kết quả từ 1 tới 10 trên 10

Ðề tài: Nước Vạn Xuân

  1. #1
    Tham gia ngày
    27-12-2010
    Nơi Cư Ngụ
    Nam Định
    Bài gởi
    225
    Thanks
    125
    Thanked 165 Times in 75 Posts

    Default Nước Vạn Xuân

    Mình rất muốn tìm hiểu 1 vài điều về thời kỳ nước Vạn Xuân độc lập. Hì, có lẽ vấn đề hơi rộng, trước hết mình muốn tìm hiểu về:
    1. Anh của Lý Nam Đế là Lý Thiên Bảo xưng là Đào Lang Vương lập nước Dã Năng và mất ở đó. Vậy nước Dã Năng hiện nay nằm ở địa phận nào? Có thống nhất vào nước Vạn Xuân sau khi Lý Phật Tử chiến thắng Triệu Việt Vương không?
    2. Việc Lý Phật Tử và Triệu Việt Vương phân định biên giới ở bãi Quần Thần, như vậy nước ta thời đó chia làm 2 miền Đông-Tây, Lý Phật Tử đóng đô ở thành Ô Diên (Huyện Đan Phượng, Hà Nội), Triệu Việt Vương đóng đô ở thành Vũ Ninh (Bắc Ninh). Mình nhận thấy khoảng cách giữa 2 kinh đô khá gần . Hì, liệu có bạn nào biết về lãnh thổ mà 2 người quản lí thời đó không?
    3. Về mô-típ Dã Lang và Cảo Nương có phần giống Mị Châu- Trong Thủy, mình nghĩ việc sụp đổ của Triệu Việt Vương không đơn giản như thế.
    Hì, nguồn sử liệu về thời kỳ này không được nhiều, rất mong được mọi người cho ý kiến

  2. #2
    Tham gia ngày
    30-11-2010
    Bài gởi
    25
    Thanks
    8
    Thanked 10 Times in 7 Posts

    Default

    Theo tớ được biết đến bây giờ người ta vẫn chưa biết được kinh đô thủ phủ nước Vạn Xuân nằm ở đâu cả, nên bạn hỏi nước kia chắc cũng chẳng khác gì...thôi thì mong các cụ cố gắng hơn nữa vậy.
    Hidden Content Lửa vẫn còn nhưng cơm áo không đùa với chính trị! Hidden Content

  3. The Following User Says Thank You to Cẩm Xuyên For This Useful Post:

    nguoibanso25 (16-02-2011)

  4. #3
    Tham gia ngày
    27-12-2010
    Nơi Cư Ngụ
    Nam Định
    Bài gởi
    225
    Thanks
    125
    Thanked 165 Times in 75 Posts

    Default

    Hì, vậy mới cần mọi người cùng nhau trao đổi, dù không phải là chính xác tuyệt đối hay toàn diện, nhưng chúng ta cùng phần nào hiểu hơn 1 giai đoạn lịch sử nước nhà. Theo mình được biết, kinh đô nước Vạn Xuân thời Lý Nam Đế ở địa phận Hà Nội, nhà vua đã cho xây dựng chùa Trấn Quốc. Hì, bạn có thể cho thêm thông tin về 1 vài nơi nghi ngờ là kinh đô thời kỳ này không?

  5. #4
    Tham gia ngày
    27-12-2010
    Nơi Cư Ngụ
    Nam Định
    Bài gởi
    225
    Thanks
    125
    Thanked 165 Times in 75 Posts

    Default

    Tạm thời chưa tìm được nhiều tư liệu, nêu 1 lượt các danh nhân thời này :
    1. Lý Bí:
    L ý Bí xuất thân từ một hào trưởng địa phương. Theo sử cũ, quê ông ở huyện Thái Bình (có lẽ ở phía trên thị xã Sơn Tây, trên hai bờ sông Hồng). Một thời, ông có ra làm việc với chính quyền đô hộ, nhận một chức quan nhỏ: giám quận (kiểm soát quân sự) ở Cửu Đức, Đức Châu (Đức Thọ, Hà Tĩnh). Yêu nước, thương dân, bất bình với bè lũ đô hộ, ông sớm bỏ quan, về quê ở Thái Bình. Vùng quê ông có Tinh Thiều, giỏi văn chương, lặn lội sang kinh đô nhà Lương (Nam Kinh) xin bổ một chức quan (trước năm 521). Nam triều Trung Quốc cho đến thời Lương, phân biệt tôn ti chặt chẽ giữa quý tộc và bình dân. Lại bộ thượng thư nhà Lương là Sái Tôn bảo họ Tinh là hàn môn, không có tiên hiền, chỉ cho Thiều làm Quảng Dương môn lang tức là chân canh cổng thành phía tây kinh đô Kiến Khang. Tinh Thiều lấy thế làm xấu hổ, không nhận chức về quê, cùng Lý Bí mưu tính việc khởi nghĩa, chiêu tập hiền tài.
    Lý Bí, nhân lòng oán hận của dân, đã liên kết với hào kiệt các châu thuộc miền đất Giao Châu nước ta (Việt Nam xưa), đồng thời nổi dậy chống Lương. Theo sử cũ Việt Nam, thủ lĩnh Chu Diên (vùng Đan Hoài, nay thuộc ngoại thành Hà Nội) là Triệu Túc và con là Triệu Quang Phục, phục tài đức Lý Bí đã đem quân theo trước tiên, Phạm Tu cũng là một tướng tài của Lý Bí từ buổi đầu khởi nghĩa.
    Cuộc khởi nghĩa thành công nhanh. Đứng trước cuộc khởi nghĩa lớn, có sự liên kết giữa các địa phương Tiêu Tư thứ sử Giao Châu khiếp hãi, không dám chống cự chạy trốn về Việt Châu (bắc Hợp Phố) và Quảng Châu.
    Nổi dậy từ tháng 1 năm 542, không quá 3 tháng nghĩa quân đã chiếm được châu thành Long Biên (Bắc Ninh).
    Sau những giờ phút kinh hoàng buổi đầu, chính quyền nhà Lương lập tức có phản ứng đối phó. Tháng 4 năm 542 vua Lương sai thứ sử Việt Châu là Trần Hầu, thứ sử La Châu là Nịnh Cư, thứ sử An Châu là Lý Trí, thứ sử ái Châu là Nguyễn Hán, từ 2 phía bắc nam Giao Châu cùng tiến đánh nghĩa quân Lý Bí. Cuộc phản kích này của giặc Lương đã hoàn toàn thất bại. Nghĩa quân thắng lớn và nắm quyền làm chủ đất nước. Từ đồng bằng Bắc Bộ, Lý Bí đã kiểm soát được tới vùng Đức Châu (Hà Tĩnh) ở phía nam và vùng bán đảo Hợp Phố ở phía bắc.
    Thua đau, vua Lương lại sai thứ sử Cao Châu là Tôn Quýnh, thứ sử Tân Châu là Lư Tử Hùng điều khiển binh mã đi đánh Lý Bí vào mùa đông năm ấy. Bọn này dùng dằng không chịu tiến quân, lấy cớ mùa xuân lam chướng, xin đợi mùa thu hẵng khởi binh song vẫn bất đắc dĩ phải động binh (tháng 1 năm 543).
    Chủ động đánh giặc, nghĩa quân Lý Bí tổ chức một trận tiêu diệt lớn ngay trên miền cực bắc Châu Giao. Cuộc chiến diễn ra ở Hợp Phố. Quân giặc, 10 phần chết tới 7,8 phần, bọn sống sót đều tan vỡ cả, tướng sĩ ngăn cấm cũng không được. Bọn Tôn Quýnh, Lư Tử Hùng phải dẫn tàn binh quay về Quảng Châu. Tiêu Tư dâng tờ khải về triều, vu cho Tôn Quýnh, Tử Hùng "giao thông với giặc, dùng dằng không tiến quân". Thấy quân lính bị thiệt hại quá nặng, Lương Vũ Đế xuống chiếu bắt cả 2 tên tướng cầm đầu bị tội chết ở Quảng Châu.
    Sau những thắng lợi cả hai chiến trường biên giới Bắc, Nam. Mùa Xuân, tháng Giêng theo lịch Trăng (2-544), Lý Bí dựng lên một nước mới, với quốc hiệu Vạn Xuân, đóng đô ở miền cửa sông Tô Lịch (Hà Nội). Sử cũ (Đại Việt sử ký) đã bình luận rằng, với quốc hiệu mới, người đứng đầu nhà nước Vạn Xuân có "ý mong xã tắc được bền vững muôn đời"
    Lý Bí là người Việt Nam đầu tiên tự xưng hoàng đế, Việt đế theo sử Bắc (Tự trị thông giám) hay Nam đế theo sử Nam. Và bãi bỏ chính sóc (lịch) của Trung Quốc, ông cũng đặt cho Vạn Xuân và triều đại mới một niên hiệu riêng, Đại Đức theo sử Bắc hay Thiên Đức theo sử Nam (Thiên Đức phải hơn, vì khảo cổ học đã tìm thấy những đồng tiền Thiên Đức đúc thời Lý Nam Đế).
    Xưng đế, định niên hiệu riêng, đúc tiền riêng, lấy Nam đối chọi với Bắc, lấy Việt đối sánh với Hoa, những điều đó nói lên sự trưởng thành của ý thức dân tộc, lòng tự tin vững chắc ở khả năng tự mình vươn lên, phát triển một cách độc lập. Đó là sự ngang nhiên phủ định quyền làm "bá chủ toàn thiên hạ" của hoàng đế phương bắc, vạch rõ sơn hà, cương vực, và là sự khẳng định dứt khoát rằng nòi giống Việt phương Nam là một thực thể độc lập, là chủ nhân của đất nước và nhất quyết giành quyền làm chủ vận mệnh của mình.
    Lý Nam Đế cũng là người đầu tiên nhận ra vị trí địa lý trung tâm đất nước của miền sông nước Tô Lịch. Hà Nội cổ, từ giữa thế kỷ 6, bước lên hàng đầu của lịch sử đất nước.
    Cơ cấu triều đình mới, hẳn còn sơ sài, nhưng ngoài hoàng đế đứng đầu, bên dưới đã có hai ban văn võ. Tinh Thiều làm tướng văn, Phạm Tu làm tướng võ, Triệu Túc làm thái phó, Lý Phục Man được cử làm tướng quân coi giữ một miền biên cảnh, từ Đỗ Động (Thanh Oai, Hà Sơn Bình) đến Đường Lâm (Ba Vì) "để phòng ngừa Di Lão" Triều đình Vạn Xuân là mô hình, lần đầu tiên, được Việt Nam thâu hóa và áp dụng của một cơ cấu nhà nước mới, theo chế độ tập quyền trung ương. Lý Nam Đế cho xây một đài Vạn Xuân để làm nơi văn võ bá quan triều hội.
    Nhà nước Vạn Xuân, dù mới dựng, cũng bỏ tiền xây một ngôi chùa lớn, sau trở thành một trung tâm Phật giáo và Phật học lớn của Việt Nam. Đó là chùa Khai Quốc, tiền thân của chùa Trấn Quốc ở Hà Nội ngày nay. Ngay cái tên, "chùa Mở Nước" cũng đã hàm chứa nhiều ý nghĩa!
    Đầu năm 545, nhà Lương bắt đầu tổ chức cuộc xâm lược Vạn Xuân nhằm chinh phục lại châu Giao, "thuộc quốc" cũ. Dương Phiêu được cử làm thứ sử châu Giao. Trần Bá Tiên, viên tướng vũ dũng xuất thân "hàn môn" nhưng có công đánh dẹp châu Quảng, được cử làm tư mã Giao Châu, lĩnh thái thú Vũ Bình, cùng Dương Phiêu tổ chức cuộc chinh phục Vạn Xuân.
    Quân Vạn Xuân có khoảng vài vạn người giữ thành ở cửa sông Tô Lịch, chiến đấu chống giặc.
    Thành đất, lũy tre gỗ, không mấy kiên cố, bị Trần Bá Tiên thúc giục quân vũ dũng công thành ráo riết. Lý Nam Đế buộc phải lui binh ngược sông Hồng, về giữ thành Gia Ninh trên miền đồi núi trung du vùng ngã ba sông Trung Hà - Việt Trì.
    Cục diện cố thủ của Lý Nam Đế ở thành Gia Ninh kéo dài suốt mùa khô năm 545. Sang tháng 2 năm 546, quân vũ dũng của Bá Tiên, có hậu quân Dương Phiêu tới phối hợp, bao vây và công phá, cuối cùng đã hạ được thành Gia Ninh vào ngày 25. Nhưng Lý Nam Đế cùng một số binh tướng đã thoát chạy được vào miền động Lão ở Tân Xương (miền đồi núi Vĩnh Phú trên lưu vực sông Lô). Chiến tranh giữ nước chuyển sang một hình thái khác. Lý Nam Đế vào vùng núi rừng Việt Bắc, ngoài số binh tướng còn lại sau trận thất thủ Gia Ninh, đã mộ thêm được nhiều nghĩa quân. Nghĩa quân dựng lán trại trong rừng, hạ nhiều cây rừng, xẻ ván đóng thuyền bè.
    Sau một thời gian chỉnh đốn lại lực lượng, tháng 10 năm 546, Lý Nam Đế lại kéo quân từ trong núi rừng "Di Lão" ra hạ thủy trại ở vùng hồ Điển Triệt (tên nôm là Đầm Miêng) thuộc xã Tứ Yên huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phú, nằm bên bờ sông Lô, cách Bạch Hạc khoảng 15 km về phía bắc. Tuy nhiên, những trận mưa lũ cuối mùa đã khiến cho nước sông Lô đột nhiên lên to, tràn vào vùng chằm ao và ruộng trũng, nước ngập tràn, chảy như rót vào hồ, thuyền lớn có thể đi lại tha hồ mà khu căn cứ nghĩa quân trở thành một vùng cô đảo giữa biển nước mênh mông... Lợi dụng nước lớn, Trần Bá Tiên xua chiến thuyền xông trận, đánh trống reo hò mà tiến vào Điển Triệt. Lý Nam Đế và nghĩa quân bị địch tập kết bất ngờ, không kịp phòng bị, không sao chống đỡ nổi.
    Đây là trận đánh lớn cuối cùng của Lý Nam Đế. Sau lần thất bại lớn thứ ba này, ông phải vào nương náu trong động Khuất Lão (Tam Nông, Vĩnh Phú).
    Tương truyền, về cuối đời, Lý Nam Đế bị mù. Thần thành hoàng Danh Hựu vẫn được các làng chung quan gọi là "Vua mù" và khi tế lễ, phải xướng tên các vật phẩm để thần biết.
    Theo sử cũ của Việt Nam, từ sau khi rút về động Khuất Lão, Lý Nam Đế bị đau yếu luôn. Hai năm sau ông mất (548).
    Cuộc kháng chiến chống ách Bắc thuộc của người Việt sau đó được tiếp tục dưới sự lãnh đạo của Triệu Quang Phục, một tướng cũ của Lý Bí với căn cứ khởi nghĩa tại đầm Dạ Trạch.
    2. Triệu Quang Phục:
    T riệu Quang Phục là người kế tục sự nghiệp của Lý Nam Đế. Ông là người huyện Chu Diên, là con của Triệu Túc, một thủ lĩnh địa phương có lòng yêu nước không chịu khuất phục nhà Lương. Triệu Quang Phục nổi tiếng giỏi võ nghệ. Sử chép ông là người "uy hùng sức mạnh".
    Cha con ông là người đầu tiên đem quân tham gia cuộc khởi nghĩa Lý Bí. Triệu Túc là một danh tướng của nước Vạn Xuân, được phong làm Thái Phó trông coi việc binh, hy sinh trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược nhà Lương ở vùng ven biển. Triệu Quang Phục lúc đầu theo cha đi đánh giặc, có công. Là một tướng trẻ có tài nên được Lý Nam Đế tin dùng làm tả tướng quân.
    Đầu năm 545, quân Lương xâm lược Vạn Xuân, cuộc kháng chiến của nhà Tiền Lý thất bại. Lý Nam Đế phải lẩn tránh ở động Khuất Lão thuộc tỉnh Phú Thọ ngày nay và giao binh quyền cho Triệu Quang Phục.
    Vốn thông thuộc vùng sông nước Chu Diên, Triệu Quang Phục quyết định chuyển hướng chiến lược, thay đổi phương thức tác chiến cũ là phòng ngự, cố thủ hay tập trung lực lượng quyết chiến với địch. Ông đưa hơn một vạn quân từ miền núi về đồng bằng, lập căn cứ kháng chiến ở Dạ Trạch (bãi Màn Trò, Khoái Châu, Hưng Yên).
    Dạ Trạch là một vùng đầm lầy ven sông Hồng, rộng mênh mông, lau sậy um tùm. ở giữa là một bãi phù sa rộng, có thể làm ăn sinh sống được. Đường vào bãi rất kín đáo, khó khăn. Chỉ có dùng thuyền độc mộc nhẹ lướt trên cỏ nước theo mấy con lạch nhỏ thì mới tới được...Triệu Quang Phục đóng quân ở bãi đất nổi ấy. Ngày ngày, quân sĩ thay phiên nhau vừa luyện tập, vừa phát bờ, cuốc ruộng, trồng lúa, trồng khoai để tự túc binh lương; ban ngày tắt hết khói lửa, im hơi lặng tiếng như không có người, đến đêm nghĩa quân mới kéo thuyền ra đánh úp các trại giặc, cướp được nhiều lương thực, "làm kế trì cửu" (cầm cự lâu dài) người trong nước gọi Triệu Quang Phục là Dạ Trạch Vương (vua Đầm Đêm). Nghe tin Lý Nam Đế mất, ông xưng là Triệu Việt Vương.
    Vùng đồng bằng này tuy không có thế đất hiểm như miền đồi núi nhưng có nhiều sông lạch chia cắt, nhiều đầm hồ lầy lội, không lợi cho việc hành binh của những đạo quân lớn. Địa thế như vậy buộc địch phải phân tán, chia quân đánh nhỏ, làm mất sở trường của chúng, đồng thời tạo điều kiện cho ta tiêu diệt gọn từng bộ phận nhỏ, tiêu hao sinh lực địch. Đồng bằng còn là nơi đông dân cư, nơi có nhiều sức người, sức của, cung cấp cho cuộc chiến đấu lâu dài của quân ta.
    Cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam, từ Lý Nam Đế qua Triệu Việt Vương đã có sự chuyển hướng chiến lược, thay đổi địa bàn và cách đánh. Lập căn cứ kháng chiến ở đồng bằng, đó là kế sách dụng binh hết sức mưu lược và sáng suốt của Triệu Quang Phục. Đưa quân xuống đồng bằng, Triệu Quang Phục không áp dụng phương thức tác chiến phòng ngự, cố thủ hay tập trung lực lượng quyết chiến với địch. Kế sách của ông nói theo ngôn ngữ quân sự hiện đại, là đánh lâu dài và đánh tiêu hao, đánh kỳ lập làm phương thức tác chiến chủ yếu.
    Nhờ sự chuyển hướng chiến lược sáng suốt đó mà cục diện chiến tranh thay đổi ngày càng có lợi cho ta, bất lợi cho địch. Quân Lương cố sức đánh vào vùng Dạ Trạch, nhằm phá vỡ đầu não kháng chiến, nhưng âm mưu đó không thực hiện được. Quân của Triệu Quang Phục giữ vững căn cứ Dạ Trạch, liên tục tập kích các doanh trại và các cuộc hành binh của địch. Qua gần 4 năm chiến tranh (547-550) cuộc kháng chiến ngày càng lớn mạnh, địch càng đánh càng suy yếu.
    Viên tướng giỏi của địch là Trần Bá Tiên đã trở về Châu Quảng từ năm 547, làm Thái thú Cao Yên. Năm 548, bên triều Lương xảy ra loạn Hầu Cảnh (548-552). Viên hàng tướng này đã cướp kinh sư, số đông quý tộc nhà Lương bị giết chết, bọn cường hào địa phương nổi dậy khắp nơi. ở phía bắc, triều Tây Ngụy, từ lưu vực sông Vị, tổ chức một loạt các cuộc tiến công đế chế của Lương, năm 553 chiếm Tứ Xuyên, cắt đứt quan hệ giữa Nam Kinh và Trung á, chiếm Trương Dương (Hồ Bắc), xâm nhập tới Giang Lăng trung lưu Trường Giang, lập nên triều Hậu Lương bù nhìn (bị xóa năm 587). Quan tướng các châu - trong đó có Trần Bá Tiên - kéo quân đổ về kinh sư với danh nghĩa "cứu viện kinh sư" dẹp loạn Hầu Cảnh, rồi nội chiến liên miên.
    Chớp thời cơ đó. Triệu Quang Phục, từ căn cứ Dạ Trạch, đã tung quân ra mở một loạt cuộc tiến công lớn vào quân giặc giết tướng giặc là Dương Sàn thu lại châu thành Long Biên, đuổi giặc ngoại xâm, giành lại quyền tự chủ trên toàn đất nước.
    Về sau, vì tin lời cầu hòa của Lý Phật Tử (vốn là tướng của Lý Nam Đế, từng nổi dậy chống ông), ông chia cho y một phần đất và kết mối thông gia: con trai Lý (Nhã Lang) lấy con gái Triệu (Cảo Nương). Năm 571, Lý Phật Tử phản bội đem quân đánh úp, Việt Vương thua, chạy đến cửa bể Đại Nha, cùng đường gieo mình tự vẫn.
    Theo Việt điện u linh, cuốn sách xưa nhất (1329) chép về Triệu Quang Phục thì sau khi ông mất, người đời thấy linh dị, lập miếu thờ ở cửa biển Đại Nha. Năm Trùng Hưng thứ nhất (1285, đời Trần Nhân Tông) sách phong là Minh Đạo Hoàng đế. Năm Trung Hưng thứ tư (1288, đời Trần Nhân Tông) ban thêm hai chữ "Khai cơ". Năm Hưng Long thứ 21 (1313, đời Trần Anh Tông) ban thêm bốn chữ "Thánh liệt thần vũ".
    Giáo sư Trần Quốc Vượng

    Vài ghi chú:
    - Vì sao Lý Bí không giao binh quyền cho họ tộc (Như Lý Phật Tử) mà lại giao binh quyền cho Triệu Quang Phục?
    - Vì sao Lý Bí không cùng Triệu Quang Phục đến Dạ Trạch?
    - Theo Toàn Thư, Nam Việt Đế băng hà vào mùa xuân tháng 3, ngày Tân Hợi, năm Mậu Thìn (548). Nhà vua mất vì bệnh sốt rét rừng tại động Khuất Lão. Maspéro không đồng ý như thế và theo sử Trung Quốc, ông cho rằng nhà vua bị dân Khuất Lão giết vào mùa hạ năm Bính Dần (546) để lấy đầu dâng Trần Bá Tiên xin hòa. Madrolle cũng chủ trương như thế. Nhưng các Sử Việt đều nói năm 546 nhà vua trao quyền lại cho Triệu Quang Phục và hai năm sau mới mất. Triệu Quang Phục xưng Vương ngày 24-4-548. Như thế, nhà Tiền Lý khởi từ năm Giáp Tý (544) mất năm Mậu Thìn (548) công được 5 năm (Cương Mục, tiền biên, IV,7), không phải 8 năm??????
    - Về Lý Phật Tử: Có giả thuyết sau:
    Du khách đi thăm miền Hoa Bắc không thể không đến thăm một công trình kỳ vĩ bậc nhất của Trung Quốc: Triệu Châu kiềụ Đây là một cây cầu cổ bằng đá, hình vòm cung, bắc qua sông Hiếu thuộc huyện Nam Dương tỉnh Hà Nam (cách Trịnh Châu khoảng 50 km). Kiến trúc tuyệt đẹp này hoàn thành đời Tùy Dạng Đế (năm 608) do một "công trình sư" tên là LÝ XUÂN thiết kế và thi công. Thế nhưng, ngoài cái tên ra thì chẳng có sách vở nào cho biết Lý Xuân là ai, quê ở đâu, làm chức gì, sau khi xây cầu xong thì có được thưởng không, về sau ra saọ.....Đây là một bí ẩn lịch sử, vì Triệu Châu kiều là một công trình luôn được các đời vua Trung Quốc (và ngày nay) xưng tụng là thắng tích bậc nhất (sách hướng dẫn du lịch nào về Trung Quốc cũng có nói đến).....Người Trung Quốc tìm tòi, truy lùng LÝ XUÂN đến nay vẫn không biết thêm được gì?

    Thế nhưng......

    Chính trong Tùy Thư, liệt truyện về Dương Tố, có nhắc đến một LÝ XUÂN, ông LÝ XUÂN này là "cừ soái" của Giao Châu vào năm 590. vào năm này thì "cừ soái" Giao Châu không ai khác là Lý Phật Tử. Vậy Lý Phật Tử có một tên khác là XUÂN chăng? và Lý Phật Tử chỉ có nghĩa là Lý con của Phật. Vua Tùy Văn Đế (cha Dạng Đế) rất sùng đạo Phật, và cả triều đình nhà Tùy cũng thế (Pháp sư Đàm Thiên từng là quân sư cho Tùy Dạng Đế, có trình bày cho triều đình về phật pháp tại Giao Châu-xem truyện Đỗ Pháp Hiền trong Thuyền Uyển tập Anh).

    Thế thì sao LÝ XUÂN ở Giao châu lại sang Trung Quốc, và đi xây cầu cho nhà Tùy, và
    biệt vố âm tín sau đó....

    Năm 603, Lý Phật Tử bị tướng Tùy là Lưu Phương bức hàng, cả họ hàng bị bắt đưa sang Trung Quốc làm tù binh. Không nghe nói gì về Lý Phật Tử nữa..Lý Phật Tử có thể là người đã nâng cấp thành Cổ Loa, gọi là thành cũ của Việt Vương (có thể là Triệu Việt Vương tức Triệu Quang Phục), làm chỗ đóng binh, ngoài ra ông còn cho đắp nhiều thành khác, như thành Ô Diên, thành sông Tô Lịch, do các bộ tướng là Lý Phổ Đĩnh và Lý Đại Quyền đóng (xem Đại Việt Sử Ký toàn thư). Vậy ông có tài xây dựng, không chỉ thành trì, mà còn cầu cống (các thành đều có hào vây quanh)

    Năm 603 Lý Phật Tử bị bắt về Trường An, Trung Quốc. Năm 605 LÝ XUÂN từ Trường An đến vùng sông Hiếu làm cầu, năm 608 thì cầu xây xong và LÝ XUÂN 'biến mất vào bí ẩn của lịch sử...

    LÝ XUÂN ở Giao Châu và LÝ XUÂN ở Trung Quốc , sống cùng thời, đều có tài xây dựng (tạm cho Lý Phật tử là Lý Xuân)'...vậy là hai hay chỉ là một người. Nếu là một thì chắc là Lý Phậ tử của Việt Nam ta rồi. Biết bao người Việt nam bị bắt sang Trung Quốc để làm công nhân, làm thợ...như Hồ Nguyên trừng chế súng cho nhà Minh, Nguyễn An xây Cố Cung Bắc Kinh, Tuệ Tĩnh chữa bệnh cho vua quan Tàu...

    Vấn đề này xin mời các sử gia Việt nam và Trung Quốc nghiên cứu thêm. Lý Phật Tử (Lý Xuân?) trước năm 603 là vua Việt Nam, sau năm 603 là 'hàng thần lơ láo" và nhờ xây cầu đẹp mà được ân xá và thành 'công dân hạng hai' của Trung Hoa chăng?(cho nên chẳng sách nào chịu cho biết lý lịch ông ta). Đúng là một bí ẩn đang chờ được các thức giả hai nước Trung Việt giải đáp.
    - Vùng cửa biển Đại Nha:
    Cửa biển ở xã Nam Điền, huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định, là nơi sông Đáy đổ ra biển. Xưa nơi đây có tên là cửa Liêu hay cửa Đại Ác, sóng to gió dữ, tàu thuyền khó qua lại. Năm 571, sau khi đáng cắp được móng rồng của Triệu Việt Vương, Lý Phật Tử phụ lời thề, đem quân đánh Triệu Việt Vương. Mất móng rồng trên mũ đâu mâu, Việt Vương biết không thể chống được, bèn đem con gái chạy về phía Nam đến cửa biển này, nhảy xuống biển. Dân chúng lập đền thờ của ông tại đây.

    Đến thời Lý, năm 1044, Lý Thái Tông đem quân đi đánh Chiêm Thành. Đến cửa biển Đại Ác, gặp lúc sóng gió yên lặng, đại quân qua biển dễ dàng, cho nên đổi tên Đại Ác làm Đại An. Nay là ranh giới tự nhiên giữa hai tỉnh Nam Định và Ninh Bình.

    Tuy nhiên vùng hạ Nghĩa Hưng, Nam Định mới được khai phá gần đây, bởi đốc học Phạm Quang Nghị, xã Nam Điền là vùng đất mới được mở mang do quai đê lấn biển, có lẽ vùng cửa biển nơi Triệu Quang Phục mất nằm ở phía trên ở địa phận thượng Nghĩa Hưng, Ý Yên (Nam Định). Ở Độc Bộ (Ý Yên) có đền thờ ông.
    thay đổi nội dung bởi: nguoibanso25, 13-03-2011 lúc 17:45

  6. #5
    Tham gia ngày
    04-11-2008
    Nơi Cư Ngụ
    Gia Định thành
    Bài gởi
    4655
    Thanks
    186
    Thanked 1,184 Times in 670 Posts

    Default

    đến tận thời Trần, quyền lực địa phương còn là 1 lực lượng cực mạnh, và triều đình phải nhượng bộ vài nơi, chứ đừng nói thời Vạn Xuân.
    Việc "đóng đô" có thể chỉ là 1 lời nói theo kiểu Nho gia thôi, còn hiểu nôm na là nơi "2 vị lãnh tụ ở". Nên khoảng cách cỡ ... 2 ấp là quá đủ chứ đừng nói là 2 tỉnh
    Thứ nữa, rất có thể (giả thuyết thôi), các hình thức Quan lang, Lạc Tướng vẫn còn tôn tại (nói nôm na dễ hiểu là làng nào theo làng ấy). Việc này có thể thấy rất dễ là sau này, dù Ngô Quyền xưng Vương nhưng thế lực địa phương vẫn còn tranh giành xâu xé dẫn đến cuộc biến loạn sau này, hay cho đến tận bây giờ, văn hoá làng xã, vẫn còn in đậm trong tâm thức người Việt (rõ nét nhất là miền Bắc)
    do vậy đừng nên có suy nghĩ, hễ lúc nào có"quốc hiệu" có "đế vương" thì phải là 1 nước quân chủ tập quyền chặt chẽ từ trung ương đến địa phương
    ...
    nếu nhân quyền bị tước đoạt
    thì bước ngoặt là cách mạng đòi tự do
    và nếu con người vẫn tự cho là giống loài có quyền sinh và sát
    thì trái đất nhiều nơi đất chỉ sinh ra cát
    cách mạng của thiên nhiên của tạo hoá khiến con người bị li khai
    ...
    rồi sẽ thêm nhiều nơi như haiti
    khi thiên nhiên khẳng định lại lịch sử sự sống do ai ghi và trái đất ai cai trị
    Phía bên kia cánh đồng - Ling ft Drojk

  7. The Following User Says Thank You to Thiên Lang For This Useful Post:

    rongdienro (13-03-2011)

  8. #6
    Tham gia ngày
    27-12-2010
    Nơi Cư Ngụ
    Nam Định
    Bài gởi
    225
    Thanks
    125
    Thanked 165 Times in 75 Posts

    Default

    - Khoảng cách "kinh đô" gần nhau, ý mình muốn nói, liệu diện tích lãnh thổ Lý Phật Tử và Triệu Quang Phục quản lý không lớn, hay là thế "Thiên tử trấn biên"? - Bạn đặt giả thuyết nước ta thời đó theo cách quản lý phân quyền, "lãnh chúa địa phương"?

  9. #7
    Tham gia ngày
    27-05-2010
    Bài gởi
    526
    Thanks
    160
    Thanked 178 Times in 95 Posts

    Default

    Dã Năng đang nói liệu có liên quan đến nước Dạ Lang trong truyện cổ Trung Quốc không?

    Trần Bá Tiên mang quân vào đuổi theo đánh, Lý Thiên Bảo và Lý Phật Tử thua trận, bèn thu nhặt quân còn sót được vạn người chạy sang đất người Di Lạo ở Ai Lao. Thấy động Dã Năng[2] ở đầu nguôn Đào Giang, đất phẳng rộng màu mỡ có thể ở được, mới đắp thành để ở, nhân tên đất ấy mà đặt quốc hiệu là Dã Năng.
    Một nước lớn nhất trong các nước rợ miền Tây. Nước ấy ở ngoài đất Thục, phía đông giáp Giao Chỉ, phía tây giáp Vân Nam. Đời Hán Vũ Đế, trong thư của Đường Mông dâng vua, có đoạn: "Quân tinh nhụê ở Dạ Lang có thể được hơn mười vạn lượt thuyền sông Tương Ca đánh xuất kỳ bất ý, đó là một kế hay để chế ngự đất Nam Việt
    Kỳ thực Ai Lao có giáp với Giao Chỉ về phía Đông, phải chăng 2 địa danh này chính là một?
    Nhà của mình ở đây...
    Hidden Content

  10. #8
    Tham gia ngày
    27-05-2010
    Bài gởi
    526
    Thanks
    160
    Thanked 178 Times in 95 Posts

    Default

    Tin trao đổi học thuật quốc tế “Dấu tích văn hóa Dạ Lang ở Việt Nam”

    Các vấn đề
    Kết quả khai quật Khả Lạc (Kele)


    Yelang là một nhóm tộc người hay nhà nước ở Tây Nam TQ
    Kele là phát hiện khảo cổ học quan trọng nhất có quan hệ với Dạ Lang (Yelang cổ)
    Kele là một TP nhỏ ở Hezzhang, tây bắc Quý Châu. Năm 1970, khai quật một số mộ táng ( niên đại TK 4-1 BC). Mộ phân bố trên một số đồi nhỏ (cao 60-100m) quanh thung lũng
    Có hai loại mộ về niên đại: 3 mộ Hán (Han culture tombs)
    108 mộ địa phương sơ kỳ Chiến Quốc tiền kỳ Tây Hán (Local style có nhiều nét địa phương so với những mộ Hán đương thời nên gọi là mộ của VH Khả Lạc )
    Giữa hai loại mộ này có sự phân biệt rõ ràng về không gian. Mộ Hán ở phía Nam.
    Mộ địa phương thường có chiều dài 2-3m rộng 1m, sâu chưa đến1m.
    Ít vết quan tài gỗ sơn. Mộ đơn, chôn nằm ngửa, một số tay khoanh trước khi chôn. Một số đầu chôn vào ấm đồng hay trống đồng, giai đoạn muộn hơn sắt thay thế ấm đồng, có trường hợp chậu úp lên mặt người chết.
    Khoảng 800đồ tùy táng chôn theo các mộ dạng địa phương: Gốm, vải, da, xương, đồng, sắt, ấn…Nhiều đồ minh khí. Công cụ, nông cụ…Nhiều vũ khí (hoạt động quân sự phát triển)
    Nhiều chứng cứ liên quan đến diễn giải đời sống KT, XH và tinh thần có thể so sánh với thư tịch và Sử ký Tư Mã thiên (phần chép về Dạ lang). Có nét chung là búi tóc
    Có thể thấy tính chất bộ lạc trong xã hội của người Dạ Lang.
    Đồ đồng dùng trong mộ táng (chôn đầu) thể hiện tôn giáo nguyên thủy, thủ lĩnh tôn giáo hay phù thủy.
    Quan hệ văn hóa
    Khác với mộ văn hóa Điền và những tàn tích văn hóa khu vực xung quanh, mặt khác giữa chúng có những nét chung
    Quan hệ gần gũi với văn hóa Ba Shu (Ba Thục) giao dịch buôn bán, ảnh hưởng hay di dân Ba Thục vào Khả Lạc
    Quan hệ với văn hóa Hán: Đồ đựng bằng sắt, gương đồng…
    Với ĐNA: tục úp mặt hay chôn đầu vào đồ đồng được tìm thấy ở một số nơiở ĐNA lục địa
    Trung Hoa


    Thời Tần Hán, một số người Kele… di cư xuống phía nam
    Hậu Hán thư cho biết có môt số người Dạ lang sống ở miền Bắc và miềnTrung Việt Nam.
    Kết luận: Nhiều chứng cứ cho thấy văn hóa Kele (Khả Lạc) là của người Dạ Lang (Yelang people). Văn hóa Khả Lạc là một phần của Dạ Lang. Tuy vậy vẫn cần thêm những nghiên cứu.


    2. Nguyễn Hữu Tâm (TTTSĐNA)
    Vấn đề nước Dạ Lan và ghi chép về Dạ Lang trong một số thư tịch cổ Trung Quốc


    3. TS. Nguyễn Việt (TTTSĐNA): The Traces of Yelang culture in Việt Nam (Dấu vết văn hóa Dạ Lang ở Việt Nam).
    Gồm các vấn đề
    Làng Vạc Đông Sơn Nam tiến
    Yalang - OuLe –Linyi (Dạ Lang – Âu Lạc và Lâm Ấp)
    Dấu vết của người Dạ Lang vào người Tây Âu
    Nhận thức mới về Văn hóa Đông Sơn
    Một phần Gò Mun đã thuộc Đông Sơn? Bùng nổ của ĐS liên quan đến biến động chung của khu vực
    Phân chia khu vực: Bắc, Nam Đông Sơn
    Lĩnh Nam chưa nhận biết nền văn hóa đồ đồng rõ ràng như Điền hay Đông Sơn, có thể là rìa của Đông Sơn Bắc.


    Khai quật Khả Lạc quan trọng đối với nhận biết Dạ Lang
    Làng Vạc và Nam tiến của hiện vật Đông Sơn - di chuyển của quý tộc Tây Âu và Âu Lạc về phía nam
    Vấn đề Tây Âu trước khi nhập với Lạc Việt!
    Lưu ý về chôn đầu người trong đồ đồng có phải chỉ chôn đầu người hay không? hay do đồng giúp lưu giữ xương sọ còn những bộ phận thi thể khác đã bị phân hủy hoàn toàn.


    Nồi trống Phú Xuyên, Làng Vạc… những hiện vật khác tìm những đặc điểm chung với đồ đồng Kele dạng chân đế 4 chấm.




    4. TS. Andreas Reinecke (Viện Khảo cổ học liên bang Đức).
    Những dấu hiệu về mối quan hệ xa giữa Lĩnh Nam TQ và Nam Đông Dương


    Vấn đề cách và đường đi của hiện vật từ chỗ này sang chỗ khác (Trống đồng là vật chứa biểu tượng chứ không phải hàng hóa thông thường).
    Trình bày về đồ đồng Hán tìm thấy ở Miền Trung Việt Nam và Nam Việt Nam


    Và những kết quả mới nhất ở Prohear (Cămpuchia)


    5. Tạ Đức (TTTSĐNA) Quan hệ Dạ Lang-Văn Lang từ nghiên cứu so sánh Dân tộc học ngôn ngữ
    Nhà của mình ở đây...
    Hidden Content

  11. The Following User Says Thank You to Popofuji For This Useful Post:

    dukon (09-01-2012)

  12. #9
    Tham gia ngày
    04-11-2008
    Nơi Cư Ngụ
    Gia Định thành
    Bài gởi
    4655
    Thanks
    186
    Thanked 1,184 Times in 670 Posts

    Default

    Trích Từ bài viết của nguoibanso25 View Post
    - Khoảng cách "kinh đô" gần nhau, ý mình muốn nói, liệu diện tích lãnh thổ Lý Phật Tử và Triệu Quang Phục quản lý không lớn, hay là thế "Thiên tử trấn biên"? - Bạn đặt giả thuyết nước ta thời đó theo cách quản lý phân quyền, "lãnh chúa địa phương"?
    không hẳn là lãnh chúa địa phương, nhưng 1 mặt nào là như vậy, theo kiểu các Quan Lang quản lý 1 huyện nào đó. Việc này thời Hán có đặt Huyện lệnh nhưng thực ra quyền lực địa phương vẫn thuộc về người Việt. Chẳng thế mà chúng ta có thể giữ đc văn hoá của mình suốt ngàn năm. Thứ nữa mình cũng nói đó k hẳn là "kinh đô" theo cái nghĩa trọn vẹn của nó
    ...
    nếu nhân quyền bị tước đoạt
    thì bước ngoặt là cách mạng đòi tự do
    và nếu con người vẫn tự cho là giống loài có quyền sinh và sát
    thì trái đất nhiều nơi đất chỉ sinh ra cát
    cách mạng của thiên nhiên của tạo hoá khiến con người bị li khai
    ...
    rồi sẽ thêm nhiều nơi như haiti
    khi thiên nhiên khẳng định lại lịch sử sự sống do ai ghi và trái đất ai cai trị
    Phía bên kia cánh đồng - Ling ft Drojk

  13. #10
    Tham gia ngày
    30-05-2010
    Nơi Cư Ngụ
    Lạc Ấp
    Bài gởi
    130
    Thanks
    5
    Thanked 30 Times in 26 Posts

    Default

    Trích Từ bài viết của nguoibanso25 View Post
    Mình rất muốn tìm hiểu 1 vài điều về thời kỳ nước Vạn Xuân độc lập. Hì, có lẽ vấn đề hơi rộng, trước hết mình muốn tìm hiểu về:
    1. Anh của Lý Nam Đế là Lý Thiên Bảo xưng là Đào Lang Vương lập nước Dã Năng và mất ở đó. Vậy nước Dã Năng hiện nay nằm ở địa phận nào? Có thống nhất vào nước Vạn Xuân sau khi Lý Phật Tử chiến thắng Triệu Việt Vương không?
    2. Việc Lý Phật Tử và Triệu Việt Vương phân định biên giới ở bãi Quần Thần, như vậy nước ta thời đó chia làm 2 miền Đông-Tây, Lý Phật Tử đóng đô ở thành Ô Diên (Huyện Đan Phượng, Hà Nội), Triệu Việt Vương đóng đô ở thành Vũ Ninh (Bắc Ninh). Mình nhận thấy khoảng cách giữa 2 kinh đô khá gần . Hì, liệu có bạn nào biết về lãnh thổ mà 2 người quản lí thời đó không?
    3. Về mô-típ Dã Lang và Cảo Nương có phần giống Mị Châu- Trong Thủy, mình nghĩ việc sụp đổ của Triệu Việt Vương không đơn giản như thế.
    Hì, nguồn sử liệu về thời kỳ này không được nhiều, rất mong được mọi người cho ý kiến
    Chuyện về thời Vạn Xuân nếu xem xét theo những địa điểm cụ thể sẽ thấy ngay... chẳng đâu ăn nhập vào đâu cả.

    Nước Dã Năng của Đào Lang Vương Lý Thiên Bảo là nước Dạ Lang ở trên đất người Ai Lao Di, hay người Di ở Vân Nam. Khởi nghĩa của anh em Lý Bí, Lý Thiên Bảo như vậy có qui mô tương đối lớn, chiếm cả vùng Vân Nam Trung Quốc. Lý Bí xưng đế ngang với Hán, Triệu... Thế mà trong Hoa sử chẳng hề thấy ghi chép gì về khởi nghĩa này?

    Kỳ lạ hơn, vào thời điểm Lý Bí khởi nghĩa thì vùng Vân Nam Quí Châu đất của nhà Lương đã bị Tây Ngụy chiếm. Sau đó Vũ Văn Giác lật đổ Tây Ngụy, lập nước Bắc Chu, cũng làm chủ vùng này. Nhà Trần của Trần Bá Tiên không chiếm được Vân Nam vì đây là đất của Bắc Chu. Vậy Lý Thiên Bảo làm sao có thể cùng thời lập nước Dã Năng ở vùng Vân Nam được?

    Lý Thiên Bảo chết, Lý Phật Tử nối ngôi, hiển nhiên là đã làm chủ nước Dã Năng rộng lớn. Thế mà khi chia ranh giới với Triệu Việt Vương Lý Phật Tử hình như lại chỉ còn khoảnh đất nho nhỏ ở trung du Bắc Bộ, phải đóng đô ngay sát đất của Triệu Việt Vương.

    Tất cả sự mâu thuẫn và vô lý về thời kỳ này cho thấy... khởi nghĩa của Lý Bí đã không xảy ra vào thời điểm cuối nhà Lương và phạm vi của khởi nghĩa cũng không chỉ bó hẹp quanh đồng bằng và trung du Bắc Bộ như sử vẫn chép.

Quyền Sử Dụng Ở Diễn Ðàn

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •