kết quả từ 1 tới 1 trên 1

Ðề tài: Sơ lược lịch sử Đế quốc Mông Cổ (dịch từ wiki tiếng Anh)

  1. #1
    Tham gia ngày
    06-05-2007
    Bài gởi
    92
    Thanks
    21
    Thanked 44 Times in 29 Posts

    Default Sơ lược lịch sử Đế quốc Mông Cổ (dịch từ wiki tiếng Anh)

    Trước đây mình dịch được một nửa nhưng phải dừng lại một thời gian dài vì bận, giờ mới dịch xong.
    Xong vụ dịch này chắc phải tạm nghỉ một thời gian rất dài nữa, mình đang có ý định dịch các tài liệu về các trận đánh của quân Mông Cổ trên khắp các mặt trận. Nếu anh chị em ai có lòng thì chiến đấu.
    Nguồn: http://en.wikipedia.org/wiki/Mongol_Empire

    Đế quốc Mông Cổ

    Đế quốc Mông Cổ, tên ban đầu là Đại Mông Cổ Quốc (Greater Mongol State), là một đế quốc rộng lớn trong suốt thế kỉ 13 và 14. Khởi nguồn ở vùng thảo nguyên Trung Á, đế quốc này đã mở rộng từ Đông Âu đến Biển Nhật Bản, bao phủ một phần lớn Siberia ở phía bắc và mở rộng về phía nam đến vùng Đông Nam Á, tiểu lục địa Ấn Độ (Indian subcontinent) và vùng Trung Đông. Được công nhận là đế quốc có lãnh thổ liên tục rộng lớn nhất (largest contiguous empire: đế quốc mà lãnh thổ liên tục không bị đứt đoạn) từng tồn tại trong lịch sử thế giới. Ở thời điểm đế quốc đạt được diện tích lớn nhất, nó trải dài khoảng 9.700 km, bao phủ một diện tích khoảng 24.000.000 km2, chiếm 16% diện tích đất liền của địa cầu, và có dân số dao động trong khoảng 100 triệu người.
    Đế quốc Mông Cổ nổi lên từ sự thống nhất giữa các bộ tộc Mông Cổ và bộ tộc người Turk ở khu vực mà ngày nay là nước Mông Cổ dưới sự lãnh đạo của Thành Cát Tư Hãn (Genghis Khan), người đã tuyên bố là vua của dân Mông Cổ vào năm 1206. Đế quốc nhanh chóng phát triển dưới sự lãnh đạo của ông và sau này là con cháu ông, những người đã tiến hành nhiều cuộc xâm lược trên khắp các mặt trận. Đế quốc xuyên lục địa rộng lớn này đã nối phía đông với phía tây, và có chức năng như là một ngôi nhà văn hóa (“cultural clearing house”) cho Cựu Thế giới. Dưới sự thống trị của người Mông Cổ, những công nghệ mới, những trao đổi thương mại phong phú đa dạng và các tư tưởng (của cả đông và tây) đã được gieo mầm và trao đổi trên toàn lục địa Á-Âu; từ sự trao đổi về lĩnh vực nghiên cứu bản đổ (cartography) tới hội họa, từ nông nghiệp tới thiên văn học.
    Đế quốc bắt đầu chia rẽ do hậu quả của những cuộc chiến giành quyền kế vị, khi những người cháu của Thành Cát Tư tranh cãi về việc dòng máu hoàng gia phải theo con trai của Thành Cát Tư là Oa Khoát Đài (Ogedei) (cũng là người kế vị đầu tiên của Đế quốc) hay là dòng máu của những người con trai khác của Thành Cát Tư như Đà Lôi (Tolui), Sát Hợp Đài (Chagatai) hay Truật Xích (Jochi). Những người theo Đà Lôi đã chiến thắng sau một cuộc thanh trừng đẫm máu các phe ủng hộ Oa Khoát Đài và Sát Hợp Đài. Tuy nhiên, tranh cãi vẫn tiếp diễn ngay giữa những hậu duệ của Đà Lôi. Những hội đồng chống đối nhau cùng một lúc chọn ra những Đại hãn khác nhau, ví dụ như khi hai anh em Ariqboke và Hốt Tất Liệt (Kublai) đều được chọn và sau đó họ không chỉ loại trừ lẫn nhau mà còn phải đối mặt với những thách thức từ những người con trai khác của Thành Cát Tư. Các hậu duệ của Thành Cát Tư hoặc là chống lại những quyết định chọn ngôi Đại hãn, hoặc là đòi hỏi những vùng đất độc lập trong chính đế chế của mình.
    Hốt Tất Liệt đã thành công trên con đường nắm quyền lực, nhưng nội chiến lại xảy ra, khi ông ta không thành công trong việc kiểm soát các nhánh của Sát Hợp Đài hay Oa Khoát Đài. Khi Hốt Tất Liệt chết, Đế quốc Mông Cổ bị chia cắt thành 4 Hãn quốc (khanate), mỗi Hãn quốc lại theo đuổi những lợi ích và mục tiêu riêng: Kim Trướng Hãn Quốc (Golden Horde) ở phía tây bắc, Sát Hợp Đài Hãn Quốc ở phía tây, Il Hãn Quốc (Ilkhanate) ở phía tây nam, và Nhà Nguyên đóng đô ở Bắc Kinh ngày nay.
    Cho đến đầu thế kỉ 14 thì các Hãn quốc phía tây mới chấp nhận sự thống trị tối cao trên danh nghĩa của Nhà Nguyên lần đầu tiên kể từ năm 1259 – mặc dù uy quyền của các Hoàng đế Nguyên đối với các Hãn quốc phía tây chỉ mang tính biểu tượng. Khi Nhà Nguyên bị lật đổ bởi Nhà Minh của người Hán Trung Hoa dưới sự lãnh đạo của Chu Nguyên Chương năm 1368, Đế quốc Mông Cổ cuối cùng cũng tan rã.

    Tên gọi

    Trong tiếng Mông Cổ hiện đại, từ “Mongol Empire” là “Mongolyn Ezent Guren” (Монголын эзэнт гүрэн) và từ “Greater Mongol State” (Đại Mông Cổ Quốc) là “Ikh Mongol Uls” (Их Монгол улс). Thành Cát Tư Hãn sử dụng cái tên thứ hai khi ông xưng Hoàng đế. Vào những năm 1240, hậu duệ của Thành Cát Tư là Quý Do Hãn (Güyük Khan) đã viết một bức thư gửi Giáo hoàng Innocent IV với lời tựa là “Đại Hãn của Đại Mông Cổ Quốc” (“Dalai Khagan of the great Mongol state (ulus)”).
    Sau khi cuộc chiến tranh giành quyền kế vị giữa Hốt Tất Liệt Hãn và em trai ông ta là Ariq Boke kết thúc ( cuộc chiến đã giới hạn quyền lực thực sự của Hốt Tất Liệt chỉ ở phía đông mà thôi), Hốt Tất Liệt Hãn đã chính thức ban chiếu chỉ vào ngày 17 tháng 12 năm 1271, đặt tên nước là “Đại Nguyên” (Great Yuan, Dai Yuan, or Dai on Ulus) để thành lập Nhà Nguyên, mặc dù một số nguồn tài liệu chỉ ra rằng tên đầy đủ theo tiếng Mông Cổ là “Dai Ön Yehe Monggul Ulus”.

    Lịch sử

    Thời kì tiền Đế chế

    Vùng đất ở khu vực Mông Cổ, Mãn Châu và một số phần thuộc Bắc Trung Hoa được đặt dưới sự thống trị của Nhà Liêu (có lẽ nên gọi là nước Liêu chăng) kể từ thế kỉ 10. Năm 1125, Nhà Kim được thành lập sau khi người Nữ Chân (Jurchens) lật đổ Nhà Liêu, và (họ) cố gắng kiểm soát các vùng đất trước đây của Nhà Liêu ở Mông Cổ. Những vị vua Nhà Kim, được gọi là các Kim Vương (Golden Kings), bị liên minh Khamag Mông Cổ chống đối (Khamag Mongol confederation). Liên minh này do Khabul Khan (ông tổ của Thiết Mộc Chân (Temujin, tức Thành Cát Tư Hãn)) lãnh đạo. Khabul Khan đã đánh bật quân Kim ra khỏi lãnh thổ Mông Cổ vào những năm 1130. Lúc đó có 5 liên minh bộ tộc quyền lực chính (khanlig) ở cao nguyên Mông Cổ là: Kereit, Khamag Mongol, Naiman, Mergid và Tatar. Các hoàng đế nhà Kim ủng hộ người Tatar trong cuộc chiến nội bộ của người Mông Cổ, để làm suy yếu các bộ tộc du mục này, để rồi sau đó âm mưu sáp nhập Mông Cổ vào nước Kim. Người Tatar đã phản bội Ambaghai Khan, người kế vị Khabul, để cho người Nữ Chân xử tử ông. Người Mông Cổ đã trả thù bằng cách tấn công quân Kim. Quân Kim phản công nhưng thất bại vào năm 1143. Năm 1147, Nhà Kim kí hòa ước với người Mông Cổ và phá hủy khoảng hai chục pháo đài đe dọa họ; đây là một chính sách tinh vi gián tiếp chống lại người du mục. Sau đó, người Mông Cổ tấn công người Tatar để trả thù cho cái chết của Hãn Ambaghai, mở ra một thời kì thù địch lâu dài. Quân Kim và Tatar đã đánh bại quân Mông Cổ vào năm 1161. Những sự kiện này minh họa rõ ràng chính sách chia để trị (divide and rule) của người Kim.

    Thành Cát Tư Hãn

    Thời thơ ấu có tên là Thiết Mộc Chân, Thành Cát Tư Hãn là con của một tù trưởng Mông Cổ. Ông đã phải trải qua một thời niên thiếu khó khăn, và khi người vợ trẻ của ông là Borte bị một bộ tộc thù địch bắt cóc, Thiết Mộc Chân đã thống nhất các bộ lạc du mục, trước đó là các bộ tộc người Mông Cổ - Turk thù địch nhau, dưới sự lãnh đạo của ông bằng các thủ đoạn chính trị và sức mạnh quân sự. Những đồng minh mạnh nhất của ông là người bạn của cha ông, Wang Khan Toghoril – tù trưởng Keyreyd, và người anh em kết nghĩa (anda) Trát Mộc Hợp (Jamukha) của bộ tộc Jadran. Với sự giúp đỡ của họ, Thiết Mộc Chân đã tiêu diệt bộ lạc Merkit, giải cứu người vợ Borte, và sau đó tiến tới tiêu diệt người Naiman và Tatar.
    Thiết Mộc Chân ra luật cấm các hành vi cướp bóc và hãm hiếp kẻ thù mà chưa có sự cho phép, và ông đã chia các chiến lợi phẩm cho các chiến binh Mông Cổ và gia đình họ thay vì đưa hết chúng cho tầng lớp quý tộc. Vì vậy ông đã đạt được danh hiệu Hãn. Tuy nhiên, những người chú (bác) của ông cũng là những người kế vị hợp pháp của ngai vàng, và quyết định này (quyết định phong Hãn cho Thiết Mộc Chân) đã gây ra sự xung đột giữa các tướng lĩnh và tầng lớp quý tộc. Đồng minh cũ của ông là Trát Mộc Hợp của bộ tộc Jadran, cũng như người Kereyd, đã ly khai Thiết Mộc Chân. Đối với các quý tộc thù địch, Thiết Mộc Chân không phải là thủ lĩnh mà gần như là một kẻ tiếm quyền hỗn xược. Danh tiếng và quyền lực của Thiết Mộc Chân đối với người Mông Cổ và dân du mục đã làm cho quý tộc Kereyd lo ngại. Gần như tất cả chú (bác), anh em họ của ông và thủ lĩnh các bộ tộc khác đều quay ra chống lại ông, và chiến tranh xảy ra. Quân của Thiết Mộc Chân gần như bị tiêu diệt, nhưng sau đó ông đã khôi phục lại lực lượng và được các bộ lạc trung thành tiếp viện. Năm 1203 – 1205, người Mông Cổ dưới sự chỉ huy của Thiết Mộc Chân đã đánh bại toàn bộ các bộ lạc thù địch còn lại và đặt họ dưới sự cai trị của ông. Năm 1206, Thiết Mộc Chân lên ngôi Khả Hãn (Khagan) của Yekhe Mongol Uls (Đại Mông Cổ Quốc) tại một Kurultai (hội đồng tướng lĩnh). Cũng ở đó, ông lấy tên là “Thành Cát Tư Hãn” (Genghis Khan) thay thế cho các danh hiệu bộ lạc kiểu cũ như là Gur Khan hay Tayang Khan. Sự kiện này cuối cùng đã đánh dấu sự khởi đầu của Đế quốc Mông Cổ dưới sự lãnh đạo của Thành Cát Tư Hãn.

    Tổ chức ban đầu

    Thành Cát Tư Hãn đã sáng tạo ra nhiều phương pháp để tổ chức quân đội của mình. Ông chia quân đội thành các đội nhỏ theo hệ thống thập phân gồm có arban (10 người), zuun (100 người), myangan (1000 người) và tumen (10.000 người). Đơn vị Kheshig (Cấm vệ quân hoặc Vệ binh Đế chế: Imperial Guard) được thành lập và được chia thành các đội canh gác ban ngày (khorchin, torghud) hay ban đêm (khevtuul). Ông ban thưởng cho những người đã trung thành với ông và cất nhắc họ lên những vị trí quan trọng. như là đứng đầu các đơn vị quân đội và bảo vệ, mặc dù rất nhiều trong số các đồng minh của ông xuất phát từ những bộ tộc bậc thấp. So với những đơn vị mà ông đặt những chỉ huy là người trung thành với ông, thì số lượng những người trong họ của ông được bổ nhiệm khá ít. Ông ban hành một luật mới cho Đế quốc, gọi là Ikh Zasag hay Yassa, và đã hệ thống hóa (soạn thành luật lệ) mọi thứ liên quan đến cuộc sống hằng ngày và những sự vụ chính trị của dân du mục vào thời điểm đó. Ông cấm việc buôn bán phụ nữ, trộm cắp tài sản, đánh nhau (giữa những người Mông Cổ) và săn bắn động vật trong mùa sinh sản.
    Ông cũng bổ nhiệm em nuôi ông là Shigi – Khuthugh làm quan tòa tối cao (jarughachi), ra lệnh cho ông ta chép sử của Đế chế. Ngoài những bộ luật về gia đình, lương thực và quân đội, Thành Cát Tư cũng ban hành tự do tôn giáo và khuyến khích việc giao thương trong và ngoài nước. Ông cũng miễn thuế cho giới tăng lữ và người nghèo. Vì vậy, Hồi giáo, Phật giáo và Thiên Chúa giáo từ Mãn Châu, Bắc Trung Hoa, Ấn Độ và Ba Tư đã kết giao với Thành Cát Tư Hãn rất lâu trước những cuộc chinh phục của ông. Ông cũng khuyến khích việc giáo dục (học chữ), lấy văn tự của người Duy Ngô Nhĩ (Uyghur script) tạo thành văn tự Duy Ngô Nhĩ – Mông Cổ (Uyghur – Mongolian script) cho Đế chế. Ông cũng ra lệnh cho người Duy Ngô Nhĩ Tatatunga trước đó phụ vụ cho Hãn của người Naiman, dạy những người con của ông (Thành Cát Tư).
    Thành Cát Tư nhanh chóng có những xung đột với Nhà Kim của người Nữ Chân và Nhà Tây Hạ của người Tangut ở bắc Trung Hoa. Về phía Tây, dưới sự khiêu khích của Đế quốc Khwarezmid, ông cũng tiến tới vùng Trung Á, tiêu diệt Transoxiana và đông Ba Tư, sau đó tấn không Kievan Rus’ (một nhà nước tiền thân của Nga, Belarus và Ukraine) và Caucasus.
    Trước khi chết, Thành Cát Tư Hãn đã chia Đế quốc của mình cho các con trai và những họ hàng gần. Nhưng theo truyền thống, Đế quốc Mông Cổ đã duy trì các mối liên hệ chặt chẽ (joint property, không dịch sát nghĩa được) của toàn bộ gia đình hoàng gia là những người, cùng với quý tộc Mông Cổ, tạo thành giai cấp thống trị.

    Sự bành trướng dưới thời Oa Khoát Đài

    Đế quốc Mông Cổ bắt nguồn từ Trung Á, với sự thống nhất các bộ lạc người Mông Cổ và người Turk. Dưới sự lãnh đạo của Thành Cát Tư Hãn, Đế quốc đã mở rộng về phía tây qua châu Á tới vùng Trung Đông, Rus, và châu Âu; về phía nam đến Ấn Độ và Trung Hoa; và về phái đông tới bán đảo Triều Tiên, và tiến vào Đông Nam Á.
    Thành Cát Tư Hãn qua đời năm 1227, lúc ông chết Đế quốc Mông Cổ đã cai trị một vùng đất từ Thái Bình Dương tới Biển Caspian – diện tích rộng gấp đôi Đế quốc La Mã và các Khalip Hồi giáo. Thành Cát Tư chi định người kế vị mình là người con trai thứ ba, Oa Khoát Đài, người có uy tín lớn (đối với người Mông Cổ). Ngôi thái tử trước đó là em trai của Oa Khoát Đài, Đà Lôi, cho đến khi Hội đồng tướng lĩnh Kuriltai chính thức bầu Oa Khoát Đài năm 1229.
    Những hành động đầu tiên của Oa Khoát Đài là phái quân chinh phục người Bashkir, Bulgar và các quốc gia khác ở những thảo nguyên dưới sự cai trị của Kipchak, cuối cùng liên minh với người Bashkir. Ở phía đông, quân đội Oa Khoát Đài tái thiết lập quyền lực của người Mông Cổ ở Mãn Châu, đè bẹp Nhà Đông Hạ (Eastern Xia) và người Thủy Tatar (Water Tatars). Năm 1230, Đại Hãn thân chinh thống lĩnh quân đội trong chiến dịch chống lại Nhà Kim (Trung Quốc). Tốc Bất Đài (Subotai), danh tướng của Oa Khoát Đài, đã chiếm được thủ đô của Hoàng Đế Kim Ai Tông (Wanyan Shouxu) là Khai Phong năm 1232. Năm 1234, ba cánh quân dưới sự chỉ huy của Kochu và Koten, 2 con trai của Oa Khoát Đài, và tướng Chagan người Tangut, đã xâm lược nam Trung Hoa. Với sự giúp đỡ của Nhà Tống, người Mông Cổ đã tiêu diệt Nhà Kim vào năm 1234. Ở phía Tây, tướng của Oa Khoát Đài là Chormaqan, đã tiêu diệt Jalal ud-Din Menguberdi, vị shah cuối cùng của Đế quốc Khwarizmian. Những vương quốc nhỏ ở Nam Ba Tư thuần phục người Mông Cổ. Ở Đông Á, người Mông Cổ đã giành một số chiến thắng đối với quân Triều Tiên, nhưng cố gắng của Oa Khoát Đài trong việc sáp nhập bán đảo Triều Tiên vào Đế chế không được thành công lắm. Vua của Triều Goryeo đã đầu hàng nhưng nổi dậy và giết hết các giám quan (darugachi: overseer) người Mông Cổ và những người Triểu Tiên ủng hộ Mông Cổ.
    Trong khi Oa Khoát Đài hoàn thành việc xây dựng thủ đô mới Karakorum vào năm 1235 – 1238, những chính quyền Mông Cổ đứng đầu là những người Hồi giáo và người Khitan được thành lập ở bắc Trung Hoa, Turkestan và Transoxiana. Ngoài việc xây dựng các trạm trung chuyển (relay stations) và các con đường, Oa Khoát Đài đã bình định những dân tộc mới chinh phục đươc, áp chế nạn cướp bóc và cướp biển, và ban sắc lệnh về sự cân đối giữa tất cả những con cừu bị trưng thu và (những con cừu) không thể khai thác được nữa. (Đoạn này không rõ nghĩa lắm, cần dẫn nguồn đầy đủ: “and decreed a proportion of all sheep should be levied to the impoverished”).
    Trong cuộc tấn công Nhà Tống, quân Mông Cổ đã chiếm được Tương Dương, sông Dương Tử và Tứ Xuyên, nhưng không thể bảo vệ thành quả của họ. Các tướng Tống đã lấy lại Tương Dương từ tay người Mông Cổ vào năm 1239. Sau cái chết đột ngột của Kochu (con trai Oa Khoát Đài) ở đất Trung Quốc, người Mông Cổ rút khỏi nam Trung Hoa, nhưng em (anh) Kochu là Hoàng tử Koten đã xâm lược Tây Tạng (Tibet) sau cuộc rút lui đó.
    Một người cháu nội khác của Thành Cát Tư là Bạt Đô Hãn (Batu Khan) con của Truật Xích, đã đem quân tràn qua các nước của người Bulgar, người Alan, người Kupchak, Bashkir, Mordvin, Chuvash, và những quốc gia khác ở vùng thảo nguyên nam Nga. Đến năm 1237, người Mông Cổ bắt đầu xâm lấn công quốc của người Nga đầu tiên, là Ryazan. Sau 3 ngày bao vây sử dụng vũ khí bormbardment hạng nặng, người Mông Cổ đã chiếm được thành phố và thảm sát dân chúng, sau đó tiến tới tiêu diệt quân đội của Đại Công quốc Vladimir ở Sông Sit. Người Mông Cổ chiếm thủ đô Maghas của Alania vào năm 1238. Đến năm 1240, tất cả các vùng đất Rus bao gồm Kiev đã nằm dưới chân của những kẻ xâm lược châu Á ngoại trừ một vài thành phố phía bắc. Quân Mông Cổ dưới sự chỉ huy của Chormaqan ở Ba Tư đã liên kết cuộc xâm lược Transcaucasia của mình với cuộc xâm lược của Bạt Đô và Tốc Bất Đài, và ép các quý tộc Georgian (Gruzia) và người Armenian cũng phải đầu hàng.
    Nhưng những mối bất hòa vẫn tiếp diễn trong hàng ngũ tướng lĩnh cấp cao của Mông Cổ. Dù Bạt Đô đã có những chiến thắng lớn về quân sự, nhưng mối quan hệ của ông với Quý Do, con trai cả của Oa Khoát Đài, và Buri, cháu yêu của Sát Hợp Đài Hãn, vẫn căng thẳng, và làm cho bữa dạ tiệc mừng chiến thắng của Bạt Đô ở miền nam Nga trở nên tồi tệ. Nhưng Quý Do và Buri chẳng thể làm gì để làm tổn hại đến vị trí của Bạt Đô nếu như chú (bác) của ông ta , Oa Khoát Đài, vẫn còn sống. Trong khi đó, Oa Khoát Đài tiếp tục những cuộc xâm lược vào tiểu lục địa Ấn Độ, tạm thời trao quyền cho Uchch, Lahore và Multan của các Sultan quốc Delhi (Delhi Sultanate) và thiết lập một giám quan Mông Cổ ở Kashmir. Tuy nhiên, cuộc xâm lược và Ấn Độ bị đánh bại và phải rút quân. Oa Khoát Đài đồng ý nhận cống phẩm từ triều đình Goryeo và tăng thêm số keshig ( cấm vệ quân) của ông ta với người Triều Tiên thông qua các biện pháp ngoại giao và quân sự.
    Cuộc tiến công vào Châu Âu tiếp tục với những cuộc xâm lược Ba Lan, Hungary và Transylvania. Khi cánh quân Mông Cổ phía tây cướp phá các thành phố của Ba Lan, một liên minh Châu Âu bao gồm người Pole, người Moravian, và các tầng lớp quân sự Thiên Chúa giáo dòng Hospiataller, các hiệp sĩ Teuton, và các chiến binh dòng Đền đã tạo thành một lực lượng để chặn bước tiến của quân Mông Cổ ở Legnica, nhưng chỉ trong một thời gian ngắn. Quân Hungary, đồng minh Croatia của họ và các hiệp sĩ dòng Đền đã bị quân Mông Cổ đánh bại ở bờ sông Sajo vào ngày 11 tháng 4 năm 1241. Sau khi chiến thắng các hiệp sĩ Châu Âu ở Legnica và Muhi, quân Mông Cổ nhanh chóng tiến quân qua Bohemia, Serbia, Babenberg Áo và tiến vào Đế quốc La Mã thần thánh. Nhưng trước khi quân của Bạt Đô tiến vào Viên và miền nam Albania, ông nhận được tin về cái chết của Oa Khoát Đài tháng 12 năm 1241. Theo truyền thống của quân đội Mông Cổ, tất cả các hoàng tử mang dòng máu Thành Cát Tư phải tham gia vào hội đồng các tướng lĩnh để chọn ra người kế vị. Bạt Đô và cánh quân Mông Cổ phía tây của ông rút khỏi Trung Âu vào năm sau đó.

