kết quả từ 1 tới 6 trên 6

Ðề tài: Sơ lược về một số phái võ trên Thế Giới

  1. #1
    Tham gia ngày
    12-07-2010
    Nơi Cư Ngụ
    Thăng long
    Bài gởi
    761
    Thanks
    974
    Thanked 443 Times in 228 Posts

    Default Sơ lược về một số phái võ trên Thế Giới

    Đây là một lốc sưu tầm của anh bạn mê võ ở trường em,được biên soan lại từ nhiều nguồn khác nhau,người bạn này cũng là dân chuyên sử nên rất muốn có một chút gì đó cho diễn đàn nên đã nhờ em post hộ.
    .................................................. .................................................. ....................

    Nói về võ nhiều mà có khi có bạn chả hiểu võ thuật là gì,vậy xin giới thiệu lại

    Võ thuật là kỹ thuật hay phương thức dùng sức mạnh (nội lực, ngoại lực) để chiến thắng đối phương. Với tư cách là một nghệ thuật vận động sản sinh ra trong đấu tranh giữa con người với thiên nhiên (các loài thú dữ), con người với kẻ thù bên ngoài (địch thủ), và con người với kẻ thù bên trong chính bản thân anh ta (bệnh tật), võ thuật hướng đến mục tiêu đem lại cho con người sự chiến thắng trong các cuộc chiến, rèn luyện sức khỏe, và phục vụ một số nhu cầu cần thiết tùy thuộc vào từng bộ môn.

    Trải theo thời gian, võ thuật hiện đại không còn nhấn mạnh vai trò chiến đấu và chiến thắng bằng mọi giá như trước, mà đã chú trọng hơn nhiều đến các mục tiêu khác như để rèn luyện sức khỏe, thực thi quyền tự vệ chính đáng khi hữu dụng. Một số môn phái được đưa ra thi đấu như những môn thể thao biểu diễn hoặc đối kháng với những điều luật khắt khe nghiêm cấm sử dụng các đòn đánh hiểm, độc.

    Những khái niệm gần gũi

    Tuy có thể đồng nhất "Võ" và "Võ thuật", nhưng thực ra hai khái niệm ít nhiều vẫn có ranh giới. "Võ", nói chung, chỉ lối đánh nhau bằng tay không hay binh khí, và đôi khi, nhằm chỉ một bộ môn đối lập với "văn"; còn "võ thuật" lại thiên về nghệ thuật vận động hơn. Theo đó võ thuật đề cao phương pháp, cách thức, sự khéo léo, kỹ thuật, nghĩa là sự phát huy toàn diện sức mạnh của con người để chiến thắng mọi địch thủ mà không chỉ là những đối thủ trực diện trên sàn đấu. Bên cạnh các thuật ngữ trên còn có thuật ngữ "Võ nghệ", vừa có nội hàm rất gần với thuật ngữ võ thuật, vừa mang ý nghĩa nghề nghiệp, khẳng định võ cũng là một nghề trong xã hội, nghề võ. Cũng không thể không nhắc đến một khái niệm thường được các võ đường và các võ sư đề cao, thuật ngữ "Võ đạo", nhấn mạnh tính nhân văn, văn hóa trong võ thuật, khẳng định tột đỉnh của võ là văn, đằng sau võ học là cội nguồn triết học, hạt nhân đạo đức và chiều sâu tôn giáo, đồng thời đưa sự khốc liệt có tính bản chất của võ, một công cụ để tàn sát, xuống hàng thứ yếu.

    Trong đời sống xã hội còn tồn tại khái niệm võ học, đối lập với khái niệm võ biền. Võ học là khái niệm được dùng rất hạn chế trong đời sống võ thuật tại Việt Nam hiện nay. Võ học chưa được xem là một ngành học chính thống trong ngành giáo dục & đào tạo. Võ học là sự nghiên cứu, phân tích, hệ thống hóa... tất cả mọi mặt của đời sống võ thuật dưới ánh sáng của các chuyên ngành khoa học (tự nhiên & xã hội) khác như vật lý học, giải phẫu học, sinh lý, sinh hóa, sinh cơ, tâm lý học, y học TDTT.... Hầu hết các bài viết hoặc sách, báo về võ thuật hiện nay tại Việt Nam của các võ sư hoặc HLV danh tiếng đều ít khi đề cập đến thành tựu nghiên cứu của lĩnh vực này. Do đó, đời sống võ thuật Việt Nam còn khá xa lạ với các thuật ngữ, khái niệm hoặc công trình nghiên cứu của các nhà khoa học về võ thuật (có lẽ có nguyên nhân sâu xa từ trình độ nhận thức, lý luận & nguyên cứu của giới võ thuật hiện nay). Những người học võ thuật có suy nghĩ :TỰ VỆ cho bản thân mình , những vị võ sư nổi tiếng cũng có thể sử dụng môn võ mà mình được học vào lãnh vực kinh doanh : Điện ảnh , dạy học

    Các môn công phu

    Hệ thống công phu võ thuật hợp thành "tứ đại công phu", gồm Nội công, Ngoại công, Nhuyễn công và Ngạnh công, trong đó Nhuyễn Ngạnh công phu tuy có khi được xếp vào hệ thống Ngoại công, nhưng vẫn thường thấy sự khu biệt của nó do những điểm đặc thù:

    Nội công
    Là những phương thức luyện tập bằng cách sự tập trung tối đa tâm ý khí lực theo những phương thức đặc biệt nhằm phát huy các năng lực bí ẩn của con người, khi luyện thành thì có thể dùng tĩnh chế động. Nội công bao gồm các phương thức luyện tập:

    Luyện tập tĩnh: Là phương pháp luyện tập bằng cách các hành giả ngồi yên lặng trong không khí tĩnh mịch và thả lỏng thể xác cũng như tâm hồn để luyện tập, như Nội công thiếu lâm tự
    Luyện tập động: Là phương pháp các hành giả chuyển động theo các bài tập nhằm tập trung tinh thần để luyện ý, như Bát đoạn cẩm Thiếu lâm.

    Ngoại công
    Là các công phu luyện ngoại lực, có thể bao gồm trong nó cả Nhuyễn công và Ngạnh công, với các phương thức luyện tập các chiêu thức tấn công linh hoạt, mạnh mẽ và từng phần cơ thể để phòng thủ hữu hiệu. Khi luyện đại thành thì sức lực di hành khắp chân thân không bị ngăn trở, do đó muốn vận dụng đến sức thì sức có ngay, thân thể cương cường, da thịt gân xương đều cứng chắc, đến đao kiếm cũng khó bề gây thương tích. Ngoại công bao gồm các phương thức tu luyện:

    Luyện tập hình: Là luyện tập các kỹ năng có hình dáng cụ thể, như Bát quái Quyền.
    Luyện tập ý: Là luyện sao cho đúng ý của các bài luyện, ví dụ như Triệt quyền đạo, Thái cực Quyền.
    Luyện tập pháp thể: Là luyện thể lực và thể hình, như Đấu vật, Su mô.

    Nhuyễn công
    Là các công phu chuyên luyện lực âm, nhu lực, âm công, khi luyện đại thành thì bề ngoài cơ thể không có biểu hiện gì của người biết võ (như tay chân không sần sùi, cơ thể không cường tráng), nhưng lực đánh ra rất nguy hiểm (nên nhiều khi được gọi là độc thủ). Tương truyền, một số công phu như Nhất chỉ thiền công (luyện phóng một ngón tay), Quan âm chưởng (luyện cạnh tay), Tỉnh quyền công (luyện quyền bằng cách đấm tay xuống giếng) có thể đả thương người từ xa, Nhu cốt công luyện khớp xương toàn thân mềm dẻo v..v..v

    Tương truyền ở Nhật Bản từ xa xưa lưu truyền một môn võ thuật có tên là Bí thuật Nhu công. Người luyện tập nhìn bề ngoài có vẻ rất yếu đuối nhưng khi ra tay thì vô cùng tàn độc, nhất là những đòn đánh Cầm nã thủ lấy mạng người dễ dàng vô cùng. Các chiêu thức tung ra gần như chỉ để có một mục đích là lấy mạng đối phương mà thôi.

    Vào đệ nhị thế chiến, môn võ thuật này nghe nói được phổ biến cho các chiến sĩ trong những lực lượng cảm tử và sát thủ, nhưng sau này bị cấm và mất đi tông tích bởi vì quá độc ác mà cho tới nay chưa ai rõ lý do thất truyền, chỉ biết rằng một kẻ luyện tập môn võ này dù có thân thể bệnh hoạn yếu ớt, một khi đã dốc lòng luyện tập đều có thể trở thành cỗ máy giết người.

    Ngạnh công
    Là các công phu chuyên luyện sức mạnh dương cương, dương lực, dương công, như Thiết sa chưởng (chưởng tay sắt), Thiết tảo trửu (chân quét), Thiết tất cái (đầu gối).Trong đó phải kể tới các môn công phu của Thiếu Lâm rất đặc sắc như : Thập tam thái bảo (thân thể cứng),Thiết bố sam (thân cứng như sắt),Đồng tử công (cũng luyện thân thể)... Khi luyện đại thành thì tay chân người tập chai sần, cứng như sắt, cơ thể tráng kiện, cơ bắp cuồn cuộn. Sức mạnh đòn đánh có được khi đòn tiếp xúc với cơ thể đối phương với uy lực khủng khiếp

    Đỉnh cao võ thuật

    Suy cho cùng, cách chia các môn công phu của Võ thuật ra làm nhiều dạng (nội công và ngoại công), với nhiều môn (long, báo, xà, hạc, hổ, hầu, quy, ưng,...), hoặc phân chia ra các trường phái (Thiếu lâm, Võ đang, Côn Luân,...) cũng chỉ là đứng trên cái nhìn khác nhau. Có người chia võ thuật ra làm Võ lâm chánh tông, và Bàng môn tà đạo. Sự khác nhau, âu cũng chỉ là ở hành vi của người dụng võ. Vì mục đích cao cả, võ thuật được sử dụng thì đó là võ công chánh tông. Ngược lại, vì mục đích cá nhân, tư lợi, hành vi bỉ ôi, mà võ thuật được sử dụng thì đó là bàng môn tà đạo. Ranh giới thật là mong manh. Nhiều người suốt đời nghiên cứu võ thuật, những mong tìm được bí kíp võ thuật, những công phu đã thất truyền (kể cả những cách luyện kỳ lạ, dị thường) để đạt đến cái gọi là đỉnh cao võ thuật. Vậy đỉnh cao của võ thuật là ở đâu? Bất kỳ một môn công phu võ học nào, miễn sao có thể sử dụng để chiến thắng địch thủ thì có thể sử dụng. Nhưng đó chỉ là chiến thắng về mặt hình thức mà thôi. Chiến thắng thật sự sẽ nằm trên 2 phương diện: hình thức bên ngoài, và nhân tâm bên trong. Đó là đỉnh cao của giới võ thuật vậy

    Võ thuật và các bộ môn hỗ trợ

    Hô hấp
    Trong võ thuật, hô hấp được chia làm hai loại chính là Nội hô hấp và ngoại hô hấp.

    Các phương pháp hô hấp này có trong võ thuật là do Bồ Đề Đạt Ma và các môn đồ Thiếu Lâm, các môn đồ các phái võ Trung Hoa hấp thu từ các phương pháp luyện thở của Yoga và Phép đạo dẫn (luyện thở, luyện hô hấp) của các trường phái Đạo gia để vận dụng chúng huy động nguồn sức mạnh của thân xác và tâm trí đạt hiệu quả cao khi luyện võ công.

    Nội hô hấp
    Đây là hoạt động của chân khí, là sự tiếp thu dưỡng khí, các chất bổ đưa đến từng tế bào và biến chuyển các dạng năng lượng. Hoạt động này bắt đầu từ lúc cơ thể con người chỉ là thai nhi. Nội hô hấp theo thời gian sẽ dần thoái hóa nhường chỗ cho ngoại hô hấp tiến triển.

    Ngoại hô hấp
    Thể hiện cho hoạt động hô hấp bằng mũi, bắt đầu xuất hiện khi chúng ta ra khỏi bụng mẹ. Ngoại hô hấp dần dần phát triển mạnh mẽ để nuôi dưỡng và cung cấp dưỡng khí cho cơ thể.

    Khí
    Khí động học
    Dựa trên các quy luật tự nhiên để chuyển động, nguyên tắc chủ yếu là thuận theo quy luật tự nhiên, mọi thứ đều khép kín tuần hoàn lưu chuyển như dòng nước.
    Sử dụng và thể hiện nỗ lực lưu thông khí của cơ thể (như những tiếng hét) để tạo sức mạnh nén khí và giải tỏa khí.
    Khí vũ trụ
    Con người sống trong vũ trụ sinh hoạt và chuyển động đều có tương quan đến vũ trụ, nếu thuận theo vũ trụ và khí từ vũ trụ thì sẽ lớn mạnh, còn ngược lại sẽ bị hủy hoại. Võ thuật lợi dụng đặc tính này để tạo ra các hình thức luyện tập nhằm nâng cao thể trạng như nội công, khí công, hấp pháp v.v.

    Triết học phương Đông với võ thuật

    Võ thuật là một bộ môn văn hóa đặc trưng gắn liền với triết học. Các võ sư đã đúc kết bằng câu nói nổi tiếng: "đằng sau võ học là triết học". Các bộ môn võ học phương Đông đều dựa trên nền tảng các nguyên lý triết học:

    Âm dương
    Âm dương là hai mặt quan hệ đối lập nhưng hỗ trợ nhau, võ thuật lấy bản thân người tấn công và người phòng thủ làm hai mặt này. Để đạt đến mục đích công phá cao nhất thì phải đẩy một mặt đặc tính lên cao nhằm lấn át mặt còn lại.

    Ngũ hành
    Ngũ hành là quy luật hậu thiên tương ứng với bản chất con người, để nâng cao hiệu quả phải biết nâng cao mặt yếu và trấn áp sự thái quá. Dựa trên ngũ hành các quy luật võ thuật tạo ra sự bổ khuyết cho nhau cũng như sự quấy rối bản chất nhau.

    Bát quái
    Bát quái như một sự phát triển cao hơn của âm dương, nó thể hiện chu kỳ hoàn chỉnh xoay vần của tạo hóa. Tuân theo bát quái để chuyển động cũng là tạo ra một chu trình sinh hóa của tự nhiên, lúc đó mọi vấn đề còn lại sẽ phụ thuộc vào kẻ điều khiển chứ không bị ảnh hưởng nhiều bởi xung quanh.

    Cửu cung
    Là một biến thiên của bát quái khi thêm trung cung, tạo ra chỉnh thể tương ứng với quy luật vận hành của con người. Đây là một kiến tạo nhằm đáp ứng cho nhu cầu vận động của một số lượng người nhiều, hầu như ngày nay không còn được ứng dụng mấy (ví dụ như biểu diễn tập thể hàng ngàn người)

    Đông y với võ thuật
    Luyện tập sơ khai võ thuật thì không cần chú trọng đến bản chất, các phương pháp chữa trị khi biến chứng xẩy ra hoặc phản ứng của cơ thể với quá trình luyện tập. Khi luyện tập những thứ dễ bị lệch lạc hay khó thì các phương pháp thăm dò, theo dõi biến chuyển là một trong những trọng tâm của quá trình luyện tập.

    Kinh, mạch, lạc
    Kinh là 12 đường trực hành liên hệ trực tiếp đến tạng phủ. Sự vận hành khí của võ thuật tuân thủ chặt chẽ theo sự chuyển động của các đường kinh.
    Mạch là 8 đường hay còn gọi là bát mạch như tám đại dương để khí từ các kinh đổ vào. Đây là những nơi được chú ý đến nhiều nhất trong võ thuật, hầu hết các hành giả luyện tập đều cố khai thông chúng.
    Lạc gồm 15 đường chạy lẫn trong các kinh âm và dương nối các đường kinh với nhau. Những lạc nhỏ là tôn lạc, phù lạc chạy khắp thân thể. Là phần phải thông qua để đạt đến vòng Đại Chu Thiên hoàn chỉnh.

    Huyệt đạo
    Huyệt đạo là những điểm có khí tụ lại lớn, thường là những điểm giao nhau của nhiều đường kinh mạch.

    Dựa trên các khái niệm khí huyết lưu chuyển trên võ thuật cho ra đời hai vòng lớn là Tiểu chu thiên và Đại chu thiên.
    Huyệt đạo là những điểm nhạy cảm trên thân thể, theo đó người dụng võ có thể tấn công vào các huyệt đạo để gia tăng tính sát thương của đòn thế. Khi bị tấn công vào huyệt đạo, người chịu đòn có thể có những phản ứng rất đặc biệt: đau đớn dữ dội, chấn thương nặng, bất tỉnh, chết. Huyệt đạo trong võ thuật cũng gắn trực tiếp với các phương pháp cứu chữa người bị chấn thương, bệnh tật. Theo các võ sư, cơ thể có 108 huyệt đánh và 108 huyệt chữa trị, lại có 12 huyệt có thể đánh hẹn giờ chết. Các võ sư thường truyền dạy không chỉ phương thức tấn công huyệt đạo mà cả các phương pháp chữa trị bằng huyệt đạo như bấm huyệt, xoa bóp, châm cứu. Tuy nhiên, biết được vị trí huyệt đạo đã khó, biết được cần tác động bằng phương thức nào và độ sâu của đòn đánh đến đâu để đạt được hiệu quả tính cao nhất còn khó hơn. Bởi vậy, điểm huyệt và giải huyệt chưa bao giờ được truyền dạy một cách phổ thông, quảng bá cho tất cả các môn đồ của võ phái, do đó theo thời gian những tinh hoa này không tránh khỏi mai một và thất truyền.

  2. The Following User Says Thank You to phamtrantuan For This Useful Post:

    Ghyn (10-10-2010)

  3. #2
    Tham gia ngày
    12-07-2010
    Nơi Cư Ngụ
    Thăng long
    Bài gởi
    761
    Thanks
    974
    Thanked 443 Times in 228 Posts

    Default

    Đây là một môn võ có cái tên mà đối với ai không biết thì khá lạ,nhưng dân chuyên môn thì không có gì lạ cả

    Nhất Nam

    Võ Nhất Nam là một phái võ ở Việt Nam. Võ Nhất Nam mới chính thức ra mắt tại Hà Nội vào ngày 23 tháng 10 năm 1983 do võ sư Ngô Xuân Bính đưa ra giới thiệu

    Lịch sử


    Võ Nhất Nam là môn võ có nguồn gốc ở Việt Nam. Trước đây chỉ tồn tại dưới các dạng gia phái hoặc trong cộng đồng làng xã. Có người cho rằng cái gốc ban đầu của Nhất Nam là võ Hét, hoặc võ Héc, của vùng châu Hoan, châu Ái xa xưa mà sau này là xứ Thanh, xứ Nghệ (hay Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh ngày nay). Trong số Tạo sĩ, Tạo toát thời Lê Trung Hưng, rất nhiều người quê ở các huyện Quảng Xương, Đông Sơn, Hoàng Hóa, nhất là các huyện Kỳ Hoa, Tống Sơn và Thạch Hà của vùng Thanh-Nghệ, trong số đó nổi bật lên các họ Vũ Tá, Nguyễn Đình, Ngô Phúc, Phạm Phúc, Văn Đình...

    Tác giả giới thiệu

    Võ sư Ngô Xuân Bính xuất thân trong gia đình có truyền thống về võ, ông học võ ngay từ thân phụ và các võ sư nổi tiếng trong vùng Thanh Hóa, Nghệ Tĩnh đã lĩnh hội được truyền thống võ thuật dân tộc lâu đời, muốn thống nhất, đồng nhất các kỹ thuật võ Việt ông đã tiếp thu được để cùng vun vén về cội nguồn, hy vọng quy tụ các kỹ thuật của bầu đoàn võ của vùng sông Lam, sông Mã thành một phái võ riêng cho Việt Nam. Ông là một học trò giỏi của làng võ Việt Nam, nên khi ông là chưởng môn phái đã đặt tên cho môn võ mới là phái võ Nhất Nam. Với ý nghĩa đây là một đứa con của làng võ Việt nam, một phần tinh hoa văn hóa của dân tộc Việt Nam.

    Theo những gì ông cho biết ( tham khảo sách Nhất Nam căn bản tập 1 và 2 ), đây là một môn phái có quy mô và tổ chức cao, với một hệ thống các môn công khá đồ sộ, toàn diện được đúc kết, sáng tạo dựa trên những nguyên lý đơn giản mà hợp lý, dựa trên những đặc điểm tâm sinh lý và cơ chế vận động của cơ bắp con người để tạo dựng lên những phương pháp luyện tập, những hệ thống bài tập dư chứa những thủ thuật tinh tế và khoa học, những đòn thế đơn giản mà khéo léo, có khả năng lợi dụng được sức mạnh của đối phương... Ngày 19 tháng 5 năm 2009 Bộ Văn Hóa - Thể Thao và Du lịch đã chính thức ra văn bản công nhận danh sách Ban Vận Động Thành Lập Liên Đoàn Võ Thuật Nhất Nam Việt Nam gồm 21 vị.

    Đặc điểm

    Võ Nhất Nam xuất phát trước hết từ đặc điểm của người Việt là tầm vóc nhỏ bé, mà trong thời gian dài lịch sử lại phải thường xuyên đối đầu với người phương Bắc thể lực to khỏe và quyết chí cao do đó khó có thể đương lực ngang bằng theo lối đối đòn và trả miếng bằng sức mạnh cơ bắp. Muốn thắng phải tìm ra thế mạnh riêng. Xuất phát từ thể chất không cứng mạnh, võ sinh ta không thể tập theo lối cương cường, mà tập trung vào luyện công và môn công để khắc chế võ Tàu, cụ thể là tập nhiều về tránh né sao cho thật thuần thục để những đòn đánh của đối phương đều không đến được đích, rồi chọn cơ hội tấn công vào đúng điểm hở, điểm yếu của đối phương mà dứt điểm. Nói như các võ sư võ Héc là: "học đạt cái tinh để chế cái nhiều, cái tĩnh để chế cái động, cái đột để phá cái ì, cái cong để chống cái cứng, cái thẳng để chống cái vòng..." (trích sách Nhất Nam căn bản tập 1, nhà xuất bản TDTT Hà nội năm 1988) tất cả đều phải đạt độ quyền biến, tới mức thần quyền.

    Phương châm của võ Nhất Nam là né tránh, đánh nhanh, điểm đặt đòn chính xác, đúng chỗ hiểm, có hiệu quả cao. Do đó về võ thuật phải luyện thân pháp cực kỳ mau lẹ để luồn tránh được đòn của đối phương, còn về tấn pháp tập trung vào các thế tấn thật cơ động, biến ảo cao. Để đánh điểm huyệt đối phương và chữa chạy cho mình hữu hiệu nhất, võ Nhất Nam nghiên cứu kỹ hệ thống các huyệt trên cơ thể người và những bài thuốc lấy từ cây cỏ và những con thú sẵn có ở địa phương.

    Các võ sinh Nhất Nam được tập tinh thông thập bát ban võ nghệ, tức là ngoài quyền cước, võ sinh còn biết sử dụng thành thạo 17 loại vũ khí nữa. Quyền của Nhất Nam có 32 bài cơ bản, lại thêm 42 bài bổ trợ. Xuất phát của quyền theo quan niệm: "Biến tạo của trời đất có tất cả, từ cao đến thấp, chim muông, hoa lá, vạn vật, côn trùng... theo chúng kiến tạo, thêm cái hay để bảo tồn một giống hay nhiều giống. Trên đến chí cương, dưới đến chí âm, khắc nhu khắc cương, đấy là đạo của quyền". Điều đó có nghĩa là: Nhất Nam với mọi vật phỏng theo muôn vật, nghiền ngẫm để rút ra cái hay, cái đẹp, cái cứng, cái dẻo, cái biến hóa của muôn vật mà chế thành quyền[cần dẫn nguồn]. Bài quyền một chuỗi động tác, có thế công, thế thủ nhưng không chỉ là thế, là dũng mà phải là cái biến, cái khoáng đạt, tùy lúc. Nhất Nam bên cạnh những bài quyền chiến đấu, còn có những bài quyền dưỡng sinh chữa bệnh và những bài quyền nhập định nhằm tu dưỡng nhân cánh con người. Trong quyền, Nhất Nam tập đá nhiều, nhưng những đòn yểm trợ bằng tay vẫn được chủ yếu sử dụng và đạt hiệu quả cao, trong đó nổi bật lên 2 thế: tay xà và tay trảo. Tay xà là một thế mô phỏng động tác quăng, quật, luồn, cuộn của các loài trăn vốn rất phổ biến ở vùng Thanh-Nghệ, nó có độ nẩy, độ xiết, độ mở và độ uốn lượn rất linh hoạt. Tay trảo là thế đánh của tay chĩa ngang ngón cái như cựa gà chọi, còn các ngón kia khép lại chĩa thẳng thành mũi xỉa vào các huyệt của đối phương, thể hiện lối võ lấy yếu thắng mạnh, lấy nhẹ đánh nặng. Đặc biệt các bài Ma quyền, Ảo quyền, Hoa quyền đã kết tinh những kỳ bí của võ Nhất Nam.

    Về võ binh khí, Nhất Nam coi binh khí là phương tiện "nối" cho tay thêm dài, thêm sắc, thêm cứng, thêm dẻo và linh hoạt, nên đã từ thế thức trong các bài quyền mà sáng tạo ra những bài võ binh khí như Ma kiếm, Hoa kiếm, Vũ Chân kiếm... Nhất Nam ưa sử dụng loại gậy tre đặc hoặc gỗ cứng, nặng các cỡ khác nhau, các bài Lôi côn, Thiết côn, Vân Vũ côn gồm nhiều thế đánh khác nhau, kết hợp nhuần nhuyễn giữ công và thủ. Hiện nay, về vũ khí có 9 bài côn, 9 bài kiếm, 7 bài rìu, 3 bài chạc ba, 5 bài thương, 1 bài song nguyệt, 2 bài đoản thiên mộc, 3 bài câu liêm cán ngắn (đánh kèm với lá mộc), 1 bài đánh bằng dây lưng, đặc biệt có cả bài đánh bằng dải lụa được gọi là Nhung thuật.

    Binh khí của Nhất Nam cũng rất đặc sắc. Côn có tới 4 cỡ với độ dài bằng cánh tay, cao ngang mày, cao 1 đầu 1 gang tay và cao một đầu một với tay. Mộc bằng gỗ ken mây, bọc nhiều lớp da sống. Hai bên thân mộc còn lắp thêm 2 cái để khi đánh có thể xòe ra thành một lớn hoặc có thể gấp lại để che hai phía của thân mộc. Cây chạc ba như cây chạc ba đâm cá, có thể vừa đâm vừa ngoặc. Câu câu liêm là biến tướng của cây rựa đi rừng. Kiếm có sống và lưỡi, cong từ đoạn 2/3 ra mũi. Song nguyệt như cái liềm lưỡi sắt, hai đầu nhọn hoắt, một cặp nguyệt như bốn con dao vừa đâm vừa chém. Bài nhung thuật đánh bằng dải lụa dài 1-3 mét, đầu buộc vật nặng, cứng dùng để điểm, trói đối phương và quấn, giật vũ khí đối phương, có thể dấu kín nên dễ đánh bất ngờ.

    Võ Nhất Nam xưa có 12 đẳng ứng với 12 vạch, nhưng nay thất truyền chỉ còn 9 đẳng ở môn công thuộc đủ các bài quyền thuật, binh khí, ám khí, xoa bóp, châm cứu, dưỡng sinh. Trang phục của võ sinh Nhất Nam theo lối võ cổ truyền: đầu chít khăn, mình trần, đóng khố. Các tài liệu tham khảo được phổ biến rộng rãi của võ Nhất nam hiện nay là hai cuốn Nhất nam căn bản do đích thân võ sư Ngô Xuân Bính biên soạn và trình bày.

    Bí quyết luyện

    Nguyên tắc

    Học lấy tinh, không cần nhiều
    Hiểu cần nhiều, nhưng luyên ít
    Học lõi không học vỏ, học vỏ để chứa lõi
    Giác đầu thành tay, thành chân
    Cần chí hơn lý ở đầu

    Phương pháp

    Dậy chí trước môn công
    Dậy ý trước tay chân
    Dậy chế công, lấy công làm gốc
    Dậy chế thủ, lấy thủ làm gốc
    Biết chế chống công, biết công được chế

    Yếu pháp

    Là những yếu quyết căn bản giúp người luyện tập nắm vững và có cơ sở lý luận trong việc học tập các đòn thế, chiêu thức, cách di chuyển, tấn công phản công, phòng thủ... Giống như người đi xa phải chuẩn bị tư trang, người luyện võ muốn đạt được công phu, đều phải hiểu và nắm được những yếu quyết căn môn cơ bản.

    Yếu pháp của môn phái võ Nhất Nam, dựa trên những nguyên lý đơn giản và hợp lý. Dựa trên những đặc điểm tâm sinh lý, cơ chế vận động của cơ bắp cơ chế vận hành của khí huyết để đưa ra các phương thức rèn luyện. Những hệ thống bài tập dư chứa những thủ thuật tinh tế và khoa học, những đòn thế đơn giản mà khéo léo; có khả năng lợi dụng được sức mạnh của đối phương, cũng như khả năng huy động một cách hợp lý sức mạnh của bản thân và các bộ phận của cơ thể dùng khi công hoặc thủ. Nhằm giúp người tập nhanh chóng thu được những kết quả mong muốn như: bản lĩnh vững vàng, trí cảm sáng suốt, khả năng phản xạ nhạy bén, cử động của tay chân linh hoạt, chính xác.

    Các yếu pháp căn bản của phái Nhất Nam được chia ra làm 5 phần: Thân pháp, Thủ pháp, Công pháp, Hoá pháp, Giải pháp.

    Bộ tay

    Sự khéo léo, tính biến ứng và khả năng thực hiện những động tác phức tạp ở các góc độ khác nhau, là ưu điểm tiêu biểu của đôi tay con người. Dựa vào những nhận xét thông minh và đúng đắn đó, các võ sư nghiên cứu môn công và các phương pháp luyện tập đôi tay đêu cố gắng tận dụng khả năng lớn lao của nó.

    Môn phái Nhất Nam tách bộ tay ra 5 kiểu: Tay quyền, Tay trảo, Tay đao, Tay xà, Tay chỏ.

    Bộ chân

    Khả năng vươn dài, vươn cao, trượt thấp, nhảy xa, bật cao, di chuyển, thực hiện dễ dàng các động tác nhanh mạnh là ưu thế chủ yếu của đôi chân con người. Người tập võ, luyện thành những đòn thế căn bản của bộ chân sẽ có được công phu trụ tấn vững vàng, di chuyển linh hoạt, đòn đánh kín, lực đánh mạnh và những khả năng gạt, đỡ, ngoắc, khóa, du ép đối phương một các hợp lý, có hiệu quả.

    Môn phái Nhất Nam chia bộ chân ra làm 5 kiểu sau: Thiết cước, Lôi cước, Đao cước (cước đao ), Kim chỉ cước, Chuỳ lôi cước.

    Quyền

    Quyền là thuật vận động, hài hoà giữa sức mạnh, sức bật, sức bền, độ dẻo, tính nhịp điệu trong một tổng thể khăng khít, hoà hợp giữa con người với thiên nhiên mà tính năng của nó có thể thu âm, thu dương, khắc cương, khắc nhu, là nếp nghĩ, là tinh thần, là phần hành động lộ hiện cho tư tưởng hành hiệp của người học võ. Kỹ thuật của Quyền rất đa dạng: khi ứng đấu các võ sĩ phải xử lý đồng bộ nhiều động tác của tay, chân, của đầu, của thân, của mông... khi chậm, khi nhanh, khi mạnh, khi nhẹ... khi đánh xa, khi đánh gần, khi đánh cao, khi đánh thấp, khi đánh đòn đơn, khi đánh đa đòn... khi đánh trực diện, khi đánh từ hai phía... khi chập chờn dồn dứ, khi ồ ạt liên hoàn... Mặt khác trong qúa trình luyện quyền, người học võ phải thường xuyên di chuyển bằng các thức; bước chuyển, nhảy, lăn, lộn, chạy... để phù hợp với tình huống tấn công hoặc phòng thủ.
    YouTube Video - Lichsuvn.info
    ERROR: If you can see this, then YouTube is down or you don't have Flash installed.

  4. The Following 2 Users Say Thank You to phamtrantuan For This Useful Post:

    NimarxNijesus (10-10-2010),Popofuji (11-10-2010)

  5. #3
    Tham gia ngày
    12-07-2010
    Nơi Cư Ngụ
    Thăng long
    Bài gởi
    761
    Thanks
    974
    Thanked 443 Times in 228 Posts

    Default

    Tân Khánh Bà Trà

    Tân Khánh Bà Trà hay Bà Trà-Tân Khánh hay Võ lâm Thiếu Lâm[1] là một trong những hệ phái võ thuật thuộc võ cổ truyền Việt Nam. Hệ phái có xuất xứ từ Bình Định và được các võ sư trau truốt qua nhiều thế hệ tại vùng đất mới ở miền Nam Việt Nam là làng Tân Khánh (nay là thị trấn Tân Phước Khánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương), và làng Bình Chuẩn (nay thuộc huyện Thuận An, tỉnh Bình Dương).

    Lịch sử

    Bình Định là quê hương của những hệ phái võ Tây Sơn nổi tiếng, gắn liền với chiến công hiển hách của những đoàn quân bách chiến bách thắng dưới ngọn cờ đào của Tây Sơn tam kiệt Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ và Nguyễn Lữ. Sau khi Gia Long được người Pháp hậu thuẫn đánh bại nhà Tây Sơn (1778-1820), nhiều người dân vùng đất này đã buộc phải di cư vào Nam trốn tránh sự thảm sát trả thù của vương triều mới và lập ra làng Tân Khánh. Họ mang theo mình truyền thống thượng võ và những kỹ pháp võ thuật của quê hương Tây Sơn-Bình Định tới vùng đất mới, tiếp tục phát triển nó trong sự hòa trộn với những hệ thống kỹ thuật tại quê hương mới[2].

    Giữa thế kỷ 19, dưới triều vua Tự Đức (1848-1883), nổ ra một sự kiện phản ánh rõ rệt tinh thần bất khuất của dân làng Tân Khánh: cuộc khởi nghĩa của dân làng Tân Khánh chống lại bè lũ quan lại thối nát tay sai của ngoại bang ở địa phương. Ngày nay nhiều người dân bản địa vẫn còn rất tự hào về sự kiện này và luôn nhắc về nó gắn liền với tên tuổi của một người phụ nữ tên là Võ Thị Trà[3]. Bà vốn rất giỏi võ Tây Sơn, đã lãnh đạo cuộc khởi nghĩa trong 10 năm trời ròng rã từ năm 1850 và chấm dứt khi khi người Pháp xâm lược ba tỉnh miền Đông Nam Bộ. Vì vậy, vùng đất này, bao gồm cả làng Tân Khánh và làng Bình Chuẩn còn được gọi là "đất Bà Trà". Và cũng từ đây, người dân gọi phái võ truyền thống xuất phát từ Tân Khánh, Bình Chuẩn là "phái võ Bà Trà - Tân Khánh" hay "Tân Khánh Bà Trà". Thời đó, phái võ này được coi là một trong số rất ít phái võ cổ truyền có tiếng ở miền Nam Việt Nam. Võ Bình Định, võ Tân Khánh Bà Trà cũng đã nổi tiếng trong giới võ lâm Việt Nam[4].

    Đặc điểm

    Hình thành và phát triển trên quê hương mới, phái võ Tân Khánh Bà Trà vẫn duy trì gần như tất cả những miếng võ cơ bản của phái Tây Sơn trong đó có những bài danh quyền như Ngọc trản, Lão mai quyền, Thần đồng quyền, Thái Sơn[5], Tấn Nhứt, Huỳnh Long quá hải, Đồng Nhi, Lão Mai, Thiền Sư..., các bài côn như Tấn nhất, Tứ môn, Thần Đồng, Giáng Hỏa, Ngũ Môn... và nhiều bài binh khí như: Siêu Thái Dương, Siêu Thái Âm, Song Kiếm, Trường Thương... Tuy nhiên các võ sư đã điều chỉnh và cải tiến các kỹ thuật đòn thế để phù hợp với vùng đất mới đồng thời gia tăng hiệu quả tính, nhanh hơn và mạnh mẽ hơn. Những bài thiệu dùng để dạy các võ sinh trong võ Tây Sơn cũng được trau truốt, một số bài có cả những câu mới được bổ sung.

    Đặc trưng kỹ thuật của võ phái Tân Khánh Bà Trà là lối tấn công phối hợp, liên hoàn những kỹ thuật đòn chân và đòn tay nhằm làm rối loạn sự phòng thủ của đối phương cũng như giúp cho sự tấn công đạt hiệu quả cao. Những đòn tay và đòn chân tung ra theo đường thẳng, có sức án ngự mọi sự tấn công đối phương được võ phái này chú trọng ngang với những đòn tay và đòn chân, cận chiến bằng kỹ thuật đầu gối, cùi chỏ, nắm đấm, cạnh bàn tay, ngón tay, ức bàn tay... Chính đặc điểm này đã giúp cho môn sinh của võ phái Tân Khánh Bà Trà có khả năng chiến đấu trong mọi tình huống.

    Binh khí của võ phái Tân Khánh Bà Trà có đủ thập bát ban võ nghệ nhưng nổi tiếng nhất với roi và côn, là thứ binh khí làm từ nguyên liệu có sẵn tại địa phương như: tre, tầm vông, gỗ căm xe, gỗ mật cật... Nhiều bậc tiền bối của võ phái Tân Khánh Bà Trà từng nổi danh với những đường roi, đường côn kỳ tuyệt đả bại nhiều cao thủ khắp lục tỉnh Nam Kỳ.

    Hệ thống đai được sắp xếp từ thấp đến cao như sau: - Huyền đai (đai đen) - Thanh đai (đai xanh lá cây) - Hồng đai (đai đỏ) - Hoàng đai (đai vàng) - Bạch đai (đai trắng)

    Võ sư

    Võ phái Tân Khánh Bà Trà có nhiều thế hệ anh tài nối tiếp nhau vang danh khắp Nam Bộ. Bà Võ Thị Trà, thường gọi tắt là Bà Trà, lẫy lừng một thời ở Tân Khánh chống lại bọn tham quan ô lại, để rồi tên đất được gắn thêm tên người kể từ giữa sau thế kỷ 19. Hai anh em Võ Văn Ất (Hai Ất) và Võ Văn Giá (Ba Giá) và bà Võ Thị Vuông (Năm Vuông) từng làm rạng danh võ phái Tân Khánh Bà Trà với những lần đánh hổ[6] [7].. Những võ sư nổi tiếng khác có thể kể tên: Hai Đước, Sáu Trực, Năm Nhị, Bảy Phiên và Năm Quy, mỗi người đều có những phong cách riêng với nhiều thành tích. Quyền sư Võ Văn Đước (Hai Đước) phá tan thế trận Mai Hoa Thung bảo vệ thanh danh xứ sở. Sáu Trực, một học trò của Hai Ất, tiếp nối truyền thống rực rỡ của thầy, đã truyền thụ võ công cho nhiều môn sinh trong số này có hai nhà chí sĩ yêu nước Nguyễn An Ninh và Phan Văn Hùm. Đệ nhất côn Đỗ Văn Mạnh (Năm Nhị) làm cho võ phái Tân Khánh Bà Trà nổi tiếng khắp Nam kỳ với cây trường côn khiến nhiều võ sĩ kinh hồn táng đởm. Trong khi đó Bảy Phiên và Năm Quy lại đóng góp cho sự phát triển của môn phái bằng cách đào tạo những môn sinh cho các cuộc đấu võ đài mà người Pháp tổ chức những năm 1930-1940, đồng thời rèn luyện kỹ pháp chiến đấu, giáo dục tinh thần yêu nước cho những người tham gia các phong trào khởi nghĩa chống Pháp nổ ra trong vùng [8].

    Những năm 1950 phái Tân Khánh Bà Trà bước sang một giai đoạn mới. Nối tiếp truyền thống hào hùng của võ phái, lão võ sư Hồ Văn Lành (biệt danh Từ Thiện, môn đệ xuất sắc của Bảy Phiên và là cha của võ sư Hồ Tường sau này) đã rời quê hương lên Sài Gòn tham gia Tổng cuộc Quyền thuật Việt Nam, một tổ chức quần chúng được chính quyền Sài Gòn cho phép hoạt động dưới quyền Tổng nha Thanh niên của Bộ Văn hóa Giáo dục và Thanh niên. Tại đây, với tư cách Ủy viên Ủy viên Ban Chấp hành Tổng Cuộc Quyền Thuật Việt Nam vài nhiệm kỳ (từ những năm 1950 đến 1975), võ sư Hồ Văn Lành đã nỗ lực giúp hòa nhập và phổ biến võ phái Tân Khánh Bà Trà vào cộng đồng võ thuật miền Nam. Cho đến năm 1984, khi đã 70 tuổi, lão võ sư Hồ Văn Lành đã truyền bá võ phái Tân Khánh Bà Trà tới hàng vạn môn sinh (các môn sinh nam mang họ Từ và các môn sinh nữ mang họ Hồ) và trang bị kỹ thuật đặc thù của môn phái cho họ. Hơn 400 võ sĩ chuyên nghiệp đã được đào tạo trong đó có tới 100 phụ nữ. Nhiều môn sinh đã trưởng thành, tiếp bước con đường truyền bá võ phái Tân Khánh Bà Trà cho các thế hệ nối tiếp ngay tại các quận, huyện của thành phố Hồ Chí Minh, một số tỉnh thành Nam Bộ và cả ở nước ngoài.

    Đóng góp

    Phái võ Tân Khánh Bà Trà đã đóng góp vào kho tàng võ học truyền thống của dân tộc nhiều kỹ thuật mới như các bài quyền Đồng nhi quyền (còn gọi là Bát Tiên), Tấn nhứt côn và đặc biệt là bài Tứ linh đao.

    Một số môn sinh xuất sắc của võ phái Tân Khánh Bà Trà đã từng tham gia thi đấu võ đài, đạt được hai huy chương vàng (Từ Thanh Nghĩa và Hồ Ngọc Thọ), bốn huy chương bạc (Từ Thanh Tòng, Từ Duy Tuấn, Từ Hoàng Út, Hồ Thanh Phượng), một huy chương đồng (Từ Hoàng Minh) trong các giải vô địch toàn quốc. Ba người (Từ Thanh Nghĩa, Từ Trung Tín, Từ Y Văn) đã từng được chọn đại diện cho toàn miền Nam thi đấu bẩy trận toàn thắng trước các nhà vô địch của những nước Thái Lan, Lào, Campuchia. Các võ sĩ chưa từng nếm mùi thất bại liên tục trong mười trận đấu: Từ Hùng (từng là Phó giám đốc Sở Thể dục Thể thao tỉnh Tây Ninh), Hồ Hoàng Thủy, Từ Dũng, Hồ Hoàng Hạnh, Từ Bạch Long, Hồ Tố Nguyệt. Có người đã trưởng thành với tư cách một chưởng môn của một võ phái mà nhiều kỹ thuật của võ phái có nguồn gốc từ Tân Khánh Bà Trà như Hồ Hoa Huệ [9].

    Thành tích

    Ngày nay, võ sư Nguyễn Hồng Đỏ của môn phái Tân Khánh Bà Trà, đang công tác tại Trung Tâm Thể dục Thể thao huyện Nhà Bè, thành phố Hồ Chí Minh, tiếp tục góp phần mang lại vẻ vang cho môn phái với trên 120 huy chương các loại (vàng, bạc, đồng) tại các giải vô địch học sinh, Hội khỏe Phù Đổng , cụm, thành phố Hồ Chí Minh, trẻ thành phố Hồ Chí Minh, câu lạc bộ mạnh thành phố Hồ Chí Minh, câu lạc bộ mạnh toàn quốc, trẻ toàn quốc và toàn quốc, chủ yếu về môn thi đấu đối kháng của Võ Cổ Truyền và về môn thi đấu đối kháng của Quyền Anh và Wushu . Trong đó có 1 huy chương bạc quốc tế về Quyền Anh, 2 huy chương vàng quốc gia (võ sĩ Trần Văn An và võ sĩ Nguyễn Thanh Tâm), 17 huy chương vàng thành phố Hồ Chí Minh. Nhiều võ sĩ của võ sư Nguyễn Hồng Đỏ đã từng thi đấu quốc tế và số khác trở thành vận động viên đội tuyển thành phố Hồ Chí Minh, như: Phạm Thanh Hải, Dương Tấn Hùng, Mai Hoàng Trí...

    Những câu chuyện và nhận định về Tân Khánh Bà Trà

    Theo một tờ nhật báo Việt Nam phát hành cách nay đã lâu thì "ông Cả Đại ở Thủ Dầu Một nhảy qua nóc nhà ngói một cách dễ dàng và con gái của ông ta chỉ đại được một phần công phu của cha mà đã nhảy qua được cây rơm" [10]


    Người dân Sông Bé tự hào vì "làng Tân Khánh đã có một cô gái trẻ, với võ thuật Tân Khánh Bà Trà, đã đơn thương giết chết cọp, khiến ngoại bang hết lòng khâm phục"[11].


    "Tôi nghĩ đến danh đồn võ ta ở Bà Trà Tân khánh đánh cọp rất hay, mà nếu không sao dám đánh với cọp dữ? Thử hỏi võ Đại Hàn, võ Nhu Đạo, võ đánh Bóc có dám đứng nhìn khi gặp cọp trong rừng không?" [12].


    Sáng ngày 29 tháng 5 năm 2009, thực hiện sự chỉ đạo của Tỉnh Uỷ và Uỷ Ban Nhân Dân tỉnh Bình Dương, Sở Khoa học Công nghệ và Môi trường tỉnh Bình Dương đã thông qua công trình nghiên cứu "Bảo tồn và phát huy võ thuật Tân Khánh Bà Trà - Bình Dương" do Tiến sĩ Hồ Sơn Diệp làm chủ nhiệm công trình, Thạc sĩ - võ sư Hồ Tường là một trong những thành viên trực tiếp thực hiện công trình. Công trình "Bảo tồn và phát huy võ thuật Tân Khánh Bà Trà - Bình Dương" dự kiến sẽ tiến hành trong vòng 18 tháng.

    Chú thích

    1.^ Có một lớp võ SV miễn phí hơn 10 năm có đoạn "võ sư Hồ Văn Tường hiện nay đã có 24 năm đứng lớp võ dành cho các bạn trẻ yêu thích bộ môn Thiếu lâm võ lâm". Bài đăng trên Báo Tuổi trẻ. Có thể tên này là theo cách gọi một số võ sinh
    2.^ Bài Phái võ Tân Khánh Bà Trà bắt đầu và phát triển như thế nào trong lịch sử, trong cuốn Võ dân tộc, Hữu Ngọc và Lady Borton chủ biên, NXB Thế giới, H. 2004, trang 53 kéo dài đến 54
    3.^ Đây chỉ là tương truyền. Xem thêm bài Võ Thị Trà
    4.^ Bài Phái võ Tân Khánh Bà Trà bắt đầu và phát triển như thế nào trong lịch sử, như trên, trang 54, đoạn 3
    5.^ Trong võ thuật cổ truyền Việt Nam, cụ thể là môn phái Tân Khánh Bà Trà và môn phái Bình Định, Thái Sơn, tên một ngọn núi nổi tiếng ở Trung Quốc, được chọn để đặt tên cho một bài quyền và một bài côn. Trong chương trình thống nhất của Liên Đoàn Võ thuật Cổ truyền Việt Nam có bài côn Thái Sơn. Đặc trưng của hai bài võ này là có đòn thế vững chắc, dũng mãnh giống như núi Thái Sơn ở Trung Quốc.
    6.^ Chuyện cọp Bầu Lòng, Võ Tòng Tân Khánh, tác giả Lưu Linh Tử
    7.^ Bài "Võ Việt Nam, võ ngoại quốc: võ nào trọng? võ nào khinh?", báo Võ Thuật, số 22, bộ III, ngày 1/1/1971, trang 9
    8.^ Phái võ Tân Khánh Bà Trà bắt đầu và phát triển như thế nào trong lịch sử, như trên, trang 56, toàn bộ nội dung đoạn này là tóm tắt của đoạn 2 trong tài liệu
    9.^ Xin xem bài Hồ Hoa Huệ và hệ thống kỹ thuật của môn Tinh Võ đạo
    10.^ Từ Hải (tức Hàng Thanh), trong bài "Thi võ đời Gia Long, báo Võ Thuật, số 4, bộ I, ngày 1/4/1969, trang 22
    11.^ Tứ Lang, trong bài "Người Sông Bé đánh cọp", báo Sông Bé, số 450, ngày 1/2/1986
    12.^ Hàng Thanh, trong bài "Võ Việt Nam, võ ngoại quốc: võ nào trọng? võ nào khinh?", báo Võ Thuật, số 22, bộ III, ngày 1/1/1971, trang 9
    YouTube Video - Lichsuvn.info
    ERROR: If you can see this, then YouTube is down or you don't have Flash installed.

  6. #4
    Tham gia ngày
    12-07-2010
    Nơi Cư Ngụ
    Thăng long
    Bài gởi
    761
    Thanks
    974
    Thanked 443 Times in 228 Posts

    Default

    Môn Vật Cổ Truyền-Môn Vật nhau
    Vật cổ truyền là một môn võ lâu đời được hình thành và phát triển từ xa xưa, trong quá trình Ông cha ta dựng nước và giữ nước. Theo truyền thuyết còn kể lại rằng, Ông tổ môn Vật của phường Mai Động, Hai Bà Trưng, Thủ đô Hà Nội ngày nay chính là Nguyễn Tam Chinh, là vị Đô Úy dưới trướng của Trương Nữ Vương trong thế kỉ 1.

    Trong Lịch Sử Và Giai Thoại

    Đấu vật là một hoạt động dùng sức không có phương tiện, dụng cụ nào ngoài tài khéo nhanh nhẹn, nghệ thuật, dẻo dai và sức lực nhằm thi thố tài năng quật ngã nhau giữa haiđối thủ gọi là Đô hay Đô Vật. Khác với đánh võ bàn tay luôn luôn cứng, khi giao đấu các đô vật hai bàn tay mở xòe và mền mại, hầu dễ dàng cầm nắm, quăng quật. Những đô vật nổi tiếng hay bậc thầy được tôn là Trạng Vật. Tại những làng thôn có nhiều đô vật giỏi, hoặc có nơi đào tạo được nhiều đô vật, có thầy dạy hẳn hoi, gọi là Lò Vật.

    Vật là một bộ môn thể thao rất được ưa chuộng trong giới nông dân Việt Nam thời xưa. Những ngày đầu của mùa Xuân thuở thanh bình hay những buổi hội hè đình đám nơi thôn dã, dân làng thường tổ chức những cuộc vui như hát quan họ, thi nấu cơm, chọi trâu, đá gà, đánh đu, kéo co, bắùn nỏ, đánh gậy trung bình tiên, đấu vật, v.v... Nhất là đấu vật, mở hội ngày Xuân mà không có thi vật thì thật là thiếu thú vị của những ngày Tết. Trống vật nổi lên là có sức thu hút mọi người, già, trẻ, gái, trai, đủ mọi tầng lớp nô nức đến bao quanh đấu trường; người ta bình luận say sưa, chê khen rành rọt từng thế, từng miếng vật, từng keo vật từng tác phong của mỗi đô. Bộ môn vật, ngoài tính cách giải trí vui chơi, còn là một môn thể thao hữu ích, giúp thanh niên trong làng thêm cường tráng, thêm nghị lực, lòng dũng cảm, để giữ làng, giữ lúa và giữ nước. Đấu vật đã trở thành một tục lệ, một truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam. Bức tranh dân gian Du Xuân Đồ đã miêu tả sống động cảnh tượng sinh hoạt văn nghệ, thể thao của nhân dân Việt Nam xưa vào dịp đầu Xuân với lời thơ chú thích:

    Thái bình mở hội xuân,
    Nô nức quyết xa gần,
    Nhạc dâng ca trong điện,
    Trò thưởng vật ngoài sân
    Ca dao vùng Sơn Nam có câu:
    Ba năm chúa mở khoa thi
    Đệ nhất thi vật, đệ nhì thi bơi,
    Đệ tứ thi đánh cờ người,
    Phường Bông tứ xứ mồng Mười tháng Ba.

    Ngay từ thời xa xưa, khi mới có của bộ môn này tại nước ta, vật đã được coi là một phương pháp dùng để luyện sức, đo tài, chọn người ra giúp dân giúp nước. Điều đó đã thể hiện ngay trong kỹ thuật, phong cách và lối chơi.

    Theo Pierre Gourou, tác giả sách "Les Paysans Du Delta Tonkinois" tái bản tại Paris năm 1965 (1), thì tại đồng bằng sông Hồng có nhiều làng, ví dụ làng Hà Lỗ tỉnh Bắc Ninh, có tục "đặt ruộng", dành riêng một số Công điền của làng cho làm rẽ, cho thuê thu tô để có tiền tổ chức Hội Vật hàng năm.

    Thật vậy, xưa kia ở nước ta chẳng mấy nơi không có lò vật. Có những lò vật vang lừng xứ Bắc như lò vật Guột, Tri Nhị, Gia Lương (Bắc Ninh), lò vật Đông Kỵ (Đồng Quang, Từ Sơn, Bắc Ninh) lò vật Thụy Lâm (Đông Anh, Cổ Loa), lò làng Yên ( Yên Mẫn, Châm Khê, Võ Giàng ) lò Liễu Đôi (Nam Hà), lò Phú Thọ, Vĩnh Phúc Yên, Nam Định, Hưng Yên,Hải Phòng, lò vật Thường Tín, lò Thanh hóa, Nghệ An, vân vân. Hội Vật làng Sình (xã Phú Mậu, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên) hàng năm mở hội vào ngày 10 tháng Giêng Âm lịch thu hút nhiều đô danh tiếng miền Trung. Lại có lò cứ 12 năm mới mở Hội Vật một lần, ví dụ lò vật Trà Lữ thuộc trấn Sơn Nam cũ, cứ đúng năm Mùi mới lại mở thi Vật, nơi tranh hùng của các đô vật bốn phương, háo hức về giật giải. Nhưng cũng có làng khi mở hội đình ráng tổ chức đấu vật vẫn không thành, theo các cụ già xưa, nếu nơi naò không phải là đất vật thì khó có thể lập nổi sân vật mà các tay đô vật giỏi cũng không đến tranh giải. Đền Lý Bát Đế, thờ tám vị vua nhà Hậu Lý (từ năm 1010 đến năm 1225) tại Đình Bảng (Bắc Ninh), có tượng hai ông Đá Rãi, hai đô vật nổi tiếng.

    Các bô lão Trường Yên Ninh Bình rất tự hào về những ngày hội lớn hàng năm ở địa phương mình: Hội đền vua Đinh, Hội chùa Trường Yên, Hội Cờ Lau tập trận. Trò vui lớn nhất của những hội này là trò đấu võ, đấu vật. Những đô và những thày dậy võ họ Đinh, họ Bùi, họ Vũ cha truyền con nối, làm vẻ vang làng xóm.

    Dưới đây, chúng ta thử hướng về lối vật của người nông dân Việt Nam thời xa xưa.

    I/. TẬP LUYỆN.

    1/. Quanh năm, xong việc đồng áng, được lúc nào rảnh rỗi, trai tráng trong làng thường rủ nhau tập dượt võ thuật hay vật, họ chỉ bào lẫn nhau, ai có miếng võ nào hay, ngón vật nào độc đáo thì lại truyền dậy cho anh em cùng tập. Những ngày giáp Tết Nguyên Đán, nếu trong làng có ông thày võ, họ đến tụ tập tại nhà ông thày để luyện tập thêm; làng nào không có thì cử người đi đón thày ở lò võ, lò vật các làng lân cận về để dậy.

    Trang phục khi tập luyện cũng như khi lên đài đấu của các đô vật là đóùng có mỗi một cái khố và ở trần, không có đai đẳng gì cả, trên đầu chít khăn đầu rìu hay chít khăn bỏ tua. Khố là một miếng vài dài được cuốn vào như một cái quần sì-líp. Khố có nhiều màu, nào đỏ, nào xanh, nâu hay vàng, hồng, tím,...

    2/. Kỹ thuật và Nghi lễ

    Trước hết, các đô vật được tập cách luyện thể lực cho dai sứ, mạnh tay mạnh chân, cách đứng thủ thế nào cho vững chắc, cách “***g tay tư” sao cho có ưu thế và những bộ pháp như cách di chuyển từng bước chân, khi tới, khi lui, khi bước ngang, bước xéo, xoay vòng... Họ còn được tập luyện cách té ngã thế nào cho khỏi đập đầu xuống đất, khỏi gẫy tay, tập cách né tránh, thoát hiểm, “cầu vồng“, kể cả những nghi thức có tính cách tôn giáo dành riêng cho mỗi lò vật, như Múa Hoa, Xe Đài hay còn gọi là Ra Giàng, hoặc Múa Hạc v.v...

    Ra Giàng, Múa Hạc hay Xe Đài là một lễ nghi thành kính của các đô vật, và còn một hình thức khởi động của đô vật có mang tính dân tộc, vừa là cách trình diễn của đô vật với khán giả, tạo một không khí hào hứng lành mạnh trước khi vào cuộc đấu thực sự. Ngoài ra Ra Giàng, hai bên vờn nhau, còn đánh đòn tâm lý, gây cho đối phương tư tưởng hoang mang, giao động với những lối Ra Giàng hùng dũng, chân đứng hình con hạc, hay đứng theo kiểu con phượng nhích chân, con dang cất cánh hoặc con công múa xòe, cổ tay uốn lượn, ngón tay múa may mền dẻo, uốn éo, giống như những nghi thức tay Ấn tay Quyết của các thầy tế, pháp sư hay phù thủy. Có lẽ nó có nguồn gốc của lễ nghi Tế Thần sau những chiến thắng của các dân tộc Á đông thời thượng cổ bên ngọn lửa thiêng bập bùng trên thuyền chiến hay đồng nội ven ao hồ, sông biển. (Xem Luyện Võ của Phan Quỳnh). Phải chăng có sự liên hệ nào đó giữa những hình ảnh Ra Giàng hay Múa Hạc của các đô vật vùng đồng bằng Bắc bộ và bắc Trung bộ Việt Nam mà nhịp chân tiến lên lùi xuống ba bước, bước ngang hai bước với những cảnh chim chóc, cảnh người múa (múa võ?)õ chạm đúc trang trí trên trống đồng Đông Sơn, hay rõ hơn trống đồng Hoàng Hạ, Ngọc Lũ hay trên thạp đồng Đào Thịnh? Điểm đáng chú ý là động tác bàn tay những người múa trên trống đồng, thạp đồng đã được thể hiện một cách cường điệu, bàn tay xòe ra hình ba chạc to quá khổ so với người.

    (Xin mở một ngoặc đơn là một số các dân tộc ở Nam Á và ở châu Á hải đảo chạy dài từ phía nam quần đảo Nam Dương đổ lên vùng đa đảo cực bắc Thái Bình Dương cũng có những nghi thức Ra Giàng giống như các đô vật vùng châu thổ sông Hồng, sông Mã: nghi thức Kanbangan của các võ sĩ Pukalam Pentjack cổ điển ở Indonesia, ở vùng hải đảo Celebes, nghi thức Nagdadasal của các đô vật Dommoq nhóm bộ lạc Tagalog vùng đảo Luzon Phi Luật Tân, nghi lễ Suat-Mon hay Wai-Pá thành kính cầu nguyện lúc thượng đài của các võ sĩ Muay-Tai Thái Lan, các võ sĩ Tỷ-Môi xa xưa ở Ai Lao hay của các đô vật Sumo ở Hokkaido Nhật Bản).

    Vật không phải chỉ cần có sức khỏe, có lực để thắng được đối phương, nó còn đòi hỏi phải có thế, có miếng, có kỹ thuật, có mánh lới, cộng với sự nhanh nhẹn, chính xác của từng đô vật. Do đó, vật có nhiều thế, nhiều miếng, có những miếng đánh trong tư thế bất ngờ, có những miếng đánh trong lúc giằng co, hoặc đánh trong tư thế nằm (nằm bò). Dưới đây là một số đòn miếng vật thông dụng:

    - Kê: dùng hông hoặc vai làm điểm tựa để quăng ngã đối thủ.

    - Ngáng (hay Cản): dùng chân quét hay gạt, cản chân đối thủ làm mãt thăng bằng cho té ngã.

    - Đệm: dùng đầu gối, hay bắp đùi, lót đằng sau chân đối thủ rồi dùng sức mạnh của mình gait, đẩy, sô đối phương té ngửa ra.

    - Vét: đang vờn nhau, nhử cho đối thủ tiến lại gần, nhanh chóng cúi người xuống, chân trái gập hạ thấp, chân phải rút về sau duỗi thẳng, đồng thời tay phải đưa lên ấn mạnh vào vai trái đối thủ, bàn tay bắt chặùt lãy khoeo sau chân trái đối thủ giật mạnh về phía mình.

    - Bắt Để Hớt Gót: Hai đô vật đối diện sát vào nhau (mà chưa ***g tay tư) một người bất ngờ dùng hai tay bắt chặt lấy cánh tay phải đối phương. Chân phải và người lập tức xoay chếch sang phía bên phải, người cúi thấp hai chân dạng ra hai bàn chân rê mạnh và nhanh, lùi chếch về phía sau, đồng thời dùng hai tay kéo mạnh đối phương về phía mình. Khi đối phương đang mất đà hơi chúi về phía trước thì lập tức ta hạ tay trái xuống, từ phía trong dùng bàn tay phải bắt và hất mạnh cổ chân trái đối phương ra đằng sau. Thuận bên nào, làm bên ấy.

    -Bốc Một Chân:

    a/ Tư thế bất ngờ: Hai đô vật đứng sát và đối diện, một trong hai người bất ngờ hất hai tay của đối phương lên và người phải nhanh chóng chuồi dài ra phía sau, lúc này chân trái đặt trước, chân phải đặt ở phía sau, đầu cúi xuống, dùng vai ấn vào thân thể đối phương, đồng thời dùng hai tay bốc khoeo chân phải đối phương giật mạnh về phía mình, đối phương bị mất thăng bằng bởi hai lực nên ngã ngửa.

    b/ Tư thế giằng co: Tay phải bá cổ đối phương, tay trái nắm cánh tay trên, tay phải đối phương, dầu cúi xuống dựa vào gáy phía phải đối phương, chân trái phía trước, chân phỉ phía sau. Đối phương dùng sức nay ta, ta dùng sức nay lại. Đối phương lại cố dùng sức nay ta, ta bất ngờ hạ thấp người xuống và đánh như miếng bốc một chân trong tư thế bất ngờ.

    -Sườn tay trong: còn gọi là đánh đòn dọc, bất ngờ biến thế thật nhanh, luồn luồn cánh tay phải vào phía trong cánh tay trái đối phương, bàn tay phải ***g vào nách trái đối phương. Tay trái nắm vào cánh tay phải đối phương, ghì vào sát người mình. Đồng thời bước nhanh chân phải về phía trong lòng đối phương, cúi người xuống dùng hông mình hất mạnh đối phương ra phía sau cho ngã.

    -Đánh Gẫy: Đang ***g tay tư, bất ngờ đổi hai tay vào phía trong cánh tay đối phương, bàn tay trái mở nay mạnh vào cổ bean phải, bàn tay phải xốc nách trái đối phương, kéo mạnh về phía mình, đồng thời nghiêng người dùng sườn trái hất mạnh, chân phải hất chân đối phương cho té ngã.

    -Tay Quai: Đang ***g tay tư, bất ngờ chuyển hai tay vào phía trong hai cánh tay đối phương, tay phải luồn qua dưới nách trái đối phương, tay trái luồn qua trên vai đối phương đều ra sau long và hai bàn tay nắm chắc lấy nhau ghì chặt đối phương. Rồi bất ngờ dùng tay phải nay mạnh đối phương ra sau, cánh tay trái kéo mạnh đối phương về phía mình. Đồng thời nghiêng mình dùng sườn phải đánh mạnh và châm phải hất chân đối phương cho té ngã.

    - Nằm Bò (hay Hạ Thổ): khi bị xa cớ lỡ miếng hay khi gặp đối thủ mạnh hớn, họ thường nằm sãp xuống mặt đãt, tay chân dang rộng ra, mặc cho đối thủ tha hồ đẩêy, bê, bứng, nhấc hổng, để rồi liệu cơ hội đánh lừa đối thủ, lợi dụng lúc đối thủ sơ hở thì lập tức chồm dậy tấn công lại.

    Các miếng Bốc, miếng Gồng, miếng Sườn,..., có lại có nhiều thế khác nhau: Gồng Đứng, Gồng Quỳ, Gồng Ngồi, Sườn Tay Trong, Sườn Tay Ngoài, Bốc Hai Chân, Bốc Một Chân, vân vân.(2)
    Tuy nhiên, mỗi lò vật, mỗi địa phương, lại có những thế vật độc đáo, đặc biệt riêng, phong cách riêng, mạnh mẽ, ác hiểm hay uyển chuyển, bay bướm riêng, nổi tiếng trong vùng, nhất là những thế “đánh dịp nhì”. nghĩa là kỹ thuật đánh chống lại, phản lại: chống Bốc, chống Gồng ngồi, chống Mói, chống Cầu vồng, chống Sườn trong, vân vân, ví dụ xưa kia: lò Mỹ Độ (tổng Mỹ Cầu, Phủ Lạng Thương) có miếng chống Vét, chống Gẫy, Lấy Bò, lò Mai Động có miếng Giồng, miếng Mói, lò Yên Sở có miếng Sườn miếng Móc, lò Đồng Tâm (Vụ Bản Nam Định) lại nổi tiếng với những ngón Móc-Chảo, Vỉa Lộn Cối, Giát Bốc, Bỏ Thuốc, Sườn Cặp Cổ,...

    II/-. LỆ VẬT

    Muốn đánh bại đối thủ trong cuộc đãu vật thì các đô vật phải theo những luật lệ sau đây:

    1/. Nhấc bổng địch thủ hổng cả hai chân lên khỏi mặt đất (Túc Ly Địa) được coi là thắng, hổng một chân không kể.

    2/. Vật đối phương té ngã ngửa, lưng vai chạm mặùt đất thì thắng (Lấm Lưng Trắng Bụng), ngã xấp không kể.

    Vật không có hòa, phải xác định một thắng một thua (thắng tuyệt đối hay thắng điểm). Ngoài ra không được đấm đá, bãm huyệt, móc xương quai xanh, chẹn hàm, bẻ cổ, lên gối, nắm tóc, móc mắt, cù léc, thọc cắn,..., phun nưôc miếng, văng tục, xé khố đối thủ, hay khi bị té ngã rồi không được móc chân cho đối thủ ngã theo, v.v...

    Thí sinh thượng đài đấu vật không tính tuổi tác hay cân lượng.

    III/. GIẢI VẬT.

    Tùy theo địa phương tổ chức, vật có nhiều giải khác nhau, chia hai loại: Giải Thờ và Giải Chính.

    1/. Giải Thờ (hay Giải Hàng)

    Giải thờ còn được gọi là Giải Xông Sới, không có người giữ giải. Ai muốn lên vật thì ghi tên rồi bắt cặp. Ai thắng thì được làng thưởng. Tranh Giải Thờ chỉ là mở đầu cho ngày Hội Vật, để cho những ai muốn khảo sức nhau thì lên bắt cặp, và có nhiều Giải Thờ trong một ngày. Ở giải này khi vật hai đối thủ thường không dùng hết sức, chỉ cốt phô bày nghệ thuật, vật cho đẹp, cho vui, có khi cả hai cùng té ngã cho cả làng cùng cười. Thay vì họ lừa miếng nhau thì họ lại múa may cho thật mền dẻo để người xem vui mắt.(3)

    2/. Giải Chính.

    Giải Chính có ba giải: giải nhất, giải nhì và giải ba. Ba giải này đều có người xin giữ. Các đô vật tứ xứ muốn phá giải nào thì xin ghi tên để vật với người giữ giải ấy. Nếu không có ai xin phá giải trong ba ngày, theo lệ làng, thì người giữ giải đương nhiên được lãnh giải mình giữ (Giải Cạn).

    Trong ba Giải Chính này thì giải ba phải được phá trước rồi mới tới giải nhì, và giải nhất.

    Về số đối thủ phải đấu thì lệ làng định như sau:

    - Giải nhất: trong sáu ngoài năm.

    - Giải nhì: trong bốn ngoài ba.

    - Giải ba: trong ba ngoài hai.

    "Trong sáu ngoài năm" nghĩa là ai giữ giải nhất thì phải vật thắng đủ liền sáu người mới được coi là chiếm giải, còn người phá giải thì chỉ cần vật ngã năm đối thủ kể cả người giữ giải. Nếu người giữ giải đã thắng năm keo mà bị thua keo chót thì cũng không được nhận giải. "Trong bốn ngoài ba" hay "Trong ba ngoài hai" cũng tính tương tự như thế.Giải thưởng cho đô vật có nhiều loại cho giải chính, giải hàng, lại có giải chung cuộc cho đô vật nào thắng nhiều điểm nhật trong những ngày Hội Vật.

    Thường thường Giải Chính do đô vật hạng nhất trong làng hay ở các làng khác đến xin giữ.

    IV/. THƯỢNG ĐÀI.

    Ngày Hội Vật đầu Xuân đã đến. Trống vật thúc dục làm nao nức lòng người. Già trẻ, trai gái đều bỏ mặc hết mọi công việc nhà, rủ nhau tụ tập đông đảo trước sân đình để dự khán. Các đô trong làng đều ghi tên dự thí. Những đô tứ xứ, ở các làng lân cận muốn xin dự thí phải mang lễ vật đến để xin cúng thần. Tùy theo lệ làng, có nơi lễ vật là đĩa sôi gấc, hay nhánh cau với vài lá trầu, hoặc bó hoa, trái cây hoa quả , hoặc thẻ nhang,...

    Bãi cỏ phẳng rộng trước sân đình làng được dùng làm đấu trường, ở giữa được kẻ vạch một vòng tròn, đường kính khoảng 6 mét bằng vôi trắng, vòng tròn này được gọi là sới vật. Có nơi sới vật là hình vuông mỗi cạnh tám mét, có nơi sới vật được đóng dóng bằng tre chung quanh, có nơi sới vật nằm dưới đáy ao nông cạn đã tát hết nước và khơi khô trước sân đình để dân làng, khán giả đứng chung quanh bờ xem cho rõ (sân này còn được dùng để đánh cờ người). Hai bên sới vật là hai hàng cờ đuôi nheo ngũ hành gồm năm mầu xanh, đỏ đen vàng trắng, mỗi bên năm lá cờ. Các đô vật trong thiên hạ ở trần trùng trục, chỉ đóng mỗi một cái khố, đầu chit khăn, ngồi thành hai hàng dưôi hai dẫy cờ. Người nào cũng lực lưỡng, bắp thịt nỏ nang rắn chắc.

    Hai bên tả hữu trước sới vật là hai cái trống cái (trống lớn), có nơi chỉ dùng một trống thôi, và những hàng ghế danh dự dành cho quí vị chức sắc trong làng và hàng tổng. Hai vị đàn anh trong dân được cử đánh trống cái, gọi là "cầm chịch", nghĩa là làm nhiệm vụ của trưởng ban Trọng tài cuộc đấu.

    Giữa hai trống cái đó là bàn thờ thần, và phía dưới, trước mặt bàn thờ, được trải một chiếc chiếu cạp điều để các đô lễ thần trưôc và sau khi giao đãu. Có điều họ lễ thần không bằng cả hai tay như bình thường mà chỉ lễ lên gối xuống gối chống một tay trái thôi.

    Sau khi múa Ra Giàng, hai đô vật bắt đầu giao đấu. Trống vật liên tục mỗi hồi là ba tiếng. Hai người cầm chịch cứ người nọ đánh ba tiếng dứt thì người kia lại đánh ba tiếng tiếp theo. Các đô vật tài hoa thường dùng các miếng vật vừa đẹp mắt mà vẫn quyết liệt, nghiêm túc và chính xác.
    Ngay giữa sới vật có ba người tuần đinh, làm nhiệm vụ của trọng tài phụ. Hai trong ba người này, mỗi người cầm một lá cờ đuôi nheo nhỏ phất phẩy làm hiệu lệnh vật, người thứ ba cầm một trống lưng (trống nhỏ) để gõ nhẹ khuyến khích, thúc dục hai đô tấn công tiếp.

    Keo vật càng trở nên gây cấn, tiếng trống lại mau hơn, người tuần đinh kề hẳn trống vào mang tai các đô để thúc, để cổ võ để nhắc nhở, hai lá cờ đuôi nheo cũng nhộn nhịp phe phẩy không ngừng để giữ trật tự, giãn các khán giả vây vòng mỗi lúc một quá chặt.

    Khán giả reo hò, la hét khuyến khích yểm trợï tinh thần "gà nhà", họ dán mắt vào từng miếng bốc, miếng sườn, miếng gồng của các đô, rồi reo lên khi đô nào đó hạ đối phương bằng một miếng đẹp mắt. Keo vật vào hồi quyết liệt, họ, những khán giả sát gần sới vật, nằm xoài ra đất để xem cho rõ.

    Hai đối thủ nào bá cổ, nào tay nắm tay, hoặc thủ thế, giữ miếng, vờn nhau,... Họ ôm lưng, bá vai, ngáng chân, có lúc họ nắm tay nhau giật mạnh rồi buông ra cho té ngã. Cuộc đấu mỗi lúc một gay go, sôi động và hào hứng. Họ lừa nhau từng miếng, từng bưôc chân, từng cách di chuyển, rồi gặp cơ hội thuận tiện họ quật ngã ngửa nhau “lấm lưng trắng bụng” giữa tiếng reo hò ầm ĩ vui vẻ của mọi người...

    Giải nhất vừa được phá. Kẻ chiến thắng hiên ngang kiêu hãnh lên lãnh giải. Phần thưởng đôi khi chỉ là ba vuông vải nhiễu điều, gói trà mạn sen (có những Hội Vật lớn, giải chính là một con bò hay con nghé) và một phong pháo toàn hồng được xé ra đốt ngay sau cuộc đấu như chào mừng người vô địch thiên hạ.

    Sau ba ngày tận sức, tận lực chiến đấu trong tinh thần thượng võ, huynh đệ, các đô lại quây quần dưới mái đình cùng nhau chè chén vui vẻ.

    V/ TRONG LỊCH SỬ VÀ GIAI THOẠI

    Vật cổ truyền Việt Nam đã có từ thời thượng cổ. Truyền thuyết và giai thoại về vật cũng phong phú và đa dạng.

    Một truyền thống cao đẹp của vật là ngay từ thời kỳ đầu dựng nước và giữ nước, các anh hùng dân tộc cứu dân giúp nước phần lớn đều là những đô vật nổi tiếng trong dân gian, được nhân dân kính trọng và thờ phụng mà ngày nay vẫn còn đền thờ: như Lý Ông Trọng (Lý Thân) được thờ ở Chèm, (ngoại ô Hà Nội), như Đô Lỗ (Cao Lỗ), Đô Nồi (Nồi Hầu), giúp vua Thục An Dương Vương (năm 257-207 trước Tây lịch), ngày nay nhân dân vẫn hương khói thờ phụng tại Cổ Loa.

    Theo Thần tích đền Nghè (Hải Phòng) bà Lê Chân dựng đài thi võ, luyện vật cho ba quân, chiến đấu giúp Hai Bà Trưng (năm 40-43 sau Tây lịch) đánh đuổi quân Đông Hán Trung quốc. Đô Dương, Đô Chinh (Nguyễn Tam Chinh) đã là những bậc thày nổi tiếng trong làng xã trước khi ra giúp Hai Bà Trưng cứu nước. Khi chết, Đô Chinh được nhân dân nhớ ơn, vinh tôn là Thần Hoàng làng làng Mai Động (ngoại thành Hà Nội), thờ phụng cho đến ngày nay và được xưng tụng là ông tổ lò vật Mai Động.

    Nhân đây cũng xin nêu lên một chi tiết cần tìm hiểu thêm về Thành Hoàng làng Mai Động của các tác giả Văn Hạc trong bài “Lai Lịch Và Ý Nghĩa Hội Vật Làng Mai Động” đăng trong báo Trung Bắc Chủ Nhật, số 100 phát hành tại Hà Nội ngày 1 tháng 3 năm 1942 (trang 15, 16) và tác giả Toan Ánh trong tác phẩm Hội Hè Đình Đám, quyển thượng xuất bản tại Saigon năm 1969 (trang 61), các tác giả này đều cho Thành Hoàng Làng Mai Động là Bà Lê Chân, nhưng thần phả làng Mai Động và nhân dân làng này lại cho biết Thành Hoàng làng là lão đô Nguyễn Tam Chinh. (Bà Lê Chân và lão đô Nguyễn Tam Chinh đều là tướng lãnh của Hai Bà Trưng).

    Thần phả làng Mai Động ghi: Nguyễn Tam Chinh vốn người Thanh Hóa, vì chán cảnh mất nước, bỏ ra bắc tới Động Mơ tức Mai Động, thấy vùng đất lạ mới dừng lại mở trường dậy học. Ông thu nhận được 30 môn đồ, có sức khỏe, có kiến thức,truyền dậy cả văn cả võ để đợi thời cơ. Trong các môn võ thuật, ông chú ý dậy cho học trò cách thức đấu vật. Ngày ngày, trước sân trường, ông ngồi xem từng cặp luyện tập, chỉ cho họ những ngón sơ hở và truyền cho họ những miếng hiểm ác để hạ thủ đối phương. Lớp học càng ngày càng tấn tới. Khi Hai Bà Trưng hiệu triệu nhân dân nổi dậy khởi nghĩa đánh đuổi quân Tô Định, ông làm lễ tế trời đất rồi cùng học trò kéo quân lên phụ giúp Hai Bà Trưng và lập được nhiều chiến công. Già trẻ trai gái mở hội đón rước và tình nguyện xin theo Đô Chinh rất đông. Cũng từ đó môn vật được lưu truyền lại trong vùng. Hàng năm mỗi lần Tết đến, nhân dân ở nay lại tổ chức Hội Vật vào những ngày mồng 4, 5, 6 để tưởng nhớ người xưa.

    Truyền thuyết cũng kể rằng khi Hai Bà Trưng khởi nghĩa, nhiều đô vật Kinh Bắc (Bắc-giang, Bắc-ninh) đã cùng bà Thánh Thiên hưởng ứng nhiệt liệt và đã trở thành những tướng giỏi của Hai Bà. Thánh Thiên công chúa sau khi hy sinh đền nợ nước đã được nhân dân Ngọc Lâm (huyện Yên Dũng, Bắc Giang) thờ làm Thần Hoàng làng.

    Trước khi phát động quần chúng khởi nghĩa đánh giặc Đông Ngô, Bà Triệu (năm 248) đã lên núi Nưa mở trường thi võ, đấu vật, luyện kiếm, bắn cung nỏ, huấn luyện nghĩa quân sao cho mỗi người vừa có thể lực dồi dào, vừa tinh thông các môn võ nghệ, chiến đấu chống giặc, khiến kẻ địch khiếp vía phải thốt lên:

    Hoành giáo đương hổ dị
    Đối diện Bà vương nan!

    (Múa giáo chống hổ dễ, giáp mặt với vua Bà thực khó!)

    Dân gian ngày nay còn truyền tụng câu ca dao nói lên sự ủng hộ của quần chúng đối với “Nhụy Kiều tướng quân” Triệu Thị Trinh và ca ngợi tài đức của bà:

    Ru con con ngủ cho lành
    Để mẹ gánh nước rửa bành cho voi
    Muốn coi lên núi mà coi
    Coi bà Triệu tướng cưỡi voi bành vàng.

    Lý Bôn tức Lý Nam Đế (năm 544-548), Triệu Quang Phục, Mai Thúc Loan tức Mai Hắc Đế (năm 722)... đều có sức khỏe hơn người và nổi tiếng về vật đã lãnh đạo toàn dân nổi lên chống quân Trung quốc xâm lược. Phùng Hưng giỏi vật và quật chết được cọp dữ dược nhân dân tôn là Đô Quân, vua của các đô vật, và người em ruột của ông là Phùng Hải, giỏi vật không kém anh, được nhân dân tôn là Đô Bảo, tướng của các đô vật trong thiên hạ (4)

    Lò vật làng Quỳnh Đô đã nổi tiếng trong vùng ngay từ thế kỷ thứ VI, thời kỳ nhà Lương đang đô hộ Giao Châu. Tục ngữ có câu: “Lo vật Quỳnh Đô, rỏ cua Cổ điển” , Quỳnh Đô thuộc huyện Thanh Trì, tỉnh Hà Đông. Hồi còn son trẻ, lão đô Phạm Tu trước khi ra giúp vua Lý Nam Đế đánh đuổi quân nhà Lương, khai sáng nhà nước Vạn Xuân năm 544, đã từng học vật tại Quỳnh Đô. ông người làng Quang (tức làng Thanh Liệt, Thanh Trì, cùng quê hương với thày đồ cương trực Chu Van An) đã sang tập vật làng bên là Quỳnh Đô và trở thành một đô vật nổi tiếng trong vùng, nhân dân thường gọi là Đô Tu (có tài liệu ghi là Đô Hồ, vì tương truyền thần thánh đất Tây Hồ đã “ứng điềm lành” trong việc ông ra đời) (5)

    Nhân dân vùng Thanh Hóa ngày nay vẫn còn truyền tụng về lò vật nổi tiếng của Dương Đình Nghệ, nơi sản xuất ra nhiều đô vật giỏi ra giúp Ngô Vương Quyền đánh đuổi quân Nam Hán (năm 939), dựng nền độc lập lâu dài cho đất nước.

    Ngay khi giành được nền tự chủ lâu dài cho dân tộc, các triều đại Đinh, Lê, Lý, Trần và tiếp theo sau nữa, trong việc tổ chức quân độ gìn giữ bờ cõi, nhà nước đều coi trọng bộ môn vật, đã thiết lập trong quân ngũ nhiều đội vật, tổ chức thường xuyên đấu vật nhằm rèn luyện thể lực, lòng dũng cảm, tuyển lựa nhân tài và giải trí trong quân sĩ.

    Đội Đô vật Xuân Trường thời Trần đã góp phần tạo chiến công hiển hách thắng quân Mông Nguyên, một đoàn quân hung hãn, có lối vật Mông cổ nổi tiếng đương thời. Bà Liệt, Hoài Đức Vương, con tư sinh của Trần Thừa, em cùng cha khác mẹ của vua Trần Thái Tông, cũng đã từng là một đô vật có hạng trong đội vật nổi tiếng tại kinh đô Thăng Long.

    Sử cũ chép: “ Nhâm Thìn, năm Thiên Ứng chính bình thứ I (1232) (nhà Tống , năm Thiệu Định thứ 5). Tháng Giêng, mùa Xuân mới sắp xếp nghi lễ trong triều:

    Phong cho em là Bà Liệt tước Hoài Đức Vương.

    Thượng hoàng lúc còn hàn vi, có lấy một người con gái ở thôn Bà Liệt, huyện Tây Chân, khi đã có thai thì bỏ, sau sinh con trai, Thượng hoàng không nhìn nhận gì đến. Người con trai ấy lúc lớn lên, mặt mũi khôi ngô, giỏi nghề võ, sung vào đội đánh vật. Một hôm, cùng với người trong đội đánh cầu, rồi lại cùng nhau đánh vật, người kia vật người con trai ấy ngã, chẹn lấy cổ, gần tắt thở, Thượng hoàng tự nhiên quát to lên rằng: “ Nó là con ta nay! “Anh kia sợ, buông ra, nhân thế gọi tên là Bà Liệt. Nay có lệnh phong tước cho (6)

    Trong binh đội của triều đình nhà Lê, đô vật được chia làm nhiều loại từ thấp đến cao với những cấp bậc, tên gọi khác nhau, lịch trình đấu vật hàng năm và cách thi vật tại kinh đô Thăng Long được Phan Huy Chú ghi rõ ràng trong sách Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí như sau:

    -“Hàng năm, khi Tế cờ xong, sai hai viên quan võ coi thi đánh vật (một viên quản binh thị hậu, một viên quản ngoại binh). Trước khi thi Đô và Sứ ba keo, rồi Đô và Sứ mới cử tử đệ rat hi. Những người mới tiến cử cùng đấu với nhau, ai thắng ba keo thì cho đấu với Xa. Thắng Xa ba keo thì cho đấi với Dù. Tuy thắng Dù ba keo, cũng không được đấu với Sứ. Lực đấu với Lực thắng ba keo thì cho đấu với Xa, thắng Xa ba keo, cho đấu với Dù, thắng Dù ba keo, cho đấu với Sứ. Tuy thắng Sứ ba keo, cũng không được đấu với Đô. Nội lực sĩ đấu với Nội lực sĩ, thắng ba keo, thì cho đấu với Xa, thắng Xa ba keo, cho đấu với Dù, thắng Dù ba keo, cho đấu với Sứ, thắng Sứ ba keo, cho đấu với Đô. Người mới tiến cử đấu với Dù thắng hai keo trở lên, thì cho làm danh tướng ở Dù, đấu với Xa thắng hai keo trở lên, cho làm danh tướng ở Xa, đấu với Lực thắng hai keo trở lean, cho làm danh tướng ở Lực. Lực đấu với Dù thắng hai keo trở lên, cho làm danh tướng ở Dù, đấu với Xa thắng hai keo, cho làm danh tướng ở Xa. Nội lực sĩ đấu với Xa, thắng hai keo, cho làm danh tướng ở Xa, đấu với Dù thắng hai keo, cho làm danh tướng ở Dù. Người nào thắng Sứ hai keo, cho chức phó đề hạt; thắng Đô hai keo, cho chức đô úy. Sứ thắng Sứ ba keo, cho đấu với Đô; thắng Đô một keo, dẫu có thua một keo, cũng cho thăng chức. Đô mà thắng Đô, không thua keo nào, cho chức Đô úy. (chú giải: Đô, Sứ: các tay vật cao cấp; Xa: có lẽ là quân ở các độ Tứ xa; Dù: có lẽ là quân các độ Bả dù; Lực: tên những đội quân, ví như Lực, Hành)” (7)

    Một giai thoại về Trạng Vật dưới triều vua Lê Thánh Tông đã được Vũ Phương Đề ghi lại năm 1755 trong tác phẩm Công-Dư Tiệp-Ký như sau:

    Ông Võ-Phong người làng Mộ-Trạch là em quan Thượng Võ-Hữu, nguyên người có tướng ngũ-đoản (chân tay, tai, mắt, miệng, mũi, 5 thứ đều ngắn và nhỏ, còn người thì thấp) nhưng rất giỏi về môn đấu vật. Đời vua Lê Thánh-Tông (1460-70) nhân có một hôm ông ra kinh thành Tràng-An gặp lúc vua đang ngự triều, ông thấy có viên Đô-lực sĩ vác chiếc chùy đồng đứng hầu có vẻ dương dương tự đắc! ông bèn quay lại hỏi bạn: này bác người kia là ai? có tài cán chi? mà dám ngang nhiên như vậy.

    Bạn đáp: Người đó là một võ sĩ sở trường về môn đánh vật, hiện thời không ai địch nổi! như vậy cũng là một cách để tiến thân đó!

    Nghe bạn kể xong ông lại hỏi rằng: nếu vậy ngày mai tôi muốn cùng y so tài cao thấp phỏng có được không?

    Bạn nghe xong vội vàng can rằng: người ta cao lớn thế kia mà bác thì bé loắt choắt như vậy! sợ khi đối thủ lại làm trò cười cho thiên hạ đó thôi!

    Ông mỉm cười đáp: điều đó xin Bác đừng ngại. Tôi đây bản lĩnh rất cao cường! từ trước đến giờ chưa ai thắng nổi. Còn y chẳng qua chưa gặp địch thủ nên mới nổi danh, nhưng nay gặp tôi rồi Bác thử coi tôi sẽ thắng y một cách rất dễ đó! Nói xong ông bèn viết một bản tấu xin cùng lực sĩ so tài.

    Hoàng Thượng xem tấu phán rằng: lực sĩ của ta tuyển lựa trong muôn ngàn người mới được có một! hỏi có ai hơn được nữa? thế mà anh kia tài nghệ ra sao lại giám to gan lớn mật như vậy? nhưng rồi Ngài cũng phê chuẩn và định ngày giờ tỉ thí để Ngài thân ngự ra coi.

    Thế rồi đến hôm tỉ thí, trong lúc đôi bên còn đương vờn nhau biểu diễn, thì ông quờ ngay xuống đất lấy một ít cát nắm kín trong lòng bàn tay, thừa lúc vô tình ném thẳng vào mặt địch thủ. Lực sĩ vừa nhắm mắt lại thì nhanh như chớp, ông đã dùng miếng Xuyên Trừu, một tay thọc nách một chân đệm phía sau lưng, đẩy mạnh một cái khiến cho Lực sĩ mất đà bị nằm phơi bụng ngay trên mặt đất (Theo lệ đua vật, hễ ai bị nằm ngửa bụng mới gọi là thua, còn nằm sấp bụng thì không kể). Thế là ông đã thắng cuộc một cách dễ dàng! khán giả hoan hô nhiệt liệt.

    Lúc ấy Hoàng-Thượng ở trên đài trông xuống thấy ông quật đổ Lực sĩ mau lẹ như vậy, Ngài cũng tấm tắc khen là một tay Thần dũng, rồi sai lột chức Đô Lực-sĩ để phong cho ông; dần dần ông được thăng đến Cẩm-Y -Thị-Vệ Úy-ty Chỉ-huy-Sứ, nổi tiếng là người chính trực siêng năng... làm Trạng đô vật... (8)

    Sử cũ cũng ghi chuyện Mạc Đăng Dung, người tạo dựng triều đại nhà Mạc (1527-1667), từng là một ngư phủ nghèo hèn, nhờ tài vật khéo léo mà nổi danh, bước tiến vào quan trường leo từ võ tướng lên đến bậc đế vương (9)

    Một giai thoại nữa về vật có liên quan đến Mạc Đăng Dung được hai tác giả Phạm Đình Hổ và Nguyễn Án trong tác phẩm Tang Thương Ngẫu Lục thế kỷ XIX ghi lại như sau:

    Triều trước, ông Lê Tuấn Mậu, người làng Xuân Lội, huyện Yên Phong làm quan đến chức Đô Ngự Sử. Bấy giờ Mạc Đăng Dung do sự đánh vật mà được làm nên quan to. Ông nhiếc hắn rằng:

    - Anh đừng cậy sức, ta rất có thể như thế được, nhưng không thèm làm nay thôi.

    Đặng Dung tức, xin với vua cùng ông đấu sức, ông hăng hái nhận lời, bôi mỡ vào mình, cài kim vào tóc và khố, vật cho Đặng Dung ngã suýt chết.

    Khi Đăng Dung cướp ngôi, ông thác bệnh không ra. Y cố mời mãi, ông bảo người đỡ vực vào triều, rồi nhổ vào mặt hắn mà chết. (10)

    Vào thế kỷ XVI, có một giai thoại về quan Thượng thư mê vật như sau: Thượng thư Nguyễn Doãn Khâm thời nhà Mạc,vốn là một đô vật. Một ngày Xuân nọ đi qua làng Giao Tất (Gia Lâm Bắc Ninh) mởù hội đầu năm, thấy một đô vật đã ba ngày liền giữ giải làng. Ông dừng lại và xin vào đọ sức. Đô vật đang giữ giải giận lắm, định bụng vật ông ngã ngay tức khắc. Song chỉ một keo, ông đã làm cho đô vật ấy lấm lưng, trở tay không kịp. Anh ta liền bái phục, xin nhường lại giải cho ông. Nhưng ông không nhận. Đó là một giai thoại mà nhân dân hay truyền tụng để nói lên tinh thần thượng võ và tính khiêm tốn, thương yêu lẫn nhau giữa các đô vật (11)

    Trên phần lớn các cột kèo, hoành phi, bình phong bằng gỗ quí tại đình, chùa, đền, miếu ở miền Bắc xưa các nghệ sĩ dân gian thường trang trí, chạm trổ, tạc khắc những cảnh sinh hoạt, hội hè đương thời, và đấu vật là một đề tài không thể thiếu trong những trang trí này.

    Tác giả Bàng Bá Lân có bài thơ "Vô Địch" nói về đấu vật như sau:

    Vô Địch

    Trên sân cỏ trưôc đình, hai đấu thủ.
    Hai tượng đồng - đối mặt đứng khom khom.
    Bốn cánh tay dang thẳng đợi giao đòn;
    Bốn chân vững như chôn liền xuống đất.
    Họ lăn lẳn nhìn nhau vào tận mặt.
    Bắp thịt căng, cuồn cuộn nổi như thừng.
    Mắt gườm gườm như cọp dữ tranh hùng.
    Cằm chành bạnh, tay chờn vờn giữ miếng.
    Bỗng như chớp, cà hai cùng chồm đến.
    Nắm tay nhau giật, lắùc, vặn tơi bời..
    Tùng, tùng... tùng. Trống vật giục liên hồi.
    Cuộc giao đấu đã tới màn gay cấn:
    Anh "Khố Đỏ", to con hơn chèn lấn
    Ghì đối phưóng muốn nghẹt thở rơi xương.
    Nhưng "Khố Đen" luồn mau lẹ dị thường
    Như lươn trạch, thoát vòng tay địch thủ.
    Cuộc đấu sức vẫn chưa phân thắng phụ,
    Mọi ngón đòn ác liệt được đưa ra.
    Mồ hôi nồng thoa mỡ bóng làn da.
    Bỗng "Khố Đỏ" vung tay như trăn gió.
    Quấn chặt cứng lấy cánh tay đối thủ,
    Còn tay kia quờ rộng bắt ngang chân
    "Khố Đen" vùng nhẩy vọt vượt qua tầm
    Tránh thoát kịp, và tung đòn hiểm độc.
    Hắn húc mạnh đầu đối phương nghe "cộp"
    "Khố Đỏ" bất ngờ lộng óc, chùn chân,
    Mắt hoa lên, lỏng hở cánh tay thần
    "Khố Đen" lẹ luồn nhanh vào bụng địch,
    Chuyển thần lực, đội bổng trăm cân thịt
    Quay một vòng và quật ngửa tênh hênh
    Tiếng hò reo vang rộn cả sân đình.
    Hoan hô kẻ vừa thắng vòng chung kết. (12)


    V/ ĐOẠN KẾT

    Xuân đã hết, ai nấy lại tiếp tục công việc đồng áng và hẹn gặp nhau trong những ngày Xuân năm sau.

    Điểm ghi nhận nơi đây là các đô vật nông dân xưa có một tinh thần thượng võ đáng kính trọng, họ ganh đua nhau trong tài cao thấp, kẻ thắng người bại đều hả hê vui vẻ, khâm phục nhau thật sự, không hận thù ghen ghét. Mặc dù phần thưởng các giải vật không đáng giá bao nhiêu so với công lao lặn lội từ xa xôi và sắm sửa lễ vật mang đến, họ vẫn náo nức, hăng say rủ nhau đến phá giải. Hễ nghe thấy nơi nào, làng nào mở Hội Vật nhất nhất họ cũng hẹn hò, lặn lội rủ nhau đến dự để đua sức, để xem mặt biết tên người vô địch.

    Vật cổ truyền Việt Nam có xu thế thiên về các đánh và đỡ ở thế thấp. Tuy nhiên, vật Việt Nam cũng có sử dụng các miếng ở thế đánh cao như Đội, Sườn, và nhiều miếng đánh khác đòi hỏi kỹ thuật cao, nhưng nói chung ít được dùng. Và dù ở thế, miếng nào, thấp hay cao, đều dùng tài nghệ làm cho đối phương té ngã “lấm lưng trắng bụng”. loại trừ những lối đánh ác hiểm. Điều này đã trở thành đạo lý và phong tục trong làng vật Việt Nam xưa. Nhờ vậy, tuy trong từng làng xã chưa có luật lệ đấu vật thành văn rõ ràng, nhưng từ các đô vật tới người xem trước nay đều coi những lối đánh ác hiểm là xấu, là hèn, trái với tinh thần thượng võ chân chính. Những đô vật có kỹ thuật cao, có miếng đánh sáng tạo, điêu luyện, được nhân dân quí mến, tuổi trẻ tin theo, triều đình mộ dụng vậy.

    Chú thích

    (1) Pierre Gourou, Les paysans du delta tonkinois, Paris, Monton et Ce Lahay, 1965.
    (2)Vật Việt Nam, Tổng cục Thể Dục Thể Thao, Ha Nội, 1974, trang 9.
    (3) Toan Ánh, Phong Tục Việt Nam, nhà XB Xuân Thu tái bản tại Los Alamitos USA, trang 230.
    (4) Lý Tế Xuyên, Việt Điện U-Linh Tập, bản dịch của Lê Hữu Mục, Saigon, nhà sách Khai Trí, 1960, trang 49.
    (5) Trần Quốc Vượng (chủ biên), Nghìn Xưa Văn Hiến, TẬP I, tái bản lần 1, Hà Nội, nhà xuất bản Hà Nội, 2000, trang 133..
    (6) Quốc Sử Quán thế ky XIX, Việt Sử Thông Giám Cương Mục,(chinh tên là “Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục”) Chính biên, quyển 6-8, tập V, Tổ Biên Dịch: “Ban Nghiên Cứu Văn Sử Địa “ biên dịch và chú giải, Hà Nội, nhà xuất bản Văn Sử Địa, 1958, trang 455.
    (7) Phan Huy Chú, Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí, tập IV Binh Chế Chí, Văn Tịch Chí, Bang Giao Chi, bảng sách dẫn, Viện Sử Học Việt Nam phiên dịch và chú giải, Đào Duy Anh hiệu đính, Hà Nội, nhà Xuất bản Sử Học, 1961, trang 34-35.
    (8) Vũ Phương Đề, Công-Dư Tiệp-Ký, quyển I, dịch giả Tô Nam Nguyễn Đình Diệm, in lần thứ nhất, Saigon, Bộ Quốc Gia Giáo Dục xuất bản, 1961, trang 17-19.
    (9) Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, mộc bản khắc năm Chính Hòa thứ 18, tập III, Hoàng Văn Lâu và Ngô Thế Long dịch và chú thích, Hà Nội, nhà xuất bản Khoa Học Xã Hội, 1993, trang 109
    (10) Phạm Đình Hổ

    Hai đô vật này hơi bị "chã"
    YouTube Video - Lichsuvn.info
    ERROR: If you can see this, then YouTube is down or you don't have Flash installed.

  7. #5
    Tham gia ngày
    12-07-2010
    Nơi Cư Ngụ
    Thăng long
    Bài gởi
    761
    Thanks
    974
    Thanked 443 Times in 228 Posts

    Default

    Triệt quyền đạo

    Triệt quyền đạo là một môn võ thuật chú trọng đến hiệu quả và thực tế.Tên tiếng Anh là Jeet Kune Do.

    Nguồn gốc

    Người sáng lập là Lý Tiểu Long với sự kết hợp các môn võ Trung Hoa (như Vịnh Xuân Quyền) và các môn thể thao phương tây (như quyền anh, thể dục thể hình,...) và quan trọng hơn bộ tấn và cách di chuyển của tiệt quyền đạo được lấy từ môn đấu kiếm của phương tây[cần dẫn nguồn].

    Tên của môn võ này chữ Hán là 截拳道. Nếu dịch theo đúng nghĩa Hán Việt thì phải đọc là Tiệt quyền đạo. "Tiệt" có nghĩa là "cắt đứt" hay "một đoạn". Ý nghĩa này theo Lý Tiểu Long là vì môn võ khi đánh cắt đứt đường quyền của đối thủ, trước khi đối thủ có thì giờ phản ứng. Tuy nhiên, nhiều người dịch lầm là Triệt quyền đạo, với ý tưởng là "triệt tiêu" địch thủ. Tên này nghe hay hơn nên trở nên phổ thông ở Việt Nam, mặc dù không đúng ý nghĩa của người sáng lập là Lý Tiểu Long.

    Nguyên tắc

    Hãy vứt đi mọi thứ bạn có, bỏ đi những khái niệm đã ăn sâu vào đầu bạn để lấy tự do. Cái tự do đó sẽ giúp bạn hiểu biết tất cả những gì bạn đã bỏ đi, và rồi tiến tới hiểu thêm cả những gì bạn chưa biết.

    Tiệt Quyền Đạo không có nội quy hay nguyên tắc gì ràng buộc bạn cả, nó chỉ cho bạn hướng để phát triển một cách không hạn chế. Bạn học Tiệt Quyền Đạo để sử dụng và cũng không cần nhớ là mình học môn gì.

    Hình thức phi hình thức là sự yêu cầu trau dồi các kỹ năng rồi tiến tới không cần đến chúng, chỉ còn lại sự giản dị đến không ngờ.

    Các kỹ thuật

    Luyện tập và khởi động

    Phải có chương trình luyện tập hiệu quả cho cả tuần.

    Luyện tập không nhất thiết cứ phải có giờ giấc, bạn có thể tranh thủ bất cứ lúc nào để luyện tập, như đi bộ đến chỗ nào, tranh thủ trèo cầu thang thay cho đi thang máy...

    Khởi động phải bám sát buổi tập, như buổi tập này bạn dự định tập chân thì nên khởi động kỹ từ hông đến gót chân.

    Bạn đang hướng tới mục địch hiệu quả chứ không phải thể hình vì vậy phải tránh việc luyện những cơ bắp gây cản trở lực đánh hay sức bật.

    Tư thế thủ

    Một tư thế thủ phải đảm bảo thích hợp để sử dụng các kỹ năng và giúp cơ thể thư giãn hoàn toàn. Chúng đòi hỏi ba điều:

    Bảo đảm cho cơ thể và các bộ phận có thể dễ dàng chuyển động kế tiếp.

    Giữ các dấu hiệu hành động một cách kín đáo nhất.

    Tạo cơ thể có tính hiệu quả nhất trong các phản ứng nhanh và phối hợp cao.

    Đầu như đầu một võ sĩ Quyền anh.

    Cánh tay trước và bàn tay: bàn tay luôn thay đổi khoảng cách từ tầm thấp đến tầm cao nhưng cánh tay phải luôn ở tầm trung.

    Cánh tay sau và bàn tay: khủyu tay hơi hạ thấp bàn tay hơi tựa vào người nhưng luôn giữ sao cho bàn tay có thể che kín cả thân hình.

    Thân hình: tùy thuộc vào vị trí của bàn chân và ống chân trước nhưng cố sao cho để tiết diện tấn công bên đối thủ là nhỏ nhất.

    Bộ pháp: đứng hơi khom mình là tư thế hoàn hảo vì toàn thân được nối kết chắc chắn, luôn giữ vững thăng bằng để có thể tấn công, phản công, phòng thủ mà không cần cử động mào đầu.

    Động tác chân


    Nguyên tắc chiến đấu chính là nghệ thuật di chuyển để tìm kiếm mục tiêu hoặc tránh khỏi tầm đánh của đối phương.

    Kỹ thuật chân là sự giữ thăng bằng trong hành động, nó giúp tung ra những đòn có uy lực và tránh sự phản kích của đối thủ.

    Kỹ thuật chân chia các các phần:

    Động tác rê chân: lướt đôi bàn chân trên mặt đất sẽ giúp phát triển tốc độ và sự uyển chuyển.

    Động tác tiến nhanh ra phía trước: giúp di chuyển thân mình nhanh nhẹn.

    Triệt thoái nhanh là kỹ thuật ngược lại với tiến nhanh giúp cho cơ thể tránh khỏi tầm đánh của đối phương một cách nhanh nhất.

    Bước ngang là kỹ thuật di chuyển thân mình sang phải hay trái mà không bị mất thăng bằng. Đây là một thao thác phòng thủ cốt tủy, an toàn và tạo được cơ hội để phản công bất ngờ.

    Các tính trong Triệt quyền đạo

    Tính chuẩn xác

    Là sự đạt được đúng đắn động tác nhằm diễn tả mức thích đáng của động tác phóng ra mà sức lực thực hiện ít nhất. Nếu sức lực thực hiện ít nhất mà có tốc độ nhanh nhất có thể thì các bạn sẽ không nắm chắc được thành công khi ra đòn.Yêu cầu phải có tốc độ nhanh khi ra đòn.

    Tính uy lực

    Uy lực không hoàn toàn chỉ là sức mạnh mà nó là sự kết hợp giữa sức mạnh – thời điểm – tốc độ. Nếu bạn tăng tốc cho một đòn đánh thì đòn đánh đó tăng uy lực lên mặc dù độ co kéo của cơ bắp vẫn không đổi.
    Để kết hợp tốt sức tung ra với lợi ích hành động, các xung lực thần kinh gồm một số lượng sợi vừa đủ được chuyển đi để tác động thúc đẩy hoạt động cơ bắp đúng lúc. Đồng thời các các xung lực cũng tác động vào các cơ bắp nghịch ứng làm giảm nhẹ sự đề kháng. Tất cả các hoạt động này sẽ tạo nên hiệu quả và đưa tới sự xử dụng uy lực tốt nhất.

    Tính bền bỉ

    Sự bền bỉ được tạo ra khi những người luyện tập cố vượt quá chính bản thân giới hạn của mình một cánh thường xuyên.
    Các bài tập tính bền bỉ là những bài tập khó khăn và phải được giám sát cũng như gia tăng từ từm mỗi đòn trong triệt quyền đạo được tập rất nhiều lần và trong thời gian dài

    Tính thăng bằng

    Tính thằng bằng là trạng thái ổn định của cơ thể dù đang ở tình trạng hành động hay đứng yên.
    Thăng bằng chỉ có khi cơ thể ở trong thế thẳng hàng thích hợp. Bàn chân, ống chân, thân hình và đầu giữ phần quan trọng nhất để tạo lập và duy trì tư thế thăng bằng. Các bàn chân cần giữ được tương quan thích hợp với nhau và thích hợp với thân hình mới tạo cho cơ thể vào thế thẳng hàng chuẩn xác.
    Luyện phối hợp đấm đá, trong lúc tiến, lui, đổi hướng với tốc độ, uy lực tối đa, đồng thời luyên giữ vững tư thế thăng bằng hoặc lấy lại tư thế thăng bằng một cách mau chóng nhất.

    Tính cơ thể tự cảm nhận

    Là việc cơ thể tự cảm nhận mình và đối thủ, xem xét tư thế của mình có phù hợp không và của đối thủ đang có biển hiện gì.
    Tính cơ thể tự cảm nhận sẽ làm nẩy ra tác động hỗ tương thích hòa hợp giữa thân xác và thân hình trong một nhịp điệu không thể tách rời.

    Tính thị giác dự báo

    Học nhận thức cực mau bằng mắt là bước mở đầu căn bản. Để luyện tập cần thực hành hàng ngày bài tập nhìn lẹ, ngắn và tập trung.
    Làm động tác giả và đánh nhử là phương pháp khiến đối thủ phải do dự trước khi hành động.

    Tính tốc độ
    Tốc độ là một trạng huống phức tạp, nó bao hàm cả thời gian nhận thức lẫn thời gian phản ứng. Tình thế phản ứng càng phức tạp thì tốc độ lại càng chậm.
    Tốc độ được chia thành năm loại:
    _Tốc độ chi giác: Nhanh mắt thấy ngay các kẽ hở và đánh trực diện vào điểm yếu ( kẻ hở ) cho đối thủ nản chí, bối rối và trở lên chậm chạp.
    _Tốc độ tâm lý: Phán đoán nhanh để có ngay cử động hợp thời nhằm vô hiệu hóa đối thủ và phản công.
    _Tốc độ khởi đầu: Khởi đầu nhẹ nhàng từ tư thế đúng và phong cách tinh thần đúng.
    _Tốc độ thể hiện: Động tác nhanh để đưa cử động tới chính xác và hiệu quả. Bao gồm cả tốc độ co cơ thực sự.
    _Tốc độ biến đổi: Khả năng chuyển hướng giữa chừng, bao gồm cả sự làm chủ tính thăng bằng và thói quen chậm chạp.
    Để gia tăng tốc độ cần lưu ý đến năm đặc tính:
    _Tính lưu động.
    _Tính bật nẩy, đàn hồi và mềm dẻo.
    _Tính đề kháng đối với sự mệt mỏi.
    _Tính cảnh giác về tâm lý và thể chất.
    _Tính tưởng tượng và dự báo.
    Các yếu tố tạo thành tốc độ tối đa bao gồm:
    _Sự khởi động giúp tăng tính đàn hồi, mềm dẻo và điều chỉnh toàn thân đạt một nhịp độ _sinh học cao hơn (nhịp tim, huyết áp, hơi thở).
    _Sự co cơ lúc đầu và sự co cơ từng phần.
    _Tư thế đứng thích hợp.
    _Sự tập trung chú ý thích hợp.
    Giảm nhẹ sự tiếp nhận kích thích để đạt tới thói quen tri giác mau lẹ, đồng thời giảm bớt những động tác bị thúc đẩy để tiến tới thói quen phản ứng nhanh.
    Một số nguyên tắc chi phối tính tốc độ:
    _Bán kính ngắn tạo động tác nhanh.
    _Vòng cung dài hơn cho xung lực toàn vẹn.
    _Sức nặng ở tâm điểm cho tốc độ hồi chuyển và gia tăng tốc độ bởi các động tác trùm phủ đồng qui và nối tiếp.

    Tính đúng lúc
    Tốc độ và tính đúng lúc bổ sung hiệu quả cho nhau vì đòn đánh mạnh mà không trúng đích thì sẽ là vô hiệu.
    Thời điểm phản ứng là khoảng thời gian giữa tác nhân kích thích và sự đáp ứng.
    Thời gian chuyển động là thời gian cần để hoàn tất một động tác.

    Điệu, nhịp và tiết tấu

    Điệu là sự diễn biến giữa các đấu thủ cố theo đuổi mọi động tác của nhau tạo thành những cặp đồng điệu. Nếu một đối thủ phá vỡ điệu này sẽ tạo ra sự chênh lệch nhất thời gây tổn thương.
    Nhịp là sự kiểm xoát được tốc độ của đối thủ nhằm tạo tốc độ của mình phù hợp với đối thủ, lúc đó khả năng chi phối trận đấu nằm trong tay người điều khiển.
    Tiết tấu là quy luật của chuyển động, khi một đối thủ bị nắm bắt tiết tấu thì khó có thể kháng cự lại.

    Hình thức tốt

    Là việc làm chủ những tư thế những nền tảng thích hợp và ứng dụng liên tục chúng.
    Hình thức tốt là cách hữu hiệu nhất để hoàn tất mục đích của một lần thể hiện động tác mà không cần di động nhiều và hoang phí năng lực.
    YouTube Video - Lichsuvn.info
    ERROR: If you can see this, then YouTube is down or you don't have Flash installed.

  8. #6
    Tham gia ngày
    12-07-2010
    Nơi Cư Ngụ
    Thăng long
    Bài gởi
    761
    Thanks
    974
    Thanked 443 Times in 228 Posts

    Default

    Vịnh Xuân quyền

    Vịnh Xuân quyền (Wing Chun, ving tsun, Wing Tsun, Wing Chun kuen, Wingchun-kuen) , Vịnh Xuân Công Phu hay Vịnh Xuân phái , là một môn võ thuật có nguồn gốc từ Nam Thiếu Lâm tại tỉnh Phúc Kiến, Trung Quốc. Bên cạnh thiểu số cho rằng rất có thể môn phái đã có lịch sử không dưới 400 năm, hầu hết đều khẳng định nguyên khởi Vịnh Xuân quyền từ phong trào phản Thanh phục Minh cách đây chừng 2 thế kỷ. Môn phái đã du nhập đến các quốc gia lân cận và phương Tây trong thời hiện đại, sau khi sự thành đạt của Lý Tiểu Long trên màn ảnh những thập niên 70 đã giúp phát dương quang đại hình ảnh môn phái khắp thế giới, đưa Vịnh Xuân quyền từ chỗ chỉ được truyền dạy âm thầm trong các gia tộc trở thành một trong những phái võ thuật được nhiều người biết đến và say mê luyện tập nhất, với hàng triệu đệ tử và hàng chục chi phái trên toàn thế giới

    Lịch sử và tên gọi của môn phái

    Cho đến nay, những cứ liệu lịch sử chính xác về quá trình hình thành, phát triển của môn phái vẫn còn chìm trong mây mù của thời gian. Nhưng có một điểm hầu hết các thuyết đều thống nhất, đó là thời gian ra đời của môn phái nằm trong khoảng giai đoạn phong trào phản Thanh phục Minh ở Hoa lục, cách ngày nay trên dưới 200 năm, đang phát triển rầm rộ. Chi tiết hơn về niên đại, Vương Thái trong Sổ tay Võ thuật còn viết: "Võ phái Vịnh Xuân ra đời gần 2 thế kỷ, vào năm Gia Khánh đời Thanh (1810), thuộc Nam Phái Thiếu Lâm".

    Một số học thuyết về lịch sử môn phái đã nhấn mạnh vai trò sáng tổ của các nhân vật có liên quan đến phong trào khởi nghĩa dưới ngọn cờ khôi phục Minh triều thông qua việc chiết tự tên môn phái. Theo đó, chữ Xuân 春 được hiểu bao gồm 3 chữ Đại,Thiên và Nhật (ánh sáng bao la khắp gầm trời) ngầm ý chỉ nhà Minh, và chữ Vịnh có ý nghĩa ca ngợi.

    Một thuyết khác cho rằng tổ sư của môn phái võ Vĩnh Xuân quyền là Nghiêm Vịnh Xuân, con gái của Nghiêm Nhị, học trò của Ngũ Mai lão sư thái. Sau đó Nghiêm Vịnh Xuân truyền lại cho chồng là Lương Bác Trù, Lương Bác Trù sau đó phát triển môn võ và đặt tên là Vịnh Xuân Quyền.

    Một thuyết khác lại cho rằng, Vịnh Xuân Quyền bắt nguồn từ một người hát kịch và giỏi võ thuật dưới triều Hoàng Đế Ung Chính (1723-1736) tên là Trương Ngũ, tự Than Thủ Ngũ ở Hồ Nam đến Phật Sơn truyền lại môn võ này và rồi truyền từ Than Thủ Ngũ tới Hoàng Hoa Bảo, Lương Nhị Để và Đại Hoa Diện Cẩm (A Cẩm).

    Đặc điểm

    Bàn về hệ thống kỹ thuật của Vịnh Xuân quyền, trên sự quan sát bề nổi của nhiều người, đó là cảm nhận về một hệ thống khá đơn giản với vài ba bài quyền, một bài côn, một bài đao và một bài mộc nhân thung. Thật hiếm có một võ phái nào khác chỉ dựa trên nền tảng một vài bài quyền và bài binh khí như vậy. Tuy nhiên, Vịnh Xuân quyền không nhấn mạnh vào tính hình thức và do đó rất khó khăn để trở thành một hệ thống để biểu diễn. Các bài quyền không phản ánh tính chất quy ước cho các chiêu thức, phân thế cụ thể từng chiêu tấn công hay phòng thủ (chẳng hạn như một số võ phái dạy đòn thế theo kiểu khi đối phương đấm thì ta đỡ thế nào và phản công ra sao), mà là những nguyên lý tấn công và phòng thủ rất cần sự sáng tạo của môn sinh khi ứng dụng thực chiến.

    Theo những võ sư Vịnh Xuân lão luyện, yếu lĩnh tự nhiên tính được đề cao hàng đầu, vì vậy những người cố gắng theo đuổi vẻ đe dọa bên ngoài của động tác sẽ không bao giờ phát triển được trong môn võ này. Kỹ thuật các dòng Vịnh Xuân quyền trên thế giới cho thấy tính chất "đại đồng tiểu dị" với những điểm giống nhau là căn bản, bao gồm trong nó những nguyên lý xuyên suốt khi luyện tập các bài quyền; khái niệm "xả kỷ tòng nhân" (quên mình theo người), "thính kình" (nghe lực), "tâm ứng thủ” (khi đầu óc nghĩ đến một đòn đánh là chân tay thực hiện thành công); hệ thống đòn chân không có đá xoay người hay đá bay; hệ thống thủ pháp nhu nhuyễn nhưng nhanh và mạnh như roi quất; tấn pháp kiềm dương mã tự, xước mã (đạp bộ); công phu niêm thủ, niêm cước, trao đổi thân, niêm côn và đao; và các bài luyện tập trên mộc nhân trang.

    Quyền pháp

    Hệ thống quyền của môn phái theo truyền thống khá đơn giản với ba bài quyền ứng với trình độ môn sinh từ sơ cấp, trung cấp đến cao cấp gồm: Tiểu Niệm Đầu, Tầm kiều và Tiêu chỉ. Khác với chi phái tại Hồng Kông, tại Quảng Đông bài Tiêu chỉ được dạy trước bài Tầm kiều. Nhiều dòng phái Vịnh Xuân hiện nay có chương trình quyền pháp khá khác biệt, với những bài như Thập nhị thức, hệ thống Ngũ hình quyền, Vĩnh xuân quyền (bài quyền), Khí công quyền (còn gọi là Vịnh xuân khí công, Bối khí quy chi), Hạc hình thủ bộ, Tiểu mai hoa, Đại mai hoa v.v. và có thể không có hai bài Tầm kiều, Tiêu chỉ. Tuy nhiên, những bài tập rời với những nguyên lý, kỹ pháp của Tầm kiều, Tiêu chỉ vẫn được truyền dạy như cơ bản công và cơ bản kỹ thuật trong suốt những năm tháng môn sinh đến với Vịnh Xuân quyền. Theo Đại sư Nam Anh trên quan điểm của Vịnh Xuân quyền Việt Nam, ba bài tập thịnh hành trong hệ Vịnh Xuân quyền Hồng Kông hiện nay (ý nói Tiểu Niệm Đầu, Tầm Kiều và Tiêu chỉ) thực chất không thể coi là các bài quyền, mà là ba giai đoạn trong tiến trình luyện tập của môn sinh.

    Kiều thủ - Kỹ pháp đặc trưng

    Hệ thống quyền pháp của Vịnh Xuân quyền xuất phát từ Nam Thiếu Lâm tại tỉnh Phúc Kiến mà kỹ pháp đặc trưng của nó là hệ thống Kiều thủ (phát âm theo âm Quảng Đông là Kìu Sẩu) là đoạn xương cánh tay trước từ cổ tay đến cùi chỏ dịch nghĩa sang tiếng Anh là the Bridge Hand Techniques hay the Bridge Arm Techniques.

    Hầu hết các võ phái tại miền Nam Trung Hoa bắt đầu từ bờ phía Nam sông Trường giang (Dương Tử Giang) trở xuống, tức là bao gồm các tỉnh Phúc Kiến, Quảng Đông, Quảng Tây, Tứ Xuyên, Vân Nam, ... đều có nguồn gốc từ ngôi chùa Nam Thiếu Lâm tại tỉnh Phúc Kiến, do vậy các hệ thống kỹ thuật đòn tay đều dùng chữ Kiều và bộ tấn dùng chữ Mã bộ ám chỉ bộ chân di chuyển và gọi tắt là Kiều Mã (Kiều phải chắc chắn, Mã phải vững vàng) do vùng miền Nam Trung Hoa sông nước nhiều và thường đánh nhau trên ghe, thuyền nên phải trụ bộ một chỗ đánh.

    Trong Thiếu Lâm Hồng gia thường có câu : Ổn Mã Ngạnh Kiều 穩馬硬橋, Trường Kiều Đại Mã 长橋大馬, Đoản Kiều Tiểu Mã 短橋小馬, tạm dịch là Ngựa Vững Cầu Cứng, Ngựa Lớn Cầu Dài, Ngựa Nhỏ Cầu Ngắn, nghĩa là bộ tấn vững chãi đòn tay rắn chắc, đòn tay dài với bộ tấn rộng thấp, đòn tay ngắn với bộ tấn nhỏ hẹp và cao (Cao Mã).

    Về chiến đấu pháp trong Thiếu Lâm Hồng gia lại có câu: Xuyên Kiều Tranh Mã Xích Thân Trửu 穿橋爭馬尺身肘, nghĩa là chủ về lối đánh trụ bộ (một chỗ) cận chiến và nhập nội nhiều hơn, Xuyên Kiều nghĩa là xuyên tay và len tay vượt trên tay đối phương, Tranh Mã nghĩa là phải dùng chân nêm chặt bộ vị (thế tấn) của đối phương, Xích Thân Trửu nghĩa là Thân và Cùi Chỏ (Trửu) phải luôn áp sát đối phương.

    Trong Bạch Mi quyền lại có câu chiến đấu pháp: Hữu Kiều – Kiều thượng quá, Mậu Kiều – tự chế Kiều 有橋 – 橋上過 (过), 瞀橋 – 自製橋 nghĩa là có Kiều - (Hữu Kiều) - (gặp Kiều thủ đối phương bắc cầu) thì phải leo lên cầu mà vào nghĩa là gặp tay địch nhân thì phải dùng tay của mình chặn ở trên mà tiến vào mình đối phương (Kiều thượng quá), nếu không có Kiều rõ ràng (2 bên có khoảng cách chưa bên nào ra tay trước) - (Mậu Kiều) - thì phải đưa tay bắc cầu mà vào (tự chế Kiều).

    Các bộ quyền của Nam Thiếu Lâm (hay Nam Quyền) thường dùng 2 thế tấn căn bản trong các bài quyền là Tứ Bình Bát Phân (Sei Ping Baat Fahn 四平八分) còn gọi là Tứ Bình Mã (Sei Ping Ma 四平馬) tức là Trung Bình Tấn, và thế tấn thứ hai là Nhị Tự Kiềm Dương Mã (Yee Gee Kim Yeung Ma – Yih Jih Kìhm Yèuhng Máh 二字鈐羊馬 – 二字鈐陽馬) gồm Đại Kiềm Dương Mã 大鈐羊馬 và Tiểu Kiềm Dương Mã 小鈐羊馬.

    Trong Nam Quyền (Hồng Gia quyền, Bạch Mi quyền, Vịnh Xuân quyền, Bạch Hạc quyền) thường dùng chữ Kiều Mã 橋馬 để nhấn mạnh tầm quan trọng của Kiều Thủ và Mã Bộ khi giao thủ với đối phương không cho đối phương Niêm Kiều, Triệt Kiều, Phá Mã.

    3 bài đầu tiên (Tiểu Niệm Đầu, Tầm Kiều, Tiêu Chỉ) là những giai trình luyện tập các động tác Kiều thủ căn bản để tiến vào bài Mộc Nhân Trang thi triển hiệu quả các động tác Kiều thủ.


    Hệ thống quyền pháp

    Về căn bản, Vịnh Xuân có 4 bài quyền cốt lõi

    3 bài quyền đầu tiên: Tiểu Niệm Đầu, Tầm Kiều, Tiêu Chỉ (Phiêu Chỉ) là những bước căn bản chuẩn bị cho bài Mộc Nhân Trang.

    Bài Tiểu Niệm Đầu đưa ra các thế tay (Kiều thủ) căn bản và khái niệm Trung Tâm Tuyến cho nên cũng được coi là bài tập cho môn sinh phép phòng thủ căn bản.

    Bài Tầm Kiều đưa ra các thế tay phản công và các đòn chân (Thoái pháp, Cước pháp) và cách thức di chuyển bộ vị khi giao chiến.

    Bài Tiêu Chỉ là kỹ thuật nâng cao và chỉ được truyền dạy cho đệ tử trong môn để làm nền tảng cho bài Mộc Nhân Trang.

    Ngoài 4 bài quyền, còn có phép luyện tay nghe lực còn gọi là phép thính kình hay phép du đẩy đối phương tựa như phép Thôi Thủ trong Thái Cực quyền, phương pháp này trong các chi lưu Vịnh Xuân Việt Nam thường gọi là Niêm Thủ nhưng hầu hết các chi lưu Vịnh Xuân trên thế giới và tại Trung Quốc, Hong Kong gọi là Li Thủ. Li Thủ gồm có Đơn Li Thủ và Song Li Thủ.

    Tiểu niệm đầu (Siu Nim Tao 小念頭 )

    Khác với các võ phái dựa trên cơ sở căn bản là phải luyện tập vững vàng mã bộ (tấn pháp) và ngoại lực trước khi bắt đầu được truyền dạy những bài quyền đầu tiên, ngay từ những ngày đầu nhập môn Vịnh Xuân quyền, môn đồ đã được truyền dạy Tiểu niệm đầu. Bài quyền này (còn có những tên gọi khác như Tiểu luyện đầu, Tiểu hình ý, Tam bái phật), là căn bản để môn sinh thành thạo những thủ pháp đặc trưng của Vịnh Xuân như than thủ, bàng thủ, cổn thủ, nhật tự xung quyền, khuyên thủ, tán thủ, phục thủ, phách thủ, đấm tam tinh còn gọi là tam xung chùy là thực hiện đấm liên tiếp 3 cái trong một nhịp tấn công v.v. trên một tấn pháp duy nhất từ đầu đến cuối bài là Kiềm dương mã tự, hay nhị tự kiềm dương mã áp dụng ở tư thế chính diện, chính thân, nên còn được gọi là chính thân nhị tự kiềm dương mã. Việc làm quen tấn pháp này với sự kết hợp thủ pháp (các chiêu thức của bài đều xuất phát từ trung tuyến), cho phép môn sinh rút ngắn được thời gian luyện tập bởi ngay từ những ngày đầu đến với môn phái đã được rèn luyện không chỉ mã bộ mà cả các chiêu thức nền tảng.

    Lời thiệu (Ca Quyết 歌訣) bài Tiểu niệm đầu theo Diệp Chuẩn và Lương Đĩnh: Cần lưu ý rằng Lương Đĩnh(Lueng Ting)-quyền chưởng môn Lưu phái Vịnh xuân Hồng Công đã có 1 số cải biên về hệ thống quyền pháp của Vịnh Xuân, có thể thấy rõ trong Tiểu Niệm Đầu và Tầm Kiều.

    Theo Diệp Chuẩn(tự nhận là Vịnh xuân gốc - Original Wing chun): thức 10, 11 cách diễn quyền không như trong Ca quyết dưới đây


    1. 馬開半步之二字拑羊馬

    Mã khai bán bộ chi nhị tự kiềm dương mã
    2. 交叉攤手 - 交叉撥手 - 滚手收拳

    Giao thoa than thủ - giao thoa bát thủ - cổn thủ thâu quyền
    3. 日字沖拳 - 圈手收拳

    Nhật tự xung quyền - khuyên thủ thâu quyền (tả - hữu)
    4. 攤手 - 半圈手 - 護手 - 伏手

    Than thủ - bán khuyên thủ - hộ thủ - phục thủ
    5. 側掌 – 正掌 -攤手 -圈手收拳

    Trắc chưởng - chánh chưởng - than thủ - khuyên thủ thâu quyền
    6. 左右按手 - 後按手 - 前按手

    Tả hữu án thủ - hậu án thủ - tiền án thủ
    7. 攔手 - 拂手 - 攔手 - 雙枕手 - 標指手

    Lan thủ - phất thủ - lan thủ - song chẩm thủ - tiêu chỉ thủ
    8. 长橋按手 - 雙提手 - 收拳

    Trường kiều án thủ - song đề thủ - thâu quyền
    9. 側掌 -橫掌- 收拳

    Trắc chưởng - hoành chưởng thâu quyền
    10. 攤手 - 枕手 - 括手

    Than thủ - chẩm thủ - quát thủ
    11. 撈手 - 下路橫掌- 收拳

    Lao thủ - hạ lộ hoành chưởng - thâu quyền
    12. 膀手 - 攤手 -印掌- 收拳

    Bàng thủ - than thủ - ấn chưởng - thâu quyền
    13. 脫手 - 连环沖拳 - 收脚

    Thoát thủ - liên hoàn xung quyền - thâu cước

    Tầm kiều (Chum Kiu 尋橋 )

    Như tên gọi của bài, tầm kiều (tìm cầu) chỉ rõ mục đích bài là tìm cây cầu nối giữa công và thủ, hoặc, tiếp được tay đối phương để từ đó phát hiện sơ hở tấn công. Bài chú trọng luyện chuyển bộ theo bộ pháp xước mã đặc biệt của môn phái với thế tấn trắc thân kiềm dương. Lúc tiến theo thế "đạp bộ" hay còn gọi là "leo núi", chân trước bước kéo chân sau theo, trọng tâm thân thể luôn đặt tại chân sau. Lúc địch thủ tấn công, thế "chuyển mã" dời trung tâm tuyến và dẫn đòn đối thủ vào khoảng không. Đây là lý thuyết "dùng bộ pháp tìm tay (tầm kiều) đối thủ", "dùng eo xoay phá giải đòn công của địch". Bài có ba thế cước: đề thoái, trực đăng thoái và trắc sanh thoái, dùng chân trước để đá, chân vừa đá liền tiến một bước tới để nhập nội liên hoàn đả kích đối thủ. Những đòn tay mới được giới thiệu trong bài là chánh thân vấn thủ, phê tranh, xuyên kiều, trắc thân án thủ, trừu chàng quyền, đàn kiều xung quyền.

    Lời thiệu (Ca Quyết 歌訣) bài Tầm kiều theo Diệp Chuẩn:

    1. 馬開半步之二字拑羊馬

    Mã khai bán bộ chi nhị tự kiềm dương mã
    2. 交叉攤手 - 交叉撥手 - 滚手收拳

    Giao thoa than thủ - giao thoa bát thủ - cổn thủ thâu quyền
    3. 日字沖拳 - 圈手收拳

    Nhật tự xung quyền - khuyên thủ thâu quyền
    4. 穿橋 - 轉馬及攔手 (左右批爭)

    Xuyên kiều - chuyển mã cập lan thủ (tả hữu phê tranh)
    5. 雙伏手 - 拍手 - 政掌及護手

    Song phục thủ - phách thủ - chánh chưởng cập hộ thủ
    6. 轉身攔手 - 交叉攤手 - 及轉身膀手

    Chuyển thân lan thủ - giao thoa than thủ - cập chuyển thân bàng thủ
    7. 攔手沖拳 - 拂手 - 伏手 - 脫手 - 圈手收拳

    Lan thủ xung quyền - phất thủ - phục thủ - thoát thủ - khuyên thủ thâu quyền
    8. 擒攔 - 側身攔手起提腿

    Cầm lan - trắc thân lan thủ khởi đề thoái
    9. 橫踏步側身膀手 - 及側身交叉攤手三式

    Hoành đạp bộ trắc thân bàng thủ - cập trắc thân giao thoa than thủ tam thức
    10. 抽撞拳 - 伏手 - 脫手 - 圈手收拳

    Trừu chàng quyền - phục thủ - thoát thủ - khuyên thủ thâu quyền
    11. 直登腿 - 踏步低膀手 - 及雙攤手 - 政身雙問手

    Trực đăng thoái - đạp bộ đê bàng thủ - cập song than thủ - chánh thân song vấn thủ
    12. 雙窒手 - 雙印掌 - 收拳

    Song trất thủ - song ấn chưởng - thâu quyền
    13. 轉身側撐腿 - 側身按手 - 彈橋沖拳

    Chuyển thân trắc sanh thoái - trắc thân án thủ - đàn kiều xung quyền (3 lần)
    14. 连环沖拳 - 圈手收式

    Liên hoàn xung quyền - khuyên thủ thâu thức


    Tiêu chỉ (Biu Tze 標指 )

    Tiêu chỉ hay Phiêu chỉ (phóng ngón tay) cho thấy tinh thần của bài. Đây là cấp độ tột cùng để chiến đấu tự do, với các ngón tay duỗi thẳng xỉa dẫn đạo linh hoạt thay vì một nắm đấm có tính chất cương mãnh. Bài áp dụng nguyên lý "dĩ công vi thủ" (lấy công làm thủ) và "dĩ đả vi tiêu" (lấy đánh làm hóa giải), "dùng eo phát lực" và "lực quán chỉ". Những kĩ thuật mới là quải tranh, trắc thân vấn thủ, thượng hạ sạn thủ, khuyên cát thủ, thượng hạ canh thủ và bộ pháp khấu bộ. Riêng thế đánh chỏ, chi phái Hồng Kông chỉ có một đòn (chỏ đánh chéo từ trên xuống), sau Diệp Chuẩn thêm hai thế khác: phê trửu (chỏ đánh ngang) và cập chửu (chỏ đánh chéo từ dưới lên) bổ sung từ chi phái Quảng Đông, cho bài một sắc thái đặc biệt linh hoạt.

    Lời thiệu (Ca Quyết 歌訣) bài Tiêu chỉ theo Diệp Chuẩn:


    1. 馬開半步之二字拑羊馬

    Mã khai bán bộ chi nhị tự kiềm dương mã
    2. 交叉攤手 - 交叉撥手 - 滚手收拳

    Giao thoa than thủ - giao thoa bát thủ - cổn thủ thâu quyền
    3. 日字沖拳(標指手) - 圈割手收拳

    Nhật tự xung quyền (tiêu chỉ thủ) - khuyên cát thủ thâu quyền
    4. 轉身枴爭 (三式) - 標指手收拳

    Chuyển thân quải tranh (tam thức) - tiêu chỉ thủ thâu quyền
    5. 口步 - 轉身枴爭 - 標指手 - 上路鏟手

    Khẩu bộ - chuyển thân quải tranh - tiêu chỉ thủ - thượng lộ sạn thủ
    6. 拂手 - 伏手 - 脫手 - 圈手收拳

    Phất thủ - phục thủ - thoát thủ - khuyên thủ thâu quyền
    7. 轉身枴爭 - 標指手 - 下路鏟手

    Chuyển thân quải tranh - tiêu chỉ thủ - hạ lộ sạn thủ
    8. 拂手 - 伏手 - 脫手 - 圈手收拳

    Phất thủ - phục thủ - thoát thủ - khuyên thủ thâu quyền
    9. 轉身上下耕手 (三式) - 伏手 - 脫手 - 圈手收拳

    Chuyển thân thượng hạ canh thủ (tam thức) - phục thủ - thoát thủ - khuyên thủ thâu quyền (tả - hữu)
    10. 側身問手(三式) - 枕手 - 轉身伏手 - 脫手 - 圈手收拳

    Trắc thân vấn thủ (tam thức) - chẩm thủ - chuyển thân phục thủ - thoát thủ - khuyên thủ thâu quyền (tả - hữu)
    11. 標指手 (四式) - 轉身上路鏟手 - 拂手 - 伏手 - 脫手 - 圈手收拳

    Tiêu chỉ thủ (tứ thức) - chuyển thân thượng lộ sạn thủ - phất thủ - phục thủ - thoát thủ - khuyên thủ thâu quyền (tả - hữu)
    12. 擒拿手 - 抽撞拳 - 印掌收拳

    Cầm nã thủ - trừu chàng quyền - ấn chưởng thâu quyền
    13. 三掬弓大迥還手(三式)

    Tam cúc cung đại huýnh hoàn thủ (tam thức)
    14. 连环沖拳 - 圈手收拳

    Liên hoàn xung quyền - khuyên thủ thâu quyền


    Mộc Nhân Trang Quyền Pháp (Muk Yan Chon Kuen Faat 木人桩 拳 法)

    Ở Việt Nam, đa số các chi lưu Vịnh Xuân đều dịch tên bài quyền này là Mộc Nhân Thung (木人舂). Thật ra tên gọi đúng phải là Mộc Nhân Trang (木人桩), phát âm theo tiếng Quảng Đông là Mụk Yàn Chón, Trang có nghĩa là bày ra, sắp xếp ra mà ý nghĩa của Mộc Nhân là bày sắp ra các Chi (tay chân) trên dưới để tiện cho việc luyện tập, trong khi Thung có nghĩa là cọc gỗ hay trụ gỗ được chôn xuống đất.


    Mộc Nhân Thung (木人舂) cũng có tác dụng như Mộc Nhân Trang (木人桩) dùng để luyện tập quyền cước (các món binh khí của tay chân mà võ thuật Trung Hoa gọi là các Thủ Hình), nhưng Mộc Nhân Thung thì không có các phần tay chân (Chi) lắp vào mà đó chỉ là các trụ gỗ chôn xuống đất có bó rơm trên 3 vùng Thượng (trên) - Trung (giữa) - Hạ (dưới) được dùng để luyện tay chân va chạm công phá mà các võ phái miền Nam Trung Hoa và các chi lưu Karate tại Okinawa và Nhật Bản xuất phát từ các võ phái miền Nam Trung Hoa rất ưa chuộng trong các bài tập hàng ngày.


    Lời thiệu (Ca Quyết 歌訣) bài 116 Mộc Nhân Trang theo Diệp Vấn:


    1. 姿势再战 (反擊) (左手)

    Tư thế tái chiến (phản kích) (tả thủ)
    2. 攀颈手 (右手)

    Phan cảnh thủ (hữu thủ)
    3. 右膀手 - 左護手

    Hữu bàng thủ - tả hộ thủ
    4. 右攤手 - 下路左橫掌

    Hữu than thủ - hạ lộ tả hoành chưởng
    5. 上下耕手

    Thượng hạ canh thủ
    6. 滚手 (上下耕手逆)

    Cổn thủ (thượng hạ canh thủ nghịch)
    7. 左攤手 - 下路右橫掌

    Tả than thủ - hạ lộ hữu hoành chưởng
    8. 上下耕手

    Thượng hạ canh thủ
    9. 右扣手 - 左托手

    Hữu khấu thủ - tả thác thủ
    10. 左窒手 - 右印掌

    Tả trất thủ - hữu ấn chưởng

    11. 姿势再战 (反擊) (右手)

    Tư thế tái chiến (phản kích) (hữu thủ)
    12. 右窒手 - 左印掌

    Hữu trất thủ - tả ấn chưởng

    13. 左膀手 - 右護手

    Tả bàng thủ - hữu hộ thủ
    14. 左攤手 - 下路右橫掌

    Tả than thủ - hạ lộ hữu hoành chưởng
    15. 上下耕手

    Thượng hạ canh thủ
    16. 滚手 (上下耕手逆)

    Cổn thủ (thượng hạ canh thủ nghịch)
    17. 右攤手 - 下路左橫掌

    Hữu than thủ - hạ lộ tả hoành chưởng
    18. 上下耕手

    Thượng hạ canh thủ
    19. 左扣手 - 右托手

    Tả khấu thủ - hữu thác thủ
    20. 右窒手 -下路左橫掌

    Hữu trất thủ - hạ lộ tả hoành chưởng
    21. 右內身拍手

    Hữu nội thân phách thủ
    22. 左內身拍手

    Tả nội thân phách thủ

    23. 右內身拍手

    Hữu nội thân phách thủ

    24. 左外身拍手

    Tả ngoại thân phách thủ
    25. 左標指手

    Tả tiêu chỉ thủ
    26. 左窒手 - 下路右日字沖拳

    Tả trất thủ - hạ lộ hữu nhật tự xung quyền

    27. 右外身拍手

    Hữu ngoại thân phách thủ
    28. 右標指手

    Hữu tiêu chỉ thủ
    29. 右窒手 -下路左日字沖拳

    Hữu trất thủ - hạ lộ tả nhật tự xung quyền

    30. 雙托手

    Song thác thủ

    31. 下路右膀手

    Hạ lộ hữu bàng thủ
    32. 右問手 (中路)

    Hữu vấn thủ (trung lộ)
    33. 右側撐腿

    Hữu trắc sanh thoái

    34. 下路左膀手

    Hạ lộ tả bàng thủ
    35. 左問手 (中路)

    Tả vấn thủ (trung lộ)
    36. 左側撐腿

    Tả trắc sanh thoái

    37. 上下耕手

    Thượng hạ canh thủ
    38. 右扣手 - 左托手

    Hữu khấu thủ - tả thác thủ
    39. 左窒手 - 右印掌

    Tả trất thủ - hữu ấn chưởng
    40. 雙攤手

    Song than thủ (gạt tay từ ngoài vào)
    41. 圈手 (勾鐮手)

    Quyển thủ (câu liêm thủ)
    42. 下路雙橫掌

    Hạ lộ song hoành chưởng
    43. 雙攤手

    Song than thủ
    44. 上路雙橫掌

    Thượng lộ song hoành chưởng
    45. 雙窒手

    Song trất thủ

    46. 右扣手 - 上左耕手

    Hữu khấu thủ - thượng tả canh thủ
    47. 左扣手 - 上右耕手

    Tả khấu thủ - thượng hữu canh thủ

    48. 右扣手 - 上左耕手

    Hữu khấu thủ - thượng tả canh thủ
    49. 左窒手 - 右印掌

    Tả trất thủ - hữu ấn chưởng

    50. 右膀手

    Hữu bàng thủ
    51. 側身右直登腿 - 右攤手 -中路左橫掌

    Trắc thân hữu trực đăng thoái - hữu than thủ - trung lộ tả hoành chưởng

    52. 上下耕手

    Thượng hạ canh thủ

    53. 左扣手 - 上右耕手

    Tả khấu thủ - thượng hữu canh thủ
    54. 右扣手 - 上左耕手

    Hữu khấu thủ - thượng tả canh thủ

    55. 左扣手 - 上右耕手

    Tả khấu thủ - thượng hữu canh thủ
    56. 政身右扣手 -下路左橫掌

    Chính thân hữu khấu thủ - hạ lộ tả hoành chưởng

    57. 左膀手

    Tả bàng thủ
    58. 側身左直登腿 - 左攤手 -中路右橫掌

    Trắc thân tả trực đăng thoái - tả than thủ - trung lộ hữu hoành chưởng

    59. 上下耕手

    Thượng hạ canh thủ
    60. 右扣手 - 左托手

    Hữu khấu thủ - tả thác thủ
    61. 左窒手 - 右印掌

    Tả trất thủ - hữu ấn chưởng
    62. 先右伏手 - 後右拂手

    Tiên hữu phục thủ - hậu hữu phất thủ

    63. 先右伏手 - 後右拂手

    Tiên hữu phục thủ - hậu hữu phất thủ
    64. 先右伏手 - 後右拂手

    Tiên hữu phục thủ - hậu hữu phất thủ

    65. 右扣手 -下路左橫掌

    Hữu khấu thủ - hạ lộ tả hoành chưởng
    66. 滚手 (上下耕手逆)

    Cổn thủ (thượng hạ canh thủ nghịch)

    67. 政身抱排掌 (上右手 - 下左手)

    Chính thân bão bài chưởng (thượng hữu thủ - hạ tả thủ)
    68. 左膀手

    Tả bàng thủ
    69. (左腳晉步) 側身抱排掌(下右手 -上左手)

    (Tả cước tấn bộ) Trắc thân bão bài chưởng (hạ hữu thủ - thượng tả thủ)
    70. (左腳回步) 上下耕手(上右手 - 下左手)

    (Tả cước hồi bộ) Thượng hạ canh thủ (thượng hữu thủ - hạ tả thủ)

    71. 政身抱排掌 (上右手 - 下左手)

    Chính thân bão bài chưởng (thượng hữu thủ - hạ tả thủ)
    72. 右膀手

    Hữu bàng thủ
    73. (右腳晉步) 側身抱排掌(上右手 - 下左手)

    (Hữu cước tấn bộ) Trắc thân bão bài chưởng (thượng hữu thủ - hạ tả thủ)
    74. (右腳回步) 上下耕手(下右手 -上左手)

    (Hữu cước hồi bộ) Thượng hạ canh thủ (hạ hữu thủ - thượng tả thủ)

    75. 左扣手 - 右伏手

    Tả khấu thủ - hữu phục thủ
    76. 右窒手 -下路左橫掌

    Hữu trất thủ - hạ lộ tả hoành chưởng

    77. 上下耕手(上右手 - 下左手)

    Thượng hạ canh thủ (thượng hữu thủ - hạ tả thủ)
    78. 上下耕手(下右手 -上左手)

    Thượng hạ canh thủ (hạ hữu thủ - thượng tả thủ)

    79. 右膀手

    Hữu bàng thủ
    80. 右擒拿手 - 左殺頸手

    Hữu cầm nã thủ - tả sát cảnh thủ
    81. 左拍手 - 右鏟手

    Tả phách thủ - hữu sạn thủ



    82. 左膀手

    Tả bàng thủ
    83. 左擒拿手 - 右殺頸手

    Tả cầm nã thủ - hữu sát cảnh thủ
    84. 右拍手 - 左鏟手

    Hữu phách thủ - tả sạn thủ

    85. 右膀手

    Hữu bàng thủ
    86. 左直登腿 - 右攤手 - 中路左橫掌

    Tả trực đăng thoái - hữu than thủ - trung lộ tả hoành chưởng
    87. 左膀手

    Tả bàng thủ
    88. 右直登腿 - 左攤手 - 中路右橫掌

    Hữu trực đăng thoái - tả than thủ - trung lộ hữu hoành chưởng

    89. 上下耕手(上右手 - 下左手)

    Thượng hạ canh thủ (thượng hữu thủ - hạ tả thủ)
    90. 右扣手 - 左托手

    Hữu khấu thủ - tả thác thủ
    91. 左窒手 - 右印掌

    Tả trất thủ - hữu ấn chưởng

    92. 下路右膀手

    Hạ lộ hữu bàng thủ
    93. 下路左膀手

    Hạ lộ tả bàng thủ
    94. 下路右膀手

    Hạ lộ hữu bàng thủ
    95. 右鏟手 - 政身左直登腿

    Hữu sạn thủ - chính thân tả trực đăng thoái
    96. 政身左側撐腿 - 右護手 - 左膀手

    Chính thân tả trắc sanh thoái - hữu hộ thủ - tả bàng thủ

    97. 下路左膀手

    Hạ lộ tả bàng thủ
    98. 下路右膀手

    Hạ lộ hữu bàng thủ
    99. 下路左膀手

    Hạ lộ tả bàng thủ
    100. 左鏟手 - 政身右直登腿

    Tả sạn thủ - chính thân hữu trực đăng thoái
    101. 政身右側撐腿 - 左護手 - 右膀手

    Chính thân hữu trắc sanh thoái - tả hộ thủ - hữu bàng thủ

    102. 下路右撳手

    Hạ lộ hữu khấm thủ
    103. (右腳晉步) 側身左拍手 - 下路右橫掌

    (Hữu cước tấn bộ) Trắc thân tả phách thủ - hạ lộ hữu hoành chưởng

    104. 下路左撳手

    Hạ lộ tả khấm thủ
    105. (左腳晉步) 側身右拍手 - 下路左橫掌

    (Tả cước tấn bộ) Trắc thân hữu phách thủ - hạ lộ tả hoành chưởng

    106. 下路右撳手

    Hạ lộ hữu khấm thủ
    107. 側身左拍手 - 右直登腿

    Trắc thân tả phách thủ - hữu trực đăng thoái

    108. 下路左撳手

    Hạ lộ tả khấm thủ
    109. 側身右拍手 - 左直登腿

    Trắc thân hữu phách thủ - tả trực đăng thoái

    110. 上路右膀手

    Thượng lộ hữu bàng thủ
    111. 側身雙擒拿手 - 右埽腿

    Trắc thân song cầm nã thủ - hữu tảo thoái

    112. 上路左膀手

    Thượng lộ tả bàng thủ
    113. 側身雙擒拿手 - 左埽腿

    Trắc thân song cầm nã thủ - tả tảo thoái

    114. 上下耕手(上右手 - 下左手)

    Thượng hạ canh thủ (thượng hữu thủ - hạ tả thủ)
    115. 右扣手 - 左托手

    Hữu khấu thủ - tả thác thủ
    116. 左窒手 - 右印掌

    Tả trất thủ - hữu ấn chưởng
    117. 雙托手 - 收脚回式

    Song thác thủ - thâu cước hồi thức

    Nếu Mộc Nhân Thung là đặc điểm của võ thuật Trung Hoa tập luyện đánh tay trên các trụ gỗ (Thung) như các trường phái Karate tại Okinawa, thì Mộc Nhân Trang pháp (bài tập với những kỹ pháp đánh trên Mộc Nhân) lại là đặc điểm riêng của một số ít ỏi dòng phái trên lãnh thổ Trung Hoa. Huyền thoại về điều kiện phải chiến thắng 108 mộc nhân để chứng tích võ công trước khi được hạ sơn của các cao tăng Thiếu Lâm tự rất nổi tiếng, các nhà nghiên cứu vẫn không tìm thấy dấu tích của mộc nhân tại Tung Sơn, và mộc nhân trang pháp vẫn là đặc thù của các võ phái Thái Lý Phật, Hắc Hổ Môn ở Hồng Kông, và Vịnh Xuân quyền[4].

    Mộc nhân có cấu tạo đơn giản, là một khúc gỗ đường kính khoảng 30cm-40cm, dài cỡ 1m60 tùy theo chiều cao mỗi người nếu đặt trên giá đỡ (loại sống, động), nếu chôn xuống đất hoặc đặt trên nền đất (loại chết, bất động) thì phần thân ở trên mặt đất của mộc nhân có độ dài tương đương cao độ của người luyện tập. Trên thân có bốn khúc gỗ nhỏ hơn: hai cánh tay trên nằm ngang vai người tập và đưa chéo sang hai bên, cánh tay dưới nằm trên trung tuyến và đưa thẳng ngang bụng. Mộc nhân có một chân bẻ cong, thiết kế nằm ở giữa và ngang đầu gối. Thông thường loại sống được sử dụng nhiều hơn do tính linh hoạt khi chịu lực. Thân của loại sống được treo lên bởi hai thanh ván xỏ xuyên qua trên và dưới hai bên hông của thân. Hai miếng ván đó chịu lực trên hai cây cột trụ chôn hoặc đặt vững trãi trên nền đất hai bên mộc nhân. Khi thân mộc nhân bị đánh, hai miếng ván nêu trên kéo thân trở lại phía trước sau khi thân dội về phía sau và vì vậy, tạo cho thân tính đàn hồi. Một số chi phái Vịnh Xuân, như Triệt Quyền Đạo, đã cải cách mộc nhân theo hướng không sử dụng hai miếng ván và cột trụ nhằm tạo tính động cho mộc nhân mà, thay vào đó, sử dụng lò xo dưới chân.

    Bài Mộc Nhân Trang có thể coi là một bài quyền cao cấp của môn phái, chỉ dạy cho các học trò cao cấp. Theo từng dòng phái, các bài Mộc Nhân Thung cũng có ít nhiều sự khác biệt. Bài của các dòng Vịnh Xuân Quyền Việt Nam bao gồm 108 động tác, ngoài số ít các động tác chính thân tách bài thành 5 phần, bài bao gồm phần lớn các động tác lặp lại ở hai bên, có 6 thế cước và 8 thế đánh gối. Bài của chi phái Quảng Đông chia thành 2 phần với hơn 160 động tác, có 5 thế đá (Câu cước, Dịch đăng cước, Nguyệt ảnh cước, Hổ vĩ cước) và 1 thế đánh gối (Tất chàng phúc). Bài của chi phái Diệp Vấn tại Hồng Kông chia thành 10 đoạn với 140 động tác khi được truyền dạy ở Phật Sơn, nhưng khi tới Hồng Kông ông rút xuống còn 108 động tác sau khi bỏ đi một số chiêu thức quá sát thủ, vài năm sau ông lại nâng lên thành 116 động tác chia thành 8 đoạn. Bài có bao gồm tám thế cước (Trực đăng thoái, Hoành sanh thoái, Tà đà tất thoái, Thập tự thoái, Tiệt tảo thoái, Khấu đàn thoái, Tà đà cước thoái, Hoành đà tất thoái). Hiện nay bài Mộc Nhân Trang của Diệp Vấn, tuy hết sức phổ biến trong nhiều chi phái Vịnh Xuân trên toàn thế giới, đã hầu như thất truyền những tuyệt chiêu mà tổ sư đã không truyền dạy.

    Nếu mộc nhân là dụng cụ hỗ trợ để môn sinh tập lực, phát kình, tháo lỏng, du đẩy và phá du đẩy thì bài Mộc Nhân Thung giúp môn sinh thực hiện toàn diện chiến lược công thủ phản biến. Trừ một số ít đòn thế áp dụng khi đứng tấn chính thân kiềm dương, hầu hết các chiêu thức của bài được triển khai khi môn sinh chiếm giữ trung tuyến, dùng "tam giác bộ" (bộ pháp tam giác với đỉnh là vị trí của người tập lúc khởi chiêu) di chuyển từ nội môn (phần thân nằm trong hai cánh tay trên) qua ngoại môn (phần ngoài hai cánh tay), tưởng tượng tránh đòn của đối thủ, sau đó tấn công vào bên hông mộc nhân.


    Hệ thống ngũ hình quyền (Vịnh Xuân Việt Nam)

    Hệ thống ngũ hình quyền với 5 con linh thú (Long, Hổ, Báo, Xà, Hạc) nằm trong chương trình luyện tập của một số dòng phái Vịnh Xuân quyền tại Hà Nội, Việt Nam như Vĩnh Xuân Nội gia quyền, Vĩnh Xuân Ngô gia Hoàng pháp và hiện cũng đã được tập luyện tại Thành phố Hồ Chí Minh. Không ai biết chính xác hệ thống này bắt đầu từ khi nào, nhưng chắc chắn nó có nguồn gốc từ Thiếu Lâm Tự. Rất có thể phát xuất từ Bạch Ngọc Phong đời nhà Nguyên Trung Hoa, khi ông nương theo bài La Hán Thập Bát Thủ gồm 18 thế tay của vị phật A La Hán của Thiếu Lâm để chế ra Ngũ Hình quyền gồm các bài quyền dựa theo những con thú nói trên và một bài tổng hợp của 5 con thú.

    Sau này, trải qua một tiến trình lịch sử dằng dặc, hệ thống ngũ hình đã được trau truốt, tinh lọc, sửa đổi rất nhiều. Đáng chú ý là sự bổ sung của hệ thống này vào kỹ pháp các dòng phái Vịnh Xuân quyền Việt Nam. Khi nghiên cứu 6 bài quyền (Ngũ hình quyền tổng hợp, Long hình quyền, Hổ hình quyền, Báo hình quyền, Xà hình quyền, Hạc hình quyền), mặc dù đã ít nhiều có sự hòa hợp của hệ thống này so với các công phu Vịnh Xuân quyền truyền thống, người tập vẫn dễ dàng nhận ra một số khác biệt: tính đơn thế và tính chất trường quyền. Lý giải về sự có mặt của ngũ hình quyền pháp trong Vịnh Xuân quyền Việt Nam không ngoài câu trả lời: sư tổ Tế Công là người am hiểu nhiều dòng phái võ thuật Trung Hoa, khi giảng dạy cho các môn sinh tại Việt Nam, dù vẫn nhấn mạnh công phu Vịnh Xuân, ông cũng có sự kết hợp với các dòng phái khác cho phù hợp với thể chất và năng khiếu của mỗi môn đồ. Lý giải điều đó cũng giúp ta nhận ra tại sao các dòng Vịnh Xuân tại Thành phố Hồ Chí Minh có một hệ thống bài quyền khác biệt với miền Bắc, và nhiều võ sư Vịnh Xuân quyền Việt Nam đã phát triển môn phái theo các hướng khác nhau, dù cùng xuất xứ từ tổ sư.

    Theo lưu phái Vịnh Xuân quyền tại Phật Sơn, Quảng Đông và Vịnh Xuân quyền từ Diệp Vấn ở Hong Kong thì Vịnh Xuân quyền chỉ có 4 bài quyền gồm: Tiểu Niệm Đầu, Tầm Kiều, Tiêu Chỉ, và Mộc Nhân Trang có 116 chiêu thức trong đó 1/2 bài là lập lại thành ra chỉ có 58 chiêu thức trên thực tế, khác với bài Mộc Nhân Trang của Vịnh Xuân quyền Hà Nội có 108 chiêu thức.

    Tương truyền rằng Nguyễn Tế Công đã du nhập hệ thống Ngũ Hình quyền từ Thiếu Lâm vào Vịnh Xuân vì Nguyễn Tế Công đã từng học qua Thiếu Lâm quyền truyền thống, nhưng trong hệ thống Ngũ Hình quyền này từ Nguyễn Tế Công cho thấy không giống Ngũ Hình quyền của Thiếu Lâm. Ngũ Hình quyền là một hệ thống quyền pháp nổi tiếng tại chùa Thiếu Lâm (Tung Sơn, Hà Nam) và tại chùa Nam Thiếu Lâm (Phúc Kiến).

    Hệ thống Ngũ Hình quyền tại chùa Nam Thiếu Lâm ở Phúc Kiến còn tồn tại sót lại trong hệ thống quyền pháp của Thiếu Lâm Hồng gia và Bạch Mi quyền rất rõ nét của Thiếu Lâm quyền còn vương lại nhưng cũng không giống hoàn toàn với Ngũ Hình quyền của Thiếu Lâm (Tung Sơn, Hà Nam).

    Hệ thống ngũ hình quyền của các dòng phái Vịnh Xuân Quyền Việt Nam bao gồm 6 bài:

    1.Ngũ hình quyền tổng hợp: bài được chia thành 5 phần tách biệt ứng với 5 con thú thiêng, bắt đầu từ các chiêu thức tay xà, tiến tới tay long, hổ, báo và kết thúc là tay hạc. Các thế tấn và bộ pháp trong bài hỗ trợ cho thủ pháp. Đây là bài quyền đặc biệt phong phú về chiêu thức, động tác. Phong thái kết hợp cả nhu nhuyễn, chậm rãi đến tốc lực, dương cương.

    2.Long hình quyền: Long quyền thuộc thổ, lấy tỳ làm chủ, luyện thần. đặc trưng bởi những thế chộp, vồ (cầm nã thủ), sử dụng bàn tay với các ngón tay xòe mở rộng trong những chiêu thức nhấn mạnh nguyên lý vòng tròn, các chiêu thức thường được diễn thế lặp lại 3 lần.

    3.Hổ hình quyền: Hổ quyền thuộc kim, chủ phế, dùng để luyện cơ bắp. Bài không có đòn chân (cước pháp). Chủ luyện đòn đấm thẳng dẫn đạo (tay hổ), đòn đánh bằng lưng bàn tay kết hợp với bật chỏ ngang. Các đòn thế thường đi theo đường thẳng, với tốc độ cao và uy lực cương mãnh không thích hợp cho nữ giới.

    4.Báo hình quyền: Báo quyền hành mộc, chủ can, luyện gân. Bài sử dụng tấn pháp linh hoạt, nhanh nhẹn phối hợp với những đòn tấn công chớp nhoáng bằng các khớp xương giữa của đốt ngón tay gọi là Báo Chùy (tay báo) dùng để chặn đòn đối phương hay đánh bật vào huyệt thái dương, thường sử dụng hai tay tấn công đồng thời kết hợp với cước pháp.

    5.Xà hình quyền: Xà quyền thuộc hành thủy, chủ thận, luyện khí (tiên thiên). Rắn không chân nên bài Xà quyền không có đòn cước. Bài chủ luyện sự nhu nhuyễn, linh hoạt của những ngón tay (tay xà) uốn éo với nguyên tắc dùng eo xoay để phát lực, thường áp dụng những thế tấn rất thấp và có những thế đánh dạng hồi mã thương rất độc thủ. Bài còn được luyện quỳ ngồi nằm trên mặt đất để trở thành bài Xà địa quyền.

    6.Hạc hình quyền: Hạc quyền thuộc hành hỏa, chủ tâm, dùng để luyện tinh. Bài sử dụng những đòn đánh bằng cạnh tay (tay hạc) và cổ tay gọi là Hạc Đỉnh thủ và Hạc Câu thủ hoặc mỏ hạc gọi là Hạc Trủy thủ trong những tư thế dang mở rộng cánh với những đòn đánh chỏ kết hợp với tấn chéo, tấn một chân (hạc tấn). Nhiều môn đồ Vịnh Xuân quyền đánh giá đây là bài quyền có phong cách hào sảng và đẹp nhất trong các bài ngũ hình quyền.

    Khí công quyền (Vịnh Xuân Việt Nam)

    Bài Khí công quyền, một số dòng Vĩnh Xuân gọi là Bối khí quy chi sử dụng các nguyên lý và chiêu thức như Ngũ cầm hí của danh y Hoa Đà, chủ luyện khí và lực, rất thích hợp cho dưỡng sinh. Thủ pháp của bài được luyện trên bộ pháp kiềm dương tấn. Bài phân chia rõ rệt thành nhiều phần bằng việc chuyển vị từ chính thân kiềm dương sang trắc thân kiềm dương bên phải và bên trái.

    Cước pháp

    Hệ thống đòn tay Vĩnh Xuân được đánh giá là vô cùng linh hoạt và hữu hiệu, nhưng nhiều người không biết rằng môn phái còn có những đòn chân rất độc đáo. Có ý kiến cho rằng cước pháp của Vịnh Xuân quyền chỉ có 16 đòn (chính xác là 8 đòn cho mỗi bên chân), có lẽ dựa trên hệ thống luyện tập(thấy rõ trong bài tập Mộc nhân) của dòng Vịnh Xuân Diệp Vấn tại Hồng Kông . Thực tế cước pháp Vịnh Xuân phong phú hơn nhiều, bao gồm cả những chiêu thức dùng chân ở tầm cực thấp với những đòn chấn khớp có uy lực khủng khiếp và những chiêu thức đánh vào sự thăng bằng của đối thủ. Tuy nhiên, do nguyên tắc "túc bất ly địa" (chân như mọc rễ vào đất) của Vịnh Xuân, cước pháp Vịnh Xuân chỉ truyền dạy cho học trò cao cấp sau khi môn sinh đã luyện tập tốt sự thăng bằng và có sự phối hợp với thủ pháp nhuần nhuyễn. Vịnh Xuân quyền truyền thống không đề cao những đòn đá xoay người, đá bay và cũng rất hiếm hoi những đòn đá quá tầm trung đẳng[5]. Công phu cước là: Chi gerk niêm cước, một hình thức tập luyện dính chân tương tự niêm thủ. Vịnh xuân Hồng Kông thường dùng nhiều Triệt cước(Jeet gerk)trong thực chiến cũng như luyện Niêm cước, ngoài ra có thể kể thêm: Bong gerk(Bàng cước), Tan gerk(Than cước), Jut gerk(Trất cước), Jaam gerk(Trảm cước), Ding gerk(Đỉnh cước),Wang gerk(Hoành cước),Hay sut(Thúc gối)...Sao gerk(Tảo cước)ít dùng để quét thấp như các võ phái cổ truyền Việt Nam. Trong Niêm thủ khi 'biến chiêu' tấn công, Lương Đĩnh có chỉ dạy 1 thế cước cao chân của Vịnh Xuân Hồng Công là đá thốc gót thẳng lên cổ đối phương, nó như Ding gerk nhưng dùng đá cao.

    Hệ thống công phu

    Niêm thủ (Li thủ)

    Phương pháp niêm thủ (tay dính nhau) phát triển phản xạ đôi tay, môn sinh nhập nội vừa tiếp tay đối phương là tìm được sơ hở, tức thì tấn công. Chủ đích là đạt tới trình độ hai tay đánh đỡ không cần suy nghĩ (tâm ứng thủ). Niêm thủ bao gồm trong đó cả các động tác quay tay, các nguyên lý du đẩy và phá du đẩy cùng những thế đặc trưng của Vịnh Xuân như than thủ, bàng thủ v.v. và được tập luyện cùng đồng môn trong suốt tiến trình võ sinh theo học.

    Đơn niêm thủ (Đơn Li thủ)

    Đơn niêm thủ (tập niêm thủ một tay) được dạy kết hợp cùng bài Tiểu niệm đầu và hầu hết lấy các chiêu thức trong bài ra để song đối. Đơn niêm thủ kết hợp theo một chu kì những thế than thủ, phục thủ, chánh chưởng, chẩm thủ, nhật tự xung quyền, bàng thủ, và chú trọng sự chuyển biến giữa hai thế than thủ và bàng thủ.

    Song niêm thủ (Song Li thủ)

    Song niêm thủ (dính hai tay) bắt đầu với bàng thủ và tiếp với phương pháp "nhất phục nhị" để cuối cùng tới niêm thủ tự do, áp dụng nguyên lý "bất truy thủ", "tá lực xảo đả", "tiêu đả đồng thời", "tá lực phản đàn, khiêu kiều độ giang", "án đầu ngật vĩ", "lại lưu khứ tống", "súy thủ trực xung" v.v. Ở các chi phái Vịnh Xuân quyền Việt Nam, song niêm thủ bắt đầu bằng những động tác quay tay và được tập ngay từ ngày đầu tiên đến với môn phái.

    Song niêm thủ bịt mắt (Phong Nhãn Song Li thủ)
    Là cấp độ cao nhất của linh giác để tiến tới song đấu tự do với ly thủ (rời tay), võ sinh bịt mắt bằng dải băng đen và chỉ còn đặt niềm tin vào khả năng cảm nhận thông qua tiếp xúc với đối phương của bản thân để tránh đòn hay phản công.

    Niêm cước (Li cước)
    Niêm cước được luyện tập nhằm phát triển khả năng cảm ứng, nghe lực và sự thăng bằng của của chân. Hai người đứng trên một chân dùng chân kia chạm nhau, tạo sơ hở bằng những đòn móc chân (khấu thoái) rồi tấn công bằng những thế đá của môn phái.

    Niêm thân (Li thân)
    Niêm thân (dính thân), trong các chi phái Vịnh Xuân quyền tại Việt Nam còn gọi là Trao thân hay Tráo đổi thân, là cấp độ cao nhất của sự tiếp xúc giữa hai đối thủ nhằm hướng đến mục tiêu phát triển sự cảm ứng nhanh nhạy của toàn bộ cơ thể trước tác động lực từ phía đối phương. Đòn đánh của địch thủ vừa tiếp xúc với thân mình của môn đồ Vịnh Xuân quyền, dựa trên cơ sở thụ cảm tác động lực, môn đồ Vịnh Xuân lập tức hóa giải bằng các động tác xoay thân, triệt tiêu lực, đưa cơ thể vượt thoát ra khỏi không gian nguy hiểm do đòn tấn công của đối phương gây ra và tạo góc độ ra đòn thuận lợi để phản công.

    Du đẩy (Phép Thính Kình)
    Du đẩy hay còn gọi là phép Thính Kình tức là các phương pháp tập giao thủ (chạm tay), tiếp thủ (đón tay) của đối phương và nghe (cảm nhận) phương hướng chuyển động của lực tay đối phương mà tùy theo đó để triệt kình (phá lực) của đối phương theo nguyên lý lực ly tâm nghĩa là dùng vòng tròn hóa giải lực chuyển động đường thẳng, đây là phương pháp rất thịnh hành trong các môn võ thuật Trung Hoa bắt đầu thời nhà Minh có một loại quyền pháp xuất hiện gọi là Miên Quyền (棉拳) - được người Trung Hoa dịch nghĩa sang tiếng Anh là Cotton Fist (quyền mềm như bông), còn gọi là Nhu Quyền (緜拳 - 綿拳).

    Nghiên cứu lịch sử quyền pháp Trung Hoa, ta cũng nhận thấy Thái Cực Quyền Trần Gia do Trần Vương Đình xuất phát tại làng Trần Gia Câu trong tỉnh Hà Nam cũng ra đời vào giữa cuối triều nhà Minh nghĩa là sau khi Nhu Quyền Trung Quốc ra đời. Trong Thái Cực Quyền có phép Thôi Thủ dùng phương pháp Thính Kình (nghe lực đối phương) cũng tựa hệt như phép Du đẩy trong Vịnh Xuân quyền, do vậy trong Thái Cực quyền phổ của Vương Tông Nhạc có câu: "Tứ lượng bát thiên cân, dẫn tiến lạc không hợp tức xuất" nghĩa là dùng 4 lạng (lấy yếu - dĩ nhu) mà chống đỡ ngàn cân (trị mạnh bạo - chế cương) tương tự như Cầm Nã Thuật của Thiếu Lâm quyền, làm cho đối phương mất thăng bằng và mất phương hướng (dẫn tiến lạc không) rồi sau đó xuất thủ (ra tay) mãnh liệt (hợp tức xuất).

    Đây là các bài tập thiên về dùng sức nhằm phát triển nội lực và cảm ứng lực, người tập đứng chính thân kiềm dương hoặc trắc thân kiềm dương ***g tay vào nhau và tiến hành tác động đến đối phương bằng các động tác ép, chặn nghịch chiều. Những bài tập du đẩy thể hiện tính chất đối kháng lực rất nặng với phương pháp hầu như tương phản với những nguyên tắc niêm thủ nói trên thường thiên về nhu hòa, hóa giải lực.

    Du đẩy và phá du đẩy có thể còn được thực hiện với những động tác ép, điểm, chặn, đả lên thân (vùng ngực, bụng, vai, lưng v.v.) đối phương nhằm tăng cường khả năng cảm ứng lực và chịu lực của từng phần cơ thể.

    Một số dòng phái

    Hiện nay Vịnh Xuân là một trong số những môn võ phát triển quy mô bậc nhất thế giới, trải rộng trên 140 quốc gia với rất nhiều hệ phái, trong đó có 3 hệ phái chủ đạo do Hiệp hội Vịnh Xuân quyền Thế giới phân loại là Hệ phái Vịnh Xuân quyền Hồng Kông của Đại sư Diệp Vấn (Yip Man); Hệ phái Vịnh Xuân quyền của Đại sư Nguyễn Kỳ Sơn (Yuen Kay San) và Hệ phái Vịnh Xuân Việt Nam được truyền bá tại Hà Nội. Từ năm 1939 đến 1954,ở Hàng Buồm, Hà Nội, thu nhận học trò và truyền dạy Vịnh Xuân khởi phát từ Nguyễn Tế Công[6]. Tuy nhiên, trong Vịnh Xuân quyền toàn tập[7], Robert Chu, Réne Ritchie, Y. Wu đã hệ thống Vịnh Xuân quyền thế giới thành các chi phái sau:

    Các chi phái chính

    1.Diệp Vấn Vịnh Xuân quyền (Yip Man Wing Chun kwen), phát triển mạnh tại Hồng Kông và nhiều nước phương Tây.

    2.Nguyễn Kỳ Sơn Vịnh Xuân quyền (Yuen Kay San Wing Chun kwen)
    3.Cổ Lao Vịnh Xuân quyền (Gu Lao Wing Chun kwen): phát xuất từ ngôi làng cùng tên.

    4.Nam Dương Vịnh Xuân quyền (Nanyang Wing Chun kwen)

    5.Bành Nam Vịnh Xuân quyền (Pannam Wing Chun kwen)

    6.Bào Hoa Liên Vịnh Xuân quyền (Pao Fa Lien Wing Chun kwen)

    7.Hồng thuyền Vịnh Xuân quyền (Hung Suen Wing Chun kwen)

    8.Chí Thiện Vịnh Xuân quyền (Jee Shim Wing Chun kwen)

    Các chi phái khác

    1.Phật Sơn Vịnh Xuân Quyền (Fujian Wing Chun kwen)

    2.Hồng thuyền hí ban Vịnh Xuân Quyền (Hung Sue Hay Ban Wing Chun kwen)

    3.Vịnh Xuân quyền Malaysia (Malaysian Wing Chun kwen): dòng phái phát triển tại Malaysia do công của Diệp Kiên (Yip Kin) từ năm 1930

    4.Thiên thân Vịnh Xuân quyền (Pien San Wing Chun kwen) có gốc khởi từ lương y Lương Tán tại làng Cổ Lao

    5.Vịnh Xuân quyền Việt Nam (Vietnamese Wing Chun) do Tề Công truyền vào từ những năm trước 1945, xin xem thêm Vịnh Xuân Quyền (Việt Nam)

    6.Diêu Kỳ Vịnh Xuân quyền (Yiu Kai Wing Chun kwen)

    Các chi phái Vịnh Xuân tổng hợp
    Một số dòng phái như Vịnh Xuân Thái cực quyền là sự kết hợp kỹ pháp của Vịnh Xuân quyền truyền thống với Thái cực quyền, hoặc Vịnh Xuân Triệt quyền đạo do Lý Tiểu Long khai sáng qua sự tổng hòa kungfu với những môn võ hiện đại như Taekwondo, Karatedo, quyền Anh

    Một số nhân vật sáng tổ của môn phái

    Ngũ Mai lão ni, (còn gọi là Ngũ Mai sư thái), tương truyền là người đã sáng tạo những công phu tiền khởi của Vịnh Xuân quyền khi quan sát xà hạc tương tranh.

    Chí Thiện thiền sư, tương truyền là người đã truyền công phu Lục điểm bán côn vào Vịnh Xuân quyền, cũng là nhân vật sáng tổ phái Chí Thiện Vĩnh Xuân quyền.

    Nghiêm Vịnh Xuân, đệ tử của Ngũ Mai, đã hệ thống hóa kiến thức do sư phụ truyền dạy, sau truyền cho chồng là Lương Bác Trù.

    Miêu Thúy Hoa, con gái của Miêu Hiển và là mẹ của Phương Thế Ngọc, tương truyền đã truyền vào Vịnh Xuân quyền công phu Bát trảm đao.

    Đại Hoa Diện Cẩm

    Lương Bác Trù, cao đồ Thiếu Lâm tự, chồng của Nghiêm Vịnh Xuân

    Lương Lan Quế

    Hoàng Hoa Bảo, Lương Nhị Tỳ và Hồng thuyền hội quán

    Lương Nhị Để

    Lương Tán, hành nghề y, nổi tiếng Vịnh Xuân quyền tại Cổ Lao

    Lương Bích

    Trần Hoa Thuận

    Trương Ngũ, còn gọi là Than thủ ngũ, biệt danh "kẻ nghiền xương" vì những đòn đấm tam tinh 1 inch bẻ gãy xương nhiều đối thủ.

    Diệp Vấn, chưởng môn chi phái Vịnh Xuân quyền Hồng Kông, tôn sư của Lý Tiểu Long

    Nguyễn Tế Công hay Nguyễn Tề Công, sư huynh của Diệp Vấn tại Hồng Kông, là tổ sư của Vịnh Xuân quyền Việt Nam.

    Nguyễn Kỳ Sơn

    Tạm đủ rồi,hôm nào rảnh em sẽ post thêm 1 số clip để cả nhà xem dễ hiểu.

Bookmarks

Quyền Sử Dụng Ở Diễn Ðàn

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •