark Burn-in Test (http://www.passmark.com). Hai chương trình này có khả năng kiểm tra băng thông của RAM kèm theo thử nghiệm tối đa sức lực của RAM để phát hiện lỗi nếu có. Nếu như RAM của bạn đạt được thời gian kiểm tra từ 8 đến 10 tiếng và tốc độ chấp nhận được thì bạn là người may mắn, nếu không hãy kiểm tra lại toàn bộ mọi thiết bị hoặc liên hệ với nơi bán để đổi loại khác.
Tóm lại, việc chọn mua một loại RAM đúng với cấu hình máy tính và phù hợp với công việc của mình là rất quan trọng. Việc mua RAM từ các hãng tên tuổi dĩ nhiên sẽ đảm bảo cho bạn về chất lượng cũng như khả năng bảo hành. Mặc dù đa số các loại RAM trên thị trường vào thời điểm hiện tại đều có thời hạn bảo hành 3 năm nhưng sẽ thật là phiền toái nếu khả năng Ram hỏng xảy ra và bạn phải chạy đi chạy lại để liên lạc với cửa hàng bán, chưa kể đến chuyện thanh RAM chập chờn có thể cho dữ liệu quan trọng của bạn ra đi không lời từ biệt chỉ trong tích tắc. Nói chung nếu là máy tính cho văn phòng, bạn hoàn toàn có thể mua những loại RAM bình dân giá thấp để tiết kiệm chi phí, dĩ nhiên là phải kiểm tra cẩn thận. Còn nếu như bạn là dân chơi Overclock sành sỏi hoặc thường xuyên chơi game tốc độ cao hay chỉ đơn giản là muốn làm cho chiếc máy tính của mình trông “xịn” hơn thì có thể lướt qua dòng sản phẩm cao cấp nhưng hãy nhớ kiểm tra cái ví của mình trước vì giá của chúng chắc chắn không hề rẻ chút nào.

THINHRAZOR21428
13-05-2008, 08:00
Bài giới thiệu đã nói là DRAM cần có chu kì làm tươi, mình muốn hỏi là:Vì sao mình phải cần làm tươi cho nó.

=> Điện tích tụ điện trong một ô nhớ DRAM sẽ bị thay đổi theo thời gian vì xảy ra việc phóng hoặc nạp qua transistor và lớp điện môi ôxit, điều này sẽ làm số liệu có thể bị thay đổi. Đo đó điện tích tụ sẽ phải được nạp lại một cách tuần hoàn gọi là làm tươi. Trong quá trình đọc hoặc viết một bit nhớ trong chip DRAM thì các hàng nhớ khi được đọc hoặc viết đã được tự động làm tươi rồi. Thông thường DRAM phải được làm tươi định kì từ 1 đến 16ms tùy thuộc vào loại chip.
Thông thường có 3 phương pháp làm tươi phổ biến sau:
1. Chỉ kích hoạt RAS (RAS-Only-Refresh)
2. Kích hoạt CAS trước RAS (CAS-Before-RAS-Refresh)
3. Làm tươi ẩn (Hidden-Refresh)

Những bản mạch chính loại mới với các chipset có thể chương trình hóa được, ngoài loại làm tươi thứ nhất thường cho phép hoạt động cả hai loại sau. Thường hai loại sau được dùng vì nhanh và hiệu quả hơn. Đây là phương pháp áp dụng cách như ở máy tính mainframe và workstation cho phép giải phóng chip DMA để cho nó làm việc khác cần hơn.

-DRAM, DDRAM, DDR II có khác nhau về bản chất không?

=> DRAM, DDRAM, DDR II thuộc các mô-đun nhớ DRAM hiện đại. Các chip nhớ DRAM thường được thiết kế lắp đặt thành các mô-đun nhớ (thanh RAM) cắm ngay trên các Slot của bản mạch chính gần vi xử lý. Do tốc độ làm việc của các vi xử lý ngày càng cao nên việc thiết kế đảm bảo tốc độ truy cập cần thiết là quan trọng. Vì vậy các chip DRAM được cải tiến thường xuyên => Tuy có chung nhiệm vụ nhưng chúng hoàn toàn khác nhau về bản chất.
Việc đóng gói các RAM được thực hiện theo một số loại.

Ra đời đầu tiên là các thanh nhớ SIM (single in line memory module), SIP (sigle in line pin packet). Các thanh nhớ này có một hàng chân cắm vào 1 khe cắm riêng. Bề rộng chuẩn là 9bit và với 1 số chip được thích hợp lắp để đạt được dung lượng nhớ mong muốn.

Các thanh nhớ hai hàng chân DIMM (dual in line memory module) với 169 chân (64 bit dữ liệu không kiểm tra chẵn lẻ) và 72 chân (có kiễm tra chẵn lẻ). Các mô-đun kích thước nhỏ như SO-DIMM được dùng trong laptop.
Các chip DRAM trong bộ nhớ chính vài năm trước hầu như sử dụng loại RAM hoạt động ở chế độ trang nhanh FPM RAM (fast page mode RAM) cho phép đọc/viết liên tiếp các số liệu trong 1 hàng mà không bị trễ do thời gian tiền nạp và thời gian nhập hàng.

Tuy nhiên các FPM RAM có tốc độ làm việc trên bus không quá 30MHz. Chúng không thể làm việc tốt với các CPU hiện nay có tốc độ xử lý nhanh hơn. Vì vậy thời gian gần đây đã cho ra đời loại RAM ghi trước dữ liệu EDO RAM (Extended data out RAM). Đây là những DRAM cho phép định giờ trùng lặp giữa những truy xuất liên tiếp.

Các chip DRAM đồng bộ SDRAM (synchronuos DRAM) là một cải tiến khác cho phép sử dụng với các bus có nhịp đồng hồ quá 100MHz. Trong khi DRAM có 1 ghép nối không đồng bộ, tức là nó sẽ phản ứng ngay lập tức với sự thay đổi từ các lối vào điều khiển; thì SDRAM có ghép nối đồng bộ, tức là nó sẽ đợi một xung nhịp trước khi đáp ứng với các tin hiệu vào. Xung nhịp đồng bộ được dùng để điều khiển một cơ chế cho phép thực hiện việc truy suẩt dữ liệu theo kiểu đường ống. Hoạt động của đường ống ở đây là chip có thể chấp nhận một lệnh mới khi nó kết thúc xử lý lệnh trước đó. Trong xử lý viết theo đường ống, lệnh viết có thể ngay lập tức được tiếp theo bởi một lệnh khác mà không cần chờ cho số liệu đã được viết vào bộ nhớ xong chưa. Trong chu kì dọc đường ống, dữ liệu được đòi hỏi đảm bảo xuất hiện sau lệnh đọc một số cố định chu kì nhịp đồng hồ. Do đó không cần thiết phải đợi dữ liệu xuất hiện mà có thể gửi ngay lệnh tiếp theo. Thời gian trễ này (latency) là một thông số quan trọng. SDRAM được giới thiệu lần đầu vào năm 1997 và đến những năm 2000 nó đã thay thế DRAM trong các máy tính hiện đại do tốc độ nhanh.

DDR SDRAM (Double data rate) là phát triển mới của SDRAM. Tất cả các loại SDRAM chỉ dùng cho một sườn khung lên hoặc xuống trong một chu kì nhịp đồng hồ làm tín hiệu đồng bộ. DDR SDRAM dùng cả ai sườn xung, do đó có thể giảm một nửa tốc độ nhịp đồng hồ với một tốc độ truyền dữ liệu đã cho. Từ DDR đến nay đã có các loại DDR2, DDR3. Sự khác nhau giữa chúng chỉ là nguồn cung cấp cũng như vài đặc điểm ghép nối. DDR có nguồn VDD=2,5V, DDR2 có nguồn 1,8V và DDR3 đến nay chưa chuẩn có cỡ từ 1,2 đến 1,6V

Ngoài ra con có các loại như:
DRDRAM (Direct Rambus DRAM)
VRAM (Video RAM)
SGRAM (synchronous graphics RAM)
PSRAM (pseudostatic RAM).

-Vì sao SRAM lại mất dữ liệu khi tắt nguồn điện?

=> SRAM la một trong những loại linh kiện nhớ bán dẫn. Mỗi linh kiện nhớ bán dẫn lại có những nguyên lý hoạt động riêng khác nhau. Có thể liệt kê các loại linh kiện nhớ bán dẫn như: ROM (Read Only Memory), PROM (Programmable ROM), EPROM (Erasable PROM), EEPROM ( Electrically EPROM), RAM(Random Access Memory).
Tronng số đó, RAM(Random Access Memory) là loại bộ nhớ có thể ghi và đọc được. Đây là loại chip nhớ bay hơi (volatile) tức là thông tin trữ trong nó sẽ bị mất khi cắt nguồn điện nuôi. RAM có hai loại RAM động, viết tắt là DRAM (dinamic RAM) và RAM tĩnh, được viết tắt là SRAM (static RAM).

THINHRAZOR21428
13-05-2008, 08:02
Bài giới thiệu đã nói là DRAM cần có chu kì làm tươi, mình muốn hỏi là:Vì sao mình phải cần làm tươi cho nó.

=> Điện tích tụ điện trong một ô nhớ DRAM sẽ bị thay đổi theo thời gian vì xảy ra việc phóng hoặc nạp qua transistor và lớp điện môi ôxit, điều này sẽ làm số liệu có thể bị thay đổi. Đo đó điện tích tụ sẽ phải được nạp lại một cách tuần hoàn gọi là làm tươi. Trong quá trình đọc hoặc viết một bit nhớ trong chip DRAM thì các hàng nhớ khi được đọc hoặc viết đã được tự động làm tươi rồi. Thông thường DRAM phải được làm tươi định kì từ 1 đến 16ms tùy thuộc vào loại chip.
Thông thường có 3 phương pháp làm tươi phổ biến sau:
1. Chỉ kích hoạt RAS (RAS-Only-Refresh)
2. Kích hoạt CAS trước RAS (CAS-Before-RAS-Refresh)
3. Làm tươi ẩn (Hidden-Refresh)

Những bản mạch chính loại mới với các chipset có thể chương trình hóa được, ngoài loại làm tươi thứ nhất thường cho phép hoạt động cả hai loại sau. Thường hai loại sau được dùng vì nhanh và hiệu quả hơn. Đây là phương pháp áp dụng cách như ở máy tính mainframe và workstation cho phép giải phóng chip DMA để cho nó làm việc khác cần hơn.

-DRAM, DDRAM, DDR II có khác nhau về bản chất không?

=> DRAM, DDRAM, DDR II thuộc các mô-đun nhớ DRAM hiện đại. Các chip nhớ DRAM thường được thiết kế lắp đặt thành các mô-đun nhớ (thanh RAM) cắm ngay trên các Slot của bản mạch chính gần vi xử lý. Do tốc độ làm việc của các vi xử lý ngày càng cao nên việc thiết kế đảm bảo tốc độ truy cập cần thiết là quan trọng. Vì vậy các chip DRAM được cải tiến thường xuyên => Tuy có chung nhiệm vụ nhưng chúng hoàn toàn khác nhau về bản chất.
Việc đóng gói các RAM được thực hiện theo một số loại.

Ra đời đầu tiên là các thanh nhớ SIM (single in line memory module), SIP (sigle in line pin packet). Các thanh nhớ này có một hàng chân cắm vào 1 khe cắm riêng. Bề rộng chuẩn là 9bit và với 1 số chip được thích hợp lắp để đạt được dung lượng nhớ mong muốn.

Các thanh nhớ hai hàng chân DIMM (dual in line memory module) với 169 chân (64 bit dữ liệu không kiểm tra chẵn lẻ) và 72 chân (có kiễm tra chẵn lẻ). Các mô-đun kích thước nhỏ như SO-DIMM được dùng trong laptop.
Các chip DRAM trong bộ nhớ chính vài năm trước hầu như sử dụng loại RAM hoạt động ở chế độ trang nhanh FPM RAM (fast page mode RAM) cho phép đọc/viết liên tiếp các số liệu trong 1 hàng mà không bị trễ do thời gian tiền nạp và thời gian nhập hàng.

Tuy nhiên các FPM RAM có tốc độ làm việc trên bus không quá 30MHz. Chúng không thể làm việc tốt với các CPU hiện nay có tốc độ xử lý nhanh hơn. Vì vậy thời gian gần đây đã cho ra đời loại RAM ghi trước dữ liệu EDO RAM (Extended data out RAM). Đây là những DRAM cho phép định giờ trùng lặp giữa những truy xuất liên tiếp.

Các chip DRAM đồng bộ SDRAM (synchronuos DRAM) là một cải tiến khác cho phép sử dụng với các bus có nhịp đồng hồ quá 100MHz. Trong khi DRAM có 1 ghép nối không đồng bộ, tức là nó sẽ phản ứng ngay lập tức với sự thay đổi từ các lối vào điều khiển; thì SDRAM có ghép nối đồng bộ, tức là nó sẽ đợi một xung nhịp trước khi đáp ứng với các tin hiệu vào. Xung nhịp đồng bộ được dùng để điều khiển một cơ chế cho phép thực hiện việc truy suẩt dữ liệu theo kiểu đường ống. Hoạt động của đường ống ở đây là chip có thể chấp nhận một lệnh mới khi nó kết thúc xử lý lệnh trước đó. Trong xử lý viết theo đường ống, lệnh viết có thể ngay lập tức được tiếp theo bởi một lệnh khác mà không cần chờ cho số liệu đã được viết vào bộ nhớ xong chưa. Trong chu kì dọc đường ống, dữ liệu được đòi hỏi đảm bảo xuất hiện sau lệnh đọc một số cố định chu kì nhịp đồng hồ. Do đó không cần thiết phải đợi dữ liệu xuất hiện mà có thể gửi ngay lệnh tiếp theo. Thời gian trễ này (latency) là một thông số quan trọng. SDRAM được giới thiệu lần đầu vào năm 1997 và đến những năm 2000 nó đã thay thế DRAM trong các máy tính hiện đại do tốc độ nhanh.

DDR SDRAM (Double data rate) là phát triển mới của SDRAM. Tất cả các loại SDRAM chỉ dùng cho một sườn khung lên hoặc xuống trong một chu kì nhịp đồng hồ làm tín hiệu đồng bộ. DDR SDRAM dùng cả ai sườn xung, do đó có thể giảm một nửa tốc độ nhịp đồng hồ với một tốc độ truyền dữ liệu đã cho. Từ DDR đến nay đã có các loại DDR2, DDR3. Sự khác nhau giữa chúng chỉ là nguồn cung cấp cũng như vài đặc điểm ghép nối. DDR có nguồn VDD=2,5V, DDR2 có nguồn 1,8V và DDR3 đến nay chưa chuẩn có cỡ từ 1,2 đến 1,6V

Ngoài ra con có các loại như:
DRDRAM (Direct Rambus DRAM)
VRAM (Video RAM)
SGRAM (synchronous graphics RAM)
PSRAM (pseudostatic RAM).

-Vì sao SRAM lại mất dữ liệu khi tắt nguồn điện?

=> SRAM la một trong những loại linh kiện nhớ bán dẫn. Mỗi linh kiện nhớ bán dẫn lại có những nguyên lý hoạt động riêng khác nhau. Có thể liệt kê các loại linh kiện nhớ bán dẫn như: ROM (Read Only Memory), PROM (Programmable ROM), EPROM (Erasable PROM), EEPROM ( Electrically EPROM), RAM(Random Access Memory).
Tronng số đó, RAM(Random Access Memory) là loại bộ nhớ có thể ghi và đọc được. Đây là loại chip nhớ bay hơi (volatile) tức là thông tin trữ trong nó sẽ bị mất khi cắt nguồn điện nuôi. RAM có hai loại RAM động, viết tắt là DRAM (dinamic RAM) và RAM tĩnh, được viết tắt là SRAM (static RAM).
<Phím Windows> + D (mở desktop)

<Phím Windows > + E (mở cửa sổ trình bày các ổ của máy tính)

<Phím Windows> + F (mở cửa sổ tìm kiếm của Windows)

<Phím Windows> + R (mở cửa sổ Run)

<Phím Windows> + T (đi qua các icon ứng dụng trên desktop, di chuyển bằng phím mũi tên, chọn bằng phím Enter)

Dành riêng cho Windows Vista

<Phím Windows> + G (đi qua các Gadgets)

<Phím Windows> + L (khóa máy tính)

<Phím Windows> + U (kích hoạt Ease of Access Center)

<Phím Windows> + X (đi qua các icon trong Windows Mobility Center)

<Phím Windows> + CTRL + Tab (mở giao diện cửa sổ xếp lớp chéo Flip 3D)

THINHRAZOR21428
13-05-2008, 08:03
Những phím tắt "vô giá" trong Windows

Thường ngày, bạn vẫn quen dùng chuột để chạy các ứng dụng trong Windows nhưng giờ đây, với việc sử dụng phím tắt trên bàn phím, bạn có thể tiết kiệm thời gian và công việc trở nên rất hiệu quả đấy.

1/ Phím tắt chung

http://i215.photobucket.com/albums/cc223/bienla/1-1.jpg
http://i215.photobucket.com/albums/cc223/bienla/2-2.jpg
http://i215.photobucket.com/albums/cc223/bienla/3-3.jpg

THINHRAZOR21428
13-05-2008, 08:04
2/ Phím tắt trên hộp thoại

http://i215.photobucket.com/albums/cc223/bienla/4-3.jpg
3/ Phím đặc biệt trên bàn phím

http://i215.photobucket.com/albums/cc223/bienla/6-1.jpg

THINHRAZOR21428
13-05-2008, 08:05
Những phần mềm Portable nên có trong USB


Portable là phần mềm không cần cài đặt để sử dụng, nó có thể chỉ gồm 1 file duy nhất để kích hoạt chương trình, rất nhỏ gọn và trên hết là miễn phí. Bạn có thể lưu trữ cùng lúc nhiều chương trình dạng Portable trên USB của mình để dễ dàng sử dụng. Bài viết sau đây xin giới thiệu đến bạn những phần mềm Portable với mục đích giao tiếp.


Bạn thường xuyên liên lạc và giao tiếp với bạn bè hay thậm chí là đối tác thông qua Internet. Yahoo Messenger có thể nói là phần mềm giao tiếp quen thuộc và thông dụng nhất hiện nay, tuy nhiên bên cạnh đó còn phải kể đến những phần mềm giao tiếp thông dụng khác như MSN, Skype, GTalk…

Bình thường, máy tính của bạn đã có cài đặt toàn bộ những phần mềm này và có thể dùng ngay bất cứ khi nào cần thiết, tuy nhiên, trong trường hợp bạn không sử dụng máy tính của mình nhưng lại muốn sử dụng những phần mềm này thì việc download và cài đặt cùng lúc nhiều chương trình như vậy thì quả thật là rất phiền hà. Trong trường hợp như vậy, bạn có thể nhờ đến sự giúp đỡ của những phần mềm Portable sau đây.


- Pidgin Portable: Đây là một chương trình Portable rất hữu ích cho việc giao tiếp thông qua Internet của bạn, Pidgin bao gồm những chương trình giao tiếp thông dụng nhất hiện nay như Yahoo Messenger, AOL, MSN… do đó bạn chỉ cần sử dụng một mình Pidgin mà không cần phải cài đặt cùng một lúc quá nhiều phần mềm giao tiếp, sẽ tiện lợi hơn rất nhiều. Thêm vào đó, Pidgin còn cho phép bạn đăng nhập cùng lúc nhiều tài khoản khác nhau ứng với những tiện ích giao tiếp khác nhau, chẳng hạn bạn có thể đăng nhập cùng lúc tài khoản Yahoo Messenger của mình và một tài khoản MSN nếu bạn có nhu cầu sử dụng.

Pidgin là một ứng dụng Portable nên bạn có thể sử dụng mà không cần phải cài đặt trước đó một ứng dụng giao tiếp nào khác, rất hữu ích cho bạn trong trường hợp muốn sử dụng nhanh một máy tính để liên lạc hoặc giao tiếp với bạn bè mà không muốn mất quá nhiều thời gian để tải và cài đặt các ứng dụng giao tiếp. Giao diện của Pidgin rất thân thuộc và khá giống với giao diện của các chương trình giao tiếp thông dụng khác, do đó bạn sẽ không gặp quá nhiều khó khăn trong quá trình sử dụng.
Download Pidgin Portable tại http://portableapps.com/apps/internet/pidgin_portable (Dung lượng 12,4 MB)


- Miranda IM: Cũng tương tự như Pidgin, Miranda IM cũng là một chương trình dạng Portable với chức năng giao tiếp qua Internet. Miranda IM hỗ trợ Yahoo Messenger, AOL, MSN, IRC… Hơn nữa, Miranda IM chỉ sử dụng rất ít tài nguyên hệ thống nên không hề làm ảnh hưởng đến tốc độ của máy, thậm chí vẫn có thể chạy tốt trên những máy có cấu hình thấp. Tuy nhiên, giao diện của Miranda IM lại khá là rườm rà và phức tạp hơn so với Pidgin.

Miranda IM có dung lượng rất nhỏ (chỉ 2MB, nhỏ hơn rất nhiều so với Pidgin), download tại http://portableapps.com/apps/internet/miranda_portable


- Adium: Windows là hệ điều hành thông dụng và phổ biến nhất hiện nay, điều đó không có nghĩa là tất cả các phần mềm đều dành cho Windows. Adium là một phần mềm giao tiếp dạng Portable dành cho hệ điều hành Mac, với chức năng tương tự như 2 phần mềm trên, cũng bao gồm những tính năng của Yahoo Messenger, MSN, AOL…

Điều này có nghĩa rằng cho dù bạn sử dụng bất kỳ máy tính của ai với bất kỳ hệ điều hành nào đi chăng nữa thì bạn vẫn có thể dễ dàng giao tiếp với bạn bè và đối tác thông qua Internet.
Download Adium tại http://www.freesmug.org/portableapps/adium/, với 2 phiên bản, phiên bản dành cho hệ điều hành Mac OS X 10.4 trở lên (dung lượng 17,5MB) và phiên bản dành cho hệ điều hành Mac OS X 10.4 trở xuống với dung lượng chỉ 11,9 MB)


- Portable Yahoo Messenger: Nếu như những phần mềm Portable trên kia tập hợp nhiều ứng dụng giao tiếp khác nhau thì với Portable Yahoo Messenger, bạn sẽ cảm thấy quen thuộc và dễ dàng sử dụng hơn, từ giao diện cũng như hình tính năng của Yahoo Messenger mà hầu như tất cả chúng ta đều đã sử dụng qua.

Portable YM là phần mềm dạng Portable của chương trình giao tiếp thông dụng YM. Thông thường, khi cài đặt YM, bạn phải mất một khoản thời gian để vừa download vừa cài đặt từ server của Yahoo, nhưng với Portable YM thì bạn có thể sử dụng ngay chương trình giao tiếp quen thuộc này mà không hề phải mất một chút thời gian cài đặt nào. Giao diện và tính năng của chương trình Portable này không hề khác so với chương trình được cài đặt bình thường, do đó hẳn bạn sẽ không phải quá khó khăn và quá mất thời gian để tìm hiểu cách thức sử dụng.

Đầu tiên, khi kích hoạt chương trình, bạn sẽ nhận được một giao diện gồm 3 nút, bạn click vào nút Launch để kích hoạt chương trình.

Sau khi click vào Launch, cửa sổ đăng nhập YM sẽ hiện ra, của sổ này không hề khác gì so với cửa sổ đăng nhập YM bình thường, việc tiếp theo của bạn là đăng nhập vào tài khoản và sử dụng chương trình như YM phiên bản thông thường.

Download Portable Yahoo Messenger (phiên bản 8.1) tại http://www.ziddu.com/download.php?uid=a7Cd...yZlJyiZq6WlZSt6 (dung lượng 9.12 MB)



- Skype: Một tiện ích giao tiếp khác thông quan Internet đang ngày càng phổ biến và thông dụng đó là Skype. So với YM thì Skype không thông dụng bằng, tuy nhiên do những tính năng của nó, đặc biệt là tính năng gọi điện thoại từ PC đến PC nên Skype ngày càng được nhiều người sử dụng Internet biết đến. Nếu bạn là một người thường xuyên sử dụng Skype đểl iên lạc thông qua Internet thì hẳn bạn cần phải có một chương trình dạng Portable của Skype trong USB của mình.

Một điều đáng tiếc là chưa có sẵn một phàn mềm dạng Portable nào của Skype để bạn có thể sử dụng. Tuy nhiên, sau đây chúng tôi sẽ giới thiệu đến bạn cách thức cách thức để tự tạo cho mình một phần mềm dạng Portable của Skype trên USB của mình.

+ Đầu tiên, bạn download và cài đặt Skype phiên bản bình thường tại http://www.skype.com/download/

+ Tiếp theo, bạn vào USB của mình tạo một thư mục mang tên Data.

+ Sau khi cài đặt, bạn tìm đến thư mục cài đặt Skype (thông thường là thư mục C:\Program Files\Skype\Phone\Skype.exe), copy file Skype.exe và dán vào thư mục data đã tạo trước đó.

+ Bây giờ, bạn hãy mở chương trình notepad, copy đoạn nội dung sau vào cửa sổ soạn thảo văn bản NotePad: skype.exe /datapath:"Data" /removable.

+ Cuối cùng, tại cửa sổ NotePad, bạn chọn Files -> Save. Ở mục file name bạn đặt tên file là skype.bat và chọn vị trí để lưu file chính là thư mục Data trên USB của bạn. (Nghĩa là bây giờ, trong thư mục Data đó bao gồm 1 file Skype.bat bạn vừa tạo ra và file Skype.exe đã có trước đó.

Vậy là bạn đã tạo xong cho mình một ứng dụng dạng Portable của Skype. Mỗi khi bạn cần sử dụng Skype, bạn chỉ cần kích hoạt file Skype.bat là có thể sử dụng trên bất kỳ máy tính nào mà không cần phải download hay cài đặt Skype trên máy tính đó.



- Ngoài những chương trình dạng Portable kể trên, nếu có nhu cầu sử dụng nhanh những ứng dụng giao tiếp thông qua Internet, bạn có thể nhờ đến những trang web cung cấp những dịch vụ này, như http://webmessenger.yahoo.com (dịch vụ chat Yahoo Messenger của Yahoo) hay http://meebo.com (dịch vụ giao tiếp với nhiều lựa chọn cho bạn) hay http://iloveim.com... Hy vọng, với những thông tin trên sẽ cung cấp cho bạn nhiều sự lựa chọn khác nhau để đáp ứng tốt nhất nhu cầu giao tiếp của bạn thông qua Internet.

THINHRAZOR21428
13-05-2008, 08:06
Hôm nay có người hỏi mình rằng: "Máy đang format cài lại Windows nhưng khi cài đến nhập CD Key là máy tự động restart lại liên tục", lỗi do đâu?

Lỗi này chắc chắn do phần cứng và 90% là do RAM, nếu máy bạn bị lỗi này nên kiểm tra RAM, nếu RAM ok thì chỉ có thể do Mainboard mà thôi.

Có người thì bảo do bộ nguồn, nhưng theo kinh nghiệm của mình thì nếu do nguồn thì máy sẽ bị treo hoặc tắt phụt luôn.

Còn vài ngày trước mình đi công tác ở Hải Phòng, có anh bạn đồng nghiệp hỏi rằng: "máy boot vào Windows được, nhưng chỉ sử dụng được 5->10phut lại treo cứng ngắt", lỗi này là do đâu?

Ban đầu mình bảo ảnh test thử cây quạt của CPU có đủ mát ko? nhưng quạt của CPU ok.

Thế là mình kiểm tra đến máy cái tụ trên mainboard, hóa ra là có một cái tụ bị bụp (rỉ xét, bị chảy nước), và mình bảo anh ta là do mấy cại tụ này, anh ấy là dân điện tử mà, liền thay máy cái tụ khác thế là máy hoạt động bình thường ko bị treo nữa :)

Còn nếu bạn nhìn vào cái Mainboard mà ko thấy cái tụ nào có vấn đề thì chắc chắn là do Mainboard bị lỗi gì rồi, tốt nhất là đem ra tiệm cho người ta kiểm tra mainboard thế nào.

Còn lần gần đây nhất mình bị rối trí với máy Laptop của sếp mình, "máy boot vào được tới màn hình chờ Windows XP là đứng luôn, ko vào được Windows" hehe, lỗi này thì dở khóc dở cười.

Ban đầu tưởng rằng do lỗi System của Windows nên mình thử repair lại OS, nhưng khi repair đến đoạn boot vào trong Windows lại đứng luôn ở màn hình chớ Windows XP, đến đây là bắt đầu bủn rủn tay chân rồi, ngồi phân tích một hồi thì nghĩ rằng nếu do RAM thì không thể nào chạy vào đến màn hình chờ được, vì RAM là phần dùng để đọc lúc copy files, còn nếu do HDD thì chắc chắn là lúc trước khi copy files đã báo lỗi rồi, cho nên kết luận cuối cùng là do Mainboard, vậy là tôi đem cái máy đến Long Bình trên Nguyễn Cư Trinh sửa cái mainboard, kỹ thuật ở đó chỉ mất có 2h đồng hồ với máy cái chíp trên mainboard là máy hoạt động được bình thường.

Máy móc giờ nhiều thứ cục gạch lắm, cứ hư linh thinh, bị phần mềm thì dễ chứ đụng vào phần cứng là phải tốn tiền rồi

THINHRAZOR21428
13-05-2008, 08:06
Nếu máy tính không nhận ra ổ USB hay không cho tắt thiết bị này dù bạn đã cố gắng làm đúng quy trình, hãy thử những cách dễ làm sau đây.



Muốn tắt ổ khi Windows không cho tắt

Khi muốn gỡ thiết bị này ra khỏi PC, đôi khi người dùng thấy thông báo ổ này không thể tắt ngay và hãy thử lần sau.

Cách 1. Hãy mở task bar và khay hệ thống để kiểm tra xem có chương trình gì đang chạy các file ngoài ổ USB không và hãy đóng chúng lại. Thực ra, khi bạn đã tắt các file đó nhưng vẫn có một số chương trình chạy chúng.

Cách 2. Nếu vẫn chưa được, hãy dùng Windows Task Manager:

- Nhấn tổ hợp phím Ctrl-Alt-Delete để mở cửa sổ này. Nếu dùng Windows Vista thì chỉ cần nhấn Start Task Manager.

- Trên cửa sổ Windows Task Manager, nhấn thẻ Processes.

- Kiểm tra danh sách các hoạt động xử lý của máy tính, tìm những gì có liên quan đến ổ USB, ví dụ một cái tên tương tự như trên ổ.

- Nếu thấy, hãy chọn nó và nhấn nút End Process > OK.

- Thử tắt ổ USB lần nữa.

Cách 3. Nếu Windows vẫn chưa cho phép gỡ ổ, người dùng có thể áp dụng "biện pháp mạnh" là tắt máy tính, tháo USB ra và khởi động lại máy.

Cách 4. Dùng phần mềm USB Safely Remove (giá 20 USD) để hiển thị các hoạt động gây trục trặc cho máy tính và tắt một cách nhanh chóng.

Ổ USB chạy chậm

Định dạng ổ USB theo chuẩn NTFS có thể tăng tốc độ lên 70% so với FAT. Tuy nhiên, vấn đề là chuẩn chỉ tương thích với hệ điều hành Windows 2000, XP và Vista. Tùy theo cấu hình của hệ thống, người ta cũng có thể dùng nó trên máy chạy hệ điều hành Mac hay Linux. Như vậy, tùy theo từng máy, ổ USB dùng NTFS mới phát huy hiệu quả. Còn hầu hết các máy tính hiện nay đều đọc dữ liệu định dạng FAT và FAT32.

Nhưng định dạng NTFS có thể gây ra rắc rối vì nó lưu trữ các thao tác ghi và người ta dễ mất dữ liệu khi rút ổ USB trước khi nhận được thống báo "tháo ổ an toàn".

Dù vậy, với những người cần tốc độ có thể làm theo cách sau:

- Trong cửa sổ danh mục ổ, nhấn chuột phải vào ổ flash và nhấn Properties.

- Chọn thẻ Hardware > chọn ổ flash trong danh sách.

- Nhấn nút Hardware.

- Trong hộp thoại kết quả, nhấn thẻ Policies > Optimize for performance > OK > OK.

- Nhấn chuột phải vào ổ flash và chọn Format...

- Trong menu File system xổ xuống, chọn NTFS và nhấn NTFS.

Máy tính không "nhìn" thấy ổ USB

Trước hết, thử cắm USB vào máy tính khác và cắm ổ USB khác vào máy tính này để tìm hiểu nguyên nhân. Dù vậy, người dùng có thể thử gỡ bỏ cài đặt và cài lại trình điều khiển một cách dễ dàng.

- Cắm USB vào máy tính.

- Nếu dùng Windows XP, chọn Start > Programs > chuột phải vào My Computer > Properties. Nhấn thẻ Hardware > Device Manager. Nếu dùng Vista, nhấn Start > gõ dòng devide manager > nhấn phím Enter.

- Bạn sẽ tìm thấy ổ này được liệt kê dưới mục Disk drives.

- Nhấn chuột phải vào ổ này và chọn Uninstall > OK.

- Tháo ổ USB cà cắm lại. Trình điều khiển sẽ tự động cài đặt lại.

Hệ điều hành Vista có trục trặc là không nhận ra ổ trong một số tình huống như PC đang trong trạng thái nghỉ (Hibernate). Microsoft phát hành bản vá cho lỗi này vào tháng 10/2007 nhưng chỉ bản chính hãng mới cập nhật

THINHRAZOR21428
13-05-2008, 08:06
Quan trọng hàng đầu của việc hỗ trợ tùy biến, chỉnh sửa theo ý thích trên hệ điều hành Windows là Control Panel.

Dù không phải là một phần mềm mã nguồn mở nhưng hệ điều hành Windows của hãng Microsoft cũng để ngỏ cho người sử dụng nhiều khả năng tùy biến cho phù hợp với nhu cầu cá nhân của mỗi người dùng.

Control Panel được hiểu theo tiếng Việt là cái bảng điều khiển; có người gọi đó là ô chỉnh sửa, hoặc khung điều chỉnh… Dù chẳng phải sính dùng tiếng Tây, nhưng ta cứ gọi nó là Control panel cho gọn và cũng dễ phát âm, dễ nhớ.

Mở Control panel ra bằng cách bấm nút Start, dò chuột đến Settings trên menu, một menu phụ xuất hiện, bấm chọn Control panel. Cửa sổ Control panel được trình bày. Cửa sổ này được chia làm hai phần. Bên phải là Pick a Category (Chọn lọc theo chủ đề). Có tất cả 10 chủ đề chính được chia làm hai cột. Cửa sổ bên trái có hàng chữ Switch to Classic View nghĩa là chuyển cách trình bày theo kiểu cổ điển (thời Win 98 trở về trước). Nếu bấm chuột vào hàng chữ này thì cửa sổ bên phải sẽ hiển thị tất cả các mục mà người dùng sẽ tác động. Nên chuyển về cách hiển thị cổ điển này để dễ dàng hơn trong thao tác. Tùy theo việc cài đặt trong máy tính mà Control panel sẽ trình bày bao nhiêu hạng mục để tùy biến.



Quan trọng hàng đầu là tùy biến các chức năng:

- Accessibility option: Những tùy chọn cho việc điều khiển máy tính dễ dàng hơn đối với người khuyết tật hoặc thuận tay trái. Vì vậy, biểu tượng của nó là hình người ngồi trên chiếc xe lăn.

- Add Harware: Cài đặt thêm phần cứng vào máy tính.

- Add or Remove Programs: Cài đặt thêm hoặc gỡ bỏ các chương trình ứng dụng.

- Administrative Tools: Các công cụ quản trị hệ thống.

- Date and Time: Điều chỉnh ngày, giờ của đồng hồ hệ thống.

- Display: Sự hiển thị của Desktop, của các khung cửa sổ…

- Fonts: Kho lưu trữ các loại font chữ.

- Internet option: Tùy chọn các chức năng của trình duyệt IE khi kết nối với Internet.

- Mouse: Điều chỉnh tính năng hoạt động của chuột máy tính.

- Network connection: Quy định kết nối mạng máy tính.

- Network Setup Wizard: Hướng dẫn kết nối mạng.

- Power option: Các tùy chọn về sử dụng điện năng.

- Printer and Fax: Quy định về máy in và cách thức gởi Fax thông qua máy tính.

- Regional and Language option: Các tùy chọn đối chuẩn định dạng theo vùng miền địa lý hoặc ngôn ngữ.

- Scanners and Cameras: Nối kết với máy Scan và máy chụp hình, quay phim kỹ thuật số.

- Scheduled task: Lập lịch cho máy tính hoạt động một cách tự động (sẽ có những chức năng tự động chạy vào một thời điểm nào đó. Thường là thời điểm mà người sử dụng tạm ngừng dùng máy tính).

- Security Center: Thiết lập sự an ninh để bảo mật, tránh sự tác động xấu khi nối kết vào mạng.

- Sound and Audio Devices: quản lý các thiết bị âm thanh.

- User Account: tạo tài khoản - mật khẩu cho người dùng.

- System: Tinh chỉnh các thuộc tính của hệ thống.…

Các bài kế tiếp sẽ lần lượt giới thiệu đến bạn đọc cách làm việc với một số tính năng quan trọng khi tác động vào hệ điều hành thông qua Control panel.

THINHRAZOR21428
13-05-2008, 08:07
Nhúng trình điều khiển Windows Media vào Powerpoint

Trong Powerpoint nếu muốn làm sinh động hơn cho bài thuyết trình của mình, bạn có thể chèn thêm các hiệu ứng âm thanh, hình ảnh, videoclip vào trong Powerpoint bằng cách vào menu Insert > Movie And Sounds.


(Hãy chọn Windwos Media trong hộp thoại này)

Tuy nhiên phương pháp này cũng có nhược điểm là các định dạng trên bạn không thể điều khiển chúng được mà chỉ có thể để chúng tua đi một cách tuần tự. Để khắc phục điểm này và có thể điều khiển chúng dễ dàng để tua đi những điểm quan trọng tại các định dạng trên, bạn có thể sử dụng các phương pháp sau đây.

1. Sử dụng thủ thuật

Để nhúng trình điều khiển Windows Media (WM) vào trong Powerpoint. Bạn hãy vào menu View > Toolbars > Control Toolbox. Tại thanh công cụ vừa xuất hiện, hãy bấm vào nút More Controls rồi chọn lệnh Windows Media trong thanh menu vừa xổ ra. Tiếp theo hãy dùng chuột tạo một trình chơi WM theo đúng kích thước mà bạn muốn nó sẽ được xuất hiện tại silde show, nếu là chỉ chơi các files âm thanh bạn chỉ cần dùng chuột để tạo các nút bấm và thanh trượt di chuyển để tiết kiệm không gian trong silde, nếu dùng để trình chiếu video thì bạn nên tạo cả khung hiển thị trình chiếu với kích thước bạn mong muốn.

Tại khung WM vừa tạo, bạn hãy nhấn phải chuột vào nó và chọn Properties. Tại thanh công cụ vừa xuất hiện hãy bấm vào tuỳ mục Custom và bấm vào nút ba chấm () ở bên cạnh. Tiếp theo nhập đường dẫn chứa files video, âm thanh cần được trình diễn vào tại tuỳ mục File name or URL (chấp nhận cả đường liên kết chứa files video, âm thanh đang tồn tại trên mạng) vào. Tại đây bạn cũng có thể thực hiện các thao tác tinh chỉnh chất lượng âm thanh phát nếu cần thiết. Xong bấm vào nút OK để xác nhận các thao tác vừa thực hiện.

2. Sử dụng phần mềm

Bạn cần download miễn phí add-ins này về từ địa chỉ này, tương thích tốt với các phiên bản PowerPoint 2000 trở lên. Sau khi download về bạn hãy giải nén vào thư mục dễ nhớ trên máy để lấy file giải nén (ví dụ: C:\WMP). Vào trong PowerPoint rồi chỉnh lại Macro ở mức trung bình bằng cách vào Tools >Macro > security. Sau đó chọn Medium rồi nhấn OK. Trên menu Tools> add ins> Add New, chọn đường dẫn của file Wmp.ppa tại thư mục đã giải nén ở bước trên. Nhấn Ok rồi nhấn I AGREE để chấp nhận sử dụng Add Ins này. Sau lần khởi động PowerPoint đầu tiên, sẽ có một hộp thoại hiển thị và bạn nên chọn vào Enable macros. Để sử dụng Add Ins này, bạn khởi động PowerPoint rồi vào menu Insert >movies and Sounds. Bạn sẽ thấy có thêm một menu là Movie Using Windows Media Player ... hãy click chọn vào tuỳ chọn này để chèm thêm File (audio hay video) sẽ được điều khiển bằng WMP và có đầy đủ các menu như khi bạn play file trên WMP. Sau khi chọn file xong, sẽ có ba lựa chọn cho bạn :

- Check this box if you want to your movie to start playing automatically: tự động phát files multimedia ngay sau khi mở silde.

- Check this box if you would like the movie to play full screen: trình diễn files multimedia ở dạng toàn màn hình

- Check this box to copy your movie file the same folder as the presentation: tạo thêm các files multimedia ngay tạo thư mục chứa tập tin powerpoint. Chọn xong hãy bấm vào tuỳ chọn finish để xác nhận.

THINHRAZOR21428
13-05-2008, 08:08
Bộ nhớ là nơi lưu trữ dữ liệu để máy tính thực hiện các tác vụ, được chia thành hai dòng chính: bộ nhớ tạm thời (RAM, DDR...) và bộ nhớ vĩnh viễn (flash, SSD) không mất dữ liệu khi tắt điện.
DDR2-400 và DDR2-667 của hãng Cosair. Ảnh: Tomshardware.

Bộ nhớ tạm thời

RAM là bộ nhớ trong, chỉ lưu các dữ liệu cần thiết để thực hiện tác vụ và các thông tin này sẽ mất đi khi không có điện, khác với ổ cứng (các thông tin vẫn còn khi tắt nguồn điện). Dung lượng RAM càng lớn thì càng có nhiều không gian để quản lý chương trình chạy trên máy tính và do đó, chiếc PC trở nên đa dụng và hoạt động nhanh hơn.

Hiện nay, bên cạnh việc đẩy dung lượng bộ nhớ lên 1 GB, 2 GB..., các nhà sản xuất còn dùng công nghệ trên bo mạch chủ để chia 2 kênh cho RAM, nghĩa là dữ liệu có 2 "đường" để truyền tới chip. "Module kênh đôi sẽ gửi tín hiệu tới vi xử lý cùng một lúc", Marc Bernier, chuyên gia của hãng Kingston, nói. "Do đó, băng thông chung được tăng lên".

Như vậy, khi dùng mainboard có chipset hỗ trợ "dual channel", người sử dụng cắm 2 thanh RAM 512 MB cùng loại vào đúng khe thì tốc độ máy tính có thể cao hơn so với một thanh RAM 1 GB.

Ngoài ra, chuẩn DDR (Double Data Rate - gấp đôi tốc độ truyền dữ liệu) là một phương pháp đẩy mạnh tốc độ truyền thông tin của RAM mà không thay đổi front-side bus (đường dữ liệu cao tốc giữa chip và bộ nhớ chính).

Ví dụ, khi dữ liệu được truyền 64 bit/lần, chip nhớ sẽ cho tốc độ truyền dẫn theo công thức: Tốc độ của [xung đồng hồ x 2 (hiệu số tăng gấp đôi tốc độ) x 64 (số bit được truyền đi)] / 8 (số bit của byte). Do đó, một chip nhớ theo chuẩn DDR - 200 100 MHz sẽ cho tốc độ truyền dữ liệu tối đa là 1.600 MB/giây.

Sau đó, DDR được nâng cấp lên các chuẩn DDR2, DDR3, DDR4 với khả năng cải thiện tốc độ theo cấp số nhân. Ví dụ: DDR2 lưu dữ liệu trong các ô được kích hoạt bởi việc dùng xung nhịp đồng hồ để đồng bộ hóa hoạt động với bus dữ liệu. Giống như DDR, các ô nhớ trong chuẩn DDR2 truyền thông tin dựa theo biên độ dao động lên xuống của đồng hồ (gọi là kỹ thuật double pumping). Điểm khác nhau giữa hai chuẩn này ở chỗ trong DDR2, bus được đẩy xung lên gấp đôi tốc độ của các ô nhớ, do đó 4 từ dữ liệu được truyền đi trong một vòng ô nhớ. Vì vậy, không cần nâng cao tốc độ của chính các ô nhớ, DDR2 có thể hoạt động nhanh gấp đôi bus của DDR.

Hiện nay, DDR và DDR2 đang được sử dụng rộng rãi cho bộ nhớ hệ thống, còn DDR3, DDR4 thường xuất hiện trong bộ nhớ của card đồ họa cao cấp.
Tên chuẩn Xung đồng hồ Xung bus Dữ liệu truyền bit/giây
DDR2-400 100 MHz 200 MHz 400 triệu
DDR2-533 133 MHz 266 MHz 533 triệu
DDR2-667 166 MHz 333 MHz 667 triệu
DDR2-800 200 MHz 400 MHz 800 triệu
DDR2-1066 266 MHz 533 MHz 1066 triệu
Tên module Xung đồng hồ Kiểu chip nhớ Tốc độ truyền tối đa
PC2-3200 200 MHz DDR2-400 3,2 GB/giây
PC2-4200 266 MHz DDR2-533 4,264 GB/giây
PC2-5300 333 MHz DDR2-667 5,336 GB/giây
PC2-6400 400 MHz DDR2-800 6,4 GB/giây
PC2-8500 533 MHz DDR2-1066 8,5 GB/giây

Công nghệ flash

Không chỉ có công nghệ hỗ trợ RAM đang trên đà tăng tốc, thị trường bộ nhớ USB cũng phát triển mạnh. Bên trong ổ USB nhỏ gọn là một phương thức lưu trữ mang tên bộ nhớ flash.

Microsoft vừa phát triển một hệ thống dùng thẻ nhớ USB để tăng tốc bộ nhớ trong của máy tính chạy hệ điều hành Windows Vista. Tính năng Ready Boost của Vista sẽ sử dụng phần còn trống của thẻ nhớ flash làm bộ nhớ ảo (tương tự như Page File trên đĩa cứng), hỗ trợ chuyển các file thường xuyên được truy cập vào bộ nhớ flash trong thẻ USB để hệ thống chạy nhanh hơn.

Bộ nhớ thể rắn SSD

Các hãng sản xuất bộ nhớ flash như SanDisk và Samsung đang dùng công nghệ bán dẫn để phát triển thiết bị thay thế ổ cứng cơ - từ, gọi là đĩa thể rắn (SSD - Solid State Disk).

"Đĩa thể rắn thực ra là thiết bị bao gồm đa phương tiện flash và một trình điều khiển, không có các phần cơ học di chuyển nào", Doreet Oren, chuyên gia của SanDisk, cho biết. "Khi dùng đĩa flash, người sử dụng không phải lo lắng vì sự chậm trễ thường thấy ở thiết bị có đầu đọc - ghi dữ liệu thông thường như ổ cứng".

Theo các nhà sản xuất, đĩa SSD về mặt lý thuyết có khả năng hoạt động gấp hàng trăm lần so với ổ cứng vì không phải dò từng ô nhớ để tải một file nào đó. Ưu điểm của SSD là bền (do không chứa các kết cấu cơ học), tốc độ nhanh hơn, êm hơn và nhẹ hơn các sản phẩm lưu trữ khác.

Tuy nhiên, loại đĩa này có giá thành đắt đỏ và cần thời gian để trở nên phổ biến hơn.

THINHRAZOR21428
13-05-2008, 08:09
Phần II: Xử lý sự cố


Trong phần này, ta sẽ tiến hành thực hiện các bước xử lý lỗi chung cho các trường hợp để khắc phục lỗi.

Khi gặp trường hợp lỗi BSOD (Blue screen of dead - màn hình xanh chết chóc), trước tiên bạn cần phải xem xét nó thuộc nhóm lỗi nào như ở phần trước đã giới thiệu, nhưng mặc định Windows sẽ tự động khởi động lại hệ thống khi bắt gặp lỗi.

Do đó, ta cần thay đổi thiết lập này trong Windows XP bằng cách: phải chuột lên My Computer - Properties, chọn thẻ "Advanced" và bên dưới phần "Startup and Recovery" nhấn vào nút "Settings". Cửa sổ mới sẽ xuất hiện và dưới phần "System Failure", bỏ chọn "Automatically restart".

Sau khi thực hiện thao tác trên, ta có thể khởi động lại Windows thủ công để xem lỗi BSOD có được khắc phục hay chưa. Nếu đã xử lý được, thì bạn cứ tiếp tục sử dụng trừ trường hợp số lần bị lặp lại nhiều lần trong khoảng thời gian ngắn thì tham khảo những trường hợp và cách xử lý bên dưới đây.

Lưu ý là lỗi BSOD có rất nhiều nguyên nhân nên ta cần phải xem xét qua khá nhiều trường hợp dẫn đến việc hệ thống hư hỏng mà có cách giải quyết riêng.

Trường hợp Windows vẫn không khởi động lại được như bình thường hoặc BSOD vẫn xuất hiện thì khi ở màn hình khởi động (POST - giai đoạn kiểm tra bộ nhớ), nhấn F8 nhiều lần. Tùy chọn khởi động Windows sẽ xuất hiện với nhiều chọn lựa. Kế tiếp, chọn Safe Mode để Windows khởi động ở chế độ Safe mode. Safe mode sẽ tải Windows XP với mức độ hạn chế nhất của driver và các phần mềm tự khởi động cùng Windows. Bằng việc thử nghiệm này, ta sẽ lọc ra được trường hợp lỗi từ phần mềm ứng dụng và driver.



Tiện ích System restore trong Windows rất cần thiết khi cần khôi phục lại hệ thống trước khi bị lỗi.



* Cách xử lý: Chạy các chương trình diệt virus, spyware như Ad-Aware, Spybot Search & Destroy... nếu sau khi quét mà phát hiện ra các virus, spyware lây nhiễm trong hệ thống, loại trừ chúng rồi khởi động lại hệ thống.

Nếu cách trên vẫn không khắc phục được, ta khởi động trở lại hệ thống ở chế độ Safe mode. Bước kế tiếp này sẽ sử dụng đến chức năng khôi phục lại hệ thống với "System restore". Vào Start - Programs - Accessories - System tools - System restore.

Tiện ích "System restore" dự phòng dung lượng đĩa cứng và tạo một điểm khôi phục mỗi khi bạn cài đặt hay gỡ bỏ phần mềm. Nếu bạn cảm thấy lỗi xuất phát từ việc cài hay gỡ bỏ một phần mềm vào một thời điểm xác định, bạn có thể khôi phục hệ thống trở về thời điểm đó với "System restore".

Tuy nhiên, cần lưu ý là những phần mềm hay thiết lập kể từ thời điểm đó trở đi cũng bị mất, các giá trị registry mới cũng sẽ bị xóa sau khi khôi phục. Ngoài ra, người dùng cũng có thể không cần phải sử dụng "System restore" nếu sau khi bạn cài đặt một driver hay phần mềm nào đó dẫn đến việc hệ thống bị lỗi, thì hãy ngưng hoạt động của chúng và gỡ bỏ ra khỏi hệ thống.

* Xử lý với driver: Với driver các thiết bị phần cứng, bạn có thể lùi (roll-back) chúng trở về phiên bản driver trước hoặc khóa lại. Nhắp phải chuột lên My Computer, chọn Properties và chuyển đến thẻ Hardware và chọn Device Manager. Tại phần này, ta có thể kiểm tra tình trạng hoạt động của chúng (Video card driver nằm trong "Display Adaptors", của sound card nằm trong "Sound card and game controllers" và của bo mạch chủ thì "IDE/ATAPI controllers"). Chọn thiết bị nào muốn kiểm tra, phải chuột và nhấn "Properties", chuyển đến thẻ "Drivers".

Trong thẻ "Driver", có thể dùng tùy chọn "Roll back" để lùi phiên bản driver thiết bị lại phiên bản trước đó hoặc "Uninstall" để gỡ bỏ hoàn toàn driver. Một lưu ý là bạn không nên "Uninstall" Driver sound card, video card hay motherboard vì chúng sẽ làm ảnh hưởng đến phần khởi động Windows. Thay vào đó thì bạn nên "roll back" trước.



Roll back driver của thiết bị.



Tùy chọn thứ 2 ta có thể thực hiện là khóa (disable) driver bằng cách phải chuột lên thiết bị trong phần "Device Manager" và chọn "Disable" để ngăn không cho Windows XP tải driver thiết bị khi khởi động. Và cũng như trên, không nên khóa driver của sound card, video card và motherboard.

Nếu công đoạn xử lý này thành công thì bạn nên cập nhật lại driver mới của thiết bị từ CD hay website nhà sản xuất để tránh lỗi.

* Xử lý với phần mềm: Đối với những phần mềm bị lỗi, không tương thích và chúng tự động khởi động khi Windows khởi động dẫn đến việc hệ thống bị lỗi, ta có 2 cách để xử lý.

Cách nhanh chóng và tiện lợi là dùng tiện ích miễn phí AutoRuns của Sysinternal (đã được Microsoft mua lại). AutoRuns sẽ hiển thị toàn bộ những phần mềm (kể cả những tập tin của Windows) được tự động tải khi khởi động. Bằng việc bỏ chọn để ngăn không cho phần mềm, dịch vụ đó được tải lên. Tuy nhiên, bạn cũng lưu ý không được khóa các dịch vụ, tập tin hệ thống của Windows như userini.exe, explorer.exe.


Giao diện AutoRuns.




Cách thủ công hơn là vào Start - Run, gõ "msconfig" rồi chọn thẻ "Startup" trong cửa sổ "System Configuration Utility". Cũng như trên, bạn bỏ chọn các chương trình có nguy cơ làm tổn hại đến hệ thống.

THINHRAZOR21428
13-05-2008, 08:09
Phần III: Xử lý sự cố phần cứng


Phần cứng trong hệ thống là những thiết bị không dễ dàng bị hư hỏng. Tuy nhiên, rất có thể một ngày đẹp trời nào đó các thiết bị này bị trục trặc và lỗi "màn hình xanh" là một triệu chứng nguy hiểm thông báo cho người dùng đã đến mức tuổi thọ của chúng.

Trong phần III, với trường hợp hệ thống thậm chí không thể khởi động được trong Safe mode và tùy chọn "Last known good configuration" cũng không trợ giúp được gì thì nguyên nhân hư hỏng phần cứng đang chiếm một tỉ lệ rất cao.

Cũng như với phần mềm, trước tiên, ta cần khảo sát từng trường hợp. Bạn hãy xem xét có phần cứng nào mới nhất được gắn vào hệ thống có nguy cơ làm phát sinh lỗi hay không. Tiến hành tắt nguồn, tháo linh kiện đó ra (trừ CPU) và khởi động lại hệ thống.

Trường hợp bạn không thường tháo gỡ hay thay đổi linh kiện phần cứng hoặc cách xử lý ở trên không giải quyết được vấn đề thì ta tiến hành xử lý đến bộ nhớ của hệ thống.

Kiểm tra bộ nhớ

Trước khi bắt đầu thử nghiệm bất cứ chương trình kiểm tra bộ nhớ nào thì bạn lưu ý rằng mình đang cài đặt bao nhiêu thanh bộ nhớ (RAM) trên hệ thống. Nếu bạn có trên 2 thì hãy thử nghiệm với từng thanh một. Sau đó, ta có thể dùng các chương trình kiểm tra bộ nhớ như Windows Memory Diagnostic , Docmem hay Memtest86+. Cả ba đều là những tiện ích miễn phí nhưng có độ chính xác cao, thường được dùng bởi những kỹ sư sửa chữa phần cứng. Sử dụng trên đĩa mềm hoặc CD để kiểm tra trong khi khởi động (boot) hệ thống.

Phiên bản Memtest86+ 1.70 có 2 chế độ kiểm tra là "basic" và "advanced", chúng khác nhau về cơ chế, mức độ kiểm tra kỹ lưỡng và thời gian kiểm tra. Cài Memtest86+ lên đĩa mềm hoặc CD rồi boot hệ thống, nhấn phím "C" để mở một trình đơn mới cho phép bạn chọn lựa chế độ kiểm tra. Bất kỳ lỗi nào trong bộ nhớ cũng đều được hiển thị phía dưới màn hình.


Kiểm tra lỗi bộ nhớ với Memtest86+



Windows Memory Diagnostic.



Xử lý: Nếu phát hiện ra lỗi từ thanh RAM nào, bạn tắt nguồn, tháo phích cắm ra khỏi ổ điện và tháo thanh RAM bị lỗi ra khỏi khe cắm. Làm vệ sinh cẩn thận với chân RAM và khe cắm. Sau đó, hãy thử cắm sang một khe khác. Bật nguồn và khởi động lại hệ thống để kiểm tra lại bộ nhớ có hoạt động tốt hay không. Nếu vẫn bị lỗi thì thanh RAM đã bị hư hỏng và đến lúc thay một thanh RAM mới. Hoặc để chắc chắn hơn, bạn cũng có thể đem thanh RAM gắn sang một hệ thống khác rồi kiểm tra.

Kiểm tra hệ điều hành

Windows XP thường hay ngưng hoạt động nếu những tập tin hệ thống bị mất đi hay lỗi do ổ đĩa, virus phá hoại. Ngoài ra, khi bạn chuyển toàn bộ hệ điều hành đã cài đặt trên ổ cứng sang một hệ thống phần cứng khác thì rất có thể sẽ gặp lỗi "màn hình xanh". Để HĐH hoạt động tốt trở lại, ta phải thực hiện công việc sửa chữa và cập nhật tập tin hệ thống.

Xử lý: ta sử dụng chức năng "Repair Install". Chức năng này cho phép tái cài đặt lại toàn bộ những tập tin hệ thống trong Windows nhưng bỏ qua các thư mục, thiết lập và không ảnh hưởng đến dữ liệu người dùng.

1. Cho đĩa CD cài đặt Windows XP vào ổ CD-Rom.
2. Vào CMOS thiết lập khởi động từ ổ CD để boot với Windows.
3. Chọn tùy chọn "Press Enter to set up Windows XP now"
4. Nhấn F8 để bỏ qua bản quy định bản quyền (EULA)
5. Nhấn phím "R" để bắt đầu sửa chữa cài đặt.

Những dữ liệu có sẵn của bạn sẽ không bị thay thế, hệ thống chỉ đơn giản là cài đặt lại các tập tin hệ thống và quét lại tất cả thông tin phần cứng. Khi tiến trình xử lý xong, hệ thống sẽ khởi động lại. Lưu ý rằng sau khi thực hiện công việc này, bạn nên cập nhật lại Windows tại Windows Update để cập nhật các bản vá lỗi vì tiến trình xử lý sẽ gỡ bỏ toàn bộ phần cập nhật.

Nếu các trường hợp và cách xử lý trên vẫn không giúp bạn giải quyết được vấn đề, hãy tham khảo các trường hợp còn lại.

Ổ cứng: Thông thường nếu nguyên do từ ổ đĩa cứng, thì không may cho bạn rằng ổ cứng có thể đã bị hư hỏng phần đầu từ (ổ quay). Việc đầu tiên cần làm khi nghe ổ cứng phát ra tiếng động "rột roạt" nặng nề trong lúc hoạt động hoặc tỏa nhiệt quá nóng một cách bất thường là sao lưu lại toàn bộ dữ liệu quan trọng lên CD, DVD hoặc ổ cứng sao lưu khác.

Tốt nhất trong trường hợp này là bạn nên dự trữ, mua mới một ổ cứng khác vì tuổi thọ của ổ cứng mà bạn đang sử dụng đã đến "hạn". Bo mạch trên ổ cứng có thể thay được khi hư hỏng nhưng ổ quay đầu từ thì không thể vì bao bọc nó là chân không.

Vi xử lý: Chính xác hơn ở đây là quạt tản nhiệt của vi xử lý có bị hư hỏng hay không. Bạn có thể kiểm tra nhiệt độ của vi xử lý, nhiệt độ bên trong thùng máy (case) xem có quá mức cho phép trong BIOS hoặc với phần mềm SpeedFan


Giao diện SpeedFan với nhiều chức năng hỗ trợ theo dõi thông tin nhiệt độ, tốc độ quạt ... của phần cứng.


Ngoài ra, card màn hình (video card), nguồn điện (PSU) cũng có thể là nguyên nhân. Do đó, một khi bạn đã muốn xác định lỗi để có thể giải quyết tận gốc thì tham khảo lần lượt từ phần mềm đến phần cứng hoặc tùy theo kinh nghiệm xử lý rồi thao tác với từng thành phần một.

Nếu bạn không am tường việc tháo lắp, thử nghiệm, kiểm tra thì hãy đem hệ thống đến cho nhân viên kỹ thuật xử lý khi thường xuyên gặp "màn hình xanh chết chóc" (BSOD) vì đó là tín hiệu báo hệ thống bạn đang gặp nguy cơ hư hỏng.

THINHRAZOR21428
13-05-2008, 08:09
1.Một chút về tiếng Việt và nguồn gốc của nó (Wikipedia)

Tiếng Việt hay Việt ngữ[2] là ngôn ngữ của người Việt (người Kinh) và là ngôn ngữ chính thức tại Việt Nam. Đây là tiếng mẹ đẻ của khoảng 85% dân cư Việt Nam, cùng với gần ba triệu Việt kiều ở hải ngoại, mà phần lớn là người Mỹ gốc Việt. Tiếng Việt còn là ngôn ngữ thứ hai của các dân tộc thiểu số tại Việt Nam. Mặc dù tiếng Việt có nguồn từ vựng vay mượn từ tiếng Hán và trước đây dùng chữ Hán (chữ Nho) để viết, sau đó được cải biên thành chữ Nôm, tiếng Việt được coi là một trong số các ngôn ngữ thuộc hệ ngôn ngữ Nam Á có số người nói nhiều nhất (nhiều hơn một số lần so với các ngôn ngữ khác cùng hệ cộng lại). Ngày nay tiếng Việt dùng bảng chữ cái Latinh, gọi là chữ Quốc Ngữ, cùng các dấu thanh để viết.

Theo ISO-639-2, mã của tiếng Việt là vi,[3] còn mã ISO-639-3 của tiếng Việt là vie.

Tiếng Việt là ngôn ngữ có nguồn gốc bản địa, xuất thân từ nền văn minh nông nghiệp tại nơi mà ngày nay là khu vực phía bắc lưu vực sông Hồng và sông Mã của Việt Nam.

Tiếng Việt có tổng cộng có 36 âm vị = 6 thanh+19 phụ âm + 11 nguyên âm.Con số này xê dịch so với nghiên cứu và nhận định của nhiều người.Nhưng phần đông vẫn cho rằng, tiếng Việt ta có 36 âm vị (trong đó có 6 thanh là ' ` ? ~. )

2.Vô đề.


Hai hôm nay, bộ gõ bị hỏng, thế là ngồi chat, viết Blog thấy khó khăn ghê gớm.Đã từ lâu lắm rồi chưa một lần chat hay viết 1 cái gì đó mà không có dấu.Nói tóm lại, Huy nhà ta chỉ gõ tiếng Việt theo kiểu Telex lâu đời và khoa học từ ngày tiếp cận máy vi tính tới giờ.(Ngày đó gõ lọc cà lọc cọc chỉ với 2-4 ngón mà thôi).Lại thêm, chát với 1 số người (chiếm phần đông trong Friend list), toàn gõ tiếng Việt không dấu không hà, lui cui đọc, dịch ra muốn khùng, lâu lâu phải hỏi lại.."Ê, viết không dấu khó đọc quá, dùng Unikey đi", hay là:"Hic, anh không hiểu gì cả", thêm nữa:"potay.com.saigon".

Xuất phát từ sự khó chịu đó (hehe), nên mới viết entry này, kêu gọi bà con đồng bào, anh chị em cô bác gần xa, hãy từ bỏ thói quen gõ Tiếng Việt không dấu và tập cho mình một style gõ tiếng Việt có dấu Pro.Vì sao phải gõ tiếng Việt có dấu?

-Chắc chắn là dễ đọc hơn rồi.Vì tiếng Việt có những 6 thanh, khi viết không dấu, người đọc đôi khi phải ngồi dịch ra, thêm dấu xem dấu nào phù hợp với từ trong câu từ đó.

-Tránh gây hiểu nhầm.

VD:Đôi khi gõ tiếng Việt không dấu gây những hiểu nhầm đáng tiếc.Câu sau, bạn hiểu thế nào? "Em co o truong khong".Hehe.Tất nhiên, với vốn tiếng Việt phong phú của chúng ta, chắc chắn câu trên sẽ có người dịch là:"Em có ở truồng không?" =>>ak ak bên cạnh cái nghĩa vốn trong sáng và đơn giản của nó là :"Em có ở trường không".

Hoặc đôi khi chát với 1 cô bé nào đó, bạn viết nhầm một cái gì đó chẳng hạn, một số bạn sẽ vội vã thốt lên: Lon.Hic, thế thì bạn sẽ gắn vào cho nó dấu nào đây để tránh hiểu nhầm trong các thanh sau và các dấu sau:sắc, huyền, hỏi, ngã, nặng, dấu ớ, dấu á,dấu ơ (phiên âm cho dễ đọc).Trong trường hợp trong sáng nhất, đương nhiên người đọc sẽ hiểu ngay là: Lộn.Nhưng mà (amen), nếu ai đó không chịu hiểu, thêm dấu ^ và 1 dấu nặng vào chữ đó thì sao.Lại potay.saigon.vietnam.Huy ta chẳng dám type nguyên âm đó ra.

-Tạo nên 1 không khí thân thiện qua bạn chát, những người đọc trong 1 forum.Cũng đồng nghĩa là ta đã tôn trọng người cùng type với ta."Đôi khi cần nói chuyện với người iu, sếp, đồng nghiệp, gõ có dấu gây được ấn tượng manh" (Đại ý trong blog của Bảo Chi)

-Tiết kiệm thời gian và tạo nên 1 style Pro trong lúc làm việc (đôi khi có thể gây ấn tượng mạnh với một ai đó ngồi cạnh và xem bạn type (nói ở phần tiếp theo).

3.Tập thói quen gõ tiếng Việt có dấu và gõ nhanh, gõ đều, gõ 10 ngón.

Như đã nói từ đầu, ngày xưa mình cũng chỉ gõ tiếng Việt có dấu chỉ với 2-4 ngón mà thôi.Đến năm 1 Đại học, sống cùng phòng với mấy đứa, hàng ngày mày mò với phần mềm Master Type, với các bài tập luyện ngón qua các hình thức, type 1 script ngắn với các words từ dễ đến khó hoặc qua các trò chơi vui nhôn có sẵn trong các bài tập ấy.

Cũng nói thêm, lúc đó Huy ta là người cứng đầu, từng nói với mấy đứa là:Thì tao chả cần tập, giờ nhìn bàn phím tao cũng đánh nhanh rồi, cần gì luyện.Nhưng mà, một thời gian, khi tụi bạn đã vòa "phom" thì mình mới nhận ra, mình đã chậm hơn tụi nó rất nhiều rồi.Vậy là quay lại tập luyện.

Bên cạnh tập cùng phần mềm, nhiều bạn chát riết rồi cũng gõ nhanh bà cố luôn.Nhưng mà hổng có pro à nha.

Một số người bạn Bách Khoa mà mình biết được như Bảo Chi, Đạt cao, và cả mình nữa, đã tự tháo bàn phím ra, sắp xếp lại khác với nguyên bản mà 1 keyboard có được.Đó là xếp các phím lại theo trật tự đó là tên mình.Bạn xem hình dưới hén.Nhìn cũng hay hay đấy chứ nhỉ.Cách tập luyện này cũng giúp bạn đến 1 lúc nào đó, gõ rất nhanh, gõ không cần nhìn bàn phím, và sơ đồ các phím có thể đã nằm trong đầu bạn rồi.



(Chứ CHI sau khi thay đổi vị trí các phím)



(Chữ QUOCHUYBK trên dòng kí tự chữ đầu tiên sau khi thay đổi vị trí các phím)

4.Lời khuyên



"Gõ Telex rất khoa học.Gõ theo kiểu VNI là không khoa học tí nào" (Trích trong Blog của Bảo Chi)



TELEX sử dụng các phím chữ thay cho dấu
-Dấu sắc = s, dấu huyền = f, dấu hỏi = r, dấu ngã = x, dấu nặng = j
-Các chữ có dấu mũ thì gõ kép, thí dụ aa = â, ee = ê, oo = ô
-Chữ w sẽ thành ư, ow = ơ hoặc uw = ư
-Chữ đ = dd
-Chữ ă = aw
-Đặc biệt trong tiếng Việt hay sử dụng chữ ươ nên bạn có thể gõ ][ thay cho ươ

-Bạn nên gõ dấu sau chữ, Unikey sẽ đặt dấu chính xác giúp bạn. Thí dụ: để gõ chữ Trường học, bạn hãy gõ: Tr][ngf hocj hoặc Trwowngf hocj hoặc Truwowngf hocj đều được cả, đặc biệt, nếu bạn lỡ gõ dấu sai, bạn có thể gõ lại ngay sau đó mà không cần phải xóa nguyên chữ đó. Thí dụ, bạn gõ chữ Trường, nhưng gõ nhầm là Trượng, thay vì gõ chữ f để thành dấu huyền, bạn gõ nhầm chữ j thành dấu nặng, bạn có thể gõ lại chữ f để thành dấu huyền.

Trường hợp trong văn bản của bạn có thêm các tiếng nước ngoài, bạn có thể dùng cách gõ lặp hoặc nhấn phím Ctrl để xóa từ tiếng Việt, thí dụ, bạn muốn gõ chữ labor nhưng khi gõ thì thành labỏ, bạn hãy gõ tiếp r sẽ thành labor, hoặc gõ labo - nhấn Ctrl - gõ r cũng thành labor.


VNI sử dụng các phím số thay cho dấu, kiểu gõ này cũng khá thông dụng:
-Số 1 thay cho dấu sắc
-Số 2 thay cho dấu huyền
-Số 3 thay cho dấu hỏi
-Số 4 thay cho dấu ngã
-Số 5 thay cho dấu nặng
-Số 6 thay cho dấu mũ trên các chữ ô, ê, â
-Số 7 thay cho dấu râu trên các chữ ư, ơ
-Số 8 thay cho dấu trăng trên chữ ă
-Số 9 thay cho gạch ngang nhỏ trên chữ đ
-Unikey cũng chấp nhận cho bạn gõ dấu sau chữ. Thí dụ như để gõ chữ Trường học, bạn có thể gõ Tru7o7ng2 hoc5. Unikey sẽ giúp bạn bỏ dấu chính xác trên mỗi từ.

Đa số người Việt Nam ở phía Bắc và Miền Trung thì đều có thói quen gõ theo kiểu Telex, còn lại, những người miền Nam rất chuộng kiểu VNI.Một số người ở Bắc, sau khi vào Nam sống và tiếp cận máy tính thì cũng đã dùng theo kiểu VNI.

Bạn nào đã từng thử qua 2 cách gõ này mới thấy, gõ Telex tiện nghi như thế nào.Các ngón tay của bạn không cần với lên dãy số bên trên mà rất uyển chuyển với phần các kí tự chữ.Một chữ â có thể gõ bằng cách gõ chữ a và lắc nhẹ ngón út là ra (Bảo Chi).

Từ bỏ kiểu gõ VNI và đến với TELEX tạo 1 phong cách gõ CÔng nghiệp, hehe

THINHRAZOR21428
13-05-2008, 08:10
Trước đây bienla cũng khá vất vả với vụ gõ bàn phím 10 ngón, nhưng với sự đam mê âm nhạc, bienla đã tu luyện thành công vụ gõ bằng 10 ngón.

Việc đam mê âm nhạc thì có liên quan gì đến gõ bàn phím? :) lý do hết sức dễ hiểu là vì mình muốn tập gõ bàn phím mà không biết viết thứ gì, thế là mở nhạc lên, tai thì nghe nhạc tay thì gõ theo, và sau 1 tuần bế quan luyện võ, bienla đã thành công, bây giờ gõ mà nhìn bàn phím thì còn chậm hơn là ko nhìn, đó là nghịch lý tồn tại. hehe

Mà giáo trính bây giờ toàn đồ cục gạch không, hàng trăm cuốn "tin học căn bản" mà ko có cuốn nào chỉ cách gõ 10 ngón, nhưng những cuốn sách cũ rơ, cũ rích thời những năm 80 lại có viết rất rõ ràng và đúng là căn bản, khổ nổi bienla học xong rồi vứt đâu tìm ko ra, nhưng dù sao cũng có thể shared lại với hiểu biết của mình cho các bạn tham khảo nhé.

Dưới đây là cách gõ bàn phím 10

- 2 Ngón trỏ đặt ở 2 dấu chấm trên bàn phím tức là chữ F (ngón trỏ trái), chữ J (ngón trỏ phải)
- Luôn luôn đặt 2 ngón trỏ ở 2 chữ này để định vị các chữ còn lại cho chính xác.

- Tay trái:
+ Ngón cái: Spacebar
+ Ngón trỏ: V,B,F,G,R,T,4,5
+ Ngón giữa: C,D,E,3
+ Ngón áp út: X,S,W,2
+ Ngón út: Z,A,Q,1

- Tay phải:
+ Ngón cái: Spacebar
+ Ngón trỏ: N,M,H,J,Y,U,6,7
+ Ngón giưa: dấu phẩy (,), K,I,8
+ Ngón áp út: dấu châmư (.), L,O.9
+ Ngón út: dấu /, dấu hai chấm (:), P,0

các bạn có thể tham khảo ở hình dưới

Reduced: 74% of original size [ 962 x 592 ] - Click to view full image

Nếu bạn thực sự thuộc kỹ chữ nào, số nào ngón đó thì việc dùng VNI hay TELEX đều nhanh cả, bienla thì chỉ dùng mỗi TELEX vì nó gõ nhanh hơn VNI.

THINHRAZOR21428
13-05-2008, 08:10
Một chàng trai 29 tuổi đã phát hiện ra thuật toán mới nhằm giảm tác động của yếu tố điện từ trên đường truyền Internet, khiến ADSL đạt mức 100 megabit/giây, trong khi con số hiện nay chỉ là 1-20 megabit/giây.

Tiến sĩ John Papandriopoulos tại Đại học Melbourne (Australia) đã làm giới công nghệ kinh ngạc vì thuật toán này. Giáo sư John Cioffi tại Đại học Stanford (Mỹ), được coi là "cha đẻ" của DSL, một trong những chuyên gia đánh giá luận văn tiến sĩ của Papandriopoulos, cho biết rất ấn tượng với đề tài của chàng thanh niên và đề nghị anh làm việc tại ASSIA, một công ty mới thành lập nhằm tối ưu hóa mạng DSL.

Papandriopoulos đang đăng ký quyền sở hữu trí tuệ đối với phát minh của anh. Nếu đăng ký công nghệ thành công với các hãng bán lẻ thiết bị modem, anh hy vọng thuật toán này sẽ được các nhà cung cấp dịch vụ Internet trên toàn thế giới áp dụng trong vòng 2-3 năm tới.
Theo VnExpress, cung cấp bởi OnBoom - www.onboom.com

THINHRAZOR21428
13-05-2008, 08:11
Cách chuyển mã văn bản với Unikey




Nếu bạn đã từng gặp trường hợp một file văn bản Word có font chữ toàn bộ là .VnTime, bạn lại muốn copy một đoạn trong văn bản này sang một văn bản khác có font chữ là VNI-Times hoặc font Unicode thì bạn sẽ gặp rắc rối do sự không đồng nhất giữa các mã văn bản.


Vấn đề này rất hay gặp trong thực tế, người sử dụng thường phải mất rất nhiều thời gian và gặp rất nhiều khó khăn để chỉnh sửa. Bài viết này nêu rõ từng bước cách thức thực hiện việc chuyển mã văn bản vì cũng có nhiều bạn biết tính năng của phần mềm Unikey nhưng chưa thực hiện thành công. Để thực hiện việc chuyển đổi này, bạn có thể dùng phần mềm Unikey 3.55 trở lên và thực hiện như sau:

Cách 1: Chuyển font chữ của cả file văn bản

Chạy Unikey, bấm tổ hợp ba phím Ctrl + Shift + F6. Bạn mở file cần chuyển đổi, chọn File> Save As..., chọn phần mở rộng là Rich Text Format để lưu lại với định dạng *.rtf. Sau đó, bạn vào phần cửa sổ Unikey, chọn Bảng mã nguồn là TCVN3 (ABC) tương ứng với file văn bản ban đầu có mã là .VnTime. Bảng mã đích bạn chọn là VNI Windows để chuyển thành văn bản có mã là VNI-Times, chọn Unicode để chuyển thành văn bản có mã là Times New Roman. Sau đó, bạn chọn file nguồn và nơi đặt file đích. Chú ý quan trọng là bạn phải thêm .rtf để file đích phải có phần mở rộng *.rtf. Cuối cùng bạn bấm Chuyển mã, quá trình thực hiện việc chuyển đổi diễn ra rất nhanh, chỉ khoảng vài giây là xong. Sau đó, bạn thực hiện lưu lại file cần chuyển ở dạng thông dụng *.doc mặc định của Word.

Cách 2: Chuyển font chữ của một đoạn văn bản thông qua bộ nhớ đệm Clipboard của Windows
Thực chất của cách này cũng hoàn toàn tương tự như cách 1 nhưng thường áp dụng để chuyển mã một đoạn văn bản nhằm tiết kiệm thời gian vì không phải thông qua định dạng file RTF. Bạn mở file văn bản lên, chọn một đoạn cần chuyển rồi ấn Ctrl + C để copy vào Clipboard và chọn tương ứng với bảng mã nguồn trên Unikey. Trên Unikey, chọn phần bảng mã đích tương ứng với font mong muốn, sau đó đánh dấu kiểm vào mục Chuyển mã clipboard trên Unikey, rồi ấn Chuyển mã. Sau đó, bạn ấn Ctrl + V vào phần văn bản của bạn, cuối cùng bạn sẽ có được đoạn mã văn bản thích hợp như mong muốn.

Chương trình Unikey có thể dùng để chuyển mã giữa rất nhiều định dạng mã văn bản khác nhau. Hiện phiên bản mới nhất là Unikey 4.0, bạn có thể tải ở trang web unikey.org hoặc tìm mua ở các cửa hàng phần mềm tin học

THINHRAZOR21428
13-05-2008, 08:11
Quên mật khẩu đăng nhập vào Windows XP? Chuyện nhỏ!



Bất chợt lúc nào đó, bạn lỡ quên mất mật khẩu Windows XP để đăng nhập vào máy tính của mình. Vậy là chỉ còn cách format ổ cứng? Cài lại Windows và mọi dữ liệu trong máy tính của mình tiêu tan?

Bộ công cụ hệ thống Hiren 8.2 sẽ cung cấp cho bạn chức năng khôi phục mật khẩu đăng nhập vào Windows XP đã mất với Active Password Changes 3.0. Đầu tiên, bạn hãy chuẩn bị một đĩa CD khởi động Hiren 8.2. Tiếp theo, bạn hãy khởi động máy tính từ CD-ROM, một danh sách các công cụ hiện ra, bạn hãy vào phần Password & Registry Tools, chọn công cụ Active Password Change.

Sau khi chương trình khởi động, bạn sẽ thấy một danh sách các lệnh được khởi đầu bằng các con số. Hãy chọn dòng số [2] tương ứng với “Search for MS SAM Database on all hardisk and logical Driver”.

Chương trình sẽ bắt đầu quá trình dò trên tất cả các phân vùng đĩa của máy tính để tìm tập tin SAM (là tập tin chứa dữ liệu về User và Password của Windows). Máy tính sẽ yêu cầu bạn chọn tập tin SAM nằm ở phân vùng nào. Nếu bạn chỉ có một phân vùng chứa SAM thì nhấn Enter để tiếp tục.

Tiếp theo bạn sẽ nhận được một danh sách các Username và một loạt các lựa chọn đối với từng User cụ thể. Bạn chọn User mà mình muốn xóa mật mã và đánh dấu vào dòng “Clear this user password”. Nhấn Enter để kết thúc.

Vậy là mật mã User của bạn đã bị xóa. Bạn có thể khởi động lại máy tính, đăng nhập User với mật mã “trắng” và điều chỉnh lại máy tính như ý bạn muốn và tất nhiên sau đó bạn có thể đặt lại mật khẩu đăng nhập Windows như ban đầu.

Bạn có thể tham khảo thêm về bộ công cụ hệ thống Hiren này tại trang web: http://homepape.ntlworld.com/hiren.thanki/bootcd.html và mua đĩa CD Boot Hiren tại các cửa hàng bán software CD.

THINHRAZOR21428
13-05-2008, 08:12
Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nhịp sống hiện đại, máy tính ngày càng trở nên gần gũi hơn với mọi người. Nó mang cả thế giới đến cho bạn nhưng cũng có thể mang thế giới ấy ra đi nếu bạn không chăm sóc, sử dụng nó cẩn thận.


Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nhịp sống hiện đại, máy tính ngày càng trở nên gần gũi hơn với mọi người. Nó mang cả thế giới đến cho bạn nhưng cũng có thể mang thế giới ấy ra đi nếu bạn không chăm sóc, sử dụng nó cẩn thận.

1. Vệ sinh chung: Một trong những nguyên nhân phổ biến của tình trạng máy tính trở nên nóng hừng hực như lò lửa là do bụi bặm, cáu bẩn bám bên trong máy. Do đó, bạn cần giữ cho máy tính luôn sạch sẽ cả bên trong lẫn bên ngoài. Bạn nên dùng một cây cọ mềm để quét sạch các lớp bụi, cáu bẩn. Việc làm này cần được thực hiện tối thiểu một lần/năm.

2. Sử dụng ổn áp điện: Máy tính vốn rất nhạy cảm với những thay đổi đột ngột của cường độ dòng điện, chỉ cần một sự cố về điện đột ngột như cúp điện, tăng điện, chập mạch… cũng có thể làm hỏng ổ cứng hay nổ bo mạch… Do đó, bạn nên trang bị cho máy tính một bộ ổn áp điện hay một bộ lưu điện - UPS càng tốt.

3. Tắt nguồn màn hình: Hầu hết các loại màn hình hiện nay đều có tính năng tắt tự động khi thoát khỏi hệ điều hành, nhưng như thế không có nghĩa là chúng không sử dụng điện, bằng chứng là công tắc màn hình vẫn sáng hoặc nhấp nháy. Thật ra màn hình chỉ đang “ngủ” và vẫn đang hoạt động (sử dụng điện để “ngủ”).

Nếu để tình trạng này xảy ra một thời gian dài, đèn hình sẽ bị yếu (đối với màn hình CRT) hoặc xuất hiện các điểm ảnh hỏng (đối với màn hình LCD). Do đó, bạn hãy chịu khó tắt nguồn màn hình mỗi khi không làm việc với máy tính nữa, để máy có thời gian nghỉ ngơi hồi phục “sức khỏe”.

4. Để hệ thống luôn hoạt động: Không giống như màn hình nên tắt hẳn mỗi khi thoát khỏi hệ điều hành, hệ thống máy tính luôn cần được hoạt động. Rất nhiều người đã không nhận ra rằng khởi động máy tính từ tình trạng “lạnh ngắt” của các bộ phận như: bộ nguồn, bo mạch, ổ cứng… sẽ làm suy giảm rất nhiều tuổi thọ của chúng. Bạn hãy tưởng tượng một cầu thủ ra sân thi đấu mà không khởi động thì liệu anh ta sẽ đá bóng được trong bao lâu?! Cách giải quyết ở đây là bạn nên cho máy tính ngủ ở chế độ Hibernation thay vì Shutdown hoàn toàn khi không làm việc với nó nữa.

5. Khám sức khỏe cho ổ cứng: Công việc này rất đơn giản, từ cửa sổ My Computer, bạn kích chuột phải lên biểu tượng ổ cứng muốn kiểm tra, chọn Properties\Tools\Check now. Bạn cũng có thể dùng các phần mềm chuyên nghiệp khác để kiểm tra kỹ hơn. Nếu chương trình phát hiện ổ cứng có nhiều lỗi hay bad sector thì bạn hãy ngay lập tức sao lưu các dữ liệu quan trọng rồi mới tiến hành sửa chữa.

6. Phòng chống virus: Bạn có thể sử dụng các chương trình thuộc hàng VN chất lượng cao như Bkav 2006, D32 (dung lượng nhỏ, hỗ trợ tiếng Việt) hay hàng ngoại như Norton Antivirus 2006, Panda Titanium 2006, Symantec Antivirus…

7. Kiểm tra pin CMOS: Cục pin bé tí này còn được gọi là pin nuôi vì dùng năng lượng của mình để “nuôi” các thông tin thiết lập trong Bios đảm bảo cho hệ thống có thể khởi động được. Để kiểm tra tình trạng pin nuôi, bạn chỉ việc để ý đồng hồ hệ thống, nếu thấy nó bắt đầu chạy chậm thì pin nuôi cũng sắp “tiêu” và bạn nên nhanh chóng thay pin mới đi là vừa.

8. Cẩn thận khi mở thùng máy: Bất cứ khi nào bạn định mở thùng máy, hãy nhớ tắt nguồn và rút hẳn phích cắm điện ra khỏi ổ điện. Khi chạm vào các bộ phận bên trong thùng máy, bạn hãy để cơ thể mình trực tiếp nối đất hoặc thông qua một vật có khả năng dẫn điện nào đó hoặc đeo vòng khử tĩnh điện nhằm tránh làm hỏng các bo mạch do tương tác tĩnh điện.

9. Bảo trì chuột: Sau một thời gian sử dụng, chuột sẽ bị bám đầy bụi và cáu bẩn. Đối với chuột bi, bạn sẽ thấy sự di chuyển của nó không còn trơn tru như lúc mới mua mà bắt đầu “cà rịch cà tang” lúc đi lúc không, có khi nhảy lung tung. Để vệ sinh nó, bạn sử dụng một cái cạo nhỏ cạo cáu bẩn bám trên các thanh nhựa cuộn (phần tiếp xúc với bi), bánh xe cuộn, đồng thời dùng khăn lau chùi cả viên bi nữa. Đối với chuột quang, bạn chỉ việc cạo sạch bụi đất bám theo bánh xe cuộn là được.

10. Dọn dẹp Registry: Bạn thích vọc máy tính nên thường xuyên cài đặt, gỡ bỏ các chương trình thử nghiệm vào hệ thống. Sau một thời gian, bạn sẽ thấy hệ thống trở nên chậm chạp đến khó hiểu. Nguyên nhân chủ yếu là do thông tin của các ứng dụng đã gỡ bỏ vẫn còn tồn tại trong Registry và ngày càng nhiều thêm. Kết quả là Registry phình to ra với khá nhiều rác. Để quét sạch các thứ rác thải này, bạn nên dùng những phần mềm chuyên nghiệp như: Registry Mechanic, Tuneup Utilities 2006

THINHRAZOR21428
13-05-2008, 08:12
Đôi khi chúng ta có nhu cầu hẹn giờ tắt máy tính (ví dụ: bật nhạc để nằm nghe và... ngủ) nhưng trong tay lại không có sẵn phần mềm nào như thế vậy bạn có thể thực hiện rất đơn giản như sau:
Cứ bật các chương trình (ví dụ nghe nhạc, download) bình thường khi nào muốn hẹn giờ tắt thì vào Start->Run gõ lệnh sau đây và nhấn Enter.

Lệnh:
QUOTE
shutdown -f -s -t xx (xx là số giây hẹn giờ tắt).

Ví dụ: hẹn giờ tắt 1 tiếng: shutdown -f -s -t 3600

Nếu bạn lỡ hẹn giờ rồi, muốn hoãn lại thì thực hiện lệnh shutdown -a

Ngoài ra còn có:

Dùng: shutdown [-i | -l | -s | -r | -a] [-f] [-m \\computername] [-t xx]

-i Hướng dẫn
-l Log off (Không dùng m phía sau)
-s Tắt máy
-r Tắt máy sau đó restart
-a Abort a system shutdown
-m \\computername Remote computer to shutdown/restart/abort
-t xx Set thời gian tắt máy trong xx giây

-f Ép các ứng dụng đang chạy phải tắt mà không đưa ra cảng báo (warning)

Hy vọng nó có ích cho bạn!

THINHRAZOR21428
13-05-2008, 08:14
Một số kiến thức cơ bản về FAT32 và NTFS






Trước khi cài đặt, Windows XP luôn đòi hỏi format lại đĩa cứng theo định dạng FAT32 hoặc NTFS. Sử dụng các chương trình format đời mới hiện nay nó cũng đưa ra lựa chọn giữa FAT32 và NTFS. Vậy hệ thống FAT32 và NTFS trên đĩa cứng là gì, tác dụng của nó thế nào, nên chọn loại nào cho máy tính?

Khái niệm về FAT và NTFS

FAT16: Với HĐH MS-DOS, hệ thống tập tin FAT (FAT16 – để phân biệt với FAT32) được công bố vào năm 1981 đưa ra một cách thức mới về việc tổ chức và quản lý tập tin trên đĩa cứng, đĩa mềm. Tuy nhiên, khi dung lượng đĩa cứng ngày càng tăng nhanh, FAT16 đã bộc lộ nhiều hạn chế. Với không gian địa chỉ 16 bit, FAT16 chỉ hỗ trợ đến 65.536 liên cung (clusters) trên một partition, gây ra sự lãng phí dung lượng đáng kể (đến 50% dung lượng đối với những ổ đĩa cứng trên 2 GB).

FAT32: được giới thiệu trong phiên bản Windows 95 Service Pack 2 (OSR 2), được xem là phiên bản mở rộng của FAT16. Do sử dụng không gian địa chỉ 32 bit nên FAT32 hỗ trợ nhiều cluster trên một partition hơn, do vậy không gian đĩa cứng được tận dụng nhiều hơn. Ngoài ra với khả năng hỗ trợ kích thước của phân vùng từ 2GB lên 2TB và chiều dài tối đa của tên tập tin được mở rộng đến 255 ký tự đã làm cho FAT16 nhanh chóng bị lãng quên. Tuy nhiên, nhược điểm của FAT32 là tính bảo mật và khả năng chịu lỗi (Fault Tolerance) không cao.

NTFS (New Technology File System): được giới thiệu cùng với phiên bản Windows NT đầu tiên (phiên bản này cũng hỗ trợ FAT32). Với không gian địa chỉ 64 bit, khả năng thay đổi kích thước của cluster độc lập với dung lượng đĩa cứng, NTFS hầu như đã loại trừ được những hạn chế về số cluster, kích thước tối đa của tập tin trên một phân vùng đĩa cứng.

NTFS sử dụng bảng quản lý tập tin MFT (Master File Table) thay cho bảng FAT quen thuộc nhằm tăng cường khả năng lưu trữ, tính bảo mật cho tập tin và thư mục, khả năng mã hóa dữ liệu đến từng tập tin. Ngoài ra, NTFS có khả năng chịu lỗi cao, cho phép người dùng đóng một ứng dụng “chết” (not responding) mà không làm ảnh hưởng đến những ứng dụng khác. Tuy nhiên, NTFS lại không thích hợp với những ổ đĩa có dung lượng thấp (dưới 400 MB) và không sử dụng được trên đĩa mềm.

So sánh giữa FAT32 và NTFS

NTFS là hệ thống file tiên tiến hơn rất nhiều so với FAT32. Nó có đầy đủ các đặc tính của hệ thống file hiện đại và FAT32 không hề có. Bạn nên dùng NTFS để thay thế cho FAT32 vì các lý do sau:

- FAT32 không hỗ trợ các tính năng bảo mật như phần quyền quản lý, mã hoá.. như NTFS. Vấn đề này đặc biệt hiệu quả đối với Windows. Với NTFS, bạn có thể không cần sử dụng các tiện ích mã hoá hay đặt mật khẩu giấu thư mục v.v, vì đây là đặc tính đã có sẵn của NTFS, chỉ cần bạn biết khai thác. Việc xài các tiện ích không nằm sẵn trong hệ điều hành để thao tác trực tiếp với đĩa vẫn có ít nhiều rủi ro.

- FAT32 có khả năng phục hồi và chịu lỗi rất kém so với NTFS. Có một số ý kiến cho rằng NTFS không tương thích nhiều với các chương trình kiểm tra đĩa hay sửa đĩa mà người dùng đã quen thuộc từ lâu, như vậy sẽ vô cùng bất tiên trong trường hợp đĩa bị hư sector. Nên yên tâm vì NTFS là hệ thống file có khả năng ghi lại được các hoạt động mà hệ điều hành đã và đang thao tác trên dữ liệu, nó có khả năng xác định được ngay những file bị sự cố mà không cần phải quét lại toàn bộ hệ thống file, giúp quá trình phục hồi dữ liệu trở nên tin cậy và nhanh chóng hơn. Đây là ưu điểm mà FAT 32 hoàn toàn không có.

Khi mà mất điện đột ngột thì Windows 98, 2000, XP… đều phải quét lại đĩa khi khởi động lại nếu đĩa đó được format bằng chuẩn FAT32. Trong khi format đĩa cứng bằng NTFS thì lại hoàn toàn không cần quét đĩa lại, bởi vì hệ thống dùng NTFS có được những thông tin về tính toàn vẹn dữ liệu ghi trên đĩa và nó mất rất ít thời gian để biết được về mặt logic đĩa của mình có lỗi hay không và nếu có thì hệ thống cũng tự phục hồi một cách cực kỳ đơn giản và nhanh chóng. Với FAT32 thì nó phải rà quét toàn bộ lâu hơn nhiều. Một hệ thống Windows 2000, XP sẽ ổn định hơn nhiều nếu cài trên phân vùng được format bằng NTFS. Ngoài ra NTFS còn được trang bị công cụ kiểm tra và sửa đĩa rất tốt của Microsoft.

- NTFS có khả năng truy cập và xử lý file nén ngon lành hệt như truy cập vào các file chưa nén, điều này không chỉ tiết kiệm được đĩa cứng mà còn gia tăng được tuổi thọ của đĩa cứng.

- Nhiều người phàn nàn rằng không thể truy cập vào các đĩa cứng được format bằng NTFS khi đang ở DOS, Windows 98 hoặc WinME… Thực ra thì DOS, Windows 98 và Windows ME đã quá cũ và các phần mềm còn hữu dụng của chúng cũng không còn bao nhiêu.

- NTFS đặt được quota sử dụng cho người dùng, vô cùng tiện dụng cho các hệ thống máy ở công ty. Đặc biệt tiện dụng khi “âm thầm” cấm được con cái sao chép những phim ảnh độc hại vào các thư mục “bí mật” của chúng trong đĩa cứng.

Ngoài ra, NTFS còn có rất nhiều tiện ích tuyệt chiêu chuyên sâu khác cho giới người dùng cao cấp khác như “mount partition”, tạo “hard link” tới một file, hỗ trợ dùng RAID v.v

- Nếu bạn đã thực sự quyết định chọn NTFS làm “duyên giai ngẫu” thì bạn có thể từ bỏ hẳn FAT 32 kể từ nay. Hiện có rất nhiều tiện ích chuyển đổi từ FAT 32 sang NTFS tùy bạn lựa chọn. Tiện hơn cả là dùng bộ tiện ích có sẵn trong các đĩa CD khởi động bằng Hirenboot đang rất phổ biến hiện nay.

Tuy thế, FAT32 vẫn còn tỏ ra hữu dụng trên các máy tính cấu hình quá yếu ớt, chỉ có thể chạy được Windows 98. FAT16 và FAT32 vẫn được dùng để định dạng cho các loại thẻ nhớ, vì các thiết bị chấp nhận thẻ nhớ như máy ảnh số, máy nghe nhạc vẫn chưa thấy loại nào tương thích với NTFS cả. FAT16 luôn là lựa chọn hàng đầu khi bạn muốn copy dữ liệu của mình từ một máy tính chạy Windows sang máy chạy hệ điều hành khác như Mac chẳng hạn. Hầu hết các máy Mac hiện nay đều không thể nhận dạng các thẻ nhớ USB được định dạng bằng FAT 32.

THINHRAZOR21428
13-05-2008, 08:14
Tìm hiểu về Registry của Windows


(Bookpool.com)

Registry được xem là “chìa khóa tối thượng” để xâm nhập vào Windows và hầu như chỉ dùng cho giới chuyên môn cao. Với những người dùng bình thường thì Registry của Windows gần như là một “đám rừng” gần như không có lối ra. Dưới đây là một lsố kiến thức về Registry.

Registry là một cơ sở dữ liệu dùng để lưu trữ mọi thông số kỹ thuật của Windows. Nó ghi nhận tất cả các thông tin khi bạn thay đổi hoặc chỉnh sửa trong Menu Settings, Control Panel...

Trong Window 95 và Windows 98 thì Registry được lưu lại trong 2 file là: user.dat và system.dat trong thư mục Windows. Trong Windows ME, Registry được lưu trong file Classes.dat trong thư mục Windows. Trong Windows 2000 và Windows XP, thì Registry được lưu trong thư mục “Windows\System32\Config”.

Bạn có thể chỉnh sửa Registry của các Windows bằng trình Registry Editor có sẵn trong Windows bằng cách vào cửa sổ Run và gõ lệnh “Regedit”.

Registry có cấu trúc hình cây, tương tự như cấu trúc của cây thư mục với rất nhiều nhánh con tỏa ra tùy theo cấu trúc ứng dụng. Thông thường Registry của Windows có 5 nhánh chính, mỗi nhánh đảm nhận viện lưu trữ những thông tin riêng biệt. Mỗi nhánh chính tỏa ra rất nhiều nhánh con và những nhánh con này cũng lưu trữ vô số thông tin đặc thù về mọi thứ có trong Windows.

HKEY_CLASSES_ROOT: Lưu những thông tin dùng chung cho toàn bộ hệ thống.

HKEY_CURRENT_USER: Lưu những thông tin cho người dùng đang sử dụng hoặc đăng nhập vào Windows.

HKEY_LOCAL_MACHINE: Lưu những thông tin về hệ thống, phần cứng, phần mềm…

HKEY_USERS: Lưu những thông tin của tất cả các User (người dùng), mỗi user là một nhánh với tên là số ID định dạng của user đó.

HKEY_CURRENT_CONFIG: Lưu thông tin về phần cứng hiện tại đang dùng.

Những người dùng thành thạo Windows muốn hiểu sâu hơn về hệ thống đều cần tìm hiểu kỹ về Registry càng nhiều càng tốt vì những lý do sau:

- Registry lưu tất cả các thông tin về phần cứng, phần mềm, những lựa chọn của người dùng....kiểm soát được nội dung của Registry là yêu cầu tất yếu để bạn sử dụng máy tính một cách khoa học, hiểu sâu hơn về môi trường làm vịệc của Windows.

- Muốn tiến xa hơn trong kỹ thuật lập trình trên nền Windows, cách bảo mật, thậm chí bẻ khóa phần mềm hay đột nhập vào máy tính của người khác… thì bạn đều cần phải có hiểu biết nhất định về Registry.

- Hầu hết các thủ thuật trong Windows mà các tạp chí tin học tên tuổi đã đăng tải đều liên quan mật thiết đến Registry. Các công cụ có thể tác động vào Windows do giới phần mềm tạo nên đa số cũng đều dựa trên cơ sở “xâm nhập” Registry bằng các công cụ được thiết kế thân thiện và trực quan hơn.

Cảnh báo khi sử dụng Registry Editor

Tất cả mọi thứ tồn tại trong hệ thống Windows đều để lại những "mật mã" hoặc chìa khóa cực kỳ trọng yếu trong Registry. Việc tác động vào những mã khóa này có thể chỉ ảnh hưởng đến một phần nhỏ nào đó của Windows, nhưng đôi khi có tác động đến toàn bộ hệ thống. Khi "trót dại" chỉnh sửa sai một vài "key" tối quan trọng nào đó là có thể làm cho Winsows bị tê liệt hoặc hư hỏng hoàn toàn.

Khi bạn đã “dám” xâm nhập vào Registry Editor điều bắt buộc trước tiên là bạn phải sao lưu lại Registry của mình bằng cách chạy Registry Editor -> File -> Export và lưu file có đuôi .REG này vào chỗ an toàn để nếu có chỉnh sửa sai thì vẫn phục hồi lại được nguyên trạng hệ thống. Khi muốn phục hồi lại Registry nguyên thủy thì vào lại Registry Editor -> File -> Import -> Tìm đến file .REG đã lưu để tiến hành phục hồi.

Một vài lưu ý khi chỉnh sửa Registry

Dòng chữ đứng sau các từ: User Key, Sytem Key, hoặc Key cho biết đường dẫn đến nhánh cần sửa chữa hoặc tạo mới nếu nó không tồn tại. Lưu ý rằng User Key là để thay đổi đó có tác dụng với người đang đăng nhập (Logon); System Key là để thay đổi đó có tác dụng với tất cả người dùng.

Dòng Name là tên của khoá cần tạo, nó là nhánh con bên cửa sổ bên phải của Registry.

Dòng Type là kiểu dữ liệu của khoá mới tạo.

Dòng Value là giá trị của khoá.

Sau khi đã sao lưu Registry gốc và biết cách phục hồi, hầu như bạn đã có thể thoải mái “tung hoành” trong Registry. Để trở thành một “chuyên gia Registry” thực sự không phải là quá khó khăn, bạn chỉ cần có một vốn tiếng Anh đủ để đọc và hiểu đúng tất cả những gì mà Microsoft đã trình bày bằng tiếng Anh trong Windows.

Khi đã hiểu hết mọi từ ngữ trong Registry, bạn có thể vào “vọc” bằng cách chỉnh sửa lại các thông số mặc định bằng các thông số của mình, sau đó lưu lại Registry, thoát khỏi tài khoản User đang dùng, đăng nhập lại vào tài khoản đã bị chỉnh Registry, truy vào khoản mục đã chỉnh sửa để xem tác dụng của nó. Nếu nó quá nhanh, quá chậm hoặc… “liệt” hoàn toàn thì bạn nên vào lại Registry để điều chỉnh nó về lại thông số cũ. Nếu không nhớ nổi những thông số đã bị chỉnh sửa thì hãy tiến hành thì phục hồi lại Registry nguyên gốc.

THINHRAZOR21428
13-05-2008, 08:16
Làm sao để máy tính chạy nhanh nhất là mong ước chính đáng của hầu hết các “công dân IT”. Để làm được việc này có nhiều cách, trong đó sử dụng các phần mềm tăng tốc là một trong những cách khả thi và ít tốn tiền nhất.
Với WinOptimizer Platinum 3, người dùng có thể yên tâm với chiếc máy tính không những chạy nhanh mà còn ổn định. Chương trình chia làm 4 nhóm công cụ chính là: Cleaning Tools (các công cụ dọn dẹp rác máy tính, giải phóng dung lượng ổ đĩa); Tuning Tools (các công cụ giúp tối ưu các thông số, tăng tốc hệ thống); File Tools (những công cụ chia tách, nối file, xóa file vĩnh viễn, hiển thị dung lượng thư mục dưới dạng biểu đồ hình bánh); Tweaking Tools (công cụ dồn đĩa, xem thông tin về hệ thống, thay đổi các thiết lập Windows).

Ngoài ra nếu là người mới làm quen với máy vi tính và không biết phải sử dụng các công cụ trên như thế nào, chương trình cung cấp cho bạn một công cụ tự động: 1- Click-Optimization. Chỉ với một cú nhấp chuột, bạn có thể để chương trình thực hiện tối ưu hệ thống một cách tự động từ A tới Z, rất tiện lợi.

WinOptimizer Platinum 3 là phần mềm thương mại của hãng Ashampoo, tương thích với Windows 98, Me, 2000, XP. Bạn có thể xem thông tin và tải bản dùng thử 30 ngày tại website http://www.ashampoo.com (dung lượng 13,4 MB) hay tìm mua trên các đĩa CD phần mềm tổng hợp, hiện có bán ngoài thị trường.

THINHRAZOR21428
13-05-2008, 08:16
Cơ bản về ổ cứng máy tính

Phần I: Các chuẩn kết nối ổ cứng



Ổ đĩa cứng là thành phần không thể thiếu của một hệ thống máy tính. Nó là nơi lưu trữ hệ điều hành, cài đặt các phần mềm, tiện ích cũng như lưu trữ dữ liệu để sử dụng.

Những hiểu biết cơ bản về ổ đĩa cứng sẽ giúp bạn sử dụng tốt hơn.

Bài viết không nhằm giới thiệu chi tiết các linh kiện, bộ phận hay cách hoạt động bên trong ổ cứng mà mang đến cho bạn hiểu biết khái quát về các loại ổ cứng thông dụng hiện nay, cách nối kết vào hệ thống, cài đặt và sử dụng.

Chuẩn kết nối: IDE và SATA

Hiện nay ổ cứng gắn trong có 2 chuẩn kết nối thông dụng là IDE và SATA. Khi muốn mua mới hoặc bổ sung thêm một ổ cứng mới cho máy tính của mình, bạn cần phải biết được bo mạch chủ (motherboard) hỗ trợ cho chuẩn kết nối nào. Các dòng bo mạch chủ được sản xuất từ 2 năm trở lại đây sẽ có thể hỗ trợ cả hai chuẩn kết nối này, còn các bo mạch chủ trở về trước thì sẽ chỉ hỗ trợ IDE. Bạn cần xem thêm thông tin hướng dẫn kèm theo của bo mạch chủ mình đang sử dụng hoặc liên hệ nhà sản xuất để biết chính xác được chuẩn kết nối mà nó hỗ trợ.

IDE (EIDE)

Parallel ATA (PATA) hay còn được gọi là EIDE (Enhanced intergrated drive electronics) được biết đến như là 1 chuẩn kết nối ổ cứng thông dụng hơn 10 năm nay. Tốc độ truyền tải dữ liệu tối đa là 100 MB/giây. Các bo mạch chủ mới nhất hiện nay gần như đã bỏ hẳn chuẩn kết nối này, tuy nhiên, người dùng vẫn có thể mua loại card PCI EIDE Controller nếu muốn sử dụng tiếp ổ cứng EIDE.

SATA (Serial ATA)

Nhanh chóng trở thành chuẩn kết nối mới trong công nghệ ổ cứng nhờ vào những khả năng ưu việt hơn chuẩn IDE về tốc độ xử lý và truyền tải dữ liệu. SATA là kết quả của việc làm giảm tiếng ồn, tăng các luồng không khí trong hệ thống do những dây cáp SATA hẹp hơn 400% so với dây cáp IDE. Tốc độ truyền tải dữ liệu tối đa lên đến 150 - 300 MB/giây. Đây là lý do vì sao bạn không nên sử dụng ổ cứng IDE chung với ổ cứng SATA trên cùng một hệ thống. Ổ cứng IDE sẽ “kéo” tốc độ ổ cứng SATA bằng với mình, khiến ổ cứng SATA không thể hoạt động đúng với “sức lực” của mình. Ngày nay, SATA là chuẩn kết nối ổ cứng thông dụng nhất và cũng như ở trên, ta có thể áp dụng card PCI SATA Controller nếu bo mạch chủ không hỗ trợ chuẩn kết nối này.

Bạn có thể yên tâm là các phiên bản Windows 2000/XP/2003/Vista hay phần mềm sẽ nhận dạng và tương thích tốt với cả ổ cứng IDE lẫn SATA. Tuy vậy, cách thức cài đặt chúng vào hệ thống thì khác nhau. Do đó, bạn cần biết cách phân biệt giữa ổ cứng IDE và SATA để có thể tự cài đặt vào hệ thống của mình khi cần thiết. Cách thức đơn giản nhất để phân biệt là nhìn vào phía sau của ổ cứng, phần kết nối của nó.


Giao diện kết nối phía sau của ổ cứng IDE và SATA. Phân biệt 2 loại cáp truyền tải dữ liệu của SATA và EIDE (IDE).


Ổ cứng PATA (IDE) với 40-pin kết nối song song, phần thiết lập jumper (10-pin với thiết lập master/slave/cable select) và phần nối kết nguồn điện 4-pin, độ rộng là 3,5-inch. Có thể gắn 2 thiết bị IDE trên cùng 1 dây cáp, có nghĩa là 1 cáp IDE sẽ có 3 đầu kết nối, 1 sẽ gắn kết vào bo mạch chủ và 2 đầu còn lại sẽ vào 2 thiết bị IDE.

Ổ cứng SATA có cùng kiểu dáng và kích cỡ, về độ dày có thể sẽ mỏng hơn ổ cứng IDE do các hãng sản xuất ổ cứng ngày càng cải tiến về độ dày. Điểm khác biệt dễ phân biệt là kiểu kết nối điện mà chúng yêu cầu để giao tiếp với bo mạch chủ, đầu kết nối của ổ cứng SATA sẽ nhỏ hơn, nguồn đóng chốt, jumper 8-pin và không có phần thiết lập Master/Slave/Cable Select, kết nối Serial ATA riêng biệt. Cáp SATA chỉ có thể gắn kết 1 ổ cứng SATA.


Các loại kết nối của USB, FireWire 400, FireWire 800.



Ngoài 2 chuẩn kết nối IDE (PATA) và SATA, các nhà sản xuất ổ cứng còn có 2 chuẩn kết nối cho ổ cứng gắn ngoài là USB, FireWire. Ưu điểm của 2 loại kết nối này so với IDE và SATA là chúng có thể cắm “nóng” rồi sử dụng ngay chứ không cần phải khởi động lại hệ thống.

USB (Universal Serial Bus)

USB 2.0 là chuẩn kết nối ngoại vi cho hầu hết các máy tính sử dụng hệ điều hành Windows. Loại kết nối này có tốc độ truyền tải dữ liệu tối đa lên đến 480 MB/giây. Tốc độ duy trì liên tục khoảng từ 10 - 30 MB/giây, tuỳ thuộc vào những nhân tố khác nhau bao gồm loại thiết bị, dữ liệu được truyền tải và tốc độ hệ thống máy tính. Nếu cổng USB của bạn thuộc phiên bản cũ hơn 1.0 hay 1.1 thì bạn vẫn có thể sử dụng ổ cứng USB 2.0 nhưng tốc độ truyền tải sẽ chậm hơn.

FireWire

FireWire còn được gọi là IEEE 1394, là chuẩn kết nối xử lý cao cấp cho người dùng máy tính cá nhân và thiết bị điện tử. Giao diện kết nối này sử dụng cấu trúc ngang hàng và có 2 cấu hình:

FireWire 400 (IEEE 1394a) truyền tải môt khối lượng dữ liệu lớn giữa các máy tính và những thiết bị ngoại vi với tốc độ 400 MB/giây. Thường dùng cho các loại ổ cứng gắn ngoài, máy quay phim, chụp ảnh kỹ thuật số…

FireWire 800 (IEEE 1394b) cung cấp kết nối tốc độ cao (800 MB/giây) và băng thông rộng cho việc truyền tải nhiều video số và không nén, các tập tin audio số chất lượng cao. Nó cung ứng khả năng linh hoạt trong việc kết nối khoảng cách xa và các tuỳ chọn cấu hình mà USB không đáp ứng được.

Có thể tham khảo thêm về USB 2.0 với FireWire 400, FireWire 800 tại đây

Phần II: Cài đặt ổ cứng vào hệ thống

Trong phần I ta đã làm quen với các chuẩn kết nối ổ cứng và chọn cho mình được loại ổ cứng thích hợp để cài đặt.

Phần này bạn sẽ thao tác ngay trên hệ thống để cài đặt ổ cứng vào sử dụng.


Ổ cứng IDE (trái) và SATA (phải) trên cùng một khay.

Để đảm bảo an toàn trước khi thực hiện công việc cài đặt, bạn cần tháo toàn bộ phích cắm nguồn điện của máy tính ra khỏi ổ nguồn, đeo thiết bị tránh tĩnh điện. Tiếp theo, bạn cần một tua-vít để mở nắp case máy tính, và tìm đến khay 3,5-inch, nếu không có ổ đĩa mềm thì khay sẽ nằm ngay bên dưới ổ CD-Rom, tuy nhiên, tuỳ thuộc vào loại case của bạn đang dùng mà vị trí sẽ khác biệt.

Một lưu ý nếu bạn cài đặt ổ cứng thứ 2 bổ sung cho hệ thống, bạn phải chừa một khoảng cách giữa 2 ổ cứng, vì các ổ cứng phát sinh ra nhiệt khá nhiều khi hoạt động, đặc biệt là các dòng ổ cứng với 7200 rpm, nhiệt độ sẽ ảnh hưởng rất lớn đến tuổi thọ ổ cứng. Cài đặt ổ cứng vào khay và bắt vít ở 2 cạnh bên sẽ giữ cho ổ cứng cố định khi hoạt động.


Hai bên thân ổ cứng luôn có các lỗ vít để gắn vào khay.


Cáp Molex nguồn và cáp IDE cho ổ cứng ATA (IDE).


Ổ cứng PATA (EIDE)

Ta cần thiết lập jumper trước khi gắn cáp vào ổ cứng. Jumper sẽ là Master nếu ổ cứng bạn sắp gắn sẽ cài đặt hệ điều hành và là ổ cứng chính hoặc duy nhất. Slave nếu ổ cứng đó là ổ cứng bổ sung thêm và Cable Select là tuỳ thuộc vào cáp cắm vào khe “Primary” trên bo mạch chủ hay không.

Nguồn điện sẽ cung cấp năng lượng cho ổ cứng hoạt động, cáp 4-pin Molex sẽ thực hiện công việc này. Đặc điểm nhận dạng cáp Molex là chúng có 4 dây (1 đỏ, 2 đen, 1 vàng) được dẫn từ bộ nguồn trong case máy tính và khớp với khe cắm nguồn phía sau ổ cứng. Cáp còn lại là cáp IDE 80-pin gắm vào phía sau ổ cứng.

Một điểm lưu ý quan trọng khi cắm cáp nguồn Molex và cáp IDE vào các ổ cứng IDE, ta bắt buộc phải thực hiện chính xác thao tác này. Trên thân cáp IDE (80-pin) sẽ có 1 nhánh rìa ngoài cùng có màu khác biệt rõ ràng với toàn bộ thân cáp, ta gắn cáp IDE và Molex sao cho nhánh rìa khác màu trên cáp IDE và dây màu đỏ trên cáp nguồn Molex cùng chụm vào giữa (đối mặt) với nhau (xem hình).


Gắn cáp sao cho màu đỏ cáp nguồn hướng vào với nhánh màu của cáp dữ liệu IDE.



Gắn đầu còn lại của cáp dữ liệu IDE vào khe cắm trên bo mạch chủ.


Đầu cáp IDE còn lại sẽ gắn vào đầu nối IDE trên bo mạch chủ. Nếu ổ cứng mà bạn gắn vào hệ thống là duy nhất, thì phần cáp IDE gắn lên bo mạch chủ phải được kết nối vào khe IDE chính “Primary” trên bo mạch chủ, có thể tham khảo thêm phần hướng dẫn kèm theo của bo mạch chủ.

Ổ cứng SATA

Tương tự như ổ cứng IDE, ổ SATA cũng cần có cáp nguồn SATA và cáp dữ liệu. Việc cài đặt cáp cho ổ cứng SATA có phần đơn giản hơn vì đầu kết nối sẽ vừa khít khi bạn cắm đúng. (Xem hình).


Gắn cáp cho ổ cứng SATA đơn giản hơn.


Gắn đầu còn lại của cáp dữ liệu SATA vào khe cắm trên bo mạch chủ.


Tiếp theo, cắm đầu còn lại của cáp dữ liệu SATA vào khe kết nối SATA trên bo mạch chủ. Không cần thiết lập jumper ở Master, Slave hay Cable Select vì mỗi ổ cứng SATA có riêng duy nhất một cáp cho mình.

Việc cài đặt ổ cứng hoàn tất, bước kế tiếp sẽ là kiểm tra lại cài đặt có chính xác và ổ cứng có hoạt động tốt với hệ thống hay không. Phần III sẽ giúp bạn hiểu rõ cách thức kiểm tra cài đặt.

Nguồn TTO

THINHRAZOR21428
13-05-2008, 08:18
Thủ thuật ''Tắm'' cho PC cũ để... ''chữa bệnh''
--------------------------------------------------------------------------------



Khùng ư? không! Thậm chí, chuyện này còn chẳng xa lạ gì với dân buôn đồ cũ máy tính tại Việt Nam vào cuối thế kỷ trước, khi máy tính vẫn còn là một món đồ "nội thất" trong nhà để thể hiện sự sung túc và hi-tech, dù bị phủ khăn suốt ngày.



Tắm cho PC cũ sẽ chữa được bệnh chập chờn, nhưng không phải ai cũng nên thử.
Thời kỳ những năm cuối cùng của thế kỷ XX, máy tính đối với dân IT Việt Nam còn là thứ đồ thuộc loại xa xỉ. Vì thế mà nghề buôn đồ cũ máy tính ra đời, nhanh chóng trở thành nghề tay trái của sinh viên IT, vừa học vừa làm, tăng cả kinh nghiệm lẫn thu nhập. Cùng với nghề buôn đồ vi tính cũ, là nghệ thuật "xì tút" PC cũng ra đời theo.

Tuyệt chiêu để "mông má" máy tính cũ thì rất nhiều, nhưng cũng chỉ tập trung vào 2 mục đích chính, thứ nhất là đẹp mã, thứ 2 là chữa bệnh chạy chập chờn, vốn cố hữu ở máy tính cũ. Vỏ máy cũ bẩn ư? hoà một chậu nước rửa bát to, ngâm vào đó 1 ngày, trắng như mới ngay. Bàn phím, chuột, lấy kem Cana đánh bóng ôtô lau thật kỹ, làm bào mòn một lớp nhựa mỏng, trông lại sáng bóng. Ngoài ra, nếu muốn máy dễ bán, nên tút lại PC như mới, sau đó để ở chỗ nào nhiều bụi trong khoảng 1 tuần, trông sẽ rất giống với... máy xịn ít được sử dụng.





Tắm cho PC cũ sẽ chữa được bệnh chập chờn, nhưng không phải ai cũng nên thử.

Ngoài ra, chuyện tắm cho nội thất PC cũng không phải là lạ. Mainboard cũ rất hay chập chờn, lúc chạy lúc không. Giải quyết cách nào? Theo các cao thủ đồ cũ về PC, thì nên... ngâm xuống nước 1 ngày, lôi lên kỳ cọ sạch, sấy khô, chạy ổn định ngay.

Tuyệt chiêu này không quá bí ẩn. mainboard cũ chạy chập chờn thường là do bụi bẩn cũ két lại lâu ngày, cộng thêm thời tiết ẩm nên bị đoản mạch ở đâu đó. Khi ngâm nước, bụi bẩn sẽ bở ra, kỳ cọ sạch đi và sấy khô sẽ loại bỏ được hiện tượng chập chờn của mainboard.

Mẹo vặt là vậy, nhưng đây chỉ là giải pháp cho những mainboard quá đát, vô phương cứu chữa thôi. Hoàn toàn không nên thử với những chiếc main Pentium IV đời mới, vì biết đâu đấy, nhỡ bạn sấy chưa đủ... khô?

THINHRAZOR21428
13-05-2008, 08:19
Phòng bệnh cho Laptop

hpnc6120.jpeg ( 10.79K ) Số lượt tải về: 0



Bất kỳ sản phẩm nào cũng có những nguyên tắc rất riêng của nó và các máy tính xách tay cũng vậy. Sử dụng chúng sai quy trình có thể khiến máy gặp một số lỗi gây tốn kém trong khâu sửa chữa, chưa kể đến sức khoẻ con người cũng chịu ảnh hưởng.


Những tham khảo để sử dụng laptop cho đúng dưới dây không hẳn đã là tất cả nhưng có thể giúp bạn bảo vệ được sức khoẻ, đảm bảo tuổi thọ máy và dĩ nhiên là cho công việc của bạn luôn trôi chảy và tránh phải tốn tiền cho những sự cố không đáng có.

Tuyệt đối không để máy trên đùi: Quả là tin đáng chú ý cho những khách hàng ruột của laptop có thói quen để máy lên đùi làm việc trong các chuyến công tác hoặc ở ngoài trời hay trên giường. Do tất cả các bộ phận điều khiển, pin… đều nằm ở mặt dưới nên trong quá trình hoạt động máy sẽ toả ra một lượng nhiệt rất lớn xuống phía dưới. Theo các nhà khoa học, khi người dùng thường xuyên đặt máy trên đùi thì lượng nhiệt này sẽ tác động xấu vào cơ thể. Nhất là đối với nam giới, khả năng vô sinh là rất có thể xảy ra. Bởi vậy, bạn là người có sở thích làm việc với laptop trên đùi thì ngay từ bây giờ hãy bỏ ngay thói quen ấy, nếu không muốn sức khỏe của bạn gặp rắc rối.

Cũng không nên đặt máy trực tiếp lên bàn: Nghe qua thật vô lý vì nếu không đặt máy lên bàn thì còn biết để ở đâu nữa? Nhưng nếu một ngày nào đó bạn bắt gặp hiện tượng máy bị treo liên tục thì khuyến cáo này phần nào đó giúp bạn khắc phục được sự cố trên. Nguyên nhân của hiện tượng treo máy liên tục thì có người: bộ nhớ chứa quá nhiều dữ liệu, bị lỗi phần mềm, nhiễm virus… Nhưng còn một nguyên nhân khác ít được biết đến là do máy quá nóng không toả nhiệt được. Cánh quạt giải nhiệt của laptop nằm hơi chếch về bên hông gần dưới đáy gần dưới đáy máy. Khi đặt máy trực tiếp trên bàn, máy sẽ rất khó toả nhiệt vì không có khoảng không gian trống. Hơn nữa, nhiệt độ ở Việt Nam là rất cao so với các nước sản xuất laptop nên máy càng cần phải được giải nhiệt thường xuyên. Vì thế, nếu không thoát nhiệt được, mọi hoạt động của máy có thể bị ngưng trệ.

Khắc phục lỗi này không khó, bạn nên tạo một không gian thoáng mát giữa máy và mặt bàn. Cách đơn giản nhất, vừa hiệu quả lại ít tốn kém là kê máy trên hai cuốn sách chắc chắn ở hai đầu nhằm tạo một khoảng trống ở giữa. Cách khác, tốn kém, công phu hơn một chút là bạn có thể dùng kỹ thuật tháo quạt và đưa ra phía ngoài cho quạt chạy liên tục.


Các túi đựng laptop thường được thiết kế để máy ít xê dịch nhất.


[B]Đặt máy trong túi đựng đúng quy cách: Tiện ích của laptop là khả năng di động. Nếu để ý bạn sẽ thấy những chiếc túi đựng laptop luôn được thiết kế theo đúng tiêu chuẩn: phải có khả năng giữ máy ở một vị trí rất chặt, không có bất kỳ sự xê dịch nào trong quá trình di chuyển. Một số khách hàng đôi khi xem nhẹ vấn đề này. Đặt máy trong một chiếc túi mỏng, không cố định máy chắc chắn nên trong quá trình di chuyển, máy bị dịch chuyển nhiều thậm chí còn có thể bị ép mạnh bởi một số vật dụng khác trong và ngoài túi đựng. Khi bị chèn ép, màn hình tinh thể lỏng (LCD) của laptop rất nhạy cảm nên sẽ chịu ảnh hưởng đầu tiên. Có rất nhiều trường hợp máy bị hỏng (xuất hiện những đốm màu, còn gọi là nổ màn hình) hoặc vỡ cả màn hình do nguyên nhân này.

Mở đóng laptop nhẹ nhàng: Với kiến trúc vỏ sò, laptop có những đòi hỏi riêng khi đóng mở máy. Đầu tiên là cáp nối bộ phận máy chủ với màn hình. Theo các kỹ sư Công ty Cổ phần Viễn Thông-Tin học-Điện tử Kasati, trong nhiều trường hợp khách hàng đưa máy đến sửa, số máy bị rạn cáp nối do đóng mở liên tục và lực đóng mở quá mạnh chiếm một lượng đáng kể. Ngoài ra, bản lề để điều chỉnh màn hình ngửa ra theo từng góc độ phù hợp cũng cần được quan tâm kỹ. Chỉ nên mở màn hình ở góc độ từ 90-1200. Vượt quá góc độ này sẽ dẫn đến tình trạng gãy màn hình. Đáng nói là cả hai sự cố này lại rất khó khắc phục do linh kiện cáp nối và bản lề laptop rất đắt và cực kỳ hiếm. Nhiều trường hợp sau khi đã hàn lại bản lề, máy vẫn không hoạt động được và chủ nhân đành nói lời tạm biệt do không tìm được bản lề thích hợp.
Đừng bao giờ dùng các dung dịch như nước lau kính để lau màn hình .

Vệ sinh màn hình: Bạn cần chăm chút nhiều hơn đến màn hình tinh thể lỏng (LCD) vì màn hình này rất đắt giá, khó sửa chữa và tìm mua. Một đặc điểm của màn hình loại này là dễ hút bụi và độ bám bụi rất chặt. Nếu chỉ lau bằng giấy mềm thì khi lau xong, vết bẩn vẫn không đi hết. Để làm sạch, nhiều người dùng những dung dịch như nước lau kính để lau màn hình. Đừng bao giờ bạn làm điều ấy vì đồng nghĩa với việc bạn tự tay giết chết màn hình của mình. Cách tốt nhất là dùng vải mềm thấm một ít nước sạch và lai theo chiều từ trên hướng xuống dưới, không lau theo đường vòng tròn hay từ trái sang phải hay ngược lại. Hết sức cẩn thận, cần tránh không cho nước chảy vào các vành của màn hình, sau dso dùng khăn khô mềm để làm sạch lần cuối. Tất nhiên, trước khi lau bạn nên tắt máy.

Bảo đảm tuổi thọ máy: Nếu bạn muốn chiếc máy tính xách tay của mình nhiều năm vẫn chạy tốt thì không nên cho máy đọc những chiếc đĩa CD đã cũ và trầy xước nhiều. Khi cho những chiếc đĩa này vào, mỗi khi bị vấp đĩa, máy sẽ phải tăng công suất và các mắt đọc cũng phải vận hành tối đa, rất dễ bị ngắt giữa chừng trong khi truy xuất vùng dữ liệu. Đó chính là lý do khiến tuổi thọ của nó chóng thu ngắn lại. Sau cùng, bạn cũng lưu ý hơn cho bộ phận bàn phím. Được cấu tạo bởi ma trận hàng và cột, nên chỉ cần một nút bàn phím hỏng thì dễ kéo theo một tổ hợp phím cũng “đi đời”. Theo khuyến cáo của các nhà sản xuất, trong điều kiện làm việc tại chỗ, khách hàng nên sử dụng thêm bàn phím và chuột ngoài. Mỗi đời máy đều có một bộ bàn phím và chuột riênh nên không dễ dàng thay thế mỗi khi chúng “hắt hơi, sổ mũi”.

THINHRAZOR21428
13-05-2008, 08:19
Biến Gmail thành ổ cứng ảo trên PC



Hộp thư Gmail với dung lượng 2GB chắc hẳn đã khiến nhiều người dùng ‘bội thực”, nhưng có thể bạn không biết, ngoài việc gửi và nhận e-mail, G-mail có thể sử dụng như một “ổ cứng” ảo trong máy tính.

Phần mềm miễn phí GMail Drive sẽ giúp bạn thay đổi một số cài đặt trong Gmail để biến hòm thư này thành một ổ cứng, với điều kiện người dùng phải kết nối Internet.

Trước hết, hãy download chương trình này tại địa chỉ: http://www.viksoe.dk/code/gmail.htm . Sau khi đã cài đặt, “ổ cứng” GMail Drive sẽ xuất hiện trong Windows Explorer. Bạn hãy nhấp chuột vào biểu tượng, nhập username và mật khẩu của địa chỉ Gmail.

Nếu không muốn “rườm rà” mỗi khi cần đăng nhập, bạn hãy click chọn vào ô Auto Login để chương trình tự động chạy mỗi khi bạn cần.

Bạn có thể tạo nhiều folder trong GMail Drive để tiện sử dụng, tương tự như một ổ cứng "xịn" của máy tính. Mặc dù GMail Drive giống như 1 ổ cứng PC nhưng thực chất, nó vẫn là đĩa nhớ ảo.

Cho nên nếu muốn sử dụng bạn cần phải kết nối Internet và việc trao đổi file nhanh hay chậm đều phụ thuộc vào tốc độ kết nối Internet của bạn.

Thực chất, khi copy một file vào GMail Drive, bạn đã tạo ra một e-mail và gửi vào chính tài khoản của mình. Do đó, một file đính kèm (attachment) – tối đa 10MB - sẽ xuất hiện trong hòm thư.

Để mở những file này trong Gmail, bạn chỉ việc nhấp chuột vào e-mail đó và ấn nút Download để tải về máy.

GMail Drive thật sự thích hợp với những người thường xuyên phải đi lại và những người dùng 2 máy tính: desktop và laptop. Bạn có thể copy các tệp từ máy tính để bàn vào “ổ cứng” này và sau đó, khôi phục lại từ một laptop khác khi cần thiết.

Phần mềm này tương thích với những máy tính sử dụng trình duyệt Internet Explorer 5.0 trở lên.

THINHRAZOR21428
13-05-2008, 08:20
Giảm tiếng ồn cho máy tính






Bạn có nghĩ những hệ thống máy tính hiện nay tạo ra quá nhiều tiếng ồn không? Dù chúng ta đã bỏ không ít tiền để trang bị những bộ loa chất lượng cao nhằm thưởng thức âm nhạc hay hơn, nhưng âm thanh từ loa cộng với tiếng ồn phát ra từ máy tính làm cho gian phòng trở nên ầm ĩ và hỗn loạn.

Nói chung, máy tính làm việc càng êm ái thì chúng ta càng dễ chịu. Làm cho tiếng ồn của máy tính giảm đến mức chấp nhận được là chuyện dễ dàng và không mấy tốn kém. Bạn không nhất thiết phải làm cho máy tính trở nên hoàn toàn “câm lặng” (thực tế là không có bất kỳ biện pháp nào để thực hiện điều đó), mà chỉ cần làm cho hệ thống vận hành trong im lặng ở mức gọi là “tạm đủ". Bài viết sẽ giúp bạn xác định và di dời các bộ phận là thủ phạm chính gây ra những tiếng ồn khó chịu trong máy tính.

Tiếng ồn và nhiệt độ

Bộ phận phát ra nhiều tiếng ồn nhất trong hệ thống là quạt làm mát và hầu hết mọi máy tính đều được trang bị cùng lúc nhiều thiết bị này. Ví dụ, máy tính Pentium 4 được PC World Mỹ thử nghiệm khi thực hiện bài viết này được trang bị đến bốn quạt làm mát: bộ nguồn cấp điện, CPU, card đồ họa và ở mặt sau thùng máy.

Dĩ nhiên, những chiếc quạt này có chức năng làm mát cho các mạch điện mỏng manh bên trong thùng máy và đó là một nhiệm vụ hết sức quan trọng. Tuy nhiên với những thiết bị phù hợp, bạn có thể vừa bảo vệ máy tính để nhiệt độ không quá nóng vừa vận hành êm ái hơn.

Trước hết bạn cần mua quạt làm mát mới. Loại quạt làm mát với tốc độ quay chậm tuy phát ra ít tiếng ồn nhưng không thể cung cấp nhiều khí mát cho CPU và các bộ phận trong thùng máy. Những loại quạt có kích thước lớn hơn có thể quay chậm hơn nữa nhưng chúng thổi được nhiều không khí mát vào bên trong hơn. Tuy nhiên vì cánh quạt quá to nên có thể không vừa với thùng máy. Một số loại quạt làm mát đắt tiền (khoảng 20 USD trở lên thay vì chỉ 2 USD như thông thường) có cùng kích thước và tốc độ được thiết kế đặc biệt nhằm giảm thiểu tiếng ồn. Cuối cùng, bạn có thể giảm bớt phụ thuộc vào quạt làm mát bằng cách lắp những phiến tỏa nhiệt hiệu quả cao trên CPU và những nơi khác trong hệ thống.

Để đánh giá nhiệt độ của hệ thống, bạn có thể dùng một chương trình theo dõi nhiệt độ. Thông thường, các máy tính hoặc bo mạch chủ đều đi kèm một chương trình như vậy, hãng sản xuất máy tính cũng có thể cung cấp cho bạn dưới dạng một phần mềm tải về miễn phí từ Internet. Nếu máy tính của bạn không có công cụ này, hãy dùng thử tiện ích Motherboard Monitor miễn phí của Alex Van Kaam (tải về tại www.pcworld.com.vn, ID: 47642; xem hình 1). Chương trình này cho biết nhiệt độ của máy tính và thậm chí đưa ra thông tin cảnh báo khi nhiệt độ trong thùng máy xấp xỉ mức nguy hiểm được bạn thiết lập sẵn. Một phương án khác là dùng tiện ích CPUCool giá 15USD của Podien (tải về bản dùng thử tại find.pcworld.com/48561).

Trước khi mở thùng máy và động đến các bộ phận bên trong, bạn phải nhớ kỹ một số biện pháp an toàn: Rút cáp điện ra khỏi ổ cắm (ở cả hai đầu). Đối với mọi bộ phận không phải là ổ đĩa, bạn để nằm máy tính với bo mạch chủ ở dưới đáy, khi tháo một bộ phận, bạn mở tất cả các vít rồi mới nhấc nó ra. Và khi lắp một bộ phận vào, bạn cắm tất cả các vít, vặn nửa vòng rồi mới vặn chặt. Sau khi xong mọi việc, cắm cáp nguồn và bật điện máy tính, nếu máy hoạt động tốt, bạn hãy tắt điện một lần nữa, tháo cáp điện, đóng thùng máy lại và sau đó mới cắm lại cáp nguồn.

Xác định nguyên nhân gây ồn

Việc thay tất cả các bộ phận gây ồn trong máy tính sẽ lãng phí nhiều thời gian và tiền bạc, cho nên bạn hãy bắt đầu với thiết bị phát ra tiếng ồn lớn nhất. Nếu máy vẫn còn quá ồn, hãy tiếp tục thay bộ phận phát ra tiếng ồn ở mức thứ hai.

Để xác định nguồn gốc tiếng ồn, bạn dùng ống thử Cardboard Tube Test thông dụng. Bằng cách đặt một đầu của ống có gắn loa giấy vào tai, đầu kia đặt gần ổ đĩa, quạt làm mát và các thiết bị khác trong thùng máy, bạn có thể xác dịnh đâu là bộ phận ồn nhất.

Nếu ống thử này không đủ tin cậy, bạn có thể dùng biện pháp Elimination Test: tắt và mở lần lượt các quạt làm mát và ổ đĩa cứng để xem thử thiết bị nào gây ồn nhất (không có gì nguy hiểm khi máy tính với thùng máy được mở hoạt động không có quạt trong vài giây). Để làm “câm” một chiếc quạt làm mát hay một đĩa cứng (bộ phận gây ồn chủ yếu ngoài quạt), bạn hãy tháo điện cung cấp cho thiết bị đó (phải bảo đảm máy tính đã được ngắt điện trước đó). Quạt làm mát thường được nối điện qua một chân cắm nhỏ (ba lỗ) trên bo mạch chủ; ổ cứng thì dùng đầu nối lớn có bốn chân từ bộ nguồn máy tính. Cắm lại cáp điện của máy tính vào ổ cắm, bật máy lên và chú ý lắng nghe mà không dùng đến ống Cardboard.

Đương nhiên, phương pháp này không thể thực hiện được đối với quạt trên bộ nguồn vì bạn không thể ngắt điện cung cấp cho thiết bị này. Nếu máy tính đã tắt điện nhưng vẫn cắm cáp điện vào ổ cắm, bạn hãy cài một que tăm nhỏ vào giữa các cánh quạt và giữ nó ở đó trong khi bật điện máy tính; nếu máy tính trở nên yên tĩnh thì bạn đã tìm ra thủ phạm.

Bộ nguồn cấp điện thường là thiết bị đầu tiên mà bạn muốn thay, vì quạt làm mát bên trong thiết bị này thường gây ồn nhất trong thùng máy. Hãy tìm một bộ nguồn thay thế mới có công suất ít nhất cũng phải bằng công suất của bộ nguồn đang sử dụng. Tuy nhiên, bạn cần nhớ bộ nguồn công suất lớn có khả năng dự phòng cho việc nâng cấp thiết bị trong tương lai thường có giá cao hơn và phát ra nhiều tiếng ồn hơn so với những bộ nguồn công suất nhỏ.

Bạn có thể dùng bộ nguồn S12-330 của Saesonic có công suất 330 watt (find. pcworld.com/48562; xem hình 2) được bán trên mạng với giá khoảng 60 USD. Với cỡ cánh 120 mm, quạt làm mát này quay chậm hơn và phát ra tiếng ồn nhỏ hơn so với loại quạt có cỡ cánh 80mm phổ biến trong hầu hết các bộ nguồn hiện nay. Thậm chí, sản phẩm này còn cho phép làm chậm tốc độ của quạt làm mát CPU và quạt ở mặt sau thùng máy.

Nếu bộ nguồn Seasonic chưa làm bạn hài lòng, thì thử dùng bộ nguồn Phantom 500 của Antec có công suất 500 Wat (find.pcworld.com /48564). Bộ nguồn này hoạt động tuyệt đối yên tĩnh trong hầu hết thời gian. Tuy nhiên, Phantom 500 có kích thước to, nặng và rất đắt (giá trên mạng khoảng 175 USD). Thân bộ nguồn Phantom đồng thời là bộ phận tản nhiệt và quạt làm mát chỉ hoạt động khi nhiệt độ vượt qua ngưỡng được người dùng định sẵn. Dù vậy, đối với nhiều người, sự im lặng tuyệt đối không tốt bằng khi làm việc với một chút tiếng ồn. Người dùng có thể dễ dàng chấp nhận tiếng ồn nhỏ thường xuyên hơn là lúc ồn lúc không.

Việc lắp đặt bộ nguồn mới cũng không có gì khó khăn. Bạn chỉ cần tháo điện cung cấp cho bo mạch chủ và các ổ đĩa, tháo vít và nhấc bộ nguồn cũ ra. Sau đó, đặt bộ nguồn mới vào, vặn chặt các vít và cắm mọi thứ như cũ. Bộ nguồn Seasonic và Antec có kèm theo hướng dẫn lắp đặt nhưng không phải mọi nhà sản xuất đều có.

Nếu máy tính sử dụng quạt làm mát gắn vào thùng máy (chứ không phải gắn vào CPU, bộ nguồn hay các thiết bị khác) thì bạn có thể thay bằng loại khác ít ồn hơn. Quạt làm mát kích thước 92mm trong máy tính thử nghiệm là bộ phận phát ra nhiều tiếng ồn nhất. Giải pháp tốt nhất là thay thế bằng một quạt lớn hơn, nhưng rất khó vì thùng máy của bạn có nhiều khả năng không có chỗ trống cho quạt kích thước 120 mm. Ngoài ra, việc dùng quạt tốt hơn (và có lẽ quay chậm hơn) sẽ làm giảm tiếng ồn của hệ thống.

Hãng News sản xuất các loại quạt làm mát gắn vào thùng máy không gây ồn với nhiều kích cỡ khác nhau, có giá dưới 20 USD. Các quạt này không có bản hướng dẫn lắp đặt, nhưng việc thay thế chúng khá đơn giản: chỉ cần tháo dây cấp điện cho quạt cũ, tháo quạt, lắp quạt mới vào và cắm lại dây cấp điện. Quạt làm mát Real Silent 92mm của Nexus (find.pcworld.com/58566; xem hình 3) đã làm việc tốt trong hệ thống thử nghiệm của PC World Mỹ. Chỉ còn một bận tâm nhỏ: chương trình theo dõi các thông số trên bo mạch chủ cho thấy quạt này chỉ quay bằng nửa tốc độ của quạt cũ. Tuy nhiên, tốc độ này không làm cho nhiệt độ của máy tính tăng lên.

Hầu hết các ổ đĩa cứng đều không có quạt làm mát nhưng chúng vẫn gây ra nhiều tiếng ồn trong quá trình hoạt động. Tuy nhiên, có nhiều model mới ít gây tiếng ồn vì chúng dùng trục dạng lưu chất thay cho trục bi. Cho nên, nếu bạn cần máy tính hoạt động “êm ái” hơn thì đây là cơ hội tốt để nâng cấp đĩa cứng.

Bọc kín đĩa cứng

Một biện pháp khác, bạn có thể đặt đĩa cứng đang dùng vào trong hộp cách âm lắp vừa vào khoang 5,25 inch (dùng cho ổ CD hoặc DVD) như loại Nexus Drive-A-Way có giá khoảng 60 USD (find.pcworld.com/48568). Nhóm thử nghiệm đã tiến hành lắp đặt thiết bị này với vài trục trặc nhỏ trước khi đọc được hướng dẫn được ghi dưới đáy hộp. Drive-Way đã hoàn toàn triệt tiêu tiếng ồn của đĩa cứng trên máy tính thử nghiệm.

Bộ phận làm mát CPU hiệu quả nhất là phiến tản nhiệt nhỏ cùng với một quạt rẻ tiền nhưng nhiều tiếng ồn. Thêm một ít tiền, bạn có thể mua được loại tốt hơn. Tuy nhiên, việc thay bộ phận làm mát cho CPU không thể thực hiện dễ dàng. Một phần của khó khăn này là kích thước phải tuyệt đối chính xác. Bộ phận làm mát CPU không gây ồn có thể khá kềnh càng, với phiến tản nhiệt giống như các ngôi nhà cao tầng thu nhỏ, được gắn với quạt có kích thước bằng máy nghe đĩa xách tay. Bạn phải bảo đảm bộ làm mát mới này lắp vừa trên bo mạch chủ và đế cắm CPU (socket). Có thể bạn biết rõ mình có loại bộ vi xử lý nào, nhưng một số CPU có khả năng phù hợp với nhiều loại đế cắm. Hãy tham khảo tài liệu kỹ thuật đi kèm của máy hoặc bo mạch chủ (hay website của hãng sản xuất).

Khi đã tìm được bộ làm mát cần thiết, bạn phải tiến hành lắp đặt. Trước hết phải tháo bỏ bộ làm mát cũ. Nhiều khả năng bộ làm mát cũ được kẹp vào đế cắm bằng những cách mà bạn không thể nhìn thấy bằng mắt và ở những nơi không thể thao tác được bằng tay. Tiếp theo, bạn hãy lau sạch lớp kem dẫn nhiệt cũ trên mặt CPU, rồi bôi một lớp mỏng kem mới (bộ làm mát mới có thể kèm theo ống kem này). Cuối cùng, bạn cài bộ làm mát vào trong các kẹp giữ.

Đối với các bo mạch chủ hỗ trợ socket 478, bạn nên dùng bộ phận làm mát Freezer 4 tương đối gọn của Arctic Cooling (find.pcworld.com/48570; xem hình 4). Mặc dù thiết bị này hoạt động không “êm” bằng một loại kích thước lớn khác, nhưng Freezer 4 có nhiều khả năng lắp vừa trong máy tính thông thường và có giá bán trên mạng vào khoảng 30 USD (Arctic Cooling cũng cung cấp các bộ làm mát dùng cho những dạng đế cắm khác).

Nếu việc thay bộ làm mát CPU trong máy tính làm bạn quá nản lòng, hãy đừng xem xét đến việc thay đổi các quạt làm mát nhỏ được gắn trên card đồ họa. Loại quạt này thường không gây ồn đáng kể, và việc thao tác trên card đồ họa là một việc làm hết sức nguy hiểm.

Chúng tôi cũng khuyên các bạn không nên thực hiện ngăn cách thùng máy. Việc dùng vật liệu cao su xốp gắn bên trong thùng máy để cách âm thường mất nhiều công sức nhưng hiệu quả đạt được lại không đáng kể

THINHRAZOR21428
13-05-2008, 08:20
Tại sao PC chậm chạp?



Cái này Red tui mơi sưu tầm được, hy vọng sẽ giúp các bác có thể quản lý máy tính của mình tốt hơn.

Bạn vừa mới "tậu" được chiếc PC mới thật là tuyệt. Các chương trình, các tập tin nạp nhanh không ngờ. Thật không may, tình trạng này sẽ không tồn tại lâu. Nhưng sau một khoảng thời gian sử dụng, bạn nhận thấy rằng sao nó ngày càng chậm chạp thế nhỉ?

Điều gì đã làm cho chiếc PC của bạn chậm chạp? Thật ra chỉ có một câu trả lời. Đó là sự kết hợp các yếu tố khác nhau làm giảm hiệu năng máy của bạn.Các yếu tố này được chia làm ba nhóm chính: do phần cứng, do nhiễm virus và sự thâm nhập của phần mềm gián điệp, và nhóm thứ ba chính là các phương pháp để loại bỏ 2 nhóm yếu tố trên.
Chúng ta cần tìm hiểu nguyên nhân rồi mới tìm được "thuốc chữa" như phân mảnh đĩa cứng, xung đột DLL, registry, vi rút, phần mềm gián điệp....

Nguyên nhân và hệ quả:

Vấn đề phần cứng

Sau một thời gian sử dụng, ổ đĩa cứng sẽ bị phân mảnh. Nguyên nhân là do cài đặt chương trình, xóa chương trình, thao tác với các tập tin.

Đĩa cứng được thiết kế để lưu trữ dữ liệu từ các liên cung (cluster) đã được định trước. Kích thước tập tin nhỏ sẽ không sử dụng hết chỗ trống này, ngược lại các tập tin lớn sẽ bị chia ra để lưu vào nhiều liên cung khác. Các tập tin càng phân mảnh hơn khi đĩa cứng chứa càng nhiều dữ liệu. Đĩa cứng có càng nhiều tập tin bị phân mảnh, thì thời gian đọc các tập tin bị phân mảnh này lại và lắp ráp chúng thành dữ liệu liên tục hoàn chỉnh sẽ càng lâu. Tương tự như vậy việc ghi dữ liệu cũng sẽ lâu hơn.

Quá trình này xảy ra thường xuyên có thể ảnh hưởng tới bề mặt của đĩa cứng. Đĩa cứng có thể sinh ra hỏng cung từ (sector), làm giảm hiệu suất, khó ghi lại dữ liệu, hoặc không thể ghi lại dữ liệu.

Vấn đề tiêu hao tài nguyên

Cũng như hiệu năng của máy tính sẽ giảm khi ổ cứng bị phân mảnh, một bản danh sách dài các chương trình nạp trong lúc máy khởi động cũng làm giảm hiệu năng. Nếu bạn mua máy tính nguyên chiếc, thì cũng rất có thể nhà sản xuất cũng cài một số phần mềm như là một phần của chiến lược quảng cáo hoặc là sự thỏa thuận với các công ty phần mềm.

Rất nhiều chương trình cài đặt được cấu hình tự động nạp khi máy tính khởi động, thậm chí người sử dụng không muốn chạy chương trình đó. Các tiện ích có tính năng bổ xung về phần cứng hoặc các thành phần phần cứng, đều hoạt động ở chế độ chạy nền. Hầu hết đối với người sử dụng, họ không biết được những chương trình nào đang chạy bởi những phần mềm này không hiện bất cứ thông báo nào. Tuy nhiên, chúng có thể sẽ hiện ra các biểu tượng ở khay hệ thống.

Những chương trình này chiếm rất nhiều tài nguyên hệ thống. Càng nhiều chương trình hoạt động đồng thời thì bạn càng bị tiêu tốn nhiều tài nguyên hệ thống. Thông thường, một máy tính nên còn khoảng 85 % đến 90% lượng bộ nhớ của máy sau khi khởi động. Nếu có quá nhiều chương trình nạp lúc khởi động, lượng bộ nhớ giảm chỉ còn 50% thì khi đó chạy các ứng dụng thực sự như Word, Excel,IE... sẽ trở nên rất chậm chạp.

THINHRAZOR21428
13-05-2008, 08:20
Tiện ích từ thao tác nhấp đúp chuột


Chuột máy tính chỉ là một bộ phận phụ của toàn bộ chiếc máy tính nhưng thực sự vai trò của nó vô cùng quan trọng. Chính sự có mặt của nó làm cho công việc của người sử dụng dễ dàng hơn. Và chỉ cần click đúp, bạn có thể rút ngắn được rất nhiều thao tác.


1. Chọn nhanh một từ:

Khi sử dụng thao tác chuột để chọn từ, bạn thường dùng cách kéo chuột để chọn (bôi đen) từ đó. Xem ra dùng cách chọn này không nhanh lẹ bằng thao tác nhấp đúp chuột vào ngay từ mà bạn muốn chọn. Bạn cứ thử xem nào.

2. Truy xuất nhanh hộp thoại Paragraph:

Để hiệu chỉnh chính xác khoảng cách của các đoạn văn bản, bạn phải mở hộp thoại Paragraph. Một thao tác rất nhanh lẹ và dễ dàng nhất giúp bạn truy xuất nhanh đến hộp thoại Paragraph là bạn hãy nhấp đúp chuột vào thước ngang tại một trong các vị trí Left Indent, Hanging Indent hoặc First Line Indent.

3. Truy xuất nhanh hộp thoại Page Setup:

Bằng cách nhấp đúp chuột vào vị trí khắc số của thước dọc hoặc thước ngang bạn cũng sẽ truy xuất đến hộp thoại Page Setup chỉ trong nháy mắt.

4. Truy xuất nhanh hộp thoại Tab:

Một thao tác nhanh lẹ nhất để bạn truy xuất đến hộp thoại Tab trong khi đang soạn thảo văn bản, bạn hãy nhấp đúp chuột vào cạnh dưới của thước dọc.

5. Truy xuất nhanh đến hộp thoại Customize:

Khi cần thay đổi các công cụ, các nút lệnh, các bảng menu của MS Word bạn thường phải chọn menu Tools > Customize... Có một cách đơn giản và mau lẹ hơn nhiều giúp bạn truy xuất nhanh đến hộp thoại Customize: Bạn hãy nhấp đúp chuột vào phần diện tích còn trống ngay phía sau thanh công cụ Standard hoặc Formatting.

6. Truy xuất nhanh đến hộp thoại Find, Replace, Goto:

Không cần phải vào menu File > Find (hoặc Replace, Goto) bạn cũng vẫn có thể truy xuất nhanh đến một trong các hộp thoại Find, Replace hoặc Goto. Thực hiện như sau: Nhấp đúp chuột vào thanh trạng thái (Status bar) của Word tại một trong các vị trí Page number, Sec number, At measurement, Ln number hoặc Col number, khi đó hộp thoại Find, Replace hoặc Goto sẽ hiện ra trong nháy mắt.

7. Truy xuất nhanh đến hộp Macro Record:

Bạn hãy nhấp đúp vào phần khung có tên là REC trên thanh trạng thái của Word.

8. Kích hoạt chế độ Track changes status:

Để ghi chú những phần sửa đổi trên văn bản, bạn hãy nhấp đúp vào khung có tên là TRK trên thanh công cụ của MS Word.

9. Kích hoạt chế độ Extend selection mode status:

Bạn hãy nhấp đúp vào khung có tên là EXT trên thanh công cụ của Word để vào chế độ Extend selection mode status (tương tự như phối hợp với phím Shift khi nhấp chọn một đoạn văn bản).

10. Chuyển nhanh qua lại giữa chế độ nhập chữ

Insert/OverWrite: Thay vì phải nhấn phím Insert trên bàn phím để chuyển đổi qua lại giữa hai chết độ Insert và OverWrite, bạn cũng có thể thực hiện bằng cách nhấp đúp chuột vào vị trí của khung có tên là OVR trên thanh trạng thái của MS Words

THINHRAZOR21428
13-05-2008, 08:21
Phục hồi dữ liệu trên các đĩa trầy xước và mã hóa



Các đĩa CD, VCD, hay DVD được cung cấp tại thị trường Việt Nam thường được cài đặt các mã bảo vệ để chống sao chép. Dù bạn có nhờ đến sự trợ giúp của các chương trình tạo ảnh đĩa (Image) như Nero hay WinonCD.

Thông số thường gặp phải ở các đĩa kiểu này là: Cannot copy xxx: The request coulde not be performed because of an I/O device error hoặc là Drive not found... Để có thể truy xuất dữ liệu trên những đĩa như thế thì chỉ có một chương trình thực hiện được, đó là: IsoBuster của Smart Projects. Với giao diện đơn giản cùng với khả năng nhận dạng mạnh mẽ giúp công việc trở nên dễ dàng hơn bao giờ hết.

Cách sử dụng:

Rất đơn giản, bạn chỉ việc khởi động chương trình lên. Sau đó cho đĩa cần trích xuất nội dung vào. Ngay lập tức, IsoBuster sẽ tiến hành phân tích, tìm kiếm và đánh dấu các thông tin giả cũng như thông tin lỗi được cài đặt trên đĩa CD.

Bạn hãy di chuyển chuột vào từng mục để biết được thông tin thật được lưu trữ ở đâu. Thông thường các dữ liệu thật được cất giấu ở Track 01. Chọn những dữ liệu cần copy. Sau đó nhấn phải chuột và chọn dòng Extract Objects. Chọn nơi lưu trữ và nhấn OK.

IsoBuster sẽ thực hiện công việc của mình và đảm bảo với bạn rằng mọi dữ liệu được trích xuất sẽ hoàn toàn “nguyên thủy” không kèm theo mất cứ thông tin giả nào cả. Từ đó bạn có thể dùng chương trình ghi đĩa bất kỳ nào để ghi những dữ liệu trích xuất được lên một CD trắng nào đó một cách bình thường.

Ngoài ra IsoBuster còn được dùng rất nhiều trong việc khôi phục lại những dữ liệu trên các đĩa CD, VCD, DVD bị trầy xước mà các đầu đọc phải chào thua. Bằng những thuật toán của mình mà IsoBuster bắt buộc các đầu đọc giảm tốc độ nhằm tăng khả năng đọc dữ liệu tại các nơi bị trầy xước. Có như thế IsoBuster mới lấy lại được dữ liệu cho bạn.

Chương trình được cung cấp tại địa chỉ: http://www.isobuster.com với dung lượng khoảng 2.4 MB, tương thích với mọi hệ điều hành Windows. Bản thương mại giá 29,95 USD.

THINHRAZOR21428
13-05-2008, 08:22
Bạn gặp rắc rối với trình duyệt hay mong muốn Windows chạy "bốc" hơn? Hay cảm thấy Photoshop quá "chảnh"? Bạn muốn khai thác hiệu quả hơn bộ ứng dụng văn phòng? Với gần 50 thủ thuật, tiện ích bổ sung được trình bày trong bài viết, bạn sẽ dễ dàng khai thác được sức mạnh tiềm ẩn từ các tiện ích hay ứng dụng thường dùng.

Cải thiện trình duyệt

Các trình duyệt web, mà đặc biệt là là Firefox, thường được xây dựng và phát triển chỉ để cung cấp những tính năng cơ bản nhất. Để hiệu quả hơn khi lang thang tìm kiếm thông tin trên mạng, bạn cần trang bị cho trình duyệt của mình các tiện ích bổ sung sau vì khá thiết thực cho người dùng web.

Khóa quảng cáo trên web: Dù bị nhiều nhà quản trị website chê bai, nhưng Adblock Plus có thể được xem là một tính năng bổ sung đáng giá cho Firefox. Ngoài ra, người dùng IE có thể dùng thử tiện ích Ad Muncher (30USD, tải về bản dùng thử trong thời gian 30 ngày tại địa chỉ find.pcworld.com/59876). Thật đơn giản, Adblock Plus vô hiệu hóa các thông tin quảng cáo - không chỉ là dạng cửa sổ pop-up mà còn là những banner quảng cáo thông thường cũng như những quảng cáo có mặt khắp nơi của Google. Adblock Plus không thể ngăn chặn mọi thứ, tuy nhiên khả năng “bắt” quảng cáo của tiện ích này đủ mạnh để bạn ngay lập tức nhận ra sự khác biệt. find.pcworld.com/59875

Sử dụng chung bookmark: Nếu có nhiều máy tính, bạn ắt hẳn sẽ cảm thấy phiền toái mỗi khi duyệt web bởi danh sách địa chỉ website thường dùng (bookmark) trên mỗi máy tính này thường khác nhau. Trên từng máy tính, danh sách bookmark hoàn toàn khác nhau và được quản lý độc lập - trừ khi bạn có công cụ đồng bộ danh sách này. Foxmarks là một trong số những công cụ có khả năng đồng bộ bookmark của Firefox giữa nhiều máy tính với nhau. Bạn chỉ cần cài Foxmarks như là một tiện ích bổ sung vào Firefox trên mỗi máy tính và không còn phải lo lắng chuyện đồng bộ bookmark. Ngoài ra, bạn cũng có thể truy xuất bookmark từ trang chủ của Foxmarks. find.pcworld.com/60003


Hình 1: FireFTP biến Firefox thành một ứng dụng FTP hai chiều đầy tốc độ.


Cài ứng dụng FTP vào Firefox: Gần như mọi người, từ nhà phát triển web chuyên nghiệp cho đến người dùng phổ thông, đều cần ứng dụng truyền nhận dữ liệu FTP, tuy nhiên phần lớn các ứng dụng dạng này thường khá nặng nề và không trực quan.

FireFTP biến Firefox thành ứng dụng FTP hai chiều đầy tốc độ. Một khi đã được cài đặt, FireFTP sẽ xuất hiện trong trình đơn Tools của Firefox. Khi bạn nhấn chuột vào trình đơn này, thẻ FTP sẽ mở ra và cung cấp một hệ thống gồm 2 bảng điều khiển, cho phép dễ dàng sao chép các tập tin giữa máy tính và website. find.pcworld.com/59873

Tải tập tin dễ dàng: Nếu thường xuyên tải các tập tin từ Internet xuống, bạn cần sử dụng tiện ích quản lý tải về để kiểm soát mọi thứ. FlashGet là tiện ích tải về miễn phí và thông dụng, có thể giúp quản lý và sắp xếp các lệnh HTTP, FTP, BitTorrent và những loại lệnh tải về khác, hoạt động ở chế độ nền và cho phép tạm ngưng hay khôi phục các phiên tải về đang thực hiện. Tiện ích này thậm chí còn có thể yêu cầu máy tính tự động tắt nguồn khi việc tải về đã hoàn tất. FlashGet hoạt động tốt trên mọi trình duyệt. find.pcworld.com/60004


Hình 2: FlashGet kiểm soát mọi tác vụ tải về trên máy tính.

Khôi phục mật khẩu nhúng trong URL: Vài năm trước, Microsoft không cho phép Internet Explorer sử dụng mật khẩu nhúng vào địa chỉ URL (định dạng https://username:password@server.com) khi người dùng truy cập website được bảo vệ; người dùng phải gõ vào mật khẩu ở màn hình đăng nhập. Để khôi phục khả năng gốc của IE, bạn cần tinh chỉnh Registry. Chạy tiện ích Regedit và duyệt tìm khóa HKEY_LOCAL_MACHINE\Software\Microsoft\Internet Explorer\Main\FeatureControl\FEATURE_HTTP_USERNAME _PASSWORD_DISABLE. Tại đây, bạn tạo ra 2 biến DWORD mới là iexplorer.exe và explorer.exe. Đặt giá trị mặc định cho mỗi biến này là 0. Sau đó khởi động lại IE.

Tạo bản lưu trang web: Nếu từng in một trang web ra giấy, bạn hẳn sẽ gặp phải tình trạng bản in thiếu hình ảnh và những thông tin khác không được thể hiện rõ ràng. Lý do là vì các chuẩn Web 2.0 mới không làm việc tốt với các máy in của thời đại 0.1.

Giải pháp: Chụp lại màn hình của một trang web và chọn lệnh Print. Tuy nhiên, câu hỏi đặt ra là làm thế nào để thực hiện điều này khi mà nội dung của một trang web có thể chiếm đến 3 trang màn hình? Thật đơn giản, bạn hãy cài đặt tiện ích ScreenGrab dành cho Firefox, cho phép lưu nguyên một trang web hay những phần có thể xem được của một trang web hay chỉ là những vùng màn hình mà bạn mong muốn. IE Screenshot cũng thực hiện tác vụ tương tự cho trình duyệt của Microsoft. find.pcworld.com/59878, find.pcworld.com/59879

Sao chép video từ website: Nhiều dịch vụ web cho phép người dùng nhấn vào địa chỉ URL của một đoạn phim YouTube, hay video trên nền web nào đó để có bản sao của đoạn video này lưu vào đĩa cứng. Tuy nhiên, điều này thường chậm và nhiều khi còn gặp lỗi. Ngoài ra, bạn không bao giờ biết được liệu chúng có làm việc trên những website chia sẻ video ít thông dụng hơn hay không. Orbit Rich Media Downloader bổ sung một nhóm trình đơn ngữ cảnh mới vào trình duyệt. Từ đây, khi thấy một đoạn video trên trang chủ Dailymotion hay nghe một bản nhạc yêu thích trên MySpace, bạn chỉ cần nhấn chuột vào nội dung đó và nhấn Save. find.pcworld.com/59874

Lưu tập tin đa phương tiện được bảo vệ: Vài website cố tình vô hiệu hóa thao tác nhấn phải chuột lên tập tin ảnh hay những nội dung đa phương tiện khác nhằm ngăn cản bạn tải về máy tính. Hãy sử dụng Orbit, tiện ích này được thiết kế cho các tác vụ tải về từ web thế hệ mới (web 2.0) chẳng hạn như truyền phát nhạc/video từ Myspace, YouTube, Imeem, Pandora, Rapidshare, và hỗ trợ giao thức RTMP.

Ngoài ra, Firefox còn cung cấp một cách thức nhanh chóng để lưu các tập tin đa phương tiện được bảo vệ. Truy cập website mà bạn muốn, nhấn phải chuột bất kỳ đâu trên trang web (không phải hình), và chọn View Page Info. Nhấn vào thẻ Media để xem danh sách tất cả hình ảnh có trên trang web; cuộn qua danh sách đó (hình xem trước sẽ xuất hiện ở cuối cửa sổ), và nhấn Save As khi bạn tìm được hình mong muốn.


Hình 3: Firefox cho phép bạn lưu các tập tin đa phương tiện được bảo vệ bằng cách nhấn phải chuột để hiển thị thẻ Page Info's Media.
Nhấn chuột để có thông tin mới: Bạn muốn thu thập những câu nói nổi tiếng của nhà khoa học đại tài Albert Einstein? Hay bạn muốn có được những bức ảnh thực của quái vật biển? Tất cả những thông tin (trang web) này sẽ là của bạn chỉ với một cú nhấn nếu bạn cài đặt StumbleUpon - tiện ích bổ sung và thanh công cụ dành cho cả Firefox và Internet Explorer. Giống các website tin tức xã hội khác như Digg, StumbleUpon mang đến cho người dùng quyền hạn để thoải mái hơn khi lướt web. StumbleUpon có khả năng tìm kiếm hình ảnh, phim video, thông tin, tin tức theo yêu cầu của người dùng, thậm chí bạn có thể chia sẻ chúng với bạn bè. Nhấn chuột vào ngón tay cái hướng lên nếu bạn thích những gì nhìn thấy, hay nhấn vào ngón tay cái hướng xuống nếu không thích và tiện ích này ngày càng hiểu rõ ý thích của bạn.

Mua sắm dễ dàng hơn: Người mua sắm “thông minh” hay tìm kiếm nhanh mã phiếu mua hàng ưu đãi trước khi mua thứ gì trên mạng, nhưng thường thì mọi người quên làm điều đó. Thanh công cụ RegisteredCoupons dành cho trình duyệt IE sẽ đơn giản hoá việc này bằng cách cung cấp thông tin đúng nơi bạn dễ thấy nhất. Một hộp thoại dạng thả xuống cho phép bạn chọn cửa hiệu bán lẻ muốn mua sắm. Nhấn chuột lên cửa hàng yêu cầu, ngay lập tức mã phiếu mua hàng và chương trình khuyến mãi hiện đang triển khai sẽ xuất hiện trong một cửa sổ riêng. find.pcworld.com/59877

Di chuyển thanh tác vụ Firefox: Muốn di chuyển thanh tác vụ (sidebar) của Firefox sang bên phải màn hình? Bạn cần sửa tập tin userChrome.css hay tạo mới tập tin này. Bạn hãy tìm thư mục C:\Documents and Settings\xxxxx\Application Data\Mozilla\Firefox\Profiles\yyyyyyyy.default\chr ome, trong đó xxxxx là tên người dùng, và yyyyyyyy là một nhóm 8 ký tự ngẫu nhiên. Nếu bạn không thấy các tập tin trong thư mục Application Data trong thư mục người dùng, chọn trình đơn Tools, nhấn Folder Options; ở thẻ View, đánh dấu tùy chọn Show Hidden Files and Folders). Đổi tên tập tin mẫu thành user-Chrone.css, rồi bổ sung đoạn mã sau vào cuối tập tin:

/* Place the sidebar on the right edge of the windows */

hbox#browser {direction:rtl;}

hbox#browser > vbox {direction:ltr;}

Tối ưu ứng dụng văn phòng


Hình 4: Outlook có một thiết lập mặc định để tự động bổ sung các ngày nghỉ lễ quốc gia vào lịch làm việc.
Khai thác Microsoft Office hiệu quả hơn bằng cách bổ sung vài tính năng mới. Hãy xem Word, Excel và Outlook thực hiện công việc như thế nào một khi đã được “độ” lại.

Mở tài liệu Office 2007 từ phiên bản Office cũ: Microsoft đã bắt đầu thay đổi định dạng tập tin mặc định trong Office 2007, do đó bạn sẽ không thể mở các tập tin được lưu ở định dạng mới trong bộ ứng dụng Office phiên bản cũ. Tuy nhiên, nếu sử dụng Office phiên bản 2000, XP hay 2003, bạn có thể cài đặt công cụ Office Compatibility Pack để giải quyết vấn đề tương thích với định dạng mới. find.pcworld.com/59885

Mở tập tin cũ với Office 2003: Ngược lại, với bản Service Pack 3 dành cho Office 2003, Microsoft không cho phép mở các định dạng tập tin có từ trước phiên bản Office 97 bởi lý do bảo mật. Để cho phép Office mở các tập tin này, bạn phải thực hiện chỉnh sửa Registry.

Microsoft đã tạo ra các mã lệnh Registry nhằm giúp thực hiện tác vụ này dễ dàng hơn. Hãy tải về, nhấn phải chuột và rồi sau đó chọn Merge. Ngay lập tức, bạn sẽ có thể mở lại các tập tin Office đời cũ. find.pcworld.com/59886

Mang tài liệu lên mạng: Các công cụ xử lý tài liệu trực tuyến là sự lựa chọn thích hợp cho những nhóm người có nhu cầu cùng làm việc chung trên một (hay nhiều) tập tin dữ liệu, tuy nhiên, việc lấy những tập tin trực tuyến có thể khó khăn. Zoho Plug-In dành cho Microsoft Office đơn giản hóa việc tải tài liệu lên các dịch vụ web và tải về các tài liệu trực tuyến mà bạn không cần phải sử dụng ứng dụng Office. find.pcworld.com/59895

Tạo tập tin PDF bằng Office: bạn không cần sử dụng Adobe Acrobat để tạo và chỉnh sửa các tập tin PDF. CenoPDF cho phép tạo các tập tin PDF mà không phải thoát Word, Excel hay PowerPoint. Sau khi cài đặt CenoPDF, bạn chỉ đơn giản là thực hiện lệnh in các tập tin .doc và sử dụng tùy chọn máy in PDF - hay tạo ra các biểu mẫu nền PDF sử dụng các trường văn bản, nút nhấn và hộp thoại để điền/nhập liệu điện tử. Tiện ích này miễn phí, tuy nhiên bạn phải chấp nhận logo quảng cáo in chìm trong tài liệu. Để sở hữu bản không quảng cáo, bạn cần trả 90USD. find.pcworld.com/60007


Hình 5: ClearContext IMS hiển thị trực quan và hữu ích các dữ liệu của Outlook.Xobni provides info about Outlook contacts as you read e-mail from them.

Họp hành chuyên nghiệp: MeetingSense sử dụng hệ thống lịch làm việc cơ bản của Outlook và biến thành công cụ mạnh mẽ. Bảng quản lý họp mở rộng rất tiện cho bạn tạo lịch làm việc, tạo biên bản (cuộc hẹn), đồng thời cung cấp một không gian họp tập trung hoá để bạn và người dùng MeetingSense khác có thể chia sẻ tập tin, tạo ghi chú và tạo các mục công việc. Đây là một tiện ích hiệu quả cho những nhóm phân bố rãi rác nhưng có nhu cầu hội họp thường xuyên. Sau khi dùng thử 14 ngày, người dùng phải trả phí 199USD. find.pcworld.com/60008

Đồng bộ danh bạ Outlook và Lotus Notes: Di chuyển danh bạ liên lạc (contact) từ Lotus Notes sang Outlook (và ngược lại) có thể thực hiện dễ dàng với tiện ích miễn phí Personal NAB (Notes Address Book) Import/Export - có thể tải về từ trang chủ của hãng Lotus. Mở tiện ích này tương tự như cách mà bạn mở bất kỳ tập tin cơ sở dữ liệu Notes nào và bạn sẽ thấy một biểu mẫu đơn giản, chỉ rõ tập tin cần chuyển đổi, chọn thao tác mong muốn và nhấn vào một nút để bắt đầu chuyển đổi. Đây có thể xem là lựa chọn hữu ích nếu bạn có kế hoạch chuyển đổi sang một nền tảng mới. find.pcworld.com/59891


Hình 6: Xobni cung cấp thông tin về danh bạ Outlook khi bạn đọc email. Xobni provides info about Outlook contacts as you read e-mail from them.
Kiểm soát toàn diện danh bạ liên lạc: Không có gì đáng chê trách về giao diện bảnh bao của Xobni Insight, cung cấp thông tin về từng người dùng mà bạn đã phản hồi email của họ. Xobni (hiện đang trong giai đoạn thử nghiệm beta) xuất hiện bên phía trái của cửa sổ Outlook. Nó mang lại giao diện đồ họa cho email, danh bạ liên lạc và những cuộc trao đổi cũ ứng với mỗi danh bạ liên lạc. Và đừng quên Xobni Analytics, cho phép theo dõi bạn gửi/nhận bao nhiêu email mỗi ngày. find.pcworld.com/60010

Tinh chỉnh Outlook: MAPILab Toolbox là một bộ sưu tập 18 tiện ích bổ sung cho Outlook; một số đơn giản, số còn lại cung cấp những tính năng thực sự hữu ích. Chẳng hạn, tiện ích bổ sung có khả năng quét thư gửi đi để tìm những cụm từ như “see the attachment” và cảnh báo bằng cửa sổ nếu bạn chưa đính kèm tập tin. Bộ công cụ này cho phép sử dụng miễn phí trong 30 ngày, sau đó bạn phải trả tiền bản quyền là 24USD. find.pcworld.com/59894

Giấu văn bản trong Word: Bạn muốn giấu đi vài đoạn văn bản trong Word 2003, hãy tải về tiện ích bổ sung Word Redaction. Bạn có thể đọc những đoạn văn bản “ẩn” này, nhưng khi bạn trích xuất các tài liệu dạng này sang dạng “biên soạn lại”, những vùng văn bản đánh dấu sẽ không nhìn thấy. find.pcworld.com/59889

Chia sẻ tập tin Excel: Bạn có thể chia sẻ các tập tin mà không cần sử dụng một dịch vụ/hệ thống làm việc cộng tác trên nền web. Ví dụ, eXpresso Plug-In for Excel cho phép lưu, tạm khóa tập tin này trong khi một người dùng khác đang sử dụng, rồi sau đó cho phép người dùng khác tiếp tục chỉnh sửa. Cảnh báo email sẽ cho bạn biết khi nào tập tin bị “khóa” (người khác đang sử dụng hay chỉnh sửa). Bạn thậm chí còn có thể khóa những vùng cụ thể của bảng tính để ngăn người khác chỉnh sửa chúng. find.pcworld.com/59893

Bảng tính tương tác: Một bảng tính Excel chỉ có giá trị khi chúng chứa dữ liệu. Tuy nhiên, việc nhập thủ công dữ liệu (như dân số hay thu nhập trung bình tại một khu vực) rất nhàm chán. CDXStream có thể thay bạn: cài đặt tiện ích bổ sung cho Excel này vào máy tính, cấu hình lại để nó thu thập thông tin hay mã chứng khoán mà bạn quan tâm. Sau đó, CDXStream tự động thu thập thông tin mới nhất từ web. Trên 100 mẫu dữ liệu đã được sắp xếp theo mã vùng. CDXStream cho phép dùng thử trong 14 ngày, sau đó sẽ thu phí sử dụng hàng tháng là 30USD/tháng. find.pcworld.com/59888

Bổ sung giá cổ phiếu vào Excel: Dữ liệu cổ phiếu “quá đát” trong bảng tính không mang đến lợi ích gì cho người dùng. Tiện ích bổ sung MSN Money Stock Quotes for Excel chèn giá cổ phiếu MSN (bị trễ khoảng 15 phút) vào bất kỳ bảng tính nào, thông tin sẽ được cập nhật mỗi khi bạn thay đổi bảng tính. find.pcworld.com/59896

Khai thác đa phương tiện


Hình 7: Khi phát nhạc từ iTunes, iLike sẽ khuyến cáo những nghệ sĩ mà bạn nên nghe.
Từ máy nghe nhạc số cho đến tiện ích chỉnh sửa ảnh, các tiện ích bổ sung luôn bao quanh thế giới nội dung đa phương tiện. Để nâng cấp dàn âm thanh hay làm cho những bức ảnh, đoạn phim thêm phần sinh động, hãy tham khảo những tiện ích bổ sung dành cho iTunes, Windows Media Player, Photoshop và những tiện ích thông dụng khác.

Âm nhạc thân thiện: Là tiện ích bổ sung cho Apple iTunes, iLike có khả năng mở rộng các tùy chọn nghe nhạc của bạn. Một tính năng mạng xã hội chuẩn kết nối bạn với những người có cùng gu nhạc. Chọn một bài hát trong thư viện, và iLike cung cấp những bản nhạc khác mà bạn có thể thích (cho phép nghe thử trước), kèm theo đó là những bản nhạc MP3 miễn phí tương tự từ các nhạc sĩ độc lập. find.pcworld.com/59906

Dùng Variable Bit Rate cho iTunes: Bất chấp bạn dùng tỷ lệ nén nào cho các bản nhạc của mình, Variable Bit Rate (VBR) cho nhạc chất lượng âm thanh tốt nhất nhưng vẫn giữ kích thước tập tin nhỏ. Tìm tùy chọn này trong iTunes cũng không đơn giản. Để đến đó, nhấn Edit.Preferences.Advanced, chọn thẻ Importing, rồi sau đó nhấn trình đơn thả xuống Setting. Chọn Custom, và đánh dấu hộp thoại Use Variable Bit Rate Encoding. Tỷ lệ nén 192kbps và chất lượng âm thanh ở mức Medium High mang lại kết quả chấp nhận được.

Nâng cấp WMP: Thực tế cho thấy Windows Media Player có thể không phải là ứng dụng hấp dẫn nhất, tuy nhiên gói tiện ích bổ sung Windows Media Bonus Pack dành cho Windows XP mang đến cho WMP nhiều tíng năng hơn. Những bổ sung đó bao gồm giao diện ảo hóa, phông nền và hiệu ứng âm thanh, thêm vào đó là những tính năng mới chẳng hạn như khả năng trích xuất playlist sang Excel và một công cụ tốt hơn để tìm kiếm các hình minh hoạ (artwork) và siêu dữ liệu bị bỏ sót trên các track nhạc. find.pcworld.com/59916


Hình 8: Sử dụng Variable Bit Rate để nén nhạc sẽ cung cấp cho bạn chất lượng âm thanh xuất sắc cùng với kích thước tập tin nhỏ.
Tải nhiều hình lên Flickr: Gửi 10, 20, 50 ảnh hay thậm chí nhiều hơn lên website chia sẻ hình ảnh trực tuyến Flickr thiệt đáng ngán và cũng rất tốn thời gian. Hãy tải về Flickr Uploader (hiện giờ là phiên bản 3.0) để có cách thức nhanh chóng và dễ dàng tải hình lên với số lượng lớn, tất cả chỉ trong 1 ứng dụng duy nhất. Tiện ích này cũng có thể tích hợp vào trình duyệt Internet Explorer. Nhấn phải chuột lên bất cứ hình ảnh nào (hay nhóm hình ảnh), và bạn sẽ nhận được trình đơn “Send to Flickr”, qua đó khởi chạy Flickr Uploader và sẵn sàng gửi đi những bức ảnh này.

Tải hình lên Flickr qua email: Không thể truy cập web? Bạn có thể gửi hình ảnh đến tài khoản Flickr của mình qua email từ bất kỳ máy tính nào hoặc thậm chí từ điện thoại.

Đầu tiên, hãy tìm địa chỉ email để tải hình lên (find.pcworld.com/59911). Sử dụng dòng tiêu đề của email để làm tựa của bức ảnh và phần nội dung như là phần mô tả. Để biết thêm thông tin, bạn có thể đến địa chỉ find.pcworld.com/59912.


Hình 9: Công cụ Image Resizer PowerToy cung cấp cho bạn khả năng cắt hình ảnh độ phân giải cao xuống mức thấp hơn.
Giảm nhanh kích thước ảnh: Bạn thường chụp ảnh ở độ phân giải cao nhất mà máy ảnh hỗ trợ nhưng bạn bè và người thân lại không muốn bị nghẽn hộp thư với những tập tin đính kèm dung lượng lớn. Bạn cũng chán ngấy tiện ích chỉnh sửa ảnh Photoshop thì hãy thử Microsoft Image Resizer PowerToy - nhấn phải chuột lên bất kỳ ảnh nào và mở trình đơn Resize Picture và dễ dàng thu nhỏ dung lượng các ảnh. Bạn có thể giảm kích thước cùng lúc nhiều hình. find.pcworld.com/59907

Làm cho GIMP giống Photoshop: GIMP-shop là phiên bản chỉnh sửa lại của tiện ích chỉnh sửa ảnh nguồn mở GIMP, bắt chước theo giao diện và cách làm việc của Photoshop. Vì thế, bạn có thể sử dụng tiện ích đầy đủ tính năng mà không phải học bất kỳ câu lệnh mới nào. Đây là một tiện ích chạy độc lập, bạn không phải cài đặt GIMP trước khi bắt đầu. find.pcworld.com/59918

Bổ sung hiệu ứng đồ họa: Filter Forge cung cấp một bộ sưu tập lớn các phương thức (trên 4000 bộ lọc) để tinh chỉnh và bổ sung những hiệu ứng đổ bóng và ánh sáng cho các bức ảnh của mình. Người dùng Photoshop có thể tự tạo các bộ lọc riêng và tải chúng lên cộng đồng Forge. Những thành viên đóng góp xây dựng cộng đồng được sử dụng miễn phí tiện ích bổ sung này, trong khi người dùng khác phải trả 99USD, phụ thuộc vào độ phân giải mà người dùng yêu cầu. find.pcworld.com/60013


Hình 10: GIMPShop mang đến cho tiện ích chỉnh sửa ảnh GIMP một giao diện tương tự như Photoshop.
Đưa hiệu ứng phim vào ảnh: OptikVerve VirtualPhotographer - tiện ích bổ sung của Photoshop - cho phép bạn áp dụng hàng tá mẫu tạo sẵn hiệu ứng phim video vào ảnh chụp chỉ sau vài thao tác nhấn chuột. find.pcworld.com/59920

Tút lại ảnh bị hạt: Trên vài máy ảnh số, các chế độ ISO cao chẳng hạn như ISO 3200 thường được dùng để chụp ảnh vào buổi tối, tuy nhiên việc này thường làm ảnh bị hạt. Đừng lo, Noise Ninja có khả năng làm sạch những ảnh chụp bị hạt. Cài đặt tiện ích bổ sung này vào Photoshop và bạn sẽ chọn những khu vực bị hạt thủ công, hay sử dụng công cụ Noise Brush để quét chuột qua những vùng ảnh chụp có vấn đề. Tiện ích có giá 45USD cho nhu cầu sử dụng tại nhà, hoặc 80USD cho người dùng chuyên nghiệp. find.pcworld.com/60014


Hình 11: Filter Forge có hơn 4000 bộ lọc và những công cụ khác để tinh chỉnh hình ảnh.
Ảnh cho ti vi: Tiện ích bổ sung Autointelace dành cho Photoshop của hãng Namsuppressed Design bổ sung những đường kẻ ngang rất “có hồn” vào ảnh của bạn và khi xem trên màn hình ti vi thì giống như bạn đã chụp nó từ màn hình CRT. find.pcworld.com/59915

Mở rộng thư viện 3D: Tiện ích bổ sung miễn phí Photoshop CS3 Extender Plug-in dành cho Google 3D Warehouse cho phép tìm kiếm và đồng bộ các mô hình 3D từ thư viện ảnh nghệ thuật hiện thực trực tuyến của Google. find.pcworld.com/59921

Hiển thị màu sắc đẹp nhất: Ảnh rửa ra thường không giống ảnh khi xem trên màn hình máy tính. Để cân đối chất lượng ảnh từ nhiều nguồn thiết bị khác nhau, chẳng hạn như máy in, bạn phải cài đặt một profile cho mỗi thiết bị. Microsoft Color Control Panel Applet for Windows XP cho phép người dùng chuyển đổi qua lại giữa các profile hiển thị trên máy tính; do đó nếu có nhiều màn hình hay máy in, bạn có thể dễ dàng tinh chỉnh chất lượng hình ảnh để chúng trông tốt nhất trên thiết bị đang sử dụng. find.pcworld.com/59908.

THINHRAZOR21428
13-05-2008, 08:23
5 TIỆN ÍCH BỔ SUNG THIẾT YẾU CHO TRÌNH DUYỆT

1 IE Tab: Nếu sử dụng Firefox như là trình duyệt chính, thỉnh thoảng bạn sẽ cảm thấy khó chịu bởi các website trông không giống như giao diện vốn có của nó. Khi đó, bạn đừng vội chuyển sang sử dụng trình duyệt IE, thay vào đó, hãy sử dụng tiện ích bổ sung IE Tab để hướng dẫn Firefox tạm thời “xài ké” engine dựng hình của IE. IE Tab cư trú tại góc dưới bên trái của cửa sổ trình duyệt. Nhấn vào biểu tượng Firefox để chuyển đổi từ chế độ IE và ngược lại. find.pcworld.com/59881

2 Duplicate Tab: Muốn tạo ra một bản sao của cửa sổ trình duyệt trong phiên làm việc hiện tại? Người dùng IE có thể thực hiện điều này mà không phải cài đặt hay sử dụng tiện ích bổ sung nào. Nhấn -N để mở một cửa sổ mới với toàn bộ lịch sử trình duyệt của cửa sổ hiện hành. Đối với nguời dùng Firefox, Duplicate Tab cho phép bạn có được điều này chỉ qua thao tác nhấn chuột, hoặc bạn có thể sử dụng công cụ để hợp nhất nhiều cửa sổ đang mở vào một loạt thẻ trình duyệt. find.pcworld.com/59882

3 ErrorZilla: Trang web với nội dung “Server not found” sẽ chẳng còn ý nghĩa gì nếu bạn đã cài đặt ErrorZilla. Tiện ích này bổ sung một dãy nút nhấn vào cuối thông báo lỗi “Firefox can’t find the server”, cung cấp khả năng truy cập tức thì đến dịch vụ Wayback Machine, Google Cache, Whois Lookup và nhiều dịch vụ khác. find.pcworld.com/59923

4 Inline Search: Người dùng IE có thể sử dụng tính năng tìm kiếm ngay khi nhập, tương tự như khi đang sử dụng Firefox. Tiện ích miễn phí và dễ sử dụng. find.pcworld.com/59883

5 Extended Statusbar: Tiện ích này bổ sung dữ liệu mà Firefox cung cấp về một trang web và kết nối Internet, chẳng hạn như kích thước trang web, tốc độ truyền và thời gian tải về. find.pcworld.com/59884

5 TIỆN ÍCH BỔ SUNG THIẾT YẾU CHO ỨNG DỤNG VĂN PHÒNG

1 International Character Toolbar: Bổ sung công cụ này vào Office để có được khả năng truy xuất nhanh (một thao tác nhấn chuột) đến thanh pallete của hầu hết các ký tự đặc biệt được sử dụng những ngôn ngữ nước ngoài mà bạn lựa chọn. Lưu ý, có thể bạn phải đăng nhập quy trình kiểm tra phần mềm chính hãng Office Genuine Advantage để tải về tiện ích bổ sung này. find.pcworld.com/59897

2 Toolbar Toggle: Bạn không mấy thích thú với dạng dải ruy băng (ribbon) trong Office 2007, Toolbar Toggle có khả năng khôi phục cách sắp xếp trình đơn cũ của Office 2003. Bản quyền người dùng độc lập có giá 20USD, thời gian dùng thử miễn phí là 5 ngày. find.pcworld.com/60015

3 Word Frequency Count: Phần mềm freeware này (tên đầy đủ là Word Frequency Count Multiple Text & HTML Files) bổ sung số lần mà mỗi từ xuất hiện trong nhiều tài liệu văn bản, HTML và Word. Phần mềm có giá 30USD. find.pcworld.com/59903

4 Remove Hidden Data: Bạn thỉnh thoảng nhận được các tập tin với đầy rẫy thông tin “theo dõi thay đổi” (track change) và dữ liệu cá nhân mà người tạo ra tài liệu thường vô tình bỏ sót lại. Đừng lo, hãy sử dụng tiện ích miễn phí này của Microsoft để dọn sạch mọi thứ. find.pcworld.com/59904

5 ClearType Tuner: Là một phần của bộ ứng dụng Windows XP PowerToys (ngoài ra, còn có một phiên bản trực tuyến), tiện ích bổ sung này cung cấp cho bạn khả năng kiểm soát độ sắc nét của font chữ được hiển thị trên màn hình LCD. Bạn sẽ cảm thấy ngạc nhiên trước sự khác biệt chỉ sau vài tinh chỉnh. find.pcworld.com/59905

5 TIỆN TÍCH BỔ SUNG THIẾT YẾU CHO ĐA PHƯƠNG TIỆN

1 Picasa to Flickr: Tiện ích bổ sung miễn phí dành cho Picasa này dễ sử dụng và không phụ thuộc vào nền tảng (hệ điều hành). Nó sử dụng một applet viết bằng ngôn ngữ Java để cho phép bạn nén các tập tin từ tiện ích chỉnh sửa ảnh thông dụng trực tiếp sang dịch vụ lưu trữ và chia sẻ ảnh trực tuyến Flickr. find.pcworld.com/59917

2 The Filter: Buổi tiệc sẽ bắt đầu trong 15 phút nữa và bạn chợt nhớ ra mình quên tạo danh sách các bản nhạc cần phát. Không có vấn đề gì? Hãy kết hợp tiện ích bổ sung cho iTunes và Windows Media Player này với một nhóm các bản nhạc mà bạn yêu thích. Không chỉ tạo ra những soundtrack hấp dẫn, tiện ích thậm chí còn “vét” được những bản nhạc đỉnh mà bạn bỏ sót. find.pcworld.com/60016

3 EvilLyrics: Tiện ích tải về miễn phí này giải thoát những đoạn mã “rác” đi kèm với hầu hết lời bài hát bằng cách tìm kiếm lời bài hát ở chế độ nền bất cứ khi nào bạn phát một bài hát bằng iTunes, WinAmp, Windows Media Player hay những ứng dụng giải trí đa phương tiện khác. find.pcworld.com/59909

4 ffdshow: Bạn sẽ không còn phải sử dụng mánh khoé với nhiều định dạng video nữa bằng cách cài đặt plug-in linh hoạt này. ffdshow hỗ trợ hầu hết trình phát video và cung cấp tất cả codec mà bạn cần thiết. find.pcworld.com/59913

5 Plugin Galaxy: Bộ sưu tập các hiệu ứng và bộ lọc miễn phí dành cho Photoshop và Paint Shop Pro cung cấp nhiều hiệu ứng làm cong và làm mờ hình ảnh cùng nhiều tính năng hữu ích khác trong một giao diện duy nhất. find.pcworld.com/59919

phóng viên dỏm
13-05-2008, 08:34
Cụ thể hơn đi! Chú cho anh biết cấu hình máy chú, hệ thống mạng của chú? Có tính được thời gian tự động tắt nguồn không? Máy bị từ khi nào? Chú có cài phần mềm tự động tắt máy không?

em mua máy cách đây 2 năm ram 512mb nguồn 400w chip celeron d mianboad 865i cạc mạng rời xài mạng ADSL của vnpt . mới bị cách đây một tháng . thời gian tắt thì thích lúc nào tắt lúc ấy chạy chương trình tắc , xem phim tắt , chơi game tắc , đến nhiều khi mở máy dang chạy windonw củng tắc . không cài phần mềm tự động tắc . chỉ cài đóng băng màng hình thôi

THINHRAZOR21428
13-05-2008, 08:41
phương pháp đối phó với những “cặp mắt tò mò” khi bạn đang làm việc với máy tính

Bạn đang ngồi trước máy tính thì bất thình ***h có người lạ tiến lại gần. Vì công việc có liên quan đến lĩnh vực nhạy cảm nên bạn đã vội thu nhỏ lại các cửa sổ, nhưng trong lòng vẫn lo lắng người lạ có thể đoán được phần nào công việc mà mình đang làm thông qua những gì đang hiện diện ở taskbar? Chỉ với ba món “đồ chơi” nhỏ dưới đây, đảm bảo nỗi lo lắng trong bạn sẽ được giải quyết triệt để.

1. Sử dụng Iconic Tray để thu nhỏ các cửa sổ đang hoạt động mà không để lại “dấu vết” trên taskbar

Sau khi cài đặt và kích hoạt chương trình, bạn nhấn chuột vào biểu tượng vừa xuất hiện ở cuối taskbar rồi chọn Other > Preferences.

Một hộp thoại hiện ra, hãy thiết lập phím tắt ở khung Hotkey trong phần Minimizing to Iconic Tray. Kế tiếp, bạn đánh dấu ô Hidden; list is accessible with the hotkey only ở phần Location of Iconic Tray rồi chỉ định phím tắt trong khung Hotkey to show list. Nếu muốn chương trình Iconic Tray tự động mở lên mỗi khi khởi động vào Windows thì bạn đánh dấu chọn ô Autorun when Windows starts, cuối cùng nhấn OK để hoàn tất (theo tôi, bạn không cần thiết lập các tùy chọn ở phần Minimizing to system tray).

Lúc này, bạn sẽ không còn thấy biểu tượng trên taskbar nữa. Để thu nhỏ một cửa sổ bất kỳ theo kiểu “không để lại dấu vết”, bạn hãy chọn cửa sổ đó rồi nhấn tổ hợp phím tắt đã thiết lập trong khung Hotkey. Để làm xuất hiện danh sách các cửa sổ đã được thu nhỏ “bí mật” (cũng là cách vào lại menu Other > Preferences), bạn nhấn phím tắt đã chỉ định ở khung Hotkey to show list.



Iconic Tray thuộc dạng shareware, tương thích với Windows 9x/ME/NT4/2000/XP, dung lượng khoảng 50KB, tải về tại địa chỉ www.iconictray.com/it121_ setup.exe.

Lưu ý: Mặc dù Iconic Tray thông báo chỉ cho dùng thử trong 14 ngày nhưng bạn có thể thay đổi thời gian hệ thống để sử dụng chương trình một cách “free”.

2. “Ngụy trang” bằng Anti-Peeper Key:



Anti-Peeper Key cho người dùng chuyển đổi qua lại giữa hai màn hình làm việc: một màn hình “ngụy trang” để đối phó khi có người lạ đứng gần và một màn hình làm việc thật sự của bạn (thao tác chuyển đổi này được thực hiện rất nhanh thông qua phím tắt).

Trong cửa sổ chương trình, bạn hãy chỉ định phím tắt để thực hiện việc chuyển đổi qua lại giữa hai màn hình làm việc ở khung Anti-peeper key, sau đó tiếp tục xuống khung Show program thiết lập phím tắt để gọi cửa sổ chương trình (vì Anti-Peeper Key không thể hiện biểu tượng trong khay hệ thống). Bạn có thể đánh dấu ô Run on Windows startup để chương trình tự động được kích hoạt lên khi vào Windows, rồi nhấn nút Save settings and Hide, nhấn OK. Thế là chương trình đã bắt đầu hoạt động, bạn hãy thử nhấn tổ hợp phím tắt mà mình đã thiết lập trong khung Antipeeper key thử xem, một màn hình mới sẽ xuất hiện, không còn những biểu tượng chương trình chạy thường trú trong khay hệ thống, không còn các cửa sổ chương trình đang mở, thật tuyệt! Nhấn tổ hợp phím tắt này một lần nữa, màn hình làm việc của bạn lại quay về như ban đầu. Điểm đặc biệt của chương trình Anti-Peeper Key là ở màn hình “ngụy trang”, bạn vẫn có thể làm việc như bình thường. Khi không cần sử dụng chương trình nữa, bạn nhấn phím tắt đã chỉ định trong khung Show program để gọi chương trình lên và nhấn nút Terminate để kết thúc.

Anti-Peeper Key là một shareware, tương thích Windows 2000/XP/2003, dung lượng khoảng 800KB, địa chỉ tải www.ahusoft.com/download/antipeeper.exe.

3. Giấu các cửa sổ đang hoạt động bằng EfreeSoft Boss Key (việc giấu đi/làm xuất hiện trở lại các cửa sổ này cũng được thực hiện bằng phím tắt).

Sau khi cài đặt, bạn khởi động chương trình EfreeSoft Boss Key lên và thiết lập các tùy chọn như sau:

- Chương trình cung cấp cho bạn hai cách để thực hiện việc giấu các cửa sổ đang hoạt động: một là nhấn đồng thời chuột trái và chuột phải (tùy chọn Hide/Show windows hotkey: left mouse button + right mouse button), hai là nhấn phím F12 (tùy chọn Hide/Show windows hotkey: F12). Các bạn hãy chọn một trong hai cách này.

- Mặc định thì ô Enable Boss Key to Hide the Browser, Folder and Application được chọn để kích hoạt tính năng của EfreeSoft Boss Key. Ngoài ra, chương trình còn cung cấp cho những người sử dụng có nhu cầu thêm hai hành động nữa (hai hành động này sẽ thực hiện cùng lúc với việc giấu cửa sổ), đó là: giấu các biểu tượng có trên desktop (tùy chọn Enable Boss Key to Hide All Desktop Icons) và giấu thanh taskbar (tùy chọn Enable Boss Key to Hide Taskbar).



- Nếu muốn chương trình chặn luôn tiếng (trong trường hợp máy vi tính đang mở nhạc) khi bạn nhấn phím tắt thực hiện việc “giấu giếm” thì hãy đánh dấu ô Mute the sound when the windows are hidden.

- Đánh dấu ô Automatically run when the system starts nếu bạn muốn khởi động chương trình EfreeSoft Boss Key mỗi khi vào Windows.

Cuối cùng, các bạn nhấn Save Settings rồi nhấn nút để thu nhỏ chương trình về khay hệ thống. Và bây giờ, các bạn đã có thể sử dụng tính năng của EfreeSoft Boss Key.

Lưu ý:

1. Mỗi khi chuyển đổi qua lại giữa hai cách thực hiện việc “giấu giếm”, bạn hãy thoát và mở lại chương trình để thay đổi có hiệu lực.

2. Nếu gặp phải trường hợp bạn có đánh dấu tùy chọn Enable Boss Key to Hide All Desktop Icons để chương trình giấu luôn các biểu tượng trên desktop nhưng sau đó các biểu tượng này vẫn không hiện ra trở lại mặc dù bạn đã nhấn phím tắt thì đừng vội “vò đầu bứt tóc”, hãy nhấn tổ hợp phím Windows + D, mọi thứ sẽ trở lại như cũ.

EfreeSoft Boss Key là phần mềm miễn phí, tương thích với Windows 98/ME/2000/XP, dung lượng file cài đặt khoảng 665KB, tải về tại địa chỉ www.efreesoft.com/ download/mgboss.exe.
s

pt1506
15-05-2008, 20:05
8 lỗi cơ bản trong Excel và cách khắc phục



Hẳn các bạn đã rất bực mình khi lập bảng tính Excel mà gặp những lỗi khó hiểu như #VALUE!, NAME?... Bài này sẽ giới thiệu 8 lỗi cơ bản thường gặp và cách khắc phục các lỗi này.


1. Lỗi #DIV/0!: Lỗi này do trong công thức tính toán có một phép chia cho số 0. Ví dụ bạn nhập công thức là =A1/A2, trong đó giá trị ở ô A2 bằng 0 hoặc chưa có giá trị thì sẽ có thông báo lỗi #DIV/ 0!, trong trường hợp này bạn chỉ cần thay đổi giá trị của ô A2 sao cho khác 0 là được.
2. Lỗi #NUM!: Giá trị số trong công thức không hợp lệ, số quá lớn hoặc quá bé. Chẳng hạn như phép tính =99^999 sẽ bị báo lỗi #NUM!, bạn chỉ cần giảm bớt giá trị tính toán lại.
3. Lỗi #N/A!: Xảy ra khi công thức tham chiếu đến một ô trong mảng nhưng ô đó lại không có giá trị. Lỗi này thường xảy ra với các hàm tìm kiếm như VLOOKUP, HLOOKUP... Bạn chỉ cần xem kỹ lại công thức và chỉnh sửa ô mà hàm tham chiếu tới.
4. Lỗi #NAME?: Excel không nhận diện được tên trong công thức. Ví dụ như hàm =SM(BBB), ở hàm này sai cả tên công thức và tên mảng tham chiếu tới. Muốn khắc phục bạn phải sửa lại tên hàm cho đúng hoặc nhập đúng mảng cần tham chiếu.
5. Lỗi #NULL!: Lỗi này xảy ra khi sử dụng các phép toán tử như =SUM(A1:A5 B1:B5), giữa hai hàm này không có điểm giao nhau, để khắc phục bạn phải xác định chính xác điểm giao nhau giữa hai hàm.
6. Lỗi #REF!: Đây là lỗi tham chiếu ô, chẳng hạn bạn xóa dòng hay cột mà dòng cột đó được dùng trong công thức, khi đó sẽ bị báo lỗi #REF!
7. Lỗi #VALUE!: Xuất hiện khi trong công thức có các phép toán không cùng một kiểu dữ liệu. Chẳng hạn công thức =A1+A2, trong đó A1 có giá trị là 1, A2 là Tây Ninh.Vì 1 là một ký tự số học, còn Tây Ninh lại là một chuỗi mẫu tự nên không thực hiện được phép tính. Để khắc phục, bạn phải chỉnh sửa cho giá trị của các phép toán có cùng một kiểu dữ liệu là ký tự số học hoặc chuỗi mẫu tự.
8. Lỗi #######: Ô chứa dữ liệu đó quá nhỏ, không thể hiển thị được. Để sửa lỗi này, bạn chỉ cần nới rộng cột đó ra là ổn.

phóng viên dỏm
19-05-2008, 21:34
cái cục sắt nhà em sắp về vườn rồi định mua máy mới lên mạng tìm thông tin thì có thông tin không thể ngờ là mtxt fujitsu 7000NA3 giá có 325 USD hà ( hình như có VAT rùi ) ở trung tâm Viễn Đông không biết có nên mua hông
cấu hình :
p4 1800
cạc màng hình 32 mb
cdrom
HDD 30 GB
Ram 512 Mb
khuyến mãi
1 USP wiless
1 cặp đựng chính hảng
1 chuột quang

Panzerklein
19-05-2008, 22:34
325 USD được con siêu cùi thế này à :|. Tui nhớ hơn tháng trước lắp 1 con giá gần 5 triệu mà cấu hình thế này:
Pentium Duo Core 2 1.8 GHz
Main 945G series, 128 MB VGA onboard
HDD 160 GB
Ram 1GB.
Case có quạt hông trong suốt :-".

Arist_Tara
20-05-2008, 16:58
Cấu hình của bác Panzer là cấu hình không cân bằng.


Pentium Duo Core 2 1.8 GHz
Main 945G series, 128 MB VGA onboard
2 cái này quá thấp, không chơi game, làm đồ họa được(dĩ nhiên là office và internet thì gần như bất kể cấu hình) Khi đó thì 2 cái này



HDD 160 GB
Ram 1GB.

vô dụng.

Panzerklein
20-05-2008, 17:48
Cấu hình của bác Panzer là cấu hình không cân bằng.


2 cái này quá thấp, không chơi game, làm đồ họa được(dĩ nhiên là office và internet thì gần như bất kể cấu hình) Khi đó thì 2 cái này


vô dụng.

Cấu hình máy đó đâu chơi game mà office với chạy ứng dụng khác như Photoshop, máy scan, máy in v.v... nhất là thằng Norton, vì Kaspersky bị xung đột với Win nên xài Norton mà Norton thì tương đối nặng. Cấu hình ban đầu thì không có CPU Duo Core GB, HDD 160 GB và có card màn hình, HDD 80 GB mà chỉ là P4 3.0 Ghz, vì bố tui nổi hứng thích Duo Core và bảo không cần card màn hình với 160 GB để chưa dữ liệu của ổng nên mới thành như thế. Trong khi máy này thì mẹ tui chủ yếu dùng để soạn bài mà bố tui hay dùng nó chứa dữ liệu với 1 nùi ứng dụng thay vì để nó trên Laptop của bố tui :| (làm tui không ăn chặng được chút ít mua card rời cho máy tui 8-}.

Mà ai bảo 128MB onboard là không chơi game được, nó chơi được cả SWAT 4 với Medieval 2 Total War chứ giỡn à =)).

A Phi
20-05-2008, 20:26
Nhà tôi thì xài cái máy cũng đỡ
CPU: E2160
RAM: 1GB
VGA: Radeon X1300 (256MB)
HDD: 80 GB.
... Cũng chơi ngon khối game đấy :)):))

aochoangxanh
20-05-2008, 20:33
cái CF card onboard cũng chơi được đấy, yêu cầu đòi card rời

Panzerklein
20-05-2008, 21:51
Mới nhắc đến việc cho aochoangxanh về vườn chăn gà xong là thấy mặt mẹt tên này lù lù xuất hiện 8-}.

pt1506
20-05-2008, 22:54
em mua máy cách đây 2 năm ram 512mb nguồn 400w chip celeron d mianboad 865i cạc mạng rời xài mạng ADSL của vnpt . mới bị cách đây một tháng . thời gian tắt thì thích lúc nào tắt lúc ấy chạy chương trình tắc , xem phim tắt , chơi game tắc , đến nhiều khi mở máy dang chạy windonw củng tắc . không cài phần mềm tự động tắc . chỉ cài đóng băng màng hình thôi


Vậy chú vô Task Manager và nhìn trong thẻ Processes xem có chương trình nào có đoạn cuối có dòng: "-s-t" không.


cái cục sắt nhà em sắp về vườn rồi định mua máy mới lên mạng tìm thông tin thì có thông tin không thể ngờ là mtxt fujitsu 7000NA3 giá có 325 USD hà ( hình như có VAT rùi ) ở trung tâm Viễn Đông không biết có nên mua hông
cấu hình :
p4 1800
cạc màng hình 32 mb
cdrom
HDD 30 GB
Ram 512 Mb
khuyến mãi
1 USP wiless
1 cặp đựng chính hảng
1 chuột quang


Mua thứ này là chú thành con bị lừa đó! Cấu hình quá tệ!

pt1506
01-06-2008, 22:20
DIMM:
Viết tắt từ thuật ngữ tiếng Anh Dual-In-line Memory Modules (đơn vị bộ nhớ trực tuyến đôi), DIMM thường dùng trong tên gọi của những khe cắm (slot) bộ nhớ trên bo mạch chủ. Đó là hai thanh nhựa chạy song song kẹp phía giữa là hai hàng tiếp điểm bằng kim loại dạng lò xo để tiếp xúc với chân cắm thanh RAM. Số tiếp điểm tương ứng với số chân trên thanh RAM.

Bạn thử tham khảo cách người ta mô tả việc gắn bộ nhớ như sau: gắn DDR Module vào DIMM Slot (gắn thanh DDR vào khe cắm DIMM).


SODIMM (Small Outline DIMM, DIMM có viền ngoài nhỏ) là dạng DIMM ngắn dùng trong máy tính xách tay.


MODULE VÀ CHIP:
Khi nói về bộ nhớ RAM, người ta phân biệt rõ module (thanh nhựa, hay gọi là bo mạch, có gắn các con chip) và chip (miếng silicon chứa mạch điện tử siêu nhỏ gắn trên thanh nhựa). Như vậy, DDR Module là thanh bộ nhớ DDR hoàn chỉnh, còn DDR chip là con chip bộ nhớ DDR. Việc xử lý dữ liệu nằm ở các con chip, còn các bo mạch (board) chỉ đơn thuần là giao diện kết nối và tiếp xúc.


RAM:
Random Access Memory (bộ nhớ truy cập ngẫu nhiên) là nơi máy tính sử dụng để lưu trữ tạm thời dữ liệu cho các chương trình đang chạy, hay các file đang mở để giúp CPU xử lý tốt nhất. RAM dùng để chỉ bộ nhớ chính của hệ thống. Thuật ngữ RAM còn được hiểu là Read-And-write Memory (bộ nhớ có thể đọc và ghi). Nghĩa là bạn có thể ghi dữ liệu vào RAM và đọc dữ liệu từ RAM. RAM phải được nuôi bằng nguồn điện. Khi máy tính tắt, các dữ liệu trong RAM cũng tiêu đời nhà ma. Nó trái ngược với bộ nhớ ROM.


ROM:
Đúng như tên cúng cơm của mình, Read Only Memory, ROM là dạng bộ nhớ chỉ có thể đọc dữ liệu chứa sẵn trong nó. Để nạp dữ liệu vào ROM, người ta cần phải dùng thiết bị chuyên dùng, gọi nôm na là “nạp ROM”. Nhờ vậy mà dữ liệu chứa trong ROM không bị mất đi dù cho máy tính ngưng hoạt động. Đây chính là dạng bộ nhớ dùng cho BIOS của bo mạch chủ. Các máy tính luôn có một lượng nhỏ ROM lưu giữ các lệnh cho việc khởi động hệ thống.



DRAM:
DRAM (đọc là đi-ram) viết tắt từ Dynamic Random Access Memory (bộ nhớ truy xuất ngẫu nhiên động). Đây là dạng RAM phải được phục hồi (hay còn gọi là làm tươi, refresh) thường xuyên theo các định kỳ.


SRAM:
Khác với DRAM, SRAM (Static Random Access Memory, đọc là éts-ram, bộ nhớ truy cập ngẫu nhiên tĩnh) là một dạng bộ nhớ nhanh hơn và có độ tin cậy cao hơn DRAM nói chung. Thuật ngữ “tĩnh” là để chỉ việc bộ nhớ SRAM không cần phải được làm tươi (refresh) như DRAM. Vì sao nhanh hơn? Trong khi DRAM hỗ trợ thời gian truy cập khoảng 60 nanoseconds (ns), SRAM có thể cho phép truy cập với thời gian thấp chỉ 10ns. Thời gian chu kỳ (cycle time) của SRAM cũng ngắn hơn rất nhiều so với DRAM vì nó không cần phải “xả hơi” (pause) giữa các lần truy cập. Ngặt một nỗi là chi phí sản xuất SRAM đắt hơn DRAM rất nhiều nên nó chỉ được dùng làm bộ nhớ đệm (cache).



SDRAM:
Viết tắt từ Synchronous DRAM, SDRAM là bộ nhớ truy cập ngẫu nhiên động đồng bộ. Đây là một dạng DRAM có thể chạy với các tốc độ xung nhịp (clock speed) cao hơn nhiều so với bộ nhớ thường. Chẳng hạn, SDRAM 133MHz có tốc độ nhanh hơn 3 lần FPM RAM cơ bản, hơn 2 lần so với EDO RAM và BEDO RAM.
Gọi là đồng bộ vì SDRAM thật sự đồng bộ chính nó với bus của CPU.

pt1506
01-06-2008, 22:21
DDR
Viết tắt từ Double Data Rate, DDR có nghĩa là “tốc độ dữ liệu gấp đôi”. Thật ra, dạng bộ nhớ mới này phải viết đầy đủ là DDR-SDRAM hay có “tề” bớt cũng là DDRAM (bộ nhớ truy cập ngẫu nhiên động đồng bộ tốc độ dữ liệu gấp đôi). Đây là một dạng SDRAM có băng thông cao hơn nhờ hỗ trợ việc truyền dữ liệu trên cả hai cạnh lên (rising edge) và xuống (falling edge) của mỗi chu kỳ xung nhịp (gọi là double pumped), nhờ vậy mà giúp tăng gấp đôi tốc độ truyền tải dữ liệu của chip bộ nhớ mà không cần phải tăng tần số của bus hệ thống bề mặt (front side bus, FSB). Cụ thể, một hệ thống DDR 100MHz có tốc độ xung nhịp hiệu dụng là 200MHz.
Theo nguyên tắc, dữ liệu được truyền đi mỗi lần 8 bytes. Do đó, ta có công thức tính tốc độ truyền tải dữ liệu của DDR như sau: Tốc độ xung nhịp bus bộ nhớ x 2 (tốc độ kép) x 8 (số byte dữ liệu được truyền đi). Thí dụ, DDR 200 có tần số bus là 100MHz nên đạt tốc độ truyền tải dữ liệu là 100 x 2 x 8 = 1.600MB/s.
Điều này giải thích tại sao người ta gọi DDR bằng hai cách: theo tốc độ xung nhịp hiệu dụng (như DDR200) và theo tốc độ truyền tải dữ liệu, hay băng thông (như DDR200 tức PC1600).
DDRAM cũng ít hao điện hơn SDRAM (điện áp 2,5V so với 3,3V) nên rất thích hợp cho các máy tính xách tay.
DDR có 184 chân so với 168 chân của SDRAM.
Các chuẩn về tốc độ và cách đóng gói DDR do JEDEC (Joint Electron Device Engineering Council, Hội đồng Kỹ sư Thiết bị Điện từ Chung) thiết đặt.


VRAM
Video RAM (VRAM, đọc “vi-ram”) là bộ nhớ của card tăng tốc đồ họa (hay còn gọi là card màn hình, card đồ họa). Người ta gọi nó là bộ nhớ video. Các card tăng tốc đồ họa hiện đại đều dùng bộ nhớ riêng để bảo đảm khai thác tối ưu sức mạnh của mình.
Khác với bộ nhớ RAM tiêu chuẩn, VRAM có thể được truy xuất cùng một lúc bởi hai thiết bị khác nhau, gọi là công nghệ cổng kép (dual-ported). Nhờ vậy mà trong khi chíp xử lý đồ họa ghi một hình ảnh mới vào VRAM, cơ chế hiển thị (RAMDAC) cũng đọc dữ liệu từ VRAM để cập nhật những gì hiển thị trên màn hình.
Trong thực tế, các yêu cầu đặt lên bộ nhớ video lớn hơn là lên bộ nhớ hệ thống. Xin mô tả thế này: Trong lúc hình ảnh video được truy xuất và thay đổi bởi bộ vi xử lý trên cơ sở liên tục (nhiều lần một giây khi bạn đang chơi game chẳng hạn), card đồ họa cũng phải truy xuất các dữ liệu chứa trong bộ nhớ với tần suất 50-100 lần/giây để có thể hiển thị thông tin đó lên màn hình. Đó là lý do mà các nhà sản xuất đua nhau phát triển những công nghệ bộ nhớ đặc biệt cho card đồ họa. Khi tốc độ của các chip xử lý đồ họa (GPU, VPU) không ngừng được đẩy lên chóng mặt, VRAM cũng phải chạy theo cho tương xứng. Bạn chớ có ngạc nhiên vì trong khi máy tính mới bắt đầu làm quen với DDR2 thì những đời card tăng tốc đồ họa cao cấp đã xài tới DDR3.
VRAM xử lý dữ liệu đồ họa mạnh hơn, tốt hơn RAM bình thường, nhưng cũng đắt hơn.



RAMDAC
RAMDAC viết tắt từ RAM digital-to-analog converter (thiết bị chuyển đổi từ digital sang analog cho bộ nhớ truy xuất ngẫu nhiên). Trong quá trình card đồ họa xử lý tín hiệu đồ họa, từ VRAM, dữ liệu được RAMDAC chuyển đổi thành tín hiệu analog để gửi tới cơ cấu hiển thị như bóng đèn hình CRT hầu đưa lên màn hình.
RAMDAC là một con microchip nằm trên card đồ họa. Nó gồm một bộ nhớ tĩnh SRAM nhỏ, chứa một bảng màu với ba công cụ chuyển đổi digital sang analog tương ứng với ba màu cơ bản: đỏ, xanh lá cây xanh dương.

pt1506
01-06-2008, 22:23
Biến file *.chm thành file HTML bằng tay không!




File .chm là những file thường được dùng nhất để chứa nội dung hướng dẫn, thủ thuật, cách sử dụng,… và được thiết kế bằng ngôn ngữ HTML. Nếu như bạn muốn trích nội dung của những file thủ thuật này ra mà không muốn “ì ạch” download những chương trình phụ trợ theo thì bài viết này sẽ hướng dẫn bạn cách biến những file .chm đó thành file HTML bằng tay không!


Khi bạn mở một file .chm, nội dung của file này sẽ được trình bày ở bên tay phải và các phần sẽ được chia ra ở bên tay trái. Thật ra nội dung mà bạn đọc được ở bên tay phải là một trang HTML, nhưng bạn lại không được quyền lưu các hình ảnh của nó lại. Cách duy nhất là mở nó ra bằng một trình duyệt rồi copy... thoải mái theo ý thích. Trước tiên ta cần biết địa chỉ để trình duyệt của bạn biết đường mà mở, bạn hãy click chuột phải lên phần bên tay trái và chọn Properties. Cửa sổ Properties sẽ mở ra .


Bạn thấy cái địa chỉ dài kỳ lạ ở phần Address (URL) chứ? Đó chính là thứ chúng ta cần. Bạn hãy copy nó lại. Lưu ý là địa chỉ này thường dài hơn hai dòng nên cách tốt nhất để bảo đảm là bạn đã copy hết thanh địa chỉ là bạn click chuột phải vào phần chữ này, chọn Select all rồi nhấn phím Ctrl-C để copy. Sau khi copy, bạn mở một trình duyệt ưa thích (như Internet Explorer chẳng hạn) rồi paste cái địa chỉ này vào thanh Address và nhấn Enter. Trang mới hiện ra sẽ giống “i chóc” cái trang Help của file .chm. Mọi việc bây giờ bạn cần làm là vào menu File –> Save as để save lại hay copy những bức hình mà bạn thích ra.

Thú vị quá phải không nào? Tuy nhiên những file help thường được chia làm thành nhiều phần (chia ra trong phần bên trái file .chm), vì vậy nếu bạn muốn save hết ra file HTML thì phải làm từng phần một.

pt1506
01-06-2008, 22:57
Một số thủ thuật của group policy trong Windows XP!





Để mở Group Policy, vào Start/Run, gõ “gpedit.msc” rồi nhấn Enter.
Cách sử dụng chung: tìm tới các nhánh, sử dụng Enable hoặc đánh dấu kiểm vào các ô để kích hoạt các tính năng.


1. Thao tác về Internet Explorer (IE).

Tìm nhánh User Configuration/Windows Settings/Internet Explorer Maintenance/Browser User Interface
- Browser Tittle: nhấp kép rồi đánh dấu kiểm vào ô "Customize Tittle Bars", gõ vào một cái tên như AAA. Mở IE ở chế độ about:blank sẽ thấy dòng chữ "Microsoft Internet Explorer provided by AAA"!
- Custom logo: bạn có thể thay logo của Microsoft ở phía trên góc phải trình duyệt IE bằng logo của riêng mình (chỉ hỗ trợ các file BMP có 16-256 màu và kích cỡ là 22x22 hay 38x38). Hộp "Customize the static logo bitmaps" dành cho hình tĩnh còn hộp "Customize the animated bitmaps" dành cho hình động.

Tìm nhánh User Configuration/Administrative Templates/Windows Components/Internet Explorer
- Internet Control Panel: có tất cả 7 tùy chọn thiết lập không cho hiện 7 thẻ trong hộp thoại Internet Options như General, Security... Nếu không giấu thẻ General, bạn có thể quay lại folder Internet Explorer để enable phần "Disable changing home page settings" nhằm vô hiệu hóa việc thay đổi trang chủ IE.
- Toolbars: enable phần "Configure Toolbar Buttons" sẽ cho tùy chọn hiển thị các nút trên thanh công cụ của IE.

Tìm nhánh Computer Configuration/Administrative Templates/Windows Components/Internet Explorer
- "Security Zone: Use only machine settings": bắt buộc tất cả các user đều phải chung một mức độ security như nhau.
- "Security Zone: Do not allow users to add/delete sites": trong Security Zone có danh sách các site nguy hiểm do người dùng thiết lập, enable tùy chọn này sẽ không cho thay đổi danh sách đó (cách tốt nhất là giấu luôn thẻ Security).
- "Disable Periodic Check for Internet Explorer software updates": ngăn không cho IE tự động tìm phiên bản mới của nó.

2. Thao tác về Windows Explorer.

Tìm nhánh User Configuration/Administrative Templates/Windows Components/Windows Explorer:
- Maximum number of recent document: quy định số lượng các tài liệu đã mở hiển thị trong My Recent Documents.
- Do not move deleted files to the Recycle Bin: file bị xóa sẽ không được đưa vào Recycle Bin.
- Maximum allowed Recycle Bin size: giới hạn dung lượng của Recycle Bin, tính bằng đơn vị phần trăm dung lượng của ổ đĩa cứng.
- Hide the dropdown list of recent files trong folder Common Open File Dialog: không cho hiển thị danh sách recent file trong các hộp thoại Open (như Word, Excel...)

3. Thao tác về Logon.

Tìm nhánh Computer Configuration/Administrative Templates/Logon
- Always use classic logon: làm hộp thoại Logon/Shutdown của Windows XP có dạng giống Windows 2000.
- Run these programs at user logon: tùy chọn này cho phép người dùng lập danh sách các file cần chạy khi đăng nhập vào máy tính, chỉ nên sử dụng cho các file dữ liệu.

4. Thao tác về System Restore.

Tìm nhánh Computer Configuration/Administrative Templates/System Restore
- Turn off System Restore: tắt System Restore, khi người dùng gọi System Restore thì xuất hiện thông báo "System Restore has been turn off by group policy. To turn on System Restore, contact your domain Administrator".
- Turn off Configuration: chỉ có tác dụng khi System Restore được kích hoạt, tính năng này vô hiệu hóa phần thiết lập cấu hình của System Restore.

5. Thao tác về Windows Media Player.

Tìm nhánh User Configuration/Administrative Templates/Windows Components/Windows Media Player
- Phần "Set and Lock Skin" trong folder User Interface: thiết lập một skin duy nhất cho Windows Media Player.
- Phần "Prevent Codec Download" trong folder Playback: ngăn Windows Media Player tự động tải các codec.

pt1506
01-06-2008, 22:59
Ý nghĩa các thông số trên bo mạch chủ và CPU!





1. CPU
P4, viết tắc của từ Pentium 4, tức là tên của loại vi xử lý (VXL). Đây là loại vi xử lý của hãng Intel. 2.8 Ghz, chỉ tốc độ xung đồng hồ của vi xử lý. Con số này là một trong những thước đo sức mạnh của vi xử lý, tuy vậy nó không phải là tất cả. Đôi lúc chỉ là một con số nhằm so sánh tương đối sức mạnh của VXL. Con số 511 phía sau con số thể hiện chất lượng và vị thế của con VXL trong toàn bộ các sản phẩm thuộc cùng dòng. Con số này là một quy ước của hãng Intel. Số càng cao chứng tỏ VXL càng tốt.

Socket 775, chỉ loại khe cắm của CPU. Đây là đặc tính để xét sự tương hợp giữa vi xử lý và mainboard (Bo mạch chủ - BMC). Bo mạch chủ phải hổ trợ loại socket này thì vi xử lý mới có thể hoạt động được.

Bus 533, chỉ tốc độ "lõi" của đường giao tiếp giữa VXL và BMC. Một vi xử lý được đánh giá nhanh hay chậm tuỳ thuộc khá lớn vào giá trị này. Vi xử lý chạy được bus 533 thì đương nhiên hơn hẳn so với vi xử lý chỉ chạy được bus 400 Mhz.






1024K, chỉ bộ nhớ đệm của vi xử lý. Đây là vùng chứa thông tin trước khi đưa vào cho vi xử lý trung tâm (CPU) thao tác. Thường thì tốc độ xử lý của CPU sẽ rất nhanh so với việc cung cấp thông tin cho nó xử lý, cho nên, không gian bộ nhớ đệm (cache) càng lớn càng tốt vì CPU sẽ lấy dữ liệu trực tiếp từ vùng này. Một số Vi xử lý còn làm bộ nhớ đệm nhiều cấp. Số 1024 mà bạn thấy đó chính là dung lượng bộ nhớ đệm cấp 2, 1024 KB = 1 MB.

Prescott chính là tên một dòng vi xử lý của Intel. Dòng vi xử lý này có khả năng xử lý video siêu việt nhất trong các dòng vi xử lý cùng công nghệ của Intel. Tuy nhiên, đây là dòng CPU tương đối nóng, tốc độ xung đồng hồ tối đa đạt 3.8 Ghz.




2. Mainboard:

Mainboard là một bản mạch đóng vai trò là trung gian giao tiếp giữa CPU và các thiết bị khác của máy tính.

ASUS Intel 915GV P5GL-MX, đơn giản, đây chỉ là tên của loại bo mạch chủ của hãng Asus.s/p 3.8 Ghz đó chính là tốc độ xung đồng hồ tối đa của CPU mà bo mạch chủ hỗ trợ. Như đã nói ở trên, loại mainboard này hỗ trợ VXL Prescott nên tốc độ xung nhịp tối đa mà nó hỗ trợ là 3.8 Ghz.

PCI Express 16X là tên của loại khe cắm card màn hình mà bo mạch chủ. Khe PCI Express là loại khe cắm mới nhất, hỗ trợ tốc độ giao tiếp dữ liệu nhanh nhất hiện nay giữa bo mạch chủ và Card màn hình. Con số 16X thể hiện một cách tương đối băng thông giao tiếp qua khe cắm, so với AGP 8X, 4X mà bạn có thể thấy trên một số bo mạch chủ cũ. Tuy băng thông giao tiếp trên lý thuyết là gấp X lần, thế nhưng tốc độ hoạt động thực tế không phải như vậy mà còn phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố khác như lượng RAM trên card, loại GPU (VXL trung tâm của card màn hình)

Bus 800, chỉ tần số hoạt động tối đa của đường giao tiếp dữ liệu của CPU mà bo mạch chủ hỗ trợ. Thường thì bus tốc độ cao sẽ hỗ trợ luôn các VXL chạy ở bus thấp hơn.

Sound& Vga, Lan onboard: bo mạch chủ này đã được tích hợp sẵn card âm thanh, card màn hình và card mạng phục vụ cho việc kết nối giữa các máy tính với nhau.

Dual 4DDR400: trên bo mạch chủ này có 4 khe cắm Bộ nhớ (RAM), hỗ trợ tốc độ giao tiếp 400 Mhz. Dựa vào thông số này, bạn có thể lựa chọn loại bộ nhớ (RAM) với tốc độ thích hợp để nâng cao tính đồng bộ và hiệu suất của máy tính. Chữ Dual là viết tắc của Dual Chanel, tức là bo mạch chủ hổ trợ chế độ chạy 2 thanh RAM song song. Với công nghệ này, có thể nâng cao hiệu suất và tốc độ chuyển dữ liệu của RAM.

3PCI, 4SATA, 8 USB 2.0: trên bo mạch chủ có 3 khe cắm PCI dành để lắp thêm các thiết bị giao tiếp với máy tính như card âm thanh, modem gắn trong v.v…. 4SATA là 4 khe cắm SATA, một loại chuẩn giao tiếp dành cho đĩa cứng. SATA thì nhanh hơn và ổn định hơn so với chuẩn IDE. Nếu bạn thấy bo mạch chủ có ghi dòng là ATA66, ATA100, ATA133 thì đó chính là dấu hiệu nhận biết bo mạch chủ có hổ trợ chuẩn đĩa cứng IDE. 8 cổng cắm USB 2.0 được hổ trợ trên bo mạch chủ. USB 2.0 thì nhanh hơn USB 1.1. USB 2.0 thì tương thích luôn với các thiết bị chỉ có USB 1.1

pt1506
01-06-2008, 23:01
Tự kiểm tra và sửa chữa máy tính - Chống cháy nổ cho máy tính ngày hè!





Đa số người dùng máy tính phổ thông "quên" yếu tố nhiệt độ khi mua sắm hoặc vận hành mà chỉ chú ý tới thông số về tốc độ, xung nhịp, dung lượng và giá tiền. Trong khi đó, hỏng hóc như cháy mạch, nổ chip thường bị nhà cung cấp từ chối bảo hành.




Lỗi cháy nổ chip thường bị các nhà phân phối từ chối bảo hành


Nhiệt độ trong máy tính

Khi máy tính làm việc, dòng điện chạy qua bóng bán dẫn và mạch điện toả ra nhiệt năng. Một con chip có thể nóng hơn nhiệt độ môi trường quanh nó (trong vỏ máy) 10 - 15 độ C. Nhiệt độ này tỷ lệ thuận với xung nhịp của chip và điện áp hoạt động.

Trong thiết kế sản phẩm, các nhà sản xuất linh kiện máy tính cũng phải dành ra một khoản để giải quyết nhiệt năng toả ra trong sản phẩm của mình trong điều kiện làm việc bình thường. Chip đảm nhiệm công việc nặng như CPU, xử lý đồ hoạ (GPU) thường có tản nhiệt riêng và quạt gió đi kèm.

IC chính của mainboard, RAM tốc độ cao cũng được gắn thêm thanh tản nhiệt bằng nhôm. Máy tính của dân "khát" tốc độ như game thủ, mod case phải có thiết bị tản nhiệt riêng tuỳ theo mức độ tăng điện áp lõi và xung nhịp của chip.




Nhiệt độ cao thổi bay tụ điện


Khả năng chịu nhiệt của linh kiện máy tính khác nhau tuỳ loại sản phẩm, hãng chế tạo, dải nhiệt độ làm việc phổ biến từ 0 - 70 độ C. Theo khuyến cáo của nhà sản xuất, môi trường lý tưởng để máy tính làm việc từ 15 - 24 độ C.

Đa số máy tính tại Việt Nam không có được môi trường "phòng lạnh" như vậy ngoài số trang bị tại cơ quan, công sở. Tại các quán game, hộ gia đình, nhiệt độ ngoài vỏ máy trung bình khoảng 30 độ C. Khi đó, bên trong vỏ máy khoảng 35 - 40 độ C do nhiệt năng toả từ các bộ phận bên trong máy, quạt tản nhiệt cũng chỉ thổi loanh quanh trong thùng. Nhiệt độ của chip hoạt động bình thường đã ở mức xấp xỉ 60 độ C.

Vào những ngày trời nóng liên tục, nhiệt năng không được giải toả kịp thời sẽ làm cho mạch điện, liên kết tinh vi bên trong IC biến dạng tạm thời, máy tính hoạt động không chính xác hoặc chậm chạp. Duy trì tình trạng đó trong thời gian dài có thể gây cháy nổ IC, phá huỷ luôn linh kiện. Một số mainboard và chip thế hệ mới có khả năng tự bảo vệ, đưa ra cảnh báo khi đến ngưỡng nhất định. Nếu nhiệt độ không giảm máy sẽ ngừng hoạt động.

Cháy nổ không chỉ vì tản nhiệt !




Đồ hiệu cũng cháy vì linh kiện không đồng bộ


"Có nhiều nguyên nhân dẫn đến việc cháy nổ linh kiện, có thể do điện áp nguồn không ổn định, linh kiện chất lượng kém hoặc sơ xuất khi lắp ráp khiến miếng tản nhiệt tiếp xúc không tốt", một kỹ thuật viên phòng bảo hành công ty TIC (Hà Nội) cho biết. "Máy tính tại Việt Nam chủ yếu là lắp ráp thủ công, có khi người dùng tự mua ổ cứng, RAM, card màn hình... để nâng cấp. Có khi một linh kiện không tốt lại là nguyên nhân dẫn đến hỏng hóc của cái khác".

Đa phần các nhà sản xuất từ chối bảo hành đối với sản phẩm hỏng hóc do cháy nổ mà chỉ hỗ trợ sửa chữa có tính phí. Lý do họ đưa ra là sản phẩm trước khi bán đều được cho hoạt động thử một thời gian nhất định. Việc cháy nổ chủ yếu do cách vận hành, sử dụng của người dùng. Tuy nhiên, vẫn có một vài công ty bán lẻ chấp nhận mạo hiểm, tự cam kết bảo hành cho khách hàng của mình.

Trên thực tế, linh kiện có thể chịu được nhiệt độ cao hơn chỉ số nhà sản xuất ghi trên bao bì sản phẩm. Tuy nhiên, nhiều yếu tố khác như bụi bẩn làm giảm lượng không khí lưu thông, tiếp xúc không tốt, ... khiến khả năng tản nhiệt giảm đi, nhiệt độ khi làm việc có thể tăng bất thường. Mặt khác, bụi bẩn khi gặp không khí ẩm ướt có thể gây đoản mạch tại những chân IC, làm cháy linh kiện.


Hạ "sốt" cho máy tính

Một bộ nguồn tốt là yếu tố quan trọng trong việc hạn chế cháy, nổ linh kiện máy tính. Ngoài công suất đủ lớn để cấp điện cho toàn bộ máy tính hoạt động, chất lượng bộ nguồn còn nằm ở chỗ đảm bảo sự ổn định của dòng điện.



Nổ chân RAM và khe cắm trên mainboard vì bụi bẩn.

Mainboard đời mới đều giành riêng một mục trong ROM-BIOS để cài đặt quản lý nhiệt độ. Tuỳ theo model và hãng sản xuất mà số cảm biến được "cài" trên mainboard khác nhau. Loại sản phẩm phổ thông cho phép người dùng biết được số vòng quay của quạt chip, quạt VGA và nhiệt độ chip. Những loại đắt tiền hơn cho phép người dùng thiết lập kịch bản nhiệt độ (thermal scheme) đến từng chi tiết để cảnh báo và tắt máy khi quá nóng. Nhiệt độ chip thường mặc định ở mức cảnh báo 60 độ C và ngừng hoạt động ở 65 độ C. Loa trên main sẽ liên tục phát ra âm thanh giống còi cứu hoả khi đến ngưỡng.

Cùng giá tiền, chip do AMD sản xuất có hiệu năng cao hơn nhưng khi vận hành cũng nóng hơn so với chip Intel. Dân mê game và đồ hoạ kỹ thuật vì thế chuộng AMD hơn, nhưng cũng phải bỏ nhiều tiền hơn cho bộ tản nhiệt.

Máy tính tại cửa hàng game hoặc Internet công cộng hay bị bụi bám rất nhiều vì nằm ngay mặt đường, không được che đậy cẩn thận như máy cá nhân tại gia đình hoặc công sở. Chúng cần được vệ sinh mỗi tuần 1 lần để đảm bảo không bị những trục trặc bất ngờ.

Người dùng tại gia đình có thể kiểm soát nhiệt độ máy tính của mình qua phần Setup của ROM BIOS và các tiện ích đi kèm mainboard. Nếu chỉ là tay ngang, bạn có thể download tiện ích kiểm tra phần cứng như Everest của hãng Lavalys để theo dõi cảm biến nhiệt trên bo mạch chủ. Nhiệt độ chip được duy trì dưới 55 độ C là tình trạng tốt nhất. Nếu nhiệt độ tăng nhanh sau một thời gian ngắn vận hành là dấu hiệu hệ thống tản nhiệt cần được nâng cấp.

pt1506
01-06-2008, 23:02
Tìm hiểu CMOS




Setup CMOS là một việc khá quan trọng trước khi tiến hành cài đặt. Thực ra việc này không khó đối với những người đã làm rồi nhưng nếu là những người mới tiếp xúc thì vừa vào đã nhìn thấy ngay cái màn hình u ám trên DOS và một loạt những từ tiếng Anh khó hiệu là lập tức
Để vào màn hình thiết lập thông tin trong CMOS tùy theo dòng máy chúng ta có các cách sau:

* Đối với các mainboard thông thường hiện nay dùng phím DELETE. Trên màn hình khởi động sẽ có dòng chữ hướng dẫn Press DEL to enter Setup.
* Đối với dòng máy Compaq, HP dùng phím F10. Trên màn hình khởi động sẽ có dòng chữ hướng dẫn F10 = Setup.
* Đối với dòng máy DEL dùng phím F2. Trên màn hình khởi động sẽ có dòng chữ hướng dẫn F2: Setup. >

Thực ra các Cmos tuy có giao diện khác nhau một chút nhưng những thông tin và thao tác thì na ná nhau thôi. Lấy Mainboard thông dụng trên phòng máy ta vẫn vào làm ví dụ:

1.1 STANDARD CMOS SETUP:



* Date: ngày hệ thống, Time: giờ của đồng hồ hệ thống
* Primary Master: thông tin về ổ đĩa chính gắn trên IDE1.
* Primary Slave: thông tin về ổ đĩa phụ gắn trên IDE1.
* Secondary Master: thông tin về ổ đĩa chính gắn trên IDE2.
* Secondary Slave: thông tin về ổ đĩa phụ gắn trên IDE2.
* Drive A: thông tin về ổ mềm, nếu có sẽ hiển thị loại ổ mềm hiện đang dùng 1.44M 3.5 Inch.
* Drive B: không còn sử dụng nên sẽ hiển thị dòng None, hoặc Not Installed


Lưu ý: Nếu thông tin về các ổ gắn trên IDE không có chứng tỏ các ổ này chưa hoạt động được, bạn phải kiểm tra lại ổ đĩa gắn đủ 2 dây dữ liệu và nguồn chưa, có thiết lập ổ chính, ổ phụ bằng jump trong trường hợp gắn 2 ổ trên 1 dây chưa.



1.2 BIOS FEATURES SETUP (ADVANCED CMOS SETUP)



Trong mục này lưu ý các mục sau:

* First Boot Device: chọn ổ đĩa để tìm HĐH đầu tiên khởi động máy.
* Second Boot Device: ổ thứ 2 nếu không tìm thấy HĐH trên ổ thứ nhất.
* Third Boot Device: ổ thứ 3 nếu không tìm thấy HĐH trên 2 ổ kia.

Ví dụ: khi muốn cài HĐH thì phải chọn ở mục First Boot Device là CD-ROM để máy khởi động từ đĩa CD và tiến hành cài đặt.



1.3 INTEGRATED PERIPHERALS



Thiết lập cho các thiết bị ngoại vi, mục này cho phép bạn cho phép sử dụng hay vô hiệu hóa các thiết bị trên mainboard như IDE, khe PCI, cổng COM, cổng LPT, cổng USB.

Chọn Auto: tự động, Enable: cho phép, Disable: vô hiệu hóa.



1.4 AND MORE :

* Supervisor Password: thiết lập mật khẩu bảo vệ CMOS.
* User Password: thiết lập mật khẩu đăng nhập vào máy.
* IDE HDD Auto Detection: kiểm tra thông tin về các ổ cứng gắn trên IDE.
* Save & Exit Setup: Lưu các thiết lập và thoát khỏi màn hình CMOS.
* Exit Without Saving: Thoát nhưng không lưu các thiết lập.

pt1506
01-06-2008, 23:04
117 Câu lệnh trong CMD hữu dụng!!!!





1. Accessibility Controls - access.cpl
2. Accessibility Wizard - accwiz
3. Add Hardware Wizard - hdwwiz.cpl
4. Add/Remove Programs - appwiz.cpl
5. Administrative Tools - control admintools
6. Automatic Updates - wuaucpl.cpl
7. Bluetooth Transfer Wizard - fsquirt
8. Calculator - calc
9. Certificate Manager - certmgr.msc
10. Character Map - charmap
11. Check Disk Utility - chkdsk
12. Clipboard Viewer - clipbrd
13. Command Prompt - cmd
14. Component Services - dcomcnfg
15. Computer Management - compmgmt.msc
16. Control Panel - control
17. Date and Time Properties - timedate.cpl
18. DDE Shares - ddeshare
19. Device Manager - devmgmt.msc
20. Direct X Troubleshooter - dxdiag
21. Disk Cleanup Utility - cleanmgr
22. Disk Defragment - dfrg.msc
23. Disk Management - diskmgmt.msc
24. Disk Partition Manager - diskpart
25. Display Properties - control desktop
26. Display Properties - desk.cpl
27. Dr. Watson System Troubleshooting Utility - drwtsn32
28. Driver Verifier Utility - verifier
29. Event Viewer - eventvwr.msc
30. Files and Settings Transfer Tool - migwiz
31. File Signature Verification Tool - sigverif
32. Findfast - findfast.cpl
33. Firefox - firefox
34. Folders Properties - control folders
35. Fonts - control fonts
36. Fonts Folder - fonts
37. Free Cell Card Game - freecell
38. Game Controllers - joy.cpl
39. Group Policy Editor (for xp professional) - gpedit.msc
40. Hearts Card Game - mshearts
41. Help and Support - helpctr
42. HyperTerminal - hypertrm
43. Iexpress Wizard - iexpress
44. Indexing Service - ciadv.msc
45. Internet Connection Wizard - icwconn1
46. Internet Explorer - iexplore
47. Internet Properties - inetcpl.cpl
48. Keyboard Properties - control keyboard
49. Local Security Settings - secpol.msc
50. Local Users and Groups - lusrmgr.msc
51. Logs You Out Of Windows - logoff
52. Malicious Software Removal Tool - mrt
53. Microsoft Chat - winchat
54. Microsoft Movie Maker - moviemk
55. Microsoft Paint - mspaint
56. Microsoft Syncronization Tool - mobsync
57. Minesweeper Game - winmine
58. Mouse Properties - control mouse
59. Mouse Properties - main.cpl
60. Netmeeting - conf
61. Network Connections - control netconnections
62. Network Connections - ncpa.cpl
63. Network Setup Wizard - netsetup.cpl
64. Notepad notepad
65. Object Packager - packager
66. ODBC Data Source Administrator - odbccp32.cpl
67. On Screen Keyboard - osk
68. Outlook Express - msimn
69. Paint - pbrush
70. Password Properties - password.cpl
71. Performance Monitor - perfmon.msc
72. Performance Monitor - perfmon
73. Phone and Modem Options - telephon.cpl
74. Phone Dialer - dialer
75. Pinball Game - pinball
76. Power Configuration - powercfg.cpl
77. Printers and Faxes - control printers
78. Printers Folder - printers
79. Regional Settings - intl.cpl
80. Registry Editor - regedit
81. Registry Editor - regedit32
82. Remote Access Phonebook - rasphone
83. Remote Desktop - mstsc
84. Removable Storage - ntmsmgr.msc
85. Removable Storage Operator Requests - ntmsoprq.msc
86. Resultant Set of Policy (for xp professional) - rsop.msc
87. Scanners and Cameras - sticpl.cpl
88. Scheduled Tasks - control schedtasks
89. Security Center - wscui.cpl
90. Services - services.msc
91. Shared Folders - fsmgmt.msc
92. Shuts Down Windows - shutdown
93. Sounds and Audio - mmsys.cpl
94. Spider Solitare Card Game - spider
95. SQL Client Configuration - cliconfg
96. System Configuration Editor - sysedit
97. System Configuration Utility - msconfig
98. System Information - msinfo32
99. System Properties - sysdm.cpl
100. Task Manager - taskmgr
101. TCP Tester - tcptest
102. Telnet Client - telnet
103. User Account Management - nusrmgr.cpl
104. Utility Manager - utilman
105. Windows Address Book - wab
106. Windows Address Book Import Utility - wabmig
107. Windows Explorer - explorer
108. Windows Firewall - firewall.cpl
109. Windows Magnifier - magnify
110. Windows Management Infrastructure - wmimgmt.msc
111. Windows Media Player - wmplayer
112. Windows Messenger - msmsgs
113. Windows System Security Tool - syskey
114. Windows Update Launches - wupdmgr
115. Windows Version - winver
116. Windows XP Tour Wizard - tourstart
117. Wordpad - write

pt1506
01-06-2008, 23:06
RUN : trong windows





Đây là 1 số lệnh:
1. Character Map = charmap.exe (rất hữu dụng trong việc tìm kiếm các ký tự không thông dụng)
2. Disk Cleanup = cleanmgr.exe (dọn dẹp đĩa để tăng dung lượng trống)
3. Clipboard Viewer = clipbrd.exe (Xem nội dung của Windows clipboard)
4. Dr Watson = drwtsn32.exe (Công cụ gỡ rối)
5. DirectX diagnosis = dxdiag.exe (Chẩn đoán và thử DirectX, card màn hình & card âm thanh)
6. Private character editor = eudcedit.exe (cho phép tạo ra hoặc sửa đổi các ký tự(nhân vật?))
7. IExpress Wizard = iexpress.exe (Tạo ra các file nén tự bung hoặc các file tự cài đặt)
8. Mcft Synchronization Manager = mobsync.exe (cho phép đồng bộ hóa thư mục trên mạng cho làm việc Offline. Không được cung cấp tài liệu rõ ràng).
9. Windows Media Player 5.1 = mplay32.exe (phiên bản cũ của Windows Media Player, rất cơ bản).
10. ODBC Data Source Administrator = odbcad32.exe (Làm một số việc với các cơ sở dữ liệu)
11. Object Packager = packager.exe (Làm việc với các đối tượng đóng gói cho phép chèn file vào, có các file trợ giúp toàn diện).
12. System Monitor = perfmon.exe (rất hữu ích, công cụ có tính cấu hình rất cao, cho bạn biết mọi thứ bạn muốn biết về bất kỳ khía cạnh nào của hiệu suất PC, for uber-geeks only )
13. Program Manager = progman.exe (Legacy Windows 3.x desktop shell).
14. Remote Access phone book = rasphone.exe (Tài liệu là ảo, không tồn tại).
15. Registry Editor = regedt32.exe [also regedit.exe] (dành cho việc chỉnh sửa Windows Registry).
16. Network shared folder wizard = shrpubw.exe (Tạo các thư mục được chia sẻ trên mạng).
17. File siganture verification tool = sigverif.exe
18. Volume Contro = sndvol32.exe (Tôi bổ sung cái này cho những người bị mất nó từ vùng cảnh báo của hệ thống).
19. System Configuration Editor = sysedit.exe (Sửa đổi System.ini & Win.ini giống như Win98! ).
20. Syskey = syskey.exe (bảo mật cơ sở dữ liệu tài khoản WinXP - cẩn thận khi sử dụng, Nó không được cung cấp tài liệu nhưng hình như nó mã hóa tất cả các mật khẩu, Tôi không chắc về chức năng đầy đủ của nó).
21. Mcft Telnet Client = telnet.exe
22. Driver Verifier Manager = verifier.exe (có vẻ như là một tiện ích theo dõi hoạt động của các Driver(trình điều khiển) phần cứng ,có thể hữu ích đối với người gặp sự cố với các Driver. Khộng được cung cấp tài liệu)
23. Windows for Workgroups Chat = winchat.exe (Xuất hiện như là 1 tiện ích WinNT cũ cho phép chat trong mạng LAN,có file trợ giúp).
24. System configuration = msconfig.exe (Có thể sử dụng để quản lý các chương trình khởi động cùng với Windows)
25. gpedit.msc được sử dụng để quản lý các chính sách nhóm và các quyền hạn.
here are more 99 commands
Accessibility Controls: access.cpl
Add Hardware Wizard: hdwwiz.cpl
Add/Remove Programs:cappwiz.cpl
Administrative Tools: control admintools
Automatic Updates: wuaucpl.cpl
Bluetooth Transfer Wizard: fsquirt
Calculator: calc
Certificate Manager: certmgr.msc
Character Map: charmap
Check Disk Utility:chkdsk
Clipboard Viewer: clipbrd
Command Prompt: cmd
Component Services: dcomcnfg
Computer Management: compmgmt.msc
Date and Time Properties: timedate.cpl
DDE Shares: ddeshare
Device Manager: devmgmt.msc
Direct X Control Panel (If Installed)*: directx.cpl
Direct X Troubleshooter: dxdiag
Disk Cleanup Utility: cleanmgr
Disk Defragment: dfrg.msc
Disk Management: diskmgmt.msc
Disk Partition Manager: diskpart
Display Properties: control desktop
Display Properties: desk.cpl
Display Properties (w/Appearance Tab Preselected): control color
Dr. Watson System Troubleshooting Utility: drwtsn32
Driver Verifier Utility: verifier
Event Viewer: eventvwr.msc
File Signature Verification Tool: sigverif
Findfast: findfast.cpl
Folders Properties: control folders
Fonts: control fonts
Fonts Folder: fonts
Free Cell Card Game: freecell
Game Controllers: joy.cpl
Group Policy Editor (XP Prof): gpedit.msc
Hearts Card Game: mshearts
Iexpress Wizard: iexpress
Indexing Service: ciadv.msc
Internet Properties: inetcpl.cpl
IP Configuration (Display Connection Configuration): ipconfig /all
IP Configuration (Display DNS Cache Contents): ipconfig /displaydns
IP Configuration (Delete DNS Cache Contents): ipconfig /flushdns
IP Configuration (Release All Connections): ipconfig /release
IP Configuration (Renew All Connections): ipconfig /renew
IP Configuration (Refreshes DHCP & Re-Registers DNS): ipconfig /registerdns
IP Configuration (Display DHCP Class ID): ipconfig /showclassid
IP Configuration (Modifies DHCP Class ID): ipconfig /setclassid
ava Control Panel (If Installed): jpicpl32.cpl
Java Control Panel (If Installed): javaws
Keyboard Properties: control keyboard
Local Security Settings: secpol.msc
Local Users and Groups: lusrmgr.msc
Logs You Out Of Windows: logoff
Microsoft Chat: winchat
Minesweeper Game: winmine
Mouse Properties: control mouse
Mouse Properties: main.cpl
Network Connections: control netconnections
Network Connections: ncpa.cpl
Network Setup Wizard: netsetup.cpl
Notepad: notepad
Nview Desktop Manager (If Installed): nvtuicpl.cpl
Object Packager: packager
ODBC Data Source Administrator: odbccp32.cpl
On Screen Keyboard: osk
Opens AC3 Filter (If Installed): ac3filter.cpl
Password Properties: password.cpl
Performance Monitor: perfmon.msc
Performance Monitor: perfmon
Phone and Modem Options: telephon.cpl
Power Configuration: powercfg.cpl
Printers and Faxes: control printers
Printers Folder: printers
Private Character Editor: eudcedit
Quicktime (If Installed): QuickTime.cpl
Regional Settings: intl.cpl
Registry Editor: regedit
Registry Editor: regedit32
emote Desktop: mstsc
Removable Storage: ntmsmgr.msc
Removable Storage Operator Requests: ntmsoprq.msc
Resultant Set of Policy (XP Prof): rsop.msc
Scanners and Cameras: sticpl.cpl
Scheduled Tasks: control schedtasks
Security Center: wscui.cpl
Services: services.msc
Shared Folders: fsmgmt.msc
Shuts Down Windows: shutdown
Sounds and Audio: mmsys.cpl
Spider Solitare Card Game: spider
SQL Client Configuration: cliconfg
System Configuration Editor: sysedit
System Configuration Utility: msconfig
System File Checker Utility (Scan Immediately): sfc /scannow
System File Checker Utility (Scan Once At Next Boot): sfc /scanonce
System File Checker Utility (Scan On Every Boot): sfc /scanboot
System File Checker Utility (Return to Default Setting): sfc /revert
System File Checker Utility (Purge File Cache): sfc /purgecache
System File Checker Utility (Set Cache Size to size x): sfc /cachesize=x
System Properties: sysdm.cpl
Task Manager:taskmgr
Telnet Client:telnet
User Account Management:nusrmgr.cpl
Utility Manager:utilman
Windows Firewall:firewall.cpl
Windows Magnifier:magnify
Windows Management Infrastructure:wmimgmt.msc
Windows System Security Tool:syskey
Windows Update Launches:wupdmgr
Windows XP Tour Wizard:tourstart
Wordpad:write hoặc wordpad

pt1506
01-06-2008, 23:11
Bạn là người thường xuyên sử dụng máy tính, một trong những mối quan tâm hàng đầu của bạn hẳn là làm sao cải thiện được tốc độ làm việc và nâng cao tính ổn định của hệ điều hành.

Chắc bạn cũng đã biết đến nhiều phương cách để làm việc này, xin mách bạn một thủ thuật đơn giản khác nhưng ít người biết, sau khi thực hiện sẽ góp phần vào việc tăng tốc và giúp ổn định đáng kể cho hệ điều hành Windows:

Bạn hãy kiểm tra và chắc chắn rằng máy tính của bạn đang thực hiện việc chuyển dữ liệu bằng cách sử dụng công nghệ gọi là DMA (Direct Mmemory Access: truy nhập bộ nhớ trực tiếp). Hãy thực hiện các bước như sau:

- Vào Control Panel tìm mục System rồi nhấn đúp chuột, bạn sẽ thấy cửa sổ System Properties hiện ra, chọn thẻ có nhãn Hardware. Tiếp theo, click chuột vào thẻ Device Manager. Lúc này, cửa sổ Device Manager hiện ra, liệt kê danh sách các thiết bị phần cứng mà máy tính của bạn hiện đang được trang bị, mỗi loại thiết bị sẽ được thể hiện trong một thư mục.

- Bạn tìm và nhấp đúp chuột vào thư mục có tên là IDE ATA/ATAPI Controllers.

- Tìm tới thư mục con có tên Primary IDE Channel rồi nhấn đúp chuột.

- Lúc này cửa sổ Primary IDE Channel Properties sẽ xuất hiện, click chuột vào thẻ Advanced Settings. Bạn sẽ thấy hai bảng thiết bị được liệt kê là: Devie 0 và Device 1.


- Ở mỗi bảng, bạn click chuột vào mũi tên sổ xuống ở mục Transfer Mode sau đó chọn dòng DMA if available. Nhấn OK. (Nếu máy của bạn có một “Primary IDE Channel” khác thì chỉ cần lặp lại các thao tác như trên).

- Cuối cùng, đóng cửa số Device Manager và khởi động lại máy để hoàn tất việc thiết lập.

pt1506
03-06-2008, 00:05
Tiện ích dễ sử dụng trong Windows




Bạn đang băn khoăn về cách thức để thực hiện các thao tác như: cấp phát chức năng người dùng, chuyển My Documents sang ổ D, tự động mở CD theo nội dung, dồn đĩa. Nếu vậy, hãy tìm hiểu những mẹo nhỏ dưới đây:

1. Chuyển My Documents sang ổ D

Theo cấu hình đã được cài đặt sẵn trong đĩa hệ điều hành WinXP hoặc Win2000, thư mục “My Documents” sẽ được mặc định là nằm trong ổ C. Tuy nhiên, do ổ C là nơi thường được format lại mỗi lần cài đặt lại hoặc cài đặt mới hệ điều hành, nên thường chỉ lưu những file cài đặt, những file này sẽ dễ dàng cài đặt lại nếu như có phần mềm. Do đó, chuyển đổi vị trí “My Documents” sang ổ D được xem là quan trọng và thiết yếu. Để thực hiện được như vậy, trước tiên bạn kích chuột phải vào folder “My Documents”, chọn Property. Tại mục “Target Folder Location” xoá bỏ đường dẫn mặc định đi và thay bạn nhập đỉa chỉ vị trí mới (giả sử như ổ D: D:\Documents) để làm nơi lưu trữ mới của “My Documents”

2. Đăng nhập bằng Power User

Thông thường khi đăng nhập vào hệ thống bằng account của Administrator hoặc Client, hệ thống của bạn có thể trở thành đối tượng tấn công của một số loại virus có khả năng lây lan và xâm nhập mạnh như: W32, Trojan horse. Tuy nhiên bạn có thể loại trừ khả năng hoặc giảm tới mức tối thiểu sự tấn công của vi rút bằng cách đăng nhập vào máy tính thông qua quyền Power User.

Quyền đăng nhập bằng Account Power User vẫn cho phép thực hiện đầy đủ các chức năng của Windows. Để giảm quyền, chọn Start/Run, nhập dòng chữ “lursmgr.msc”, sau đó nhấn phím Enter. Chọn Groups và kích đúp chuột vào Administrators. Tuy nhiên, để thực hiện được như vậy bạn phải có ít nhất một account trong danh sách Members với tư cách là Administrator. Sau đó, chọn account mà bạn muốn giảm quyền trước tiên chọn Remove/OK, sau đó nhấn đúp chuột trái vào Power User, kích vào nút Add, đánh tên account của bạn, và lại nhấn OK. Đặc biệt, khi dùng Power User bạn có thể chuyển về quyền Administrator một cách dễ dàng nếu muốn.

3. Dồn đĩa

Dung lượng các thu mục và tập tin đang đầy lên có thể làm cho ổ cứng của bạn mỗi ngày thêm chật chội. Tuy nhiên bạn có thể dồn đĩa lại để tạo ra những khoảng trống mới cho ổ đĩa. Để có thể nén các thư mục và tập tin, ổ đĩa của bạn phải được định dạng theo NTFS (nếu ổ đĩa của bạn không phải là NTFS, hãy sử dụng phần mền Partition Magic). Thao tác dồn đĩa như sau: Nhấn chuột phải lên tập tin và thu mục muốn nén và chọn Properties. Trên thẻ General, chọn Advance. Đánh dấu lên mục Check Compress contents to save disk space và nhấn OK.

4. Tự động mở CD theo nội dung

Thông thường, khi người dùng đưa một đĩa CD bất kỳ vào trong ổ CD hay còn gọi là ổ CD-ROM, trên màn hình máy tính sẽ xuất hiện một ra một cửa sổ mới, trong đó hiển thị dưới dạng danh sách những hành động cần lựa chọn. Người dùng có thể kích chuột vào box chứa nội dung cho phép trả lời một lần cho mỗi loại nội dung. Tuy nhiên, nếu bạn không muốn bị phân tâm bởi chế độ tự động bật CD theo nội dung này, bạn có thể tắt bỏ nó đi. Để thực hiện được như vậy, trước tiên bạn nhấn chuột lên ổ đĩa CD trong cửa sổ Explorer và chọn Properties, ở trong thẻ AutoPlay, chọn nội dung thích hợp theo ý muốn của bạn từ sách hiển thị ra. Để tắt chức năng tự động mở với một nội dung thích hợp bạn chỉ định nội dung cho nó bên dưới là: Take no Action và nhấn OK.

pt1506
03-06-2008, 00:10
Làm thế nào để kéo dài tuổi thọ của Windows XP




Windows Vista có thể mới và hào nhoáng hơn nhưng với một số người dùng máy tính thì đôi khi mới hơn không hẳn đã là tốt hơn. Nhiều máy tính đơn giản không có đủ công suất để chạy hệ điều hành mới này và thậm chí chúng còn rơi vào tình trạng “đói” RAM hay tốc độ của bộ vi xử lý khi cài đặt Vista.

Nếu bạn có Windows XP, đừng buồn phiền vì điều đó vì bạn vẫn có thể sử dụng nó trên phần cứng của mình cho một vài năm tiếp theo. Nếu bạn có kế hoạch vẫn sử dụng XP một thời gian nữa thì phải tốn một chút thời gian để duy trì nó. Hãy coi chúng như những chiếc máy ảo. Bài này Quản Trị Mạng sẽ giới thiệu một số mẹo, bí quyết để bạn có thể vẫn chạy XP một cách thoải mái với hiệu suất cao nhất và trong một thời gian dài.

Nhưng cái gì sẽ xảy ra nếu bạn phải chịu đựng việc “thèm muốn” sử dụng Vista, và bạn phải quan tâm nhiều hơn đến việc duy trì XP? Không vấn đề gì – chúng tôi sẽ đưa ra cho các bạn cách có được nhiều tiện ích có trong Vista (như bảo mật nâng cao, các cửa sổ trong suốt, Windows Flip 3D và Network Map) mà không cần đến việc tốn tiền để nâng cấp phần cứng mới.

Vì, nếu bạn có nhiều việc phải làm với thời gian và tiền bạc của mình hơn là nâng cấp lên Vista thì hãy bỏ chút thời gian nghiên cứu bài này. Còn có rất nhiều điều phong phú trong hệ điều hành cũ của chính bạn.

Chú ý: Có nhiều mẹo trong bài này có hướng dẫn cài đặt phần mềm và thay đổi các thiết lập hệ thống. Những thay đổi này chỉ nên áp dụng trên máy tính của chính bạn. Nếu máy tính là máy của công ty, phải liên hệ với bộ phần IT trước khi có bất kỳ thay đổi nào.

Microsoft sẽ hỗ trợ XP bao lâu nữa?

Windows XP đã đạt được những thành công rực rỡ; công ty nghiên cứu về thị trường IDC đã ước lượng rằng Windows XP (Home và Pro) được cài đặt rộng rãi với khoảng 538 triệu bản copy tính đền cuối năm 2006. Miễn là các máy tính XP vẫn thực hiện tốt các chức năng thì người dùng vẫn khó có thể bỏ nó để chuyển sang mua hệ điều hành mới Vista cho máy tính của họ.

Các chính sách hỗ trợ của Microsoft cũng đã nghiên cứu về thực tế này. Chu trình phát triển phần mềm chuẩn của công ty cung cấp các bản vá lỗi, bản vá bảo mật (các công việc được biết đến như duy trì sự hỗ trợ) cho khoảng 5 năm sau khi phát hành, hỗ trợ chỉ các bản vá bảo mật (được biết đến như sự hỗ trợ mở rộng) cho 5 năm sau đó. Mặc dù Microsoft thường không cung cấp hỗ trợ mở rộng cho các sản phẩm người tiêu dùng của họ nhưng công ty này nói rằng XP Home và XP Pro sẽ vẫn nhận được các hỗ trợ quan trọng

Theo kế hoạch hỗ trợ của Microsoft gần đây cho thấy rằng hỗ trợ mở rộng cho Windows XP chấm dứt vào tháng 4 năm 2014, nhưng chỉ áp dụng cho Windows XP SP2.

Vậy ngày muộn nhất hỗ trợ cho XP SP2 sẽ là năm 2014, tuy nhiên lịch sử đã cho thấy rằng Microsoft thường kéo dài ngày hỗ trợ này. Ví dụ, sự hỗ trợ cho Windows 98 được đưa ra là năm 2004 nhưng Microsoft đã mở rộng nó đến tháng 7 năm 2006. Microsoft cũng đang xem xét khả năng đưa ra bản SP3 của XP vào nửa đầu năm 2008.

Đưa những cải thiện về bảo mật trong Vista vào XP

Với Windows Vista, Microsoft đã tập trung rất nhiều về vấn đề bảo mật, đưa vào nhiều phép đo bảo mật quan trọng trong hệ điều hành mới này. Tuy nhiên điều đó không có nghĩa rằng bạn nên nghi ngờ và chấp nhận sự bảo mật mức kém hơn của Xp, một số công cụ miễn phí hoặc có giá thành thấp cho XP vẫn cung cấp sự tin cậy cao tương đương với nhưng gì mà Vista đưa ra.

Antispyware

Windows Vista được bảo vệ tránh spyware bằng phần mềm Windows Defender của Microsoft – và một phần mềm giống như vậy miễn phí download cho XP cũng được cung cấp tại đây. Windows Defender hoàn toàn giống nhau trên XP và Vista, vì vậy bạn không cần phải suy nghĩ nhiều về việc phải chuyển sang Vista.

Sẽ là một ý tưởng tốt nếu có nhiều hơn một phần mềm chống spyware trên máy tính của bạn, dù cho bạn sử dụng Vista hay XP. Bạn hãy nhân đôi mức độ an toàn bằng cách thêm các phần mềm Ad-Aware của Lavasoft AB hoặc Spybot Search & Destroy vào hệ thống của bạn.

Mã hóa dựa trên phần cứng

Vista có tính năng mã hóa dựa trên phần cứng cho các laptop, thành phần này gọi là mã hóa BitLocker. Nó sử dụng một khóa dựa trên phần cứng và bảo vệ mật khẩu để nếu laptop của bạn bị đánh cắp thì không ai có thể xem được bất kỳ dữ liệu nào trong đó. Bạn có thể đưa các chức năng tương tự này cho XP qua PC Key ($70) của Kensington Computer Products Group. Bạn sử dụng một khóa USB đặt biệt và mật khẩu để bảo vệ ổ cứng; nếu ai đó có được laptop của bạn thì họ cũng sẽ không thể đọc được bất kỳ thứ gì.

Firewall

Còn đối với tường lửa thì tường lửa xây dựng cho Windows XP có một giới hạn lớn khi so sánh với Vista – không có bảo vệ luồng ra. Có một cuộc tranh luận lớn về tường lửa được xây dựng trong Windows Vista trong vấn đề bảo vệ luồng ra như thế nào nhưng nếu bạn muốn có một tường lửa đích thực thì vẫn có thể cấu hình bảo vệ luồng ra cho XP qua phần mềm Comodo Firewall Pro.


Comodo Group có được vị trí đứng đầu về các tường lửa trong việc bảo mật qua kiểm tra của Matousec và cho ra một sự cân bằng tốt giữa bảo mật và thuận thiện.

Parental controls

Windows Vista có các điều khiển cha cho phép bạn lọc các website và mặt khác giới hạn trẻ nhỏ khi sử dụng máy tính ở mức độ nào đó. Bạn có thể đưa công nghệ tương tự này vào XP, tuy nhiên sẽ phải trả phí cho nó. Có một số chương trình và dịch vụ về vấn đề này, nhưng có hai sản phầm tốt mà bạn có thể dùng đó là Safe Eyes của SafeBrowse.com giá $50 cho sử dụng trên 3 máy tính, phần mềm Child Safe của Webroot Software Inc với giá 40$ cũng sử dụng cho 3 máy tính.

Các tính năng bảo mật Vista mà bạn không thể đưa vào XP

Lưu ý rằng có một số tính năng bảo mật của Vista mà bạn không thể đưa chúng vào Windows XP như Protected Mode của Internet Explorer, thành phần bảo vệ hệ thống của bạn tránh khỏi malware xâm nhập thông qua trình duyệt. (Công nghệ GreenBorder đã sử dụng để cung cấp một môđun đính kèm chế độ bảo vệ cho cả Internet Explorer và Firefox, nhưng phần mềm này không có sẵn cho download. Công ty này đã bị Google mua vì vậy nó có thể một ngày gần đây nó sẽ xuất hiện lại trong một sản phẩm của Google).

Một tính năng khác mà bạn không thể tạo một bản sao trong XP đó là User Account Control, một giới hạn bảo mật không được ưu ái lắm dùng để tìm sự cho phép của người dùng trước khi thực hiện nhiều hành động như chạy một chương trình hoặc mở một hộp thoại. Nhiều người dùng Vista đã tắt tính năng này đi bởi sự khó chịu của nó.

Đưa các tiện ích khác của Vista vào XP

Bên cạnh vấn đề bảo mật, một trong các hấp dẫn chính của Vista là giao diện Aero mới của nó với tính năng cửa sổ trong suốt, hoạt ảnh eye-popping và các cách mới để điều hướng. Bạn không phải nâng cấp lên Vista để có các tính năng trên. Với việc sử dụng phần mềm miễn phí hoặc các phần mềm giá thành thấp, bạn có thể chuyển đổi máy tính XP của mình thành một máy tính gần giống như Vista.

Tuy nhiên bạn cần nhớ rằng, thêm vào các tính năng này có thể gây ra chậm máy tính, hiện tượng chậm này phụ thuộc vào cấu hình hệ thống của bạn.

Sidebar và các Gadget

Một trong những tính năng thuận tiện nhất của Vista là Sidebar và các Gadget, giúp hiển thị và sử dụng các thông tin trực tiếp từ Internet hoặc từ máy tính của bạn. Tuy nhiên có một số cách để đưa những tính năng này vào Windows XP mà bạn được miễn phí hoàn toàn.

Desktop Sidebar tạo cho XP một sidebar giống như của Vista, với một số lượng lớn các Wadget, gồm có đồng hồ, thời tiết, kiểm tra hiệu suất máy, kiểm tra mail, nghe nhạc,…


Hai sản phẩm tốt khác đến từ các công ty tìm kiếm nổi tiếng là Google Desktop Gadgets và Yahoo Widgets. Để sử dụng Yahoo Widget, bạn phải tải phần mềm về. Bạn sẽ thấy được nó gồm có rất nhiều Wadget khác nhau. Tuy nhiên không nên mắc kẹt với các thứ đó vì có hơn 4.000 widget có sẵn để bạn có thể chọn. Trong thực tế bạn sẽ có một lựa chọn lý tưởng hơn đối với các Yahoo Widget so với khi đang sử dụng widget của Vista Sidebar. Yahoo Widgets chạy trong ứng dụng giống như Sidebar nhưng cũng có thể được thay thế bất kỳ nơi nào trên màn hình Windows của bạn.

Các Desktop Gadget của Google yêu cầu bạn tải và sử dụng Google Desktop, nó có thể khó hiểu cho một số người bởi vì Google Desktop là một phần mềm lớn, nó phần lớn sử dụng cho việc tìm kiếm trên máy tính của bạn. Nó gồm có một bộ chỉ mục sống chạy liên tục, điều đó có thể làm chậm máy tính của bạn. Tuy nhiên nếu bạn đã là người dùng Google Desktop hoặc muốn một công cụ tìm kiếm tốt thì các Wadget là một phần thưởng lý tưởng. Chúng hoạt động như một sidebar có giao diện và hoạt động giống như sidebar của Windows Vista. Bạn có thể tìm được rất nhiều Widget gồm có bộ đọc Real Simple Syndication, bộ kiểm tra cổ phần, tạo danh sách, xem thời tiết,… tuy nhiên không nhiều như các Wadget của Yahoo.

Thay thế Windows Flip và Windows Flip 3D

Hai tính năng mới hữu dụng hơn trong Windows Vista là Windows Flip và Windows Flip 3D. Với chúng, khi bạn chuyển giữa các cửa sổ hoặc các ứng dụng bằng phím Alt-Tab (cho Windows Flip) hoặc phím cửa sổ Windows -Tab (cho Windows Flip 3D) thì bạn có thể thấy được một cửa sổ xem trước, điều đó làm cho bạn dễ dàng hơn để quyết định cửa sổ nào muốn chuyển đến. Như tên ngụ ý của nó, Windows Flip 3D hiển thị cho bạn các cửa sổ mở theo hình ảnh 3 chiều.

Bạn có thể đưa các tính năng tương tự này vào XP bằng cách sử dụng hai môđun phần mềm miễn phí của Microsoft, đó chính là Alt-Tab Replacement Power Toy, sự lựa chọn tốt nhất của bạn cho sự thay thế Windows Flip (không gian hai chiều).

Nếu muốn có không gian ba chiều thì bạn cần phải trả phí cho nó. Top Desk là một phần mềm của công ty Otaku Software có thể cho phép bạn thực hiện điều này trong không gian 3 chiều. Tuy nhiên bạn có thể dùng thử miễn phí 14 ngày. Nếu muốn sử dụng nó sau đó thì bạn có thể mua với giá thành khoảng 18$.

Cửa sổ trong suốt và các kiểu giao diện khác

Với nhiều người, tính năng thuận tiện nhất của giao diện Aero là các cửa sổ trong suốt của nó. Bạn có thể đưa điều tương tự này vào XP, với TweakWindow của AbsoluteWay. Trong thực tế TweakWindow còn có thể cho bạn các tính năng nhiều hơn trong Windows Vista. Bạn có thể chọn toàn bộ các cửa sổ - không chỉ các đường biên – trong suốt, mà bạn còn có sự chia điều khiển trên các mức trong suốt.

Còn có rất nhiều tính năng khác, như khả năng ẩn cửa sổ, điều khiển trong suốt trên một cửa sổ và thậm chí còn có tính năng “bóng ma” của cửa sổ.

Nếu bạn muốn thay thế toàn bộ desktop và giao diện thì bạn có thể tải và sử dụng WindowBlinds của Stardock Corp. Phần mềm này cho phép bạn tạo tất cả các kiểu thay đổi giao diện người dùng của XP, gồm có các cửa sổ trong suốt … Cài đặt chương trình và bạn có thể áp dụng một skin để tạo cho Windows Xp trông giống như Vista như Arrow skin, WindowBlinds có giá khoảng 20$.

Bạn có thể có được nhiều thứ miễn phí với Vista Transformation Pack của Softpedia. Nó có thể thay đổi nút Start, Control Panel, hộp thoại hệ thống… làm cho XP trông giống như Vista. Chương trình này không hoàn toàn giống với WindowBlinds, bạn có thể có được một số thứ với WindowBlinds nhưng lại không có được trong Vista Transformation Pack và ngược lại. Ví dụ, Vista Tranformation Pack sẽ không cho bạn các cửa sổ trong suốt hoặc applet Vista, nhưng bạn có thể sử dụng song song hai chương trình để có được các tính năng của chúng.
Bạn cần phải biết rằng việc cài đặt Vista Transformation Pack là không dành cho những người yếu tim. Bạn phải làm theo các hướng dẫn cài đặt một cách cực kỳ cẩn thận – chúng sẽ cần đến một chút thời gian của bạn. Và để được an toàn, chúng tôi gợi ý tạo một Restore Point trước khi bắt đầu bởi vì bạn sẽ có thể làm hỏng các file hệ thống của máy.

Khi cài đặt lần đầu tiên với Vista Transformation Pack, nó có thể trông chưa giống ngay với Vista. Để có được giao diện giống như Vista bạn cần phải kích chuột phải vào Desktop, chọn Properties --> Appearance, từ danh sách sổ xuống “Windows and buttons” bạn chọn Windows Aero.

pt1506
08-06-2008, 15:01
Kỹ thuật dùng phím Shift trong soạn thảo văn bản


Khi soạn thảo văn bản trong Word, đa số người dùng chỉ bấm phím Shift khi cần gõ chữ in hoa trong trường hợp không bấm phím Caps Lock. Thật ra, nếu khéo sử dụng phím Shift, bạn sẽ giảm được nhiều thời gian trong việc định dạng và xử lý văn bản.


Nếu bấm 2 phím Shift + F1 và bấm chuột phải lên chữ bất kỳ trên văn bản, bạn sẽ mở được khung cửa sổ Reveal Formatting chứa đầy đủ các tính năng xem hoặc sửa các định dạng về font, đoạn văn bản, canh lề văn bản, lề văn bản, kích thước trang soạn thảo… Khung cửa sổ này sẽ nằm dọc theo văn bản, do vậy khi không cần dùng đến, bạn có thể bấm nút Close (dấu X) để đóng nó, lấy lại vùng thông thoáng cho màn hình soạn thảo văn bản.

Khi cần chuyển đổi một chữ đầu từ thành chữ in hoa hoặc nguyên từ thành chữ in hoa hoặc thường, bạn bấm chuột để đặt con nháy soạn thảo văn bản vào trước từ cần thực hiện và bấm 2 phím Shift + F3 nhiều lần. Lần thứ nhất, chữ đầu tiên của từ sẽ chuyển sang chữ in hoa; lần thứ hai, cả từ chuyển thành chữ in hoa hoặc thường; lần thứ ba, cả từ trở về nguyên định dạng trước thực hiện. Tuy nhiên, nếu bạn soạn thảo bằng font Unicode (như Arial, Times New Roman…) thì việc chuyển đổi nguyên từ sang chữ in hoa hoặc thường sẽ không đúng. Thay vì làm cho từng từ một, bạn có thể quét chọn nguyên câu hoặc cả đoạn rồi bấm nhiều lần phím Shift + F3 để được định dạng cần dùng.

Đối với trường hợp chỉ cần chuyển đổi giữa chữ in hoa và chữ thường, bạn có thể bấm 3 phím Ctrl + Shift + A sau khi quét chọn đoạn văn bản cần thực hiện. Đặc biệt hơn, nếu bạn muốn đổi chữ thường sang chữ in hoa cỡ nhỏ, bạn bấm 3 phím Ctrl + Shift + K.

Ắt bạn đã biết cách bấm 2 phím Ctrl + ] (hoặc Ctrl + [ để giảm) để tăng nhanh kích thước font lên 1 pt mà không phải bấm chọn nhiều lần để được kích thước font phù hợp. Nếu muốn kích thước font tăng nhanh hơn, bạn bấm 3 phím Ctrl + Shift + > (hoặc Ctrl + Shift + < để giảm); sau mỗi lần bấm, kích thước font tăng lên 2 pt.

Khi cần tìm một từ trong văn bản, bạn bấm phím Shift + F4 (hoặc bấm Ctrl + F) rồi gõ từ cần tìm vào ô trống của cửa sổ hiện ra. Đối với trường hợp cần thay thế từ, bạn cũng bấm phím Shift + F4 rồi bấm thẻ Replace trong cửa sổ hiện ra rồi nhập từ cần tìm và từ thay thế vào 2 ô trống trong cửa sổ.

Khi chỉnh sửa văn bản, nếu lỡ bấm chuột sang vị trí khác làm dấu nháy soạn thảo di chuyển sang nơi khác, bạn thường mất thời gian để tìm lại vị trí đang chỉnh sửa. Lúc gặp phải trường hợp này, bạn hãy bấm 2 phím Shift + F5 nhiều lần để tìm thấy ba vị trí sau cùng của con nháy soạn thảo.

Nếu đang soạn thảo văn bản bằng tiếng Anh nhưng không nhớ chính xác từ vừa gõ, bạn hãy bấm chuột vào từ nghi ngờ và bấm 2 phím Shift + F7 và dò trong từ điển của cửa sổ hiện ra.

Để bôi đen (chọn) nguyên vùng văn bản nằm phía trên con nháy soạn thảo, bạn có thể bấm phím Shift + PageUp; tương tự, khi bấm Shift + PageDown, toàn bộ vùng văn bản dưới con nháy soạn thảo sẽ được chọn. Ngoài ra, bạn có thể bấm 2 phím Shift + Home để bôi đen các từ nằm trong khoảng đầu hàng đến vị trí con nháy soạn thảo đang đứng, hoặc bấm Shift + End để chọn các từ sau con nháy.

Cuối cùng, nếu muốn di chuyển cả đoạn văn bản sang vị trí khác, bạn bấm chuột vào vị trí bất kỳ trong đoạn cần thực hiện, bấm 3 phím Shift + A + mũi tên lên hoặc xuống. Trong thao tác này, nếu thay phím bấm mũi tên lên hoặc xuống bằng phím bấm mũi tên sang trái hoặc phải, Word áp dụng một số định dạng mẫu cho đoạn văn đang thực hiện.

pt1506
05-04-2009, 09:44
Chèn đường dẫn file vào tiêu đề đầu hoặc cuối trang trong Excel

Cách 1:
Mở Windows Explorer, tìm đến thư mục có chứa file cần chèn đường dẫn và chép đường dẫn này trong thanh Address. Mở file Excel cần chèn, vào menu File\ Page Setup, chọn thẻ Header/Footer, nhấn Custom Header (chèn vào tiêu đề đầu trang) hoặc Custom Footer (chèn vào tiêu đề cuối trang), dán dường dẫn vào.

Cách 2:
Mở file Excel cần chèn đường dẫn vào. Vào menu Tools\ Macro\ Visual Basic Editor (Alt+F11), cửa sổ Microsoft Visual Basic hiện ra. Trong cửa sổ nhỏ Project bên trái, nhấn kép vào ThisWorkbook. Ở cửa sổ bên phải, bạn nhập đoạn mã sau:
Private Sub Workbook_BeforePrint(Cancel As Boolean)
ActiveSheet.PageSetup.LeftFooter = ThisWorkbook.FullName
End Sub
Trong đoạn mã trên, thuộc tính LeftFooter (tiêu đề cuối bên trái) là vị trí để chèn đường dẫn. Bạn có thể thay đổi bằng các thuộc tính khác như RightFooter, CenterFooter, LeftHeader, CenterHeader, RightHeader.
Khi nhập xong đoạn mã trên, vào menu File\ Close and Return to Microsoft Excel để trở lại bảng tính Excel và lưu file. Và bây giờ bạn hãy in thử để xem kết quả thế nào nhé!



Định dạng các ô theo dạng bàn cờ trong Excel

Để định dạng được bảng tính giống hình 1 (dạng bàn cờ), bạn hãy làm theo các bước dưới đây.
- Nhấn Ctrl+A để chọn toàn bộ bảng tính.
- Vào menu Format\ Conditional Formatting. Hộp thoại Conditional Formatting xuất hiện.

- Tại vùng Condition1, chọn Formular Is.
- Nhập công thức: =AND(MOD(COLUMN(),2)=0, MOD(ROW(),2)<>0) vào vùng này.
- Nhấn nút Add.
- Tại vùng Condition2, chọn Formular Is.
- Nhập công thức: =AND(MOD(COLUMN(),2)<>0, MOD(ROW(),2)=0) vào vùng này.
- Nhấn nút Format ở hai điều kiện để định dạng cho các ô bảng tính. Ở đây tôi chọn màu nền là xanh da trời.
- Chọn OK hai lần.



Dùng Excel để tạo và quản lý Password


Hiện nay, có khá nhiều tiện ích giúp người dùng tạo và quản lý password. Chung quy lại, các tiện ích này cho bạn hai chức năng chủ yếu, đó là tạo một dãy ký tự ngẫu nhiên để làm password và lưu giữ các password dùng cho các tài khoản e-mail, forum, truy cập mạng, bảo vệ dữ liệu... Nếu chỉ có vậy, bạn có thể dùng Excel để tạo cho mình một công cụ tương tự nhưng dễ dùng và tiện lợi hơn.
Trước tiên, bạn tạo một bảng gồm ba cột: Thứ tự, URL và Password. Trong đó, cột URL có thể là địa chỉ Web, e-mail, thư mục hay một file. Bạn gõ đầy đủ đường dẫn vào đây hoặc chỉ cần một vài từ gợi nhớ cũng được, bởi vì sau đây, bạn sẽ tạo một siêu liên kết (Hyperlink) để kích hoạt chúng. Từ ô cần tạo H y p e r l i n k , nhấn Ctrl+K để xuất hiện hộp thoại Insert Hyperlink.
Với Office 97, gõ thẳng đường dẫn vào Link to file or URL hoặc nhấn Browse để lựa chọn. Với Office 2000, gõ đường dẫn vào Type the file or Web page name hoặc nhấn nút File hay Web Page rồi chọn. Với cột Password, định dạng dữ liệu là Text. Vì Excel không có cách thể hiện mặt nạ dữ liệu như Access để biến các ký tự thành những dấu hoa thị, nên để người ngoài không thấy được dãy ký tự làm password, bạn hãy chọn màu nền (Fill Color) và màu chữ (Font Color) giống nhau (nên là màu xám để biết chắc rằng ô này đã có dữ liệu).


Như vậy, từ đây bạn có thể vào thẳng một trang Web hoặc mở một file, copy password đã lưu, dán vào hộp nhập, vừa tiện lợi lại khỏi lo các trình gián điệp phát hiện password thông qua thao tác gõ phím của bạn.
Tiếp đến là công việc tạo password ngẫu nhiên bằng các công cụ của Excel. Bạn cũng dành ra ba cột (trong ví dụ này là cột G, H, I) để tạo công thức (nếu ít cột hơn thì công thức sẽ rất phức tạp, không ích gì). Cột đầu dùng công thức =RAND() để lấy ngẫu nhiên một số thập phân vô hạn nằm giữa 0 và 1. Cột 2 là công thức =ROUND(G2,2)*100+23 cho kết quả là một số nguyên từ 23 đến 122 (vì 122 là mã ASCII của ký tự z). Cột 3 =IF(OR(AND(H2>=65, H2<=90),AND(H2>=97,H2<=122 )),CHAR(H2),MOD(H2,10)) có công dụng là: nếu giá trị trong cột 2 nằm trong khoảng 65 đến 90, hoặc 97 đến 122 thì chuyển số này thành ký tự tương ứng theo bảng mã ASCII, bằng không, cứ lấy hàng đơn vị của giá trị đó.
Nếu muốn password có tám ký tự, bạn hãy sao chép công thức trên thành tám dòng. Đến đây, tại ô hiển thị password của chương trình do bạn viết, bạn dùng công thức nối tám ô của cột 3 thành chuỗi password (ví dụ =I2&I3&I4&I5&I6&I7&I8&I9). Sau đó, ẩn ba cột chứa công thức tạo password này đi bằng cách, chọn cả ba cột > nhấn chuột phải > chọn Hide. Mỗi khi muốn tạo một chuỗi password mới, hãy bấm phím F2 > Enter. Bạn nào rành macro thì tạo thêm một nút công cụ để lấy password cho có vẻ chuyên nghiệp một tí.