    Những cuộc tranh giành quyền lực thời hậu Oa Khoát Đài

    Sau cái chết của Đại Hãn Oa Khoát Đài năm 1241, vợ góa của ông là Toregene đã tiếp quản Đế chế. Bà ngược đãi những vị quan người Hồi giáo và người Khitan của chồng mình, thay vào đó trọng dụng những đồng mình của bà. Bà xây các cung điện, nhà thờ (cathedral) và các công trình xã hội trên quy mô hoàng gia, bảo trợ tôn giáo và giáo dục. Bà cũng chiến thăng các hầu hết các quý tộc Mông Cổ khác trong việc ủng hộ con trai của Oa Khoát Đài là Quý Do. Nhưng Bạt Đô, người cai trị Kim Trướng Hãn Quốc, đã từ chối tham gia vào kurultai, tuyên bố rằng ông bị ốm và thời tiết Mông Cổ quá khắc nghiệt đối với mình. Hậu quả là sự bế tắc kéo dài trong hơn 4 năm, và tạo ra sự chia rẽ khối thống nhất của Đế quốc.
    Khi người em út của Thành Cát Tư Hãn là Temuge (Thiết Mộc gì gì đó) đe dọa Toregene cướp ngai vàng. Quý Do đã tới Karakorum để cố gắng bảo vệ vị trí của mình. Bạt Đô cuối cùng cũng đồng ý gửi những người an hem và tướng lĩnh của mình tới hội đồng tướng lĩnh mà Toregene triệu tập năm 1246. Trước đó, Quý Do bị ốm và nghiện rượu, nhưng những chiến dịch của ông ở Mãn Châu và Châu Âu đã làm ông đủ khả năng cần thiết để trở thành một Đại Hãn.
    Quý Do đã áp dụng một số biện pháp để giảm tình trạng tham nhũng, ông tuyên bố sẽ tiếp tục những chính sách của cha mình là Oa Khoát Đài, chứ không phải của Toregene. Ông trừng phạt những người ủng hộ Toregene, ngoại trừ Arghun the Elder. Ông cũng thay thế Khara Hulegu, Hãn của Sát Hợp Đài Hãn Quốc, bằng người em (anh) họ của ông là Yesu Mongke (ông này vốn ủng hộ Quý Do) để xác lập quyền lực mới được trao của mình (assert his newly conferred power). Ông khôi phục lại chức vụ cũ cho các quan lại của cha mình bao gồm người Duy Ngô Nhĩ, Naiman và người Trung Á, đồng thời cũng ủng hộ những chỉ huy người Hán đã giúp cha ông trong việc chinh phục Bắc Trung Hoa. (He restored his father's officials to their former positions and was surrounded by the Uyghur, Naiman and Central Asian officials, favoring Han Chinese commanders who helped his father's conquest of North China). Ông tiếp tục các hoạt động quân sự ở Triều Tiên, tiến quân vào nước Tống Trung Quốc và Irắc, ra lệnh điều tra dân số trên toàn Đế quốc. Quý Do cũng chia Sultan Quốc Rum cho Izz-ad-Din Kaykawus và Rukn ad-Din Kilij Arslan, mặc dù Kaykawus không đồng ý với quyết định này.
    Không phải tất cả mọi nơi trên Đế quốc đều tôn trọng việc lựa chọn Quý Do (làm Đại Hãn). Hashshasins, những đồng minh cũ của Mông Cổ đứng đầu là Đại giáo chủ Hasan Jalalud-Din trước đó đã đề nghị được quy phục Thành Cát Tư Hãn vào năm 1221, (lúc này) tức giận vì Quý Do từ chối lời đề nghị, đã giết các tướng Mông Cổ ở Ba Tư. Quý Do đã bổ nhiệm Eljigidei, cha của người bạn thân nhất của ông, làm tổng chỉ huy quân đội ở Ba Tư, với nhiệm vụ tiêu diệt bớt các thành trì của Assasin, và chinh phụ người Abbasid ở trung tâm thế giới Hồi giáo, Iran và Irắc.
    Năm 1248, Quý Do tập trung quân và xuất phát từ thủ đô Karakorum, đột ngột hành quân về phía tây. Lý do (của hành động này) vẫn chưa được giải thích rõ ràng: một số tài liệu viết rằng ông muốn thu hồi những tài sản của mình ở Emyl; các tài liệu khác cho rằng có thể ông muốn cùng Eljidei tiến hành chinh phục toàn bộ vùng Trung Đông, hoặc có thể muốn bất ngờ tấn công người anh em họ cũng là đối thủ của ông Bạt Đô Hãn ở Nga. Nghi ngờ hành động tiến quân này của Quý Do, Sorghaghtani Beki, vợ goá của Đà Lôi (con trai Thành Cát Tư), đã bí mật thông báo cho cháu bà là Bạt Đô về việc này. Bạt Đô trước đó đã tự mình đi về phía đông, có thể là để bày tỏ sự thần phục, cũng có thể có những kế hoạch khác. Tuy nhiên, trước khi hai lực lượng của Bạt Đô và Quý Do gặp nhau thì Quý Do, ốm và kiệt sức vì chuyến đi, đã chết trên đường đi ở Qum-Senggir ở Đông Turkestan, có thể là do bị đầu độc.
    Vợ góa của Quý Do là Oghul Ghaimish đã từng bước nắm quyền lực để kiểm soát Đế chế, nhưng bà không có đủ những kĩ năng chính trị như mẹ chồng Toregene của mình, và con trai bà là Khoja và Naku cùng các hoàng tử khác cũng thách thức quyền lực của bà. Để quyết định ngôi Đại Hãn, Bạt Đô đã triệu tập hội đồng tướng lĩnh ở chính lãnh địa của mình vào năm 1250. Vì nó cách xa khu trung tâm Mông Cổ nên các thành viên của dòng Oa Khoát Đài và Sát Hợp Đài từ chối tham gia. Hội đồng tướng lĩnh đề nghị trao ngai vàng cho Bạt Đô, nhưng ông từ chối, nói rằng ông không có hứng thú với vị trí đó. Thay vào đó, ông đề cử Mông Kha (Mongke), cháu nội của Thành Cát Tư, con của Đà Lôi. Mông Kha đang chỉ huy một đội quân Mông Cổ ở Nga, Bắc Caucasus và Hungary. Phái ủng hộ Đà Lôi phấn khởi và ủng hộ lựa chọn của Bạt Đô, và Mông Kha được chọn, mặc dù chỉ là được chọn bởi một hội đồng tướng lĩnh (từ giờ gọi là kurultai) hạn chế. Vì vậy, tính hợp lệ của nó là không chắc chắn. Bạt Đô gửi Mông Kha dưới sự bảo vệ của anh em ông (Mông Kha) là Berke và Tukhtemur, của con trai Mông Kha là Sartaq đến một kurultai chính thức hơn ở Kodoe Aral, trung tâm Đế chế. Những người ủng hộ Mông Kha đã mời Oghul Ghaimish và những hoàng tử chính dòng Oa Khoát Đài và Sát Hợp Đài tham dự kurultai, nhưng họ từ chối. Các hoàng tử dòng Oa Khoát Đài và Sát Hợp Đài không chấp nhận một hậu duệ của Đà Lôi làm thủ lĩnh, vì họ cho rằng chỉ có hậu duệ của Oa Khoát Đài mới được phép làm Đại Hãn.

    Các cải cách của dòng Đà Lôi

    Khi mẹ của Mông Kha là Sorghaghtani và em (anh) họ Berke của ông tổ chức một kurultai thứ hai vào ngày 1 tháng 7 năm 1251, hội đồng đã tuyên bố Đại Hãn Mông Kha của Đế quốc Mông Cổ. Sự kiện này đánh dấu một sự chuyển độ trong hàng ngũ lãnh đạo của Đế quốc, quyền lực từ tay các hậu duệ của Oa Khoát Đài được chuyển cho các hậu duệ của Đà Lôi (cả hai đều là con ruột của Thành Cát Tư Hãn). Quyết định này được một số hoàng tử dòng Oa Khoát Đài và Sát Hợp Đài chấp nhận, như là anh (em) họ của Mông Kha là Kadan và hãn bị phế truất Khara Hulegu, nhưng một trong những người kế vị hợp pháp khác, cháu nội của Oa Khoát Đài, Shiremun, đã tìm cách lật đổ Mông Kha. Shiremun dẫn quân của mình tiến về cung điện du mục của Đế chế âm mưu một cuộc tấn công vũ trang, nhưng Mông Kha đã được người nuôi chim ưng (falconer) của mình thông báo về âm mưu đó. Ông ra lệnh tiến hành một cuộc điều tra về âm mưu đó, dẫn tới một loạt các vụ xét xử trên toàn Đế chế. Nhiều thành viên hoàng tộc Mông Cổ bị tuyên bố có tội và bị xử tử, ước tính từ 77-300 người, mặc dù các hoàng tử mang dòng máu Thành Cát Tư thường bị đi đày hơn là xử tử. Mông Kha xóa bỏ các lãnh địa của họ Oa Khoát Đài và Sát Hợp Đài và chia sẻ phần phía tây của Đế quốc với đồng minh của mình là Bạt Đô Hãn. Sau cuộc thanh trừng đẫm máu, Mông Kha ban lệnh ân xá với các tù nhân và những người bị giam giữ, nhưng kể từ đó về sau, ngôi Đại Hãn đều nằm chắc trong tay các hậu duệ của Đà Lôi.
    Mông Kha là một người trung thành với luật lệ của tổ tiên và tránh uống rượu. Ông cũng là người khoan dung với các tôn giáo ngoại lai và các hình thức nghệ thuật dẫn tới việc xây dựng những công trình ở khu thương nhân ngoại quốc, các chùa chiền Phật giáo, các nhà thờ Hồi giáo và Thiên chúa giáo ở thủ đô Mông Cổ. Khi các dự án xây dựng được tiếp tục, Karakorum được trang hoàng bởi các kiến trúc Trung Hoa, Châu Âu và Ba Tư. Một ví dụ nổi tiếng là cái cây lớn bằng bạc với những chiếc ống được thiết kế bằng đá quý chứa nhiều loại nước uống. Trên đỉnh của cây là một vị thần chiến thắng (triumphant angel), được điêu khắc bởi Guilaume Boucher, một thợ kim hoàn người Paris.
    Mặc dù Mông Kha có một lực lượng mạnh người Trung Quốc, nhưng ông chủ yếu vẫn dựa vào những tướng lĩnh và quan lại người Hồi giáo và Mông Cổ, và ông tiến hành một loạt các cải cách để dự trù tốt hơn những khoản tiêu dùng của chính phủ. Triều đình của ông hạn chế những khoản chi tiêu của chính phủ và cấm quý tốc và binh lính lạm dụng sức lao động của dân chúng hay ban hành các sắc lệnh mà không được sự cho phép. Ông đã giảm nhẹ hệ thống đóng góp bằng việc đưa ra một loại thế thân cố định (fixed poll tax) do các nhân viên chính phủ thu và phát cho những hộ nghèo (đại loại là một kiểu trợ cấp xã hội). Triều đình cũng cố gắng giảm gánh nặng thuế má đối với những người bình dân bằng việc giảm mức độ thuế (tax rates). Cùng với những cải cách về hệ thống thuế, ông cũng tăng số lính canh ở những trạm trung chuyển và kiểm soát tập trung đối với những việc liên quan đến tiền tệ. Mông Kha cũng ra lệnh điều tra dân số trên toàn Đế quốc vào năm 1252 mà mất nhiều năm mới hoàn thành, nó chỉ hoàn thành khi thống kê xong dân số ở Novgorod ở miền viễn tây bắc năm 1258.
    Một động thái để củng cố quyền lực khác của Mông Kha, ông đã bổ nhiệm các em trai là Húc Liệt Ngột (Hulegu) và Hốt Tất Liệt (Kublai) cai trị Ba Tư và vùng Trung Hoa đang bị Mông Cổ chiếm. Ở phần nam của Đế quốc, ông tiếp tục những cuộc chinh phạt của tiền nhân chống lại Nhà Tống. Để đánh vào sường quân Tống từ 3 đường, Mông Kha đã gửi một đội quân Mông Cổ dưới sự chỉ huy của em ông là Hốt Tất Liệt tới Vân Nam, và (một đội quân khác) dưới sự chỉ huy của chú (bác) mình là Iyeku chinh phục Triều Tiên và tạo ra một sức ép lên quân Tống từ hướng này. Hốt Tất Liệt chinh phục Đại Lý vào năm 1253, tướng của Mông Kha là Qoridai đã củng cố sự cai trị của mình ở Tây Tạng, thuyết phục các tu viện đứng đầu chấp nhận sự cai trị của người Mông Cổ. Con trai Tốc Bất Đài là Ngột Lương Hợp Thai (Uryankhadai), chinh phục các dân tộc lân cận ở Vân Nam để tiến đánh và bắt Nhà Trần ở miền bắc Việt Nam quy phục tạm thời năm 1258.
    Sau khi ổn định tình hình tài chính của Đế quốc, Mông Kha một lần nữa lại cố gắng mở rộng biên giới. Trong các kurultai tại Karakorum năm 1253 và năm 1258 ông chấp thuận một cuộc xâm lược mới vào Trung Đông và nam Trung Hoa. Mông Kha giao cho Húc Liệt Ngột toàn quyền chỉ huy quân đội và nội vụ ở Ba Tư, và bổ nhiệm người của nhánh Sát Hợp Đài và Truật Xích tham gia vào quân đội của Húc Liệt Ngột. Những người Hồi giáo từ Qazvin đã thông báo về mối đe dọa từ Nizari Ismailis, một giáo phái dị giáo của người Shiite. Chỉ huy Mông Cổ tộc Naiman là Kitbuqa bắt đầu tấn công nhiều pháo đài của Ismaili vào năm 1253, trước khi Húc Liệt Ngột tiến quân một cách thận trọng năm 1256. Giáo chủ Ismaili là Rukn ud-Din đầu hàng năm 1257 và bị xử tử. Tất cả những thành trì của Ismaili ở Ba Tư đều bị quân Húc Liệt Ngột tiêu diệt năm 1257 mặc dù Girdukh còn chống cự tới tận năm 1271.
    Trung tâm của Đế quốc Hồi giáo lúc đó là Baghdad, đã nắm giữ vị trí quyền lực trong 500 năm nhưng lúc này đang bị chia rẽ nội bộ. Khi khalip của Baghdad là al-Mustasim từ chối khuất phục người Mông Cổ, quân Mông Cổ đã bao vây và chiếm Baghdad năm 1258, một sự kiện thường được coi là sự kiện đơn lẻ thảm khốc nhất trong lịch sử Hồi giáo. Với việc dòng khalip Abbasid bị tiêu diệt, Húc Liệt Ngột, đã mở một con đường tới Syria và chiến tranh chống những thế lực Hồi giáo khác trong khu vực. Quân đội của ông hướng về Syria của dòng Ayyubid, chiếm một số tiểu quốc địa phương nhỏ trên đường đi. Sultan Al-Nasir Yusuf nhà Ayyubid đã từ chối trình diện trước Húc Liệt Ngột; tuy nhiên, ông đã chấp nhận uy quyền tối cao của người Mông Cổ 2 thập kỉ trước đó. Khi Húc Liệt Ngột tiến xa hơn về phía tây, người Armenia từ Cilicia, người Seljuk từ Rum và vương quốc Thiên chúa giáo ở Antioch và Tripoli đã thần phục quyền lực của người Mông Cổ, tham gia vào quân đội Mông Cổ trong cuộc chiến chống người Hồi giáo. Trong khi một số thành phố đầu hàng mà không kháng cự, những thành phố khác như Mayafarriqin đã chống trả, dân chúng của những thành phố đó bị thảm sát và bản thân thành phố bị cướp phá.
    Trong lúc đó, ở phân tây bắc của Đế chế, người kế vị Bạt Đô và em trai là Berke đã tiến hành một cuộc viễn chinh ác liệt vào Ukraine, Belarus, Lithuania và Ba Lan. Mối bất đồng đã bắt đầu nhen nhóm giữa phần tây bắc và phần tây nam của Đế quốc Mông Cổ, Bạt Đô cho rằng cuộc xâm lược của Húc Liệt Ngột ở Tây Á sẽ tiêu hủy ưu thế của chính Bạt Đô ở đó.

    Sự chia rẽ

    Tranh cãi về quyền kế vị

    Ở phần phái nam của Đế quốc, Mông Kha Hãn đã tự mình thống lĩnh quân đội để hoàn thành việc chinh phục Trung Hoa. Các hoạt động quân sự dù nói chung là thành công, song lại kéo dài. Thời tiết trở nên nóng nực và người Mông Cổ bắt đầu bị bệnh dịch. Mông Kha quyết định ở lại thay vì rút về như người Mông Cổ vẫn thường làm, và (ông) chết ở đó (Trung Hoa) vào ngày 11 tháng 8 năm 1259. Sự kiện này đã bắt đầu một chương mới trong lịch sử của người Mông Cổ, một lần nữa lại cần sự lựa chọn Đại Hãn mới, và các đội quân Mông Cổ trên toàn Đế quốc phải từ bỏ các chiến dịch của họ để một lần nữa triệu tập một kurultai mới.
    Khi anh (em) của Mông Kha là Húc Liệt Ngột nhận được tin, ông đã từ bỏ những thành công quân sự của mình ở Syria, và rút phần lớn quân đội về Mughan, chỉ để lại một lực lượng nhỏ dưới quyền chỉ huy của Kitbuqa. Hai lực lượng đối kháng ở trong vùng lúc đó là Thập Tự quân Thiên chúa giáo và người Mamluk Hồi giáo, đã thỏa thuận một việc ngừng chiến bất thường vì họ đều nhận thấy rằng người Mông Cổ là mối đe dọa lớn hơn. Lợi dụng tình trạng yếu đi của lực lượng Mông Cổ, người Mamluk tiến về Ai Cập, được phép lập trại và được tiếp tế gần thành trì Thiên chúa giáo ở Acre, và đụng được lực lượng của Kitbuqa ở phía bắc Galilee, trong trận Ain Jalut năm 1260. Người Mông Cổ thua trận, và Kitbuqa bị giết. Trận chiến này đánh dấu sự giới hạn ở phía tây của Đế quốc Mông Cổ, vì người Mông Cổ từ đó không bao giờ có thể tiến hành một hoạt động quân sự xa hơn Syria nữa.
    Ở một phần khác của Đế quốc, một người anh (em) khác của Húc Liệt Ngột và Mông Kha, là Hốt Tất Liệt lúc này đang ở sông Hoài, Trung Quốc, nghe tin về cái chết của Đại Hãn. Thay vì quay trở lại thủ đô, ông tiếp tục tiến quân vào vùng Vũ Xương của Trung Quốc, gần sông Dương Tử. Em trai của họ (của Mông Kha, Húc Liệt Ngột và Hốt Tất Liệt) là Ariqboke đã lợi dụng sự vắng mặt của Húc Liệt Ngột và Hốt Tất Liệt, và sử dụng quyền hành của mình ở thủ đô đã lấy được danh hiệu Đại Hãn cho chính mình. Các đại diện của tất cả các chi họ tuyên bố ông là lãnh đạo của kurultai ở Karakorum. Khi Hốt Tất Liệt biết được điều này, ông triệu tập một kurultai của chính mình ở Khai Phong, gần như tất cả các hoàng tử cấp cao và các đại noyan (great noyans) ở miền Bắc Trung Hoa và Mãn Châu đều ủng hộ ông thay vì Ariqboke.

    Nội chiến

    Các cuộc chiến đã nổ ra sau đó giữa quân đội của Hốt Tất Liệt và quân đội của Ariqboke, bao gồm các những lực lượng vẫn trung thành với chính phủ trước đó của Mông Kha. Quân của Hốt Tất Liệt dễ dàng tiêu diệt những người ủng hộ Ariqboke, và chiếm quyền kiểm soát các chính quyền địa phương (civil administration) ở nam Mông Cổ. Những thách thức lớn hơn đến từ những người anh (em) họ của họ thuộc dòng Sát Hợp Đài. Hốt Tất Liệt phái Abishka, một hoàng tử dòng Sát Hợp Đài trung thành với ông, tới cai trị vương quốc của dòng Sát Hợp Đài. Tuy nhiên Ariqboke đã bắt và xử tử Abishka, đưa người của ông là Alghu lên nắm quyền ở đó. Chính quyền mới của Hốt Tất Liệt phong tỏa Ariqboke ở Mông Cổ để cắt các nguồn tiếp tế thực phẩm, gây ra một nạn đó. Karakorum nhanh chóng thất thủ, nhưng Ariqboke đã tập hợp lại quân đội và chiếm lại thủ đô năm 1261.
    Ở phía tây nam Ilk Hãn Quốc, Húc Liệt Ngột trung thành với anh (em) ông là Hốt Tất Liệt, nhưng lại xung đột với người em (anh) họ là Berke, người cai trị Kim Trướng Hãn Quốc ở phía tây bắc của Đế quốc, bắt đầu từ năm 1262. Những cái chết đáng ngờ của các hoàng tử dòng Truật Xích đang phục vụ Húc Liệt Ngột, sự phân chia chiến lợi phẩm không công bằng và sự thảm sát người Hồi giáo của Hút Liệt Ngột đã làm tăng thêm sự giận dữ của Berke, người đã cân nhắc việc ủng hộ một cuộc nổi loạn của vương quốc Georgian chống lại Húc Liệt Ngột năm 1259-1260. Berke cũng liên minh với người Mamluk Ai Cập chống lại Húc Liệt Ngột, và ủng hộ người chống đối Hốt Tất Liệt là Ariqboke. Húc Liệt Ngột chết ngày 8 tháng 2 năm 1264. Berke cố gắng lợi dụng điều này và xâm phạm vào vùng đất của Húc Liệt Ngột, nhưng chính ông cũng chết trên đường đi, và vài tháng sau, Alghu Khan của Sát Hợp Đài Hãn Quốc cũng chết. Hốt Tất Liệt phong cho con trai Húc Liệt Ngột là Abaqa là Hãn mới của Ilk Hãn Quốc, Abaqa bắt đầu tìm kiếm các đồng minh nước ngoài. Ông cố gắng thiết lập liên minh Franco-Mông Cổ với người Châu Âu để chống lại người Mamluk Ai Cập. Để lãnh đạo Kim Trướng Hãn Quốc, Hốt Tất Liệt đã bổ nhiệm cháu nội của Bạt Đô là Mongke Temur. Ariqboke đầu hàng Hốt Tất Liệt ở Shangdu (Thành Đô chăng) vào ngày 21 tháng 4 năm 1264.
    Ở phía nam, sau khi thành Tương Dương thất thủ năm 1273, quân Mông Cổ tiến hành cuộc chinh phạt cuối cùng đối với nhà Tống. Vào năm 1271 trước đó, Hốt Tất Liệt đã đổi tên chế độ mới của người Mông Cổ ở Tung Hoa là Nhà Nguyên, và cố gắng “sinicize” (một thuật ngữ gần nghĩa với đồng hóa, đồng nhất) hình ảnh của ông như là Hoàng đế của Trung Hoa để cai trị hàng triệu người Trung Quốc. Hốt Tất Liệt dời sở chỉ huy của mình đến Đại Đô, là cơ sở (genesis, dịch thoát) cho nơi mà sau này sẽ trở thành Bắc Kinh ngày nay, mặc dù có sự tranh cãi về việc thành lập thủ đô của ông khi phải di chuyển nhiều người Mông Cổ, những người cho rằng ông đang quá say mê văn hóa Trung Hoa (accused him of being too closely tied to Chinese culture). Nhưng người Mông Cổ cuối cùng cũng thành công trong các chiến dịch đánh Trung Quốc, và hoàng tộc nhà Tống đầu hàng người Nguyên năm 1276, đưa Mông Cổ trở thành dân tộc không phải dân tộc Trung Hoa đầu tiên thống trị toàn bộ Trung Quốc. Hốt Tất Liệt sử dụng những cơ sở sẵn có của mình để xây dựng một Đế quốc quyền lực, xây dựng một học viện, các văn phòng chính phủ (không biết dịch từ offices theo kiểu hồi xưa như thế nào), các thương cảng (“cảng” ở đây có thể hiểu là cả đường thủy và đường bộ) và các kênh đào. Ông cũng bảo trợ cho nghệ thuật và khoa học. Các tài liệu Mông Cổ liệt kê 20.166 trường học công được xây dựng trong thời kì của ông. (Có chém gió không nhỉ!!!)
    Đạt được một quyền thống trị (thực quyền hoặc trên danh nghĩa) trên một lãnh thổ rộng lớn chiếm phần lớn lục địa Á Âu, lại tiến hành chinh phục thành công toàn bộ lãnh thổ Trung Hoa, Hốt Tất Liệt lúc này muốn tiến xa hơn nữa ra ngoài Trung Hoa. Tuy nhiên, những cuộc xâm lược tốn kém Miến Điện, Đại Việt, Sakhalin và Champa chỉ làm cho các nước đó trở thành chư hầu mà thôi. Những cuộc xâm lược Nhật Bản (1274 và 1280) và Java (1293) thì thất bại.
    Nogai và Konchi, hãn của Bạch Trướng (White Horde), đã thiết lập các mối quan hệ thân thiết với Nhà Nguyên và Il Hãn Quốc. Những bất đồng chính trị giữa trong nội bộ hoàng tộc Đại Hãn vẫn tiếp diễn, nhưng kinh tế và các thành công về thương mại của Đế quốc Mông Cổ vẫn tiếp tục.

    Các cuộc đấu đá chính trị và Pax Mongolica

    Những sự thay đổi chính xảy ra vào nhứng năm cuối thế kỉ 13. Hốt Tất Liệt Hãn, sau khi chinh phục toàn bộ Trung Hoa và thành lập Nhà Nguyên, chết vào năm 1294, người kế vị là Thiết Mộc Nhĩ Hãn (Temur Khan), người tiếp tục những chính sách của Hốt Tất Liệt. Il Hãn Quốc tiếp tục duy trì sự trung thành với triều đình Nguyên, nhưng chính trong nội bộ của nó cũng xuất hiện những cuộc tranh giành quyền lực, một phần vì một cuộc tranh giành với những phe phái Hồi giáo đang lớn mạnh ở phần tây nam của Đế quốc. Khi Ghazan lên ngai vàng của Il Hãn Quốc năm 1295, ông chính thức chấp nhận Hồi giáo là tôn giáo của mình, điều này đánh dấu một bước ngoặt trong lịch sử Mông Cổ. Kể từ đó, nước Mông Cổ Ba Tư ngày càng trở nên Hồi giáo hóa. Ghazan cũng tiếp tục thắt chặt mốt quan hệ với Nhà Nguyên ở phía đông. Ông thấy rằng sẽ có ích về mặt chính trị nếu quảng bá quyền lực của Đại Hãn ở đó, bởi vì Kim Trướng Hãn Quốc ở Nga đã cai trị Georgia một thời gian dài. Trong vòng 4 năm, Ghazan bắt đầu nạp cống cho triều đình Nguyên và cũng kêu gọi các hãn khác thừa nhận Thiết Mộc Nhĩ Hãn là Hãn tối cao (overlord). Là một đồng minh và là nước dưới quyền của Nhà Nguyên, Il Hãn Quốc đã duy trì mối quan hệ hữu hảo với Nhà Nguyên, và đã có những trương trình trao đổi văn hóa và khoa học rộng lớn giữa hai Hãn Quốc trong các thập kỉ sau đó.
    Ghazan đã là một người Hồi giáo, nhưng ông vẫn tiếp tục những cuộc chiến của tổ tiên mình với người Mamluk Ai Cập, và thuyết phục những cố vấn Mông Cổ lão thành của ông bằng tiếng Mông Cổ (his native tounge). Ghazan đánh bại người quân Mamluk trong Trận Wadi al-Khazandar, nhưng chỉ chiếm được Syria một thời gian ngắn vào năm 1299. Sát Hợp Đài Hãn Quốc, dưới sự cai trị không chính thức của Kaidu, đã tiến hành những cuộc tấn công liên tục vào Khorasan, và điều này đã ngăn cản kế hoạch chinh phục Syria của Ghazan.
    Những cuộc đấu đá chính trị cũng xảy ra ở Kim Trướng Hãn Quốc. Kaidu gây chiến với cả Il Hãn Quốc và Nhà Nguyên, và cố gắng gây ảnh hưởng của mình đối với Trướng Quốc. Ông giúp đỡ người ủng hộ mình là Kobeleg chống lại Bayan (1299-1304), Hãn của Bạch Trướng. Bayan, sau khi nhận được sự hộ trợ quân sự từ triều đình Mông Cổ ở Nga, đã kêu gọi sự giúp đỡ từ Thiết Mộc Nhĩ và Il Hãn Quốc để hội quân tấn công quân Kaidu. Thiết Mộc Nhĩ chấp thuận, và mở rộng những cuộc phản công đánh Kaidu một năm sau đó. Sau một cuộc chiến khốc liệt với quân đội Thiết Mộc Nhĩ gần sông Zawkhan năm 1301, lão anh hùng Kaidu chết. (nguyên văn: the old valiant Kaidu died.)
    Mặc dù có những xung đột với Kaidu và Duwa, Hoàng đế nhà Nguyên là Thiết Mộc Nhĩ đã thiết lập mối quan hệ cống nạp đối với những người Shan hiếu chiến sau khi ông (Thiết Mộc Nhĩ) tiến hành các hoạt động quân sự đánh Thái Lan từ năm 1297 đến 1303. Cuộc chiến này đánh dấu kết thúc sự mở rộng về phía nam của người Mông Cổ. Một số người Mông Cổ cố gắng giảm những mối bất hòa nội bộ, và thống nhất dưới sự cai trị của Thiết Mộc Nhĩ. Duwa, Hãn của Sát Hợp Đài Hãn Quốc, đề xướng một thỏa thuận hòa bình và thuyết phục dòng Oa Khoát Đìa rằng “Những người Mông Cổ chúng ta hãy chấm dứt việc gây đổ máu lẫn nhau. Tốt hơn là nên đầu hàng Đại Hãn Thiết Mộc Nhĩ” (“Let we Mongols stop shedding blood of each other. It is better to surrender to Temur Khagan”). Tất cả các Hãn Quốc chấp nhận một hiệp ước hòa bình vào năm 1304 và thừa nhận quyền tối cao của Thiết Mộc Nhĩ.
    Những cuộc chiến mới giữa Duwa và con trai Kaidu là Chapar nổ ra một thời gian ngắn sau đó, nhưng với sự giúp đỡ của Thiết Mộc Nhĩ, Duwa đã đánh bại nhà Oa Khoát Đài. Tokhta của Kim Trướng Hãn Quốc, cũng muốn tìm kiếm một nền hòa bình chung, đã phái 20.000 quân tới giúp đỡ Nhà Nguyên.
    Dưới thời đại Pax Mongolica, giao thương quốc tế và trao đổi văn hóa giữa Châu Âu và Châu Á hưng thịnh. Các mẫu hoa văn của vải dệt cung đình nhà Nguyên có thể được tìm thấy ở phần kia của Đế quốc trang trí trên các huân chương Armenia, cây cối và rau quả được trồng trên toàn Đế chế, và các phát minh kĩ thuật được phát tán từ Mông Cổ tới phương Tây. Thời kì này tạo điều kiện thuận lợi cho sự trao đổi văn hóa và vật chất giữa các dân tộc và các quốc gia một cách rộng rãi. Sự liên lạc giữa Nhà Nguyên ở Trung Hoa và Il Hãn quốc ở Ba Tư đã thúc đẩy trao đổi và buôn bán giữa đông và tây.
    Sau khi Tokhta chết năm 1312, Ozbeg (tại vị 1313 – 1341) đã lấy được ngai vàng của Kim Trướng hãn quốc và tiến hành ngược đãi những người Mông Cổ không theo đạo Hồi. Ảnh hưởng của người Nguyên ở Hãn quốc bị bài xích và các cuộc xung đột ở biên giới với các Hãn quốc khác lại bắt đầu. Những sứ giả của Ayurbawda Khan (Nguyên Nhân Tông) đã hậu thuẫn con trai của Tokhta chống lại Ozbeg. Ở Sát Hợp Đài hãn quốc, Esen Buqa I (tại vị 1309 – 1318) được trao ngôi vị Hãn sau khi đàn áp cuộc nổi dậy của các hậu duệ của Oa Khoát Đài và bắt Chapar phải đi đày. Quân đội Nhà Nguyên và Il hãn quốc sau đó đã tấn công Sát Hợp Đài hãn quốc.
    Nhận thấy các lợi ích kinh tế và di sản của Thành Cát Tư, Ozbeg đã thiết lập lại mối quan hệ thân thiện với người Nguyên vào năm 1326, đồng thời cũng xây dựng sức mạnh cho thế giới Hồi giáo, (ông) cho xây các thánh đường Hồi giáo và các công trình công cộng khác như nhà tắm.
    Đến thập kỉ thứ 2 của thế kỉ 14, các cuộc xâm lược của người Mông Cổ băt đầu giảm. Năm 1323, Abu Said Hãn ( tại vị 1316 – 1335) của Il hãn quốc đã kí một hiệp ước hòa bình với Ai Cập. Theo đề nghị của ông, Nhà Nguyên đã trao cho người giám hộ của ông là Chupan danh hiệu tổng tư lệnh (commander-in-chief) của tất cả các Hãn quốc Mông Cổ. Nhưng danh tiếng của Chupan cũng không giúp ông thoát chết vào năm 1327. Một cuộc nội chiến mới nổ ra ở Nhà Nguyên năm 1327-1328, với Sát Hợp Đài Hãn là Eljigidey (tại vị 1326 – 1329) hậu thuẫn Kusala (Hòa Thế Lạt), con trai của Khagan Khayisan (Nguyên Vũ Tông), thành Đại Hãn. Hòa Thế Lạt được tôn là Đại Hãn vào ngày 30 tháng 8 năm 1329 (tức Nguyên Minh Tông). Lo sợ ảnh hưởng của dòng Sát Hợp Đài đối với người Nguyên, một tướng người Kypchak của Nguyên Văn Tông Tugh Temur (Đồ Thiếp Mục Nhi tại vị 1304-1328) đã đầu độc ông (tức đầu độc Hòa Thế Lạt) và chiếm quyền. Để được chấp thuận bởi các hãn quốc khác đối với chủ quyền của thế giới Mông Cổ (Mongol world), Đồ Thiếp Mục Nhi, một ông vua giỏi tiếng Trung Quốc và lịch sử, đồng thời cũng là một nhà thơ, nhà thư pháp và họa sĩ, đã phái các hoàng tử dòng Thành Cát Tư và quá hậu duệ của các tướng lĩnh Mông Cổ trước kia tới Sát Hợp Đài hãn quốc, Il hãn quốc Abu Said và Ozbeg. Để đáp lại các sứ thần, họ (các hãn quốc) đều chấp nhận cống nạp hàng năm. Đồ Thiếp Mục Nhi cũng tặng những món quà lớn và kí một thỏa thuận với Eljigidey để xoa dịu ông ta. Từ thời Đồ Thiếp Mục Nhĩ, người Kypchak và người Alan nắm được quyền lực cao ở triều đình Nguyên. Giáo hoàng John XXII được tặng một bị vong lục (memorandum, giác thư, thư báo) từ một nhà thờ phương đông trong đó mô ta về Pax Mongolica rằng “… Đại Hãn là một trong những hoàng đế vĩ đại nhất, và tất cả các vị hãn khác, như vua của Almaligh (Sát Hợp Đài hãn quốc), hoàng đế Abu Said và Hãn Uzbek, đều là thần dân của Người, kính cẩn trước Người để bày tỏ lòng kính trọng. Hằng năm, 3 vị hoàng đế này đều gửi các cống phẩm của họ gồm báo, lạc đà, chim ưng cũng như các đồ châu báu. … Họ nhận Người như chúa tể tối cao của họ. ”

    Sự sụp đổ

    Sau cái chết của Il Hãn Abu Said Bahatur năm 1335, sự cai trị của Mông Cổ tại Ba Tư rơi vào tình trạng vô chính phủ. Một năm sau, người kế vị của ông bị một thủ lĩnh người Oirat giết và Il hãn quốc bị phân chia cho Sudus, là một người Jalayir, Qasarid Togha Temur (d. 1353) và các lãnh chúa người Ba Tư. Lợi dụng sự chia rẽ này, những người Georgian (không biết có phải là Gruzia không) đã đẩy lui người Mông Cổ khi một viên tướng người Duy Ngô Nhĩ là Eretna thiết lập một quốc gia độc lập (Ertenids) ở Anatolia năm 1336. Sự suy vi của những ông chủ người Mông Cổ làm cho chư hầu là Vương quốc Cilicia của người Armenia bị đe dọa bởi những người Mamluk. Cùng với việc mất quyền cai trị ở Ba Tư, người Mông Cổ ở Trung Hoa và Sát Hợp Đài hãn quốc cũng lâm vào tình trạng hỗn loạn trầm trọng đe dọa đến quyền lực lâu dài của họ. Bên ngoài triều đình Mông Cổ, nhiều mối đe dọa nổi lên. Đại dịch Cái Chết Đen (Black Death) khởi phát từ vùng đông người Mông Cổ sinh sống từ năm 1311 đến 1331. Đại dịch tàn khốc này đã tàn phá tất cả các hãn quốc, cắt đứt các mối liên hệ thương mại và gây ra cái chết của hàng triệu người. Cuối thế kỉ 14, ước tính dân số ở Châu Phi, Châu Á và Châu Âu chỉ khoảng 70 - 100 triệu người.
    Khi quyền lực của người Mông Cổ suy yếu, tình trạng hỗn loạn bùng phát khắp nơi. Kim Trướng hãn quốc mất tất cả các vùng đất ở phía tây (bao gồm Belarus và Ukraine ngày nay) tới Ba Lan và Lithuania từ năm 1342 đến 1369. Các hoàng tử Hồi giáo và phi Hồi giáo của Sát Hợp Đài hãn quốc chém giết lẫn nhau từ 1331 - 1343. Nhưng Sát Hợp Đài hãn quốc chỉ bị tan rã khi những lãnh chúa không thuộc dòng Thành Cát Tư lập ra những vị hãn bù nhìn của họ ở Mawarannahr và Moghulistan một cách riêng rẽ. Hãn Janibeg (tại vị 1342 - 1357) tái lập sự cai trị của dòng Truật Xích trong một thời gian ngắn ở Sát Hợp Đài hãn quốc để khôi phục lại vinh quang trước đây của họ. Với việc yêu cầu sự quy thuận từ một nhánh của Il hãn quốc ở Azerbaijan, ông ta khoác lác rằng "Hiện nay 3 ulus đang nằm dưới quyền cai trị của ta" ("today three uluses are under my control". Tuy nhiên, các dòng họ đối thủ của Truật Xích bắt đầu chiến tranh giành ngai vàng của Kim Trướng hãn quốc sau khi Hãn Berdibek, người kế vị của Janibeg, bị ám sát năm 1359. Hoàng đế cuối cùng của Nhà Nguyên là Toghan Temur (Nguyên Huệ Tông Thỏa Hoan Thiết Mộc Nhĩ) (tại vị 1333 - 1370) bất lực trong việc điều chỉnh những vấn đề này vì Đế chế đang đi đến hồi kết của nó. Đồng tiền trong thời của ông lên đến mức siêu lạm phát theo đường xoắn ốc (hyperinflationary spiral) và người Hán đã nổi dậy chống lại sự cai trị hà khắc của người Nguyên. Vào những năm 1350, vua Gongmin của Goryeo (Cao Ly) đã đánh bại quân đồn trú Mông Cổ và đã tiêu diệt gia đình của nữ hoàng của Nguyên Huệ Tông (có lẽ là họ mẹ Nguyên Huệ Tông) trong khi Tai Situ Changchub Gyaltsen đã cố gắng triệt tiêu các ảnh hưởng của người Mông Cổ ở Tây Tạng.
    Càng ngày càng bị cô lập bởi các chư hầu, người Mông Cổ nhanh chóng để mất phần lớn Trung Hoa vào tay lực lượng quân Minh khởi nghĩa vào năm 1368 và phải bỏ chạy về quê hương Mông Cổ của họ. Sau khi Nhà Nguyên bị lật đổ, Kim Trướng hãn quốc đã mất liên hệ với Mông Cổ và Trung Quốc, trong khi hai phần chính của Sát Hợp Đài hãn quốc thì bị Timur (Tamerlane) (tại vị 1336 - 1405) tiêu diệt. Kim Trướng hãn quốc bị tan vỡ thành các Turkic-horde hãn quốc nhỏ hơn và dần dần suy giảm quyền lực qua 4 thế kỉ. Trong số các hãn quốc đó , Đại Trướng (Great Horde) tồn tại đến năm 1502, khi một trong số những người kế vị của nó là Hãn Quốc Crimeran cướp phá Sarai. Tàn dư của người Nguyên, được gọi là Bắc Nguyên, tiếp tục thống trị Mông Cổ đến năm 1635 khi những người bán du mục Mãn Châu từ Mãn Châu Lý tiêu diệt họ. Những người Khalkha dưới sự cai trị của dòng Thành Cát Tư, và những chư hầu cũ của họ- người Mông Cổ Oirat đã mất độc lập vào tay Nhà Thanh vào năm 1691 và 1755. Hãn quốc Crimean bị sáp nhập vào Đế quốc Nga năm 1783.

    Tổ chức

    Tổ chức quân đội

    Sự tổ chức quân đội của người Mông Cổ đơn giản mà hiệu quả. Nó dựa trên một truyền thống cổ của thảo nguyên (steppe), đó là hệ thống thập phân được văn hóa Iranian biết đến kể từ thời Achaemenid Ba Tư. Khi đó, quân đội được xây dựng từ các tổ (squad) gồm 10 người, gọi là arbat; 10 arbat lập thành một đội 100 người, gọi là zuut; 10 zuut tạo thành một đoàn gồm 1000 người gọi là myanghan, và 10 myanghan lập thành một sư đoàn (division) gồm 1 vạn người gọi là tumen.
    Không giống những chiến binh du mục khác (chỉ biết di chuyển: mobile-only) như người Hung Nô (Xiongnu) và người Hung (Huns), người Mông Cổ rất giỏi trong nghệ thuật bao vây. Họ cẩn thận tuyển mộ những thợ thủ công và những người giỏi từ các thành phố mà họ chiếm được, và cùng với một nhóm những kĩ sư nhiều kinh nghiệm người Trung Quốc và một nhóm pháo thủ (bombardier corps), là những chuyên gia về việc xây dựng các trebuchet, các máy bắn đá (catapult) ở Tương Phàn và những máy móc khác mà họ dùng trong các cuộc bao vây các pháo đài kiên cố. Chúng được sử dụng một cách thành công trong các chiến dịch ở Châu Âu dưới sự chỉ huy của Tốc Bất Đài (Subutai). Những vũ khí này đôi khi được xây dựng ngay tại chiến trường sử dụng những tài nguyên bản địa có sẵn như các cây gỗ quanh đó.
    Khi chiến đấu, các lực lượng Mông Cổ sử dụng một sự kết hợp hiệp đồng tác chiến rộng rãi giữa các binh chủng. Dù họ nổi tiếng là những cung thủ trên lưng ngựa, bộ binh được trang bị giáo cũng có những kĩ năng đồng đều và đóng góp lớn cho thành công của họ. Người Mông Cổ cũng sử dụng các kĩ sư trong các cuộc chiến, các cỗ máy bao vây và rocket được dùng để phá vỡ đội hình quân địch, khói được sử dụng để làm rối loạn và chia cắt địch để dễ dàng tiêu diệt.
    Kỉ luật quân đội tạo nên sự khác biệt giữa những người lính Mông Cổ và đối thủ của họ. Các lực lượng dưới sự chỉ huy của Đế chế Mông Cổ nói chung được huấn luyện, tổ chức và trang bị cho mục đích linh hoạt và tốc độ. Để tối đa hóa sự linh hoạt, những người lính Mông Cổ được trang bị tương đối nhẹ so với nhiều đối thủ của họ. Thêm vào đó, người lính trong quân đội Mông Cổ có chức năng tiếp tế một cách độc lập (khó dịch: functioned independently of supply lines), làm tăng đáng kể tốc độ di chuyển. Việc sử dụng một cách hiệu quả hệ thống đưa thư cũng làm cho đội quân này duy trì liên lạc với nhau và với tướng lĩnh của họ. Kỉ luật được khắc sâu trong suốt một nerge (cuộc đi săn truyền thống), như được Juvayni ghi lại. Những cuộc đi săn này khác biệt so với những cuộc đi săn ở những nền văn hóa khác vốn chỉ là những hoạt động nhỏ. Các lực lượng Mông Cổ sẽ phát triển rộng (spread out on line), bao vây toàn bộ một vùng rồi làm chủ mọi thứ trong vùng đó. Mục đích là không để bất kì một con vật nào lọt ra ngoài và giết hết chúng. Các bức họa và các practice có vẻ phủ nhận việc tập luyện phương pháp này ( Paintings and practices would tend to negate the practice of this method).
    Tất cả các chiến dịch quân sự đều lên kế hoạch kĩ lưỡng từ trước, trinh sát và tập hợp các thông tin nhạy cảm liên quan đến vùng đất và lực lượng của địch. Thành công, tổ chức và sự linh hoạt của quân đội Mông Cổ cho phép họ chiến đấu trên nhiều mặt trận cùng một lúc. Tất cả đàn ông từ 15 đến 60 tuổi và có khả năng trải qua sự huấn luyện khắc nghiệt đều có khả năng bị gọi nhập ngũ (cưỡng bách tòng quân), đây là một vinh dự cho truyền thống chiến binh bộ lạc của họ.
    Một điểm mạnh khác của người Mông Cổ là khả năng di chuyển một quãng đường lớn thậm chí trong những mùa đông lạnh giá khắc nghiệt; đặc biệt, những dòng sông bị đóng băng đối với họ như là những đường cao tốc dẫn họ tới những đô thị lớn nằm bên bờ sông đó. Ngoài kĩ thuật bao vây, người Mông Cổ cũng giỏi trong river-work (tạm dịch: tác chiến trên sông), vượt sông Sajó trong điều kiện nước lũ với 30.000 kỵ binh chỉ trong 1 đêm trong trận Mohi (tháng 4, 1241) để đánh bại vua Hungary là Bela IV. Tương tự, trong cuộc tấn công Đế chế Hồi giáo Khwarezmshah, một đội thuyền được sử dụng để chặn lối thoát ra phía sông.

    Luật pháp và cai trị

    Đế quốc Mông Cổ được cai trị theo các bộ luật do Thành Cát Tư Hãn đặt ra, gọi là Yassa, nghĩa là “điều lệnh” hay “chiếu chỉ”. Một tiêu chuẩn đặc thù của bộ luật này là những người có cấp bậc cũng phải chia sẻ khó khăn gian khổ như những người bình thường. Nó cũng áp đặt những hình thức xử phạt khắc nghiệt – ví dụ, áp đặt hình thức xử tử đối với những kỵ binh nào đang theo sau một kỵ binh khác mà không nhặt những gì mà người kỵ binh đi đằng trước đánh rơi, (cũng xử tử) đối với việc cưỡng hiếp hay ở một mức độ nào đó, việc giết người, trong khi 9 tội được tha thứ đối với những người lãnh đạo và những người giúp việc cho ông ta mà không cần phải định rõ số lượng. (nguyên văn: A particular canon of this code was that those of rank shared much of the same hardship as the common man. It also imposed severe penalties – e.g., the death penalty was decreed if the mounted soldier following another did not pick up something dropped from the mount in front, but also for rape and to some extent for murder, while nine offences were pardoned the ruler and his co-collaborators without clearly specifying quantitatively). Nói chung, kỉ luật chặt chẽ đã tạo ra một Đế quốc Mông Cổ cực kì an toàn và hoạt động tốt; Những người du lịch người Châu Âu đều ngạc nhiên vì sự tổ chức và kỉ luật nghiêm ngặt của những người sống trong Đế quốc Mông Cổ.
    Theo luật Yassa, lãnh đạo và tướng lĩnh được lựa chọn dựa trên phẩm chất, sự khoan dung đối với tôn giáo được đảm bảo, và việc trộm cắp hay phá hoại tài sản công dân bị nghiêm cấm.
    Đế quốc được cai trị bởi một hội đồng tập trung phi dân chủ theo kiểu nghị viện, gọi là Kurultai, trong đó các chỉ huy Mông Cổ diện kiến Đại Hãn để bàn về những vấn đề đối nội và đối ngoại.
    Thành Cát Tư Hãn cũng thể hiện một thái độ khoan dung và hào phóng đối với các tín ngưỡng của các dân tộc khác nhau, và không bao giờ xử tội một người nào vì niềm tin tôn giáo. Điều này được kết hợp với văn hóa và tư tưởng tiến bộ của họ (Roger Bacon). Một số nhà sử học ở thế kỉ 20 nhận định rằng đó là một chiến lược quân sự đúng đắn, như khi ông đang tiến hành chiến tranh với Sultan Muhammad của Đế quốc Khwarezm, các lãnh tụ Hồi giáo khác đã không tham gia vào việc chống lại ông - (họ) xem đó chỉ là một cuộc chiến phi thánh chiến (non-holy war) giữa 2 cá nhân mà thôi.
    Trên toàn đế quốc, các con đường giao thương và một hệ thống thư tín rộng rãi (yam) được tạo lập. Nhiều thương nhân, người đưa thư và những người du lịch từ Trung Quốc, Trung Đông và Châu Âu đã sử dụng hệ thống này. Thành Cát Tư Hãn cũng (ra lệnh) tạo ra một quốc ấn (national seal), để khuyến khích việc sử dụng bảng chữ cái Mông Cổ, và miễn thuế cho các nhà giáo, luật gia, và các nghệ sĩ, mặc dù tất cả các đối tượng khác của đế quốc bị đánh thuế nặng.
    Đồng thời, bất cứ sự chống đối nào đối với sự cai trị của người Mông Cổ đều bị trừng trị tàn khốc. Các thành phố bị chiếm và dân chúng trong thành đều bị thảm sát nếu họ không tuân theo mệnh lệnh của người Mông Cổ, trong khi phong trào Bạch Liên giáo không xảy ra chuyện này, kể cả phong trào Nghĩa Hòa Đoàn cũng không khuyến khích mạnh những phản ứng như vậy. (nguyên văn: Cities were destroyed and their inhabitants slaughtered if they defied Mongol orders, yet in the case of the White Lotus uprising this did not occur, nor did the Righteous Harmony Fists provoke so much of such reactions.) (không hiểu sao bài viết lại liên tưởng đến 2 phong trào này ở Trung Quốc, có lẽ trong mắt người phương Tây, hai phong trào này cũng man rợ gần bằng người Mông Cổ chăng? Nếu đúng thế thật thì có vẻ họ (người phương Tây) quá kiêu ngạo rồi).

    Tôn giáo

    Các tộc người Mông Cổ đều rất rộng rãi với hầu hết các tôn giáo, và điển hình bảo trợ cho nhiều tôn giáo cùng một lúc. Dưới thời Thành Cát Tư Hãn, hầu như mọi tôn giáo đều có những người cải đạo, từ Phật giáo sang Thiên Chúa giáo, và từ Mani giáo (tôn giáo ở Ba Tư) sang Hồi giáo. Để tránh xung đột, Thành Cát Tư Hãn thành lập một viện để đảm bảo tự do tôn giáo hoàn toàn, mặc dù bản thân ông là người theo Shaman giáo (Shamanism). Dưới sự cai trị của ông, tất cả các lãnh đạo tôn giáo đều được miễn thuế, và miễn trả tiền các dịch vụ công cộng. Các hoàng đế Mông Cổ đã tổ chức các cuộc tranh luận tôn giáo giữa các đợt nghỉ lễ với lượng lớn khán giả.
    Ban đầu có rất ít địa điểm chính thức cho việc cầu nguyện và thờ phụng do lối sống của dân du mục. Tuy nhiên, dưới thời Oa Khoát Đài, nhiều dự án xây dựng được triển khai ở Karakorum. Cùng với những cung điện, Oa Khoát Đài cũng xây các nhà cầu nguyện cho phật tử, người theo đạo Hồi, các con chiên Thiên Chúa, và người theo đạo Lão. Tôn giáo chiếm ưu thế vào thời điểm đó là Shaman giáo, Tengriism (không rõ dịch sang tiếng Việt thế nào) và Phật giáo, mặc dù vợ Oa Khoát Đài là một người Mông Cổ theo Thiên Chúa giáo. Ba trong bốn hãn quốc chính đều theo Hồi giáo.
    Hệ thống đưa thư
    Đế quốc Mông Cổ có một hệ thống đưa thư hiệu quả và tài tình ở thời điểm đó, thường được các học giả gọi là Yam. Nó có những đội chuyển thư tiếp sức được trang bị tốt và đầy đủ được gọi là ortoo có mặt khắp nơi trên Đế quốc Mông Cổ. Hệ thống yam về sau được lặp lại ở Hoa Kỳ dưới hình thức Pony Express. Một người đưa thư điển hình phải di chuyển 25 dặm (40km) giữa 2 trạm kế tiếp nhau, và anh ta có thể nhận được một con ngựa đã được nghỉ ngơi hoặc là đưa thư đó cho người tiếp theo để đảm bảo tốc độ chuyển thư nhanh nhất có thể. Thông thường người này có thể di chuyển 125 dặm (200km) mỗi ngày, nhanh hơn kỷ lục nhanh nhất của Pony Express 600 năm sau.
    Thành Cát Tư Hãn và người kế vị ông là Oa Khoát Đài cũng tiến hành xây dựng các con đường. Một trong những con đường mà Oa Khoát Đài tạo nên là Altai Range. Sau khi lên ngôi Đại Hãn, ông đã tổ chức hệ thống đường xá và ra lệnh cho Sát Hợp Đài hãn quốc và Kim Trướng Hãn quốc nối với các con đường ở phần tây của Đế quốc. Để giảm sức ép cho các hộ dân, ông đã thiết lập các trạm trung chuyển kèm với các hộ dân cách nhau 25 dặm (40km). Mặc dù những ai có paiza (thẻ bài???) mới được phép cấp ngựa tiếp sức và được cung cấp một khẩu phần ăn đặc biệt, nhưng những người mang các thư tín đặc biệt liên quan đến quân sự thì (có thể) sử dụng Yam mà không cần thẻ bài (paiza). Tin về cái chết của Thành Cát Tư Hãn ở Karaokorum được chuyển tới lực lượng Mông Cổ của Bạt Đô Hãn ở Trung Âu trong vòng 4-6 tuần là nhờ có Yam.
    Hãn Hốt Tất Liệt, người sáng lập Nhà Nguyên, đã xây dựng các trạm trung chuyển đặc biệt cho các quan lại cấp cao, cũng như các trạm bình thường có nhà nghỉ. Trong suốt thời kì Hốt Tất Liệt, hệ thống thông tin của người Nguyên bao gồm khoảng 1.400 trạm trung chuyển, sử dụng 50.000 còn ngựa, 8.400 bò, 6.700 la, 4.000 xe chở hàng và 6.000 con thuyền. Ở Mãn Châu Lý và nam Siberia, người Mông Cổ vẫn sử dụng các đội xe trượt tuyết do chó kéo cho Yam. Ở Il hãn quốc, Ghazan đã khôi phục lại hệ thống trung chuyển đang suy tàn ở vùng Trung Đông trên một phạm vi giới hạn. Ông đã xây dựng một số nhà nghỉ và ban lệnh rằng chỉ có những phái đoàn của hoàng gia mới được nhận lương (stipend, đoạn này hơi khó hiểu). Dòng Truật Xích ở Kim Trướng hãn quốc đã cấp tiền cho hệ thống trung chuyển nhờ vào một loại thuế đặc biệt. (cần dẫn nguồn)

    Con đường tơ lụa

    Người Mông Cổ có một lịch sử truyền thống trong việc bảo hộ các thương nhân và việc giao thương. Thành Cát Tư Hãn đã khuyến khích các thương nhân ngoại quốc từ rất sớm trong sự nghiệp của mình, thậm chí trước cả khi thống nhất các tộc Mông Cổ. Các thương nhân cung cấp cho ông thông tin về văn hóa của lân bang, phục vụ như những nhà ngoại giao và những người buôn bán chính thức của người Mông Cổ, và (họ) rất cần thiết cho nhiều loại nhu yếu phẩm, vì người Mông Cổ chỉ tự sản xuất được rất ít. Người Mông Cổ đôi khi còn cấp vốn cho các thương nhân và phái họ đi xa, trong các thương vụ gọi là ortoq (in an ortoq (merchant partner) arrangement). Khi Đế quốc phát triển, bất kì thương nhân hay đại sứ nào có giấy tờ và sự ủy quyền hợp lệ, sẽ nhận được sự bảo vệ và nơi ở khi họ đi qua các khu vực cai trị của người Mông Cổ. Những con đường được bảo trì tốt và dễ đi đã nối các vùng đất từ bồn địa Địa Trung Hải tới Trung Quốc, và làm phát triển mạnh sự giao thương xuyên lục địa, tạo nên những câu chuyện ấn tượng về những người đã đi trên con đường được biết đến với cái tên Con đường Tơ lụa. Một trong những nhà du lịch nổi tiếng nhất từ Tây sang Đông là Marco Polo, và một chuyến đi tương tự từ Đông sang Tây của một nhà sư Mông Cổ Trung Quốc tên là Rabban Bar Sauma, đã đi từ quê hương ông ở Khanbaliq (Bắc Kinh) đến Châu Âu. Những nhà truyền giáo người Châu Âu như William of Rubruck cũng tới triều đình Mông Cổ, để truyền đạo, hay như các công sứ của Giáo hoàng, mang những lá thư phúc đáp giữa Giáo hoàng và người Mông Cổ như là những cố gắng để thiết lập một liên minh Franco-Mông Cổ. Mặc dù vậy, hiếm có người này đi hết toàn bộ chiều dài của Con đường Tơ lụa. Thay vào đó, các thương nhân di chuyển hàng hóa giống như một đoàn người, với những vật phẩm xa xỉ được buôn bán từ những người trung gian đến những người khác, từ Trung Quốc đến phương Tây, và làm đội giá các hàng hóa đó lên rất nhiều.
    Sau thời Thành Cát Tư, những thương vụ vẫn tiếp tục hưng thịnh dưới thời Oa Khoát Đài và Quý Do. Các thương nhân mang quần áo, lương thực và các vật phẩm khác tới các cung điện của Đế chế, và để đổi lại, các Đại Hãn miễn thuế cho họ, và cho phép họ sử dụng các trạm trung chuyển chính thức của Đế quốc Mông Cổ. Các thương nhân cũng có thể phục vụ như những nông dân đóng thuế (tax farmers) ở Trung Quốc, Nga và Iran. Nếu các thương nhân bị cướp tấn công, những của cải bị mất sẽ được đền bù từ ngân khố đế chế.
    Nhưng dưới thời Đại Hãn Mông Kha, chính sách đã thay đổi. Vì nạn rửa tiền và thuế quá cao, ông đã cố gắng hạn chế sự lạm dụng và phái những điều tra viên của đế chế theo dõi các thương vụ ortoq. Ông ra lệnh tất cả các thương nhân phải đóng thuế tài sản và thuế thương mại, và ông cũng trả tất cả số nợ mà quan chức cấp cao Mông Cổ nợ thương nhân. Chính sách này vẫn được tiếp tục vào thời Nhà Nguyên.
    Sự sụp đổ của Đế quốc Mông Cổ dẫn tới sự sụp đổ tính thống nhất về chính trị, văn hóa và kinh tế của Con đường Tơ lụa. Các bộ tộc người Turk đã chiếm phần cuối phía tây của các tuyến đường buôn bán của Con đường Tơ lụa từ tay Đế chế Byzantine đang suy tàn, và đã gieo mầm một nền văn hóa Turkic mà sau đó định hình nên Đế quốc Ottoman của dòng Sunni. Ở phương Đông, dân Trung Hoa bản địa lật đổ Nhà Nguyên năm 1368, lập nên Nhà Minh và theo đuổi một chính sách bế quan tỏa cảng.

    Di sản

    Đế quốc Mông Cổ có một ảnh hưởng lâu dài, một lãnh thổ thống nhất rộng lớn mà một vài khu vực trong lãnh thổ đó (như phía đông và phía tây nước Nga và phần phía tây Trung Hoa) vẫn thống nhất cho đến ngày nay, dẫu cho có nhiều thay đổi về sự cai trị. Các bộ tộc Mông Cổ, trừ dân cư chính, có thể đã bị đồng hóa với các dân cư địa phương sau khi đế quốc sụp đổ, một số hậu duệ của họ đã tiếp nhận các tôn giáo bản địa - ví dụ, các Hãn quốc ở phía đông tiếp nhận Phật giáo, các Hãn quốc phía tây tiếp nhận Hồi giáo, chủ yếu là Hồi giáo Sunni.
    Theo một nghĩa nào đó, thì các cuộc chinh phục của Thành Cát Tư Hãn đã gây ra sự hủy diệt hàng loạt trên một phạm vi chưa từng có tiền lệ ở một số khu vực địa lý nhất định, và vì vậy dẫn đến một số sự thay đổi về nhân khẩu ở Châu Á, như sự nhập cư ồ ạt của các bộ tộc Iran ở Trung Á tới Iran ngày nay. Thế giới Hồi giáo cũng trải qua những sự thay đổi lớn lao, kết quả của các cuộc xâm lược của người Mông Cổ. Dân số của cao nguyên Iran giảm đi rất nhiều, số người chết có thể lên đến 3/4 dân số, có thể là từ 10 đến 15 triệu người. Nhà sử học Steven Ward ước tính rằng cho đến giữa thế kỉ 20, dân số Iran đã không thể nào khôi phục như trước thời kì bị Mông Cổ xâm lược. (sao chết nhiều thế nhỉ, không biết các bác ấy có chém không)
    Các thành tựu phi quân sự của Đế quốc Mông Cổ bao gồm việc đưa ra hệ thống chữ viết, bảng chữ cái cổ của Mông Cổ dựa trên các kí tự Duy Ngô Nhĩ, được thiết kế để viết tiếng Mông Cổ, vẫn còn được sử đụng đến ngày này ở khu vực Nội Mông (Inner Mongolia).
    Mộ số hậu quả (kết quả) lâu dài khác của Đế quốc Mông Cổ bao gồm:
    - Matxcova (Moscow) nổi bật lên trong thời kì dưới ách cai trị của Mông Cổ - Tatar, một thời gian sau khi những lãnh chúa Nga được chấp thuận là những người thu thuế cho người Mông Cổ. Việc người Nga tự thu đồ cống phẩm và thu thuế cho người Mông Cổ nghĩa là chính bản thân người Mông Cổ cũng ít khi đến vùng đất mà họ làm chủ. Cuối cùng, người Nga cũng lấy lại được sức mạnh quân sự, và lãnh chúa của họ là Ivan III đã lật đổ hoàn toàn người Mông Cổ để thành lập nước Nga Sa hoàng, sau khi "cuộc phòng thủ vĩ đại ở sông Ugra" (Great grand stan on Ugra rvier) chứng tỏ sự mỏng manh của người Mông Cổ, và dẫn tới nền độc lập cho Đại Công tước Moscow.
    - Hiểu biết của Châu Âu về thế giới được mở rộng một cách đáng kể bởi những thông tin mang đến bởi các sứ giả và thương nhân. Khi Columbus khởi hành năm 1492, nhiệm vụ của ông là tới được Trung Quốc (Cathay), vùng đất của Đại Hãn ở Trung Hoa, và trao cho ông (Đại Hãn) bức thư từ vua Ferdinand II of Aragon và Isabella I of Castile.
    - Một số nghiên cứu chỉ ra rằng đại dịch Cái chết đen phá hủy Châu Âu những năm 1340 có thể khởi nguồn từ Trung Quốc theo các con đường giao thương của Đế quốc Mông Cổ mà đến Châu Âu. Năm 1347, người Genoa làm chủ Caffa, một khu chợ thương mại lớn ở bán đảo Crimea, đã bị bao vây bởi các chiến binh Mông Cổ dưới sự chỉ huy của Janibeg. Sau một cuộc bao vây kéo dài mà người Mông Cổ được cho là đang khốn đốn với bệnh dịch, họ (người Mông Cổ) quyết định sử dụng những xác chết vì dịch bệnh như là một loại vũ khí sinh học. Những xác chết được máy bắn đá ném qua bức tường thành phố, lây nhiễm bệnh cho cư dân bên trong. Những thương nhân Genoa phải bỏ chạy bằng thuyền, đã truyền bệnh dịch vào phía nam Châu Âu, bệnh dịch nhanh chóng lan rộng. Tổng số người chết trên toàn thế giới vì bệnh dịch ước tính khoảng 75 triệu người, trong đó có khoảng 20 triệu người ở Châu Âu. Có những quan điểm cho rằng số lượng người chết ở Đế quốc Mông Cổ ít hơn là nhờ vệ sinh nghiêm ngặt và y học phương Đông.
    - Nhà nghiên cứu phương Tây R. J. Rummel ước tính khoảng 30 triệu người đã bị giết dưới sự cai trị của Đế quốc Mông Cổ. Dân số Trung Quốc giảm một nửa trong vòng 50 năm dưới sự cai trị của Mông Cổ. Trước khi Mông Cổ xâm lược, các vùng đất của các vương triều Trung Hoa được cho là có khoảng 120 triệu dân; sau cuộc chinh phục hoàn toàn năm 1279, cuộc điều tra dân số năm 1300 tính chỉ còn khoảng 60 triệu người. Có thể nghĩ rằng sự giảm dân số một cách đáng kể này chỉ là do sự tàn bạo của người Mông Cổ, nhưng các học giả ngày nay đang cân nhắc sự kết luận mang tính cảm tính này. Các học giả như Frederick W. Mote cho rằng sự suy giảm nghiêm trọng về dân số phản ánh sự sai lầm trong việc thống kê hơn là sự suy giảm thực sự, những người khác như Timothy Brook thì cho rằng người Mông Cổ đã làm giảm dân số vùng Nam Trung Hoa rất nhiều, và có một điều đáng bàn cãi là nhiều dân Hán ở tình trạng vô hình (invisible status: kiểu như không đăng kí hộ khẩu) do không đăng kí hộ khẩu hay không có quyền làm chủ đất đai của chính họ, vì vậy họ phải phụ thuộc và bị quản lý bởi quan lại người Mông Cổvà người Tartar. Ngoài ra, nó cũng liên quan đến việc tuyển lính vào quân đội Mông Cổ và việc khi những người phụ nữ Hồi giáo hậu cung của các công chúa Tangut (có thể) đã kháng cự dẫn tới một sự như vi phạm luật cấm buôn bán phụ nữ ở Jasa/Zasaq với việc tự do buôn bán phụ nữ sau những gì được tuyên bố trong lời chú thích tới Igor de Rachewitz phiên bản của Niuca Mongqol-un Tovcha´an được xếp tương đương với 2 thương vong khoảng 4000. Các nhà sử học khác như William McNeill và David Morgan cho rằng bệnh dịch hạch mới là nguyên nhân chính cho sự giảm dân số trong suốt thời kì này.(nguyên văn, rất dài và khó hiểu: Scholars such as Frederick W. Mote argue that the wide drop in numbers reflects an administrative failure to record rather than a de facto decrease whilst others such as Timothy Brook argue that the Mongols reduced much of the South Chinese population, and very debatably of the Han Chinese population to an invisible status through cancellation of right to passports and denial of right to direct land ownership, so that they had to depend and be cared for chiefly by Mongols and Tartars, which also involved recruitment into the Mongol army and when possibly resisted by Muslim women in the aftermath of the Tangut princess episode this is reported to have led to close to an infraction in the trafficking in women forbidden in the Jasa/Zasaq with a free distribution of the women after what has been alleged in footnotes to Igor de Rachewitz edition of the Niuca Mongqol-un Tovcha´an to have been ordered tantamount sexual abuse with two casualties alleged out of four thousand. Other historians like William McNeill and David Morgan argue that the Bubonic Plague was the main factor behind the demographic decline during this period).
    Tất cả các quy định đối với phụ nữ trong Đế quốc Mông Cổ đều được giảm nhẹ như phụ nữ có quyền li dị, và họ không được khuyến khích phải bó chân, tuy nhiên những người phụ nữ Trung Hoa theo truyền thống vẫn tiếp tục bó chân và họ luôn có quyền li hôn nhưng Khổng giáo không khuyến khích điều này. Nhưng điều này lại được người Mông Cổ khuyến khích như là the Jasa đặc biệt ban hành commerce to be cho phụ nữ, và ngoài ra các chiến binh nữ cũng xuất hiện như Chatulun, và như một giáo sĩ ghi lại, phụ nữ đôi khi đóng vai trò chỉ huy cũng như trong suốt các cuộc hành quyết hàng loạt trong thời kì cuối.
    David Nicole trong cuốn The Mongol Warlords đã chỉ ra rằng, "khủng bố và sự hủy diệt hàng loạt bất cứ ai chống lại họ là một chiến thuật của người Mông Cổ đã được kiểm chứng." Khoảng một nửa số dân Nga có thể đã chết trong suốt cuộc xâm lược. Tuy nhiên, Colin McEvedy (Atlas of World Population History, 1978) ước tính dân số Nga ở Châu Âu đã giảm từ 7.5 triệu trước khi bị xâm lược xuống 7 triệu sau đó. Các nhà sử học ước tính khoảng một nửa trong số 2 triệu dân Hungary ở thời điểm đó là nạn nhân của cuộc xâm lược của Mông Cổ. Rogerius, một giáo sĩ đã sống sót qua cuộc xâm lược, chỉ ra rằng không chỉ tiến hành diệt chủng, người Mông Cổ còn đặc biệt "thích thú" trong việc sỉ nhục phụ nữ. Sự thật là người Mông Cổ ban đầu ít nhất không lạm dụng tình dục phụ nữ nhưng lại có những hành động ôm chặt họ.
    Một trong những chiến thuật thành công hơn cả của người Mông Cổ là tàn sát tất cả dân ở những thành phố không chấp nhận đầu hàng. Ví dụ, sau khi chiếm Urgench, mỗi chiến binh Mông Cổ - trong một đội quân khoảng 2 tumen (2 vạn người) - được yêu cầu hành quyết 24 người. Trong cuộc xâm lược Nga, hầu hết các thành phố chính đều bị phá hủy. Nếu họ chọn việc giao nộp thành phố, dân chúng sẽ được tha chết, còn các tù binh chiến tranh đôi khi trở được sung vào quân đội Mông Cổ để phục vụ trong tương lai. Ngoài chiến thuật đe dọa đó (khủng bố thì đúng hơn), sự phát triển nhanh chóng của Đế quốc là do sức chịu đựng của quân đội (đặc biệt trong những mùa đông khắc nghiệt), kĩ năng quân sự, chế độ nhân tài, và kỉ luật. Tốc Bất Đài, một vị tướng đặc biệt trong hàng ngũ tướng lĩnh Mông Cổ, coi mùa đông là thời gian tốt nhất để tiến hành chiến tranh - trong khi những người kém gan dạ hơn thì tìm chỗ trú ẩn thì quân Mông Cổ có thể sử dụng những hồ và sông bị đóng băng như là đường cao tốc cho kỵ binh, một chiến thuật mà ông (Tốc Bất Đài) sử dụng rất hiệu quả ở Nga.
    Sự ảnh hưởng của Đế quốc Mông Cổ thậm chí được chứng tỏ là còn trực tiếp hơn - Zerjal. Một nghiên cứu năm 2003 nhận dạng một dòng nhiễm sắc thể Y (Y-chromosomal lineage) xuất hiện ở khoảng 8% đàn ông ở một vùng rộng lớn ở Châu Á (hay khoảng 5% đàn ông trên thế giới). Nghiên cứu đó cho rằng mẫu của các biến đổi trong dòng đó (lineage) đồng nhất với một giả thiết rằng nó có nguồn gốc từ Mông Cổ khoảng 1000 năm trước đây. Một sự lan rộng như vậy là quá nhanh nếu nó được gây ra bởi sự phát tán (diffusion), và vì vậy, nó phải là kết quả của sự chọn lọc. Các tác giả cũng cho rằng dòng đó được phát tán bởi những người đàn ông hậu duệ của Thành Cát Tư Hãn, và rằng nó được lan rộng qua chọn lọc xã hội.
    Ngoài các Hãn quốc và các hậu duệ khác, dòng họ hoàng gia Mughal ở Nam Á cũng là hậu duệ của Thành Cát Tư Hãn: Mẹ của Babur là một hậu duệ - ngược lại bố của ông là hậu duệ trực tiếp của Timur (Tamerlane). Từ "Mughal" trong tiếng Ba Tư nghĩa là người Mông Cổ.
    thay đổi nội dung bởi: vancraft, 08-02-2012 lúc 19:12 Lý do: sửa lỗi

  2. The Following 4 Users Say Thank You to vancraft For This Useful Post:

    doatphach (09-02-2012),HoanHY (09-02-2012),mai_quoc_trung (08-02-2012),yeesol (09-02-2012)

Quyền Sử Dụng Ở Diễn Ðàn

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •