kết quả từ 1 tới 7 trên 7

Ðề tài: Những làn điệu dân ca truyền thống !

  1. #1
    Tham gia ngày
    25-02-2008
    Nơi Cư Ngụ
    Hải Dương phố
    Bài gởi
    3298
    Thanks
    190
    Thanked 186 Times in 158 Posts

    Thumbs down Những làn điệu dân ca truyền thống !

    a) Cải lương : So với chèo và tuồng, cải lương là loại hình nghệ thuật sinh sau đẻ muộn. Nếu tuồng mang tính chất cung đình, chèo mang tính chất dân dã nông thôn, thì cải lương mang tính chất thành thị. Cái nôi của cải lương là vùng đồng bằng sông Cửu Long. Trong bộ môn nghệ thuật này, giọng ca (hát) giữ vai trò rất quan trọng. Giọng ca ngọt ngào mùi mẫn rót vào tai khán giả là vở diễn đã thành công hơn một nửa.


    b) Ca nhạc Huế

    Lúc đầu chỉ là thể loại ca nhạc thính phòng, hình thành đầu thế kỷ XIX dưới triều các vua Nguyễn, phục vụ trong cung đình. Đời vua Tự Đức (1848 - 1883) ca nhạc Huế phát triển đến đỉnh cao, được truyền bá rộng trong dân gian, được nhân dân bổ sung những điệu Hò, điệu Lý... Ca nhạc Huế từ đó được sân khấu hoá như các loại hình sân khấu khác.

    Thưởng thức ca nhạc Huế, người nghe cảm nhận được sự đan xen nhuần nhuyễn giữa dòng ca nhạc cung đình và dân ca miền Trung.

    c) Ca nhạc trong lễ hội Rija

    Rija là tên chung mà người Chăm dùng để gọi rất nhiều lễ hội liên quan đến nông nghiệp hoặc dòng họ... như Rija Prong, Rija Nưgar, Rija Yâup...

    Đến với các lễ hội Rija là đến với các điểm ca nhạc cổ truyền phong phú nhất của người Chăm. ở đây người dự hội sẽ gặp những nhạc cụ tiêu biểu, rất phổ biến trong âm nhạc Chăm hiện nay: Trống Baranưng, trống đôi kinăng, kèn saranai và đàn kanhi bắng mu rùa.

    Ngoài những điệu hát lễ, những điệu kèn saranai và trên 50 điệu trống kinăng đệm cho các điệu múa phục vụ cho các nghi thức cúng lễ trong đó có múa đạp lửa độc đáo. người dự hội còn được thưởng thức điệu hát Vãn chài với nhịp điệu khoẻ khuắn và tính diễn xướng đầy hấp dẫn trong đêm kết thúc lễ hội Rija Prong. Nó góp một tiết mục đặc sắc vào thể loại hò hát trong lao động hoặc có nguồn gốc lao động hết sức phong phú của cư dân Việt Nam.


    d) Ca t

    Là bộ môn nghệ thuật mang tính hàn lâm, được nuôi dưỡng giữ gìn trong dân gian suốt 10 thế kỷ qua. Nhiều làng quê ở các tỉnh, thành thuộc đồng bằng Bắc bộ như Hà Nội, Hà Tây, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc... là những cái nôi của các làn điệu ca trù. Làng Lỗ Khê (Đông Anh - Hà Nội) dân cả làng làm nghề hát ca trù.
    Thưởng thức ca trù là thưởng thức thơ và nhạc. Trong lối hát ca trù, cả người hát, người đàn, người thưởng thức đều tham gia cuộc hát. Họ phối hợp ăn ý với nhau và cũng làm cho nhạc và thơ hoà quyện vào nhau, đưa cuộc hát đạt đến sự hoàn hảo, tao nhã, trang trọng



    e) Chèo

    Là sản phẩm của vùng đồng bằng sông Hồng. Chèo bao gồm múa, hát, âm nhạc. Giữa người xem và người diễn có sự giao lưu. Lời văn trong tích trò đậm mầu sắc trữ tình của ca dao tục ngữ, tràn đầy tính lạc quan trong những tiếng cười thông minh, hóm hỉnh và trí tuệ.

    Chèo có thể diễn ở sân khấu, nhà hát. Chèo cũng có thể diễn trên một chiếc chiếu ở giữa sân đình và chỉ với 3 nhân vật: 1 đào, 1 kép và 1 vai hề là đã nổi đình đám. ở đây phải kể đến ma lực của tiếng trống chèo. Tiếng trống chèo cất lên có sức lôi cuốn con người, làm cho người ta không thể không đến xem chèo. Bên cạnh tiếng trống, vai hề tưởng như phụ nhưng lại rất quan trọng trong vở diễn. Hề làm cho khán giả rơi nước mắt. Hề cũng lại làm cho khán giả cười đến vỡ bụng.

    Những vở chèo Trương Viên, Kim Nham, Lưu Bình - Dương Lễ, Quan Âm Thị Kính đã được xếp vào vốn quý của sân khấu cổ truyền.



    f) Dân ca Bài Chòi

    Dân ca Bài chòi được hình thành từ lối chơi bài trên các chòi trong hội xuân của người Việt ở miền Trung.

    Từ chỗ chỉ là nơi hô tên các con bài, qua năm tháng với sự sáng tạo của các nghệ nhân dần hình thành một thể loại dân ca độc lập có thể diễn xướng ở mọi nơi, mọi lúc. Yếu tố diễn xướng cũng ngày được tăng cường theo các sáng kiến của các nghệ sĩ dân gian trong các bài chòi, chải chiếu đi hát khắp chợ cùng quê.

    Dân ca Bài chòi đã được sân khấu hóa với sự ra đời của
    Kịch dân ca Bài chòi vào những năm 30 của thế kỷ 20.




    g) Tuồng

    Được hình thành từ thế kỷ XII, đến thế kỷ XVII phát triển mạnh. Tuồng là loại hình sân khấu bao gồm múa, hát, tích trò và nhạc, tất cả đều được cách điệu, ước lệ và tượng trưng cao độ.

    Nhờ sự khái quát khoa trương, cộng với sự tưởng tượng của khán giả mà núi non, sông nước, sáng sớm, chiều hôm, trận mạc, đi ngựa, xuống thuyền... như được hiện ra lung linh trong ánh đèn sân khấu.
    Trong kho tuồng cổ có tới gần 500 vở, những vở tuồng tiêu biểu như: Sơn Hậu, Đào Phi Phụng, Tam Nữ Đồ Vương, Trưng Nữ Vương, Nghêu, Sò, ốc, Hến v.v.. đã có chỗ đứng trong lòng khán giả.



    Dưới đây pt sẽ lần lượt giới thiệu về chúng kĩ hơn!
    Hidden Content Hãy làm việc hết mình, những điều tốt đẹp sẽ đến với bạn !Hidden Content
    Hidden Content Hidden Content
    Hidden Content
    Hidden Content Hidden Content
    Hidden Content Hidden Content

  2. The Following User Says Thank You to pt1506 For This Useful Post:

    HanBangCongChua (03-04-2009)

  3. #2
    Tham gia ngày
    25-02-2008
    Nơi Cư Ngụ
    Hải Dương phố
    Bài gởi
    3298
    Thanks
    190
    Thanked 186 Times in 158 Posts

    Post Nghệ thuật hát Chèo

    Nghệ thuật hát Chèo



    Đã hàng trăm năm nay, nghệ thuật hát chèo, tuồng, múa rối nước, dân ca v.v... là những loại hình nghệ thuật truyền thống độc đáo của Việt Nam. Trong đó nghệ thuật hát chèo đã được những người nông dân miền Bắc Việt Nam rất yêu thích. Đặc biệt nó được phổ biến rất rộng ở đồng bằng sông Hồng. Chỉ riêng hai tỉnh Thái Bình, Hải Hưng đã có tới gần một ngàn đoàn chèo bán chuyên nghiệp và nghiệp dư. Ngay cả ngày nay, ở thế kỷ của điện ảnh, radio, video, vô tuyến truyền hình v.v... nếu không có nghệ thuật chèo thì không thể hình dung nổi đời sống văn hóa của nông thôn Việt Nam.

    Đã có một thời, Hội chèo đôi khi kéo dài cả tuần lễ, mặc dầu còn lâu mới đến Hội nhưng trong mỗi gia đình nông dân đều đã có sự chuẩn bị tham gia kỳ Hội với những vai chèo yêu thích.

    Đã từ lâu, nghệ thuật chèo đối với người nông dân Việt Nam vừa là sân khấu, vừa là thơ ca và âm nhạc và là nguồn duy nhất trong đời sống tinh thần của mình. Trong các vở chèo cổ thường vạch mặt bọn quan lại phong kiến và thực dân áp bức giống nòi. Ơở các vỡ diễn, người nông dân thấy được sự phản ánh đời sống của mình với những mặt tích cực và phản diện, những ước mơ và ý niệm của mình về cái thiện và cái ác. Mọi người đã yêu và càng yêu nghệ thuật chèo bởi tính nhân đạo và sự tươi mát của nó, và bởi nó mang màu sắc dân tộc độc đáo.

    Những vở chèo - đó là các mẩu chuyện sân khấu của những tiểu thuyết thi ca, nó đặc trưng bởi chất thơ mộng, hành văn nhuần nhuyễn, nó có những truyền thống lâu đời của thi ca phương Đông. Ngoài việc chèo là một nghệ thuật được nảy sinh từ quần chúng nông dân, nó còn được sử dụng rất nhiều tục ngữ và ca dao dân gian do nhân dân sáng tạo ra qua hàng ngàn năm.

    Nghệ thuật cơ bản trong các vai của diễn viên là múa mà qua đó nó có thể hiện được tất cả sự uyển chuyển nhịp nhàng của con người. Những nghệ nhân lớp trước thường nói rằng: "Múa hình tượng đẹp đẽ của nội tâm". Song song với cái đó, điệu múa trong chèo không hoàn toàn mang tính trừu tượng và tượng trưng, ước lệ như một số loại hình nghệ thuật thông thường khác bởi một lẽ nguồn gốc của nó là những hình ảnh sinh hoạt, lao động qua các buổi diễn ở nông thôn.

    Một vai trò quan trọng trong chèo là âm nhạc. Ơở Việt Nam người ta thường nói "đừng diễn chèo" mà phải là "hát chèo". Âm điệu trong nghệ thuật chèo ngày càng hấp dẫn, nó có cả màu sắc âm nhạc dân tộc và hiện đại độc đáo.

    Hiện nay, tại Thủ đô và một số thành phố khác đã thành lập những đoàn nghệ thuật chèo chuyên nghiệp, đóng vai trò quan trọng trong công tác truyền bá nền nghệ thuật này và đồng thời hỗ trợ cho các đoàn nghệ thuật nghiệp dư.

    Nghệ thuật chèo ngày nay vẫn được nhân dân ưa thích. Trong chèo mỗi người Việt Nam đều thấy được sự phản ảnh của những giá trị đạo đức cao quý như: lòng dũng cảm, sự hy sinh quên mình, sự trung thành, sự từ thiện. Do vậy, ở các vở chèo cổ, nội dung của nó ta tưởng như khác xa thực tế ngày hôm nay; vậy mà nó vẫn làm xúc động lòng người khán giả của nhiều thế hệ già cũng như trẻ. Điều đó, nói lên tính tươi trẻ và sức sống của nghệ thuật chèo, đồng thời cũng đặt ra trước nghệ thuật chèo những vấn đề mới phức tạp.

    Vấn đề cấp thiết hơn cả là phải phản ánh trong nghệ thuật cổ những đề tài mới, cuộc sống mới. Hoàn toàn đúng quy luật, bởi lẽ ngày nay khán giả muốn được thấy trong bất cứ loại hình nghệ thuật sân khấu nào cũng có những con người thời đại của mình, làm biến đổi bộ mặt ở nông thôn Việt Nam. Và tuy nhiên, làm được điều đó không phải dễ dàng, nhưng cũng đã đạt được những thành tích nhất định. Ngay từ những năm 50, đã có những vở diễn về cách mạng (Núi đá), về lịch sử đất nước (Khởi nghĩa Lam Sơn), về cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (Mối tình Điện Biên), về cuộc chiến đấu chống xâm lược Mỹ (Đường về trận địa), về công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa ở nông thôn (Con trâu hợp tác). Sự xuất hiện của những vở diễn này chứng tỏ rằng nghệ thuật chèo nói riêng và nghệ thuật sân khấu nói chung đều có khả năng phản ánh được đề tài hiện đại. Tuy vậy, khán giả Việt Nam vẫn còn thích xem các vở chèo cổ cùng với các loại hình nghệ thuật khác như tuồng, cải lương, dân ca cảnh và say mê theo dõi các buổi diễn kịch nói, ô-pê-ra về các đề tài truyền thống và hiện đại.
    Hidden Content Hãy làm việc hết mình, những điều tốt đẹp sẽ đến với bạn !Hidden Content
    Hidden Content Hidden Content
    Hidden Content
    Hidden Content Hidden Content
    Hidden Content Hidden Content

  4. The Following User Says Thank You to pt1506 For This Useful Post:

    HanBangCongChua (03-04-2009)

  5. #3
    Tham gia ngày
    25-02-2008
    Nơi Cư Ngụ
    Hải Dương phố
    Bài gởi
    3298
    Thanks
    190
    Thanked 186 Times in 158 Posts

    Post Chèo tuồng , Đất tổ !

    Chèo tuồng , Đất tổ





    Đất Vĩnh Phú xưa có tới 300 gánh chèo và hơn 20 gánh tuồng. Đêm hội làng là đêm ca hát, cả già, trẻ, gái, trai náo nức rủ nhau đến sân đình nghe hát chèo để cùng vui, buồn, thổn thức với Thị Kính, Thị Mầu, Suý Vân giả dại... Chẳng thế mà từ bao đời nay câu ca còn truyền lại:

    "Ăn no, vác bụng nằm khèo;
    Nghe tiếng trống chèo, bế bụng đi xem!".

    Chèo sân đình chính là chèo dân gian truyền thống, chỉ biểu diễn trong các dịp hội làng, lễ tết ở sân đình. Sân khấu của chèo là sân đình rộng lớn, phường chèo biểu diễn ngay trước tiền đình. Khán giả chèo vây kín xung quanh không chừa cả chỗ hậu trường của gánh hát. Chèo cổ còn có tên gọi khác là "trò nhời". Ngoài việc biểu diễn ở sân đình lúc hội hè, đình đám, các gánh chèo còn được mời hát ở các đám cưới, đám khao.

    Mặc dù vậy, phường chèo vẫn là một gánh hát không chuyên. Ơở đó, người nghệ sĩ không lấy hát chèo làm nguồn sống chính. Diễn viên chèo vẫn là nhà nông và chỉ đi hát theo mùa hay khi có dịp. Nguồn sống chính của họ vẫn trông vào lao động sản xuất nông nghiệp ở thôn quê. Một số người khác là thợ mộc, hay người buôn bán cũng có thể tham gia phường chèo. Vùng đất tổ xưa, cũng có lúc đã hình thành phường chèo chuyên nghiệp như các phường Bồ Điền, Bàn Mạch, Tuân Chỉnh (ở Vĩnh Lạc), Cao Phong (ở Lập Thạch)... nhưng rồi các phường ấy cũng chẳng tồn tại được lâu bởi chỉ dựa vào lệ đánh bạc gây quỹ. Các phường chèo ở vùng đất tổ Vĩnh Phú đều thờ ông tổ sư chèo Đông Phương Sóc.

    Mỗi phường có một tượng nhỏ Đông Phương Sóc bằng gổ để mộc, không tô vẽ, đặt trong một hộp gỗ nhỏ, do trùm phường cất giữ rất cẩn thận. Phường chèo gồm một số người cùng thôn hay cùng một làng xã. Phần nhiều có họ hàng với nhau. Vào mùa diễn, các phường lên đường rất đơn giản, nhẹ nhàng. Toàn bộ y phục, trang trí, đạo cụ để gọn vào một đôi hòm do một người gánh bởi hát chèo cổ không cần phông màn.

    Đặc điểm của chèo Vĩnh Phú là không có đào mà chỉ có kép, đó là một biểu hiện của ý thức hệ phong kiến trong nghệ thuật dân gian. Các vai đào như Vân Dại, Thị Mầu, Thị Kính, Vợ Trương Viên... đều do nam đóng. Điều này thực sự đã hạn chế giá trị thẩm mỹ của đêm diễn, của tích trò. Những người đóng các vai nữ được gọi là "kép gái", phần nhiều là những thanh niên đẹp trai, có giọng thanh và dáng người mềm mại. Một nét độc đáo của các gánh tuồng vùng đất tổ xưa là kép tuồng, đồng thời cũng là kép chèo, những người hát tuồng cũng biết cả hát chèo và có thể diễn được đôi ba tích chèo theo yêu cầu của khán giả.

    Tuồng ở Vĩnh Phú cũng có những phường, những kép được khán giả gần xa quý chuộng. Ơở thị xã Phú Thọ, xưa có phường tuồng của cụ trùm Tập khá nổi tiếng. Huyện Phù Ninh xưa (nay là huyện Phong Châu) có phường Bình Bộ với kép kèn Đỗ Văn Khay, kép trống Phạm Văn Quy, kép võ Nguyễn Đức... Huyện Vĩnh Tường (nay thuộc Vĩnh Lạc) nổi tiếng có phường hai anh em ông Phấn – ông Sáp. Huyện Lập Thạch có hai phường Tiên Nữ, Đạo Nội là những phường nổi danh cũng như phường Tam Hồng (huyện Yên Lạc)... Các phường Tuồng được tổ chức theo đơn vị xã nhưng cũng có phường tổ chức theo đơn vị thôn, như phường tuồng Tam Hồng là của thôn Man Để, phường Tiên Lữ là của thôn Hoàng Trung.

    Có thể nói, nét độc đáo, sâu sắc nhất của tuồng, chèo đất tổ là nội dung tích diễn phần lớn được gắn với các truyền thuyết hào hùng của dân tộc như Hùng Vương, Tản Viên dựng nước, Hai Bà Trưng dựng cờ nghĩa đuổi giặc ngoại xâm. Tinh thần ấy còn thấm đượm trong các tích, trò dù là đấu vật, thổi nấu cơm thi, giã bánh giầy hay lễ sát ngưu. Dù là những trò rước "lúa thần" diễn xướng trình thề hay múa hát..., mỗi trò diễn đều nhắc nhở nhân dân ta ghi nhớ công ơn của tổ tiên xưa đã vượt bao gian khó để xây đắp và gìn giữ giang sơn...
    Hidden Content Hãy làm việc hết mình, những điều tốt đẹp sẽ đến với bạn !Hidden Content
    Hidden Content Hidden Content
    Hidden Content
    Hidden Content Hidden Content
    Hidden Content Hidden Content

  6. The Following User Says Thank You to pt1506 For This Useful Post:

    HanBangCongChua (03-04-2009)

  7. #4
    Tham gia ngày
    25-02-2008
    Nơi Cư Ngụ
    Hải Dương phố
    Bài gởi
    3298
    Thanks
    190
    Thanked 186 Times in 158 Posts

    Post Sự nhận diện Chèo qua Âm nhạc!

    Sự nhận diện Chèo qua Âm nhạc





    Chèo là một loại hình sân khấu dân gian, sinh ra từ đồng bằng Bắc Bộ - một vùng vốn giàu có dân ca, ca dao tục ngữ, truyện cười, ví von, ẩn dụ... Con người, cảnh vật của cả một vùng quê rộng lớn in đậm nét trong các câu chuyện được kể lại qua chiếu Chèo sân đình. Trải qua thời gian, luôn được bồi đắp sàng lọc, nghệ thuật Chèo đã hình thành một phong cách độc đáo.

    Trên đường phát triển của mình, Chèo đã tiếp nhận nhiều nhân tố mới lạ cả về cấu trúc lẫn âm nhạc, múa, mỹ thuật... Những thủ pháp cấu trúc của kịch nói (gốc phương Tây) đã được du nhập vào Chèo để phục vụ cho việc kể chuyện của Chèo thêm hấp dẫn, nhưng đã được "Chèo hóa", hài hòa trong mạch kể. Những làn điệu dân ca các vùng, miền Trung, miền Nam, các dân tộc miền núi, thậm chí của cả nước khác trên thế giới cũng được "Chèo hóa" đi cho phù hợp với phong cách của nó, phù hợp với "khẩu vị" của người dân quê đồng bằng Bắc bộ Việt Nam. Có thể nói đã hình thành một dạng "Văn hóa Chèo" bền vững và đầy sức sống (bao gồm Văn Chèo, Nhạc Chèo, Múa Chèo, Mỹ thuật Chèo và Cách diễn Chèo). Nó không bị đồng hóa, mà còn có khả năng tự làm phong phú bằng cách đồng hóa các yếu tố ngoại nhập trên con đường phát triển của mình và luôn luôn đào thải những gì không phù hợp với nó.

    Phải đặt Âm nhạc Chèo trong tổng thể trên mới thấy được tính đặc thù của nó, từ đó rút ra được những quan niệm, cách ứng xử, tìm tòi sáng tạo trong công việc sáng tác nhạc cho Chèo. Xây dựng cho mình một quan niệm trước khi cầm bút, đó là điều thực sự cần thiết.

    Nhìn nhận âm nhạc Chèo không chỉ từ quan niệm, hay qui kết dưới dạng những nguyên tắc, mà còn cả ở phần cảm thụ trực giác. Để trả lời cho câu hỏi: thế nào là nhạc Chèo? Có khi ta lúng túng trong diễn đạt, viện dẫn nhiều điều, nhiều khái niệm, mà chắc gì người nghe đã sáng tỏ và chấp nhận. Nhưng, khi một giai điệu vang lên, trước câu hỏi: Có Chèo không? Người ta dễ dàng đưa ra câu trả lời khẳng định hoặc phủ định, cho dù còn tùy thuộc vào vốn "Văn hóa Chèo" của họ. Thường thì, có phần chính xác do độ cảm nhận trực giác đáng tin cậy ở mỗi con người. Đó chính là sự nhận diện Chèo qua phong cách của nói.

    Nói tới phong cách làm chạm tới một phương diện phức tạp. Nó là cái có thật, có thể nhận ra ngay, nhưng lại rất vô tình, trựu tượng, phong phú và đa dạng. Tìm hiểu các yếu tố cấu tạo nên phong cách Chèo, cũng chỉ là một việc làm phiến diện, máy móc, nhưng rất cần thiết như người học chữ để đọc sách, còn muốn viết ra được một cuốn sách lại là một việc khác.

    Nếu ví Chèo là một "món ăn đặc sản" của dân cư đồng bằng Bắc Bộ, thì các chất liệu để làm nên món ăn tinh thần đó chính là những tinh hoa của tâm hồn người Việt được kết tinh lại trong ca dao, hò vè, tục ngữ, dân ca, nhịp điệu múa rước, tế lễ... Cái chất dân dã mộc mạc, nhắn nhủ duyên dáng, hài hước đã tạo dựng lên cái xương cốt của Chèo với phong vị riêng. Nó nghiêm chỉnh đấy nhưng hài hước ngay đấy; cái bi tưởng đến tột cùng nhưng lại xóa ngay được bằng cái hài ý vị, thoắt hư thoắt thực, có lúc nhân cái phi lí để làm rõ cái có lý, cứ thế dẫn người xem vào một cuộc hành trình đầy bất ngờ và thú vị. Đó phải chăng là cái đặc sắc, cái riêng biệt của tích Chèo khác với các kịch bản sân khấu khác.

    Chính cái đặc sắc của tích Chèo, có thể ví như một dòng sông mà bao luồng lạch, suối khe, đổ vào để hòa đồng tạo nên một chất đặc biệt là: Chất Chèo. Những giai điệu dân ca, những điệu hát Xẩm, Chầu văn, Ca trù, Trống quân, Quan họ, Đò đưa... cùng những nhịp điệu của các đám tế lễ, múa rước, những tiết tấu đặc trưng của đồng bằng Bắc Bộ, những nét múa dân tộc, những máu sắc trong tranh dân gian... tất cả như ùa vào tìm được chỗ thích đáng của mình, rồi linh hoạt biến hóa. Hình thức có thể tan đi nhưng, còn góp lại cái hồn, cùng hòa đồng trong sự cộng hưởng tạo nên cái phong vị Chèo khó trộn lẫn. Đó chính là phương thức tạo nên các vở diễn Chèo từ bao đời nay.

    Sự phát triển Chèo không thể thoát khỏi phương thức đó. Với nó, Chèo có thể mở rộng, phong phú mà vẫn giữ được cốt cách dân gian. Trong ca kịch nói chung, hai yếu tố kịch bản và âm nhạc gắn bó như hình với bóng. Trong Chèo còn được nhấn mạnh hơn, nhiều khi "diễn Chèo" cùng đồng nghĩa với "hát Chèo". Chính là vì phần âm nhạc của nó chiếm một vị trí đặc biệt so với các yếu tố khác. Qua âm nhạc của nó ta có thể nhận diện vở diễn là Chèo (ở mức độ đậm nhạt khác nhau) hay chỉ là một vở "ca kịch dân tộc" chung chung nào đó.

    Nếu trong ca kịch (nói chung) âm nhạc đóng vai trò là những "mắc xích" trong tiến trình vở diễn, là phương tiện khắc họa hình tượng, tính cách nhân vật, thì âm nhạc trong Chèo lạ sự hòa đồng, xuyên suốt vở diễn, nó như mạch nước ngầm thấm suốt đời thơ chuyện kể của kịch bản. Âm nhạc ở đây là phần hồn của thơ ca, lúc ẩn lúc hiện, giản dị, hồn nhiên. Cả những lúc vở diễn chỉ có lời thoại qua văn vần, người diễn phải nói trên một "lon" (giọng) nhạc nhất định. Sự yên lậng vẫn hàm chứa âm nhạc.

    Từ nói thường đến nói thơ, tình cảm khác nhau. Phần khí nhạc, từ tiếng mõ chấm phá, tiếng trống, chiêng tạo cảnh, vài nét dạo tùy hứng của cây sáo trúc vút cao, hoặc đôi nét nhắn nhá thâm trần của cây đàn nguyệt cho đến những đoạn nhạc viết lách công phu huy động toàn bộ dàn nhạc đã tạo nên các sắc thái tình cảm, nhấn các tình huống, tạo dựng cảnh quan thiên nhiên ước lệ của vở.

    Âm nhạc đã trở thành cái nền của một vở Chèo, là sợi chỉ xuyên suốt cả tích trò, tạo nên phong cách Chèo ở mọi thời đại. Với một quan niệm về âm nhạc của Chèo nhu đã trình bày ở trên, tất sẽ dẫn đến một phương thức sáng tác mang tính đặc thù của người soạn vở cũng như người soạn nhạc. Nếu tác giả kịch bản cảm nhận được cái hồn của âm nhạc ẩn chìm trong từng câu chữ, từng tình thế của tích trò, thì đã tạo được sự đồng cảm với người soạn nhạc. Sự ăn ý đó tạo cho vở diễn dáng vẻ hồn nhiên, hài hòa, ý vị.

    Âm nhạc cùng với kịch bản là những yếu tố hàng đầu để nhận diện một vở Chèo. đến lượt nó, muốn nhận diện tác phẩm âm nhạc đó có "Chèo" hay không thỉ lại phải nghe phần tiết tấu. Tiết tấu ở đây hiểu theo nghĩa rộng bao gồm những khuôn hình nhịp điệu mang tích đặc trưng. Mỗi dân tộc, mỗi cộng đồng lớn, nhỏ, sống ở những vùng khác nhau có những tiết tấu đặc trưng, không thể trộn lẫn (cũng có nơi tính chất ấy được biểu hiện ở phần giai điệu, nhưng ít phổ biến hơn). Trong Chèo, yếu tố tiết tấu vốn được hình thành lâu đời ở vùng dân cư đồng bằng Bắc Bộ, đã trở thành một tiêu chuẩn chất lượng của âm nhạc Chèo, là một phương tiện hữu hiệu để "Chèo hóa" các chất liệu dân ca của nhiều vùng khác nhau du nhập vào Chèo.

    Người soạn nhạc cho Chèo, ngoài việc vận dụng tiết tấu còn phải đối diện với một vấn đề hết sức quan trọng, đó là việc xâ dựng và xử lý các làn điệu Chèo. Sự thành công hay thất bại cũng chính từ công đoạn này. Có thể nói làn điệu là hòn đá thử vàng của nghệ thuật Chèo. Qua thực tế sáng tác và suy ngẫm, xin mạnh dạn đặt lại vấn đề: Làn điệu trong âm nhạc Chèo không phải là chung một phạm trù, mà là hai: Làn và Điệu.

    Như ta đã biết, âm nhạc Chèo đã tiếp thu rất nhiều âm hưởng của giai điệu dân ca đồng bằng Bắc Bộ và của cả những vùng khác. Tùy nơi, tùy lúc trong sự phát triển của tích trò, những âm hưởng đó như nhiễm vào lời thơ rồi được hát lên làm tăng vẻ đẹp của thơ, phục vụ sự chuyển tải thơ qua các tình huống của vở. Đó chính là cái "hơi nhạc" (Airmusical) được gọi là Làn. Làn không định hình trong một thể nhất định. Có thể ví Làn như một chất lỏng, không có hình dáng, khi đựng vào cái chén thì có hình như cái chén, khi đựng vào chai thì nó có hình cái chai. Làn theo khổ thơ mà hát lên, thơ dài thì hát dài, thơ ngắn thì hát ngắn. Cấu trúc của thơ theo thể lục bát, tứ tuyệt hoặc các dạng biến hóa thì làn cũng không theo. Như vậy từ chất liệu dân ca khi biến thành làn, âm nhạc đã được "sân khấu hóa" cho phù hợp với những tình huống của tích trò.

    Làn là sản phẩm của nghệ thuật ứng tác, ứng diễn tự do theo phương thức dân gian. Người viết vở, người soạn nhạc và diễn viên cùng tham gia trong việc tạo làn. Ngay cùng một vở mà nhiều đoàn dựng, thì tùy tài ứng tác, vốn nghề cao thấp của nghệ sĩ diễn sẽ có hình hài, chất lượng khác nhau. Với một kàn hát trên một đoạn thơ, căn cứ vào tài diễn của nghệ sĩ biểu diễn có thể kéo dài, thu ngắn, nhấn ý, nhấn tình, dàn nhạc theo đó mà tòng, tùy nghi ứng tác. Đó là mảnh đất sáng tạo của nghệ thuật diễn, là chỗ để phô trương tài năng từ giọng hát đến tiếng đàn, tiếng trống. Đó là điều cần thiết phải có để Chèo mãi mãi giữ được phong vị dân gian tươi tắn.

    Bên cạnh Làn còn có Điệu. Trong vở diễn có những lúc cần tạo cảnh trí, tình huống, hay tạo những chiều sâu của nhân vật. Những tính cách nhân vật nhấn rõ thì phải có những bài hát riêng của nhân vật ấy, tình huống, tâm trạng ấy, đó là những Điệu. Từ khái niệm Điệu ta có thể liên tưởng tới những aria trong opéra và chức năng của nó. Điệu có thể ví như thủ pháp đặc tả cận cảnh trong điện ảnh.

    Điệu cũng lấy chất liệu từ Làn, nhưng cấu trúc chặt chẻ, định hình nghiêm chỉnh, có sử dụng kỹ thuật cao hơn. Có khi dùng Điệu và hát (đồng ca) để tả bối cảnh, để bình luận, giới thiệu, nhấn mạnh một sự việc nào đó. Có khi dùng điệu cho đơn ca, đối ca để mô tả tâm trạng, tính cách nhân vật. Điệu có thể phát triển đến phức tạp nhưng không được đi chệnh khỏi Làn, và Làn cũng như Điệu nhất thiết phải được xây dựng trên cơ sở tiết tấu đặc trưng của Chèo.

    Nhìn vào các bài bản Chèo sẽ thấy ngay: với làn thì theo sát lời thơ (ở đây thơ là chị, nhạc là em) vào ra không cần chuẩn bị, còn khi là điệu thì cơ sự chuẩn bị kỹ càng, vào ra hợp lý. Điệu khúc với làn ở chỗ coi trọng vai trò âm nhạc hơn (nhạc là chị, thơ là em), lấy hiệu quả giai điệu âm nhạc làm phương tiện diễn đạt chủ yếu. Nếu thơ không áp ứng được thì thêm những từ i, a, thế mà, dẫu mà... có khi rất dài để trọn nghĩa của ý nhạc định diễn đạt. Đó là tính đặc sắc của Điệu trong Chèo cổ.

    Ngày nay người soạn nhạc, tiếp thu tinh hoa truyền thống, phảo dày công sáng tạo để làm ra các điệu mới với sự huy động các phương tiện tạo dựng ngôn ngữ âm nhạc (như cấu trúc giai điệu, phối âm, phối khí) làm sao cho phù hợp với quy luật thẩm mỹ và tô đậm theo hình tượng nghệ thuật của vai diễn, vở diễn. Mối quan hệ giữa Làn và Điệu cần được quan tâm một cách đặc biệt trong khi dựng nhạc cho vở. Làn là "Môi trường âm nhạc" của vở diễn, trong đó chứa đựng và nuôi dưỡng những điệu. Nếu không có Làn thì Điệu dù hay đến mấy củng sẽ trở nên khô khan, kệch cỡm, và phong vị Chèo cũng sẽ mất đi.

    Làn, là sản phẩm của công việc "âm nhạc hóa" thơ ca (như ngâm thơ, đọc kệ, kể hạnh, nói sử các loại...) chuyển tiếp từ nói sang hát, từ ngâm ngợi tự do sang nhịp phách nghiệm cách (vỉa). Tiếng phách, tiếng trống điểm xuyến, cùng những nét dạo tợ do của từng cây nhạc cũng góp phần trong việc tạo làn. Có thể nói, đó là nét "Hoa văn", không thể thiếu trong quá trình tồn tại và phát triển của nghệ thuật Chèo. Loại bỏ làn (vì quan niệm coi đó là cũ) mà chỉ sáng tác tất cả là ca khúc (điệu), thì các điệu đó dù hay đến mấy cũng chịu số phận của con cá khi nằm trên thớt mà thôi!.

    Nếu nói Làn là "Môi trường âm nhạc" của vở diễn, thì người soạn nhạc phải luôn luôn quan tâm tới việc làm sạch môi trường đó. Từ việc loại những "hạt sạn" âm thanh, thận trọng tính toán liều lượng của khí nhạc, tránh làm loãng môi trường. Đạt được điểm đó, chính là đã tạo điều kiện cho sự tự do sáng tác âm nhạc, cho sự du nhập các chất liệu âm nhạc khác khi cần thiết, mà không sợ tổn hại tới phong cách của nhạc Chèo.

    Ông cha ta đã từng sáng tác ra các làn điệu, lúc đầu cho một tích trò, sau, vì thiếu người viết chuyên nghiệp nên phải dùng lại cho những tích trò khác theo lối "bình vũ rượu mới", cao hơn là "bẻ làn nắn điệu" cho phù hợp với lời thơ của vở diễn. Đây là một cách làm kéo dài trong lịch sử của Chèo, ở thời kỳ nghệ thuật truyền miệng còn là phương pháp hữu hiệu. Tuy vậy, không nên coi đó là một đặc điểm, hay thủ pháp đặc trưng, chuyên dụng và đa dụng trong nghệ thuật. Vì vốn dĩ nghệ thuật sáng tạo không chấp nhận sự lặp lại, lắp ghép khiên cưỡng, nhất là khi sự phát triển của Chèo đã ở giai đoạn nghệ thuật chuyên nghiệp như hiện nay.

    Ngày nay, những người soạn nhạc cho Chèo được quyền thừa kế cả một kho tàng chất liệu phong phú bao gồm: các bài dân ca, dân vũ, các sinh hoạt lễ hội, hàng trăm làn điệu Chèo cổ của nhiều thế kỷ trước đây. Từ đó sáng tạo ra những làn điệu mới cho phù hợp với vở diễn riêng biệt nhất định. Điều quan trọng, là phải tiến hành sáng tạo bằng phương thức cấu tạo nên Chèo và nhạc Chèo như phần trên đã nói. Nó đảm bảo cho phần âm nhạc vẫn nằm trên đất Chèo, mà không vượt qua ranh giới của nó.
    Hidden Content Hãy làm việc hết mình, những điều tốt đẹp sẽ đến với bạn !Hidden Content
    Hidden Content Hidden Content
    Hidden Content
    Hidden Content Hidden Content
    Hidden Content Hidden Content

  8. The Following User Says Thank You to pt1506 For This Useful Post:

    HanBangCongChua (03-04-2009)

  9. #5
    Tham gia ngày
    25-02-2008
    Nơi Cư Ngụ
    Hải Dương phố
    Bài gởi
    3298
    Thanks
    190
    Thanked 186 Times in 158 Posts

    Post Quy Nhơn cái nôi của Nghệ thuật Hát bội :

    Quy Nhơn cái nôi của Nghệ thuật Hát bội






    Nghệ thuật tuồng ở Bình Định nói chung và ở Quy Nhơn nói riêng từ nhiều thế kỷ qua đã tồn tại và phát triển rất mạnh, trở thành món ăn tinh thần đặc biệt và quen thuộc của nhân dân vùng đất này. Mặc dù có những biến động lịch sử, trải qua chiến tranh, những người dân Bình Định vẫn giữ môn nghệ thuật đặc sắc của mình và kiên quyết chống lại những cuộc xâm lăng văn hóa từ nước ngoài để Quy Nhơn vẫn là điểm hội tụ tài năng hát bội, rồi từ Quy Nhơn tỏa đi khắp các địa phương khác.

    Sự kiến đáng ghi nhớ trong lịch sử sân khấu tuồng là cuộc họp mặt các diễn viên, nghệ sĩ tuồng toàn quốc đầu tiên tại TP. Quy Nhơn giữa năm 1976. Từ đó Quy Nhơn trở thành điểm hội tụ thường xuyên của nghệ sĩ tuồng cách mạng kể từ sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất.

    Quy Nhơn hiện có nhà hát tuồng mang tên Đào Tấn - nhà hát đang gìn giữ và phát huy di sản tuồng đồ sộ của vị hậu tổ tuồng, danh nhân Đào Tấn. Nơi đây đã từng làm ra những công trình nghệ thuật tuồng mẫu mực về hát, múa, về biểu diễn tuồng truyền thống nói chung và đã giành được tiếng vang lớn như "Quang Trung đại phá quân Thanh", "Sao Khuê trời Việt", "Sáng mãi niềm tin", "Bùi Thị Xuân"... Đặc biệt, những vở tuồng cổ điển mẫu mực về văn học và nghệ thuật biểu diễn của Nguyễn Văn Diêu và Đào Tấn đã và đang được phục hồi ở Quy Nhơn để làm tài sản chung cho ngành tuồng cả nước nghiên cứu, học tập. Ngoài nhà hát tuồng Đào Tấn, ở Quy Nhơn còn rất nhiều câu lạc bộ tuồng truyền thống hoạt động thường xuyên. Ơở Quy Nhơn, xem tuồng là một tập tục hay một sự đam mê hiếm thấy.

    Cho đến hôm nay, Quy Nhơn (Bình Định) vẫn được coi là trung tâm của nghệ thuật hát bội (tuồng). Nói tới tuồng là người ta nghĩ đến Bình Định, và muốn được xem những vở tuồng đích thực của Đào Tấn, Nguyễn Văn Diêu... thì phải đến Quy Nhơn.

    Hidden Content Hãy làm việc hết mình, những điều tốt đẹp sẽ đến với bạn !Hidden Content
    Hidden Content Hidden Content
    Hidden Content
    Hidden Content Hidden Content
    Hidden Content Hidden Content

  10. #6
    Tham gia ngày
    25-02-2008
    Nơi Cư Ngụ
    Hải Dương phố
    Bài gởi
    3298
    Thanks
    190
    Thanked 186 Times in 158 Posts

    Post Sân khấu Cải lương bản sắc Dân tộc

    Sân khấu Cải lương bản sắc Dân tộc





    Cải lương ra đời cách đây chưa tới một trăm năm. Ngay từ lúc mới ra đời, cải lương đã chịu ảnh hưởng có tính chất quyết định của hai dòng sân khấu: sân khấu tuồng truyền thống của Việt Nam và sân khấu kịch hiện đại của Pháp. Sân khấu tuồng Việt Nam mang đặc trưng chung của sân khấu châu Aá là cấu trúc kịch bản, vở diễn theo kiểu tự sự và sân khấu kịch Pháp mang đặc trưng chung của sân khấu châu Âu là cấu trúc kịch bản, vở diễn theo kiểu A-ri-xtốt. Vì vậy, cải lương cũng đã có hai kiểu vở diễn rất khác nhau, nhưng cả hai lại có chung một nguồn âm nhạc. Các bài bản âm nhạc của cải lương đậm chất dân tộc, có đầy đủ để thể hiện tâm trạng nhân vật với tất cả các trạng thái khác nhau, tạo điều kiện cho diễn viên ca hát kết hợp với diễn xuất dù biểu diễn theo kiểu tuồng Việt Nam hay theo kiểu kịch Pháp.

    Trong quá trình phát triển, các bài bản cải lương đã được bổ sung thêm từ nguồn dân ca, hò, lý. Và khi tiếp cận, giao lưu với sân khấu kịch hát Quảng Đông (Trung Quốc) và tân nhạc của phương Tây, cải lương cũng đã chọn lọc một số bài bản, dân tộc hóa để làm giàu thêm vốn âm nhạc sẵn có. Cùng lúc bổ sung thêm các bài bản, dàn nhạc dân tộc của cải lương đã biết cách tiếp nhận các nhạc cụ hiện đại. Những cây đàn vi-ô-lông, măng-đô-lin, ghi-ta của phương Tây được các nghệ sĩ Việt Nam khoét phím để khi chơi đàn, cung bậc và giai điệu phù hợp với dàn nhạc dân tộc đã có sẵn. Cho tới nay, cây đàn ghi-ta phím lõm là nhạc cụ chính của cải lương và đã trở thành cây đàn dân tộc của Việt Nam.

    Một thời gian khá dài, hai kiểu biểu diễn trong hai loại vở diễn của cải lương tồn tại gần như độc lập nhau và cuộc đấu tranh giữa việc giữ gìn bản sắc dân tộc với việc phát triển hiện đại diễn ra chủ yếu trong lĩnh vực âm nhạc.

    Những bài bản sẵn có của cải lương khó về nhạc lý, một số bị trùng lắp cho nên các nghệ sĩ đã thu ngắn, giảm dần khi sử dụng trên sân khấu, đồng thời để bù đắp, một số sáng tác mới đã ra đời. Sáng tác mới của các nghệ sĩ ít hiểu biết về âm nhạc dân tộc dần dần đã làm cho âm nhạc cải lương phai nhạt bản sắc. Ban đầu còn "tân, cổ giao duyên" nhưng theo thời gian nhạc tân đã hoàn toàn lấn ác nhạc cổ. Không còn hồn nhạc dân tộc, chỉ biết chạy theo cái mới, nhiều vở diễn cải lương đã bị lai căng, mất gốc.

    Các bài bản có sẵn của cải lương chính là sự định hình về âm nhạc. Trong quá trình tiếp cận cái mới, không thể không căn cứ vào cái đã định hình, cái đã tạo nên bản sắc dân tộc cho cải lương. Nhưng sự định hình này không đồng nghĩa với sự cố định, bất di bất dịch vì cải lương đã chứng minh rằng, các bài bản đó có thể thu ngắn, hoặc có thể từ đó phát triển thêm thành những bài bản mới (như từ bài Dạ cổ hoài lang phát triển thành bài vọng cổ). Và như vậy, âm nhạc cải lương đã tạo cho mình một khả năng đặc biệt. Đó là vừa định hình, vừa phát triển. Nói cách khác, âm nhạc cải lương định hình để phát triển và phát triển để định hình. Đó cũng chính là mối quan hệ giữa bản sắc dân tộc và phát triển hiện đại của cải lương xét theo góc độ âm nhạc. Không nhìn nhận và giải quyết mối quan hệ giữa định hình và phát triển của âm nhạc, cải lương có tính biện chứng thì khó giữ được bản sắc dân tộc. Nếu chỉ biết định hình cải lương không đáp ứng được với các yêu cầu mới của thời đại và nếu chỉ biết phát triển hiện đại thì cải lương sẽ mất gốc, lai căng.

    Từ những kinh nghiệm của âm nhạc cải lương đã nêu trên, những người hoạt động sáng tạo cũng đã nhận ra mối quan hệ giữa truyền thống và hiện đại khi viết kịch bản và xây dựng vở diễn cho loại hình cải lương. Kế thừa sân khấu tuồng truyền thống Việt Nam, cải lương được cấu trúc kịch bản theo kiểu tự sự, mở, thoáng. Trang trí, biểu diễn theo phong cách ước lệ, tượng trưng tạo điều kiện để diễn viên phát huy tối đa các trình thức biểu diễn kết hợp múa và hát.

    Tiếp nhận sân khấu kịch Pháp cải lương lại được cấu trúc kịch bản theo kiểu A-ri-xtốt, khép, chặt. Trang trí, biểu diễn theo phong cách tả thực. Diễn viên đi sâu vào khai thác nội tâm nhân vật phù hợp với các vai diễn khác trong hệ thống hình tượng chung để làm rõ chủ đề của tác phẩm. Yếu tố múa không được chú trọng ở dạng vở diễn này dù thể hiện đề tài cổ.

    Ơở hai kiểu cấu trúc tưởng chừng trái ngược nhau đó, cải lương lại tạo được vùng giao thoa, tạo được cho mình một kiểu cấu trúc, mở thoáng của tuồng cùng lúc với cấu trúc khép, chặt của kịch A-ri-xtốt. Được như vậy, vì cải lương không chỉ kế thừa sân khấu tuồng truyền thống và tiếp nhận sân khấu kịch hiện đại là hai thực thể độc lập như nhiều người đã làm, mà hai yếu tố này còn được nhìn nhận và giải quyết như là hai mặt đối lập, tồn tại thống nhất, biện chứng trong một tác phẩm. Và sự thống nhất biện chứng giữa hai yếu tố kế thừa truyền thống của sân khấu tuồng và yếu tố tiếp nhận hiện đại của sân khấu kịch sẽ tạo điều kiện cho sân khấu kịch sẽ tạo điều kiện cho sân khấu kịch sẽ tạo điều kiện cho sân khấu cải lương luôn luôn phát triển hiện đại mà vẫn giữ trong nó bản sắc của sân khấu dân tộc.

    Theo quan niệm này, trong một tác phẩm (kịch bản, vở diễn) cải lương luôn bao gồm hai yếu tố truyền thống và hiện đại tồn tại trong sự thống nhất biện chứng và trong một tác phẩm âm nhạc cải lương luôn bao gồm hai yếu tố định hình và phát triển tồn tại trong sự thống nhất biện chứng.

    Có như vậy, trong quá trình phát triển cả về biểu diễn và âm nhạc, cải lương luôn giữ trong mình tố chất dân tộc với bản sắc riêng. Và bản sắc dân tộc có được bao nhiêu tùy thuộc vào bản lĩnh những người sáng tạo giải quyết các mối quan hệ biện chứng đã được đề cập trong từng tác phẩm.
    Hidden Content Hãy làm việc hết mình, những điều tốt đẹp sẽ đến với bạn !Hidden Content
    Hidden Content Hidden Content
    Hidden Content
    Hidden Content Hidden Content
    Hidden Content Hidden Content

  11. #7
    Tham gia ngày
    10-10-2008
    Bài gởi
    195
    Thanks
    3
    Thanked 15 Times in 11 Posts

    Default

    HÁT XOAN, HÁT GHẸO - Đặc sản của quê hương Rừng cọ đồi chè - Phú Thọ
    Hát xoan là một loại dân ca lễ nghi, phong tục gắn với hội mùa, thờ thành hoàng cũng như hát dặm, hát dô ở đồng bằng sông Hồng. Hát xoan được tổ chức vào mùa xuân, mở đầu cho múa hát để đón chào năm mới. Các họ xoan ở vùng đất Tổ lần lượt hát khai xuân ở miếu đình làng xã, sau đó các họ xoan sẽ đi hát lần lượt các nơi khác. Vì hát ở cửa đình cho nên hát xoan còn gọi là “khúc môn đình”.

    Theo truyền thuyết dân gian vùng đất tổ Phú Thọ, nghệ thuật hát xoan có từ thời các vua Hùng dựng nước. Tập "truyền thuyết Hùng Vương" đã ghi sự tích của hát xoan như sau: "Vợ vua Hùng mang thai đã lâu, tới ngày sanh nở, đau bụng mãi mà không sanh được. Có một người hầu tâu với vua Hùng về nàng Quế Hoa xinh đẹp, múa hát rất hay, nên đón nàng về múa hát có thể làm cho đỡ đau và sinh nở được. Vợ vua Hùng nghe lời, cho mời nàng Quế Hoa đến. Quế Hoa vâng theo lời triệu, đến chầu vua Hùng. Bấy giờ vợ vua Hùng đang lên cơn đau dữ dội, mới bảo nàng Quế Hoa đứng trước giường múa hát. Quế Hoa vâng lời miệng hát, tay múa, đi qua, đi lại trước giường. Giọng hát trong vắt , khi cao, khi thấp như chim ca, suối chảy, tay uốn chân đưa, người mềm như tơ, dẻo như bún ai cũng say mê. Vợ vua Hùng mải nghe hát, xem múa không thấy đau nữa, hạ sanh được ba người con trai khôi ngô dẹp đẽ. Vua Hùng vui mừng khôn xiết và hết lời khen ngợi Quế Hoa, mới bảo nàng dạy múa hát cho các mỵ nương. Quế Hoa hát chầu vợ vua Hùng vào đầu mùa xuân nên các mỵ nương gọi lối hát ấy là hát xoan".

    Ngày nay, hát xoan chỉ thấy phổ biến ở vùng đất Tổ diễn ra vào mùa xuân, sau Tết Nguyên Đán. Mỗi phường xoan giữ hát ở một số cửa đình nhất định. Tục giữ cửa đình cũng có ý nghĩa là tránh sự tranh chấp và dẫm chân nhau giữa các phường xoan. Từ tục này đã dẫn đến tục kết nghĩa họ xoan và người địa phương của đình sở tại. Tình nghĩa ấy rất được coi trọng. Và mỗi phường xoan hay còn gọi là họ xoan phải có một ông trùm, bốn năm kép và từ mười đến mười lăm đào.

    Ông trùm xoan lo hướng dẫn, chỉ bảo các đào, kép học tập các làn điệu hát, múa và chuyên lo giao dịch với các địa phương. Các đào xoan đều là các cô gái xinh đẹp, có giọng hát hay, tuổi từ 15-20. Khi đã có chồng thì không theo phường hát nữa. Kép có thể là người đứng tuổi, đã có vợ con.

    Hàng năm, trước khi đi hát, các phường xoan thường lo tập luyện trước vào tháng Chạp âm lịch.

    Hát xoan phải theo trình tự đã qui định, gồm hát phần nghi lễ tôn giáo; phần diễn xướng các quả cách như xuân, hạ, thu, đông, ngư tiều canh mục, thuyền chèo, tứ dân... cơ bản là hát lối và ngâm đọc, có thêm phần hát hội mang tính chất trữ tình, phản ánh những nội dung yêu đương, giao duyên giữa trai và gái. Cuối cùng là phần giã cá để kết thúc quá trình diễn xướng của hát xoan.

    Mùa xuân trên quê hương đất Tổ, không gì vui bằng đi xem hát xoan. Và hát xoan thì cứ tiếp tục hát từ đình này cho đến đình khác khiến cho không khí hội hè, vui xuân cứ kéo dài ra mãi.
    ( Copy từ http://nguoivienxu.vietnamnet.vn/pho...2004/02/50815/ )

Quyền Sử Dụng Ở Diễn Ðàn

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •