Trang 1/3 123 cuốicuối
kết quả từ 1 tới 10 trên 22

Ðề tài: Bài tổ tôm từ đâu mà ra?

  1. #1
    Phần tử dân tộc cực hữu's Avatar
    Phần tử dân tộc cực hữu vẫn chưa có mặt trong diễn đàn Chủ tịch Chandaly Sitphaxay fanclub Việt Nam Ngự sử đài Đô ngự sử
    Tham gia ngày
    17-09-2006
    Bài gởi
    7291
    Thanks
    1,996
    Thanked 2,936 Times in 1,507 Posts

    Default Bài tổ tôm từ đâu mà ra?

    Oử diễn đàn ta toàn thanh niên nên chắc ít người quan tâm đánh tổ tôm. Nhưng nếu chú ý thì ta thấy trong cỗ bài tổ tôm có nhiều thứ rất đáng băn khoăn. Đập ngay vào mắt là những hình vẽ kì lạ trên lá bài

    Vâng. Tất thảy ở đây đều là hình những người mặc trang phục thời Edo, hình quả đào, hình thành trì, hình thuyền đặc Nhật.
    Rõ ràng tổ tôm ko thể xuất xứ từ TQ, nhưng người Nhật cũng ko hề biết đến tổ tôm, ít nhất là họ cũng ko có thứ trò chơi tương tự.
    1 điểm đáng nữa là các hình người đều vẽ với trang phục thời Edo. Nhưng ta biết rằng thời Edo Nhật bế quan tỏa cảng, ko có mấy người Nhật ở hải ngoại nữa. Vậy làm thế nào những hình ảnh chính xác về trang phục Nhật thế này lại xuất hiện ở Việt Nam?
    Chú ý, dưới đây có hình vẽ 1 người mặc quần áo phương Tây thế kỷ 16-17
    Trần Thái Tông trước sự ngạo mạn của tên sứ Nguyên Trương Đình Trân, đòi vua quỳ lạy, bắt vua ngồi ngang hàng:"Thánh Thượng thương ta nhưng thằng sứ giả vô lễ. Mày là viên quan nhỏ, tao là tước vương, đòi lễ ngang nhau, từ cổ đến nay há có chuyện đó?", về việc cống tê voi: "đã xưng nước lớn sao còn đòi tê tượng?"

  2. The Following 5 Users Say Thank You to Phần tử dân tộc cực hữu For This Useful Post:

    Dr.Cid (25-12-2009),Komsomol (07-02-2010),MÃI MÃI (21-02-2010),ngngthao22 (09-07-2011),pvloc90 (22-02-2010)

  3. #2
    Dr.Cid's Avatar
    Dr.Cid vẫn chưa có mặt trong diễn đàn Tiến sĩ Luật - Bộ Trưởng Bộ Văn hóa Thông tin tương lai Thái Phó Kiêm Tri Ngự Sử Đài Sự Vụ
    Tham gia ngày
    10-07-2006
    Bài gởi
    4084
    Thanks
    705
    Thanked 701 Times in 298 Posts

    Default

    Ha ha, công nhận là 1 câu hỏi cực kỳ thú vị của Phần tử dân tộc cực hữu. Nhìn các ông, các bác, các anh đánh tổ tôm đã lâu mà mình cũng chả để ý đến chuyện này (Nhìn thôi chứ chịu chả biết đánh )
    Có nhiều cụ hay cực, chả biết đọc chữ trên đấy đâu mà chỉ nhìn hình là biết con nào vào với con nào, đánh vẫn thấy gom tiền ầm ầm

  4. #3
    Tham gia ngày
    09-02-2009
    Nơi Cư Ngụ
    Đại Dương
    Bài gởi
    3213
    Thanks
    73
    Thanked 2,846 Times in 1,066 Posts

    Default

    hình ảnh và giải thích về quân bài của tổ tôm:


    các thuật ngữ dùng trong môn này:




    Giữa năm 2002, tình cờ chúng tôi gặp một người Trung Quốc tên Vu Thục Quyên sinh trưởng ở Thiên Tân. Khi cho bà ấy xem bộ bài tổ tôm thì bà ấy nói rằng nhớ mang máng hồi nhỏ đã thấy trong phim ảnh Trung Quốc. Theo bà, có lẽ đây là bộ bài gốc từ miền nam Trung Quốc, thuộc các vùng như Phúc Kiến, Hồ Nam, Quảng Đông... Các trang phục của hình vẽ đó thuộc thời Đường là thời văn hóa thịnh đạt nhất, nhưng chính bà ấy lúc đầu cũng không đọc được các chữ Hán trên bộ bàị Cũng theo bà, nguyên thủy bộ bài làm bằng thẻ tre, sau này mới làm bằng giấy cho tiện. Chúng tôi đã tặng bà ấy một bộ và nhờ truy tầm thêm hô..

    Riêng tôi suy luận cũng thấy có lý phần nào, vì có thế thì người Hoa mới in bộ bài này và một số người chơị Nhật Bản là một nước bảo tồn văn hóa rất kỹ, mà đây là một bộ bài thì số người chơi phải khá đông, nên nếu gốc của Nhật thì dù có bị mai một, cũng không thể không để lại dấu vết nàọ

    Chúng tôi vẫn mang thắc mắc về nguồn gốc bộ bài, nên ngày 24/12/2003, nhân dịp gặp lại cô Vu Thục Quyên, tôi yêu cầu cô gọi điện trực tiếp qua hỏi công ty sản xuất bộ Bài Tô Tôm (chỉ ghi tên tiếng Việt rất lớn mà không có tên nào khác) ở Hồng Kông thì được biết gốc gác từ phía nam Trung Quốc và có tên tiếng Hoa là Vân Nam Bài.
    (Bí ẩn bộ bài tổ tôm
    Khởi tạo bởi : study | Đăng bởi : tinkinhte | Cập nhật: 10/05/2009 23:37)
    Hidden Content


    Amor patriae nostra lex
    Dulce et decorum est pro patria mori
    Dura lex, sed lex.

    Ex astris, Scientia
    Ex Imperiis, Veritas
    Ex Sciencia Tridens

    Nếu đấu tranh để cầu bình yên, ắt bình yên còn mãi. Còn lấy thỏa hiệp để cầu bình yên, ắt bình yên sẽ mất

  5. The Following 3 Users Say Thank You to SeaBoy For This Useful Post:

    Dr.Cid (25-12-2009),MÃI MÃI (21-02-2010),Phần tử dân tộc cực hữu (25-12-2009)

  6. #4
    Dr.Cid's Avatar
    Dr.Cid vẫn chưa có mặt trong diễn đàn Tiến sĩ Luật - Bộ Trưởng Bộ Văn hóa Thông tin tương lai Thái Phó Kiêm Tri Ngự Sử Đài Sự Vụ
    Tham gia ngày
    10-07-2006
    Bài gởi
    4084
    Thanks
    705
    Thanked 701 Times in 298 Posts

    Default

    1 chuyện mình thấy hay hay liên quan đến tổ tôm Có 1 cụm từ thông dụng xuất hiện từ bộ bài tổ tôm này là "cửu vạn": chỉ những người làm nghề bốc vác. Anh em nhìn cũng thấy con bài cửu vạn trong hình của seaboy chính là 1 người đàn ông đang vác đồ Còn nhớ hồi năm khoảng năm 86, 87 thì mọi người vẫn gọi việc vác đồ là làm nghề khuân vác (rất phổ biến ở chợ Long Biên - hồi đấy mình còn bé vẫn được người lớn dẫn đi theo), nhưng dần dần sau đấy là chuyển sang gọi là "cửu vạn" hết

  7. #5
    Tham gia ngày
    09-02-2009
    Nơi Cư Ngụ
    Đại Dương
    Bài gởi
    3213
    Thanks
    73
    Thanked 2,846 Times in 1,066 Posts

    Default

    Nguồn gốc bộ Bài Chòi


    Múa Hẩu ở chùa Bà, Bình Dương
    TTCT - Nghe vẻ nghe ve/ Nghe vè bài tới/ Cơm chưa kịp xới/ Trầu chưa kịp têm...

    Tao đánh ba đêm

    Thua ba tiền rưỡi

    Về nhà chồng chửi

    “Thằng Móc, thằng Quăn

    Đánh sao không ăn

    Mà thua lắm bấy?”

    Tui lấy tiền cấy cho đủ mười ngày

    Bảy Thưa, Bảy Dày

    Cũng là ngạt kéo

    Chị em khéo léo

    Dễ mượn dễ vay...

    (...)

    Ăn thì tui vùa

    Thua thì tui chịu

    Bài Tới và bài Chòi


    Bạch Tuyết - Thái Tử - Ông Ầm

    Các dị bản của bài vè Bài tới trên đây phổ biến từ Bình Trị Thiên cho đến Nam bộ. Điều này đã chỉ ra không gian lưu hành của trò chơi đánh Bài Tới. Một thực tế cũng đáng lưu ý là mặc dù Bài Tới phổ biến khắp Nam Trung như vậy, nhưng Bài Chòi lại không phổ biến ở Nam bộ.

    Điều này chỉ ra rằng Bài Chòi là trò chơi xuất hiện muộn mằn, bởi vì nếu Bài Chòi xuất hiện từ thế thế kỷ 17-18 thì nó đã theo chân lưu dân Thuận Quảng vào vùng đất phương Nam như Bài Tới, Hát Bội, Hát Sắc Bùa... Các sự kiện trên đã xác lập cái khung không gian - thời gian của Bài Chòi để làm cơ sở cho việc truy nguyên căn cội của bộ Bài Chòi - cũng là bộ bài dùng để chơi Bài Tới.


    Yêu

    Bài tới, theo định nghĩa của Huỳnh Tịnh Paulus Của trong Đại Nam quấc âm tự vị (1896, T. II, tr 455), là “thứ bài bắt cặp, ai bắt được đủ cặp trước thì gọi là tới, nghĩa là đến trước, rồi cũng được ăn tiền”. Chúng ta không có cứ liệu nào để xác định thời điểm ra đời của bài tới, nhưng trò chơi bài bạc này trong bối cảnh phong hóa cộng đồng cũng đã phát triển theo qui luật trình thức hóa và công cộng hóa để thành Bài Chòi.

    Từ cờ tướng với hai người chơi đã tích hợp nhiều yếu tố trình diễn biến thành trò chơi Cờ Bỏi, Cờ Người diễn ra ở sân đình chùa, những nơi sinh hoạt văn hóa lễ hội của cộng đồng nói chung. Đây là một ví dụ. Từ bài Tổ Tôm, bài Tam Cúc biến thành Tổ Tôm điếm là những ví dụ khác. Ở đây, bài tới đã tích hợp với ca nhạc, với chòi/điếm với rạp/sân khấu... để trở thành trò chơi Bài Chòi hấp dẫn. Bài Chòi phát triển mạnh đến mức lấn át danh tiếng và cách chơi khác nhiều so với Bài Tới, nhưng về bộ bài để chơi Bài Chòi lại là bộ Bài Tới - không đổi thay gì.

    Bài Tới - Bài Chòi - Tổ Tôm

    Bộ Bài Tới/ Bài Chòi có 60 con bài, chia làm ba pho (văn, vạn, sách), mỗi pho có chín cặp và ba cặp Yêu: Ông Ầm, Thái Tử, Bạch Tuyết. Tùy từng địa phương, các con bài được gọi khác nhau. Con bài làm bằng giấy bồi, hình chữ nhật (2x8,5cm), in một mặt (mộc bản) đồ án biểu trưng cho con bài và lưng phết màu đỏ sẫm.

    Do sự giống nhau của bộ Bài Chòi (từ đây hiểu là Bài Tới) và bộ bài Tổ Tôm ở chỗ cả hai loại bài đều chia làm ba pho Văn, Vạn, Sách và ba con bài Yêu nên không ít nhà nghiên cứu đã khẳng định mối quan hệ nguồn gốc của Bài Chòi với bài Tổ Tôm. Thật ra đồ hình của các con bài tương ứng giữa Bài Chòi và bài Tổ Tôm có nhiều khác biệt: bài Tổ Tôm vẽ đa số 26/30 là hình người Nhật Bản (đầu, mình, tứ chi, dụng cụ cầm tay, vác vai và thêm vào đó là hình tháp (con Ngũ Vạn), cá (con Bát Vạn), trái đào (con Nhị Vạn), thuyền buồm (con Ngũ Sách).

    Còn ở bộ Bài Chòi/Bài Tới thì đồ án trang trí mang tính trừu tượng và hình người trừu tượng, chủ yếu là bán thân hay mặt người (chiếm 11/30 con bài). Dù vết của con bài Tổ Tôm ở bộ Bài Chòi/Bài Tới là các biểu tượng và chữ Hán xác định số thứ tự của con bài.

    - Chữ Hán: từ chữ Nhất đến chữ Cửu trên chín con bài của pho Vạn; và các chữ ghi tên ba con bài Yêu: Ông Ầm, Thái Tử và Bạch Huê (Bạch Tuyết).

    - Biểu trưng có hai loại: 1/ Hình tròn nhỏ có chấm ở giữa (tạm gọi là “nút”, hiểu là nút chỉ số điểm của mặt súc sắc/cũng có thể hiểu là đồng tiền điếu) và hình tượng đồng tiền điếu (hoặc một đồng nguyên/tròn giữa vuông hay một nửa đồng tiền/bán nguyệt)

    - Biểu tượng “phức nghĩa”, đặc biệt là các đồ hình trên chín con bài của pho Sách là đối tượng được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm và theo đó có những biện giải khác nhau. Chẳng hạn như con bài Nọc đượng (có tên gọi khác: Nọc thược, Nhất nọc), được gán cho hình vẽ dương vật và cho rằng nó có nguồn gốc từ Linga của người Chăm. Theo đó, con bài Bạch Huê (Bạch Tuyết) lại được coi là âm vật, Yoni (Chăm).

    Thế là từ cặp Yoni - Linga ấy, một số nhà nghiên cứu cho rằng Bài Chòi có gốc gác chi đó với người Chăm, văn hóa Chăm! Thậm chí từ đồ hình tên con bài Ba Gà, người ta đẩy nó về với hình khắc trên trống đồng Đông Sơn... Các biện giải uyên bác quá mức này chủ yếu dựa vào sự diễn dịch chủ quan và sự đối chiếu có tính chất liên tưởng mông lung. Thật ra, cách gọi tên con bài của bộ Bài Chòi/Bài Tới của dân gian là phương “coi mặt, đặt tên” - tức dựa trên hình tướng đặc trưng nào đó của hình họa mà gọi tên. Và như vậy, trực quan là có thể phân biệt các con bài.

    Khi xưa, chưa có chữ quốc ngữ Latin, chữ Hán - Nôm cũng không phổ cập, người bình dân không phải ai cũng đọc được chữ Hán - Nôm in trên con bài, thì các biểu tượng “nút” và “đồng tiền điếu” có chức năng chỉ số (nhất đến cửu) cho các con bài pho Văn và pho Sách. Ví dụ: Chín gối (hình 9 nút), Hai tiền (hình 2 đồng tiền), Nọc đượng (1 nút), Nhì nghèo (2 nút), Ba gà (3 nút), Tứ gióng (4 nút)... Đó là các ký hiệu cơ bản để phân biệt các con bài của bộ Bài Chòi/Bài Tới.

    Còn đồ hình ở pho Sách là hình vẽ các chồng/xâu tiền điếu cộng với dải uốn cong như hình con rắn thật ra để chỉ rõ chúng thuộc pho Sách. Sách, chữ Hán có nghĩa là dây. Hình vẽ Sách/Dây này là một trong các bằng chứng tương đối rõ ràng nhất mối quan hệ giữa Bài Chòi/Bài Tới với Tổ Tôm. Người chơi Tổ Tôm bình dân không đọc được chữ Hán, ai cũng thuộc câu “Vạn vuông, văn chéo, sách lằng ngoằng”.

    Một bằng chứng khác là con bài Bạch Huê (Bạch Tuyết) của Bài Chòi/Bài Tới tương ứng với con bài Thang Thang của bài Tổ Tôm và tên gọi Bạch Huê (Bạch Tuyết) có lẽ bắt nguồn từ hình vẽ trên con Thang Thang là người phụ nữ cho con bú: để lộ “nhũ huê” trắng bóc! Nói cách khác, đặc điểm “gợi cảm” nhất của hình vẽ trên con Thang Thang đã được dân chơi bài... gọi một cách trắng trợn là Bạch Huê (Bạch Tuyết) không liên hệ gì đến cái Yoni thiêng liêng của người Chăm.

    Nói chung, tuy có một số điểm tương đồng giữa bộ Bài Chòi/ Bài Tới và bộ bài Tổ Tôm, song muốn tường tận hơn thì phải đối chiếu với các loại bài giấy (chỉ bài) khác, đặc biệt là các loại bài gốc từ Diệp tử mã điếu của Trung Quốc.

    Diệp tử mã điếu và toàn đối (Đông Quan bài)

    1. Hình thức cờ bạc phổ biến nhất ở Trung Quốc thời cổ là gieo súc sắc. Ngoài súc sắc, hình thức cờ bạc tương đối quan trọng khác là bài xương, ra đời vào niên hiệu Tuyên Hòa thời Bắc Tống. Bài xương (hoặc ngà) biến thái từ súc sắc, trên mặt mỗi con bài là do hai mặt súc sắc kết hợp lại thành các con bài có điểm (nút) lớn nhỏ khác nhau. Đó là cội nguồn của các hình nút (hình tròn nhỏ có chấm ở giữa) trên một số con bài của bộ Bài Chòi/Bài Tới đã nói ở phần trên.

    Ngoài bài xương/bài ngà, ở Trung Quốc còn phổ biến bài giấy. Thời cổ gọi là Diệp tử (xuất hiện từ thời Đường), đến đời Minh, Thanh trò chơi bài lá này đặc biệt thịnh hành. Diệp tử có hai loại: 1/ Diệp tử in theo điểm số của bài xương in ra, ở giữa in một số hình tượng nhân vật trong Hí khúc hoặc Thủy hử (đây là thứ phiên bản của bài xương, nhưng nhờ đổi từ xương sang giấy nên phổ biến rộng rãi hơn bài xương vì dễ chế tác, giá thành thấp); 2/ Loại thứ hai là loại bài Mã điếu diệp tử: làm bằng giấy, rộng 1 tấc, dài 3 tấc (tấc # 3cm) dùng nhiều lớp giấy bồi rồi in lên. Loại bài này có 40 lá, hoa sắc/hình họa chia làm bốn môn/pho:

    - Thập tự (chữ “Thập”) có 11 lá, trên mỗi lá vẽ hình nhân vật trong Thủy hử: Tống Giang (lá Tôn Vạn Vạn quan), Võ Tòng (lá Thiên Vạn), Nguyễn Tiểu Ngũ (Bách Vạn), Nguyễn Tiểu Thất (Cửu Thập), Chu Đồng (Bát Thập)... Hổ Tam Nương (Nhị Thập).

    - Vạn tự (chữ “Vạn”) có chín lá, trên mỗi lá cũng vẽ hình các nhân vật trong Thủy hử: Lôi Hoành (lá Tôn cửu vạn quan), Sách Siêu (Bát vạn), Tần Minh (Thất vạn), Sử Tiến (Lục vạn), Lý Tuấn (Ngũ vạn), Sài Tiến (Tứ vạn), Quan Thắng (Tam vạn), Hoa Vinh (Nhị vạn), Yến Thanh (Nhất vạn).

    - Sách tự (chữ “Sách”) có chín lá, trên mỗi lá vẽ quan tiền: Lá Tôn Cửu sách (vẽ 4 chồng, mỗi chồng 2 quan, một quan nằm riêng), lá Bát sách (vẽ 4 chồng, mỗi chồng 2 quan), lá Thất sách (vẽ 3 chồng mỗi chồng 2 quan, một quan nằm riêng), lá Lục sách (như 2 cây cầu trên bộ dưới nước), lá Ngũ sách (hình như quẻ Cấn), lá Tứ sách (hình như 2 vòng ngọc), lá Tam sách (hình như chữ “phẩm”), lá Nhị sách (hình như “quẻ Chấn”?), lá Nhất sách (hình như “cái chĩa”).

    - Văn tiền có 11 lá, phía trên vẽ các loại đồ hình: lá Tôn không một văn (vẽ hình “Ba tư tiến bảo”), lá Bán văn (hình hoa quả), lá Nhất tiền (hình như Thái cực), lá Nhị tiền (hình trống “yêu cổ”), lá Tam tiền (hình quẻ Càn), lá Tứ tiền (vẽ hình như vòng móc vào nhau), lá Ngũ tiền (vẽ hình Ngũ nhạc: 5 ngọn núi lớn), lá Lục tiền (vẽ hình như quẻ Khôn), lá Thất tiền (vẽ hình như chòm sao Bắc đẩu), lá Bát tiền (vẽ hình “Ngọc côi”), lá Cửu tiền (vẽ hình ba ngọn núi chồng lên nhau).

    Bài Mã điếu lưu hành từ niên hiệu Vạn Lịch thời Minh, đến đời nhà Thanh biến đổi thành bài Mặc Hòa, chỉ còn lại 3 môn/pho là Vạn tự, Sách tự và Văn tiền. Cách đánh bài: 4 người một sòng, mỗi người rút 10 lá bài, tổ hợp 3, 4 lá cùng pho làm một bộ (hiểu là ghép từ 3 lá trở lên của các con bài cùng một pho, giống như “phu dọc” trong chơi tổ tôm; hoặc giống như “sảnh” trong chơi xập xám hay phé/bài tây), hoặc tổ hợp giống như “phu bí” trong chơi tổ tôm, tức ghép 3 lá cùng số (nhất, nhị... cửu) thuộc cả 3 pho. Người tổ hợp đủ ba bộ/phu là thắng.

    Ngoài bài Mặc Hòa còn có các loại biến thể khác như Đấu Hổ, Chỉ Trương.

    - Đấu hổ: Dùng 30 lá bài của Mã Điếu, bỏ đi 9 lá thuộc pho Thập tự, chỉ lưu lại lá Thiên Vạn (hình Võ Tòng).

    - Chỉ trương là bài giấy mạt chược, hình thành từ cơ sở bài Mã Điếu, cũng bảo lưu 3 pho Vạn, Sách, Tiền nhưng đổi: Sách làm Điều, Tiền làm Bính; và cũng đổi tên một số lá bài.

    Những dữ liệu về loại bài Diệp tử mã điếu đã chỉ ra mối quan hệ của loại bài này với bài Tổ Tôm và Bài Chòi/Bài Tới, đặc biệt là các biến thể của Diệp tử mã điếu là các loại bài Mặc hòa, Đấu hổ, Chỉ trương có số lá con bài, cơ cấu ba môn/pho Văn, Vạn, Sách và đồ hình tương đồng về phần “lý” với bộ Bài Chòi/Bài Tới của xứ ta.

    2. Đông Quan bài, còn gọi là bài Toàn đối, vốn xuất xứ và phổ biến ở quận Đông Quan (Quảng Đông, Trung Quốc). Bộ bài này gồm 120 lá bài (30 quân bài x 4), cũng chia làm 3 pho văn, vạn, sách (mỗi pho 9 quân bài) và ba con bài lẻ/đặc biệt: Đại hồng, Tiểu hồng và Bát xuyến. Các quân bài thuộc ba pho đều mang số từ 1 đến 9. Hình họa pho văn và pho sách cũng dùng hình quan tiền và nút làm biểu tượng chỉ số điểm. Riêng pho vạn vẽ hình nhân vật, trên mỗi lá bài có ghi số điểm bằng chữ Hán (Nhất, Nhị, Tam... Cửu). Cách chơi bài Toàn Đối tuy có khác ở chỗ tích hợp “đối” (đôi) và “cạ” (cùng số khác pho), song đại thể rất giống cách chơi Bài Tới.

    Bài Tới/Bài Chòi

    Đông Quan bài

    Văn
    Vạn
    Sách



    Nhận xét và kết luận

    1. Về mặt đồ hình, mối quan hệ của Bài Chòi/Bài Tới với loại bài Diệp tử mã điếu và đặc biệt là bài Đông Quan (Toàn Đối) là rõ ràng hơn và trực tiếp hơn so với bài Tổ Tôm.

    - Biểu tượng nút (vòng tròn có chấm ở giữa) trên các con bài Chín Gối, Nọc đượng, Nhì nghèo, Ba gà, Tứ gióng, Năm dày, Sáu hột, Bảy sưa, Tám giây, Đỏ mỏ... vốn là ký hiệu số điểm của hột súc sắc.

    - Biểu tượng tiền điếu (nguyên đồng hay một nửa đồng tiền điếu) trên các con bài Trường hai, Trường ba, Tứ tượng (Voi/Dái voi), Ngũ rún, Sáu tiền, Bảy liễu (4 nửa đồng tiền + 2 nút + 1 vòng xoáy trôn ốc), Tám tiền, Chín cu (Xe/Chín gan: 6 nửa đồng tiền + 3 nút)... vốn là hình họa các quan tiền thấy trong pho “Sách tự” của Diệp tử mã điếu và bài Toàn Đối.

    - Các hình họa đa dạng với các hình ngang ngắn (giống cái xúc xích hay bó bánh tét...) tạo nên các hình tướng khác nhau của các con bài Nọc đượng, Nhì nghèo, Ba gà, Tứ gióng, Năm dày, Sáu hột, Bảy sưa, Tám giây, Đỏ mỏ... dường như vốn là hình vẽ những chồng/xâu tiền đồng mà ta thấy trên các con bài Tôn cửu sách, Bát sách, Thất sách của loại Diệp tử mã điếu đã nói trên hay cụ thể là pho sách của bài Toàn Đối.

    Cần nhắc lại rằng họa tiết uốn lượn như con rắn trên một số con bài (Nọc đượng, Nhì nghèo...) là để chỉ chúng thuộc pho Sách (Sách: dây lằng ngoằng và có thể là sợi dây để xâu tiền đồng). Do cách phối trí các chồng/xâu tiền và các nút, cộng thêm dây/rắn nên đồ án trang trí/gợi liên tưởng hình dáng của một vật (Nọc đượng), con vật (Ba gà), đồ vật (Tứ gióng) hay tính chất của hình họa (dày, thưa)...

    - Các con bài thuộc pho Vạn: 1/ Có chữ viết (Hán tự) chỉ tên con bài; 2/ Bán thân người; 3/ Đồ án trang trí (dưới cùng). Ở các con bài này, hình bán thân người hẳn bắt nguồn từ nhân vật Hí khúc hay nhân vật của truyện Thủy hử, thuộc pho Vạn tự của bài Diệp tử mã điếu và Toàn Đối nói trên. Đại thể, mặt người ở các con bài này (của Bài Chòi/Bài Tới) trong chừng mực nào đó là Mặt tuồng/Hát bội - loại hình “Hí khúc” chiếm vị trí thống trị một thời ở các tỉnh Trung bộ, nơi Bài Tới/Bài Chòi thịnh hành. Đặc trưng nhất là đôi mắt xếch rất tuồng và đặc trưng khu biệt là khăn, mũ đội đầu như Học trò (Nhất trò) đội khăn, Cửu chùa (thầy) đội mũ Tì lư...

    2/ Bài Diệp tử mã điếu (bốn pho) lưu hành thời Minh, đến thời Thanh biến đổi thành bài Mặc Hòa, Đấu hổ, Chỉ trương (3 pho) và Toàn Đối. Điều này cho phép đoán định niên đại ra đời của Bài Tới ở xứ ta sớm nhất là trong thời Thanh (giữa thế kỷ 17 về sau) và như đã nói, trong hành trang văn hóa của lưu dân Thuận Quảng vào khai phá vùng đất Nam bộ không thấy có Bài Chòi. Điều này cho phép đoán định thêm là Bài Chòi chỉ ra đời sớm nhất là cuối thế kỷ 18, tức sau khi kết thúc cuộc nội chiến giữa Tây Sơn và Nguyễn Ánh.

    3. Một vấn đề khác có liên quan là nguồn gốc hình họa của bộ bài Tổ Tôm. Vấn đề được đặt ra: tất cả những hình họa trên con bài Tổ Tôm đều là “đặc trưng Nhật Bản rõ rệt, nhất là tất cả các nhân vật đều mặc kimono (tước vật) thời Edo (Giang Hộ), trong số này có 18 đàn ông (có 8 người bó chân), 4 hình phụ nữ và 4 hình trẻ em.

    Các hình cá chép (koi, lý), trái đào (mono), thành (shiro), thuyền (fune) cũng là những hình ảnh Nhật” (5). Thế nhưng loại bài Tổ Tôm này “chỉ có người Việt chơi, người Nhật không chơi, người Hoa cũng không chơi (trừ một số ít Hoa kiều ở VN)” (6). Ý kiến trên có 2 câu hỏi: 1/ Nguồn gốc bộ bài Tổ Tôm và 2/ Nguồn gốc và hình họa của bộ bài này?

    Như đã trình bày, bài Tổ Tôm có gốc từ loại bài biến thể của Diệp tử mã điếu - xét ở cơ cấu, số lượng, tên gọi... Còn câu hỏi thứ hai, theo các cứ liệu lịch sử, chúng ta có thể giả định là các hình họa đó do một nghệ nhân/họa sĩ người Nhật sống ở Hội An thực hiện và in ấn bán ra thị trường Đàng Trong, dựa trên qui phạm của loại bài Mặc Hòa (hay Đấu hổ) vốn đã phổ biến trước đó. Giả thiết này được hỗ trợ bởi cứ liệu ngữ âm phương ngữ xứ Quảng: âm “am” được đọc thành “ôm”.
    Loại bài biến thể từ Diệp tử mã điếu vốn được gọi là Tụ Tam (hiểu theo nghĩa là luật chơi dựa vào sự tích hợp 3 con bài theo hàng ngang hay hàng dọc) được dân xứ Quảng gọi theo ngữ âm đặc trưng của mình thành “Tổ Tôm”. Chỉ có người Quảng mới có thể đọc “tam” thành “tôm”. Nói cách khác, bài Tổ Tôm phải chăng xuất hiện đầu tiên ở Quảng Nam, cụ thể là Hội An, theo “maquette” của nhà tạo mẫu người Nhật ở phố Nhật Bản Hội An thực hiện.

    HUỲNH NGỌC TRẢNG - NGUYỄN ĐẠI PHÚC
    Nguồn http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/In...2&ChannelID=10
    Hidden Content


    Amor patriae nostra lex
    Dulce et decorum est pro patria mori
    Dura lex, sed lex.

    Ex astris, Scientia
    Ex Imperiis, Veritas
    Ex Sciencia Tridens

    Nếu đấu tranh để cầu bình yên, ắt bình yên còn mãi. Còn lấy thỏa hiệp để cầu bình yên, ắt bình yên sẽ mất

  8. The Following 7 Users Say Thank You to SeaBoy For This Useful Post:

    Dr.Cid (25-12-2009),Komsomol (07-02-2010),MÃI MÃI (21-02-2010),Phần tử dân tộc cực hữu (25-12-2009),phithiengia (25-03-2010),Thiên Lang (22-02-2010),truong_minh553 (25-12-2009)

  9. #6
    Tham gia ngày
    25-09-2008
    Bài gởi
    1691
    Thanks
    266
    Thanked 1,715 Times in 695 Posts

    Default

    Từ khi hoc chơi Chắn, tớ chỉ học chữ chứ không thuộc hình nên chẳng mấy để ý. Học chữ rõ ràng có lợi hơn học hình vì phải học ít hơn mà

    Bài "nguồn gố bộ bài chòi" bác Seaboy đưa lên khá hay, nhưng tớ thấy suy luận không hợp lý cho lắm, nhất là không có thời gian cụ thể nào cả.

    Theo nhiều người thì đều cho rằng Bài Tổ tôm du nhập vào VN từ khá lâu. Một điểm đặc biệt là ngày xưa các cụ thích chơi Tổ tôm thì phải tìm đặt mua cho được bài của TQ in ấn vì nó đẹp, bóng và bền hơn. Cụ Nguyễn Công Trứ cũng là đệ tử của môn này!

    Lâu lắm rồi, tôi có đọc bài ký sự của cụ Hải Thượng Lãn Ông, khi về kinh đô Thăng Long theo lời triệu của Chúa Trịnh, cụ có đề cập đến chuyện vua quan ở kinh đô cứ chết mê chết mệt với cỗ bài Tổ Tôm . Hình như đây là khoảng thời gian cỗ bài Tổ Tôm du nhập vào VN, 1770-1780. Hình như con của tướng Nguyễn Văn Thành cũng đã bị các tướng lảnh thân cận với vua Gia Long vu cáo là muốn làm loạn khi cậu này làm thơ mời mấy người bạn đến đánh Tổ Tôm . Vua Gia Long đã nhân chuyện này mà thanh toán luôn tướng N.V.Thành, đúng như lời người xưa "hết chim bẻ ná". Rồi đến thời vua Tự Đức, hình như dân gian cũng than phiền là dù đất nước lâm nguy mất vào tay giặc Pháp, vua quan nhà Nguyễn vẫn mê đắm với mấy quân bài Tổ Tôm.
    Nếu bài trên đúng thì có nghĩa việc du nhập Tổ Tôm vào VN là khá sớm. Sở dĩ tớ cho rằng Tổ Tôm có nguồn gốc từ Tàu là vì:

    - Bài Tàu có rất nhiều loại và có lối chơi tương đồng với Tổ Tôm. Và ngay bản thân Tổ Tôm cũng chia ra nhiều loại chơi khác nhau như Tổ Tôm, Chắn Cạ, Tài Bàn, Bất... Nhưng hầu như chúng đều có điểm chung về lối chơi và cách chơi.

    - Ở VN cũng có nhiều bài lá có cách chơi khá gần gũi với Tổ Tôm như Tam cúc, Tứ sắc...

    - Nếu để ý thì cũng sẽ thấy Mạt chược cũng có cách chơi khá giống với Tổ Tôm. Cũng chia thứ tự từ 1 - 9, cũng có hàng Văn, Vạn, Sách Cũng có bộ 3 theo hàng dọc, hàng ngang, cũng có bộ đôi... tuy hình vẽ và cách tính điểm hơi khác.

    - Nói người TQ không biết chơi Tổ Tôm là không chính xác. Những người nào biết chơi Mạt chược thì khi chuyển sang Tổ Tôm sẽ rất nhanh và ngược lại vì cách suy nghĩ tính toán nước đi khá tương đồng.

    - Quân bài cổ thường được làm từ thẻ tre, xương. Đây là môn chơi dành cho giới thượng lưu, Và trên chất liệu này thì thật khó để khắc hình, họa tiết...

    Dựa vào mấy điểm trên, tớ cho rằng các môn bài lá có lối chơi gần giống nhau có thể xuất phát từ một môn nào đó từ xa xưa (có thể chưa có hình). Sau khi du nhập đến các địa phương khác nhau thì hình thành thêm các quy tắc khác nhau, cách chơi mở rộng thêm.... và sau này khi được in trên giấy thì mỗi nơi lại sử dụng họa tiết khác nhau và tên gọi cũng khác nhau theo từng địa phương.

    Nếu nó thực sự xuất hiện ở VN vào khoảng 1770 thì những hình in trên lá bài xuất hiện ở Hội An là có lý, khi thời đó người Nhật đã sang sinh sống ở Địa phương này. Và nó có thể giải thích tại sao hình Nhật, chữ Tàu và người Việt chơi.
    Hidden Content

    The American War Hidden Content
    Hidden Content

    Đạo của người Việt có lẽ là Văn minh hơn cả. Khỏi phải mất công chứng minh ông Chúa, ông Thánh nào đó có thật hay không? Có phải ông ta tạo ra mọi thứ, kể cả loài người không? Ông ta nói abc.. có đúng hay không?... Đạo của Người Việt thờ một vị Thần không cần phải chứng minh, đó là Cha - Mẹ.
    Hidden Content , Hidden Content

  10. The Following 3 Users Say Thank You to hungicp For This Useful Post:

    Dr.Cid (25-12-2009),Komsomol (07-02-2010),Phần tử dân tộc cực hữu (25-12-2009)

  11. #7
    Phần tử dân tộc cực hữu's Avatar
    Phần tử dân tộc cực hữu vẫn chưa có mặt trong diễn đàn Chủ tịch Chandaly Sitphaxay fanclub Việt Nam Ngự sử đài Đô ngự sử
    Tham gia ngày
    17-09-2006
    Bài gởi
    7291
    Thanks
    1,996
    Thanked 2,936 Times in 1,507 Posts

    Default

    Cảm ơn các bác.
    Ông cụ nhà em cũng chơi chắn nhưng em thì ko chơi nên cũng ko để ý. Em nhặt được cái này bên diễn đàn lý học Đông Phương. Bên ấy bàn rất ghê nhưng chủ yếu xoáy vào chứng minh là người Nhật có nguồn gốc từ ...Văn Lang. Nhận thấy ko tìm được câu trả lời thỏa đáng ở đấy nên em đã đi hỏi loanh quanh ở nhiều diễn đàn rồi.
    Các bác có thể giải thích cho em nội dung hình ảnh trên quân bài ko? Tức là tại sao người ta lại vẽ quả đào mà đề "nhị vạn"? Em thấy chẳng liên quan gì cả.
    Trần Thái Tông trước sự ngạo mạn của tên sứ Nguyên Trương Đình Trân, đòi vua quỳ lạy, bắt vua ngồi ngang hàng:"Thánh Thượng thương ta nhưng thằng sứ giả vô lễ. Mày là viên quan nhỏ, tao là tước vương, đòi lễ ngang nhau, từ cổ đến nay há có chuyện đó?", về việc cống tê voi: "đã xưng nước lớn sao còn đòi tê tượng?"

  12. #8
    Tham gia ngày
    25-09-2008
    Bài gởi
    1691
    Thanks
    266
    Thanked 1,715 Times in 695 Posts

    Default

    Hi hi, chứng minh người Nhật có nguồn gốc từ Văn Lang cơ à! Cái này chắc là khó rồi!

    Để đi đến Nhật và Hàn thì chỉ có con đường đi qua TQ. Theo các nhà Khoa học thì ngày xưa, Nhật Hàn và TQ khá gần nhau, có thể lội bộ qua, được nối liền bởi những cây cầu nhỏ. Sau này, nước biển dâng và sự trượt của bề mặt trái đất nên mới tách rời nhau ra.

    Theo Nhật Bản thì nước này có người dân sinh sống từ 15.000 năm TCN, biết làm đồ gốm và trồng lúa từ 13.000 năm TCN. Cái này có thể không chính xác, nhưng người ta đồng ý rằng có người sinh sống ở đây từ khoảng hơn 5000 năm TCN. Vậy chứ Văn Lang của ta có từ thời nào vậy?
    ------

    Về hình vẽ trên con bài Tổ Tôm thì thật khó để biết bởi đến nguồn gốc còn không biết thì làm sao có thể trả lời. Tớ thì tớ cho rằng nó chỉ là hình trang trí chứ chắc không có ý nghĩa.

    Hay ý nghĩa là cái này:

    CUỘC ĐỜI NHỮNG QUÂN BÀI TỔ TÔM

    Những quân bài xuất xứ từ đâu?
    Câu hỏi bâng quơ bồi hồi xúc động
    Nó dai dẳng bám vào đời sống
    Từ đời này nối tiếp đời sau

    Cuộc đỏ đen hằn trong trí rất sâu
    Ta nhớ chúng quen từng nét mặt
    Chờ một quân ngóng mòn con mắt
    Còn hơn mong đợi vợ con mình

    Những quân bài đi qua như thể vô tình
    Anh Cửu Vạn cả một đời vất vả
    Chị Bát Sách ngồi lê nhàn nhạ
    Thằng Chi Chi khệnh khạng theo hầu

    Ù, có lèo—thong thả từng câu
    Giữa cửa chì không sợ ai tranh mất
    Ù một ván cũng là chật vật
    Đến ván sau đợi mãi không ù

    Mười chín quân đen—bạch định cố chờ
    Đến giữa cửa lại là quân Cửu Sách
    Anh vác đèn thờ ơ đáng trách
    Sang nhà bên làm một ván ù suông

    Cô Ngũ Văn chắc còn bận yêu đương
    Đến chậm trễ mất ván bài bạch định
    Tên Tam Vạn xun xoe xu nịnh
    Đi với thằng Tam Sách, Thất Văn

    Sống trong đây cũng dễ làm ăn
    Hãy cảnh giác có tên phản bội
    Chị Tứ Sách phân vân chờ đợi
    Đến cửa ai để bạch thủ, chiếu ù

    Đời vẫn xoay quanh như chiếc đèn cù
    Đốt thời gian đỏ, đen trong chốc lát
    Cô Nhất Văn suốt ngày ca hát
    Làm khổ chồng—anh Tứ Vạn kéo xe

    Muốn vươn lên—cơm áo cứ nặng đè
    Sống lam lũ mà vẫn hoàn túng thiếu
    Không gặp may ta đành cam chịu
    Đời như anh Cửu Vạn khổ triền miên

    Lấy chị Thang Thang có một đứa con riêng
    Chị không dám nhìn lên, đầu cúi xuống
    Nỗi buồn chán đi vào tâm tưởng
    Âm thầm không một chút van xin

    Trên Thiên Đình nếu người có phép tiên
    Cũng bất lực cảnh trần gian hội tụ
    Họ không sống cuộc đời ủ rũ
    Vui với nhau trong một ván bài chơi

    Vui với nhau để phút chốc quên đời
    Họ không biết tiến thân ba tấc lưỡi
    Họ không sống cuộc đời luồn cúi
    “Báo cáo anh”—quỳ gối khom lưng

    Có một quân bài bưng lễ biếu dâng
    Mụ Tứ Văn chính là quân đút lót
    Mụ sống bất lương—chuyên nghề luồn lọt
    Ở nhà lầu Ngũ Vạn giầu sang

    Lừa gạt chàng Nhị Sách lang thang
    Chàng chống gậy đi cầu may hạnh phúc
    Đời nhân từ có điều gì oan ức
    Ông già làng xách gậy đi đâu?

    Vào nhà ai tìm ba cụ bạc đầu
    Kính tứ cố làm ván bài kết thúc
    Chưa hết buồn đau—còn nhiều uẩn khúc
    Còn nhiều tên giấu mặt lọc lừa

    Hiện hình lên con Thất Sách trơ trơ
    Nửa giấu mặt, nửa cười nham hiểm
    Cứ để nguyên hình không cần trang điểm
    Những quân bài hiện rõ hình thù

    Buổi sáng nào trời, đất âm u
    Anh Lục Vạn vác mai đi đào huyệt
    Cuộc sống của anh nhờ vào người chết
    Ngửa mặt cầu xin Thượng Đế động lòng

    Đời giầu sang mà vẫn trắng tay không
    Chỉ dám “nhờ xa” chưa hạ bài trắng chiếu
    Là số phận ngậm ngùi cam chịu
    Cùng vùi vào đen đỏ rủi may thôi

    Số phận những quân bài giống hệt cuộc đời
    Cuộc đời ăn may tạm thời chấp nhận
    Hãy kiên nhẫn để chờ ngày kết luận
    Đời công minh trong cuộc sống nhân từ

    Đốt đèn lên—chàng Cửu Sách vô tư
    Ta vào hội với tình yêu ưu ái
    Ta vào hội cho đời trẻ lại
    Quên sầu đau trong một nỗi buồn riêng

    Mời bạn bè. Tất cả anh em
    Cùng kết thúc Ván-Bài-Đời-Cay-Đắng

    (rfviet.com)
    Hidden Content

    The American War Hidden Content
    Hidden Content

    Đạo của người Việt có lẽ là Văn minh hơn cả. Khỏi phải mất công chứng minh ông Chúa, ông Thánh nào đó có thật hay không? Có phải ông ta tạo ra mọi thứ, kể cả loài người không? Ông ta nói abc.. có đúng hay không?... Đạo của Người Việt thờ một vị Thần không cần phải chứng minh, đó là Cha - Mẹ.
    Hidden Content , Hidden Content

  13. The Following User Says Thank You to hungicp For This Useful Post:

    MÃI MÃI (21-02-2010)

  14. #9
    Tham gia ngày
    16-11-2008
    Nơi Cư Ngụ
    BỤI ĐỜI
    Bài gởi
    3212
    Thanks
    666
    Thanked 1,393 Times in 682 Posts

    Default

    oài môn tổ tôm , chắn kạ mình đều biết chơi

    tuy nhiên còn 2 vấn đề nữa liên quan đến bộ bài tổ tôm trong phong tục cất nóc nhà và khâm niệm người chết .

    Tôi được biết tận mắt là khi cất nóc nhà thì gia chủ mời nhưng người đức cao , lớn tuổi đến chơi bài và khi nào có người ù được ván bài tám đỏ thì chính thức ván bài của người đó được đóng lên cột , kèo , đầu hồi của cái nóc nhà và chỉ khi ù được tám đỏ thì mới ngả cỗ ( ăn cỗ ) theo quan niệm của người già mà tôi hỏi thì mỗi cây bài đều tượng trưng cho 1 nghề nghiệp , tài sản,cây cỏ nên nếu ù được ván bài tám đỏ toàn bộ các cây bài được đóng lên lóc nhà thì có ngụ ý là con cháu về sau sẽ phát hồng ( tám đỏ ) và có tất cả các công việc, tài sản như trên bộ bài ù được đóng lên nóc nhà .

    Còn khâm niệm người chết thì người ta rải bộ bài vào trong quan tài nhưng bỏ ra hàng yêu ( yêu nghiệt , yêu quái ) và cây bát sách ( bát gàn ) ý nghĩa là người chết sẽ được đầu thai ứng với nhưng cây bài trg quan tài như nhà cửa , thuyền bè , xe cộ , hoa quả ...và những nghề nghiệp liên quan đến cây bài ví dụ như cửu vạn thì làm người khuân vác , tam sách thì câu cá , tứ sách thì làm gái bưng bê hầu hạ người khác ...

    Anh em muốn học cách chơi thì tôi có thể hướng dẫn mọi người
    Cố Nhân Lần Lượt Điêu Linh
    Lá Rơi Trong Gió Bụi Đường Tả Tơi

  15. The Following 4 Users Say Thank You to BaZai For This Useful Post:

    Dr.Cid (25-12-2009),Komsomol (07-02-2010),MÃI MÃI (21-02-2010),Phần tử dân tộc cực hữu (25-12-2009)

  16. #10
    Phần tử dân tộc cực hữu's Avatar
    Phần tử dân tộc cực hữu vẫn chưa có mặt trong diễn đàn Chủ tịch Chandaly Sitphaxay fanclub Việt Nam Ngự sử đài Đô ngự sử
    Tham gia ngày
    17-09-2006
    Bài gởi
    7291
    Thanks
    1,996
    Thanked 2,936 Times in 1,507 Posts

    Default

    Anh em muốn học cách chơi thì tôi có thể hướng dẫn mọi người
    Hay hay, đàn ông phải biết tổ tôm. Đề nghị bác Bazai mở khóa luyện tổ tôm.
    Trần Thái Tông trước sự ngạo mạn của tên sứ Nguyên Trương Đình Trân, đòi vua quỳ lạy, bắt vua ngồi ngang hàng:"Thánh Thượng thương ta nhưng thằng sứ giả vô lễ. Mày là viên quan nhỏ, tao là tước vương, đòi lễ ngang nhau, từ cổ đến nay há có chuyện đó?", về việc cống tê voi: "đã xưng nước lớn sao còn đòi tê tượng?"

Trang 1/3 123 cuốicuối

Bookmarks

Quyền Sử Dụng Ở Diễn Ðàn

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •