kết quả từ 1 tới 9 trên 9

Ðề tài: Khái quát về chính quyền Hợp chúng quốc Hoa Kỳ

  1. #1
    Tham gia ngày
    28-09-2006
    Bài gởi
    7895
    Thanks
    603
    Thanked 3,786 Times in 1,968 Posts

    Default Khái quát về chính quyền Hợp chúng quốc Hoa Kỳ

    Nguồn: Đại sứ quán Hoa Kỳ

    Ấn phẩm của Chương trình Thông tin Quốc tế, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, năm 2000

    Chương 1: HIẾN PHÁP, MỘT VĂN KIỆN TRƯỜNG TỒN


    “ ... Điều khoản này được đưa vào một bản Hiến pháp, được xây dựng với dụng ý sẽ trường tồn qua nhiều thời đại và do đó thích ứng được với những khủng hoảng khác nhau trong các vấn đề của con người”
    - John Marshall, Chánh án Tòa án Tối cao,
    phát biểu trong vụ McCulloch kiện bang Maryland, 1819

    Hiến pháp Hợp chúng quốc Hoa Kỳ là công cụ trung tâm của chính quyền Hoa Kỳ và là bộ luật tối cao của đất nước. Trong 200 năm qua, Hiến pháp đã định hướng cho sự tiến hóa của các thể chế chính quyền và tạo cơ sở cho ổn định chính trị, tự do cá nhân, tăng trưởng kinh tế và tiến bộ xã hội.

    Hiến pháp Hoa Kỳ là bản hiến pháp thành văn lâu đời nhất thế giới vẫn còn hiệu lực, một hiến pháp từng được dùng làm mô thức cho một số hiến pháp khác trên thế giới. Sở dĩ bản Hiến pháp này có được sức trường tồn chính là nhờ tính đơn giản và linh hoạt của nó. Khởi thủy được soạn thảo vào cuối thế kỷ XVIII nhằm tạo khuôn khổ cho việc cai quản 4 triệu dân của 13 bang rất khác biệt nhau nằm trên bờ Đại Tây Dương, những điều khoản cơ bản của bản Hiến pháp này đã được xây dựng vững chãi đến mức chỉ với 27 điều sửa đổi, hiện nay nó có thể đáp ứng nhu cầu của hơn 260 triệu người dân Mỹ tại 50 bang còn đa dạng nhiều hơn nữa, trải dài từ Đại Tây Dương cho đến Thái Bình Dương.

    Con đường dẫn đến bản Hiến pháp không hề thẳng tắp hay suôn sẻ. Phải đợi mãi đến năm 1787, sau khi đã trải qua những cuộc tranh luận sôi nổi và một thời gian tồn tại 6 năm của một hình thái liên bang ban đầu, mới xuất hiện được một văn kiện dự thảo. Năm 1776, 13 thuộc địa của Anh tại châu Mỹ tuyên bố độc lập đối với mẫu quốc. Trước đó một năm, nổ ra chiến tranh giữa các thuộc địa với nước Anh, một cuộc chiến tranh giành độc lập kéo dài trong sáu năm khốc liệt. Ngay trong khi đang còn chiến tranh, các thuộc địa - giờ đây tự gọi là Hợp chúng quốc Hoa Kỳ - đã thảo ra một thỏa thuận ngắn gọn liên kết họ lại thành một quốc gia. Thỏa thuận ngắn gọn này, gọi là "Điều lệ Liên bang và Liên minh vĩnh cửu", được thông qua tại một đại hội của các bang vào năm 1777, và được chính thức ký kết vào tháng Bảy năm 1778. Điều lệ này bắt đầu có hiệu lực sau khi được Maryland, bang thứ 13, phê chuẩn vào tháng 3 năm 1781.

    Điều lệ Liên bang tạo ra một liên minh lỏng lẻo giữa các bang và thiết lập một chính quyền liên bang với những quyền lực rất hạn chế. Trong các vấn đề tối quan trọng như quốc phòng, tài chính và thương mại, chính quyền liên bang phải lệ thuộc vào các cơ quan lập pháp của các bang. Đó không phải là một cách tổ chức có khả năng dẫn tới ổn định và sức mạnh. Chỉ sau một thời gian ngắn, mọi người đều thấy rõ những mặt yếu của Liên bang. Về phương diện chính trị và kinh tế, quốc gia mới hình thành này hầu như rơi vào cảnh hỗn loạn. Nói như George Washington, người sau này trở thành tổng thống đầu tiên của Hợp chúng quốc Hoa Kỳ vào năm 1789, 13 bang được liên kết với nhau chỉ "bởi một sợi dây bằng cát".

    Chính trong tình huống không báo trước điều gì tốt đẹp này, Hiến pháp Hợp chúng quốc Hoa Kỳ được xây dựng. Tháng Hai năm 1787, cơ quan lập pháp của nền cộng hòa, gọi là Continental Congress (Đại hội lục địa), kêu gọi các bang cử đại biểu tới Philadelphia thuộc bang Pennsylvania để xem xét lại bản Điều lệ này. Hội nghị Lập hiến được triệu tập vào ngày 25 tháng Năm 1787 tại Hội trường Độc lập, nơi 11 năm trước, bản Tuyên ngôn Độc lập đã được thông qua vào ngày 4 tháng Bảy năm 1776. Mặc dù các đại biểu chỉ được ủy quyền sửa đổi Điều lệ Liên bang, nhưng họ đã gạt hẳn bản đó sang một bên và bắt tay vào xây dựng một hiến chương cho một hình thức chính quyền tập trung hơn và hoàn toàn mới. Văn kiện mới này, tức Hiến pháp, được hoàn thành vào ngày 17 tháng Chín năm 1787, và được chính thức thông qua vào ngày 4 tháng 3 năm 1789.

    55 đại biểu dự thảo Hiến pháp bao gồm hầu hết những nhà lãnh đạo lỗi lạc, còn gọi là các Nhà khai quốc, của quốc gia mới. Họ đại diện cho rất nhiều lợi ích, nguồn gốc xuất thân và địa vị khác nhau. Tuy nhiên, tất cả đều tán thành các mục tiêu trung tâm được thể hiện trong lời mở đầu của Hiến pháp: "Chúng tôi, những người dân Hợp chúng quốc, nhằm mục đích hình thành một liên bang hoàn hảo hơn, thiết lập công lý, bảo đảm sự bình yên trong nước, chu cấp cho sự phòng thủ chung, đẩy mạnh phúc lợi chung, và đảm bảo lợi ích của tự do cho bản thân chúng ta và cho các thế hệ mai sau, quyết định xây dựng và ban hành bản Hiến pháp này của Hợp chúng quốc Hoa Kỳ”.

    Thống nhất một dân tộc đa dạng

    Mục tiêu trên hết của Hiến pháp là tạo ra một chính quyền dân cử vững mạnh, trực tiếp đáp ứng ý nguyện của nhân dân. Khái niệm tự trị không phải bắt nguồn từ người Mỹ; thực vậy, một mức độ tự trị nhất định đã tồn tại ở Anh lúc bấy giờ. Nhưng mức độ mà Hiến pháp đặt Hợp chúng quốc dưới sự cai quản của nhân dân là chưa từng có, có thể nói là mang tính cách mạng so với các chính quyền khác trên khắp thế giới. Vào thời gian Hiến pháp được thông qua, người Mỹ đã có rất nhiều kinh nghiệm trong nghệ thuật tự trị. Từ lâu trước khi độc lập được tuyên bố, các thuộc địa đã là những thực thể hoạt động như những đơn vị chính quyền, đặt dưới sự kiểm soát của nhân dân. Và sau ngày bắt đầu Cách mạng - từ ngày 1-1-1776 đến 20-4-1777 - 10 trong số 13 bang đã thông qua hiến pháp riêng của mình. Hầu hết các bang đã có một thống đốc bang do cơ quan lập pháp của bang bầu ra. Bản thân cơ quan lập pháp này được bầu ra bằng phổ thông đầu phiếu.

    Bản Điều lệ Liên bang đã tìm cách thống nhất những bang tự trị này. Ngược lại, bản Hiến pháp thiết lập một chính quyền trung ương, hay liên bang, hùng mạnh với nhiều quyền lực rộng rãi trong việc quản lý các mối quan hệ giữa các bang, và chịu trách nhiệm hoàn toàn trong các lĩnh vực như ngoại giao và quốc phòng.

    Đối với nhiều người, tập trung hóa là điều khó chấp nhận. Phần lớn những người định cư tại Mỹ là những người dân châu Âu đã rời bỏ quê hương mình để thoát khỏi sự áp bức về tôn giáo và chính trị, cũng như thoát khỏi những khuôn mẫu kinh tế cứng nhắc của Thế giới Cũ trói buộc con người vào một địa vị nhất định trong cuộc sống mà không đếm xỉa đến tài năng hay nghị lực của họ. Những người định cư này tôn vinh quyền tự do cá nhân và họ tỏ ra cảnh giác đối với bất kỳ thứ quyền lực nào - nhất là quyền lực của chính quyền - có thể sẽ cắt xén các quyền tự do cá nhân.

    Sự đa dạng của quốc gia mới cũng là một trở ngại rất lớn đối với sự thống nhất. Những người được Hiến pháp trao cho quyền bầu cử và kiểm soát chính quyền trung ương ở thế kỷ XVIII đại diện cho nhiều nguồn gốc xuất thân, tín ngưỡng và lợi ích khác nhau. Hầu hết họ đến từ nước Anh, nhưng cũng từ cả Thụy Điển, Na Uy, Pháp, Hà Lan, Phổ, Ba Lan, và nhiều nước khác cũng đã gửi người nhập cư đến Thế giới Mới. Tín ngưỡng tôn giáo của họ rất đa dạng và phần lớn vẫn được duy trì mạnh mẽ. Có những người Anh giáo, Thiên Chúa giáo La Mã, có những tín đồ Calvin, những người Pháp theo đạo Tin Lành, những người theo giáo phái Tin Lành của Martin Luther, những tín đồ giáo phái Quaker, những tín đồ Do Thái giáo. Trên phương diện kinh tế và xã hội, người dân Mỹ bao gồm từ tầng lớp qúy tộc điền địa tới thành phần nô lệ và những người hầu làm thuê trả nợ. Nhưng xương sống của đất nước này là tầng lớp trung lưu - điền chủ, thương nhân, thợ cơ khí, thủy thủ, thợ đóng tàu, thợ dệt, thợ mộc và nhiều loại người khác.

    Người dân Hoa Kỳ lúc đó, cũng như hiện nay, có những ý kiến rất khác nhau về hầu như mọi vấn đề, kể cả ý kiến về việc thoát khỏi Đế chế Anh. Trong thời gian diễn ra Cách mạng Mỹ, một số đông những người trung thành với Đế chế Anh - gọi là những người bảo thủ, những người Tory - đã rời bỏ đất nước tới định cư phần lớn tại miền đông Canađa. Những người ở lại lập ra một khối đối lập khá mạnh, mặc dù giữa họ với nhau cũng có những bất đồng về lý do chống đối cách mạng cũng như việc cần có những thỏa hiệp nào với nền cộng hòa mới ở Mỹ.

    Trong hai thế kỷ qua, tính đa dạng của người Mỹ đã tăng lên, thế nhưng tính thống nhất cơ bản của đất nước này còn trở nên mạnh mẽ hơn nữa. Trong suốt thế kỷ XIX và bước sang thế kỷ XX, một dòng người nhập cư bất tận đã đóng góp những tài năng và những di sản văn hóa của họ cho đất nước đang lớn mạnh này. Những người tiên phong đã vượt qua dãy núi Appalachian miền đông đến định cư tại Thung lũng Mississippi và Đại Bình Nguyên ở trung tâm của lục địa, rồi vượt qua dải Rocky Moutains tới được bờ Thái Bình Dương - cách xa vùng duyên hải Đại Tây Dương do những người khai hoang đầu tiên lập ra tới 4.500 kilômét về phía tây. Và cùng với sự mở rộng của đất nước, mọi người cũng thấy được kho tài nguyên thiên nhiên bao la của đất nước: những dải rừng gỗ nguyên sinh rộng lớn, những trữ lượng than, đồng, sắt và dầu mỏ khổng lồ, thủy lực dồi dào và đất đai màu mỡ.

    Sự giàu có của đất nước này đã tạo ra kiểu đa dạng riêng của nó. Những nhóm lợi ích khu vực và thương mại đặc biệt nổi lên. Các chủ tàu biển ở vùng bờ biển miền Đông chủ trương tự do buôn bán. Các nhà chế tạo công nghiệp miền Trung - Tây đòi lập ra thuế nhập khẩu để bảo hộ vị trí của họ trong thị trường Hoa Kỳ đang mở rộng. Các điền chủ mong muốn cước phí vận tải thấp và giá nông sản cao, những người chủ các nhà máy xay và những người làm bánh muốn có giá ngũ cốc thấp; những người vận hành xe lửa muốn thu mức cước phí vận chuyển cao nhất có thể. Những chủ ngân hàng ở New York, những người trồng bông ở miền Nam, những người chăn nuôi gia súc ở Texas và những người khai thác rừng ở Oregon, mỗi lớp người có những cách nhìn nhận khác nhau về nền kinh tế và vai trò điều tiết của chính quyền.

    Công việc liên tục không ngừng của Hiến pháp và của chính quyền mà Hiến pháp đã lập ra là quy tụ những lợi ích đa dạng này về một mối nhằm tạo ra một nền tảng chung và đồng thời bảo vệ những quyền cơ bản của mọi người dân.

    So với những phức tạp của chính quyền ngày nay, các vấn đề của việc cai quản bốn triệu dân trong các điều kiện kinh tế kém phát triển hơn nhiều xem ra quả là nhỏ bé. Nhưng những người soạn thảo Hiến pháp xây dựng nó không chỉ cho hiện tại mà còn cho cả tương lai. Họ ý thức sâu sắc về sự cần thiết của một cơ cấu chính quyền không chỉ hoạt động trong thời đại họ, mà còn cho nhiều thế hệ mai sau. Do vậy, họ đã đưa vào Hiến pháp một điều khoản quy định việc sửa đổi văn kiện này khi các điều kiện xã hội, kinh tế hay chính trị đòi hỏi. Đã có 27 điều sửa đổi được thông qua kể từ ngày Hiến pháp được phê chuẩn, và tính linh hoạt của Hiến pháp đã tỏ ra là một trong những mặt mạnh lớn nhất của nó. Nếu không có mức độ linh hoạt đó, không thể hình dung một văn kiện soạn thảo cách đây hơn 200 năm mà vẫn còn có thể phục vụ hữu hiệu nhu cầu của 260 triệu dân và hàng nghìn đơn vị chính quyền ở mọi cấp tại Hoa Kỳ ngày nay. Cũng như không thể hình dung nó có thể áp dụng với một hiệu lực và độ chính xác như nhau cho các vấn đề của cả các thị trấn nhỏ lẫn các thành phố lớn.

    Vì vậy Hiến pháp và chính quyền liên bang đứng ở đỉnh của hình tháp chính quyền gồm cả chính quyền địa phương lẫn chính quyền bang. Trong hệ thống chính quyền Hoa Kỳ, mỗi cấp chính quyền đều có một mức độ tự chủ lớn với những quyền hạn nhất định dành riêng cho cấp chính quyền đó. Tranh chấp giữa các cấp chính quyền khác nhau được giải quyết tại các tòa án. Tuy nhiên, có những vấn đề liên quan đến lợi ích quốc gia đòi hỏi sự hợp tác đồng thời của mọi cấp chính quyền, và Hiến pháp cũng có những điều khoản đề cập đến những vấn đề đó. Chẳng hạn, các trường công ở Mỹ phần lớn do chính quyền địa phương quản lý, tuân theo những tiêu chuẩn áp dụng trong toàn bang. Nhưng chính quyền liên bang cũng trợ giúp các trường học, vì biết đọc, viết viết và có trình độ học vấn là những vấn đề lợi ích quốc gia thiết yếu, và chính quyền áp dụng những tiêu chuẩn đồng nhất nhằm đẩy mạnh sự bình đẳng về cơ hội học tập. Trong các lĩnh vực khác, như nhà ở, y tế và phúc lợi, cũng có một sự hợp tác tương tự giữa các cấp chính quyền.

    Không một sản phẩm nào của xã hội loài người được coi là hoàn hảo. Dù đã qua nhiều lần sửa đổi, Hiến pháp Hợp chúng quốc Hoa Kỳ có lẽ vẫn còn chứa đựng những khiếm khuyết, chúng sẽ bộc lộ ra trong những thời kỳ căng thẳng sau này. Nhưng hai thế kỷ phát triển và phồn thịnh vô song đã chứng tỏ tầm nhìn xa trông rộng của 55 con người đã làm việc suốt mùa hè năm 1787 để đặt nền móng cho chính quyền Mỹ. Nói như Archibald Cox, nguyên Tổng chưởng lý Hợp chúng quốc Hoa Kỳ, "Bản Hiến pháp nguyên thủy vẫn còn có ích cho chúng ta mặc dù đã có những thay đổi sâu rộng trong mọi khía cạnh của đời sống ở Mỹ, bởi vì những người soạn thảo nó đã được phú cho một thiên tài là nói ra đủ lời nhưng không nói quá nhiều... Khi mà kế hoạch đề ra tại Hội nghị lập hiến thành công, khi mà đất nước lớn mạnh và phồn vinh cả về mặt vật chất lẫn trong việc thực hiện những lý tưởng của nó, tức là bản Hiến pháp đã tạo dựng được cho mình uy thế và quyền lực lớn hơn rất nhiều so với uy thế và quyền lực của bất kỳ cá nhân hay tập thể nào".

    Công việc soạn thảo hiến pháp

    Khoảng thời gian từ lúc phê chuẩn Điều lệ Liên bang năm 1781 đến lúc soạn thảo Hiến pháp mới vào năm 1787 là một thời kỳ đầy rẫy những yếu kém, tranh chấp và xáo động. Trong Điều lệ Liên bang, không có điều khoản nào quy định ngành hành pháp có quyền thi hành luật pháp, cũng như quy định hệ thống tòa án quốc gia có quyền giải thích pháp luật. Quốc hội lập pháp là cơ quan duy nhất trong chính quyền quốc gia, nhưng nó hoàn toàn không có quyền buộc các bang phải làm bất cứ điều gì trái với ý nguyện của họ. Trên lý thuyết, Quốc hội có thể tuyên bố chiến tranh và thiết lập quân đội nhưng nó không thể buộc bất cứ bang nào cung cấp quân số, vũ khí và trang thiết bị cho quân đội. Quốc hội phải trông cậy vào các bang để có nguồn thu tài trợ các hoạt động của mình, nhưng lại không thể xử phạt bất kỳ một bang nào với lý do không đóng góp vào ngân sách liên bang. Các bang được quyền kiểm soát việc đánh thuế cùng mức thuế và từng bang có thể phát hành đồng tiền riêng. Khi có tranh chấp giữa các bang - và có nhiều tranh cãi về ranh giới bang không được giải quyết - thì Quốc hội đóng vai trò trung gian hòa giải và phân xử nhưng vẫn không thể buộc các bang phải chấp nhận các quyết định của mình.

    Kết quả là một sự hỗn loạn thực sự. Không có quyền thu thuế, chính quyền liên bang rơi vào tình trạng mắc nợ. Bảy trong số 13 bang in tiền giấy với khối lượng lớn, có mệnh giá cao nhưng sức mua thực tế thấp, để trả cho các cựu chiến binh của cuộc Chiến tranh Cách mạng và hàng loạt chủ nợ để thanh toán nợ nần giữa điền chủ nhỏ và các chủ đồn điền lớn.

    Ngược lại, cơ quan lập pháp bang Massachusetts lại áp đặt một đồng tiền bị kiểm soát chặt chẽ cùng với mức thuế cao, gây ra việc lập nên một đội quân điền chủ nhỏ dưới sự lãnh đạo của Daniel Shays - nguyên là một đại úy quân đội trong Chiến tranh Cách mạng. Mưu đồ chiếm lấy cơ quan lập pháp của bang Massachusets, Shays và những người khác đã đòi bãi bỏ việc bắt nợ tài sản và cầm cố không công bằng. Quân đội đã được huy động để đàn áp cuộc bạo động, nhưng chính quyền liên bang đã không có ý kiến gì.

    Việc thiếu một đồng tiền thống nhất và ổn định cũng đã phá vỡ hoạt động buôn bán giữa các bang với nhau và giữa các bang với các nước khác. Không chỉ giá trị của tiền giấy giữa các bang không thống nhất mà một số bang (như New York và Virginia) lại đánh thuế vào hàng hóa nhập khẩu từ các bang khác, do đó gây ra những hành động trả đũa. Đến nỗi các bang đã có thể tuyên bố, như lời cơ quan thanh tra tài chính liên bang, rằng "uy tín nhà nước của chúng ta không còn nữa". Vấn đề càng trở nên phức tạp hơn khi các bang mới giành được độc lập này do đã đột ngột tách khỏi Anh nên không còn được hưởng đối xử ưu đãi tại các cảng của Anh nữa. Khi Đại sứ Hoa Kỳ John Adams tìm cách đàm phán một hiệp định thương mại vào năm 1785 thì người Anh đã từ chối với lý lẽ viện ra rằng các bang riêng lẻ không bị ràng buộc bởi hiệp định này.

    Một chính quyền trung ương non yếu, không đủ sức mạnh hậu thuẫn cho các chính sách của mình bằng lực lượng quân sự, thì tất yếu sẽ bị trói tay cả trong lĩnh vực ngoại giao. Người Anh không chịu rút quân đội của họ ra khỏi các căn cứ và thương cảng thuộc "Lãnh thổ miền Tây Bắc" (Northwest Territory) của quốc gia mới này như họ đã thỏa thuận trong hòa ước năm 1783 đánh dấu sự kết thúc của Chiến tranh Cách mạng. Vấn đề trở nên tồi tệ hơn nữa khi các sĩ quan Anh ở các vùng biên giới phía bắc và các sĩ quan Tây Ban Nha ở phía nam cung cấp vũ khí cho bộ tộc người Anhđiêng và xúi giục họ tấn công những người định cư Mỹ. Người Tây Ban Nha, nắm trong tay việc kiểm soát Florida và Louisiana cũng như toàn bộ lãnh thổ phía tây sông Mississipi, cũng từ chối không cho phép các điền chủ ở miền tây dùng cảng New Orleans để vận chuyển hàng hóa.

    Mặc dù có những dấu hiệu phồn vinh trở lại ở một vùng của quốc gia non trẻ này nhưng các vấn đề trong và ngoài nước vẫn tiếp tục gia tăng. Người ta ngày càng thấy rõ rằng chính quyền trung ương của liên bang không đủ mạnh để thiết lập một hệ thống tài chính lành mạnh, quản lý thương mại, thực thi các hiệp ước hoặc dùng đến sức mạnh quân sự chống lại kẻ thù ngoại bang khi cần thiết. Những chia rẽ nội bộ giữa điền chủ và thương nhân, giữa con nợ và chủ nợ và giữa bản thân các bang với nhau ngày càng trở nên nghiêm trọng. Với cuộc bạo động của những người nông dân cùng quẫn do Shays cầm đầu vào năm 1786 còn in đậm trong tâm trí mọi người, George Washington đã cảnh báo: "Bang nào cũng chứa đựng những chất dễ cháy mà chỉ cần một tia lửa cũng có thể cháy bùng lên".

    Ý thức về thảm hoạ chính trị và việc cần phải có sự thay đổi triệt để đã bao trùm bầu không khí Hội nghị lập hiến được bắt đầu vào ngày 25 tháng Năm năm 1787. Tất cả các đại biểu đều tin rằng phải có một chính quyền trung ương hữu hiệu với những quyền lực cưỡng bách rộng rãi để thay thế cho Quốc hội bất lực lập ra theo Điều lệ Liên bang. Thoạt đầu các đại biểu nhất trí rằng chính quyền mới sẽ gồm ba ngành tách biệt - lập pháp, tư pháp và hành pháp, - từng ngành có những quyền riêng biệt để cân đối với những quyền của hai ngành kia. Mọi người cũng nhất trí rằng ngành lập pháp - giống như Nghị viện Anh - cần gồm có hai viện.

    Tuy nhiên, ngoài điểm trên đây, vẫn có những bất đồng quan điểm sâu sắc đôi khi có nguy cơ phá vỡ Hội nghị và làm gián đoạn các cuộc thảo luận trước khi hiến pháp được thảo ra. Các bang lớn thì ủng hộ việc phân bổ số người đại diện trong cơ quan lập pháp tỷ lệ với số dân - mỗi bang cần có số phiếu biểu quyết nhiều ít tuỳ theo số dân của mình. Sợ bị sự áp đảo của các bang lớn, các bang nhỏ một mực đòi tất cả các bang đều có quyền đại diện ngang nhau. Vấn đề này đã được giải quyết bằng sự "Thỏa hiệp Lớn", một biện pháp dành cho các bang có quyền đại diện ngang bằng nhau trong một viện và quyền đại diện tỷ lệ theo số dân trong viện kia. Mỗi bang sẽ có hai ghế trong Thượng viện. Số ghế trong Hạ viện sẽ phụ thuộc vào dân số từng bang. Vì được cho là gần gũi hơn với thái độ của đa số dân cư, Hạ viện được trao quyền khởi xướng mọi luật lệ liên quan tới các nguồn thu và ngân sách của liên bang.

    Sự Thỏa hiệp Lớn này đã chấm dứt mối bất hòa giữa các bang lớn và nhỏ, nhưng trong suốt mùa hè năm đó các đại biểu cũng đã đi đến nhiều thỏa hiệp khác. Một số đại biểu, lo sợ phải trao quá nhiều quyền lực cho người dân, đã yêu cầu bầu cử gián tiếp đối với tất cả quan chức liên bang; nhưng những đại biểu khác lại muốn một nền tảng cử tri càng rộng lớn càng tốt. Một số muốn loại trừ các lãnh thổ miền tây khỏi khả năng sau này có thể được mang quy chế bang; nhưng những đại biểu khác lại nhận thấy sức mạnh tương lai của đất nước nằm ở những vùng đất nguyên sơ bên ngoài dãy núi Appalachian. Có những lợi ích cục bộ cần được cân đối, có những quan điểm khác nhau về nhiệm kỳ, quyền lực và phương thức bầu chọn tổng thống cần được dung hòa, và những quan niệm đối lập nhau về vai trò của ngành tư pháp liên bang.

    Con đường dẫn tới thỏa hiệp không mấy khó khăn nhờ có phẩm chất ưu tú của các đại biểu tham gia Hội nghị. Chỉ một số ít các nhà lãnh đạo vĩ đại của cuộc Cách mạng Mỹ vắng mặt: Thomas Jefferson và John Adams - cả hai là những vị tổng thống tương lai - khi ấy làm nhiệm vụ phái viên của Mỹ tại Pháp và Anh; John Jay bận công việc với tư cách ngoại trưởng của Liên bang. Một số nhỏ những người khác như Samuel Adams và Patrick Henry quyết định không tham gia vì tin rằng cơ cấu chính quyền hiện có đã là lành mạnh rồi. Trong số những người tham dự, người danh tiếng nhất, vượt xa tất cả những người khác, là George Washington, vị tư lệnh của quân đội Mỹ và là người anh hùng của cuộc Cách mạng, chủ trì Hội nghị. Benjamin Franklin - nhà khoa học, học giả và nhà ngoại giao cao niên sáng suốt, cũng có mặt. Và cũng có những nhân vật lỗi lạc như James Madison của bang Virginia, thống đốc Morris của Pennsylvania và Alexander Hamilton - một luật sư trẻ sáng giá đến từ New York.

    Cả những đại biểu trẻ nhất, còn ở độ tuổi 20 và 30, cũng đã thể hiện những tài năng thiên bẩm về chính trị và trí tuệ. Như lời Thomas Jefferson khi đó đang ở Paris đã viết cho John Adams tại London: "Đây thực sự là một sự quần tụ của những á thần".

    Một số ý tưởng thể hiện trong Hiến pháp là mới mẻ, nhưng nhiều ý tưởng được đúc rút từ truyền thống cai trị của Anh và từ kinh nghiệm thực tiễn trong chế độ tự trị của 13 bang. Bản Tuyên ngôn Độc lập là một văn kiện chỉ đường quan trọng, hướng tâm trí các đại biểu tập trung vào những ý tưởng tự trị và bảo toàn những quyền cơ bản của con người. Những bài viết của các nhà triết học chính trị châu Âu như Montesquieu và John Locke cũng có nhiều ảnh hưởng.

    Đến cuối tháng 7, hội nghị cử ra một ủy ban để dự thảo một văn kiện dựa trên những thỏa thuận đã đạt được. Sau thêm một tháng thảo luận và gọt giũa nữa, một ủy ban thứ hai do thống đốc Morris đứng đầu, hoàn thành bản dự thảo cuối cùng, được đệ trình để ký kết vào ngày 17 tháng Chín. Không phải tất cả các đại biểu đều hài lòng với kết quả này; một số đã bỏ về trước buổi lễ, và trong số những người ở lại, có ba người không chịu ký là Edmund Randolph và George Mason của Virginia, Elbridge Gerry của Massachusetts. Trong số 39 người đặt bút ký có lẽ chẳng ai hoàn toàn thỏa mãn và quan điểm của họ đã được Benjamin Franklin tóm tắt đầy đủ khi ông nói: "Có một vài phần trong bản Hiến pháp này hiện tại tôi chưa chấp thuận, nhưng tôi không đoan quyết là tôi sẽ không bao giờ chấp thuận những phần ấy". Tuy nhiên ông chấp nhận bản Hiến pháp này "bởi tôi chẳng thể mong đợi một văn kiện xuất sắc hơn và tôi cũng không thể quả quyết rằng đây không phải là văn kiện xuất sắc nhất".
    Washington với hội nghị lập hiến

    Khi đã có đủ đại biểu đến Philadelphia để tạo thành số đại biểu tối thiểu hợp lệ cho việc triệu tập Hội nghị lập hiến, George Washington được nhất trí bầu làm chủ tịch Hội nghị. Ông miễn cưỡng chấp nhận vinh dự này vì cho rằng mình không đủ tiêu chuẩn. Diễn văn khai mạc của ông là những lời nói với niềm tự hào và lý tưởng của những người tham dự Hội nghị: "Chúng ta hãy cùng giương cao một lá cờ mà những người sáng suốt và trung thực có thể sửa đổi".

    Với tư cách người chủ trì, Washington đã tỏ ra kiên định, nhã nhặn nhưng lạnh lùng, chỉ tham gia các cuộc tranh luận vào ngày cuối cùng của Hội nghị. Ông là một nhân vật gây ấn tượng sâu sắc, cả về mặt hình thể lẫn tinh thần, đến nỗi một đại biểu nhận xét rằng Washington là "người duy nhất mà tôi cảm thấy hơi sợ khi gặp mặt".

    Sự ủng hộ của Washington cho một Liên bang hùng mạnh đã bắt rễ từ kinh nghiệm khi làm tổng tư lệnh Quân đội Lục địa trong thời kỳ Cách mạng Mỹ. Ông còn nhớ ông đã phải cố thuyết phục quân lính bang New Jersey của mình tuyên thệ trung thành với Hợp chúng quốc. Họ đã cự tuyệt và nói "New Jersey là đất nước của chúng ta !". Trong một khoảng thời gian nghỉ giữa Hội nghị, Washington đã trở lại chiến trường cách mạng Valley Forge, bang Pennsylvania, gần đó, nơi ông và quân đội của mình đã trải qua một mùa đông khắc nghiệt do các bang không chịu đóng góp vào sự nghiệp chung.

    Khi Hội nghị kết thúc và bắt đầu tiến trình phê chuẩn, Washington từ bỏ sự im lặng của mình và nhân danh Hội nghị làm việc đầy nhiệt huyết, góp phần thuyết phục một số người chống đối của bang Virginia quê hương ông hãy thay đổi lập trường. Ông công nhận tác dụng của những người phê phán khi họ đưa ra Tuyên ngôn Nhân quyền (sau đó trở thành 10 điều sửa đổi đầu tiên của Hiến pháp) trước cử toạ. Đồng thời, ông biểu dương James Madison và Alexander Hamilton về sự ủng hộ của họ đối với Hiến pháp trong tập Các bài viết chủ trương chế độ liên bang, khi ông viết rằng họ đã "rọi một ánh sáng mới vào khoa học chính quyền; họ đã đem đến một sự bàn luận đầy đủ và công bằng về quyền con người và giải thích những quyền ấy một cách rõ ràng và mạnh mẽ đến nỗi không thể không để lại một ấn tượng lâu dài".
    Phê chuẩn: một bước mở đầu

    Trước mắt là tiến trình phê chuẩn gay go gian khổ, nghĩa là phải có ít nhất 9 bang chấp thuận Hiến pháp. Delaware là bang hành động đầu tiên, tiếp ngay sau đó là New Jersey và Georgia. Tại Pennsylvania và Connecticut, Hiến pháp đã được chấp thuận với một đa số lớn. Một cuộc tranh cãi gay gắt đã xảy ra ở Massachusetts. Bang này cuối cùng đặt điều kiện cho việc phê chuẩn của mình là bổ sung 10 điều sửa đổi đảm bảo một số quyền cơ bản nhất định trong đó có quyền tự do tín ngưỡng, tự do ngôn luận, tự do báo chí và tự do hội họp; quyền được xét xử bởi bồi thẩm đoàn; và việc cấm khám xét hoặc bắt giữ vô căn cứ. Một số bang khác cũng đưa vào những điều khoản tương tự, và những điều sửa đổi này - nay được gọi là bản Tuyên ngôn Nhân quyền - đã được đưa vào Hiến pháp năm 1791.

    Đến cuối tháng Sáu năm 1788, Maryland, South Carolina và New Hampshire đã đồng ý, qua đó đáp ứng yêu cầu cần có sự phê chuẩn của 9 bang. Về mặt pháp lý, Hiến pháp đã có hiệu lực. Nhưng hai bang đầy thế lực và quan trọng là New York và Virginia, cùng hai bang nhỏ hơn là North Carolina và Rhode Island vẫn lưỡng lự. Người ta thấy rõ là nếu không có sự chấp thuận của New York và Virginia thì Hiến pháp vẫn còn đặt trên một nền tảng bấp bênh.

    Virginia bị chia rẽ sâu sắc, nhưng ảnh hưởng của George Washington khi đưa ra những lý lẽ hậu thuẫn cho việc phê chuẩn đã thuyết phục được cơ quan lập pháp bang này thông qua với đa số phiếu sít sao vào ngày 26 tháng Sáu năm 1788. Tại New York, Alexander Hamilton, James Madison và John Jay đã viết một loạt bài lý luận xuất sắc bênh vực Hiến pháp - được gọi là Các bài viết chủ trương chế độ liên bang – và giành được một đa số phiếu sít sao ủng hộ việc chấp thuận vào ngày 26 tháng Bảy. Tháng Mười Một có thêm sự chấp thuận của North Carolina. Rhode Island tiếp tục đứng ngoài cho tới năm 1790 khi không còn chỗ đứng cho một bang nhỏ và yếu thế bị bao bọc bởi một thể chế cộng hòa lớn mạnh.

    Tiến trình tổ chức chính quyền bắt đầu ngay sau khi có sự phê chuẩn của Virginia và New York. Ngày 13 tháng Chín năm 1788, Quốc hội quyết định thành phố New York là nơi đặt trụ sở của chính quyền mới. (Đến năm 1790, thủ đô được chuyển đến Philadelphia và năm 1800, chuyển đến Washington, D.C.). Quốc hội lấy ngày Thứ Tư đầu tiên của tháng Giêng năm 1789 làm ngày lựa chọn các đại cử tri (những đại biểu bỏ phiếu bầu ra tổng thống), lấy ngày Thứ Tư đầu tiên của tháng Hai là ngày các đại cử tri họp lại để bầu chọn tổng thống, và lấy ngày Thứ Tư đầu tiên của tháng Ba làm ngày khai mạc Quốc hội khóa mới.

    Theo Hiến pháp, cơ quan lập pháp của từng bang có quyền quyết định cách lựa chọn các đại cử tri, cũng như cách bầu ra các hạ nghị sĩ và thượng nghị sĩ. Một số bang quyết định chọn cách phổ thông đầu phiếu, một số bang khác chọn cách để cho cơ quan lập pháp bầu chọn, và một số ít bang kết hợp cả hai cách trên. Những cuộc tranh chấp diễn ra kịch liệt; những chậm trễ trong những cuộc bầu cử đầu tiên theo Hiến pháp mới là điều không thể tránh khỏi. Ví dụ, New Jersey đã lựa chọn cách phổ thông đầu phiếu, nhưng lại quên không ấn định rõ thời gian kết thúc bỏ phiếu, nên thời gian bỏ phiếu kéo dài tới ba tuần.

    Việc thực thi hoàn toàn và cuối cùng Hiến pháp được ấn định vào ngày 4 tháng Ba năm 1789. Nhưng đến ngày đó, mới chỉ có 13 trong số 59 hạ nghị sĩ và 8 trong số 22 thượng nghị sĩ có mặt tại thành phố New York. (Số ghế phân bổ cho North Carolina và Rhode Island vẫn bỏ trống cho tới khi các bang này phê chuẩn Hiến pháp). Cuối cùng cũng có được số đại biểu tối thiểu hợp lệ tại Hạ viện vào ngày 1 tháng Tư và tại Thươùng viện vào ngày 1 tháng Sáu. Cả hai viện sau đó họp liên tịch để kiểm các lá phiếu của các đại cử tri.

    Không ai ngạc nhiên khi George Washington được nhất trí bầu làm tổng thống đầu tiên, và John Adams của bang Massachusetts làm phó tổng thống. Adams đến New York ngày 21 tháng Tư và Washington đến vào ngày 23 tháng Tư. Hai người tuyên thệ nhậm chức ngày 30 tháng Tư năm 1789. Công việc thiết lập chính quyền mới đã được hoàn tất. Song việc giữ gìn chế độ cộng hòa đầu tiên trên thế giới mới chỉ bắt đầu.

    Hiến pháp với tư cách là bộ luật tối cao

    Hiến pháp Hợp chúng quốc Hoa Kỳ tự coi là "bộ luật tối cao của đất nước". Điều này có nghĩa là khi hiến pháp hoặc luật pháp của các bang do các cơ quan lập pháp của các bang hoặc Quốc hội thông qua, bị phát hiện là trái với Hiến pháp liên bang, thì chúng sẽ không có hiệu lực. Những phán quyết mà Tòa án Tối cao đưa ra trong hai thế kỷ qua đã khẳng định và củng cố nguyên tắc về quyền tối thượng của Hiến pháp.

    Quyền lực tối hậu thuộc về người dân Hoa Kỳ, những người có thể thay đổi bộ luật cơ bản, nếu họ mong muốn, bằng cách sửa đổi Hiến pháp hoặc – ít nhất trên lý thuyết – thảo ra một hiến pháp mới. Tuy nhiên, người dân không trực tiếp thực hiện quyền lực đó của mình. Họ ủy nhiệm việc tiến hành những công việc thường nhật cho các quan chức nhà nước do dân cử hoặc được bổ nhiệm.

    Theo Hiến pháp, quyền lực của các quan chức nhà nước là có giới hạn. Các hoạt động công ích của họ phải tuân thủ Hiến pháp và những đạo luật đã được ban hành theo Hiến pháp. Các quan chức dân cử phải ra ứng cử theo định kỳ, và khi đó quá trình làm việc của họ sẽ được công chúng xem xét kỹ lưỡng. Các quan chức được bổ nhiệm thì phục vụ tuỳ theo ý muốn của cá nhân hay cơ quan bổ nhiệm họ, và có thể bị cách chức bất kỳ lúc nào. Có một ngoại lệ là việc tổng thống bổ nhiệm các chánh án Tòa án Tối cao và các thẩm phán liên bang khác cho một nhiệm kỳ suốt đời, để họ khỏi phải chịu những ràng buộc hoặc ảnh hưởng chính trị.

    Thông thường nhất, nhân dân Mỹ thể hiện ý nguyện của mình bằng cách bỏ phiếu kín. Tuy nhiên, Hiến pháp có điều khoản quy định việc phế truất các quan chức trong những trường hợp có hạnh kiểm sai trái hoặc có sai phạm cực kỳ nghiêm trọng bằng quy trình luận tội. Điều II khoản 4 quy định: "Tổng thống, Phó tổng thống và mọi quan chức dân sự của Hợp chúng quốc Hoa Kỳ sẽ bị cách chức nếu bị luận tội, và sau đó bị kết tội là phản quốc, nhận hối lộ hoặc những tội và những hành động phạm pháp nghiêm trọng khác” .

    Luận tội là việc một cơ quan lập pháp buộc tội một quan chức chính quyền có hành vi sai trái; điều này, không như người ta thường nghĩ, không có nghĩa là đã kết tội theo tội danh đó. Theo quy định của Hiến pháp, Hạ viện phải đưa ra những lời buộc tội là có hành vi sai trái khi bỏ phiếu biểu quyết dự luật luận tội. Quan chức bị buộc tội sau đó được xét xử tại Thượng viện với sự chủ toạ của chánh án Tòa án Tối cao.

    Luận tội được coi là một biện pháp quyết liệt, một biện pháp chỉ được sử dụng trong những trường hợp hãn hữu ở Hoa Kỳ. Kể từ năm 1797, Hạ viện mới biểu quyết điều khoản luận tội đối với 16 quan chức liên bang: 2 tổng thống, 1 thành viên nội các, 1 thượng nghị sĩ, 1 chánh án Tòa án Tối cao và 11 thẩm phán liên bang.

    Năm 1868, Tổng thống Andrew Johnson bị luận tội về những vấn đề liên quan đến cách đối xử thích đáng đối với các bang bại trận sau khi kết thúc cuộc Nội chiến. Tuy nhiên Thượng viện đã thiếu một phiếu để đủ 2/3 số phiếu thuận cần thiết cho việc kết tội, và Johnson vẫn tại vị cho đến hết nhiệm kỳ. Năm 1974, do vụ Watergate, Tổng thống Richard Nixon đã từ chức sau khi Uỷ ban Tư pháp của Hạ viện kiến nghị luận tội, và trươực khi toàn thể Hạ viện kịp bỏ phiếu thông qua dự luật luận tội.

    Mới đây năm 1998, Tổng thống Bill Clinton bị Hạ viện luận tội về tội khai man và cản trở hoạt động tư pháp. Sau khi xét xử, Thượng viện miễn tội cho vị tổng thống này về cả hai điều buộc tội: Thượng viện đã biểu quyết với số phiếu 55-45 là không phạm tội khai man, và biểu quyết với số phiếu bằng nhau 50-50 về tội cản trở hoạt động tư pháp. Để cách chức tổng thống phải có biểu quyết có tội với đa số 67 phiếu về cả hai lời buộc tội.

    Những nguyên tắc của chính quyền

    Mặc dù Hiến pháp đã thay đổi trên nhiều phương diện kể từ khi được thông qua lần đầu, những nguyên tắc cơ bản của nó ngày nay vẫn được giữ nguyên như hồi năm 1789:

    * Ba ngành cơ bản của chính quyền – hành pháp, lập pháp và tư pháp – vẫn độc lập và tách biệt với nhau. Quyền lực của từng ngành được cân đối hài hòa với quyền lực của hai ngành còn lại. Mỗi ngành đóng vai trò kiềm chế khả năng lạm quyền của hai ngành kia.
    * Hiến pháp, cùng với các luật được thông qua phù hợp với các điều khoản của Hiến pháp và những hiệp ước do tổng thống ký kết và được Thượng viện chấp thuận, đứng trên mọi đạo luật, mọi nghị định hành pháp và các quy định khác.
    * Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật và có quyền như nhau được hưởng sự bảo vệ của pháp luật. Tất cả các bang đều bình đẳng, và không bang nào được hưởng ưu đãi đặc biệt của chính quyền liên bang. Trong khuôn khổ của Hiến pháp, mỗi bang phải công nhận và tôn trọng luật pháp của các bang khác. Chính quyền các bang cũng như chính quyền liên bang phải có hình thức dân chủ trong đó quyền lực tối hậu thuộc về nhân dân.
    * Nhân dân có quyền thay đổi hình thức chính quyền quốc gia của mình bằng những biện pháp pháp lý được chính Hiến pháp quy định.

    Các điều khoản về sửa đổi Hiến pháp

    Các tác giả bản Hiến pháp đã nhận thức sâu sắc rằng muốn cho Hiến pháp có thể trường tồn và theo kịp sự lớn mạnh của đất nươực thì thỉnh thoảng sẽ cần phải có những thay đổi. Họ cũng ý thức được rằng không thể để cho tiến trình thay đổi diễn ra dễ dãi, cho phép có những điều sửa đổi thiếu suy xét và được thông qua vội vã. Cũng với sự cân nhắc tương tự, họ muốn đảm bảo không để cho một thiểu số có thể cản trở hành động mà đa số người dân mong muốn. Giải pháp của họ là nhằm tạo ra một quá trình kép qua đó Hiến pháp có thể được sửa đổi.

    Với hai phần ba số phiếu thuận tại mỗi viện, Quốc hội có thể khởi xướng việc sửa đổi. Hoặc theo cách khác, cơ quan lập pháp của hai phần ba số bang có thể yêu cầu Quốc hội triệu tập một đại hội toàn quốc để bàn luận và dự thảo sửa đổi. Trong cả hai trường hợp, sửa đổi chỉ có hiệu lực khi được sự chấp thuận của ba phần tư số bang.

    Ngoài quá trình trực tiếp thay đổi Hiến pháp, hiệu lực của các điều khoản trong Hiến pháp có thể được thay đổi bằng sự giải thích tư pháp. Ngay từ sớm trong lịch sử của nền cộng hòa, năm 1803 trong vụ Marbury kiện Madison, Tòa án Tối cao đã thiết lập nguyên tắc giám sát tư pháp, tức là quyền của Tòa án trong việc giải thích các đạo luật của Quốc hội và quyết định các đạo luật đó có mang tính hợp hiến hay không. Nguyên tắc này cũng bao gồm cả quyền lực của Tòa án trong việc giải thích ý nghĩa của nhiều phần trong hiến pháp khi áp dụng vào các điều kiện xã hội, kinh tế, chính trị và pháp luật luôn thay đổi. Qua nhiều năm, một loạt quyết định của Tòa án, về những vấn đề từ quy định của chính quyền đối với phát thanh và truyền hình cho tới các quyền của người bị kết án trong các vụ án hình sự, đã đem lại hiệu quả là cập nhật mục đích chính của luật hiến pháp mà không có sự thay đổi đáng kể nào trong bản thân Hiến pháp.

    Các luật của Quốc hội, được thông qua để thực thi những điều khoản của luật cơ bản hoặc để thích nghi nó với những điều kiện thay đổi, cũng mở rộng và, theo những cách thức tinh tế, làm thay đổi ý nghĩa của Hiến pháp. Về điểm này, các quy chế và quy định của nhiều cơ quan chính quyền liên bang có thể cũng có tác dụng tương tự. Theo quan điểm của tòa án, sự kiểm nghiệm chặt chẽ trong cả hai trường hợp là nhằm kiểm định xem liệu các luật và quy chế này có tuân thủ Hiến pháp hay không.

    Bản Tuyên ngôn Nhân quyền

    Hiến pháp được sửa đổi 27 lần kể từ năm 1789 và chắc chắn sẽ còn tiếp tục được sửa đổi trong tương lai. Những thay đổi bao quát nhất đã được tiến hành trong vòng hai năm sau ngày Hiến pháp được thông qua. Trong thời kỳ này, 10 điều sửa đổi đầu tiên, được gọi chung là bản Tuyên ngôn Nhân quyền, đã được bổ sung. Quốc hội đã chấp thuận cả khối 10 điều khoản sửa đổi này trong tháng Chín năm 1789 và 11 bang đã phê chuẩn chúng vào cuối năm 1791.

    Phần lớn việc phản đối ban đầu đối với Hiến pháp không phải xuất phát từ những người chống đối việc củng cố khối liên bang mà là từ những chính khách cảm thấy rằng các quyền cá nhân phải được quy định cụ thể. Một trong những chính khách đó là George Mason, tác giả bản Tuyên bố về nhân quyền của bang Virginia – tiền thân của Tuyên ngôn Nhân quyền. Với tư cách là đại biểu của Hội nghị Lập hiến, Mason từ chối ký vào văn kiện này do ông cảm thấy các quyền cá nhân không được bảo vệ đầy đủ. Dĩ nhiên, việc phản đối của Mason gần như làm bế tắc việc phê chuẩn của bang Virginia. Như đã nói ở trên, do cũng có những suy nghĩ tương tự, Massachusetts đặt điều kiện cho việc phê chuẩn của mình là bổ sung những đảm bảo cụ thể về quyền cá nhân. Khi Quốc hội khóa đầu tiên nhóm họp, quan điểm chung đối với việc thông qua những sửa đổi này gần như hoàn toàn nhất trí, và Quốc hội không mất nhiều thời gian cho việc soạn thảo những sửa đổi này.

    Những sửa đổi này ngày nay vẫn còn nguyên vẹn như khi chúng được viết ra từ hai thế kỷ trước. Điều sửa đổi đầu tiên bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tự do ngôn luận và tự do báo chí, quyền được hội họp bình yên và quyền yêu sách chính quyền sửa chữa sai lầm. Điều sửa đổi thứ hai bảo đảm cho công dân được quyền mang vũ khí. Điều sửa đổi thứ ba quy định rằng quân đội không được đóng tại nhà dân khi không được phép của chủ sở hữu. Điều sửa đổi thứ tư không cho phép khám xét, bắt giữ và tịch thu tài sản vô căn cứ.

    Bốn điều sửa đổi tiếp theo liên quan tới hệ thống tư pháp. Điều sửa đổi thứ năm cấm xét xử tội phạm nghiêm trọng nếu không có bản cáo trạng của bồi thẩm đoàn. Điều sửa đổi này cấm xét xử lặp lại đối với cùng một vi phạm; cấm xử phạt mà chưa có sự phán xét của pháp luật và quy định rằng không thể bắt buộc một người bị buộc tội làm chứng chống lại bản thân người đó. Điều sửa đổi thứ sáu bảo đảm xét xử nhanh chóng, công khai đối với các vi phạm hình sự. Điều sửa đổi này đòi hỏi việc xét xử bởi một bồi thẩm đoàn công minh, đảm bảo quyền tư vấn pháp luật cho người bị buộc tội và quy định rằng các nhân chứng buộc tội phải tham dự phiên tòa và đối chất với người bị kết tội. Điều sửa đổi thứ bảy đảm bảo việc xét xử bởi bồi thẩm đoàn trong các vụ kiện dân sự liên quan tới bất cứ thứ gì có trị giá trên 20 USD. Điều sửa đổi thứ tám cấm bắt nộp phạt hoặc thế chấp quá nặng và xử phạt tàn ác hoặc bất bình thường.

    Hai điều cuối cùng trong 10 điều sửa đổi này bao gồm những tuyên bố theo nghĩa rộng của Hiến pháp: điều sửa đổi thứ chín tuyên bố rằng việc liệt kê các quyền không nhất thiết phải đầy đủ; rằng con người có những quyền khác không được đề cập cụ thể trong Hiến pháp. Điều sửa đổi thứ mười quy định rằng các quyền hạn mà Hiến pháp không trao cho chính quyền liên bang cũng không ngăn cấm đối với các bang thì được dành cho các bang hoặc cho nhân dân.

    Sự bảo vệ sống còn đối với các quyền tự do cá nhân

    Tính sâu sắc của Hiến pháp trong việc tổ chức chính quyền liên bang đã đem lại cho Hợp chúng quốc Hoa Kỳ tính ổn định phi thường qua hai thế kỷ. Tuyên ngôn Nhân quyền và những điều sửa đổi Hiến pháp sau đó đã đặt các quyền cơ bản của con người vào trung tâm của hệ thống pháp lý Hợp chúng quốc Hoa Kỳ.

    Vào những thời điểm xảy ra khủng hoảng quốc gia, các chính quyền có xu hướng tìm cách tạm đình chỉ những quyền này vì lợi ích an ninh quốc gia, nhưng tại Hoa Kỳ, những biện pháp này luôn luôn được tiến hành một cách miễn cưỡng và cẩn trọng nhất. Ví dụ, trong thời chiến nhà cầm quyền quân sự kiểm duyệt thư từ giữa Hoa Kỳ và các nước khác và đặc biệt là thư từ từ mặt trận gửi về nhà cho các gia đình. Song, ngay cả trong thời chiến thì quyền được xét xử công bằng theo hiến pháp cũng không bị bãi bỏ. Những người bị buộc tội hình sự – và cả những đối tượng bao gồm công dân các nước thù địch bị buộc tội làm gián điệp, đảo chính và những hoạt động nguy hiểm khác - đều có quyền tự bảo vệ và, theo hệ thống luật pháp Hoa Kỳ, được coi là vô tội cho tới khi bị chứng minh là phạm tội.

    Những điều sửa đổi Hiến pháp sau Tuyên ngôn Nhân quyền bao gồm một loạt rộng rãi nhiều chủ đề. Một trong những điều sửa đổi có ảnh hưởng sâu rộng nhất là điều sửa đổi thứ 14 được phê chuẩn vào năm 1868, trong đó thiết lập một định nghĩa đơn giản và rõ ràng về quyền công dân và khẳng định sự đảm bảo bao trùm đối với việc xét xử công bằng theo pháp luật. Thực chất, điều sửa đổi thứ 14 áp dụng những điều khoản bảo vệ của Tuyên ngôn Nhân quyền cho các bang. Những điều sửa đổi khác đã hạn chế quyền lực tư pháp của chính quyền quốc gia, thay đổi phương thức bầu cử tổng thống, nghiêm cấm chế độ nô lệ, bảo vệ quyền bầu cử chống lại việc cự tuyệt quyền đó với lý do chủng tộc, màu da, giới tính hoặc điều kiện nô lệ trước đây; mở rộng quyền của Quốc hội trong việc thu thuế đối với các khoản thu nhập cá nhân; và thiết lập việc bầu cử thượng nghị sĩ Hợp chúng quốc Hoa Kỳ theo hình thức phổ thông đầu phiếu.
    Bản tuyên ngôn nhân quyền

    Điều sửa đổi thứ nhất: Quốc hội sẽ không đặt ra một đạo luật nào tôn trọng việc thiết lập tôn giáo, hoặc cấm đoán việc tự do thực hành tôn giáo đó; hoặc thu hẹp tự do ngôn luận, tự do báo chí, hoặc quyền của người dân được hội họp bình yên, và được kiến nghị với chính quyền sửa chữa những điều gây bất bình.

    Điều sửa đổi thứ hai: Một lực lượng dân vệ được điều hành tốt là cần thiết cho an ninh của một quốc gia tự do, cho nên quyền của người dân được giữ và sử dụng vũ khí sẽ không bị xâm phạm.

    Điều sửa đổi thứ ba: Không một người lính nào, trong thời bình, được đóng quân tại bất kỳ nhà dân nào nếu không được sự đồng ý của chủ nhà, và ngay trong thời chiến cũng chỉ theo quy định của pháp luật.

    Điều sửa đổi thứ tư: Quyền của người dân được an toàn về thân thể, nhà ở, giấy tờ và tài sản, chống lại mọi khám xét và bắt giữ vô căn cứ, sẽ không bị vi phạm, và không được có một giấy phép khám xét nào, trừ phi có lý do xác đáng căn cứ vào lời tuyên thệ hoặc sự xác nhận và đặc biệt là phải miêu tả địa điểm khám xét, những người và vật sẽ bị bắt giữ.

    Điều sửa đổi thứ năm: Không một người nào bị buộc phải chịu trách nhịêm về một trọng tội hoặc một tội ác bỉ ổi nào khác nếu không có sự tường trình và cáo trạng của Đại bồi thẩm đoàn, ngoại trừ những trường hợp xảy ra trong các lực lượng vũ trang trên bộ hoặc hải quân, hoặc trong lực lượng dân vệ, khi thực tế đang thực thi công vụ trong thời chiến hoặc khi có mối nguy hiểm công cộng. Không một ai bị xử hai lần có hại đến mạng sống hoặc đến thân thể đối với cùng một vi phạm. Không một ai bị ép buộc phải làm chứng chống lại chính mình trong bất kỳ một vụ án hình sự nào. Không một ai bị tước đoạt mạng sống, quyền tự do hoặc tài sản nếu chưa qua một quá trình xét xử theo đúng luật. Không một tài sản riêng nào bị trưng dụng vào việc công mà không được bồi thường thích đáng.

    Điều sửa đổi thứ sáu: Trong bất kỳ một sự truy tố hình sự nào, người bị tố cáo phải có quyền được xét xử nhanh chóng và công khai, bởi một đoàn bồi thẩm công minh của bang hay quận nơi đã diễn ra tội ác (nơi đó đã được xác định trước bằng luật pháp), được thông báo về tính chất và nguyên nhân của lời tố cáo, được đối chất với những nhân chứng chống lại mình, được hưởng một tiến trình bắt buộc để thu thập những bằng chứng có lợi cho mình, và được sự giúp đỡ của luật sư bào chữa.

    Điều sửa đổi thứ bảy: Trong những vụ kiện tụng theo thông luật, nếu trị giá tranh chấp vượt quá 20 USD thì có quyền được xét xử bởi một đoàn bồi thẩm, và không một sự việc nào đã được một đoàn bồi thẩm xét xử lại bị xem xét lại ở bất kỳ một tòa án nào tại Hợp chúng quốc Hoa Kỳ theo cách khác chứ không phải theo đúng những quy tắc của thông luật.

    Điều sửa đổi thứ tám: Không được đòi hỏi thế chấp quá đáng hoặc phạt quá nặng, không được trừng phạt một cách tàn ác hoặc không bình thường.

    Điều sửa đổi thứ chín: Việc liệt kê một số quyền nhất định trong Hiến pháp không được hiểu là phủ nhận hoặc hạ thấp những quyền khác của người dân.

    Điều sửa đổi thứ mười: Các quyền mà Hiến pháp không trao cho Hợp chúng quốc, cũng không ngăn cấm đối với các bang, thì được dành cho các bang hoặc cho nhân dân.
    Điều sửa đổi gần đây nhất gồm điều sửa đổi thứ 22 giới hạn tổng thống chỉ được tại vị hai nhiệm kỳ; điều sửa đổi thứ 23 trao cho công dân thuộc quận Columbia quyền bỏ phiếu; điều sửa đổi thứ 24 trao cho công dân quyền bỏ phiếu cho dù không nộp thuế bầu cử; điều sửa đổi thứ 25 quy định việc thay thế chức vụ phó tổng thống khi chức vụ này bị bỏ trống giữa nhiệm kỳ; điều sửa đổi thứ 26 hạ thấp độ tuổi được bầu cử xuống còn 18 tuổi; và điều sửa đổi thứ 27 có liên quan tới việc bổ sung cho đủ số thượng nghị sĩ và hạ nghị sĩ của Hợp chúng quốc.

    Điều quan trọng là phần lớn trong 27 điều sửa đổi này xuất phát từ những nỗ lực liên tục nhằm mở rộng quyền tự do của cá nhân các công dân hoặc tự do chính trị, trong khi chỉ có rất ít điều sửa đổi liên quan tới việc tăng cường cơ cấu chính quyền cơ bản được dự thảo tại Philadelphia năm 1787.
    Cuộc tranh luận về chế độ nô lệ

    Từ "chế độ nô lệ" không xuất hiện trong Hiến pháp Hợp chúng quốc Hoa Kỳ, nhưng văn kiện đã có sự thừa nhận gián tiếp đối với thể chế này. Các đại biểu tham dự Hội nghị Lập hiến quy định rằng ba phần năm số nô lệ sẽ phải được tính đến khi xác định số hạ nghị sĩ mà mỗi bang được bầu vào Hạ viện. Hiến pháp sau đó yêu cầu phải trả lại cho chủ sở hữu những nô lệ bỏ trốn ("những người được sở hữu để lao động hoặc phục dịch") đã vượt qua biên giới bang. Và Hiến pháp ấn định một thời hạn – năm 1808 – sau đó Quốc hội sẽ không bị ngăn cấm chấm dứt việc buôn bán nô lệ ("việc di cư hoặc nhập cư của những người hiện đang sống ở bất kỳ bang nào sẽ được cân nhắc để chấp nhận").

    Từng điều khoản trong những điều khoản này đã được tranh luận sôi nổi tại hội nghị và mỗi điều khoản rốt cuộc đã được chấp nhận trên tinh thần thỏa hiệp. Ngay cả các thành viên các tổ chức chống chế độ nô lệ tại miền Bắc, như Alexander Hamilton, cũng phản đối việc tiếp tục bàn luận về vấn đề chế độ nô lệ, cho rằng nỗ lực ấy nhất định sẽ làm chia rẽ các bang và gây nguy hại cho mục tiêu cấp bách hơn là xây dựng một chính quyền quốc gia hùng mạnh. Những đại biểu miền Nam lỗi lạc như George Washington và James Madison những người vốn căm ghét chế độ nô lệ nhưng tin rằng nó sẽ mất đi khi Liên bang được xác nhận, cũng yêu cầu có sự thỏa hiệp.

    Tuy nhiên, vấn đề đạo đức đã được nêu lên một cách sôi nổi trong nhiều dịp tại hội nghị. Morris, Thống đốc bang Pennsylvania tố cáo chế độ nô lệ như là một "thể chế nhục nhã, là sự nguyền rủa của thiên đường đối với những bang thịnh hành chế độ này” . Ông đối lập sự thịnh vượng và nhân phẩm của những vùng tự do với "tình cảnh khổ cực và đói nghèo" của những bang duy trì chế độ nô lệ.

    Lời công kích hùng hồn nhất đối với chế độ nô lệ tại hội nghị xuất phát từ George Mason bang Virginia, người mà Jefferson gọi là "con người thông thái nhất thế hệ ông". Mason nói: "Chế độ nô lệ sản sinh ra tác động xấu xa nhất đối với phong tục tập quán. Bất kỳ người chủ nô nào sinh ra đã là một tên bạo chúa nhỏ... Chế độ nô lệ không khuyến khích được nghệ thuật và sản xuất. Người nghèo khinh bỉ lao động khi họ thấy lao động do nô lệ thực hiện... Tôi cho rằng điều thiết yếu là chính quyền chung cần phải có quyền lực ngăn chặn sự phát triển của chế độ nô lệ".

    Thời gian sau đó, phong trào đòi bãi bỏ chế độ nô lệ chắc đã sử dụng cũng những luận cứ ấy và cũng đã có cảm nhận tương tự về sự xâm phạm đạo đức ấy, nhưng lúc đó, vấn đề chế độ nô lệ bị lảng tránh, cả với tư cách là một danh từ cũng như là một thách thức về đạo lý. Cuối cùng, phải cần tới ngọn lửa bi thảm của cuộc Nội chiến (1861-1865) để chấm dứt cảnh nô lệ tại Hợp chúng quốc Hoa Kỳ và đưa đất nước này lên con đường đầy gian khổ tiến tới sự bình đẳng chủng tộc hoàn toàn.
    Hệ thống liên bang

    Những nhà kiến tạo khuôn khổ cho Hiến pháp đã có trong đầu những mục tiêu rõ ràng. Họ đã thể hiện những mục tiêu này với một sự sáng sủa xuất sắc trong lời mở đầu 6 điểm dài 52 từ cho văn kiện chính.

    Vấn đề xây dựng một "Liên bang hoàn hảo hơn" là vấn đề hiển nhiên đặt ra cho 13 bang vào năm 1787. Đã hoàn toàn rõ ràng là hầu như bất kỳ hình thức liên bang nào cũng sẽ hoàn hảo hơn hình thức hiện tồn tại theo Điều lệ Liên bang. Nhưng việc thiết lập một cơ cấu khác để thay thế nó đòi hỏi phải có những sự lựa chọn hết sức quan trọng.

    "... Hình thành một Liên bang hoàn hảo hơn"

    Tất cả các bang đều mong muốn có quyền tự chủ mà họ có được từ sau khi tách khỏi Anh 11 năm trước đó. Việc cân đối "quyền lực của các bang" với nhu cầu về một chính quyền trung ương không phải là một việc dễ dàng. Những nhà tạo lập Hiến pháp thực hiện được việc này bằng cách để các bang giữ lại mọi quyền lực cần thiết để điều tiết đời sống thường nhật của công dân bang mình, với điều kiện là những quyền lực này không mâu thuẫn với nhu cầu và phúc lợi của cả nước. Việc phân chia quyền lực này, được gọi là chủ nghĩa liên bang, về cơ bản cũng giống như ngày nay. Quyền lực của mỗi bang đối với những công việc của địa phương – trong những vấn đề như giáo dục, y tế, tổ chức kinh doanh, điều kiện làm việc, hôn nhân và ly hôn, thuế địa phương và quyền hạn của cảnh sát thông thường - được công nhận đầy đủ và chấp nhận rằng hai bang kề cận nhau vẫn thường có những luật rất khác nhau trong cùng một lĩnh vực.

    Sự sắp đặt của Hiến pháp cho dù rất sáng tạo nhưng cuộc tranh cãi về quyền của các bang vẫn tiếp tục dai dẳng cho tới sau đó ba phần tư thế kỷ, tức năm 1861, khi một cuộc chiến tranh kéo dài bốn năm bùng nổ giữa các bang miền Bắc và miền Nam. Cuộc chiến tranh được biết đến như là cuộc Nội chiến hay cuộc Chiến tranh giữa các bang, và vấn đề nền tảng là quyền của chính quyền liên bang trong việc quản lý chế độ nô lệ ở những bang mới gia nhập liên bang. Những người dân miền Bắc đòi hỏi chính quyền liên bang phải có quyền này trong khi những người miền Nam cho rằng chế độ nô lệ là vấn đề do từng bang tự quyết định. Khi một nhóm các bang phía Nam tìm cách tách khỏi Liên bang thì chiến tranh đã nổ ra và được tiến hành trên nguyên tắc gìn giữ nền cộng hòa. Với thất bại của các bang miền Nam và việc các bang này tái nhập Liên bang, ưu thế của chủ nghĩa liên bang đã được tái khẳng định và chế độ nô lệ bị xóa bỏ.

    "... Thiết lập công lý"

    Bản chất của nền dân chủ Hoa Kỳ được chứa đựng trong bản Tuyên ngôn Độc lập, với đoạn câu ngân vang "Tất cả mọi người sinh ra có quyền bình đẳng", và những khẳng định tiếp theo như "Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc".

    Hiến pháp không phân biệt con người theo của cải hay địa vị của họ; tất cả đều bình đẳng trước pháp luật, tất cả đều chịu sự phán xét và trừng phạt bình đẳng khi họ vi phạm pháp luật. Điều này cũng được áp dụng tương tự đối với các tranh chấp dân sự liên quan đến tài sản, giao ước pháp lý và dàn xếp kinh doanh. Được tự do tiếp cận tòa án là một trong những đảm bảo thiết yếu đươùc ghi vào Tuyên ngôn Nhân quyền.

    "... Bảo đảm sự bình yên trong nước"

    Sự ra đời đầy sóng gió của Hợp chúng quốc Hoa Kỳ và tình trạng bất ổn trên biên giới phía Tây đã khiến người dân Hoa Kỳ tin rằng cần có sự ổn định nội bộ để quốc gia non trẻ này có thể phát triển và phồn thịnh. Chính quyền liên bang được thiết lập theo Hiến pháp phải đủ mạnh để bảo vệ các bang trước sự xâm lăng từ bên ngoài và trước sự xung đột và bạo lực trong nước. Từ năm 1815 đến nay, không một mảnh đất nào trên lục địa Hoa Kỳ bị một nước ngoài xâm lược. Chính quyền các bang nhìn chung đủ mạnh để duy trì trật tự trong phạm vi biên giới của mình. Nhưng đằng sau họ là sức mạnh đáng sợ của chính quyền liên bang, được Hiến pháp trao quyền sử dụng những biện pháp cần thiết để gìn giữ hòa bình.

    "... Chu cấp cho sự phòng thủ chung"

    Ngay cả khi nền độc lập đã được đảm bảo, quốc gia non trẻ này vẫn phải đối mặt với những hiểm hoạ thực sự từ nhiều phía. Ơ± vùng biên giới phía tây, những người định cư phải đối mặt với mối đe doạ thường xuyên từ các bộ lạc Anhđiêng thù địch. Ơ± phía bắc, người Anh vẫn sở hữu Canađa mà các tỉnh miền đông đông nghịt những người bảo thủ Mỹ đầy hằn thù, những người vẫn trung thành với Vương triều Anh trong Chiến tranh Cách mạng. Người Pháp sở hữu vùng lãnh thổ Lousiana rộng lớn ở miền trung – tây lục địa. Ơ± phía nam, người Tây Ban Nha chiếm giữ Florida, Texas và Mêhicô. Cả ba cường quốc châu Âu này đều có thuộc địa ở vùng biển Caribê, nằm trong phạm vi có thể tiến công bờ biển nước Mỹ. Ngoài ra, các quốc gia châu Âu còn đang bị lôi cuốn vào một loạt cuộc chiến lan tràn cả sang Thế giới Mới.

    Trong những năm đầu, mục tiêu của Hiến pháp nhằm chu cấp cho "sự phòng thủ chung" tập trung vào việc mở mang lãnh thổ liền bên kia dãy núi Appalachian và thương lượng hòa bình với các bộ lạc thổ dân Mỹ sinh sống ở khu vực đó. Tuy nhiên, trong một thời gian ngắn, việc nổ ra chiến tranh với Anh năm 1812, những cuộc đụng độ với người Tây Ban Nha tại Florida và cuộc chiến tranh với Mêhicô năm 1846 đã làm nổi rõ tầm quan trọng của sức mạnh quân sự.

    Sức mạnh kinh tế và chính trị của Hoa Kỳ tăng lên khiến cho sức mạnh quốc phòng cũng trở nên hùng mạnh. Hiến pháp phân chia trách nhiệm quốc phòng giữa hai ngành lập pháp và hành pháp: chỉ Quốc hội mới có quyền tuyên bố chiến tranh và phân bổ ngân sách cho quốc phòng, tuy tổng thống là tổng tư lệnh các lực lượng vũ trang và chịu trách nhiệm cao nhất đối với công cuộc phòng thủ đất nước.

    "... Đẩy mạnh phúc lợi chung"

    Vào cuối cuộc Cách mạng, Hợp chúng quốc Hoa Kỳ ở trong một hoàn cảnh kinh tế khó khăn. Các nguồn lực bị cạn kiệt, uy tín bấp bênh và tiền giấy cũng chẳng có chút giá trị gì. Thương mại và công nghiệp gần như ngừng hoạt động, các bang và chính quyền liên bang gần như chìm ngập trong nợ nần. Tuy nhân dân không phải đứng trước nguy cơ chết đói nhưng triển vọng phát triển kinh tế quả thực rất mong manh.

    Một trong những nhiệm vụ đầu tiên của chính quyền quốc gia mới là phải đặt nền kinh tế lên một nền tảng vững chắc. Điều khoản đầu tiên trong Hiến pháp quy định rằng: "Quốc hội sẽ có quyền đặt ra và thu các loại thuế... để thanh toán các khoản nợ... và chu cấp cho phúc lợi chung của Hợp chúng quốc".

    Quyền thu thuế đã giúp cho chính quyền thanh toán những khoản nợ trong chiến tranh và đặt đồng tiền lên một nền tảng vững chắc hơn. Bộ trưởng tài chính được bổ nhiệm để theo dõi các công việc tài chính của đất nước và bộ trưởng ngoại giao được bổ nhiệm để xử lý các quan hệ với các nước khác. Bộ trưởng chiến tranh cũng được bổ nhiệm để chịu trách nhiệm về an ninh quân sự của cả nước, và Tổng chưởng lý được bổ nhiệm làm công việc của quan chức cao nhất của chính quyền liên bang trong việc bảo vệ luật pháp. Sau đó, khi đất nước được mở rộng và nền kinh tế trở nên phức tạp hơn, thì phúc lợi của người dân đòi hỏi phải thành lập thêm các cơ quan hành pháp khác.

    "... Bảo đảm lợi ích của tự do cho bản thân chúng ta và cho các thế hệ mai sau"

    Việc nhấn mạnh đến quyền tự do cá nhân là một trong những đặc trưng nổi bật của nền cộng hòa mới ở Mỹ. Phần đông xuất thân từ một hoàn cảnh bị đàn áp về tôn giáo và chính trị, người dân Mỹ quyết tâm giữ gìn tự do tại Thế giới Mới. Những người xây dựng Hiến pháp, trong khi trao quyền cho chính quyền liên bang, đã thận trọng bảo vệ các quyền của mọi người bằng cách giới hạn quyền lực của cả chính quyền liên bang lẫn các chính quyền các bang. Kết quả là, người dân Mỹ được tự do đi lại, tự quyết định về công ăn việc làm, tôn giáo và niềm tin về chính trị, tìm đến tòa án để có công lý và sự bảo vệ khi họ cảm thấy những quyền này bị vi phạm.

  2. The Following 2 Users Say Thank You to phithiengia For This Useful Post:


  3. #2
    Tham gia ngày
    28-09-2006
    Bài gởi
    7895
    Thanks
    603
    Thanked 3,786 Times in 1,968 Posts

    Default

    Chương 2: GIẢI THÍCH HIẾN PHÁP: CÁC BÀI VIẾT CHỦ TRƯƠNG CHẾ ĐỘ LIÊN BANG

    "Nhưng bản thân chính quyền là gì nếu không phải là sự phản ánh rộng lớn nhất trong mọi phản ánh về bản chất con người?"
    - James Madison, Các bài viết chủ trương chế độ liên bang 1787-1788

    Theo Thomas Jefferson, một trong những nhà khai quốc của Mỹ và sau này là vị tổng thống thứ ba của Hợp chúng quốc Hoa Kỳ, tập Các bài viết chủ trương chế độ liên bang (The Federalist Papers) là "lời bình luận hay nhất về các nguyên tắc của chính quyền... từng được viết ra". Theo John Stuart Mill, nhà triết học Anh thế kỷ XIX, Tập luận thuyết liên bang (tên thường gọi của tập 85 bài tiểu luận ngắn này) là "bản chuyên luận bổ ích nhất mà chúng ta có về chính quyền liên bang". Nhà bình luận chính trị sắc sảo người Pháp Alexis de Tocqueville viết năm 1835 cho rằng đây là "một cuốn sách xuất sắc mà các chính khách của mọi quốc gia cần phải quen thuộc".

    Các nhà sử học, các luật gia và các nhà khoa học chính trị đương đại nói chung đều nhất trí cho rằng Tập luận thuyết liên bang là trước tác triết học chính trị và chính quyền thực dụng quan trọng nhất được viết ra từ trước đến nay tại Hoa Kỳ. Cuốn sách này đã được sánh với các cuốn sách Nền cộng hòa của Plato, Khoa học chính trị của Aristotle và Leviathan của Thomas Hobbes. Cuốn sách cũng được các nhà lãnh đạo ở nhiều quốc gia mới hình thành tại Mỹ latinh, châu Á và châu Phi tham khảo trong quá trình soạn thảo hiến pháp cho đất nước mình.

    Các đại biểu ký kết bản Hiến pháp dự thảo tại Philadelphia ngày 17 tháng Chín năm 1787 nêu điều kiện rằng Hiến pháp chỉ có hiệu lực sau khi được 9 trong số 13 bang thông qua tại các hội nghị phê chuẩn. Mặc dù không được quy định rõ nhưng chỉ một phiếu chống của một trong hai bang chủ chốt - New York hoặc Virginia - là có thể phá vỡ toàn bộ công trình này bởi tầm vóc và sức mạnh của hai bang ấy. Các đại biểu của cả hai bang New York và Virginia đều có những ý kiến rất khác nhau về Hiến pháp. Và thống đốc bang New York George Clinton đã thể hiện rõ sự chống đối của ông.

    Người ta dễ nghĩ rằng một tác phẩm được biểu dương và có ảnh hưởng lớn như tập Các bài viết chủ trương chế độ liên bang là kết quả chín muồi của kinh nghiệm cả một đời người trong học thuật và nghệ thuật cai quản. Thực ra, phần lớn cuốn sách là sản phẩm của hai người trai trẻ. Alexander Hamilton ở New York 32 tuổi và James Madison ở Virginia 36 tuổi. Hai người đã viết một cách hết sức khẩn trương - đôi khi tới bốn bài viết trong một tuần. Một học giả lớn tuổi hơn, John Jay, sau này được cử làm chánh án đầu tiên của Tòa án Tối cao, đã đóng góp năm bài viết.

    Hamilton, vốn là một phụ tá của Washington trong thời kỳ Cách mạng, đã đề nghị Madison và Jay cùng tham gia công việc hết sức quan trọng này. Mục đích của họ là thuyết phục cơ quan lập pháp bang New York phê chuẩn bản Hiến pháp vừa mới được dự thảo. Họ chia nhau viết một loạt bài cho các báo ở New York dưới cùng một bút danh "Publius" trong đó họ giải thích và bảo vệ Hiến pháp.

    Hamilton là người khởi xướng kế hoạch, phác thảo trình tự các chủ đề sẽ đem ra bàn luận và đề cập một cách hùng hồn hầu hết các chủ đề này trong 51 bài viết. Nhưng 29 bài viết của Madison tỏ ra là những bài đáng ghi nhớ nhất ở chỗ chúng kết hợp sự thẳng thắn, sự cân đối và sức mạnh lập luận. Không rõ cho lắm Các bài viết chủ trương chế độ liên bang, được viết ra trong khoảng thời gian từ tháng Mười năm 1787 tới tháng Năm năm 1788, đã có ảnh hưởng quyết định đến việc phê chuẩn miễn cưỡng Hiến pháp của bang New York hay không, nhưng rõ ràng những bài viết này đã trở thành và vẫn là những bài bình luận có căn cứ xác đáng nhất về văn kiện này.

    Một kiểu chủ nghĩa liên bang mới

    Phương pháp tiếp cận đầu tiên và dễ thấy nhất mà Tập luận thuyết liên bang đã sử dụng là một cách định nghĩa mới về chế độ liên bang. Mới giành được thắng lợi trong cuộc cách mạng chống lại một chế độ quân chủ áp bức, những người cựu định cư tại Mỹ không hề có ý muốn thay thế chế độ đó bằng một chế độ tập trung khác, không chịu một sự cương tỏa nào. Mặt khác, kinh nghiệm của họ về tình trạng bất ổn định và vô tổ chức theo Điều lệ Liên bang, do sự ghen tị và cạnh tranh giữa các bang, khiến họ dễ chấp nhận việc lập ra một chính quyền quốc gia hùng mạnh hơn. Một số bài trong Các bài viết chủ trương chế độ liên bang cho rằng có khả năng lập được một kiểu cân bằng mới, chưa từng có ở một nơi nào khác. Quả vậy, Các bài viết chủ trương chế độ liên bang này bản thân nó đã là một sự cân bằng giữa khuynh hướng theo chủ nghĩa quốc gia của Hamilton, người phản ánh những lợi ích thương mại của một thành phố cảng là New York, với sự thận trọng của Madison, người cùng chia sẻ mối hoài nghi của đông đảo các điền chủ ở Virginia về một chính quyền điều hành từ xa.

    Thay vì chủ quyền tuyệt đối của mỗi bang theo Điều lệ Liên bang, Madison đề xuất các bang sẽ giữ phần "chủ quyền còn lại" trong mọi lĩnh vực không cần đến sự quan tâm chung của quốc gia. Ông cho rằng, chính quá trình phê chuẩn Hiến pháp thể hiện khái niệm chủ nghĩa liên bang nhiều hơn là chủ nghĩa quốc gia. Ông nói: "Sự nhất trí và phê chuẩn này sẽ do nhân dân đưa ra, không phải với tư cách là những cá nhân hợp thành toàn bộ một quốc gia, mà là những người hợp thành những bang riêng biệt khác nhau trong đó có họ... Vì vậy, việc thiết lập Hiến pháp sẽ không phải là một hành động quốc gia mà là một hành động liên bang.

    Hamilton đề xuất cái được ông gọi là "sự đồng quy" quyền lực giữa các chính quyền quốc gia và bang. Nhưng, cách so sánh của ông về những hành tinh quay chung quanh mặt trời song vẫn giữ trạng thái riêng, đã nhấn mạnh nhiều hơn đến một chính quyền trung ương. Hamilton và Jay (cũng ở New York) đã dẫn ra các ví dụ về các liên minh trong thời kỳ Hy Lạp cổ đại và châu Âu đương thời luôn bị tan rã vào những thời điểm khủng hoảng. Đối với các tác giả của Các bài viết chủ trương chế độ liên bang, mặc dù họ có những bất đồng gì đi nữa, bài học là quá rõ ràng: việc tồn tại như một quốc gia được tôn trọng, đòi hỏi việc chuyển giao những quyền lực quan trọng, tuy là hạn chế, cho chính quyền trung ương. Họ tin rằng điều này có thể đạt được mà không làm mất đi bản sắc hay sự tự chủ của các bang riêng biệt.

    Kiểm soát và cân bằng

    Các bài viết chủ trương chế độ liên bang cũng là trường hợp đề cập cụ thể đầu tiên trong sách báo chính trị về ý tưởng cơ chế kiểm soát và cân bằng như một cách hạn chế quyền lực của chính quyền và ngăn chặn sự lạm quyền. Những ngôn từ này được dùng chủ yếu nhằm đề cập tới hệ thống lập pháp lưỡng viện được cả Hamilton và Madison coi là ngành có quyền lực nhất trong chính quyền. Như nhận thức ban đầu, Hạ viện đầy quyền lực được bầu ra bằng phổ thông đầu phiếu sẽ chịu sự kiểm soát và cân bằng của một Thượng viện mang tính bảo thủ hơn do các cơ quan lập pháp các bang bầu ra (Điều sửa đổi Hiến pháp thứ 17 năm 1913 đã thay đổi điều khoản này nhằm cho phép tiến hành phổ thông đầu phiếu bầu ra các thượng nghị sĩ). Tuy nhiên, có lúc Madison đã lập luận một cách tổng quát hơn rằng "các cơ quan tự kiểm soát lẫn nhau", và Hamilton nhận xét rằng "một Quốc hội dân chủ sẽ chịu sự kiểm soát của một thượng viện dân chủ và cả hai viện sẽ chịu sự kiểm soát của một tổng thống dân chủ".

    Trong bài tiểu luận xuất sắc nhất của mình (bài số 78), Hamilton bênh vực quyền của Tòa án Tối cao trong việc phán quyết về tính tuân thủ Hiến pháp của các luật do cơ quan lập pháp quốc gia hoặc bang thông qua. ông cho rằng quyền "phê duyệt" có ý nghĩa quan trọng trong lịch sử này là một sự kiểm soát thích hợp đối với cơ quan lập pháp, nơi mà điều rất dễ xảy ra là "hơi thở độc hại của bè cánh có thể đầu độc nguồn nươực công lý". Hamilton công khai phản bác hệ thống của nước Anh trong việc cho phép Quốc hội phủ quyết bằng đa số phiếu đối với mọi quyết định của tòa án mà Quốc hội thấy trái ý. Đúng ra, "các tòa án phải được coi là tấm khiên bảo vệ của một Hiến pháp hạn chế chống lại các vi phạm lập pháp". Chỉ có quá trình sửa đổi Hiến pháp vất vả và khó khăn, hoặc sự chuyển đổi dần từng bước của các thành viên Tòa án Tối cao sang một quan điểm khác, mới có thể đảo ngược việc giải thích về văn kiện này của Tòa án Tối cao.

    Bản chất con người, chính quyền và các quyền của cá nhân

    Đằng sau khái niệm về kiểm soát và cân bằng là một quan điểm hiện thực sâu sắc về bản chất con người. Trong khi Madison và Hamilton tin tưởng rằng con người ở trạng thái hoàn thiện nhất, luôn có lý trí, kỷ luật và công bằng, họ cũng công nhận tính dễ bị tổn thương trước sự đam mê, cố chấp và lòng tham. Trong một đoạn văn nổi tiếng, sau khi bàn về các biện pháp cần thiết nhằm giữ gìn quyền tự do, Madison viết: "Những biện pháp như thế sẽ cần thiết cho việc kiểm soát sự lạm dụng của chính quyền, điều này có thể là một sự phản ánh về bản chất con người. Nhưng bản thân chính quyền là gì nếu không phải là sự phản ánh rộng lớn nhất trong mọi phản ánh về bản chất con người? Nếu con người là những thiên thần thì sẽ không cần thiết phải có chính quyền. Nếu các thiên thần cai quản thì không cần thiết phải có sự kiểm soát đối với chính quyền dù từ bên ngoài hay bên trong. Trong việc tạo khuôn khổ cho một chính quyền do con người quản lý con người, điều khó khăn nhất là ở chỗ: trước hết, chính quyền phải có khả năng kiểm soát những người bị quản lý; kế tiếp, chính quyền phải có nghĩa vụ tự kiểm soát mình".

    Trong bài viết nổi bật và độc dáo nhất của Các bài viết chủ trương chế độ liên bang (bài số 10), Madison đã đề cập tới thách thức kép này. Mối quan tâm chính của ông là sự cần thiết phải "phá bỏ và kiểm soát sự bạo ngược của bè cánh", ý nói các đảng phái chính trị, và ông coi đó là hiểm hoạ lớn nhất đối với chính quyền công cộng. "Tôi hiểu một số công dân... được liên kết lại và được kích thích bởi một xung động về tình cảm hay lợi ích đe doạ các quyền của những công dân khác, hay các lợi ích lâu dài và tổng thể của cộng đồng".

    Những tình cảm hay lợi ích đe doạ các quyền của những công dân khác có thể mang tính tôn giáo, chính trị hoặc phổ biến nhất là kinh tế. Các đảng phái có thể phân chia theo người giàu người nghèo, theo chủ nợ và con nợ, hoặc theo của cải sở hữu. Madison viết: "Những lợi ích về đất đai, lợi ích về sản xuất, lợi ích về thương mại, lợi ích về tiền bạc, cùng với nhiều lợi ích nhỏ bé hơn khác ngày càng gia tăng ở các quốc gia văn minh, và được phân chia thành các giai cấp khác nhau, được kích thích bởi những tình cảm và quan điểm khác nhau. Việc quản lý những hình thức lợi ích đa dạng và chồng chéo nhau này tạo nên nhiệm vụ chủ yếu của hệ thống lập pháp hiện đại...".

    Làm thế nào những người dân bình đẳng, có lý trí và tự do hòa giải được vô số những đòi hỏi khác nhau hoặc những bè cánh hình thành từ những lợi ích khác nhau? Do không thể đặt tình cảm hay lợi ích riêng ra ngoài vòng pháp luật nên hình thức chính quyền hợp lý phải có khả năng ngăn chặn việc áp đặt ý chí riêng của mọi bè cánh, dù đa số hay thiểu số, lên quyền lợi chung. Madison cho rằng lá chắn bảo vệ một đảng phái chuyên quyền là hình thức chính quyền cộng hòa (hay đại diện) với xu hướng "sàng lọc và mở rộng các ý kiến của công chúng bằng cách truyền đạt chúng thông qua phương tiện của một tổ chức công dân được lựa chọn".

    Nhưng theo Madison điều còn quan trọng hơn nữa là việc mở rộng nền tảng địa lý và dân chúng của nền cộng hòa, như sẽ diễn ra dưới chính quyền quốc gia mà Hiến pháp mới đề xuất. ông viết: "Vì mỗi đại diện sẽ do một số lượng lớn những công dân trong nền cộng hòa bầu ra, cho nên việc những ứng cử viên không đáng tin cậy thực hiện thành công những thủ đoạn thường thấy trong các cuộc bầu cử sẽ trở nên khó khăn hơn... Sự ảnh hưởng của các nhà lãnh đạo bè cánh có thể châm ngòi cho một ngọn lửa trong nội bộ bang của họ nhưng sẽ không thể lan thành một đám cháy lớn lan rộng ra khắp các bang khác".

    Điều đang được hối thúc ở đây là nguyên tắc đa nguyên, một nguyên tắc hoan nghênh sự đa dạng vì lợi ích như một sự chứng thực đối với sự đa dạng cá nhân và quyền tự do, nhưng quan trọng hơn là vì tác động tích cực của nó trong việc dung hòa những tình cảm và lợi ích có tính xung đột. Cũng như sự đa dạng về tín ngưỡng tôn giáo tại Hợp chúng quốc khiến cho khó có thể áp đặt một giáo hội duy nhất, sự đa dạng của các bang với nhiều địa hạt và mối quan tâm khác nhau khiến cho một phe phái hay một đảng bị kích động và mang tính áp chế tiềm tàng khó có thể giành được thắng lợi trong toàn quốc. Sự khẳng định cho lý lẽ của Madison có thể thấy trong sự phát triển của các chính đảng lớn tại Mỹ, những đảng phái có xu hướng ôn hòa và phi lý tưởng bởi vì mỗi đảng đều hàm chứa một sự đa dạng về lợi ích cục bộ và kinh tế.

    Sự phân quyền

    ý tưởng về phân quyền giữa các ngành khác nhau trong chính quyền nhằm tránh để xảy ra sự chuyên chế của quyền lực tập trung được liệt vào phạm trù rộng lớn kiểm soát và cân bằng lẫn nhau. Nhưng tập Các bài viết chủ trương chế độ liên bang nhận thấy một ưu điểm khác của việc phân quyền, cụ thể là sự gia tăng về tính hiệu quả và tác dụng của chính quyền. Bằng cách giới hạn ở những chức năng chuyên biệt, các ngành chính quyền khác nhau phát triển cả về kỹ năng chuyên môn, cả về ý thức tự hào đối với vai trò của mình, một điều sẽ không thể có được nếu các quyền lực này được gộp chung lại hoặc bị chồng chéo ở một mức độ nào đó.

    Những phẩm chất có thể vô cùng quan trọng đối với một chức năng này lại có thể không thích hợp đối với một chức năng khác. Do vậy Hamilton đã coi "năng lực tiềm tàng của tổ chức hành pháp" là thiết yếu đối với việc bảo vệ đất nước trước sự tấn công của nước ngoài, đối với việc quản lý pháp luật một cách công bằng, bảo vệ tài sản và quyền tự do cá nhân mà ông coi là những quyền lợi có quan hệ chặt chẽ. Mặt khác, không phải năng lực mà "sự thận trọng và khôn ngoan" mới là những phẩm chất tối ưu đối với một nhà lập pháp, người phải giành được lòng tin của người dân và dung hòa được những lợi ích đa dạng của họ.

    Những yêu cầu khác nhau này cũng lý giải tại sao quyền hành pháp nên được đặt trong tay một người, tức tổng thống, vì nhiều người điều hành có thể dẫn đến tình trạng tê liệt và "làm mất tác dụng phần lớn các biện pháp của chính quyền, trong hầu hết những trường hợp khẩn cấp quan trọng của đất nước” . Nghĩa là khi bộ máy lập pháp, phản ánh ý chí của người dân, đã đưa ra những đánh giá thận trọng và được bàn luận thấu đáo bằng việc thông qua một đạo luật, nhà hành pháp phải vững vàng thực thi đạo luật đó một cách công minh, chống lại bất kỳ sự biện hộ vì lợi ích riêng tư nào cho trường hợp ngoại lệ. Và trong trường hợp xảy ra sự tiến công của nước ngoài, nhà hành pháp phải có quyền lực và sức mạnh để ứng phó nhanh và có uy lực. Đối với ngành tư pháp, những phẩm chất đề ra cũng rất đặc biệt: không phải là sức mạnh và sự nhanh nhẹn của nhà hành pháp, cũng không phải sự cảm thông với thái độ của công chúng hay khả năng thỏa hiệp của nhà lập pháp, mà là "sự liêm chính và ôn hoà". Và do được bổ nhiệm suốt đời, các thẩm phán tránh được các áp lực của công chúng, của cả ngành hành pháp lẫn lập pháp.

    Những vấn đề chính trị trường tồn

    Những bình luận đáng ghi nhớ trong Các bài viết chủ trương chế độ liên bang về chính quyền, xã hội, quyền tự do, sự chuyên chế và bản chất của chính khách không phải luôn dễ tìm thấy. Phần lớn những bài viết này đều có ghi ngày tháng hoặc lặp đi lặp lại hay theo một văn phong cổ xưa. Các tác giả không có cả thời gian lẫn xu hướng sắp đặt những suy nghĩ của mình theo một trình tự và hình thức hoàn chỉnh. Song Các bài viết chủ trương chế độ liên bang vẫn không thể thiếu đối với bất cứ ai quan tâm nghiêm túc đến những vấn đề lý thuyết và thực tiễn chính trị trường tồn được Hamilton và Madison nêu lên. Clinton Rossitor, nhà sử học chính trị lỗi lạc trong thế kỷ XX đã viết: "Chưa một ngòi bút nào ở Mỹ đưa ra được những câu trả lời hùng hồn, cứng rắn và bổ ích hơn". "Thông điệp của Các bài viết chủ trương chế độ liên bang là như sau: không thể có hạnh phúc nào nếu thiếu tự do, không có tự do nào nếu thiếu sự tự trị, không có sự tự trị nào nếu thiếu sự tuân thủ hiến pháp, không có sự tuân thủ hiến pháp nào nếu thiếu nền tảng đạo đức - và sẽ không có một điều nào trong những điều tốt đẹp lớn lao trên đây nếu thiếu ổn định và trật tự” .

  4. The Following User Says Thank You to phithiengia For This Useful Post:


  5. #3
    Tham gia ngày
    28-09-2006
    Bài gởi
    7895
    Thanks
    603
    Thanked 3,786 Times in 1,968 Posts

    Default

    Chương 3: NGÀNH HÀNH PHÁP: QUYỀN LỰC CỦA TỔNG THỐNG

    "Tổng thống nhận được toàn bộ quyền lực của mình từ nhân dân..."
    - Abraham Lincoln, Diễn văn nhậm chức thứ nhất, 1861

    Vào thời tất cả các quốc gia lớn ở châu Âu đều có chế độ quân chủ cha truyền con nối thì ý tưởng về một vị tổng thống với nhiệm kỳ có giới hạn tự nó đã mang tính cách mạng. Nhưng Hiến pháp được thông qua năm 1787 đã trao quyền hành pháp cho tổng thống và điều đó ngày nay vẫn tiếp tục tồn tại. Hiến pháp còn quy định việc bầu ra một phó tổng thống, người sẽ kế nhiệm tổng thống trong trường hợp tổng thống qua đời, từ chức hay không có đủ năng lực. Trong khi Hiến pháp nêu lên khá chi tiết các nhiệm vụ và quyền hạn của tổng thống, nó lại không ủy thác bất kỳ một quyền hành pháp cụ thể nào cho phó tổng thống, cho nội các gồm 14 thành viên của tổng thống, hay cho các quan chức liên bang khác.

    Việc lập ra một chức vụ tổng thống nhất nguyên chế và đầy quyền lực là nguồn gốc gây ra tranh cãi trong Hội nghị Lập hiến. Một số bang đã từng kinh qua các hội đồng hành pháp bao gồm nhiều thành viên, một hệ thống mà Thuỵ Sĩ đã áp dụng với nhiều thành công trong một số năm. Đại biểu Benjamin Franklin đã yêu cầu Hoa Kỳ cũng áp dụng một chế độ tương tự. Ngoài ra, nhiều đại biểu, vẫn còn nhức nhối trước tình trạng Vương triều nước Anh nắm trong tay quá nhiều quyền hành pháp, nên rất dè dặt đối với một chức vụ tổng thống nhiều thế lực. Tuy nhiên, những người chủ trương một tổng thống duy nhất - hoạt động dưới sự kiểm soát chặt chẽ và sự cân bằng - đã giành phần thắng.

    Hiến pháp đòi hỏi tổng thống phải là công dân Mỹ sinh ra trên đất Mỹ và có tuổi đời ít nhất là 35 tuổi. Các ứng cử viên tổng thống được các chính đảng bầu chọn nhiều tháng trước cuộc bầu cử tổng thống, được tổ chức 4 năm một lần (những năm có số năm chia hết cho 4) vào ngày Thứ Ba đầu tiên sau ngày Thứ Hai đầu tiên của tháng Mười Một. Điều sửa đổi Hiến pháp thứ 22, được phê chuẩn năm 1951, giới hạn tổng thống chỉ được giữ hai nhiệm kỳ.

    Phó tổng thống phục vụ đồng thời với tổng thống. Ngoài quyền được kế nhiệm, phó tổng thống giữ quyền chủ tịch Thượng viện. Điều sửa đổi Hiến pháp thứ 25, được thông qua năm 1967, quy định cụ thể hơn quá trình kế nhiệm tổng thống. Nó quy định những điều kiện cụ thể mà theo đó phó tổng thống được trao quyền đảm nhiệm cương vị tổng thống nếu tổng thống tỏ ra không còn khả năng làm việc. Điều sửa đổi Hiến pháp này cũng quy định việc tổng thống được trở lại cương vị của mình trong trường hợp sức khoẻ của ông được phục hồi. Ngoài ra, điều sửa đổi Hiến pháp này còn cho phép tổng thống chỉ định một phó tổng thống, với sự tán hành của Quốc hội, khi chức vụ thứ hai này bị bỏ trống.

    Hiến pháp trao cho Quốc hội quyền lập ra thứ tự kế nhiệm sau phó tổng thống. Hiện thời, nếu cả hai chức vụ tổng thống và phó tổng thống đều bị bỏ trống thì chủ tịch Hạ viện sẽ đảm nhiệm chức vụ tổng thống. Tiếp đến là chủ tịch lâm thời của Thượng viện (một thượng nghị sĩ được Thượng viện bầu ra để chủ trì Thượng viện trong lúc không có phó tổng thống), và sau đó là các quan chức nội các theo thứ tự đã được quy định.

    Phương pháp bầu tổng thống là một đặc thù của chế độ Mỹ. Tuy tên tuổi các ứng cử viên được ghi trên lá phiếu song, về mặt kỹ thuật, người dân không trực tiếp bầu ra tổng thống (và phó tổng thống). Trái lại, cử tri mỗi bang bầu ra một đoàn đại cử tri (những người sẽ bầu ra tổng thống) có số lượng bằng số thượng nghị sĩ và hạ nghị sĩ mà bang này có trong Quốc hội. ứng cử viên nào giành được số phiếu cao nhất tại mỗi bang sẽ giành được toàn bộ các "lá phiếu đại cử tri" của bang đó.

    Các đại cử tri của tất cả 50 bang và quận Columbia - tổng cộng 538 người - hợp thành đại cử tri đoàn. Theo quy định của Hiến pháp, đại cử tri đoàn không khi nào họp lại với nhau như một tổ chức. Trái lại, các đại cử tri của mỗi bang sẽ họp lại với nhau tại thủ phủ bang mình ít lâu sau cuộc bầu cử và dồn phiếu bầu cho ứng cử viên có số phiếu bầu phổ thông cao nhất tại bang mình. Muốn thắng cử, ứng cử viên tổng thống phải giành được 270 phiếu đại cử tri trong tổng số 538 phiếu có thể có. Hiến pháp quy định rằng, nếu không có ứng cử viên nào giành được đa số phiếu, Hạ viện sẽ phải quyết định: trong đó tất cả các hạ nghị sĩ của một bang sẽ phải bỏ phiếu với tư cách một đơn vị. Trong trường hợp đó, mỗi bang và quận Columbia sẽ được phân bổ chỉ một phiếu bầu duy nhất.

    Nhiệm kỳ tổng thống bốn năm bắt đầu từ ngày 20 tháng Giêng (trước kia là từ tháng Ba, sau được thay đổi bởi điều sửa đổi Hiến pháp thứ 20, phê chuẩn năm 1933) sau cuộc bầu cử vào tháng Mười Một. Tổng thống bắt đầu những nhiệm vụ chính thức của mình bằng một lễ nhậm chức, theo truyền thống được tổ chức trên thềm điện Capitol Hoa Kỳ, nơi họp Quốc hội. Tổng thống công khai tuyên thệ nhậm chức, theo truyền thống, trước sự chứng kiến của chánh án Tòa án Tối cao. Lời tuyên thệ được ghi trong Điều II của Hiến pháp: "Tôi trân trọng tuyên thệ rằng tôi sẽ trung thành thi hành chức trách tổng thống Hợp chúng quốc Hoa Kỳ, và sẽ bằng tất cả khả năng của mình, duy trì, bảo toàn và bảo vệ Hiến pháp Hợp chúng quốc Hoa Kỳ". Lễ tuyên thệ thường được nối tiếp bằng một diễn văn nhậm chức trong đó tân tổng thống phác hoạ các chính sách và kế hoạch của chính quyền của mình.
    Chức vụ tổng thống

    Nhiệm kỳ: Do dân bầu ra thông qua đại cử tri đoàn, mỗi nhiệm kỳ 4 năm; không quá hai nhiệm kỳ.

    Lương: 400.000 USD một năm tính từ ngày 20-1-2001.

    Nhậm chức: ngày 20 tháng Giêng, tiếp theo sau cuộc tổng tuyển cử tháng Mười Một.

    Điều kiện để ứng cử Tổng thống: là công dân Hoa Kỳ sinh ra ở Hoa Kỳ, tuổi đời ít nhất 35 tuổi và cư trú ít nhất 14 năm tại Hợp chúng quốc.

    Nhiệm vụ hàng đầu: bảo vệ Hiến pháp và thực thi các luật pháp do Quốc hội lập ra.

    Những quyền khác: khuyến nghị các văn bản luật pháp với Quốc hội; triệu tập các kỳ họp đặc biệt của Quốc hội; gửi thông điệp đến Quốc hội; ký hoặc phủ quyết các dự luật; bổ nhiệm thẩm phán liên bang; bổ nhiệm người đứng đầu các bộ và các cơ quan liên bang cùng các quan chức liên bang chính khác; cử đại diện ra nước ngoài, tiến hành kinh doanh chính thức với nước ngoài; thực hiện chức năng tổng tư lệnh các lực lượng vũ trang; ra lệnh ân xá đối với những vi phạm chống lại Hoa Kỳ.
    Quyền lực của tổng thống

    Chức vụ tổng thống Hợp chúng quốc là một trong những chức vụ có thế quyền nhất trên thế giới. Hiến pháp quy định rằng tổng thống phải "chăm lo để cho luật pháp được thực hiện một cách nghiêm minh". Để gánh vác trách nhiệm này, tổng thống chủ trì ngành hành pháp của chính quyền liên bang - một tổ chức rộng lớn gồm tới bốn triệu người, trong đó có một triệu quân nhân tại ngũ. Ngoài ra tổng thống còn có những quyền quan trọng về lập pháp và tư pháp.

    Quyền hành pháp

    Trong bản thân ngành hành pháp, tổng thống có những quyền hạn rộng lớn để điều hành công việc quốc gia và các hoạt động của chính quyền liên bang. Tổng thống có thể ban hành các quy định, quy chế và chỉ thị, được gọi là những chế tại hành pháp, có hiệu lực bắt buộc của luật pháp đối với các cơ quan liên bang mà không cần có sự tán thành của Quốc hội. Là tổng chỉ huy của các lực lượng vũ trang Hợp chúng quốc Hoa Kỳ, tổng thống cũng có thể huy động các đơn vị Cận vệ quốc gia của bang phục vụ cho liên bang. Trong thời gian chiến tranh hay trong tình trạng khẩn cấp quốc gia, Quốc hội có thể trao cho tổng thống những quyền hạn thậm chí còn rộng hơn nữa để điều hành nền kinh tế quốc dân và bảo vệ an ninh của Hợp chúng quốc.

    Tổng thống bổ nhiệm - và Thượng viện phê chuẩn - người đứng đầu tất cả các bộ và các cơ quan hành pháp, cùng với hàng trăm quan chức cao cấp liên bang khác. Tuy nhiên, phần đông viên chức liên bang được lựa chọn thông qua hệ thống công chức nhà nước mà ở đó việc bổ nhiệm và đề bạt dựa trên cơ sở năng lực và kinh nghiệm.

    Quyền lập pháp

    Mặc dù Hiến pháp quy định "mọi quyền lập pháp" phải được trao cho Quốc hội, nhưng tổng thống, với tư cách người hoạch định chủ yếu chính sách công cộng, vẫn có một vai trò lập pháp quan trọng. Tổng thống có thể phủ quyết bất kỳ một dự luật nào đã được Quốc hội thông qua và, trừ khi có hai phần ba thành viên trong mỗi viện phủ quyết để gạt bỏ sự phủ quyết của tổng thống, dự luật đó sẽ không bao giờ trở thành luật.

    Phần lớn các văn bản luật mà Quốc hội xử lý được dự thảo với sáng kiến của ngành hành pháp. Trong một thông điệp đặc biệt hàng năm gửi cho Quốc hội, tổng thống có thể đề xuất những văn bản pháp luật nào mà tổng thống cho là cần thiết. Nếu Quốc hội phải ngừng họp mà không đề cập được những đề xuất này, thì tổng thống có quyền triệu tập phiên họp đặc biệt. Nhưng vượt lên trên vai trò chính thức đó, với tư cách là người đứng đầu một chính đảng và là quan chức hành pháp chủ yếu của chính quyền Hợp chúng quốc Hoa Kỳ, tổng thống ở vào vị trí có thể ảnh hưởng tới dư luận và qua đó ảnh hưởng tới quá trình lập pháp tại Quốc hội.

    Để cải thiện những mối quan hệ làm việc của mình với Quốc hội, các vị tổng thống trong những năm gần đây đã thiết lập một Văn phòng Liên lạc với Quốc hội tại Nhà Trắng. Các phụ tá tổng thống theo dõi mọi hoạt động lập pháp quan trọng và cố gắng thuyết phục các thươùng nghị sĩ và hạ nghị sĩ của cả hai đảng ủng hộ các chính sách hành chính.

    Quyền tư pháp

    Trong số các quyền hợp hiến của tổng thống có quyền bổ nhiệm các quan chức chính quyền quan trọng. Sự bổ nhiệm của tổng thống đối với các thẩm phán liên bang, kể cả các thành viên của Tòa án Tối cao, phải được sự phê chuẩn của Thượng viện. Một quyền quan trọng nữa là ban bố lệnh ân xá hoàn toàn hay có điều kiện cho bất kỳ ai đã bị kết tội vi phạm luật pháp liên bang - trừ trường hợp còn nghi vấn. Quyền ân xá bao hàm trong đó quyền rút ngắn thời hạn bị tù và giảm bớt tiền phạt.

    Các quyền trong các vấn đề đối ngoại

    Theo Hiến pháp, tổng thống là quan chức liên bang chịu trách nhiệm tối cao về các mối quan hệ giữa Hoa Kỳ với các nước khác. Tổng thống bổ nhiệm các đại sứ, công sứ và lãnh sự - với sự phê chuẩn của Thượng viện, - tiếp nhận các đại sứ và các quan chức nhà nươực khác của nước ngoài. Cùng với bộ trưởng ngoại giao, tổng thống điều hành tất cả các mối liên hệ chính thức với các chính phủ nước ngoài. Đôi khi tổng thống có thể đích thân tham gia các hội nghị thượng đỉnh, tại đó những người đứng đầu các nhà nươực gặp gỡ nhau để trực tiếp trao đổi ý kiến. Vì thế, Tổng thống Woodrow Wilson đã dẫn đầu phái đoàn Mỹ tới hội nghị Paris khi kết thúc Chiến tranh thế giới thứ nhất; Tổng thống Franklin D. Roosevelt đã gặp gỡ các lãnh tụ Đồng minh trong Chiến tranh thế giới thứ hai; và kể từ đó tổng thống nào cũng đã họp mặt với các lãnh tụ thế giới để thảo luận các vấn đề kinh tế và chính trị, và nhằm đi tới những hiệp ước song phương và đa phương.

    Thông qua Bộ Ngoại giao, tổng thống chịu trách nhiệm bảo vệ người Mỹ ở nước ngoài và bảo vệ những kiều dân nước ngoài ở Mỹ. Tổng thống quyết định việc có công nhận hay không công nhận các quốc gia mới và các chính quyền mới, đàm phán các hiệp ước với những quốc gia khác sẽ liên minh với Hoa Kỳ khi được hai phần ba thành viên Thượng viện thông qua. Tổng thống còn có quyền đàm phán "các hiệp định hành pháp" với những cường quốc nước ngoài mà không cần đến sự phê chuẩn của Thượng viện.

    Những hạn chế đối với quyền lực của tổng thống

    Do tính chất đa dạng trong vai trò và trách nhiệm của tổng thống, cùng với sự hiện diện nổi bật trong bối cảnh quốc gia và quốc tế, các nhà phân tích chính trị có xu hướng nhấn mạnh nhiều hơn tới các quyền của tổng thống. Thậm chí một số ngừơi đã nói đến "cương vị tổng thống đế chế", ám chỉ vai trò được mở rộng của địa vị mà Franklin D.Roosevelt duy trì trong nhiệm kỳ của ông ta.

    Một trong những thực tế cảnh tỉnh đầu tiên mà một tổng thống mới phát hiện ra là sự kế thừa một cấu trúc quan liêu cố hữu rất khó quản lý và chậm chuyển hướng. Quyền bổ nhiệm của tổng thống được mở rộng chỉ đối với khoảng 3.000 người trong một lực lươùng lao động chính quyền dân sự gồm khoảng ba triệu người.

    Tổng thống nhận thấy rằng bộ máy chính quyền hoạt động khá độc lập đối với sự can thiệp của tổng thống đã tồn tại qua các chính quyền trước đây, và sẽ còn tiếp tục như thế ngay trong tương lai. Các vị tổng thống mới ngay lập tức phải đương đầu với những quyết định tồn đọng của các chính quyền đã mãn nhiệm về những vấn đề thường là phức tạp và không quen thuộc. Họ kế thừa một kế hoạch chi tiêu đã được xây dựng và phê chuẩn thành luật từ lâu trước khi họ nhậm chức, cùng những chương trình chi tiêu đồ sộ (như chi về các lợi ích của cựu chiến binh, thanh toán bảo hiểm xã hội, và y tế cho người già), được quy định bởi luật và không bị ảnh hưởng. Về các vấn đề đối ngoại, các tổng thống phải tuân thủ những hiệp ước và các thỏa thuận không chính thức được đàm phán bởi những người tiền nhiệm của họ.

    Cảm giác hạnh phúc ngọt ngào của "tuần trăng mật" sau bầu cử nhanh chóng tiêu tan, và vị tổng thống mới phát hiện ra rằng Quốc hội trở nên ít tính hợp tác hơn, còn công luận thì chỉ trích nhiều hơn. Tổng thống buộc phải tạo dựng những sự liên minh ít nhất cũng tạm thời giữa các nhóm lợi ích đa dạng, thường là thù địch - về kinh tế, địa lý, sắc tộc và hệ tư tưởng. Để cho một văn bản pháp lý bất kỳ có thể được thông qua, phải đạt được những thỏa hiệp với Quốc hội. Tổng thống John F. Kennedy đã phàn nàn rằng "Đánh đổ một dự luật trong Quốc hội rất dễ dàng. Làm cho một dự luật được thông qua thì khó khăn hơn nhiều".

    Mặc dù có những hạn chế đó, mỗi vị tổng thống đều đạt được ít nhất một số mục tiêu về pháp luật, và ngăn chặn được, bằng cách phủ quyết, việc phê chuẩn những luật khác mà ông ta tin rằng không đem lại lợi ích cao nhất cho quốc gia. Quyền lực của tổng thống trong việc tiến hành chiến tranh và hòa bình, bao gồm việc đàm phán các hiệp ước, rất lớn. Hơn thế, tổng thống có thể sử dụng vị thế có một không hai của mình để công bố những ý tưởng và tán đồng các chính sách mà sau đó có cơ hội tốt hơn để nhận được sự lưu tâm của công chúng so với những vị thế được nắm giữ bởi các đối thủ cạnh tranh về chính trị của ông ta. Tổng thống Theodore Roosevelt gọi khía cạnh đó của chức trách tổng thống là bài thuyết giáo "cừ khôi", khi một vị tổng thống nêu lên một vấn đề cho sự bàn luận công khai. Quyền lực và ảnh hưởng của một tổng thống có thể bị giới hạn, nhưng chúng vẫn cứ lớn hơn quyền lực hay ảnh hưởng của bất kỳ người Mỹ nào, đương nhiệm hay mãn nhiệm.

    Các bộ trong ngành hành pháp

    Việc cưỡng chế và thực thi hàng ngày đối với các luật liên bang nằm trong tay nhiều bộ hành pháp khác nhau, do Quốc hội tạo ra để giải quyết những lĩnh vực cụ thể của các vấn đề quốc gia và quốc tế. Những người đứng đầu 14 bộ, do tổng thống lựa chọn và Thượng viện phê chuẩn, tạo nên một hội đồng cố vấn được gọi chung là "Nội các" của tổng thống. Ngoài các bộ, còn có một số tổ chức nhân viên nhóm lại thành Văn phòng Điều hành của Tổng thống. Các tổ chức này bao gồm đội ngũ nhân viên của Nhà Trắng, Hội đồng An ninh quốc gia, Văn phòng Quản lý và Ngân sách, Hội đồng Cố vấn Kinh tế, Văn phòng Đại diện Thương mại Mỹ, Văn phòng Khoa học và Công nghệ.

    Hiến pháp không có một quy định nào đối với Nội các của tổng thống. Nó quy định rằng tổng thống có thể hỏi ý kiến, bằng văn bản, quan chức chủ chốt của từng bộ điều hành về bất kỳ một chủ đề nào thuộc phạm vi trách nhiệm của họ, nhưng nó không nêu cụ thể các bộ cũng như không mô tả nhiệm vụ của chúng. Tương tự, không có một quy định cụ thể nào về phẩm chất cho việc phục vụ trong Nội các.

    Nội các phát triển nằm ngoài Hiến pháp như là một đòi hỏi bắt buộc của thực tiễn, thậm chí trong thời George Washington, vị tổng thống đầu tiên của Hoa Kỳ, tổng thống tuyệt nhiên không thể thi hành các nhiệm vụ của mình nếu không có sự cố vấn và trợ giúp. Nội các chính là cái mà bất kỳ một tổng thống chu đáo nào tạo ra vì mục đích đó. Một số tổng thống đã dựa nhiều vào Nội các để có được sự cố vấn, một số khác dựa vừa phải, và có một vài vị về cơ bản là phớt lờ. Cho dù các thành viên Nội các có hành động như là những cố vấn hay không, họ vẫn nắm giữ trách nhiệm hướng dẫn các hoạt động của chính phủ trong những lĩnh vực liên quan cụ thể.

    Mỗi bộ có hàng nghìn nhân viên, với các văn phòng đặt trên khắp đất nước cũng như ở Washington. Các bộ được chia thành các vụ, cục, ban, tổng cục, mỗi đơn vị có những nhiệm vụ cụ thể.
    Nội các

    Đứng đầu mỗi bộ là một bộ trưởng, trừ Bộ Tư pháp, đứng đầu là tổng chưởng lý (tức bộ trưởng).

    * Bộ Nông nghiệp: Thành lập năm 1862.
    * Bộ Thương mại: Thành lập năm 1903. Bộ Thương mại và Lao động được tách ra thành hai bộ riêng biệt vào năm 1913.
    * Bộ Quốc phòng: Được thành lập bằng việc kết hợp các Bộ Chiến tranh (thành lập năm 1789), Bộ Hải quân (thành lập năm 1798) và Bộ Không quân (thành lập năm 1947). Mặc dù bộ trưởng Bộ Quốc phòng là thành viên Nội các, nhưng các bộ trưởng các Bộ Chiến tranh, Hải quân và Không quân không tham gia Nội các.
    * Bộ Giáo dục: Thành lập năm 1979. Trước kia là một phần của Bộ Y tế, Giáo dục và Phúc lợi.
    * Bộ Năng lượng: Thành lập năm 1977.
    * Bộ Y tế và Các dịch vụ con người: Thành lập năm 1979, sau khi Bộ Y tế, Giáo dục và Xã hội (thành lập năm 1953) được tách ra thành các thực thể riêng biệt.
    * Bộ Nhà ở và Phát triển đô thị: Thành lập năm 1965.
    * Bộ Nội vụ: thành lập năm 1849.
    * Bộ Tư pháp: Thành lập năm 1870. Từ năm 1789 đến năm 1870 tổng trưởng lý là thành viên Nội các, nhưng không phải là người đứng đầu bộ.
    * Bộ Lao động: Thành lập năm 1913.
    * Bộ Ngoại giao: Thành lập năm 1789.
    * Bộ Giao thông vận tải: Thành lập năm 1966.
    * Bộ Ngân khố: Thành lập năm 1789.
    * Bộ Các vấn đề về Cựu chiến binh: Thành lập năm 1989 khi Vụ Cựu chiến binh được nâng lên cấp Nội các.
    Bộ Nông nghiệp

    Bộ Nông nghiệp (USDA) theo dõi sản xuất nông nghiệp để đảm bảo giá cả hợp lý và các thị trường ổn định cho người sản xuất và người tiêu dùng, hoạt động để cải thiện và duy trì thu nhập của nông dân, giúp phát triển và mở mang các thị trường nước ngoài cho hàng nông sản. Bộ cố gắng hạn chế tình trạng nghèo khổ, đói kém và suy dinh dưỡng bằng cách phát hành tem phiếu thực phẩm cho người nghèo; đài thọ cho các chương trình giáo dục về dinh dưỡng; điều hành các chương trình trợ giúp thực phẩm khác, chủ yếu là cho trẻ em, phụ nữ có thai và người già. Nó duy trì năng lực sản xuất bằng cách giúp cho các chủ đất bảo vệ được đất trồng trọt, nước, rừng, và các nguồn tài nguyên thiên nhiên khác.

    Bộ Nông nghiệp chỉ đạo sự phát triển nông thôn, các chương trình tín dụng và tiết kiệm nhằm thực hiện các chính sách tăng trưởng quốc gia, tiến hành việc nghiên cứu khoa học và công nghệ trong tất cả các lĩnh vực nông nghiệp. Thông qua dịch vụ thanh tra và xếp loại, Bộ Nông nghiệp bảo đảm các tiêu chuẩn chất lượng của thực phẩm được chào bán. Cục Nghiên cứu nông nghiệp của Bộ tìm cách phát triển những giải pháp cho những vấn đề nông nghiệp có vị trí ưu tiên quốc gia cao, và cục này quản lý Thư viện Nông nghiệp quốc gia để truyền bá thông tin cho đông đảo người sử dụng, từ những nhà khoa học nghiên cứu đến quảng đại công chúng.

    Ban Nông nghiệp nước ngoài (FAS) của Bộ Nông nghiệp có vai trò là cơ quan xúc tiến xuất khẩu và dịch vụ cho nông nghiệp Hoa Kỳ, sử dụng chuyên gia nước ngoài tiến hành điều tra về nông nghiệp nước ngoài, phục vụ cho những nhóm lợi ích nông nghiệp và kinh doanh của Hoa Kỳ. Tổng cục Lâm nghiệp Mỹ, cũng là một bộ phận của Bộ, kiểm soát một mạng lưới rộng lớn các khu vực rừng và động vật hoang dã của quốc gia.

    Bộ Thương mại

    Bộ Thương mại có vai trò thúc đẩy thương mại quốc tế, tăng trưởng kinh tế và tiến bộ kỹ thuật của quốc gia. Nó cung cấp sự trợ giúp và thông tin nhằm làm tăng tính cạnh tranh của Mỹ trong nền kinh tế thế giới; chỉ đạo các chương trình nhằm ngăn chặn cạnh tranh ngoại thương không công bằng; cung cấp các số liệu thống kê và những phân tích về kinh tế và xã hội cho các nhà xây dựng kế hoạch của chính phủ.

    Bộ gồm có nhiều cơ quan đa dạng. Ví dụ, Viện Tiêu chuẩn và Công nghệ quốc gia đẩy mạnh sự tăng trưởng kinh tế bằng cách cộng tác với công nghiệp nhằm phát triển và ứng dụng công nghệ, đo lường và tiêu chuẩn. Cục Đại dương và Khí quyển quốc gia (NOAA) trong đó có Nha Thời tiết quốc gia, có nhiệm vụ nâng cao sự hiểu biết về môi trường trái đất và bảo toàn các tài nguyên biển và ven biển của đất nước. Cục Sáng chế và Nhãn hiệu thương mại đẩy mạnh tiến bộ khoa học và mỹ nghệ bằng cách bảo đảm cho tác giả và nhà sáng chế giữ độc quyền đối với những sáng tạo và phát minh của mình. Cục Viễn thông và Thông tin quốc gia cố vấn cho tổng thống về chính sách viễn thông, thúc đẩy sáng kiến, khuyến khích cạnh tranh, tạo ra công ăn việc làm và đem lại cho người tiêu dùng dịch vụ viễn thông chất lượng cao hơn và giá hạ hơn.

    Bộ Quốc phòng

    Đại bản doanh đóng tại Lầu Năm góc, "tòa nhà văn phòng lớn nhất thế giới", Bộ Quốc phòng (DOD) chịu trách nhiệm về tất cả những vấn đề liên quan tới an ninh quân sự của quốc gia. Nó cung cấp lực lượng quân sự của Hoa Kỳ, gồm khoảng 1 triệu nam nữ quân nhân đang tại ngũ. Trong trường hợp khẩn cấp, lực lượng này được sự hậu thuẫn của 1,5 triệu thành viên lực lượng dự bị của các bang, gọi là Đội Cận vệ quốc gia. Ngoài ra, có khoảng 730.000 nhân viên dân sự phục vụ cho Bộ Quốc phòng trong những lĩnh vực như nghiên cứu, liên lạc tình báo, vẽ bản đồ và các vấn đề an ninh quốc tế. Cục An ninh quốc gia (NSA) phối hợp, chỉ đạo và thực hiện những hoạt động tình báo rất chuyên biệt ủng hộ cho các hoạt động của chính quyền Hoa Kỳ, cũng đặt dưới sự chỉ đạo của bộ trưởng Bộ Quốc phòng.

    Bộ Quốc phòng chỉ đạo các quân chủng được tổ chức riêng biệt là Lục quân, Hải quân, Thủy quân lục chiến, Không quân, cũng như các học viện của bốn quân chủng và Trường Cao đẳng Chiến tranh quốc gia, Hội đồng tham mưu liên quân và một số binh chủng tác chiến chuyên môn hóa. Bộ Quốc phòng duy trì các lực lượng hải ngoại để đáp ứng những cam kết theo hiệp ước, bảo vệ thương mại và các vùng lãnh thổ ở bên ngoài quốc gia, cung cấp các lực lượng không chiến và các lực lượng hỗ trợ. Những trách nhiệm phi quân sự bao gồm việc kiểm soát lũ lụt, phát triển các nguồn lực hải dương và quản lý các trữ lượng dầu mỏ.

    Bộ Giáo dục

    Trong khi các trường học trước hết là một trách nhiệm địa phương trong hệ thống giáo dục Hoa Kỳ, Bộ Giáo dục đảm trách sự lãnh đạo quốc gia đối với các vấn đề trọng yếu trong nền giáo dục ở Mỹ và phục vụ như một văn phòng trung ương về thông tin để giúp cho những người ra quyết định tại các bang và địa phương cải thiện các trường học của họ. Bộ xây dựng chính sách và điều hành các chương trình viện trợ liên bang dành cho giáo dục, trong đó có các chương trình cho sinh viên vay, chương trình dành cho sinh viên bị thiệt thòi hoặc bị tàn tật và các chương trình dạy nghề.

    Trong thập kỷ 90 của thế kỷ XX, Bộ Giáo dục tập trung vào những chương trình sau đây: nâng cao tiêu chuẩn cho tất cả các sinh viên, cải tiến công việc giảng dạy, đưa các bậc cha mẹ và gia đình tham gia vào sự giáo dục của trẻ em, làm cho nhà trường trở thành một nơi an toàn, có kỷ luật và không có ma tuý, tăng cường quan hệ giữa nhà trường với lao động, nâng cao sự tiếp cận với viện trợ tài chính để sinh viên có thể đến trường và tiếp nhận sự đào tạo, và giúp đỡ cho mọi sinh viên đều trở thành những người hiểu biết về công nghệ.

    Bộ Năng lượng

    Mối quan ngại ngày càng tăng lên về những vấn đề năng lượng của quốc gia trong thập kỷ 70 của thế kỷ XX đã thúc đẩy Quốc hội thành lập Bộ Năng lượng (DOE). Bộ tiếp quản các chức năng của một số cơ quan chính phủ đã từng tham gia vào lĩnh vực năng lượng. Đội ngũ cán bộ của Bộ Năng lượng chịu trách nhiệm nghiên cứu, phát triển và vận hành công nghệ năng lượng; bảo tồn nguồn năng lượng; quản lý việc sản xuất và sử dụng năng lượng; sử dụng năng lượng hạt nhân cho mục đích dân sự và quân sự; định giá và phân bổ dầu mỏ; và một chương trình trung tâm thu thập và phân tích dữ liệu về năng lượng.

    Bộ Năng lượng bảo vệ môi trường quốc gia bằng cách đề ra những tiêu chuẩn nhằm giảm thiểu các tác hại của sản xuất năng lượng. Ví dụ, Bộ Năng lượng tiến hành việc nghiên cứu về môi trường và những vấn đề liên quan đến sức khoẻ, như các nghiên cứu về các chất gây ô nhiễm có liên quan tới năng lượng và những ảnh hưởng của chúng đối với các hệ sinh học.

    Bộ Y tế và Các dịch vụ con người

    Bộ Y tế và Các dịch vụ con người (HHS), giám sát khoảng 300 chương trình, có lẽ là cơ quan động chạm trực tiếp đến cuộc sống của nhiều người Mỹ hơn bất kỳ một cơ quan liên bang nào khác. Bộ phận cấu thành lớn nhất của nó, Cục Tài trợ Chăm sóc sức khoẻ, quản lý các chương trình Medicare và Medicaid - những chương trình đem lại sự chăm sóc sức khoẻ cho khoảng 1 trên 5 người Mỹ. Chương trình Medicare đem lại bảo hiểm y tế cho 30 triệu người già và tàn tật ở Hoa Kỳ. Chương trình Medicaid, một chương trình phối hợp liên bang và bang, đem lại bảo hiểm y tế cho 31 triệu người thu nhập thấp, trong đó có 15 triệu trẻ em.

    Bộ Y tế và Các dịch vụ con người còn quản lý mạng lưới các Viện y tế quốc gia (NIH), tổ chức nghiên cứu y học hàng đầu thế giới, hỗ trợ khoảng 30.000 dự án nghiên cứu về các bệnh như ung thư, Alzheimer, tháo đường, xơ cứng động mạch, đau tim và AIDS. Các cơ quan khác của Bộ Y tế và Các dịch vụ con người bảo đảm tính an toàn và hữu hiệu của việc cung cấp thực phẩm, của các loại thuốc men của quốc gia, ngăn chặn sự bùng nổ các căn bệnh lây lan và cung cấp dịch vụ y tế cho người Anhđiêng Mỹ và dân bản địa ở Alaska, góp phần nâng cao chất lượng và khả năng cung cấp biện pháp ngăn ngừa mắc nghiện, điều trị bệnh nghiện ma túy và các dịch vụ điều trị bệnh tâm thần.

    Bộ Nhà ở và Phát triển đô thị

    Bộ Nhà ở và Phát triển đô thị (HUD) quản lý các chương trình trợ giúp phát triển cộng đồng và giúp cung cấp nhà ở với mức giá phải chăng cho quốc gia. Các luật về cấp nhà với giá cả phải chăng, do Bộ Nhà ở và Phát triển đô thị thực thi, nhằm đảm bảo cho các cá nhân và gia đình có thể mua được một căn hộ mà không phải chịu tình trạng kỳ thị trong vấn đề nhà ở. Bộ Nhà ở và Phát triển đô thị điều hành các chương trình bảo hiểm cầm cố để giúp các gia đình trở thành người chủ của căn nhà, và một chương trình bao cấp tiền thuê cho các gia đình có thu nhập thấp mà nếu không có chương trình này họ không thể có tiền trả cho một căn hộ tươm tất. Ngoài ra, Bộ còn điều hành các chương trình viện trợ cho việc xây dựng lại các vùng lân cận, tránh cho các trung tâm đô thị khỏi những khu ổ chuột và khuyến khích phát triển những cộng đồng mới. Bộ cũng bảo vệ những người mua nhà trên thị trường và xúc tiến các chương trình khuyến khích ngành xây dựng nhà ở.

    Bộ Nội vụ

    Là cơ quan bảo toàn chính của quốc gia, Bộ Nội vụ có trách nhiệm đối với hầu hết các nguồn tài nguyên thiên nhiên và đất đai công cộng thuộc sở hữu liên bang ở Hoa Kỳ. Ví dụ, Cục Cá và Động vật hoang dã Hoa Kỳ quản lý 500 nơi trú ngụ của động vật hoang dã, 37 khu quản lý đồng lầy, 65 trại nuôi cá quốc gia, và một mạng lưới nhân viên thi hành luật về động vật hoang dã. Cục Công viên quốc gia quản lý hơn 370 công viên quốc gia và các danh lam thắng cảnh, các tuyến đường sông, bờ biển, các khu vui chơi giải trí và di tích lịch sử, qua đó Cục thực hiện việc bảo toàn di sản tự nhiên và văn hóa của Mỹ.

    Thông qua Cục Quản lý ruộng đất, Bộ giám sát đất đai và các nguồn lực - từ các khu đất trồng trọt, các khu vui chơi giải trí đến việc sản xuất gỗ và dầu - trên hàng triệu hécta đất công chủ yếu thuộc miền Tây. Cục khai hoang quản lý các nguồn nước khan hiếm ở miền Tây nửa khô cằn của Mỹ. Bộ quản lý hoạt động khai thác mỏ ở Hợp chúng quốc Hoa Kỳ, và chịu trách nhiệm chính về việc bảo vệ và bảo toàn các nguồn tài nguyên chính của các bộ lạc người Anhđiêng Mỹ và dân bản địa ở Alaska. Trên phương diện quốc tế, Bộ điều hành các chương trình ở những vùng lãnh thổ như U.S. Virgin lslands, Guam, American Samoa, Northern Mariana lslands, giám sát việc cấp kinh phí phát triển cho Marshall lslands và Federated States of Micronessia và Palau.

    Bộ Tư pháp

    Bộ Tư pháp đại diện cho chính phủ Hoa Kỳ trong các vấn đề pháp lý và tòa án và, khi được yêu cầu, đệ trình các ý kiến cố vấn, các quan điểm pháp lý lên tổng thống và những người đứng đầu các bộ hành pháp. Đứng đầu Bộ Tư pháp là tổng chưởng lý, quan chức đứng đầu trong việc thực thi luật pháp của chính quyền liên bang. Cục Điều tra Liên bang (FBI) của Bộ này là cơ quan cưỡng chế thi hành luật chủ yếu, và Vụ Nhập cư và Nhập quốc tịch (INS) áp dụng các luật về nhập cư. Một cơ quan lớn trong bộ này là Cơ quan Thi hành luật về ma túy (DAE), áp dụng các luật về các chất bị kiểm soát và thuốc ngủ, khám phá các tổ chức lớn buôn bán ma túy bất hợp pháp. Bộ Tư pháp cũng trợ giúp các lực lượng cảnh sát địa phương. Ngoài ra, Bộ còn điều hành các công tố viên và cảnh sát trưởng Mỹ trên cả nươực, giám sát các nhà tù liên bang và các thể chế xử phạt khác, điều tra và báo cáo lên tổng thống về các đơn xin được phóng thích hay ân xá. Bộ Tư pháp cũng liên kết với INTERRPOL (Tổ chức Cảnh sát hình sự quốc tế) có trách nhiệm thúc đẩy sự tương trợ lẫn nhau giữa các cơ quan cưỡng chế luật pháp trên 176 nước.

    Bộ Lao động

    Bộ Lao động thúc đẩy phúc lợi về thu nhập từ tiền công ở Hợp chúng quốc, giúp cải thiện các điều kiện lao động và tạo lập những mối quan hệ tốt giữa người lao động và người quản lý. Bộ áp dụng các luật lao động liên bang thông qua các cơ quan như Vụ Sức khoẻ và An toàn nghề nghiệp (OSHA), Vụ Tiêu chuẩn nghề nghiệp, Vụ Sức khoẻ và An toàn mỏ. Các trách nhiệm của Bộ là: đảm bảo các quyền của ngươứi lao động đối với các điều kiện lao động an toàn và lành mạnh; ấn định mức tiến công tối thiểu theo giờ và thanh toán lao động vươùt giờ; cấm phân biệt đối xử về việc làm; cung cấp bảo hiểm thất nghiệp và đền bù cho người bị tai nạn lao động. Bộ cũng bảo vệ các quyền về trợ cấp hưu trí của công nhân, đài thọ cho các chương trình đào tạo việc làm và giúp người lao động tìm kiếm việc làm... Cục Thống kê lao động của Bộ theo dõi và báo cáo những thay đổi trong vấn đề lao động và việc làm, giá cả và các chỉ tiêu kinh tế quốc gia khác. Đối với những người tìm kiếm việc làm, Bộ lập những báo cáo đặc biệt để giúp đỡ những công nhân lớn tuổi, thanh niên, người thiểu số, phụ nữ và người tàn tật.

    Bộ Ngoại giao

    Bộ Ngoại giao cố vấn cho tổng thống, người chịu trách nhiệm tổng thể về việc thiết lập và thực thi chính sách đối ngoại của Hợp chúng quốc Hoa Kỳ. Bộ đánh giá các lợi ích của Hoa Kỳ ở hải ngoại, đưa ra những khuyến nghị về chính sách và hành động trong tương lai, tiến hành những bước đi cần thiết để thực hiện chính sách đã thiết lập. Bộ duy trì các mối liên hệ và quan hệ giữa Hoa Kỳ và các nước, cố vấn cho tổng thống về việc công nhận các nước và chính phủ mới, đàm phán các hiệp ước và thỏa thuận với các nước, phát ngôn cho Hoa Kỳ tại Liên hợp quốc và tại các tổ chức quốc tế lớn khác. Bộ duy trì hơn 250 chức vụ ngoại giao và lãnh sự trên khắp thế giới. Trong năm 1999, Bộ hợp nhất Cơ quan Giải trừ quân bị và Kiểm soát vũ khí của Hoa Kỳ và Cơ quan Thông tin Hoa Kỳ vào cơ cấu và nhiệm vụ của Bộ.

    Bộ Giao thông vận tải

    Bộ Giao thông vận tải (DOT) thiết lập chính sách về giao thông vận tải tổng thể của quốc gia thông qua 10 đơn vị vận hành gồm việc quy hoạch, phát triển và xây dựng đường cao tốc; việc chuyên chở trên quy mô lớn ở đô thị; đường sắt; hàng không dân dụng; vấn đề an toàn đường thuỷ, cảng, đường cao tốc, các ống dẫn dầu và khí đốt.

    Ví dụ, Cục Quản lý hàng không liên bang vận hành một mạng lưới các đài chỉ huy sân bay, các trung tâm điều khiển giao thông đường không và các trạm dịch vụ bay trên cả nước; Cục Quản lý đường cao tốc liên bang đem lại sự hỗ trợ tài chính cho các bang để cải thiện hệ thống xa lộ giữa các bang, các đường đô thị và nông thôn cũng như các cầu. Cục An toàn giao thông đường bộ quốc gia thiết lập các chuẩn mực an toàn và tiết kiệm nhiên liệu cho các phương tiện có động cơ. Cục Hàng hải điều hành đoàn tàu biển thương mại Mỹ. Đội Cảnh vệ duyên hải Hoa Kỳ, cơ quan cấp phép và cưỡng chế thực thi luật hàng hải chủ yếu của quốc gia, đã thực hiện các sứ mệnh tìm kiếm và cứu hộ ở ngoài khơi, chống nạn buôn lậu ma túy và hành động ngăn chặn tình trạng tràn dầu và ô nhiễm đại dương.

    Bộ Ngân khố

    Bộ Ngân khố có trách nhiệm phục vụ các nhu cầu tài chính và tiền tệ của quốc gia. Bộ thực hiện bốn chức năng cơ bản: xây dựng các chính sách tài chính, thuế và tài khóa; đóng vai trò đại diện tài chính của chính phủ Hoa Kỳ; cung cấp các dịch vụ chuyên môn hóa về cưỡng chế thực thi luật; sản xuất tiền kim loại và tiền giấy. Bộ Ngân khố báo cáo với Quốc hội và tổng thống về tình trạng tài chính của chính phủ và của nền kinh tế quốc dân. Nó kiểm soát doanh số về rượu cồn, thuốc lá và súng ngắn trong hoạt động buôn bán giữa các bang và với nước ngoài; giám sát việc in tem cho Cục Bưu chính Hoa Kỳ; điều hành Cơ quan Mật vụ - cơ quan bảo vệ tổng thống, phó tổng thống, gia đình họ, các quan chức cao cấp và các nguyên thủ quốc gia tới thăm; trấn áp việc làm giả tiền và chứng khoán của Mỹ, điều hành Cục Hải quan - nơi kiểm soát và đánh thuế các luồng hàng hóa vào đất nước.

    Bộ gồm có Văn phòng Quan chức Kiểm soát tiền tệ, tức là quan chức của Bộ thực thi các luật điều chỉnh hoạt động của gần 2.900 ngân hàng; và Cục Thu nhập nội bộ (IRS), nơi áp dụng các luật thuế - nguồn thu chủ yếu của chính quyền liên bang.

    Bộ Các vấn đề về Cựu chiến binh

    Bộ Các vấn đề về Cựu chiến binh (VA) được thành lập như một cơ quan độc lập từ năm 1930 và được nâng lên cấp trực thuộc Nội các năm 1989, cấp phát những lợi ích và các dịch vụ cho các cựu chiến binh hoàn thành nghĩa vụ quân sự và những người ăn theo họ. Cục Sức khoẻ cựu chiến binh đáp ứng việc chăm sóc tại bệnh viện và tại trạm an dưỡng, cung cấp các dịch vụ về răng và điều trị bệnh nhân ngoại trú trong 173 trung tâm điều trị, 40 nhà nghỉ hưu trí, 600 trạm y tế, 133 trạm an dưỡng và 206 trung tâm cựu chiến binh của chính quyền Sài Gòn ở vùng xa tại Hoa Kỳ, Puerto Rico và Philippin. Bộ cũng tiến hành nghiên cứu y học trong những lĩnh vực như tuổi già, các vấn đề sức khoẻ của phụ nữ, bệnh AIDS và những rối loạn thần kinh sau khi bị chấn thương.

    Vụ Các lợi ích của cựu chiến binh (ABA) giám sát các quyền lợi của người tàn tật, tiền trợ cấp hưu trí, và đặc biệt là việc cấp nhà ở cùng các dịch vụ khác đáp ứng theo điều kiện cụ thể. Vụ này cũng quản lý các chương trình giáo dục cho cựu chiến binh và cung cấp nguồn trợ giúp tín dụng xây nhà ở cho các cựu chiến binh đủ điều kiện và đội ngũ nhân viên phục vụ tại ngũ. Hệ thống nghĩa trang quốc gia của Vụ này cung cấp dịch vụ chôn cất, bia mộ và ghi nhận cho các cựu chiến binh cùng các thành viên có đủ điều kiện của gia đình họ trong 116 nghĩa địa trên toàn Hoa Kỳ.

    Các cơ quan độc lập

    Các bộ hành pháp là những đơn vị vận hành chủ yếu trong chính quyền liên bang, nhưng cũng có nhiều cơ quan khác giữ những trọng trách bảo đảm cho chính phủ và nền kinh tế hoạt động một cách trôi chảy. Chúng thường được gọi là các cơ quan độc lập, bởi chúng không phải là một bộ phận của các bộ hành pháp.

    Bản chất và mục đích của những cơ quan này rất khác nhau. Một số là những nhóm quản lý có quyền giám sát những khu vực đặc biệt của nền kinh tế. Một số khác cung cấp các dịch vụ đặc biệt cho chính phủ hoặc cho dân chúng. Trong đa số trường hợp, các cơ quan này do Quốc hội thành lập để giải quyết những vấn đề đã trở nên quá phức tạp trong khuôn khổ các văn bản pháp lý thông thường. Chẳng hạn, năm 1970, Quốc hội lập ra Cục Bảo vệ môi trường để điều phối hoạt động bảo vệ môi trường của chính phủ. Trong số các cơ quan độc lập quan trọng nhất, có những cơ quan sau đây:

    Cục Tình báo trung ương (CIA) phối hợp các hoạt động tình báo của các bộ và cơ quan nhất định của chính phủ; thu thập, liên hệ và đánh giá các thông tin tình báo có liên quan tới an ninh quốc gia; đưa ra các khuyến nghị cho Hội đồng An sinh quốc gia thuộc Văn phòng của tổng thống.

    Cơ quan Bảo vệ môi trường (EPA) làm việc với các chính quyền bang và địa phương trên toàn nước Mỹ để kiểm soát và làm giảm nhẹ tình trạng ô nhiễm không khí và nước, xử lý các vấn đề chất thải rắn, thuốc trừ sâu, bức xạ và các chất độc hại. Cơ quan này thiết lập và cưỡng chế thực hiện các tiêu chuẩn về chất lượng không khí và nước, đánh giá tác động của thuốc trừ sâu và các hóa chất, quản lý cái gọi là chương trình "siêu quỹ" cho việc làm sạch các bãi chất độc hại.

    Uỷ ban Truyền thông liên bang (FCC) chịu trách nhiệm điều hành việc truyền thông giữa các bang và quốc tế qua mạng lưới phát thanh, truyền hình, vệ tinh và cáp. Nó cấp giấy phép cho các đài phát thanh và truyền hình, ấn định tần số đài phát thanh, thực thi các quy chế nhằm bảo đảm cho giá cả truyền thông bằng cáp được hợp lý. Cơ quan này điều hành những công ty dịch vụ công cộng như các công ty điện thoại và điện tín cũng như các nhà cung cấp dịch vụ viễn thông.

    Cơ quan Quản lý tình trạng khẩn cấp liên bang (FEMA) phối hợp công việc của các cơ quan liên bang, bang và địa phương trong việc đối phó với lũ lụt, bão, động đất và các thiên tai khác. Cơ quan này hỗ trợ tài chính cho các cá nhân và chính quyền để xây dựng lại nhà cửa, công việc kinh doanh và các phương tiện công cộng, đào tạo nhân viên chữa cháy và các nhân viên cấp cứu y tế chuyên nghiệp, cấp tài chính cho việc đặt kế hoạch đối phó với tình trạng khẩn cấp trong khắp Hoa Kỳ và các lãnh thổ của Hoa Kỳ.

    Cục Dự trữ liên bang là cơ quan chỉ đạo của Hệ thống dự trữ liên bang, tức ngân hàng trung ương của Hợp chúng quốc Hoa Kỳ. Nó thi hành chính sách tiền tệ của đất nước bằng cách ảnh hưởng đến khối lượng tín dụng và tiền tệ lưu thông. Cục Dự trữ liên bang điều hành các thể chế ngân hàng tư nhân, tìm cách giới hạn nguy cơ có hệ thống trên các thị trường tài chính và cung cấp một số dịch vụ tài chính nhất định cho chính quyền Hoa Kỳ, cho công chúng và cho các thể chế tài chính.

    Uỷ ban Thương mại liên bang (FTC) thi hành các luật liên bang chống tơrớt và bảo vệ người tiêu dùng bằng cách điều tra những lời phàn nàn của người tiêu dùng chống lại các công ty riêng lẻ, các công việc kinh doanh, các cuộc điều tra của Quốc hội và các báo cáo trên các phương tiện thông tin đại chúng. Uỷ ban tìm cách bảo đảm cho thị trường quốc gia hoạt động một cách có sức cạnh tranh bằng cách loại trừ những lề thói không công bằng hoặc lường gạt.

    Cơ quan Dịch vụ chung (GSA) chịu trách nhiệm việc mua, cung cấp, vận hành và bảo trì tài sản liên bang, nhà cửa và thiết bị, và chịu trách nhiệm về việc bán những hạng mục dư thừa. Cục này còn điều hành đội xe cơ giới liên bang và giám sát các trung tâm vận chuyển và trung tâm chăm sóc trẻ em.

    Cơ quan Hàng không và Vũ trụ quốc gia (NASA) được thành lập năm 1958 để điều hành chương trình vũ trụ của Hoa Kỳ. Nó đã đưa những vệ tinh và các nhà du hành đầu tiên của Mỹ vào quỹ đạo, và phóng tàu vũ trụ Apollo đưa con người lên mặt trăng năm 1969. Ngày nay, NASA tiến hành nghiên cứu trên các vệ tinh xoay quanh trái đất và các tàu thăm dò vũ trụ liên hành tinh, khảo sát những khái niệm mới trong công nghệ hàng không vũ trụ tiên tiến, và điều hành đội tàu con thoi có người điều khiển của Hoa Kỳ.

    Cục Lưu trữ và Hồ sơ quốc gia (NARA) gìn giữ lịch sử của đất nước bằng cách giám sát việc quản lý tất cả các hồ sơ liên bang. Tài sản lưu trữ tại Cục này gồm có những tài liệu văn bản gốc, phim truyện, băng ghi âm và băng hình, bản đồ, hình ảnh cố định và dữ liệu vi tính. Bản Tuyên ngôn Độc lập, Hiến pháp Hợp chúng quốc Hoa Kỳ và bản Tuyên ngôn Nhân quyền được gìn giữ và trưng bày tại tòa nhà Cục Lưu trữ quốc gia ở Washington, D.C.

    Ban Quan hệ lao động quốc gia (NLRB) quản lý luật lao động chính của Hoa Kỳ, tức Đạo luật về quan hệ lao động quốc gia. Ban này được trao quyền ngăn chặn hoặc khắc phục các cách ứng xử với lao động không công bằng và bảo vệ các quyền của người lao động trong việc tổ chức và quyết định thông qua bầu cử vấn đề có hay không những liên đoàn đại diện cho họ trong đàm phán.

    Quỹ Khoa học quốc gia (NSF) hỗ trợ việc nghiên cứu cơ bản và giáo dục trong khoa học và chế tạo tại Hoa Kỳ thông qua những trợ cấp, hợp đồng và các thỏa thuận khác dành cho các trường đại học, cao đẳng và thể chế kinh doanh phi lợi nhuận và nhỏ. Quỹ này khuyến khích việc hợp tác giữa các trường đại học, ngành công nghiệp với chính quyền, và nó đẩy mạnh hợp tác quốc tế thông qua khoa học và chế tạo.

    Văn phòng Quản lý nhân sự (OPM) là cơ quan về tài nguyên con người của chính quyền liên bang. Nó bảo đảm sao cho việc phục vụ dân sự của đất nước không chịu ảnh hưởng chính trị và sao cho viên chức liên bang được chọn lựa và đối xử công bằng, trên cơ sở công lao của mình. Cơ quan này hỗ trợ các cơ quan chính phủ bằng dịch vụ nhân viên và sự lãnh đạo về chính sách. Nó cũng điều hành hệ thống hưu trí liên bang và chương trình bảo hiểm y tế.

    Đội Hòa bình, thành lập năm 1961, đào tạo và đưa những người tình nguyện ra phục vụ ở nước ngoài trong hai năm. Những người tình nguyện của Đội Hòa bình hiện đang làm việc tại hơn 80 quốc gia, trợ giúp phát triển nông thôn, các doanh nghiệp nhỏ, y tế, bảo tồn các nguồn tài nguyên thiên nhiên và giáo dục.

    Uỷ ban Chứng khoán và Giao dịch chứng khoán (SEC) được thành lập để bảo vệ các nhà đầu tư đã mua cổ phiếu và trái phiếu. Luật liên bang yêu cầu những công ty đang dự định huy động tiền bằng cách bán các chứng khoán phải nộp các dữ liệu thực tế về các hoạt động của họ cho Uỷ ban. Uỷ ban có quyền ngăn ngừa hoặc xử phạt các hành vi lừa đảo trong việc bán chứng khoán, và được quyền kiểm soát sở giao dịch chứng khoán.

    Vụ Kinh doanh nhỏ (SBA) được thành lập năm 1953 để cố vấn, hỗ trợ và bảo vệ lợi ích của các doanh nghiệp nhỏ. Vụ này cho vay tiền tới các doanh nghiệp nhỏ, trợ giúp những nạn nhân của lũ lụt và các loại thiên tai khác, giúp bảo đảm được các hợp đồng cho các loại doanh nghiệp nhỏ cung cấp hàng hóa và dịch vụ cho chính phủ liên bang.

    Vụ An ninh xã hội (SSA) điều hành chương trình bảo hiểm xã hội của đất nước, gồm có những quyền lợi hưu trí, tàn tật và sống sót. Muốn được hưởng những quyền lợi này, hầu hết những người lao động Mỹ phải đóng thuế bảo hiểm xã hội lấy vào thu nhập của họ; những quyền lợi tương lai được căn cứ trên sự đóng góp của những người làm thuê.

    Cục Phát triển quốc tế của Hoa Kỳ (USAID) thực hiện các chương trình trợ giúp kinh tế và nhân đạo tại các nước đang phát triển cũng như tại Trung Âu và Đông Âu và những quốc gia thuộc Liên Xô trước đây. Cục này hỗ trợ các chương trình trong bốn lĩnh vực: dân số và sức khoẻ, sự tăng trưởng kinh tế trên cơ sở rộng rãi, môi trường và dân chủ.

    Cục Bưu chính Hoa Kỳ được vận hành bởi một tập đoàn công cộng tự quản thay cho Bộ Bưu điện từ năm 1971. Cục Bưu chính chịu trách nhiệm về việc thu nhận, vận chuyển và phân phát thư tín, về hoạt động của hàng nghìn bưu cục địa phương trong cả nước. Nó cũng cung cấp dịch vụ thư tín quốc tế thông qua Liên đoàn Bưu chính quốc tế và những thỏa thuận khác với nước ngoài. Một Uỷ ban Cước phí bưu điện độc lập, cũng được thành lập năm 1971, ấn định các mức cước phí cho các loại thư tín.
    Tổ chức Chính quyền Hợp chúng quốc Hoa Kỳ

    Ngành lập pháp


    Quốc hội
    Thượng viện * Hạ viện

    * Kiến trúc sư Điện Capitol
    * Văn phòng Ngân sách Quốc hội
    * Văn phòng Kế toán Quốc hội
    * Văn phòng In ấn của Chính phủ
    * Thư viện Quốc hội
    * Văn phòng Thẩm định công nghệ
    * Trung tâm Stennis về công vụ

    Ngành hành pháp

    Tổng thống * Phó tổng thống
    Văn phòng điều hành của Tổng thống

    * Hội đồng Cố vấn kinh tế
    * Hội đồng Chất lượng môi trường
    * Hội đồng Kinh tế quốc gia
    * Hội đồng An ninh quốc gia
    * Văn phòng Quản lý và Ngân sách
    * Văn phòng Chính sách quốc gia chống bệnh AIDS
    * Văn phòng quốc gia về Chính sách kiểm soát ma tuý
    * Văn phòng về Chính sách khoa học và công nghệ
    * Ban Cố vấn về Tình báo nước ngoài của Tổng thống
    * Đại diện Thương mại của Hoa Kỳ
    * Văn phòng của Nhà Trắng về sáng kiến và tầm vóc của phụ nữ

    * Bộ Nông nghiệp
    * Bộ Thương mại
    * Bộ Quốc phòng
    * Bộ Giáo dục
    * Bộ Năng lượng
    * Bộ Y tế và Các dịch vụ con người
    * Bộ Nhà ở và Phát triển đô thị
    * Bộ Nội vụ
    * Bộ Tư pháp
    * Bộ Lao động
    * Bộ Ngoại giao
    * Bộ Giao thông vận tải
    * Bộ Ngân khố
    * Bộ Các vấn đề về Cựu chiến binh

    Các tổ chức độc lập, các tổng công ty của chính phủ và các cơ quan được coi như chính thức (Xếp theo thứ tự vần chữ cái tiếng Anh)
    o Hội đồng Cố vấn về Bảo tồn lịch sử
    o Cục Tình báo trung ương
    o Uỷ ban Dân quyền
    o Uỷ ban về Giao dịch các hợp đồng hàng hóa tương lai
    o Uỷ ban về An toàn sản phẩm tiêu dùng
    o Tổng công ty Dịch vụ quốc gia
    o Cơ quan Bảo vệ môi trường
    o Uỷ ban về Cơ hội việc làm bình đẳng
    o Ngân hàng Xuất - Nhập khẩu Hoa Kỳ
    o Cơ quan Quản lý tín dụng nông nghiệp
    o Uỷ ban Truyền thông liên bang
    o Công ty Bảo hiểm tiền gửi liên bang
    o Uỷ ban Bầu cử liên bang
    o Cơ quan Quản lý tình trạng khẩn cấp liên bang
    o Cơ quan liên bang về Các quan hệ lao động
    o Uỷ ban Hàng hải liên bang
    o Hệ thống Dự trữ liên bang
    o Ban Đầu tư tiết kiệm hưu trí của liên bang
    o Uỷ ban Thương mại liên bang
    o Cơ quan Dịch vụ chung
    o Ban Bảo vệ các hệ thống có giá trị
    o Cơ quan Hàng không và Vũ trụ quốc gia
    o Cục Lưu trữ và Hồ sơ quốc gia
    o Quỹ quốc gia về Mỹ thuật và các bộ môn về nghiên cứu khoa học nhân văn
    o Ban Quan hệ lao động quốc gia
    o Tổng công ty Hành khách xe lửa quốc gia
    o Ban Giám sát thành tích quốc gia
    o Quỹ Khoa học quốc gia
    o Ban An toàn giao thông quốc gia
    o Uỷ ban Chế định về năng lượng hạt nhân
    o Uỷ ban Kiểm soát sức khoẻ và an toàn nghề nghiệp
    o Văn phòng về Đạo đức của chính quyền
    o Văn phòng Quản lý nhân sự
    o Văn phòng Cố vấn đặc biệt
    o Tổng công ty Đầu tư tư nhân hải ngoại
    o Đội Hòa Bình
    o Công ty Bảo hiểm phúc lợi hưu trí
    o Uỷ ban Cước phí bưu điện
    o Ban Hưu trí đường sắt
    o Uỷ ban Chứng khoán và Giao dịch chứng khoán
    o Hệ thống Dịch vụ chọn lọc
    o Vụ Kinh doanh nhỏ
    o Viện Smithsonian
    o Vụ An ninh xã hội
    o Cơ quan Quản lý thung lũng Tennessee
    o Cục Phát triển quốc tế của Hoa Kỳ
    o Uỷ ban Thương mại quốc tế Hoa Kỳ
    o Cục Bưu chính Hoa Kỳ
    o Cơ quan Phát triển và Thương mại Hoa Kỳ
    o Đài Tiếng nói Hoa Kỳ


    Ngành tư pháp

    Tòa án Tối cao

    * Tòa án Phúc thẩm Hoa Kỳ
    * Tòa án Phúc thẩm Hoa Kỳ xử lưu động trong khu vực Liên bang
    * Các tòa án quận của Hoa Kỳ
    * Tòa án Khiếu nại liên bang Hoa Kỳ
    * Tòa án Thương mại quốc tế Hoa Kỳ
    * Tòa án Thuế Hoa Kỳ
    * Tòa án Phúc thẩm dành cho các lực lượng vũ trang
    * Tòa án Phúc thẩm cựu chiến binh Hoa Kỳ
    * Văn phòng Quản lý các tòa án Hoa Kỳ
    * Trung tâm Xét xử liên bang

  6. The Following User Says Thank You to phithiengia For This Useful Post:


  7. #4
    Tham gia ngày
    28-09-2006
    Bài gởi
    7895
    Thanks
    603
    Thanked 3,786 Times in 1,968 Posts

    Default

    Chương 4: NGÀNH LẬP PHÁP: QUYỀN LỰC CỦA QUỐC HỘI

    "Chính quyền hàm nghĩa quyền làm ra luật pháp"
    - Alexander Hamilton, Các bài viết chủ trương chế độ liên bang, 1787- 1788

    Điều I của Hiến pháp trao toàn bộ quyền lập pháp của chính quyền liên bang cho một Quốc hội được chia thành hai viện – Thượng viện và Hạ viện. Thượng viện là viện nhỏ hơn, trong đó theo quy định của Hiến pháp mỗi bang có hai thành viên. Thượng viện hiện nay có 100 thành viên. Còn ở Hạ viện, tư cách thành viên được xác định căn cứ vào dân số và diện tích của bang, do đó không được quy định cụ thể trong Hiến pháp. Số thành viên của Hạ viện hiện nay là 435 người.

    Trong hơn một trăm năm sau ngày Hiến pháp được thông qua, các thượng nghị sĩ không do dân chúng bỏ phiếu để bầu trực tiếp, mà do các nhà lập pháp của bang lựa chọn và được coi như đại diện của các bang. Nhiệm vụ của các thượng nghị sĩ là bảo đảm cho bang mình được đối xử bình đẳng trước pháp luật. Điều sửa đổi Hiến pháp thứ 17, thông qua năm 1913, đã quy định việc bầu trực tiếp đối với Thượng viện.

    Các đại biểu dự Hội nghị Lập hiến lập luận rằng nếu cả hai nhóm riêng biệt – một nhóm đại diện cho chính quyền các bang, một nhóm đại diện cho dân chúng - đều phải phê chuẩn mọi luật dự thảo, thì hầu như sẽ không còn nguy cơ Quốc hội thông qua các bộ luật một cách vội vã hay thiếu cẩn trọng. Viện này có thể thường xuyên kiểm tra viện kia, theo như cách làm của Quốc hội Anh. Việc thông qua điều sửa đổi Hiến pháp thứ 17 không làm thay đổi nhiều cán cân quyền lực giữa hai viện.

    Mặc dù tranh cãi còn đang diễn ra gay gắt trong Hội nghị về cơ cấu và quyền lực của Quốc hội, nhiều đại biểu vẫn tin rằng ngành lập pháp sẽ tương đối không quan trọng. Một vài đại biểu cho rằng Quốc hội sẽ quan tâm chủ yếu tới những vấn đề đối ngoại, để lại những vấn đề trong nước cho chính quyền bang và địa phương. Những cách nhìn nhận như thế rõ ràng là không chính xác. Quốc hội đã tỏ ra cực kỳ năng động, với quyền lực và quyền hạn rộng lớn trong tất cả những vấn đề thuộc mối quan tâm quốc gia. Mặc dù so sánh với ngành hành pháp thì sức mạnh của nó có lúc tăng lúc giảm theo những thời kỳ khác nhau của lịch sử Hoa Kỳ, song Quốc hội chưa bao giờ tỏ ra nhu nhược hay chấp thuận một cách thiếu suy nghĩ trước các quyết định của tổng thống.

    Tiêu chuẩn của thành viên Quốc hội

    Hiến pháp yêu cầu thượng nghị sĩ Mỹ phải có tuổi đời ít nhất là 30, có ít nhất 9 năm là công dân Hợp chúng quốc, và là người cư trú tại bang đã bầu họ. Thành viên Hạ viện ít nhất phải đủ 25 tuổi, là công dân Hợp chúng quốc ít nhất 7 năm, và là người cư trú tại bang đã tiến cử họ vào Quốc hội. Các bang có thể đặt thêm những yêu cầu khác cho việc bầu cử vào Quốc hội, song Hiến pháp cho quyền mỗi viện quy định các tiêu chuẩn thành viên của mình.

    Mỗi bang có quyền có hai thượng nghị sĩ. Do vậy, Rhode Island, bang nhỏ nhất với diện tích 3.156 km2 cũng có số đại diện ở Thượng viện bằng số đại diện của bang Alaska, bang lớn nhất có diện tích khoảng 1.524.640 km2. Bang Wyoming, với 480.000 dân, cũng có số đại diện bằng số đại diện của bang California có 32.270.000 dân.

    Tổng số thành viên của Hạ viện do Quốc hội quy định, sau đó con số này được phân bổ cho các bang theo dân số. Bất kể dân số là bao nhiêu, mỗi bang đều được Hiến pháp bảo đảm có ít nhất một thành viên trong Hạ viện. Hiện nay có sáu bang – Alaska, Delaware, North Dakota, South Dakota, Vermont và Wyoming – mỗi bang chỉ có một đại diện ở Hạ viện, và sáu bang khác, mỗi bang có số đại diện là hơn 20 người – riêng California hiện có 52 đại diện.

    Hiến pháp quy định 10 năm một lần tiến hành tổng điều tra dân số, và phân chia lại số ghế trong Hạ viện theo sự thay đổi dân số. Theo các điều khoản nguyên thủy của Hiến pháp, số đại diện không được lớn hơn 1 trên 30.000 công dân. Hạ viện đầu tiên có khoảng 65 thành viên, và con số này đã lên đến 106 sau cuộc điều tra dân số lần thứ nhất. Nếu tuân thủ triệt để công thức cứ 30.000 công dân được có một đại diện thì sự gia tăng dân số Hoa Kỳ đã có thể nâng tổng số đại diện lên khoảng 7.000 người. Trái lại, công thức này đươùc điều chỉnh qua các năm, và ngày nay tỷ lệ đại diện cho dân chúng là 1 trên 600.000.

    Cơ quan lập pháp của bang chia các bang thành các quận có tính chất như một đơn vị bầu cử quốc hội, với dân số về cơ bản phải tương đương nhau. Cứ hai năm một lần, các cử tri của mỗi quận chọn ra một đại diện của mình tại Quốc hội.

    Thượng nghị sĩ được lựa chọn qua các cuộc bầu cử trên toàn bang, được tổ chức vào các năm chẵn. Nhiệm kỳ của thượng nghị sĩ là sáu năm, và cứ hai năm một lần, 1/3 số thượng nghị sĩ được bầu lại. Do đó, có 2/3 thượng nghị sĩ luôn luôn là những người đã có những kinh nghiệm lập pháp nhất định ở cấp quốc gia.

    Về mặt lý thuyết, Hạ viện có thể bao gồm toàn bộ thành viên là những người mới bước vào lĩnh vực lập pháp. Tuy nhiên trên thực tế, hầu hết các thành viên đều được bầu lại vài lần, và Hạ viện, cũng giống như Thượng viện, có thể luôn luôn dựa vào một nhóm nòng cốt các nhà lập pháp có kinh nghiệm.

    Do các thành viên của Hạ viện phục vụ trong thời hạn 2 năm, nên đời sống của một Quốc hội được coi là 2 năm. Điều sửa đổi Hiến pháp thứ 20 quy định kỳ họp thường niên của Quốc hội được tiến hành vào ngày 3 tháng Giêng hàng năm, trừ khi Quốc hội ấn định vào một ngày khác. Quốc hội vẫn duy trì kỳ họp cho tới khi các thành viên bỏ phiếu hoãn lại, thường là tới cuối năm. Tổng thống có thể triệu tập một cuộc họp đặc biệt nếu thấy cần thiết. Các kỳ họp được tổ chức tại Điện Capitol ở Washington, D.C.

    Quyền lực của hạ viện và thượng viện

    Mỗi viện của Quốc hội có quyền đưa ra văn bản pháp lý về bất cứ vấn đề gì trừ các dự luật về thu ngân sách là phải bắt nguồn từ Hạ viện. Do vậy, có thể các bang lớn bề ngoài dường như có nhiều ảnh hưởng đối với công quỹ hơn so với các bang nhỏ. Song trên thực tế mỗi viện đều có quyền bỏ phiếu chống lại những văn bản pháp lý đã được viện kia thông qua. Thượng viện có thể không tán thành một dự luật về thu ngân sách của Hạ viện – hoặc bất kỳ một dự luật nào liên quan đến vấn đề này – hoặc bổ sung những sửa đổi làm thay đổi bản chất của chúng. Trong trường hợp đó, một tiểu ban tham vấn, được thành lập bao gồm thành viên của cả hai viện, phải đi tới được một sự thỏa hiệp có thể chấp nhận đối với cả hai bên trước khi dự luật trở thành luật.

    Thượng viện cũng có những quyền hạn nhất định dành riêng cho cơ quan này, trong đó có quyền xác nhận sự bổ nhiệm của tổng thống đối với các quan chức cao cấp và các đại sứ của chính quyền liên bang, cũng như quyền phê chuẩn tất cả các hiệp ước với 2/3 số phiếu thuận. Trong cả hai trường hợp, hành động không ủng hộ của Thượng viện sẽ vô hiệu hóa hành động của ngành hành pháp.

    Trong trường hợp luận tội các quan chức liên bang, Hạ viện có toàn quyền đưa ra lời buộc tội về hành vi bất chính có thể dẫn tới việc xét xử ở tòa án. Thượng viện cũng có toàn quyền kiểm tra những trường hợp luận tội và xác minh xem các quan chức là có tội hay vô tội. Khi bị phát hiện là phạm tội, quan chức liên bang sẽ buộc phải rời khỏi cơ quan nhà nước.

    Quyền hạn rộng lớn của Quốc hội được nêu rõ trong Điều I của Hiến pháp:

    * Đánh thuế và thu thuế;
    * Vay tiền cho công quỹ;
    * Thiết lập các luật lệ và các quy chế điều chỉnh quan hệ thương mại giữa các bang và với nước ngoài;
    * Thiết lập các quy định thống nhất cho việc nhập tịch của công dân nước ngoài;
    * Đúc tiền và in tiền, công bố giá trị của nó và đưa ra những hình phạt đối với việc làm tiền giả;
    * Thiết lập các chuẩn mực cho trọng lượng và các thước đo;
    * Thiết lập luật phá sản trong cả nước;
    * Thiết lập các trạm bưu điện và các mạng lưới bưu điện;
    * Cấp bằng sáng chế và các bản quyền;
    * Thiết lập hệ thống tòa án liên bang;
    * Trừng phạt tội ăn cắp bản quyền;
    * Tuyên bố chiến tranh;
    * Phát triển và hỗ trợ quân đội;
    * Chu cấp cho hải quân;
    * Kêu gọi lực lượng dân vệ thực thi các luật liên bang; trấn áp các hành động phạm pháp hoặc đẩy lùi các cuộc xâm lược của các thế lực nước ngoài;
    * Làm ra tất cả các luật cho trụ sở của chính quyền (Washington D.C);
    * Làm ra tất cả các luật cần thiết để cho Hiến pháp có hiệu lực.

    Một vài quyền hạn trong số này ngày nay đã lạc hậu nhưng chúng vẫn còn hiệu lực. Điều sửa đổi Hiến pháp thứ mười đã thiết lập những giới hạn xác định đối với quyền lực của Quốc hội bằng việc quy định rằng những quyền hạn không được trao cho chính phủ quốc gia thì được trao cho các bang hay cho dân chúng. Ngoài ra, Hiến pháp cũng có những điều cấm cụ thể đối với những hoạt động nhất định của Quốc hội. Quốc hội không được phép:

    * Tạm hoãn lệnh đòi bắt giam – yêu cầu người bị tố cáo là phạm tội phải ra trình diện trước thẩm phán hoặc tòa án trước khi thụ án – trừ phi đó là cần thiết trong thời gian xảy ra nổi loạn hay nạn ngoại xâm;
    * Thông qua các luật trong đó lên án ai đó về sự phạm tội hay hành vi phạm pháp mà không thông qua tòa án;
    * Thông qua bất cứ luật nào đã có hiệu lực từ trước trong việc khiến cho một hành động cụ thể được coi là một tội phạm;
    * Đánh thuế trực thu lên công dân, trừ trường hợp dựa trên cơ sở một cuộc điều tra dân số đã được tiến hành;
    * Đánh thuế hàng xuất khẩu từ bất cứ bang nào;
    * Dành ưu đãi đặc biệt về thương mại hoặc thuế đối với các cảng biển của một bang bất kỳ hay các tàu thuyền lớn sử dụng chúng; và
    * Phê chuẩn bất kỳ một tước vị qúy tộc nào.

    Các quan chức của Quốc hội

    Hiến pháp quy định phó tổng thống sẽ là chủ tịch Thượng viện. Phó tổng thống không có quyền bỏ phiếu, trừ trường hợp hai bên bằng phiếu nhau. Thượng viện chọn một chủ tịch lâm thời để điều hành khi phó tổng thống vắng mặt. Hạ viện tự chọn quan chức điều hành của mình – tức chủ tịch Hạ viện. Chủ tịch Hạ viện và chủ tịch lâm thời Thượng viện bao giờ cũng là thành viên của chính đảng có số đại diện lớn nhất ở mỗi viện.

    Vào đầu mỗi nhiệm kỳ Quốc hội mới, thành viên của các chính đảng lựa chọn các nhà lãnh đạo của viện và các quan chức khác để xử lý khối lượng các văn bản pháp luật được đề nghị. Các quan chức này, cùng với các quan chức điều hành và chủ tịch các ủy ban, ảnh hưởng mạnh mẽ đối với quá trình làm luật.

    Quá trình làm luật tại các ủy ban

    Một trong những đặc trưng chủ yếu của Quốc hội là vai trò chi phối của các ủy ban trong tiến tình hoạt động của nó. Việc các ủy ban đảm nhận vai trò quan trọng như ngày nay là kết quả của cả một tiến trình, chứ không phải theo quy định của Hiến pháp, bởi Hiến pháp không có điều khoản nào quy định việc thành lập các ủy ban này.

    Hiện nay, Thượng viện có 17 ủy ban thường trực (hay thường xuyên), còn Hạ viện có 19 ủy ban. Mỗi ủy ban chuyên trách trong những lĩnh vực lập pháp cụ thể: các vấn đề đối ngoại, quốc phòng, ngân hàng, nông nghiệp, thương mại, phân bổ ngân sách và các lĩnh vực khác. Mỗi dự luật được đưa ra trong từng viện sẽ được chuyển cho một ủy ban để nghiên cứu và khuyến nghị. Uỷ ban này có thể thông qua, sửa đổi, bác bỏ hay gác lại bất cứ một biện pháp nào được gửi tới cho nó. Một dự luật hầu như không thể tới được Hạ viện hay Thượng viện nếu trước hết không được sự thông qua của cấp ủy ban. Ơ± Hạ viện, kiến nghị về giải phóng một dự luật ra khỏi một ủy ban cần phải có chữ ký của 218 thành viên; ở Thượng viện, cần được đa số các thành viên ủng hộ. Trong thực tế, những kiến nghị như vậy rất ít khi nhận được sự ủng hộ cần có.

    Chính đảng chiếm đa số trong mỗi viện sẽ kiểm soát quá trình làm việc của ủy ban. Chủ tịch ủy ban được lựa chọn bởi một cuộc họp kín của các đảng viên hay của một nhóm thành viên được chỉ định đặc biệt. Các đảng thiểu số có số đại diện tương ứng trong các ủy ban, tuỳ theo sức mạnh của họ ở mỗi viện.

    Các dự luật được đề xuất theo nhiều phương pháp. Một số do các ủy ban thường trực soạn thảo; một số do các ủy ban đặc biệt xây dựng nên để giải quyết những vấn đề pháp lý cụ thể; và một số có thể do tổng thống hay các quan chức hành pháp khác gợi ý. Các công dân và các tổ chức khác ngoài Quốc hội có thể đề xuất văn bản pháp lý với các thành viên Quốc hội, và bản thân các cá nhân thành viên cũng có thể đề xướng các dự luật. Sau khi được đề xuất, các dự luật sẽ được chuyển tới các ủy ban có trách nhiệm mà trong đa số các trường hợp, các ủy ban này sẽ lên lịch cho một loạt buổi điều trần để cho phép những người ủng hộ hay phản đối văn bản pháp lý đó trình bày quan điểm của mình. Quá trình điều trần này, có thể kéo dài vài tuần hay vài tháng, mở ra cho công chúng tham gia vào quá trình lập pháp.

    Một ưu điểm của hệ thống ủy ban là nó cho phép các thành viên Quốc hội và đội ngũ nhân viên của họ tích lũy được một mức độ am tường đáng kể trong những lĩnh vực lập pháp khác nhau. Trong những ngày đầu của nền cộng hòa, khi dân số còn nhỏ và các nhiệm vụ của chính quyền liên bang còn hạn hẹp, thì sự am tường như thế không mấy quan trọng. Mỗi nghị sĩ đều là người có năng lực tổng hợp và họ xử lý một cách có kiến thức tất cả các lĩnh vực quan tâm. Tính chất phức tạp của đời sống quốc gia hiện nay đòi hỏi những tri thức chuyên sâu, có nghĩa là các đại biểu được lựa chọn phải thường xuyên tích luỹ sự tinh thông nghiệp vụ trong một vài lĩnh vực chính sách công cộng.

    Khi một ủy ban đã hành động ủng hộ một dự luật, văn bản pháp lý được đề nghị bấy giờ sẽ được chuyển đến hội trường để tranh luận công khai. Tại Thượng viện, các quy định cho phép tranh luận hầu như không hạn chế. Nhưng tại Hạ viện, do có số lượng thành viên lớn, Uỷ ban quy chế thường đặt ra các giới hạn. Khi cuộc tranh cãi chấm dứt, các thành viên bỏ phiếu thông qua, bác bỏ, hoãn lại việc xem xét dự luật - nghĩa là gác dự luật đó sang một bên và như vậy là hầu như bác bỏ nó - hay gửi trả dự luật về ủy ban. Một dự luật được một viện thông qua sẽ được chuyển tới viện kia để xem xét. Nếu dự luật đó bị viện thứ hai sửa đổi thì một ủy ban tham vấn bao gồm thành viên của cả hai viện sẽ cố gắng dung hòa những ý kiến bất đồng.

    Khi đã được cả hai viện thông qua, dự luật sẽ được trình lên tổng thống, vì theo Hiến pháp thì tổng thống phải tác động tới một dự luật để cho nó trở thành luật. Tổng thống có quyền lựa chọn, hoặc ký vào dự luật - nhờ đó nó trở thành luật - hoặc phủ quyết nó. Một dự luật bị tổng thống phủ quyết phải được phê chuẩn lại với hai phần ba số phiếu thuận ở cả hai viện thì mới trở thành luật.

    Tổng thống cũng có quyền khước từ việc ký hay phủ quyết một dự luật. Trong trường hợp đó, dự luật sẽ trở thành luật mà không cần chữ ký của tổng thống sau 10 ngày kể từ khi nó đến tay tổng thống (không tính ngày chủ nhật). Ngoại lệ duy nhất đối với quy định này là khi Quốc hội ngừng họp sau khi trình dự luật lên tổng thống và trước khi thời hạn 10 ngày kết thúc; khi đó sự khước từ của tổng thống đối với bất kỳ hành động nào sẽ phủ định hoàn toàn dự luật - quá trình này được gọi là "ngầm phủ quyết" ("pocket veto").
    Hệ thống các ủy ban của Quốc hội

    Hiến pháp không có quy định cụ thể phải có các ủy ban trong Quốc hội. Tuy nhiên, khi quốc gia phát triển thì mức độ cần thiết phải xem xét các văn bản pháp luật sắp ban hành cũng tăng lên.

    Hệ thống các ủy ban được hình thành từ năm 1789, khi các thành viên Hạ viện tự thấy họ bị sa lầy vào các cuộc thảo luận bất tận về các luật mới được đề xuất. Các ủy ban đầu tiên có nhiệm vụ giải quyết các yêu sách từ hồi Chiến tranh Cách mạng, những con đường và lãnh thổ liên quan tới hệ thống bưu điện, và quan hệ thương mại với các nước khác. Trong suốt nhiều năm, các ủy ban được thành lập và giải thể đáp ứng những thay đổi về chính trị, xã hội và kinh tế. Ví dụ, Uỷ ban Những yêu sách trong Chiến tranh Cách mạng không còn cần thiết nữa, nhưng cả hai viện của Quốc hội đều có một Uỷ ban Các vấn đề về Cựu chiến binh.

    Quốc hội khóa 106 (1999-2000) có 19 ủy ban thường trực ở Hạ viện và 17 ở Thượng viện, cộng với 4 ủy ban chung, thường xuyên, bao gồm các thành viên của cả hai viện: Uỷ ban Thư viện của Quốc hội, Uỷ ban về In ấn, Uỷ ban Thuế và Uỷ ban Kinh tế học. Ngoài ra, mỗi viện có thể chỉ định những tiểu ban đặc biệt, hay lựa chọn ra các ủy ban để nghiên cứu những vấn đề cụ thể. Do khối lượng công việc tăng lên, các ủy ban thường trực lại đẻ ra khoảng 150 tiểu ban.

    Thực ra tất cả các ủy ban này làm gì? Đối với mỗi dự luật - việc dự thảo một dự luật được đưa ra trước Quốc hội - ủy ban chịu trách nhiệm tiến hành điều tra toàn diện đề nghị này. Uỷ ban đó thường tiến hành các cuộc điều trần để thu thập những chứng cứ từ các nhân chứng chuyên môn, trong đó có thể bao gồm các thành viên Quốc hội không nằm trong ủy ban, các quan chức ngành hành pháp, các đại diện của các tổ chức trong khu vực tư nhân và cá nhân các công dân.

    Sau khi thu thập được tất cả các sự kiện, ủy ban sẽ quyết định có nên báo cáo một dự luật mới theo tinh thần ủng hộ hay không, hay kèm theo một khuyến nghị rằng nó phải được sửa đổi trước khi được thông qua. Đôi khi các dự luật sẽ bị gác sang một bên hoặc để lại sau, mà thực tế là chấm dứt việc xem xét nó. Tuy nhiên, khi các dự luật được các ủy ban báo cáo lên và được toàn thể Thươùng viện hay Hạ viện thông qua, thì một ủy ban khác sẽ bắt tay vào công việc, thảo luận bất cứ sự khác biệt nào giữa các văn bản của Thượng viện và Hạ viện về cùng dự luật đó. "Uỷ ban tham vấn" này, bao gồm thành viên của cả hai viện, sẽ hoàn tất một dự luật hội đủ sự thỏa mãn của tất cả các thành viên, sau đó trình lên Thượng viện và Hạ viện để thảo luận lần cuối và bỏ phiếu. Nếu được thông qua, dự luật đó sẽ được trình lên tổng thống để ký.
    Các Uỷ ban thường trực của Quốc hội

    Hạ viện

    * Nông nghiệp
    * Chuẩn chi
    * Ngân hàng và Dịch vụ tài chính
    * Quân lực
    * Ngân sách
    * Thương mại
    * Giáo dục và Lao động
    * Cải cách và Giám sát chính quyền
    * Quản lý nhà ở
    * Quan hệ quốc tế
    * Tư pháp
    * Tài nguyên
    * Luật lệ
    * Khoa học
    * Kinh doanh nhỏ
    * Các chuẩn mực quản lý chính thức
    * Vận tải và kết cấu hạ tầng
    * Các phương thức và phương tiện



    Thượng viện

    * Nông nghiệp, Dinh dưỡng và Lâm nghiệp
    * Chuẩn chi
    * Quân lực
    * Ngân hàng
    * Ngân sách
    * Thương mại, Khoa học và Vận tải
    * Năng lượng và Tài nguyên thiên nhiên
    * Môi trường và Công chính
    * Tài chính
    * Quan hệ đối ngoại
    * Công việc chính phủ
    * Y tế, Giáo dục, Lao động và Hưu trí
    * Các vấn đề của người Anhđiêng
    * Tư pháp
    * Luật lệ và Hành chính
    * Kinh doanh nhỏ
    * Các vấn đề về Cựu chiến binh
    Quyền điều tra của Quốc hội

    Một trong những chức năng không phải lập pháp nhưng quan trọng nhất của Quốc hội là quyền điều tra. Quyền này thường được trao cho các ủy ban - hoặc là các ủy ban thường trực, các ủy ban đặc biệt được thành lập cho một mục đích cụ thể, hoặc các ủy ban chung bao gồm các thành viên của cả hai viện.

    Các cuộc điều tra được tiến hành nhằm thu thập thông tin về sự cần thiết đối với các văn bản pháp lý trong tương lai, thẩm định tính hiệu lực của các luật đã được thông qua, tìm hiểu phẩm chất và hoạt động của các thành viên và các quan chức của các ngành khác, và trong những trường hợp hiếm hoi, đặt cơ sở cho các quá trình buộc tội. Thông thường, các ủy ban dựa vào sự giúp đỡ của các chuyên gia ở bên ngoài trong việc tiến hành các cuộc điều trần có tính chất điều tra và thực hiện những nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể đối với các vấn đề.

    Quyền điều tra có những hệ quả quan trọng. Một trong số đó là quyền công bố các cuộc điều tra và kết quả điều tra. Hầu hết các cuộc điều trần của ủy ban được đưa ra công khai trước công chúng và được phổ biến rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng. Do vậy, các cuộc điều tra của Quốc hội thể hiện một công cụ quan trọng sẵn có cho các nhà lập pháp thông tin tới các công dân và khơi dậy mối quan tâm của dân chúng đối với các vấn đề quốc gia. Các ủy ban của Quốc hội cũng có quyền buộc các nhân chứng không có thiện chí phải đưa ra lời xác nhận, có quyền gọi ra tòa những nhân chứng đã khước từ việc làm chứng về tội đã coi thường Quốc hội và những người đã đưa ra những bằng chứng sai sự thật về tội khai man.

    Các hoạt động không chính thức của Quốc hội

    Trái với hệ thống nghị viện châu Âu, sự lựa chọn và ứng xử của các nhà lập pháp Hoa Kỳ rất ít liên quan tới kỷ luật của trung ương đảng. Mỗi chính đảng chủ yếu ở Mỹ về căn bản là một khối liên minh của các tổ chức địa phương và bang, kết hợp với nhau có chức năng như một đảng quốc gia - Đảng Dân chủ hay Đảng Cộng hòa - trong các cuộc bầu cử tổng thống bốn năm một lần. Do vậy, các thành viên của Quốc hội có được vị trí của họ là nhờ các cử tri đủ tư cách của bang hay ở địa phương của họ, chứ không phải là nhờ ban lãnh đạo đảng quốc gia hay các đồng nghiệp trong Quốc hội. Kết quả là, ứng xử lập pháp của các đại diện và các thượng nghị sĩ có xu hướng mang tính cá thể và có phong cách riêng, phản ánh tính đa dạng của các khối cử tri bầu cử, và quyền tự do bắt nguồn từ chỗ đã tạo dựng được một khối cử tri riêng trung thành.

    Do vậy, Quốc hội là một cơ quan mà quyền lực được chia sẻ đồng đều giữa các thành viên, chứ không phải là một cơ quan có phần đẳng cấp. Quyền lực không chảy từ trên xuống dưới như trong một công ty, mà gần như theo mọi hướng. Quyền lực tập trung chỉ là tối thiểu, do quyền thưởng phạt là không đáng kể. Các chính sách của Quốc hội được đề ra bởi các liên minh chuyển đổi mà có thể thay đổi theo từng vấn đề. Đôi khi, ở những nơi có những áp lực xung đột với nhau - áp lực từ Nhà Trắng và từ các nhóm kinh tế hoặc chủng tộc quan trọng - các nhà lập pháp sẽ sử dụng những quy định về thủ tục để hoãn lại một quyết định nhằm tránh được một khu vực có ảnh hưởng. Một vấn đề có thể được hoãn lại với lý do là ủy ban chịu trách nhiệm về nó đã tổ chức những cuộc điều trần công khai chưa thỏa đáng. Hoặc Quốc hội có thể chỉ đạo một cơ quan chuẩn bị một báo cáo chi tiết trước khi vấn đề được xem xét. Hoặc một biện pháp có thể được một trong hai viện gạt sang một bên ("cho vào ngăn bàn"), do vậy trên thực tế là bác bỏ nó mà không hồi âm bất kỳ một nhận xét nào về nội dung của nó.

    Có những chuẩn mực không chính thức hoặc bất thành văn về ứng xử, thường quy định những bổn phận hay ảnh hưởng của một thành viên cụ thể. "Người trong cuộc", các hạ nghị sĩ và các thượng nghị sĩ đang tập trung vào nhiệm vụ lập pháp của họ, có thể có quyền lực lớn hơn trong hội trường Quốc hội so với những "người ngoài cuộc", những người được công nhận do việc đã nói lên các vấn đề quốc gia. Người ta hy vọng vào các thành viên sẽ có thái độ nhã nhặn đối với các đồng nghiệp của họ và tránh được những sự công kích cá nhân, cho dù chính sách của bên đối kháng với họ có thể cực đoan và khó chịu đến đâu đi nữa. Hơn nữa, ngươứi ta cũng hy vọng họ sẽ chuyên sâu trong một vài lĩnh vực chính sách, chứ không đòi hỏi họ phải có sự am tường đối với toàn bộ những mối quan tâm lập pháp. Những người tuân thủ nghiêm túc các quy định không chính thức này sẽ có phần chắc chắn hơn được bổ nhiệm vào những ủy ban có uy tín hay ít nhất cũng là ủy ban có tác động đến những lợi ích của một bộ phận đáng kể các cử tri của họ.
    Các quyền giám sát của Quốc hội

    Từ điển định nghĩa "giám sát" là "chăm sóc có tính chất theo dõi", và cách tiếp cận này đã tỏ ra là một trong những kỹ thuật hữu hiệu nhất mà Quốc hội sử dụng để gây ảnh hưởng đến ngành hành pháp. Sự giám sát của Quốc hội ngăn ngừa được tình trạng lãng phí và gian lận; bảo vệ quyền tự do công dân và các quyền của cá nhân; đảm bảo hoạt động hành pháp tuân thủ luật pháp; thu thập thông tin để xây dựng các bộ luật và giáo dục công chúng; thẩm định hoạt động hành pháp. Hoạt động giám sát này áp dụng cho các bộ trong Nội các, các cơ quan hành pháp, các ủy ban điều hành và chức vụ tổng thống.

    Chức năng giám sát của Quốc hội có nhiều hình thức:

    * Các cuộc điều tra và điều trần của các ủy ban;
    * Các cuộc tư vấn chính thức với tổng thống và các báo cáo từ tổng thống;
    * Cố vấn và chấp thuận của Thượng viện đối với những sự bổ nhiệm của tổng thống và đối với các hiệp ước;
    * Các thủ tục luận tội ở Hạ viện, và sau đó là các cuộc xét xử ở Thượng viện;
    * Các thủ tục của Thượng viện và Hạ viện theo điều sửa đổi Hiến pháp thứ 25 trong trường hợp tổng thống không có khả năng làm việc, hoặc vị trí phó tổng thống còn để trống;
    * Các cuộc gặp không chính thức của các nhà lập pháp và các quan chức hành pháp;
    * Tư cách thành viên Quốc hội trong các ủy ban của chính phủ;
    * Các công trình nghiên cứu được tiến hành bởi các ủy ban của Quốc hội và các cơ quan hỗ trợ như Văn phòng Ngân sách Quốc hội, Văn phòng Kế toán hay Văn phòng Thẩm định công nghệ - tất cả đều là các công cụ của Quốc hội.

    Quyền giám sát của Quốc hội còn giúp cho việc buộc các quan chức phải rời khỏi cương vị, thay đổi chính sách và bảo đảm các quyền kiểm soát theo luật định đối với hoạt động hành pháp. Ví dụ, năm 1949, các tiểu ban điều tra đặc biệt của Thượng viện đưa ra bằng chứng phơi bày tình trạng tham nhũng trong các quan chức cao cấp của chính quyền Truman. Điều đó đã dẫn đến kết quả là việc tổ chức lại một số cơ quan và lập ra một ủy ban đặc nhiệm của Nhà Trắng để xem xét vấn đề tham nhũng trong chính phủ. Các cuộc điều trần được truyền hình tại Uỷ ban Các quan hệ đối ngoại của Thượng viện vào cuối những năm 60 thế kỷ XX đã giúp phát động phong trào phản đối cuộc chiến tranh ở Việt Nam.

    Cuộc điều tra của Quốc hội năm 1973 về vụ Watergate đã vạch trần việc các quan chức Nhà Trắng sử dụng trái phép địa vị của họ để tạo ra lợi thế chính trị, và thủ tục luận tội của Uỷ ban Tư pháp Hạ viện đối với Tổng thống Richard Nixon vào năm sau đó đã chấm dứt tư cách tổng thống của ông này. Những cuộc điều tra của ủy ban có chọn lọc trong năm 1975 và 1976 đã xác định tình trạng lộng hành nghiêm trọng của các cơ quan tình báo, và đề xuất những văn bản pháp luật mới để kiểm soát một số hoạt động tình báo nhất định.

    Năm 1983, cuộc điều tra của Quốc hội đối với một đề xuất củng cố các hoạt động thanh tra biên giới của Cơ quan Hải quan và Cơ quan Nhập cư và Nhập tịch Hoa Kỳ đã làm phát sinh các vấn đề về quyền của cơ quan hành pháp trong việc tạo ra một sự thay đổi mà không có những văn bản pháp luật mới. Năm 1987, các nỗ lực giám sát đã công bố những vụ vi phạm pháp luật trong việc bí mật bán vũ khí cho Iran của ngành hành pháp, và việc làm sai lệch các khoản lợi nhuận thu được từ vũ khí cho các lực lượng chống chính phủ Nicaragoa, được gọi là các lực lượng đối nghịch. Những phát hiện của Quốc hội đã đưa tới việc đề xuất các văn bản pháp lý nhằm ngăn chặn việc xảy ra những trường hợp tương tự.

    Việc điều tra của một ủy ban lưỡng đảng của Quốc hội và những cuộc điều trần lại Thượng viện sau đó trong hai năm 1996 và 1997 đã khám phá ra những trường hợp lạm dụng và quản lý sai trái trong Cục Thu nhập nội bộ (IRS), cơ quan liên bang chịu trách nhiệm thu thuế thu nhập. Uỷ ban Tài chính Thượng viện đã nghe điều trần của các nhân viên IRS, những người cho rằng họ đã phải chịu những sức ép đòi phải thu những khoản thuế còn chịu lớn đến nỗi những người chịu thuế đôi khi bị quấy rầy, và nghe điều trần của những công dân nói rằng họ đã bị IRS tố cáo một cách sai trái và săn lùng một cách hung hãn vì không nộp thuế. Năm 1998, Quốc hội đã thông qua luật cải cách IRS, lập ra một ban giám sát độc lập và mở rộng những sự bảo vệ đối với người dân nộp thuế, trong đó có việc chuyển gánh nặng phải đưa ra chứng cứ trong những tranh chấp về thuế từ người nộp thuế sang cơ quan IRS.

    Nhiều lần, quyền giám sát của Quốc hội đã tỏ ra là một công cụ kiểm tra thiết yếu trong quá trình theo dõi chức vụ tổng thống và kiểm soát các chính sách công cộng.

  8. The Following User Says Thank You to phithiengia For This Useful Post:


  9. #5
    Tham gia ngày
    28-09-2006
    Bài gởi
    7895
    Thanks
    603
    Thanked 3,786 Times in 1,968 Posts

    Default

    Chương 5: NGÀNH TƯ PHÁP: GIẢI THÍCH HIẾN PHÁP

    "... Ngành tư pháp là ngành bảo vệ quyền tự do và tài sản của chúng ta theo Hiến pháp"
    - Charles Evans Hughes, Chánh án Tòa án Tối cao Hợp chúng quốc Hoa Kỳ,
    Diễn văn đọc tại Elmira, New York, 1907

    Là ngành thứ ba trong chính quyền liên bang, ngành tư pháp, bao gồm một hệ thống tòa án rải trên khắp đất nước, đứng đầu là Tòa án Tối cao Hợp chúng quốc Hoa Kỳ.

    Hệ thống các tòa án của bang đã tồn tại từ trước khi Hiến pháp được dự thảo. Trong số các đại biểu tới dự Hội nghị Lập hiến, đã có nhiều ý kiến tranh cãi về vấn đề liệu một hệ thống tòa án liên bang có cần thiết không, và liệu nó có nên thay thế các tòa án bang không. Cũng giống như trong nhiều vấn đề được tranh luận khác, cuối cùng người ta cũng đạt được một sự thỏa hiệp theo đó tòa án các bang vẫn được duy trì, trong khi Hiến pháp trao cho tòa án liên bang một quyền lực hạn chế. Điều III của Hiến pháp nêu rõ cơ sở của hệ thống tòa án liên bang như sau: "Quyền lực tư pháp của Hợp chúng quốc được trao cho một Tòa án Tối cao và các tòa án cấp dưới mà Quốc hội có thể thiết lập trong một số trường hợp".

    Hệ thống tòa án liên bang

    Với quan điểm chỉ đạo đó, Quốc hội đầu tiên đã chia quốc gia thành các quận và lập ra các tòa án liên bang cho mỗi quận. Từ bước mở đầu đã tiến dần đến cấu trúc hiện nay: Tòa án Tối cao, 13 tòa phúc thẩm, 94 tòa các quận và 2 tòa xét xử đặc biệt. Quốc hội ngày nay vẫn nắm quyền thành lập và bãi bỏ các tòa án liên bang, cũng như quyền quy định số lượng thẩm phán trong hệ thống xét xử liên bang. Tuy nhiên, Quốc hội không được phép bãi bỏ Tòa án Tối cao.

    Quyền tư pháp được mở rộng đối với những trường hợp phát sinh theo Hiến pháp, một đạo luật của Quốc hội, một hiệp ước của Hợp chúng quốc; các trường hợp liên quan tới các đại sứ, công sứ, và lãnh sự của nước ngoài tại Hoa Kỳ, các cuộc tranh cãi trong đó chính quyền Hợp chúng quốc là một bên; và các cuộc tranh cãi giữa các bang (hoặc các công dân của các bang) với nước ngoài (hoặc các công dân hay người dân của nước ấy). Điều sửa đổi Hiến pháp thứ 11 đã loại bỏ khỏi thẩm quyền xét xử của các tòa liên bang những vụ trong đó các công dân ở một bang là nguyên đơn còn chính quyền của một bang khác là bị đơn. Điều sửa đổi này không làm xáo trộn thẩm quyền xét xử của các tòa liên bang đối với các vụ trong đó chính quyền của một bang là nguyên đơn và công dân của một bang khác là bị đơn.

    Quyền của các tòa liên bang mở rộng cả đến các hành vi dân sự đối với những thiệt hại và những trường hợp đền bù khác, cũng như đến các vụ hình sự phát sinh theo luật liên bang. Điều III đã dẫn tới một tập hợp các mối quan hệ giữa các tòa án bang và các tòa án liên bang. Thông thường, các tòa án liên bang không xử các vụ phát sinh theo luật của từng bang riêng lẻ. Tuy nhiên, một số trường hợp mà các tòa liên bang có quyền tài phán cũng có thể được các tòa án bang xét xử và kết án. Do vậy, mỗi hệ thống tòa án này trong một số lĩnh vực đều có quyền tài phán riêng, và trong một số lĩnh vực khác hai hệ thống này lại có quyền tài phán chung.

    Hiến pháp bảo vệ sự độc lập trong xét xử bằng việc quy định rằng các thẩm phán liên bang sẽ tại chức "khi có hạnh kiểm tốt" - trên thực tế là cho tới khi họ chết, nghỉ hưu hay từ chức, mặc dù một thẩm phán nếu phạm pháp trong khi đương chức có thể sẽ bị luận tội giống như đối với tổng thống hay các quan chức khác của chính phủ liên bang. Các thẩm phán của Hợp chúng quốc do tổng thống bổ nhiệm và được Thượng viện phê chuẩn. Quốc hội cũng xác định thang lương của thẩm phán.

    Tòa án Tối cao

    Tòa án Tối cao là tòa án cấp cao nhất của Hợp chúng quốc và là tòa án duy nhất do Hiến pháp đặc biệt lập ra. Quyết định của Tòa án Tối cao thì không thể được chuyển lên phúc thẩm ở bất kỳ tòa án nào khác. Quốc hội có quyền ấn định số thẩm phán trong Tòa án Tối cao, và với những giới hạn được đặt ra, quyết định loại vụ việc nào Tòa án Tối cao có thể xét xử, song Quốc hội không thể thay đổi các quyền mà chính Hiến pháp đã trao cho Tòa án Tối cao.

    Hiến pháp không đề cập đến tiêu chuẩn của các thẩm phán. Mặc dù không có quy định rằng các thẩm phán phải là luật sư, nhưng trong thực tế, tất cả các thẩm phán liên bang và thẩm phán Tòa án Tối cao đều là thành viên của ngành luật.

    Kể từ khi Tòa án Tối cao được thành lập cách đây 200 năm, đến nay đã có hơn 100 thẩm phán Tòa án Tối cao. Tòa án Tối cao ban đầu gồm một chánh án và 5 thẩm phán. Trong 80 năm kế tiếp, con số các thẩm phán thay đổi, cho tới năm 1869 nó được cố định là một chánh án và 8 thẩm phán. Chánh án là quan chức điều hành của Tòa, nhưng khi phán quyết thì chỉ có một phiếu như các thẩm phán.

    Tòa án Tối cao có quyền xét xử nguyên thủy chỉ trong hai loại trường hợp: những vụ liên quan tới các quan chức cao cấp người nước ngoài và những vụ trong đó có một bang là một bên. Tất cả các vụ khác do các tòa ở cấp thấp hơn chuyển lên Tòa án Tối cao.

    Trong số vài nghìn vụ được đệ trình hàng năm, Tòa án Tối cao thường chỉ xử khoảng 150 vụ. Hầu hết các vụ này đều liên quan tới cách hiểu về luật hay ý định của Quốc hội trong việc thông qua một điều luật nào đó. Tuy nhiên, một khối lượng quan trọng trong công việc của Tòa án Tối cao bao gồm việc xác định liệu các đạo luật về lập pháp và hành pháp có tuân thủ Hiến pháp hay không. Quyền thẩm định lại luật như thế không được Hiến pháp quy định cụ thể. Đúng hơn, nó là nguyên lý mà Tòa án Tối cao đã luận ra từ việc đọc Hiến pháp, và đã được nêu lên một cách mạnh mẽ trong vụ kiện mang tính điển tích là vụ Marbury kiện Madison năm 1803. Trong bản tuyên án của vụ này, Tòa án Tối cao cho rằng "một đạo luật về lập pháp đi ngược lại Hiến pháp thì không phải là luật", và nhận xét tiếp rằng "chắc chắn chức trách và nhiệm vụ của Bộ Tư pháp là phải nói rõ luật là gì". Nguyên lý này còn được mở rộng để bao gồm trong đó các hoạt động của chính quyền các bang và địa phương.

    Kết luận của Tòa án Tối cao không cần phải được sự nhất trí hoàn toàn, chỉ cần đa số đơn giản tham gia vào quyết định, miễn sao ít nhất phải đạt được con số tối thiểu hợp pháp là 6 thẩm phán. Trong những quyết định không đạt được sự nhất trí cần thiết, Tòa án Tối cao thường đưa ra một ý kiến của đa số và một ý kiến của thiểu số - hoặc là ý kiến bất đồng - cả hai ý kiến này đều có thể tạo thành cơ sở cho các quyết định tương lai của Tòa. Nhiều khi, các thẩm phán sẽ viết ra những ý kiến nhất trí riêng biệt khi họ nhất trí với một quyết định, nhưng với những lý do không giống những lý do mà đa số viện ra.

    Các tòa án phúc thẩm và tòa án quận

    Cấp cao thứ hai trong việc xét xử liên bang gồm các tòa phúc thẩm, được thiết lập năm 1891 để tạo điều kiện thuận lợi cho việc sắp xếp các vụ xét xử và giảm bớt gánh nặng cho Tòa án Tối cao. Quốc hội đã lập ra 12 tòa phúc thẩm cho các khu vực và Tòa Phúc thẩm Hợp chúng quốc cho liên bang. Số thẩm phán ngồi tại các tòa này chênh lệch nhau rất nhiều (từ 6 cho đến 28 thẩm phán), song hầu hết các khu vực có từ 10 đến 15 thẩm phán.

    Các tòa án phúc thẩm xem xét lại các quyết định của tòa án quận (các tòa xét xử với quyền tài phán liên bang) trong khuôn khổ khu vực của mình. Các tòa án này cũng có quyền xem xét lại các lệnh của các cơ quan quản lý độc lập, trong những trường hợp các cơ chế rà soát nội bộ của các cơ quan đã được sử dụng hết và vẫn còn sự bất đồng đáng kể đối với những quan điểm pháp lý. Ngoài ra, Tòa Phúc thẩm liên bang có quyền tài phán trong cả nước - xét xử phúc thẩm những vụ đặc biệt, như những vụ liên quan đến luật cấp bằng sáng chế và những vụ đã được quyết định bởi những tòa có quyền tài phán đặc biệt, bởi Tòa Thương mại quốc tế và Tòa án về Các yêu sách liên bang.

    Bên dưới các tòa phúc thẩm là các tòa án quận. Năm mươi bang và lãnh thổ của Hợp chúng quốc được chia thành 94 quận sao cho những người liên quan tới việc kiện cáo có thể được hưởng sự xét xử một cách dễ dàng. Mỗi tòa án quận có ít nhất 2 thẩm phán, nhiều tòa có vài thẩm phán, và những quận đông dân nhất có hơn 2 tá thẩm phán. Tuỳ thuộc vào các vụ thụ lý, một thẩm phán của quận này có thể tạm thời làm thẩm phán của một quận khác. Quốc hội ấn định đường ranh giới của các quận theo dân số, diện tích và khối lươùng công việc. Một số bang nhỏ tạo thành một quận, trong khi các bang lớn như New York, California và Texas, mỗi bang có bốn quận.

    Trừ ở quận Columbia, các thẩm phán phải là người cư trú tại quận nơi họ phục vụ lâu dài. Tòa án quận duy trì các phiên xử theo định kỳ ở các thành phố khác nhau trong quận.

    Hầu hết các vụ kiện tụng và tranh chấp do những tòa án này xét xử đều liên quan tới những sai phạm ở cấp liên bang như lạm dụng thư từ, trộm cắp tài sản liên bang, vi phạm các luật về vệ sinh thực phẩm, hoạt động ngân hàng và các hành vi làm tiền giả. Đây là những tòa án liên bang duy nhất nơi các hội thẩm đoàn "lớn" sẽ kết tội những kẻ bị buộc tội, và các hội thẩm đoàn "nhỏ" sẽ quyết định vụ nào đưa ra xử.

    Mỗi quận về mặt tài phán còn có một tòa phá sản Hoa Kỳ, bởi vì Quốc hội đã quyết định rằng các vấn đề phá sản phải được xem xét tại các tòa liên bang chứ không phải tại các tòa án bang. Thông qua quá trình phá sản, các cá nhân hoặc các cơ sở kinh doanh không còn khả năng trả nợ các chủ nợ có thể hoặc yêu cầu thanh toán tài sản dưới sự giám sát của tòa hoặc cải tổ công việc tài chính của mình và đề ra một kế hoạch trả hết nợ.

    Các tòa án đặc biệt

    Ngoài các tòa án liên bang thuộc quyền tài phán chung, đôi khi cũng cần phải thiết lập các tòa án cho những mục đích đặc biệt. Những tòa án này được gọi là tòa án "lập pháp" do chúng được thiết lập bởi hành động của Quốc hội. Các thẩm phán của những tòa án này, cũng giống như đồng nghiệp của họ ở các tòa án liên bang khác, có nhiệm kỳ cả đời, do sự bổ nhiệm của tổng thống và được sự phê chuẩn của Thượng viện.

    Hiện nay, có 2 tòa án đặc biệt có quyền tài phán trong cả nước đối với một số loại nhất định các vụ án. Tòa Thương mại Quốc tế sẽ xử những vụ liên quan đến thương mại và thuế quan quốc tế. Tòa án về Các yêu sách liên bang có quyền tài phán đối với hầu hết các yêu sách về thiệt hại tiền bạc đối với Hợp chúng quốc, những tranh chấp về các hợp đồng liên bang, những việc chính quyền liên bang "chiếm giữ" tài sản riêng một cách không hợp pháp, và nhiều loại yêu sách khác đối với Hợp chúng quốc.

  10. The Following User Says Thank You to phithiengia For This Useful Post:


  11. #6
    Tham gia ngày
    28-09-2006
    Bài gởi
    7895
    Thanks
    603
    Thanked 3,786 Times in 1,968 Posts

    Default

    Chương 6: NHỮNG QUYẾT ĐỊNH QUAN TRỌNG CỦA TÒA ÁN TỐI CAO

    “Tòa nghiêng mình trước những bài học của kinh nghiệm và sức mạnh của lập luận chặt chẽ, thừa nhận rằng tiến trình xét xử và sai lầm, có ích biết bao trong các môn khoa học tự nhiên, cũng thích hợp cả trong chức năng tư pháp"
    - Louis D.Brandeis, Phó chánh án Tòa án Tối cao Hợp chúng quốc,
    vụ Burnet kiện Công ty Coronado Oil and Gas, 1932

    Kể từ ngày Tòa án Tối cao Hợp chúng quốc họp lần đầu năm 1790 đến nay, Tòa đã bày tỏ hàng nghìn ý kiến về mọi vấn đề, từ quyền lực của chính quyền đến các quyền công dân và tự do báo chí. Tuy rằng nhiều trong số những quyết định ít được biết đến và ít được quảng đại công chúng quan tâm, song có một số quyết định nổi bật lên do tác động mà chúng đã có đối với lịch sử nước Mỹ. Dưới đây tóm tắt một số vụ quan trọng nhất.

    Vụ Marbury kiện Madison (1803)

    Thường được coi là quyết định quan trọng nhất trong lịch sử của Tòa án Tối cao, vụ Marbury kiện Madison lập nên một nguyên tắc giám sát tư pháp và quyền lực của Tòa trong việc xác định tính hợp hiến của các hành vi lập pháp và hành pháp.

    Vụ này sinh ra từ một cuộc tranh cãi chính trị diễn ra sau cuộc bầu cử tổng thống năm 1800, trong đó Thomas Jefferson, một người Dân chủ - Cộng hòa, đã đánh bại tổng thống đương nhiệm John Adams, một người chủ trương chế độ liên bang. Trong những ngày cuối cùng của chính quyền Adams, Quốc hội dưới sự khống chế của phái Liên bang đã lập ra một số chức vụ tư pháp, trong đó có 42 thẩm phán hòa giải cho quận Columbia. Thượng viện đã phê chuẩn việc bổ nhiệm này, tổng thống đã ký và trách nhiệm của quốc vụ khanh là đóng dấu và trao những quyết định. Trong lúc vội vã vào những phút cuối cùng, quốc vụ khanh sắp mãn nhiệm quên trao quyết định cho 4 thẩm phán, trong đó có William Marbury.

    Quốc vụ khanh mới dưới quyền của Tổng thống Jefferson là James Madison không chịu trao những quyết định đó vì chính quyền mới tức giận phái Liên bang đã tìm cách gài người của đảng họ vào trong ngành tư pháp. Marbury đã khởi kiện tại Tòa án Tối cao đòi Madison phải trao quyết định cho mình.

    Nếu như Tòa đứng về phía Marbury, Madison có thể vẫn không chịu trao quyết định và Tòa không có cách nào làm cho lệnh của mình được thi hành. Nếu Tòa xử trái với yêu cầu của Marbury thì Tòa có nguy cơ nhượng quyền tư pháp cho người của phái Jefferson bằng cách để cho họ được phép khước từ Marbury chức vụ mà ông được quyền nhận theo pháp lý. Chánh án Tòa án Tối cao John Marshall đã giải quyết thế khó xử này bằng quyết định cho rằng Tòa án Tối cao không có thẩm quyền hành động trong vụ này. Marshall phát biểu rằng Chương 13 của Luật Tư pháp, đạo luật đã trao quyền cho Tòa án Tối cao, là không hợp hiến vì nó đã mở rộng phạm vi tài phán nguyên thủy của Tòa từ phạm vi tài phán đã được chính Hiến pháp xác định. Bằng quyết định không đưa ra quyết định trong vụ này, Tòa án Tối cao đã bảo đảm an toàn cho vị trí của mình là trọng tài cuối cùng của luật pháp.

    Vụ Gibbons kiện Ogden (1824)

    Chính quyền đầu tiên của Hợp chúng quốc theo Điều lệ Liên bang non yếu một phần bởi nó không có quyền điều hành nền kinh tế của đất nước mới này, trong đó có luồng thương mại giữa các bang. Hiến pháp trao cho Quốc hội Hợp chúng quốc quyền "điều hành thương mại... giữa nhiều bang..." nhưng quyền này thường hay bị các bang thách thức khi họ cảnh báo rằng họ muốn giữ lại quyền kiểm soát đối với các vấn đề kinh tế.

    Những năm đầu thế kỷ XIX, bang New York thông qua một đạo luật yêu cầu những người lái tàu thủy đi lại giữa New York và New Jersey phải có giấy phép của New York. Aaron Ogden đã có một giấy phép như vậy, còn Thomas Gibbons thì không. Khi Ogden biết được rằng Gibbons cạnh tranh với mình mà không có giấy phép của New York thì Ogden khởi kiện để chặn tay Gibbons.

    Gibbons có giấy phép liên bang để đi lại trên vùng ven biển theo Điều luật Ven biển năm 1793, nhưng tòa án bang New York lại đồng ý với Ogden là Gibbons đã vi phạm luật pháp vì không có giấy phép của bang New York. Khi Gibbons đưa vấn đề này ra Tòa án Tối cao thì các thẩm phán phê phán luật của New York là không hợp hiến vì nó xâm phạm đến quyền của Quốc hội Hợp chúng quốc được điều hành thương mại. Tòa phán quyết: “ Từ ngữ "điều hành" bản chất nó hàm nghĩa có toàn quyền đối với vấn đề được điều hành. Nó nhất thiết loại trừ hành động của tất cả những ai khác thực hiện cũng hoạt động ấy đối với cũng vấn đề ấy".

    Vụ Dred Scott kiện sandford (1857)

    Dred Scott là một nô lệ mà ông chủ, John Emerson, đã đưa anh từ Missouri, một bang cho phép tồn tại chế độ nô lệ, đến bang Illinois, nơi chế độ nô lệ bị ngăn cấm. Nhiều năm sau, Scott trở lại Missouri cùng với Emerson. Scott tin rằng do anh ta đã sống tại một bang tự do, anh ta không còn bị coi là nô lệ nữa.

    Emerson chết năm 1843, và 3 năm sau, Scott kiện bà quả phụ Emerson để đòi tự do cho mình. Scott đã thắng kiện tại một tòa án ở Missouri năm 1850, nhưng năm 1852, Tòa án Tối cao bang đảo ngược quyết định của tòa cấp dưới. Trong thời gian đó, bà quả phụ Emerson tái giá và Scott trở thành tài sản hợp pháp của anh trai bà là John Sanford (trong biên bản của tòa, viết nhầm là Sandford). Scott khởi kiện Sanford đòi tự do cho mình tại tòa liên bang và tòa này đã phán quyết trái với yêu cầu của Scott vào năm 1854.

    Khi vụ này được đưa lên Tòa án Tối cao, các thẩm phán quyết định rằng Scott đã không trở thành một người tự do với lý do đã sống tại một bang tự do được, và do vậy, với tư cách là một người da đen, Scott không phải là một công dân, và do đó không đủ tư cách khởi kiện tại một tòa án. Quyết định này đã bị chỉ trích rộng rãi, và nó đã góp phần vào việc bầu Abraham Lincoln, một người chống lại chế độ nô lệ, làm tổng thống năm 1860 và đẩy nhanh việc nổ ra Nội chiến trong năm 1861. Vụ án Dred Scott kiện Sandford đã bị đảo ngược bởi Điều sửa đổi Hiến pháp thứ 13 vào năm 1865 bãi bỏ chế độ nô lệ, và bởi Điều sửa đổi Hiến pháp thứ 14 vào năm 1868 trao quyền công dân cho những người trước đây là nô lệ.

    Vụ Ban quan hệ lao động quốc gia (NLRB) kiện công ty thép Jones & Laughlin (1937)

    Trong khi vụ Gibbons kiện Ogden xác lập ưu thế của Quốc hội trong việc điều hành thương mại giữa các bang thì vụ NLRB kiện Công ty Jones & Laughlin mở rộng quyền của Quốc hội từ điều hành thương mại sang điều hành các hoạt động kinh doanh của các ngành công nghiệp tham gia thương mại giữa các bang.

    Công ty Jones & Laughlin, một trong những nhà sản xuất thép lớn nhất đất nước, đã vi phạm Đạo luật quốc gia về quan hệ lao động năm 1935 khi công ty này sa thải 10 nhân viên vì đã tham gia các hoạt động công đoàn. Đạo luật này ngăn cấm nhiều cách ứng xử không công bằng đối với lao động và bênh vực quyền của công nhân được lập ra nghiệp đoàn và thương lượng một cách tập thể. Công ty này không chịu nghe theo một lệnh của NLRB đòi đưa công nân trở lại làm việc. Tòa Phúc thẩm khu vực từ chối việc cưỡng chế thi hành lệnh của NLRB, và Tòa án Tối cao phải xem xét vụ này.

    Vấn đề đặt ra trong vụ này là liệu Quốc hội có quyền điều hành những hoạt động "địa phương" của những công ty tham gia việc buôn bán giữa các bang hay không - nghĩa là những hoạt động diễn ra trong phạm vi một bang. Công ty Jones & Laughlin cho rằng điều kiện trong xưởng máy của họ không ảnh hưởng đến thương mại giữa các bang và do đó không thuộc quyền điều hành của Quốc hội. Tòa án Tối cao không đồng ý với ý kiến đó, cho rằng "việc đình chỉ hoạt động sản xuất này bởi sự tranh chấp trong công nghiệp sẽ có ảnh hưởng hết sức nghiêm trọng đối với thương mại giữa các bang... Kinh nghiệm đã nhiều lần chứng minh rằng việc thừa nhận các nhân viên có quyền tự tổ chức và có đại diện của mình chọn lựa mục tiêu thương lượng tập thể, nhiều khi là một điều kiện thiết yếu để có sự yên bình trong công nghiệp ". Với việc ủng hộ tính hợp hiến của Đạo luật quốc gia về Quan hệ lao động, Tòa án Tối cao đã đưa thắng lợi lại cho một tổ chức nghiệp đoàn và mở đường cho việc chính quyền liên bang đề ra những quy tắc có ảnh hưởng rộng lớn hơn trong công nghiệp.

    Vụ Brown kiện Ban giáo dục (1954)

    Trước khi diễn ra vụ án lịch sử này, nhiều bang và quận Columbia đã thi hành chế độ nhà trường có sự phân biệt chủng tộc theo lệnh của quyết định năm 1896 của Tòa án Tối cao trong vụ Plessy kiện Ferguson, cho phép có sự phân biệt nếu các phương tiện thực thi ngang bằng như nhau. Năm 1951, Oliver Brown ở Topeka, bang Kansas, đã không thừa nhận thuyết "tách rời nhưng ngang bằng" này khi ông khởi kiện ban giám hiệu trường học của thành phố nhân danh đứa con gái lên 8 của mình. Brown muốn con gái mình được theo học tại trường học người da trắng cách nhà ông 5 khối nhà, chứ không phải theo học ở trường người da đen cách xa 21 khối nhà. Nhận thấy hai trường về cơ bản đồng đều nhau, một tòa án liên bang đã quyết định trái với yêu cầu của Brown.

    Trong khi đó, cha mẹ của những trẻ em da đen khác tại các bang South Carolina, Virginia và Delaware cũng khởi kiện tương tự. Tòa án Delaware thấy các trường người da đen chất lượng thấp hơn các trường người da trắng nên đã lệnh cho trẻ em da đen được chuyển đến các trường người da trắng, nhưng các quan chức nhà trường đã nhờ đến quyết định Tòa án Tối cao.

    Tòa đã đồng thời nghe lý lẽ của tất cả các bên. Lý lẽ của nguyên đơn da đen gồm có những số liệu và bằng chứng của các nhà tâm lý học và các nhà khoa học xã hội giải thích tại sao họ nghĩ rằng sự phân biệt đối xử ở đây có hại cho trẻ em da đen. Năm 1954, Tòa án tối cao đã nhất trí cho rằng: "... trong lĩnh vực giáo dục, thuyết "tách rời nhưng ngang bằng" không có chỗ đứng", và quyết định rằng sự phân biệt đối xử trong các trường công đã tước của trẻ em da đen "sự bảo vệ ngang bằng của luật pháp được bảo đảm trong Điều sửa đổi Hiến pháp thứ 14".

    Các vụ Gideon kiện Wainwright (1963) và Miranda kiện Bang Arizona (1966)

    Hai quyết định của Tòa án Tối cao trong thập niên 1960 đã ủng hộ quyền của những người bị tố cáo là phạm tội.

    Clarence Earl Gideon bị bắt giữ vì đã đột nhập vào một phòng bỏ phiếu tại Florida năm 1961. Khi ông yêu cầu tòa cử một luật sư bào chữa cho mình thì thẩm phán khước từ yêu cầu của ông, nói rằng luật pháp bang chỉ yêu cầu cử luật sư trong những vụ trọng án - những vụ án liên quan đến cái chết của một người hoặc đòi hỏi một án tử hình. Gideon tự bào chữa cho mình và bị kết án là có tội. Ơ± trong tù, ông dành nhiều thời gian đến thư viện, nghiên cứu các sách luật và viết một kiến nghị gửi Tòa án Tối cao yêu cầu Tòa xem xét trường hợp của mình. Tòa cho rằng Gideon đã bị tước quyền có một cuộc xét xử công bằng và quyết định rằng các bang đều phải cung cấp luật sư cho những người bị tố cáo phạm tội mà không có khả năng tự mình thuê luật sư. Khi Gideon được xử lại với sự bào chữa của một luật sư thì ông được trắng án.

    Đúng 3 năm sau Tòa án Tối cao quyết định rằng kẻ bị tố cáo phải có quyền có một luật sư từ sớm trước ngày ra tòa. Ernesto Miranda bị kết tội ăn cắp và hiếp dâm tại một tòa án bang ở Arizona. Lời kết tội anh ta căn cứ vào một lời thú tội mà Miranda khai với cảnh sát sau 2 giờ bị thẩm vấn mà không được báo cho biết rằng anh ta có quyền yêu cầu sự có mặt của một luật sư. Trong quyết định của mình, Tòa án Tối cao yêu cầu các sĩ quan cảnh sát khi bắt giữ người phải báo cho người bị bắt giữ biết những điều mà nay được gọi là những lời cảnh báo Miranda, đó là kẻ bị tình nghi có quyền im lặng, rằng những điều anh ta nói ra có thể được dùng để chống lại anh ta, rằng anh ta có thể yêu cầu sự có mặt của một luật sư trong khi bị thẩm vấn, và một luật sư sẽ được cung cấp nếu anh ta không tự thuê được.

    Vụ Miranda kiện bang Arizona là một trong những quyết định nổi tiếng nhất của Tòa án Tối cao, do những lời cảnh báo Miranda đã được thường xuyên đưa lên nổi bật trong phim ảnh và chương trình truyền hình ở Hoa Kỳ. Tuy nhiên, năm 1999 một tòa phúc thẩm liên bang đã không thừa nhận quyết định này trong vụ Dickerson kiện Hợp chúng quốc, trong đó một tên phạm tội cướp nhà băng nói rằng hắn đã không biết đầy đủ các quyền của hắn. Tháng 6-2000, Tòa án Tối cao đã đảo ngược bản án Dickerson bằng một quyết định 7 phiếu trên 2 khẳng định lại mạnh mẽ giá trị của vụ Miranda.

    Vụ Thời báo New York kiện Sullivan (1964)

    Điều sửa đổi thứ nhất trong Hiến pháp Hợp chúng quốc bảo đảm quyền tự do báo chí, nhưng trong nhiều năm Tòa án Tối cao không chịu sử dụng Điều sửa đổi thứ nhất này để bênh vực các phương tiện thông tin báo chí chống lại những vụ kiện về tội phỉ báng - những vụ kiện căn cứ trên việc đăng những thông tin sai làm hại đến uy tín của cá nhân. Quyết định của Tòa án Tối cao trong vụ Thời báo New York kiện Sullivan đã làm đảo lộn luật về tội phỉ báng tại Hợp chúng quốc bằng cách quyết định rằng các quan chức nhà nước không thể khiếu kiện thành công về tội phỉ báng đơn giản bằng cách chứng minh rằng thông tin được đăng đó là sai. Tòa quyết định rằng ngươứi khiếu kiện còn phải chứng minh rằng các phóng viên hoặc biên tập viên đã hành động "cố tình ác ý" và đã đăng những thông tin "một cách bừa bãi, không đếm xỉa là nó sai hay không".

    Vụ này phát sinh do có một trang quảng cáo trên tờ Thời báo New York do Hội nghị Ban lãnh đạo Thiên Chúa giáo miền Nam (Southern Christian Leadership Conference) gửi đăng để quyên tiền ủng hộ việc bào chữa cho lãnh tụ nhân quyền Martin Luther King, Jr., sau khi ông này bị bắt giữ tại Alabama năm 1960. L.B. Sullivan, cảnh sát trưởng thành phố Montgomery, bang Alabama, phụ trách sở cảnh sát, cho rằng lời quảng cáo này đã phỉ báng ông ta bằng cách miêu tả sai những hành động của lực lượng cảnh sát thành phố. Sullivan khởi kiện 4 giáo sĩ đã cho đăng lời quảng cáo này và tờ Thời báo New York vì đã không kiểm tra tính chính xác của lời quảng cáo.

    Trang quảng cáo quả có chứa đựng một số điều không chính xác, và một đoàn bồi thẩm đã cho Sullivan được hưởng 500.000 đôla bồi thường. Tờ Thời báo New York và các lãnh tụ nhân quyền kháng cáo lên Tòa án Tối cao và Tòa này đã nhất trí phán quyết ủng hộ họ. Tòa án Tối cao quyết định rằng luật về tội phỉ báng không thể áp dụng "để áp đặt sự trừng phạt đối với việc thể hiện lời chỉ trích hành vi chính thức của các quan chức nhà nước", và việc đòi phải bảo đảm tính chính xác của những điều phát biểu của họ sẽ dẫn đến việc tự kiểm duyệt. Tòa án Tối cao không thấy có bằng chứng nào cho thấy tờ Thời báo New York hoặc các giáo sĩ kia đã “ cố tình ác ý” khi cho đăng lời quảng cáo này.

  12. The Following User Says Thank You to phithiengia For This Useful Post:


  13. #7
    Tham gia ngày
    28-09-2006
    Bài gởi
    7895
    Thanks
    603
    Thanked 3,786 Times in 1,968 Posts

    Default

    Chương 7: MỘT ĐẤT NƯỚC NHIỀU CHÍNH QUYỀN

    "Những quyền mà Hiến pháp không trao cho Liên bang cũng không ngăn cấm đối với các bang, thì được dành cho các bang cụ thể, hoặc cho nhân dân"
    - Hiến pháp Hợp chúng quốc, Điều sửa đổi thứ mười, 1789

    Thực thể liên bang mà Hiến pháp tạo ra là một đặc trưng hết sức nổi bật của hệ thống chính quyền Mỹ. Nhưng bản thân hệ thống này trên thực tế cũng là một cấu trúc được lắp ghép từ hàng nghìn đơn vị nhỏ hơn - những khối lắp ghép cùng nhau tạo nên một tổng thể. Có 50 chính quyền bang cộng với chính quyền của quận Columbia, và dưới nữa vẫn còn các đơn vị nhỏ hơn điều hành các hạt, thành phố, thị trấn và các làng xã.

    Có thể hiểu đầy đủ về hệ thống đơn vị chính quyền nhiều cấp này xét về phương diện sự tiến hóa của Hợp chúng quốc Hoa Kỳ. Hệ thống liên bang, như được thấy, là bước tiến mới nhất của một quá trình tiến hóa. Trước khi Hiến pháp ra đời, có chính quyền của các thuộc địa riêng rẽ (sau này trở thành các bang) và trước khi có chính quyền thuộc địa thì có chính quyền các hạt và các đơn vị nhỏ hơn. Một trong những nhiệm vụ đầu tiên mà những người Anh định cư đã hoàn thành là tạo ra các đơn vị chính quyền cho các khu định cư nhỏ mà họ thiết lập trên bờ Đại Tây Dương. Ngay trước khi những tín đồ Thanh giáo Anh đổ bộ lên bờ vào năm 1620, họ đã soạn thảo Hiệp ước Mayflower, văn bản Hiến pháp đầu tiên của nước Mỹ. Và khi quốc gia mới được đẩy dần về phía tây, mỗi khu định cư mới trên đường biên giới lại lập ra một chính quyền riêng để giải quyết các vấn đề của mình.

    Những người soạn thảo Hiến pháp Hợp chúng quốc đã không đả động tới hệ thống chính quyền đa cấp này. Trong khi vẫn coi cơ cấu quốc gia là quan trọng nhất, họ đã thừa nhận một cách khôn ngoan sự cần thiết phải có một loạt cấp chính quyền có quan hệ trực tiếp hơn với dân chúng và thích ứng một cách nhạy bén hơn với các nhu cầu của họ. Do vậy, các chức năng nhất định, như quốc phòng, quản lý tiền tệ và các quan hệ đối ngoại, chỉ có thể được kiểm soát bởi một chính phủ mạnh, tập trung hóa. Nhưng những vấn đề khác, như hệ thống vệ sinh, giáo dục và giao thông vận tải địa phương, chủ yếu thuộc phạm vi quyền xử lý của địa phương.

    Chính quyền bang

    Trước khi giành được độc lập, các thuộc địa bị Hoàng gia Anh cai trị một cách riêng rẽ. Trong những năm đầu của nền cộng hòa, trước khi Hiến pháp được thông qua, mỗi bang gần như là một đơn vị tự trị. Các đại biểu dự Hội nghị Lập hiến đã tìm kiếm một liên minh liên bang mạnh mẽ hơn và có sức sống hơn, tuy nhiên họ cũng có nguyện vọng bảo vệ các quyền của bang.

    Nói chung, những vấn đề hoàn toàn nằm trong khuôn khổ đường biên giới bang là mối quan tâm riêng của mỗi chính quyền bang. Những vấn đề ấy gồm có hệ thống thông tin liên lạc nội bang; các quy chế liên quan đến quyền sở hữu, công nghiệp, kinh doanh và các ngành công ích; luật hình sự của bang; và các điều kiện lao động trong bang. Trong bối cảnh đó, chính phủ liên bang đòi hỏi chính quyền các bang phải mang hình thức dân chủ, và chính phủ liên bang không chấp nhận bất kỳ luật lệ nào mâu thuẫn hoặc vi phạm Hiến pháp liên bang hay các luật và các hiệp ước của Hợp chúng quốc.

    Tất nhiên có nhiều lĩnh vực còn chồng chéo giữa phạm vi quyền lực pháp lý của bang và liên bang. Đặc biệt trong những năm gần đây, chính phủ liên bang đã đảm nhận trách nhiệm ngày càng lớn trong các vấn đề như y tế, giáo dục, phúc lợi, giao thông vận tải, xây dựng nhà ở và phát triển đô thị. Tuy nhiên ở những nơi chính phủ liên bang thực thi những trách nhiệm như vậy trong các bang, các chương trình thường được thông qua dựa trên cơ sở hợp tác giữa hai cấp chính quyền, chứ không phải là một sự áp đặt từ trên xuống.

    Cũng giống như chính quyền quốc gia, chính quyền bang có ba ngành: hành pháp, lập pháp và tư pháp; chúng gần như tương đương về chức năng và phạm vi với các ngành đồng nhiệm cấp quốc gia. Quan chức hành pháp cao nhất của bang là thống đốc, do dân chúng bầu chọn, thường với nhiệm kỳ bốn năm (mặc dù ở một vài bang nhiệm kỳ là hai năm). Trừ Nebraska là bang có một cơ quan lập pháp đơn, còn tất cả các bang đều có cơ quan lập pháp gồm hai viện, viện cao hơn thường được gọi là Thượng viện, và viện thấp hơn thường được gọi là Hạ viện, Viện Đại biểu hay Đại hội đồng bang. Trong hầu hết các bang, thượng nghị sĩ có nhiệm kỳ bốn năm và hạ nghị sĩ có nhiệm kỳ hai năm.

    Hiến pháp của các bang có sự khác nhau ở một số chi tiết nhưng nhìn chung đều theo một khuôn mẫu giống như khuôn mẫu của Hiến pháp liên bang, gồm một tuyên bố về các quyền của nhân dân và một phương án tổ chức chính quyền. Về những vấn đề như hoạt động của các doanh nghiệp, ngân hàng, các ngành công ích và các tổ chức từ thiện, Hiến pháp bang thường chi tiết hơn và rõ ràng hơn Hiến pháp liên bang. Tuy nhiên, hiến pháp mỗi bang đều quy định rằng quyền tối cao là thuộc về nhân dân, và thiết lập các tiêu chuẩn, nguyên tắc nhất định làm nền tảng của chính quyền.

    Chính quyền thành phố

    Đã có thời ở Hoa Kỳ chủ yếu là nông thôn. Ngày nay, Hợp chúng quốc là một quốc gia đô thị hóa cao độ, với khoảng 80% dân số hiện sống ở các thị trấn, các thành phố lớn hay các vùng ngoại ô. Những con số thống kê này cho thấy chính quyền các thành phố là vô cùng quan trọng trong khuôn mẫu tổng thể của chính quyền Mỹ. Ơ± một mức độ lớn hơn so với cấp liên bang hay cấp bang, thành phố phục vụ trực tiếp các nhu cầu của dân chúng, cung cấp tất cả mọi thứ, từ cảnh sát, phòng cháy chữa cháy tới các quy tắc vệ sinh, các quy định về y tế, giáo dục, giao thông vận tải công cộng và xây dựng nhà cửa.

    Công việc điều hành các thành phố lớn ở Mỹ vô cùng phức tạp. Chỉ nói riêng về mặt dân số, thành phố New York có số dân lớn hơn 41 trong 50 bang. Người ta thường nói rằng sau chức vụ tổng thống, vị trí lãnh đạo khó khăn nhất đất nước là vị trí thị trưởng thành phố New York.

    Chính quyền thành phố được bang trao cho các đặc quyền, và bản hiến chương của thành phố thể hiện chi tiết các mục tiêu và quyền hạn của chính quyền thành phố. Nhưng trên nhiều khía cạnh, các thành phố có chức năng độc lập với bang. Tuy nhiên, đối với hầu hết các thành phố lớn, sự hợp tác với các tổ chức của bang và liên bang là rất quan trọng để đáp ứng được nhu cầu của cư dân.

    Các loại hình chính quyền thành phố trên toàn quốc khác nhau rất nhiều. Tuy nhiên, hầu như tất cả các chính quyền đều có một loại hội đồng trung tâm nào đó do cử tri lựa chọn bầu ra, và một quan chức điều hành được sự hỗ trợ của những người đứng đầu các sở (ban, ngành) để giải quyết các vấn đề của thành phố.

    Có ba dạng tổng quát của chính quyền thành phố: thị trưởng - hội đồng, ủy ban và nhà quản lý thành phố. Đây là những hình thái thuần tuý; nhiều thành phố đã phát triển một mô hình kết hợp hai hay ba hình thái đó.

    Thị trưởng - Hội đồng: Đây là hình thái lâu đời nhất của chính quyền thành phố tại Hợp chúng quốc, và cho tới đầu thế kỷ XX, nó được hầu hết các thành phố ở Mỹ áp dụng. Cơ cấu của nó tương tự cơ cấu của chính quyền bang và quốc gia, với một thị trươỷng đắc cử là người đứng đầu ngành hành pháp, và một hội đồng được bầu ra, đại diện cho các vùng lân cận, hình thành nên ngành lập pháp. Thị trưởng bổ nhiệm những người đứng đầu các sở của thành phố và các quan chức khác, đôi khi với sự phê chuẩn của hội đồng. Thị trưởng có quyền phủ quyết các sắc lệnh của thành phố và thường xuyên chịu trách nhiệm chuẩn bị ngân sách của thành phố. Hội đồng thành phố phê chuẩn các sắc lệnh, các luật lệ của thành phố, ấn định thuế suất trên tài sản và phân chia ngân sách giữa các ngành khác nhau của thành phố.

    Uỷ ban: Hình thái này kết hợp hai chức năng lập pháp và hành pháp trong một nhóm quan chức, thường là ba người hay nhiều hơn, được bầu ra trên phạm vi toàn thành phố. Mỗi ủy viên của ủy an này giám sát hoạt động của một hay nhiều sở của thành phố. Một người được chỉ định là người đứng đầu của tổ chức này và thường được gọi là thị trưởng, mặc dù quyền lực của thị trưởng chỉ tương đương quyền của các ủy viên đồng nhiệm khác trong ủy ban.

    Nhà quản lý thành phố: Nhà quản lý thành phố là một sự đáp ứng đối với tình trạng ngày càng phức tạp của các vấn đề đô thị đòi hỏi có sự tinh thông về quản lý mà thường không có được ở các quan chức được bầu chọn. Giải pháp cho vấn đề đó là ủy thác hầu hết quyền hành pháp, bao gồm việc cưỡng chế thực thi pháp luật và việc cung cấp các dịch vụ, cho một nhà quản lý thành phố có tính chuyên nghiệp, có kinh nghiệm và được đào tạo cẩn thận.

    Phương án nhà quản lý thành phố đã ngày càng được nhiều thành phố chấp nhận. Theo phương án này, một hội đồng nhỏ được bầu ra để soạn thảo các sắc lệnh cũng như hệ chính sách của thành phố, nhưng hội đồng này sẽ thuê một nhà quản lý hành chính được trả lương, còn gọi là nhà quản lý thành phố, để thực thi các quyết định của hội đồng. Nhà quản lý lập ra ngân sách thành phố và giám sát hầu hết các sở. Thông thường, nhiệm kỳ quản lý không được quy định; nhà quản lý sẽ còn làm việc chừng nào hội đồng vẫn hài lòng với công việc của ông hay bà ta.

    Chính quyền hạt

    Hạt là đơn vị hành chính dưới bang, thường bao gồm hai thị trấn hoặc nhiều hơn và một số làng xã, nhưng không nhất thiết là như vậy. Thành phố New York quá lớn nên được chia thành năm khu hành chính riêng biệt, mỗi khu thực sự là một hạt: Bronx, Manhattan, Brooklyn, Queens và Staten Island. Mặt khác, hạt Arlington, Virginia, nằm ở bờ bên kia sông Potomac nhìn từ thủ đô Washington, D.C., là khu vực vừa đô thị vừa ngoại ô, được điều hành bởi một cơ quan hành chính hạt thống nhất.

    Ở hầu hết các hạt của Hợp chúng quốc thường có một thị trấn hay một thành phố được quy định là trung tâm của hạt, nơi đóng trụ sở của các cơ quan chính quyền và là địa điểm hội họp của hội đồng các ủy viên ủy ban và các giám sát viên. Ơ± các hạt nhỏ, hội đồng này do toàn hạt lựa chọn; ở các hạt lớn, các giám sát viên đại diện cho các quận hay các thị trấn riêng biệt. Hội đồng sẽ đánh thuế, vay mượn và phân bổ ngân sách, ấn định mức lương cho các nhân viên của hạt, giám sát các cuộc bầu cử, xây dựng và bảo trì đường cao tốc và cầu, quản lý các chương trình phúc lợi cấp quốc gia, bang và hạt.

    Chính quyền thị trấn và làng xã

    Hàng ngàn khu vực thực thi quyền lực pháp lý ở đô thị quá nhỏ nên không đủ tiêu chuẩn để trở thành chính quyền thành phố. Những đơn vị này được trao quyền với tư cách là các thị trấn và làng xã, và giải quyết những nhu cầu mang tính địa phương hạn hẹp, như lát đường và chiếu sáng đường phố; đảm bảo cung cấp nước; cung cấp lực lượng cảnh sát và phương tiện phòng cháy chữa cháy; thiết lập các quy chế y tế địa phương; bố trí các bãi chứa rác và các chất phế thải khác, hệ thống cống rãnh; thu thuế địa phương để hỗ trợ các hoạt động của chính quyền; hợp tác với bang và hạt trong việc trực tiếp quản lý hệ thống trường học địa phương.

    Chính quyền thường được giao phó cho một ban hay hội đồng dân cử, có thể được gọi với nhiều tên khác nhau: hội đồng thị trấn hay làng xã, hội đồng những người được lựa chọn, hội đồng giám sát viên, hội đồng các ủy viên ủy ban. Hội đồng có thể có chủ tịch hay người đứng đầu có chức năng như một quan chức điều hành chính, hoặc có thể là một thị trưởng dân cử. Những người làm việc cho chính quyền có thể bao gồm các thư ký, thủ quỹ, cảnh sát, các nhân viên cứu hỏa, nhân viên phúc lợi và y tế.

    Một khía cạnh độc đáo của chính quyền địa phương, thường thấy ở hầu hết vùng New England của Hợp chúng quốc, là "cuộc họp thị trấn". Mỗi năm một lần - đôi khi nhiều hơn nếu cần thiết - các cử tri có đăng ký của thị trấn lại họp phiên mở rộng để bầu các quan chức, thảo luận các vấn đề địa phương và thông qua các luật lệ hoạt động của chính quyền. Với tư cách một cơ quan, các cuộc họp này quyết định việc xây dựng và sửa chữa đường sá, xây dựng các cao ốc và những phương tiện công cộng, quyết định thuế suất và ngân sách thị trấn. Cuộc họp thị trấn, đã tồn tại qua hơn hai thế kỷ này, thường được dẫn ra như hình thái thuần túy nhất của nền dân chủ trực tiếp, trong đó quyền lực chính quyền không được ủy thác, mà được thực thi trực tiếp và thường xuyên bởi tất cả mọi người dân.

    Các chính quyền địa phương khác

    Chính quyền liên bang, bang và địa phương được đề cập ở đây tuyệt nhiên không bao gồm toàn bộ các đơn vị chính quyền Mỹ. Cục Điều tra dân số (thuộc Bộ Thương mại) đã xác nhận có không dưới 84.955 đơn vị chính quyền địa phương trên toàn Hợp chúng quốc, gồm các hạt, thị trấn, tiểu thị trấn, các khu hành chính - giáo dục, và các đặc khu.

    Người dân Mỹ đã dựa vào chính quyền của họ để thực hiện nhiều loại nhiệm vụ khác nhau mà trong những ngày đầu của nền cộng hòa dân chúng đã phải tự làm cho bản thân. Dưới thời thuộc địa, có rất ít cảnh sát và nhân viên cứu hỏa, ngay cả ở những thành phố lớn; chính quyền không cung cấp dịch vụ chiếu sáng đường phố cũng như làm sạch đường phố. Ơ± một mức độ lớn, người dân tự bảo vệ tài sản của mình và đáp ứng các nhu cầu của gia đình mình.

    Ngày nay, việc đáp ứng những nhu cầu đó được coi là trách nhiệm của cả cộng đồng, thực hiện thông qua chính quyền. Ngay cả trong các thị trấn nhỏ, các chức năng của lực lượng cảnh sát, cứu hỏa, các phòng phúc lợi và y tế đều do chính quyền thực hiện. Do vậy, đó cũng là hàng loạt vấn đề thực thi pháp luật khiến cho người ta lúng túng.

  14. The Following User Says Thank You to phithiengia For This Useful Post:


  15. #8
    Tham gia ngày
    28-09-2006
    Bài gởi
    7895
    Thanks
    603
    Thanked 3,786 Times in 1,968 Posts

    Default

    Chương 8: CHÍNH QUYỀN CỦA NHÂN DÂN: VAI TRÒ CỦA CÔNG DÂN

    "Chức năng của công dân là giữ cho chính quyền khỏi rơi vào sai lầm"
    - Robert H. Jackson, Phó chánh án Tòa án Tối cao Hợp chúng quốc,
    vụ Hội Truyền thông Mỹ kiện Douds, 1950

    Với việc soạn thảo Hiến pháp Hợp chúng quốc năm 1787, các Nhà khai quốc của nước này đã lập ra một hệ thống chính quyền mới. Ý tưởng đằng sau hệ thống đó - hoàn toàn mang tính cách mạng ở thời bấy giờ - thoạt nhìn có vẻ đơn giản và rõ ràng. Quyền cai quản đến thẳng từ nhân dân, không phải do thế tập hay bằng sức mạnh của vũ khí, mà thông qua những cuộc bầu cử tự do và công khai của công dân Hợp chúng quốc Hoa Kỳ. Trên lý thuyết có vẻ dễ dàng và thẳng tắp, song trong thực tiễn vấn đề còn xa mới được khép gọn. Điều phức tạp ngay từ buổi ban đầu là vấn đề quyền bầu cử: ai được phép bỏ phiếu, và ai không được phép.

    Đương nhiên, các Nhà khai quốc là những con người của thời đại mình. Theo họ, hiển nhiên là chỉ những người có quyền lợi trong xã hội mới có tiếng nói quyết định ai sẽ là người cai quản xã hội đó. Họ tin rằng, do chính quyền được lập ra để bảo vệ tài sản và tự do cá nhân, những ai tham gia vào việc lựa chọn đó phải có đôi chút gì của cả hai thứ này.

    Lúc bấy giờ điều đó có nghĩa là chỉ những người đàn ông da trắng theo đạo Tin Lành có tài sản mới được bầu cử. Phụ nữ không, người nghèo không, tôi tớ làm thuê không, người theo đạo Thiên Chúa và Do Thái không, nô lệ từ châu Phi hay người bản địa Mỹ không. Nhà sử học Michael Schudson viết: "Cũng như nô lệ và tôi tớ, phụ nữ được xác định bởi sự lệ thuộc của họ. Tư cách công dân chỉ thuộc về những ai làm chủ cuộc sống của mình” . Do những hạn chế đó, chỉ có khoảng 6% số dân của Hợp chúng quốc Hoa Kỳ vừa mới ra đời lựa chọn George Washington làm vị tổng thống đầu tiên của nước này năm 1789.

    Cho dù những người Mỹ mới này tự hào về việc họ đã rũ bỏ chế độ quân chủ và qúy tộc, người dân "thường" ban đầu vẫn tiếp tục trọng vọng tầng lớp "cao sang". Vì vậy, thành viên các gia đình giàu có và có những mối quan hệ cao sang thường giành được những chức vụ chính trị mà không mấy bị phản đối. Tuy nhiên, tình trạng đó không kéo dài. Khái niệm dân chủ, tỏ ra mãnh liệt đến nỗi không thể kiềm chế được nó, và những người không thật giàu lắm và không thật có những quan hệ cao sang lắm bắt đầu tin rằng cả họ nữa cũng phải có cơ hội giúp vào việc cai quản công việc.

    Mở rộng quyền bầu cử

    Trong suốt thế kỷ XIX, sân khấu chính trị tại Hợp chúng quốc, một cách chậm chạp nhưng không gì ngăn lại được, bắt đầu mở rộng hơn. Những cách làm cũ bị bãi bỏ, những nhóm trước kia bị gạt ra ngoài nay tham gia vào tiến trình chính trị, và quyền bầu cử, dần dần từng bước, được mở rộng ra cho ngày một nhiều người hơn. Trước hết là việc loại bỏ những hạn chế về mặt tôn giáo và sở hữu tài sản, khiến cho đến giữa thế kỷ, hầu hết những người đàn ông da trắng trưởng thành đều có thể đi bầu.

    Tiếp đến, sau cuộc Nội chiến (1861-1865) về vấn đề chế độ nô lệ, ba điều sửa đổi Hiến pháp Hợp chúng quốc đã làm thay đổi đáng kể quy mô và bản chất nền dân chủ Mỹ. Điều sửa đổi thứ 13, được phê chuẩn năm 1865, bãi bỏ chế độ nô lệ. Điều sửa đổi thứ 14, được phê chuẩn năm 1868, tuyên bố rằng sinh ra hoặc nhập quốc tịch Hợp chúng quốc đều là công dân của nước này và của bang trong đó họ sinh sống và do đó các quyền của họ về sinh sống, tự do, sở hữu tài sản, và quyền được sự che chở bình đẳng của pháp luật sẽ được chính quyền liên bang thực thi. Điều sửa đổi thứ 15, được phê chuẩn năm 1870, ngăn cấm các chính quyền liên bang hoặc bang có sự phân biệt đối xử đối với các cử tri có thể có với lý do chủng tộc, màu da hay điều kiện nô lệ trước đây.

    Cái từ then chốt "giới tính" đã được để ngoài danh sách này, không phải vì bị lãng quên; do đó, phụ nữ tiếp tục không được đi bỏ phiếu. Việc mở rộng quyền bầu cử để bao gồm cả những nô lệ cũ đã đem lại một sức sống mới cho chiến dịch âm ỉ lâu đòi quyền bầu cử cho phụ nữ. Cuộc chiến đấu này cuối cùng đã giành được thắng lợi vào năm 1920, khi Điều sửa đổi thứ 19 nói rằng không được khước từ quyền bỏ phiếu "vì lý do giới tính".
    Các chính đảng

    Nhiều người trong số các Nhà khai quốc của Mỹ căm ghét ý nghĩ về chính đảng, các "phe phái" tranh cãi nhau mà họ tin rằng chúng chỉ quan tâm đến việc tranh giành nhau hơn là làm việc vì sự tốt đẹp chung. Họ mong muốn cá nhân các công dân bỏ phiếu cho các ứng cử viên riêng lẻ, không có sự can thiệp của các nhóm có tổ chức - nhưng điều đó sẽ không thể diễn ra.

    Trong những năm 1790, những ý kiến khác nhau về con đường thích hợp của đất nước mới này đã được phát triển và những ngươứi có những quan điểm đối lập nhau này đã tìm cách giành sự ủng hộ cho sự nghiệp của mình bằng cách tập hợp lại với nhau. Những người đi theo Alexander Hamilton tự gọi mình là Những người chủ trương chế độ liên bang. Họ tán thành một chính quyền trung ương hùng mạnh hậu thuẫn cho những lợi ích của thương mại và công nghiệp. Những người thuộc phái Thomas Jefferson tự gọi là Dân chủ - Cộng hòa, họ tán thành một nền cộng hòa điền địa phi tập trung, trong đó chính quyền liên bang có quyền lực hạn chế. Đến năm 1828, Những người chủ trương chế độ liên bang biến mất như một tổ chức, thay thế bằng phái Whig, được lập ra để chống lại việc bầu cử Tổng thống Andrew Jackson năm đó. Những người Dân chủ - Cộng hòa trở thành những người Dân chủ và ra đời chế độ hai đảng, vẫn còn tồn tại đến ngày nay.

    Trong thập niên 1850, vấn đề chế độ nô lệ ở vào vị trí trung tâm, với bất đồng đặc biệt về vấn đề chế độ nô lệ có được phép tồn tại hay không tại những lãnh thổ mới của nước này ở miền Tây. Đảng Whig có lập trường chia rẽ và do đó bị mất đi và bị thay thế trong năm 1854 bằng Đảng Cộng hòa mà chính sách hàng đầu là chế độ nô lệ phải được loại trừ khỏi mọi lãnh thổ. Đúng 6 năm sau, đảng mới này đã giành được chức tổng thống khi Abraham Lincoln thắng cử năm 1860. Đến khi đó, các đảng đã được thiết lập vững chắc như là những tổ chức chính trị áp đảo của nước này, và đứng về phía đảng nào đã trở thành một phần quan trọng trong ý thức của hầu hết người dân. Sự trung thành đối với đảng được truyền từ đời cha đến đời con và các hoạt động của đảng - bao gồm những cuộc vận động tranh cử vang dội, bổ sung bằng những nhóm diễu hành đồng phục - là một phần của đời sống xã hội trong nhiều cộng đồng.

    Tuy nhiên, đến thập niên 1920, không khí dân đã ồn ào này đã giảm đi. Các cải cách thị chính, cải cách dân sự, các đạo luật chống những thông lệ tham nhũng và các cuộc bầu cử sơ bộ tổng thống thay thế cho thế lực của các chính khách tại các đại hội đảng toàn quốc, tất cả những điều đó đều đã góp phần làm trong sạch bầu không khí chính trị, và làm cho nó bớt nhộn nhạo khá nhiều.

    Tại sao đất nước này lại đi đến kết cuộc chỉ với hai chính đảng? Hầu hết các quan chức tại Mỹ được bầu lên từ những quận chỉ có một thành viên và giành được chức vụ bằng cách đánh bại đối thủ trong một chế độ xác định kẻ thắng gọi là "người đứng đầu giành chức vụ" - ai giành được nhiều phiếu bầu nhất thì thắng cử, và không có việc kiểm phiếu theo tỷ lệ. điều đó khuyến khích việc tạo ra một tình trạng hai cực: đảng này cầm quyền thì đảng kia bị gạt ra ngoài. Nếu những kẻ bị gạt ra ngoài tập hợp lại với nhau thì họ có nhiều khả năng đánh bại những kẻ đang "ngồi ở ghế" nhiều hơn.

    Đôi khi xuất hiện những đảng thứ ba và những đảng này nhận được một phần số phiếu bầu, ít nhất trong một thời gian. Đảng thứ ba thành công nhất trong những năm gần đây là Đảng Cải cách của H. Ross Perot, đã giành được đôi chút thắng lợi trong hai cuộc bầu cử tổng thống năm 1992 và 1996. Jesse Ventura đã trở thành ứng cử viên đầu tiên của Đảng Cải cách giành được một chức vụ trong toàn bang khi ông được bầu làm thống đốc bang Minnesota năm 1998. Tuy nhiên, các đảng thứ ba đã phải vất vả mới sống sót được vì một hoặc cả hai đảng lớn kia thường giành lấy những chủ đề tranh cử được lòng dân nhất của họ, và do đó giành luôn cả cử tri.

    Trong cuốn sách Các bài viết chủ trương chế độ liên bang mới: Tiểu luận bênh vực Hiến pháp, giáo sư khoa học chính trị Nelson W. Polsby viết: "Tại Mỹ, những nhãn hiệu chính trị như nhau - Dân chủ và Cộng hòa - được dán lên hầu như mọi nhân vật được bầu vào các chức vụ công cộng, và do đó hầu hết cử tri ở mọi nơi đều được động viên nhân danh hai đảng này. Thế nhưng Đảng Dân chủ và Đảng Cộng hòa không phải đâu đâu cũng như nhau. Những biến thể - đôi khi tinh tế, đôi khi dễ thấy ngay - trong 50 nền văn hóa chính trị của các bang đem lại nói chung những khác biệt rất lớn trong cái được mang tên để tồn tại, hoặc để nhận phiếu bầu, đó là Dân chủ hay Cộng hoà".
    Điều mỉa mai là, đến thời điểm đó, tình hình lại bị đảo ngược. Phụ nữ đã được đi bầu, nhưng nhiều người Mỹ da đen lại không được đi bầu. Bắt đầu từ thập niên 1890, người da trắng miền Nam đã nhất loạt loại bỏ người da đen khỏi danh sách cử tri thông qua những quy định về quyền bầu cử như “ các điều khoản tổ tiên" (yêu cầu kiểm tra khả năng biết chữ đối với mọi công dân mà tổ tiên không phải là cử tri trước năm 1868), việc đề ra thuế bầu cử, và quá nhiều khi là hăm doạ về thân thể. Việc thu hẹp quyền bầu cử này tiếp diễn cho đến thế kỷ XX. Phong trào quyền công dân, bắt đầu trong thập niên 1950, đã dẫn đến kết quả là Đạo luật về quyền bầu cử năm 1965, một đạo luật liên bang đặt ra ngoài vòng pháp luật những thủ tục bầu cử không công bằng và yêu cầu Bộ Tư pháp phải giám sát các cuộc bầu cử ở miền Nam. Điều sửa đổi thứ 24, được phê chuẩn năm 1964, bãi bỏ việc đặt ra thuế bầu cử như một điều kiện để được đi bầu, qua đó loại bỏ một trong số ít cách thức còn lại mà các bang có thể còn cố làm để giảm bớt số phiếu bầu của người Mỹ gốc Phi và người nghèo.

    Một thay đổi cuối cùng được đưa vào Hiến pháp để mở rộng quyền bầu cử. Sự dính líu của Hợp chúng quốc Hoa Kỳ trong chiến tranh Việt Nam vào thập niên 1960 và đầu thập niên 1970 đã đem lại một đã thúc đẩy mới cho ý tưởng này, được bàn đến lần đầu tiên trong Chiến tranh Cách mạng và được làm sống lại trong bất kỳ cuộc chiến tranh nào diễn ra từ đó đến nay, đó là những ai đủ tuổi cầm vũ khí chiến đấu vì đất nước mình thì cũng đủ tuổi để đi bầu. Điều sửa đổi thứ 26, được phê chuẩn năm 1971, hạ thấp tuổi đi bầu từ 21 xuống còn 18. Ngày nay, hầu như mọi công dân trưởng thành của Hợp chúng quốc Hoa Kỳ, sinh ra trên đất này hoặc nhập quốc tịch Hoa Kỳ, trên 18 tuổi đều có quyền đi bầu. Những hạn chế pháp lý chỉ tước quyền đi bầu đối với một số kẻ nguyên là tội phạm và đối với những người bị coi là thiểu năng về tinh thần.

    Nền dân chủ trực tiếp

    Vấn đề quan trọng nhất trên chính trường bầu cử tại Hợp chúng quốc bây giờ không phải là ai có quyền đi bỏ phiếu, mà là có bao nhiêu người trong số những người có quyền bầu cử sẽ thực tế dành thời gian và công sức đi bỏ phiếu. Câu trả lời hiện nay, đối với cuộc bầu cử tổng thống, là vào khoảng một nửa. Trong cuộc bầu cử năm 1876, số cử tri đi bầu lên tới con số kỷ lục là 81,8%. Trong suốt các thập niên 1880 và 1890, trung bình khoảng 80%, nhưng sau đó bắt đầu bước suy giảm dần dần xuống đến mức thấp là 48,9% năm 1924. "Liên minh New Deal" của Đảng Dân chủ trong thời kỳ Đại suy thoái kinh tế của những năm 1930 đã khơi lại một sự hào hứng mới trong cử tri, dẫn đến con số trung bình được nâng lên khoảng 60%. Tỷ lệ cử tri đi bầu lại bắt đầu giảm xuống vào năm 1968, còn có 49,1% trong cuộc bầu cử tổng thống năm 1996.

    Sự việc thêm nhiều người dân không đi bầu khiến cho nhiều người lo ngại. Nhà khoa học chính trị A. James Reichley trong cuốn sách Bầu cử phong cách Mỹ viết: "Hiện nay có một cảm nghĩ lan rộng, mà các cuộc điều tra dư luận và những lời phàn nàn của các nhà quan sát thông thạo cho thấy, là chế độ bầu cử của Mỹ đang gặp khó khăn. Một số người cho rằng khó khăn này là nhỏ bé và có thể giải quyết bằng những cải cách ôn hòa; những người khác lại cho rằng nó đã ăn sâu và cần có một phẫu thuật chính trị rộng lớn, có lẽ kèm theo những thay đổi mạnh mẽ trong trật tự xã hội rộng lớn. Những điều phàn nàn gồm có: những cuộc tranh cử kéo dài và tốn kém, sức mạnh của các phương tiện thông tin đại chúng trong việc hình thành những nhận thức của công chúng đối với các ứng cử viên, và ảnh hưởng không thích đáng mà "những lợi ích đặc biệt" tác động lên cả các ứng cử viên của các đảng và cử tri".

    Nhiều nhà bình luận tin rằng chế độ bầu cử Hoa Kỳ cần có một nền dân chủ trực tiếp, bớt tính chất đại diện hơn. Nhiều cuộc họp được truyền hình tại tòa thị chính, chẳng hạn, tại đó cử tri có thể nói chuyện trực tiếp với các quan chức dân cử và các ứng cử viên chính trị, đã được khuyến khích như một cách "trao quyền" cho nhân dân. Và việc áp dụng những sáng kiến bỏ phiếu, trưng cầu ý dân, bãi miễn, đang tăng lên nhanh chóng. Cơ chế chính xác tại mỗi bang một khác, song nói chung các sáng kiến cho phép cử tri bỏ qua các cơ quan lập pháp bang bằng cách thu thập khá đủ chữ ký vào các kiến nghị để đưa ra những quy chế dự kiến, và ở một số bang, những điều sửa đổi hiến pháp đã được trực tiếp ghi vào lá phiếu. Những cuộc trưng cầu ý dân đòi hỏi một số loại luật nhất định, chẳng hạn như luật nhằm quyên tiền bằng cách phát hành công trái, được đưa vào cuộc bầu để nhận được sự tán thành của dân chúng; cử tri cũng có thể sử dụng các cuộc trưng cầu dân ý để hủy bỏ những đạo luật mà các cơ quan lập pháp bang đã thông qua. Một cuộc bầu cử bãi miễn sẽ để cho công dân bỏ phiếu xem có nên cách chức các quan chức trước khi họ hết nhiệm kỳ hay không.

    Các sáng kiến, hiện nay đã được 24 bang cho phép, đặc biệt được dân chúng ưa thích tại miền Tây: các sáng kiến này đã được sử dụng hơn 300 lần tại bang Oregon, hơn 250 lần tại bang California, và gần 200 lần tại bang Colorado. Mọi loại vấn đề đã xuất hiện trên lá phiếu tại các bang, kể cả quy chế nghề nghiệp và các ngành kinh doanh, luật chống hút thuốc lá, mức bảo hiểm phương tiện chuyên chở, quyền phá thai, cờ bạc hợp pháp hóa và việc dùng cần sa trong y học, sử dụng năng lượng hạt nhân và kiểm soát vũ khí.

    Các trách nhiệm của công dân

    Công dân Hợp chúng quốc Hoa Kỳ rõ ràng là có rất nhiều quyền đem lại cho họ những sự tự do mà mọi dân tộc đều tha thiết: tự do suy nghĩ những gì họ muốn, nói lên ý kiến của mình, nói lên một cách cá nhân với các đại diện dân cử của mình, hoặc nói lên một cách tập thể trong những cuộc hội họp nhỏ hoặc lớn; thờ phụng như họ muốn hoặc không thờ phụng gì cả; được yên ổn không bị những cuộc khám xét vô lý về thân thể, nhà ở hoặc giấy tờ riêng tư. Tuy nhiên, thuyết chính quyền dân chủ cho rằng cùng với những quyền đó là những trách nhiệm: tuân thủ pháp luật; đóng những khoản thuế hợp pháp; phục vụ trong các đoàn bồi thẩm khi được yêu cầu; được thông tin về những vấn đề đang tranh cãi và về các ứng cử viên; thực hiện quyền bầu cử đã giành được cho biết bao nhiêu ngươứi bằng mồ hôi và nước mắt của các bậc tiền bối.

    Một trách nhiệm lớn khác là phục vụ công cộng. Hàng triệu người Mỹ, nam cũng như nữ, đã gia nhập các lực lượng vũ trang để bảo vệ đất nước trong những thời kỳ khẩn cấp của quốc gia. Hàng triệu người khác đã phục vụ trong thời bình nhằm duy trì sức mạnh quân sự của đất nước. Người Mỹ, trẻ cũng như già, đã gia nhập Đội Hòa bình và các tổ chức tình nguyện khác nhằm thực hiện sự phục vụ xã hội trong nước hoặc ở nước ngoài.

    Tuy nhiên, trách nhiệm có thể tạo ra sự khác biệt lâu bền nhất là tham gia tiến trình chính trị. Như giáo sư Craig Rimmerman nói trong cuốn sách Vai trò công dân mới: Những hoạt động chính trị không quy ước, sự năng động và phục vụ: "Những người chủ trương nền dân chủ tham gia lập luận rằng tăng cường sự tham gia của công dân vào sinh hoạt cộng đồng và vào việc quyết định các vấn đề tại nơi làm việc là điều quan trọng nếu như muốn cho dân chúng thừa nhận vai trò và trách nhiệm của họ với tư cách là những công dân trong cộng đồng lớn. Các cuộc hội họp của cộng đồng chẳng hạn đem lại cho công dân tri thức về nhu cầu của các công dân khác. Trong một bối cảnh thực sự mang tính tham gia, công dân không chỉ hành động như những cá nhân tự trị theo đuổi lợi ích riêng của mình, mà trái lại thông qua một tiến trình quyết định, bàn cãi và thỏa hiệp, họ cuối cùng sẽ gắn nối những mối quan tâm của họ với các nhu cầu của cộng đồng".

    Tom Harkin, thượng nghị sĩ bang lowa, nói rằng những lớp người hoạt động đã từng đổ sức vào những phong trào đòi quyền công dân, phong trào chống chiến tranh Việt Nam và phong trào bảo vệ môi trường, nay tập trung sức lực của họ "vào chỗ gần gũi hơn với nơi ở của họ, tổ chức những người láng giềng của họ đấu tranh cho những vấn đề như có nhà ở tốt hơn, thuế má công bằng, mức đóng góp công ích thấp hơn, và dọn dẹp những phế thải độc hại... Vượt qua những ranh giới chủng tộc, giai cấp và địa lý, những hành động này đã khiến cho hàng triệu người dân thấy rằng những lợi ích chung của họ vượt xa những sự khác biệt giữa họ với nhau. (Đối với chung tất cả), thông điệp về hành động công dân là như nhau: "Chớ điên rồ, chớ thất vọng, chớ bỏ cuộc. Hãy tổ chức và quật lại".

    Những cộng đồng

    Một số cử tri Mỹ quan tâm đến vấn đề này đã chọn cách tham gia bằng việc tiếp xúc với các quan chức dân cử của họ, đặc biệt là tổng thống và các thượng nghị sĩ, hạ nghị sĩ của họ. Họ đã viết thư, gửi điện, gọi điện thoại và đích thân đến văn phòng của quan chức đó, bất kể là tại Washington hay tại bang hoặc quận nhà. Tuy nhiên, trong mấy năm qua, một phương tiện truyền thông mới đã xuất hiện trên sân khấu và đem lại cho cử tri một cái quyền phi thường – quyền được biết những gì diễn ra trong thế giới của họ, được bình luận về những sự kiện đó, và được hành động nhằm làm thay đổi những sự việc mà họ không ưa thích. Phương tiện đó là Internet, là mạng Web, là Siêu xa lộ thông tin. Cho dù được gọi bằng cái tên nào đi nữa thì nó cũng đang làm thay đổi các hoạt động chính trị ở Mỹ một cách mau lẹ và không thể ngăn cản.

    Internet có thể là "một công cụ hùng mạnh cho hành động tập thể, nếu như muốn sử dụng nó như vậy", như lời nhà hoạt động chính trị Ed Schwartz trong cuốn sách NetActivism: Công dân sử dụng Internet như thế nào: “ Nó có tiềm năng trở thành công cụ hùng mạnh nhất giúp cho việc tổ chức chính trị phát triển trong 50 năm qua, và là một công cụ mà bất cứ công dân nào cũng có thể sử dụng... Cái mà những nhà hoạt động cộng đồng nhiều khi cần đến nhất là thông tin chính xác, cả về việc các cơ quan chính quyền và các chương trình cụ thể lẫn việc hệ thống chính trị hoạt động như thế nào". Họ có thể tìm thấy thông tin này một cách dễ dàng và hầu như không tốn kém trên Internet.

    "Các cộng đồng ảo" của những người, nam cũng như nữ, có lợi ích giống nhau, những người có thể sống cách xa nhau hàng nghìn dặm và có thể chưa bao giờ được biết về nhau qua bất cứ một cách nào khác, nay tập hợp lại với nhau trên Internet. Rất nhiều khi, những người này chưa hề gặp mặt nhau, nhưng họ khá hiểu biết nhau thông qua những cuộc trò chuyện thông minh kéo dài về những vấn đề mà họ quan tâm nhất.

    Một thay đổi sâu sắc khác là việc tiếp cận nhanh chóng với Internet đem lại cho người dân những thông tin về chính quyền, về các hoạt động chính trị, và về những vấn đề trước đây không thể tìm hiểu được, hoặc khó tìm hiểu, đối với hầu hết người dân.

    EnviroLink chẳng hạn là một địa chỉ Web dành cho những vấn đề môi trường. Các tổ chức cộng đồng có thể thu thập những thực tế cụ thể từ địa chỉ này về những mối quan tâm như khí thải gây hiệu ứng nhà kính, những chất phế thải gây nhiều rủi ro, hoặc những hóa chất độc hại. Trước kia, những nhóm người này có lẽ bị hạn chế ở việc chỉ được nói về những vấn đề này bằng những lời lẽ chung chung. Nay, EnviroLink cung cấp ngay tức thời những tài liệu chi tiết. Địa chỉ này cho phép tiếp cận các nguồn tài liệu về giáo dục, về các cơ quan chính quyền, các tổ chức và ấn phẩm về môi trường, tất cả được liệt kê theo chủ đề. EnviroLink còn cung cấp thông tin và lời khuyên về cách làm thế nào để có hành động trực tiếp bằng cách cung cấp tên và địa chỉ thư tín điện tử của những người cần tiếp xúc về những vấn đề môi trường cụ thể, và nó có cả những "phòng chuyện gẫu" để những người sử dụng có thể thảo luận và chia sẻ ý kiến.
    Các phương tiện thông tin đại chúng

    Người dân Mỹ đã nhận ra từ sớm rằng sự dễ dàng tiếp cận thông tin là điều cơ bản cho hoạt động tốt đẹp của nền dân chủ mới của họ. Không có nó họ sẽ không thể có những quyết định đúng đắn về các ứng cử viên và các chính sách. Ngoài ra, muốn trở nên hữu hiệu, thông tin này phải được dễ dàng tiếp nhận và được quảng bá rộng rãi.

    Câu trả lời là báo chí. Tờ báo hằng ngày đầu tiên tại Mỹ đã ra đời tại Philadelphia, bang Pennsylvania năm 1783. Đến năm 1800, Pennsylvania đã có 6 tờ báo hằng ngày. Thành phố New York có 5 tờ, Baltimore, bang Maryland có 3 tờ, và Charleston, bang South Carolina có 2, còn hầu hết 250 tờ báo khác, phần lớn là tuần báo, được xuất bản rải rác trong khắp đất nước. Đến năm 1850, có tất cả 2.000 tờ báo, trong đó có 200 tờ báo hằng ngày.

    Tính độc lập bướng bỉnh của nhà báo đã gây ra xung đột với nhiều chính khách Mỹ ngay từ buổi đầu của đất nước này. George Washington viết năm 1792 rằng: "Nếu chính quyền và các quan chức chính quyền trở thành đề tài thường xuyên cho sự lạm dụng của báo chí, và nếu để cho điều đó diễn ra mà không hạ cố điều tra các động cơ và sự việc thì tôi cho rằng không có bất cứ con đường nào đang sống có thể cầm lái hoặc giữ cho cỗ máy được gắn lại với nhau. "Mặt khác, các nhà chính trị đã thừa nhận vai trò vô cùng trọng yếu của các phương tiện thông tin đại chúng trong việc giúp cho cử tri được thông tin. Thomas Jefferson viết năm 1787 rằng "nếu để cho tôi quyết định chúng ta nên có một chính quyền không có báo chí hay có báo chí mà không có chính quyền, thì tôi không do dự một chút nào chọn khả năng thứ hai".

    Đài phát thanh trở nên quan trọng đối với hoạt động chính trị năm 1924, khi các đại hội toàn quốc các chính đảng lần đầu tiên được phát đi trực tiếp. Năm đó, các đảng bắt đầu trả tiền quảng cáo trên đài phát thanh - Đảng Cộng hòa chi 120.000 USD, Đảng Dân chủ chi 40.000 USD. Bốn năm sau, chi phí của hai đảng nhảy vọt lên 1 triệu USD, bắt đầu cái vòng xoắn đi lên trong chi tiêu cho chiến dịch tranh cử ngày càng tăng nhanh trong những năm gần đây.

    George Gallup bắt đầu tiến hành những cuộc thăm dò dư luận năm 1934, mở đầu bằng những mẫu nhỏ tại những quận then chốt. Ông tin rằng những cuộc thăm dò dư luận này sẽ đem lại "một phương pháp mau lẹ và hữu hiệu qua đó các nhà lập pháp, nhà giáo dục, chuyên gia và nhà báo cũng như dân thường trên khắp chiều dài và chiều rộng của đất nước, có thể có một thước đo tin cậy hơn về nhịp đập của dân chủ". Ngày nay việc thăm dò dư luận đã trở nên tinh vi hiện đại hơn rất nhiều khi mà việc đặt ra các câu hỏi đã được nâng cao bởi kinh nghiệm và việc phân tích đã có sự trợ giúp của công nghệ hiện đại. Mặc dù đôi khi xảy ra nhầm lẫn, việc thăm dò dư luận nói chung được coi là một cách hữu hiệu để theo dõi ý kiến của dân chúng.

    Buổi truyền hình đầu tiên về một hội nghị chính trị diễn ra vào năm 1940, với số người theo dõi là 100.000 người. Đến thập niên 1950, truyền hình đã tới được 1/3 số gia đình ở Mỹ. Hai đảng đã chi tiêu 3,5 triệu USD về quảng cáo trên truyền hình trong chiến dịch tranh cử năm 1952, trong đó Đảng Cộng hòa tiếp tục chi lớn hơn rất nhiều so với Đảng Dân chủ. Cuộc tranh luận giữa Kennedy và Nixon năm 1960 đã làm nổi lên vai trò tối quan trọng của truyền hình trong chiến dịch tranh cử hiện đại.

    Trong cuốn sách Bầu cử tại Hợp chúng quốc Hoa Kỳ, nhà sử học Anh Philip John Davis viết: “ Truyền hình đã trở thành nguồn thông tin đáng kể nhất đối với hầu hết người dân Hoa Kỳ. Những người ứng cử vào những vị trí quan trọng muốn gây một tác động có ý nghĩa không thể không biết đến việc đưa tin của truyền hình, cũng như không thể bỏ qua cơ hội quảng cáo trên phương tiện thông tin đại chúng này... Ngoài ra, công chúng đã bắt đầu chờ đợi những sự xuất hiện trên truyền hình, ít ra là của những ứng cử viên vào những chức vụ quan trọng; một ứng cử viên cho một chức vụ trong Quốc hội, trên phạm vi toàn quốc hoặc thậm chí một chức vụ địa phương đáng kể vẫn có thể sử dụng truyền thanh và ấn phẩm để quảng cáo một cách rất hữu hiệu, nhưng không xuất hiện trên truyền hình thì cuộc vận động tranh cử xem ra khó có thể coi là đáng tin tưởng.

    Các nhà hoạt động ở cấp địa phương coi Internet là đặc biệt hữu ích. Họ là những người tham gia các hoạt động chính trị như một phương tiện để cải thiện điều kiện của xóm giềng và cộng đồng của họ. Họ tổ chức những buổi làm vệ sinh trong khu nhà, tái chế rác, lập ra những nhóm theo dõi tội phạm, và các chương trình dạy chữ cho người lớn. Ed Schwartz nói: "Mục đích của họ không chỉ là thực hiện dịch vụ cộng đồng, tuy rằng đó là một phần của việc ấy. Họ tin tưởng một cách đơn giản rằng chỉ có thể có được những cộng đồng lành mạnh khi người dân ở đó cam kết cá nhân sẽ đóng góp vào phúc lợi của bản thân họ".

    Một ví dụ về cách những người dân này sử dụng Internet là Neighborhoods Online, một địa chỉ Web do Schwartz xây dựng nhằm đẩy mạnh hoạt động xóm giềng trong khắp Hợp chúng quốc Hoa Kỳ. Hàng trăm người đã thăm địa chỉ này hằng ngày, trong đó có các nhà tổ chức, thành viên các tổ chức phi lợi nhuận, các quan chức dân cử, nhà báo, các trường cao đẳng và sinh viên, cùng những người dân thường khi họ tìm kiếm những phương cách mới để giải quyết các vấn đề xóm giềng của họ.

    Schwartz nói: "Từ một bước bắt đầu khiêm tốn, chúng tôi đã vươn tới chỗ hầu như mọi tập đoàn phát triển cộng đồng, ủy ban cố vấn xóm giềng, chương trình dạy chữ cho người lớn, cơ quan dạy nghề, và đơn vị cung cấp dịch vụ con người, hoặc là đã hoạt động trực tuyến hoặc là tìm cách đi tới chỗ trực tuyến".
    Những nhóm lợi ích tư nhân

    Những nhóm được nói đến trên đây và những nhóm tương tự được gọi là những nhóm lợi ích công cộng, ở chỗ chúng mưu cầu một sự tốt đẹp tập thể mà thành công không nhất thiết có lợi cho thành viên của nhóm họ. Điều đó không có nghĩa là những nhóm ấy đúng ở lập trường của họ, duy chỉ có điều là yếu tố lợi lộc hoặc lợi ích vị kỷ là thấp.

    Mặt khác, những nhóm lợi ích tư nhân thường trông chờ ở một mối lợi kinh tế trong những chính sách mà họ chủ trương. Các tổ chức kinh doanh ủng hộ các mức thuế thấp và những hạn chế đối với quyền bãi công, trong khi các nghiệp đoàn lại ủng hộ luật về đồng lương tối thiểu và bảo vệ việc thương lượng tập thể. Các nhóm lợi ích tư nhân khác - như giáo hội và các nhóm chủng tộc - lại quan tâm nhiều hơn đến những vấn đề chính sách rộng lớn hơn có thể ảnh hưởng đến tổ chức hay tín ngưỡng của họ.

    Một loại nhóm lợi ích tư nhân đã tăng lên về số lượng và ảnh hưởng trong mấy năm gần đây là ủy ban hành động chính trị, viết tắt là PAC. Những nhóm độc lập này, được tổ chức xung quanh một vấn đề duy nhất hay một tập hợp vấn đề, góp tiền cho những cuộc vận động chính trị ủng hộ Quốc hội hay tổng thống. Các PAC bị giới hạn ở số lượng tiền mà họ có thể đóng góp trực tiếp cho các ứng cử viên trong các cuộc bầu cử liên bang. Tuy nhiên, không có hạn chế nào về số tiền mà các PAC có thể chi tiêu độc lập nhằm bênh vực một quan điểm hoặc thúc đẩy việc bầu các ứng cử viên vào một chức vụ. Con số các PAC ngày nay có đến hàng nghìn.

    Trong cuốn sách Người công dân tốt: Lịch sử đời sống công dân Mỹ, Michael Schudsson viết: "Các chính đảng bị đe doạ do số các nhóm lợi ích tăng lên nhan nhản, trong đó ngày càng có nhiều nhóm có văn phòng tại Washington, D.C., và tự đại diện cho mình trực tiếp tại Quốc hội và các cơ quan liên bang. Nhiều tổ chức để mắt đến Washington tìm kiếm sự ủng hộ tài chính và tinh thần ở những công dân bình thường. Do số đông trong những nhóm đó tập trung vào một phạm vi hẹp các mối quan tâm, hoặc thậm chí vào một vấn đề duy nhất, và nhiều khi là một vấn đề duy nhất có sức nặng tình cảm lớn lao, họ cạnh tranh với các đảng về tiền bạc, thời gian và tình cảm của người dân".

    Khối lượng tiền bạc mà các nhóm "lợi ích đặc biệt" này chi tiêu không ngừng tăng lên, do các cuộc vận động tranh cử ngày càng trở nên tốn kém. Nhiều người Mỹ có cảm nghĩ là các nhóm lợi ích giàu có này - dù đó là các công ty hay nghiệp đoàn hay các PAC được tổ chức nhằm quảng bá một quan điểm nào đó - có thế lực mạnh mẽ đến nỗi người dân thường không làm được gì mấy để chống lại ảnh hưởng của các nhóm đó.

    Nhưng họ có thể làm được một việc gì đấy. Họ có thể thu thập thông tin cho họ và hành động trên cơ sở những thông tin ấy. Có lẽ cách nhanh nhất và hữu hiệu nhất là sử dụng Internet để theo dõi từng quan chức dân cử của họ. Chỉ trong vòng vài phút, họ có thể tìm ra những nhóm "lợi ích đặc biệt" nào đã có những đóng góp chính trị cho một quan chức và quan chức ấy đã biểu quyết như thế nào về những văn bản luật gần đây. Những công dân này sau đó có thể dùng thông tin ấy làm cho người ta biết đến ý kiến của họ.

    Một thực tế trong đời sống chính trị là suy nghĩ về các vấn đề, thu thập thông tin về những vấn đề đó, và bàn luận những vấn đề ấy với bạn bè và láng giềng cũng không làm thay đổi được gì đối với cách hành động - hoặc quan trọng hơn - biểu quyết của các quan chức dân cử. Tuy rằng các quan chức này rất chú trọng đến việc liệu những người đã bỏ phiếu cho họ có khả năng bầu lại họ hay không. Khi thư từ, các cuộc điện thoại, fax và thư e-mail từ cử tri bắt đầu đến thì người ta mới tập trung chú ý. Người có quyền lực cuối cùng vẫn sẽ là người dân, những người chủ lá phiếu đưa ra quyết định lựa chọn.

    Con đường từ năm 1787 và việc soạn thảo Hiệp pháp Hợp chúng quốc tới ngày nay không phải là một con đường thẳng tắp. Cử tri bị xúc cảm và sự kiện đẩy đi ban đầu theo hướng này, rồi sau đó theo hướng khác. Nhưng, đến một thời điểm nào đó, họ bao giờ cũng tìm ra được một con đường để trở lại nghỉ ngơi gần trung tâm. Ơ± một nơi nào đó giữa cái thực dụng và cái lý tưởng, giưừa địa phương và quốc gia, giữa công cộng và tư nhân, giữa vị kỷ và vị tha, giữa quyền của các bang và lợi ích của toàn thể đất nước, có một địa hạt chung, ở đó nhân dân Hợp chúng quốc, qua năm tháng, đã xây dựng nên một đất nước hùng mạnh, phồn vinh, tự do - một đất nước có khiếm khuyết đấy, được thừa nhận đấy, nhưng bao giờ cũng được thúc đẩy bởi sự hứa hẹn của những ngày tốt đẹp hơn sẽ đến.

  16. The Following User Says Thank You to phithiengia For This Useful Post:


  17. #9
    Tham gia ngày
    28-09-2006
    Bài gởi
    7895
    Thanks
    603
    Thanked 3,786 Times in 1,968 Posts

    Default

    Tài liệu đọc thêm về Chính quyền Hợp chúng quốc Hoa Kỳ

    Abraham, Henry J.
    Justices, Presidents, and Senators: A History of the U.S. Supreme Court Appointments From Washington to Clinton. Xuất bản lần thứ tư. Lanham, Maryland: Rowman and Littlefield, 1999.

    Baum, Lawrence
    Supreme Court. Washington, D.C: CQ Press, 1997.

    Bibby, John
    Two Parties or More?: The American Party System. Boulder, Colorado: Westview Press, 1998.

    Bowen, Catherine
    Miracle at Philadelphia: The Story of the Constitutional Convention, May to September 1787. Boston, Massachusetts: Little Brown, 1986.

    Boyte, Harry C., Heather Booth, and Steve Max
    Citizen Action and the New American Populism. Philadelphia, Pennsylvania: Temple University Press, 1986.

    Brinkley, Alan, Nelson W. Polsby, and Kathleen M. Sullivan
    The New Federalist Papers: Essays in Defense of the Constiution. New York: Norton, 1997.

    Brookhiser, Richard
    Alexander Hamilton, American. New York, New York: Free Press, 1999.

    Carp, Robert A., and Ronald Stidham
    Judicial Process in America. Xuất bản lần thứ tư. Washington, D.C.: CQ Press, 1998.

    Davies, Philip
    U.S. Elections Today. Xuất bản lần thứ hai. New York, New York: Manchester University Press, 1999.

    Edwards, George C.
    Government in America: People, Politics, and Policy. Xuất bản lần thứ tám. New York, New York: Longman, 1999.

    Fine, Toni M.
    American Legal Systems: A Resource and Reference Guide. Cincinnati, Ohio: Anderson Publishing, 1997.

    Fisher, Louis
    Constitutional Conflicts Between Congress and the President. Xuất bản lần thứ tư. Topeka, Kansas: University Press of Kannsas, 1997.

    Fisher, Louis
    The Politics of Shared Power: Congress and the Executive. Xuất bản lần thứ tư. College Station, Texas: Texas A & M University Press, 1998.

    Friedman, Lawrence M.
    American Law: An Introduction. Xuất bản lần thứ hai. New York, New York: W.W. Norton, 1998.

    Graber, Doris
    Mass Media and American Politics. Xuất bản lần thứ năm. Washington, D.C.:CQ Press, 1997.

    Greenstein, Fred
    Leadership in the Modern Presidency, Cambridge, Massachusetts: Harvard University Press, 1988.

    Hall, Kermit, ed.
    The Oxford Guide to United States Supreme Court Decisions. New York, New York: Oxford University Press, 1999.

    Hanson, Russell, ed.
    Governing Partners: State-Local Relations in the United States. Boulder, Colorado: Westview Press, 1998.

    Hedge, David
    Governance and the Changing American States. Boulder, Colorado: Westview Press, 1998.

    Hoffman, Daniel
    Our Elusive Constitution: Silences, Paradoxes, Priorities. New York, New York: SUNY Press, 1997.

    Kurian, George T.
    Historical Guide to the U.S. Government. New York, New York: Oxford University Press, 1997.

    Loomis, Burdett
    The Contemporary Congress. Xuất bản lần thứ hai. New York, New York: St. Martins Press, 1988.

    Mason, Alpheus
    American Constitutional Law: Introductory Essays and Selected Cases. Xuất bản lần thứ mười hai. New York, New York: Prentice Hall, 1998.

    Meador, Daniel J.
    American Courts. St. Paul, Minnesota: West Publishing Co., 1991.

    Nelson, Michael
    The Presidency and the Political System. Xuất bản lần thứ năm. Washington, D.C.: CQ Press, 1998.

    Notess, Greg R.
    Government Information on the Internet. Xuất bản lần thứ hai. Lanham, Maryland: Bernan Press, 1998.

    O’ Brien, David M.
    Storm Center: The Supreme Court in American Politics. Xuất bản lần thứ năm. New York, New York: W.W. Norton, 1999.

    Perloff, Richard M.
    Political Communication: Politics, Press, and Public in America. Mahwah, New Jersey: Lawrence Erlbaum Associates, 1998.

    Polsby, Nelson
    Presidential Elections, Strategies and Structures of American Politics. Xuất bản lần thứ chín. Chantham, New Jersey, Chatham House, 1996.

    Reichley, A. James, ed.
    Elections American Style. Washington, D.C.: The Brookings Institution, 1997.

    Relyea, Harold C., ed.
    The Executive Office of the President. A Historical, Biographical, and Bibliographical Guide. Westport, Connecticut: Greenwood Press, 1997.

    Rimmerman, Craig A.
    The New Citizenship: Unconventional Politics, Activism, and Service. Boulder, Colorado: Westview Press, 1997.

    Ripley, Randall
    Readings in American Government and Politics. Xuất bản lần thứ ba. Boston, Massachusetts: Allyn and Bacon, 1999.

    Rogers, Donald, ed.
    Viting and the Spirit of American Democracy: Essays on the History of Voting and Voting Rights in America. Urbana, lllinois: University of lllinois Press, 1992.

    Rossiter, Clinton, ed.
    The Federalist Papers, của Alexander Hamilton, James Madison và John Jay. New York, New York: Mentor, 1999.

    Schudson, Michael
    The Good Citizen: A History of American Civic Life. Cambridge, Massachusetts: Harvard University Press, 1999.

    Schwartz, Ed.
    Net Activism: How Citizens Use the Internet. Sebastopol, California: Songline Studios, Inc. 1996.

    Selnow, Gary W.
    Electronic Whistle-Stops: The Impact of the Internet on American Politics. Westport, Connecticut: Praeger Press, 1998.

    Van Horn, Carl
    The State of the States. Xuất bản lần thứ ba. Washington, D.C.: CQ Press, 1996.

    Weisberg, Herbert, ed.
    Grat Theatre: The American Congress in the 1990s. Cambridge, England: Cambridge University Press, 1998.

    Wilson, James
    American Government: Institutions and Policies. Xuất bản lần thứ bảy. Boston, Houghton Mifflin, 1998.

    Woll, Peter, ed.
    American Government: Readings and Cases. Xuất bản lần thứ 13. New York, New York: Longman, 1999.

  18. The Following User Says Thank You to phithiengia For This Useful Post:


Bookmarks

Quyền Sử Dụng Ở Diễn Ðàn

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •