Trang 1/24 12311 ... cuốicuối
kết quả từ 1 tới 10 trên 236

Ðề tài: Lịch sử Hải quân nhân dân việt Nam (1955-2005)

  1. #1
    Tham gia ngày
    04-10-2007
    Nơi Cư Ngụ
    Northern Crater
    Bài gởi
    6755
    Thanks
    81
    Thanked 241 Times in 135 Posts

    Default Lịch sử Hải quân nhân dân việt Nam (1955-2005)

    www.quansuvn.net
    Lịch sử Hải quân nhân dân việt Nam (1955-2005)

    Tác giả:
    Nhà xuất bản: Quân đội Nhân dân
    Năm xuất bản: 2005
    Số hóa bởi: rongxanh, saovang, ptlinh


    Lời giới thiệu của Đại tướng Võ Nguyên Giáp


    Hải quân Việt Nam là một quân chủng anh hùng của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng.Từ rất sớm, Bác Hồ và Đảng ta đã quan tâm, lập ra Bộ phận nghiên cứu hải quân. Sau khi miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, ngày 7 tháng 5 năm 1955, Cục phòng thủ bờ bể được thành lập. Trải qua nửa thế kỷ xây dựng và chiến đấu, duới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng và Nhà nước, trực tiếp là Đảng ủy quân sự trung ương, Bộ Quốc phòng và sự giúp đỡ, đùm bọc của nhân dân, Hải quân Việt Nam đã phát triển lớn mạnh, làm tròn nhiệm vụ là lực lượng nòng cột của chiến tranh nhân dân trên chiến trường sông biển, lập nên những chiến công to lớn trên các mặt trận và những kỳ tích vận tải đường biển chi viện tiền tuyến lớn miền Nam.

    Nhân dịp kỷ niệm 50 năm thành lập Hải quân Việt Nam, tôi hoan nghênh việc xuất bản cuốn “Lịch sử Hải quân nhân dân Việt Nam (1955-2005)”. đây là công trình biên soạn công phu, có nhiều tài liệu lịch sử quý phản ánh quá trình xây dựng và chiến đấu của Hải quân nhân dân Việt Nam, góp phần vào công tác nghiên cứu tổng kết và giáo dục truyền thống, kinh nghiệm cho các thế hệ cán bộ, chiến sĩ, công nhân, nhân viên hải quân .

    Ngày nay, Tổ quốc Việt Nam thống nhất của ta từ Lũng Cú đến mũi Cà Mau, bao gồm cả lãnh thổ trên đất liền và rãnh thổ rộng lớn trên biển. nhiệm vụ bảo vệ vùng biển, đảo hết sức nặng nề, vai trò của Quân chủng Hải quân rất quan trọng. Tôi mong rằng, Quân chủng Hải quân tiếp tục phát huy truyền thống vẻ vang của Hải quân nhân dân Việt Nam, thực hiện đúng lời Bác Hồ dạy: “Phải học tập kinh nghiệm chiến đấu hiện đại, nhưng không quên những truyền thống đánh giặc xa kia của tổ tiên”, không ngừng rèn luyện nâng cao phẩm chất chính trị và trình độ quân sự, đoàn kết phấn đấu xây dựng Quân chủng Hải quân ngày càng vững mạnh theo hướng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ và từng bước hiện đại, góp phần xứng đáng vào công cuộc đổi mới, xây dựng đất nước giàu mạnh và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
    Hà Nội, ngày 3 tháng 2 năm 2005.

    Đại tướng VÕ NGUYÊN GIÁP
    The above-all

  2. #2
    Tham gia ngày
    04-10-2007
    Nơi Cư Ngụ
    Northern Crater
    Bài gởi
    6755
    Thanks
    81
    Thanked 241 Times in 135 Posts

    Default

    Lời nói đầu

    Chiến thắng Đông Xuân 1953 - 1954, đỉnh cao là chiến dịch Điện Biên Phủ đã kết thúc 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết. Hòa bình được lập lại trên toàn cõi Đông Dương, nhưng Việt Nam tạmthời bị chia cắt làm hai miền: miền Bắc hoàn toàn giải phóng, miền Nam tạm thời còn dưới ách thông trị của đê/quắc Mỹ và tay sai, với âm mưu thôn tính chia cắt nước ta lâu dài bằng chính sách thực dân kiểu mới .
    Sau năm 1954, tình hình trong nước và quốc tế rất phức tạp cách mạng Việt Nam phải đồng thời thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược: tiến hành cách mang xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và cách mạng giải phóng dân tộc ở miền Nam thực hiện hòa bình, thống nhất Tổ quốc. Để giải quyết thắng lợi cả hai nhiệm vụ nêu trên, trong nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, Đảng ta xác định: việc quản lý bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ biển đảo của Tổ quốc có ý nghĩa chiến lược vô cùng quan trọng. Trước tình hình đó, Đảng và Nhà nước đã có chủ trương về xây dựng lực lượng Hải quân nhân dân. Quá trình chuẩn bị từ khi Bộ trưởng Quốc phòng - Đại tướng Võ Nguyên Giáp ký quyết đinh thành lập Ban nghiên cứu thủy quân ( thuộc Bộ Tổng Tham mưu) ngày 8 tháng 3 năm 1949, đến ngày 7 tháng 5 năm 1955 Hải quân nhân dân Việt Nam chính thức được thành lập theo Nghị định số 284/NĐ của Bộ Quốc phòng. Trải qua nửa thế kỷ chiến đấu và trưởng thành, Hải quân nhân dân Việt Nam là một bộ phận không thể tách rời của Quân đội nhân dân Việt Nam, vừa làm nhiệm vụ Tham mưu đề xuất chủ trương, phương châm, biện Pháp chiến lược quân sự trên hướng biển, vừa nắm chắc ý định của cơ quan lãnh đạo cấp trên để tổ chức chỉ đạo thực hiện các kế hoạch chiến lược, chiến dịch... và xây dựng lực lượng có hiệu quả; đã làm nên truyền thống vẻ vang " chiến đấu anh dũng, mưu trí sáng tạo, làm chủ vùng biển, quyết chiến quyết thắng". Do những công lao to lớn góp phần làm nên chiến thắng vẻ vang của cả dân tộc trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước cũng như¬ trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa mà Quân chủng Hải quân luôn được sự quan tâmchăm sóc của Đảng, của Bác Hồ kính yêu; được Đảng ủy quân sự trung ương và Bộ Quốc phòng đánh giá rất cao; Quân chủng được Đảng, Nhà nước tuyên dương danh hiệu Đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, được tặng thưởng 1 huân chương Sao vàng, 1 huân chương Hồ Chí Minh; 2 huân chương Độc lập; 3 huân chương Quân công, 1 huân chương Lao động, 50 đơn vị và 31 cán bộ, chiến sĩ được tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân và Anh hùng lao động.
    Truyền thống vẻ vang và những thành tích đó là thành quả của quá trình phấn đấu không mệt mỏi của lớp lớp cán bộ, chiến sĩ, quân nhân chuyên nghiệp và công nhân viên quốc phòng của Hải quân cùng với sự quan tâm giúp đỡ của Đảng và nhân dân cả nước.
    Nhân dịp kỷ niệm 50 năm ngày thành lập Hải quân nhân dân Việt Nam (7-5-1955 ~ 7-5-2005) Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Hải quân tổ chức biên soạn “Lịch sử Hải quân nhân dân việt Nam (1955-2005)” trên cơ sở kếthừa cuốn “Lịch sử Hải quân nhân dân Việt Nam” xuất bản năm 1985 và "Lịch sử Hải quân nhân dân Việt Nam (1955-1995) - Biên niên sự kiện" xuất bản năm 1996, song hoàn thiện hơn, đầy đủ hơn. Nội dung sách được bố cục thành 7 chương, theo trình tự thời gian.
    Lịch sử Hải quân nhân dân Việt Nam (1955-2005) là công trình lịch sử rất lớn của Quân chủng; yêu cầu phải bảo đảm độ chính xác và tính trung thực cao, thể hiện sự quán triệt sâu sắc đường lối, quan điểm, tư tưởng quân sự của Đảng Cộng sản Việt Nam trong giai đoạn hình thành phát triển của Hải quân. Mặc dù tập thể các tác giả đã có rất nhiều cố gắng trong việc sưu tầm, xác minh tư liệu trong quá trình nghiên cứu biên soạn và được sự cộng tác nhiệt tình trách nhiệm cung cấp tư liệu, đóng góp ý kiến xây dựng của Thủ trưởng Bộ Tư lệnh, Thủ trưởng các cơ quan Quân chủng ở các thời kỳ khác nhau... song cuốn sách “Lịch sử Hải quân nhân dân Việt Nam (1955-2005)” chắc chắn còn có khiếm khuyết nhất định. Ban biên soạn rất mong các độc giả trong và ngoài Quân chủng đóng góp ý kiến để tiếp tục biên soạn hoàn thiện hơn cuốn Lịch sử Hải quân nhân dân Việt Nam cho lần xuất bản sau.
    Nhân dịp sách “Lịch sử Hải quân nhân dân Việt Nam (1955-2005)” ra mắt bạn đọc, Đảng ủy - Bộ Tư lệnh Hải quân xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ quý báu của các cơ quan, đơn vị trong và ngoài Quân chủng, các đồng chí lão thành cách mạng từng lãnh đạo, chỉ huy ở Quân chủng đã tạo điều kiện thuận lợi để sách được xuất bản. Chân thành cảm ơn Đại tướng Võ Nguyên Giáp - Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam, ng¬ười đầu tiên đặt nền móng xây dựng Hải quân nhân dân Việt Nam đã viết lời giới thiệu cuốn sách và xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với Ban Chấp hành trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Đảng ủy quân sự trung ương, Bộ Quốc phòng, cá nhân các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quân đội, đồng bào và chiến sĩ cả nước đã dành cho Hải quân sự quan tâm đặc biệt, sự giúp đỡ chu đáo, tận tình có hiệu quả trong nửa thế kỷ qua, nhờ đó mà Hải quân nhân dân Việt Nam đã không ngừng trưởng thành, vượt qua mọikhó khăn, thử thách, hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao.
    Xin cảm ơn Nhà xuất bản Quân đội nhân dân đã tạo điều kiện để cuốn sách được ra mắt bạn đọc đúng dịp kỷ niệm 50 năm ngày thành lập Hải quân nhân dân Việt Nam.
    ĐẢNG ỦY VÀ BỘ TƯ LỆNH HẢI QUÂN
    The above-all

  3. #3
    Tham gia ngày
    04-10-2007
    Nơi Cư Ngụ
    Northern Crater
    Bài gởi
    6755
    Thanks
    81
    Thanked 241 Times in 135 Posts

    Default

    CHƯƠNG MỘT
    TRUYỀN THỐNG QUÂN THỦY TRONG LỊCH SỬ DÂN TỘC
    HẢI QUÂN NHÂN DÂN VIỆT NAM RA ĐỜI (1955 - 1959)

    Truyền thống chiến đấu trên sông biển trong lịch sử dân tộc và trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp
    Việt Nam là một nước nằm trên bán đảo Đông Dương thuộc vùng Đông Nam châu á. lãnh thổ của Việt Nam bao gồm hơn 331 nghìn ki-lô-mét vuông trên đất liền và cả một vùng biển rộng khoảng một triệu ki-lô-mét vuông. Vùng biển nước ta tiếp giáp với vùng biển nhiều nước. Phía bắc giáp với vùng biển trung Quốc; phía đông, nam và tây nam giáp với vùng biển của các nước Phi-líp-pin, In-đô nê-xi-a, Ma-lai-xi-a, Cam-pu-chia và Thái Lan.
    Vùng biển nước ta có khoảng trên 2.800 hòn đảo. trong đó phần lớn các đảo nằm ở khu vực ven bờ, hợp thành một hệ thống với tổng diện tích là 1.638 km2, có 82 đảo diện tích lớn hơn một ki-lô-mét vuông, trong đó có 23 đảo diện tích lớn hơn l0 km2 và 3 đảo lớn nhất là đảo Phú Quốc, đảo Cái Bầu và đảo Cát Bà.
    Do đặc điểm kiến tạo các đảo này phân bố không đều, chủ yếu tập trung ở hai khu vực: vịnh Bắc Bộ và vùng biển phía Đông Nam Bộ, hình thành từng tuyến, gồm tuyến ở sát bờ và gần bờ cách bờ khoảng 30km, có các đảo ở vùng biển Đông Bắc; các đảo Hòn Mê, Hòn mắt, Cồn Cỏ, Cù Lao Chàm, Cù Lao Ré, Hòn Khoai, Hòn Bư¬ơng, Hòn Chuối, Hòn Tre. ..); tuyến đảo ở tương đối xa (các h bờ từ 30 - 100km, có các đảo Bạch Long Vĩ, Thổ Chu, Côn Sơn, Nam Du, Phú Quốc) và tuyến đảo xa (các h bờ khoảng 260 -500km, có quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa). Các đảo và quần đảo này nối tiếp nhau, tạo thành những bức thành lũy thiên nhiên thuận lợi cho việc bảo vệ chủ quyền vùng biển, hải đảo của Tổ quốc từ xa.
    Vùng biển nước ta có các loại hải sản quý nh¬ư: tôm, cá (khoảng 2.040 loài), bào ngư¬, đồi mồi, trai ngọc..; có nguồn nguyên liệu, nhiên liệu như¬: dầu mỏ, khí đốt cùng các loại quặng kim loại quý ở thềm lục địa, cũng nh¬ư nguồn năng lượng vô tận ở thủy triều,. .. Đó là những nguồn tài nguyênphong phú phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế, xây dựng đất nước của nhân dân ta.
    Bờ biển nước ta chạy dọc theo đất nước từ Mũi Ngọc (Quảng Ninh) đến Hà Tiên, dài hơn 3.260km với hàng trăm cửa các con sông lớn, nhỏ từ đất liền chảy ra biển. Từ x¬a, sông biển nước ta đã hình thành một mạng lưới, phần lớn thông với nhau, tạo thành hệ thống sông nước Liên hoàn rất thuận tiện cho việc giao thông đi lại giữa các địa phương trong nước. Đặc biệt, các hải cảng lớn như¬: Hải phòng, Đà Nẵng, Cam Ranh, Sài Gòn là những cửa ngõ thông thương bằng đường biển quan trọng giữa các vùng trong nước và giữa nước ta với các nước trong khu vực và trên thế giới. Khu vực bờ biển, vùng biển và hải đảo của Việt Nam là địa bàn hiểm yếu, có vị trí chiến lược quan trọng về chính trị, kinh tế, đối ngoại và quốc phòng – an ninh của quốc gia.
    Sông biển Việt Nam có vị trí hết sức quan trọng trong quá trình phát triển của dân tộc. Từ xa x¬a đến nay, các triền sông, cửa biển là những địa bàn tập trung dân c¬ư đông đúc làm ăn sinh sống. Nghề sông biển sớm phát triển, nên kiến thức về sông biển của nhân dân ta vô cùng phong phú. Nhờ vậy, ở những địa bàn này đã dần dần hình thành các trung tâm quan trọng về kinh tế, chính trị, văn hóa của đất nước.
    Có thể nói, sông biển Việt Nam gắn liền với cuộc sống lao động cần cù, anh dũng của nhân dân ta. Cũng chính vì thế, trong lịch sử dân tộc đã sớm hình thành ý thức về chủ quyền quốc gia và nhu cầu bảo vệ hoạt động trên địa bàn sông biển. xây dựng quân thủy và giỏi thủy chiến đã trở thành nét nổi bật trong lịch sử tổ chức quân sự và nghệ thuật quân sự của dân tộc Việt Nam. Cùng với những chiến công oanh liệt trên đất liền, dân tộc ta đã lập nên biết bao chiến công oai hùng trên chiến trường sông biển, tiêu diệt cả những đạo quân lớn của giặc lợi dụng đường sông, biển tiến vào xâm lược nước ta.
    đánh giá về truyền thống chiến đấu trên sông biển của dân tộc, Đại tướng Võ Nguyên Giáp nhấn mạnh: "Do nước ta có vị trí quan trọng, có bờ biển dài, nhiều sông lớn, nên từ xa x¬ưa tới nay kẻ địch bên ngoài thường lợi dụng biển và sông để xâm lược nước ta. và ở trên biển, trên sông, trong quá trình lịch sử, dân tộc Việt Nam đã bao lần nêu cao truyền thống chống ngoại xâm anh hùng, bất khuất... Kể từ khi Vua Hùng dựng nước, dân tộc ta đã ghi biết bao sự tích anh hùng trên non sông nước ta nói chung, trên sông, biển nước ta nói riêng" [Võ Nguyên Giáp, chiến tranh nhân dân trên chiến trường sông biển, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1972, tr 10].
    Ngay từ buổi đầu dựng nước, quân thủy Việt Nam đã là quân thủy giữ nước, quân thủy bảo vệ đất nước. Thời Hùng Vương có truyền thuyết về chống giặc Quỳnh Châu từ phía Bắc và diệt Hồ Tôn từ phía Nam. Thời âu Lạc, khi xây dựng thành Cổ Loa, An Dương Vương đã dựa vào sông Hoàng Giang làm hào thiên nhiên che chở mặt nam thành. Thế kỷ VI, Lý Nam Đế tổ chức quân thủy đánh quân Lư¬ơng ở sông Tô Lịch, hồ Điển Triệt, rồi Triệu quang phục đánh địch ở đầm Dạ Trạch. Thế kỷ thứ X, đội quân của Khúc Thừa Dụ ở Hồng Châu, của Dương Đình Nghệ ở ái Châu và tiếp đó là quân đội của Ngô Quyền đều được huy động và tuyển mộ từ những dân chài ven sông biển, lập nên những đạo quân thủy thông thạo thuyền bè và chiến đấu trên sông nước. Ngô Quyền - vị tướng tài giỏi của dân tộc lần đầu tiên đã nắm vững quy luật thủy triều huy động quân dân dùng cọc gỗ cắm ở sông Bạch Đằng, lập chiến công hiển hách, đánh tan đoàn chiến thuyền hùng mạnh của đội quân xâm lược Nam Hán (năm 938), chấm dứt ách đô hộ gần một nghìn năm của phong kiến phương Bắc, mở đầu thời kỳ độc lập lâu dài của dân tộc ta.
    The above-all

  4. #4
    Tham gia ngày
    04-10-2007
    Nơi Cư Ngụ
    Northern Crater
    Bài gởi
    6755
    Thanks
    81
    Thanked 241 Times in 135 Posts

    Default

    Năm 981, quân dân ta dưới sự thống lĩnh của tướng quân Lê Hoàn, phát huy tài thủy chiến của dân tộc, lập nên trận thắng oanh liệt trên sông Bạch Đằng lần thứ hai, tiêu diệt hoàn toàn đạo quân xâm lược Tống.

    Thời Lý, thế kỷ thứ XI, vấn đề xây dựng căn cứ, chốt quân thủy phòng thủ đường biển chính thức được đặt ra, trong đó Vân Đồn giữ vai trò quan trọng bảo vệ đất nước trên hướng biển Đông Bắc của Tổ quốc. Thường xuyên theo dõi và nắm chắc âm m¬ưu quân Tống chuẩn bị xâm lược nước ta, năm 1075, Lý Thường Kiệt, nhà chính trị và quân sự kiệt xuất của Nhà nước Đại Việt, đã thống lĩnh 10 vạn quân thủy, bộ chủ động hành quân tập kích đánh tan các căn cứ xuất phát xâm lược của địch ngay trên đất địch, tạo điều kiện thuận lợi để ta chuẩn bị lực lượng, xây dựng và củng cố thế trận phòng thủ vững chắc trên tuyến sông Như¬ Nguyệt, đánh thắng cuộc tiến quân xâm lược quy mô lớn của chúng vào năm 1077.

    Sang thời Trần, thế kỷ thứ XIII, quân thủy ta càng được coi trọng phát triển về tổ chức, trang bị và huấn luyện. trong ba lần kháng chiến chống quân Nguyên - Mông, quân dân thời Trần đã phát huy truyền thống thủy chiến của dân tộc, lập chiến công oanh liệt trên chiến trường sông biển, tiêu biểu là các trận Chương Dương, Hàm Tử, Vân Đồn, Vạn Kiếp. Đặc biệt là trong cuộc kháng chiến lần thứ ba (năm 1288), dưới sự chỉ huy thiên tài của Trần Quốc Tuấn, quân và dân ta lại lập nên chiến công vang dội nhất trên dòng sông Bạch Đằng lịch sử, tiêu diệt toàn bộ đạo quân thủy sáu vạn tên, bắt các tướng Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp, Tích Lệ Cơ, buộc Thoát Hoan phải rút quân chạy trốn về nước. những nhân vật tài giỏi về hoạt động trên sông biển như¬ Trần Khánh w¬, Yết Kiêu, Dã T¬ượng, Trần quang Khải, Trần Nhật Duật, Nguyễn Khoái đã lập công xuất sắc, làm rạng rỡ nghệ thuật đánh giặc trên sông biển thời Trần.

    Thế kỷ thứ XVI, thế kỷ XVII và những năm đầu thế kỷ XVIII, quân thủy Việt Nam cũng đã chiến thắng các đội thủy quân xâm lược của chủ nghĩa t¬ư bản châu âu ( đánh thắng hạm đội của thực dân Tây Ban Nha năm 1595, hai lần đánh thắng hạm đội của thực dân Hà Lan các năm 1642, 1643 và đánh thắng hạm đội của thực dân Anh năm 1702).

    Sang thế kỷ XVIII, nghệ thuật chiến đấu trên sông biển Việt Nam đã phát triển tới một trình độ khá cao. Dưới sự chỉ huy của Nguyễn Huệ - ngư¬ời anh hùng dân tộc, một lực lượng quân thủy hùng hậu đã được xây dựng. Với hàng nghìn chiến thuyền các loại được trang bị vũ khí mạnh, chở theo cả voi chiến, quân thủy Tây Sơn đã nhiều lần vư¬ợt biển vào Nam, ra Bắc đánh đổ hai tập đoàn phong kiến Trịnh (Đàng ngoài), Nguyễn (Đàng trong ), chấm dứt cảnh đất nước bị chia cắt hơn 200 năm. Đặc biệt, năm 1785, Nguyễn Huệ trực tiếp chỉ huy quân thủy tiến công đánh thắng quân Xiêm ở Rạch Gầm - Xoài Mút. đây làm ột trong những trận đánh trên chiến trường sông biển tiêu biểu của dân tộc ta.

    Đến giữa thế kỷ XIX, khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, triều Nguyễn không kiên quyết lãnh đạo nhân dân kháng chiến, sau đó đầu hàng giặc, nhân dân ta ở khắp nơi đã đứng lên chống quân xâm lược. trên các kênh rạch ở Nam Bộ, lực lượng kháng chiến của nghĩa quân Nguyễn trung Trực đã nhiều lần đánh vào lực lượng quân thủy giặc, gây cho chúng những thiệt hại đáng kể. Trận đánh nổi tiếng nhất là do Nguyễn trung Trực trực tiếp chỉ huy, đốt cháy tàu chiến lớn ê-xpê-răng-xơ (hy vọng) trên sông Nhật Tảo (1861). Lần đầu tiên, pháo hạm - một ¬ưu thế quân sự của Pháp trong chiến tranh xâm lược Việt Nam bị đánh bại.

    Như¬ vậy, cùng với những lực lượng bộ binh, kỵ binh, tượng binh hùng mạnh, dân tộc ta đã sớm xây dựng được những lực lượng quân thủy thiện chiến, phối hợp chặt chẽ giữa lực lượng trên mặt nước với lực lượng trên bờ, sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu thắng lợi, bảo vệ nền độc lập, tự chủ của dân tộc, giữ gìn giang sơn gấm vóc của Tổ quốc.

    Tri thức phong phú và tài thao lược của dân tộc ta trong đánh giặc trên chiến trường sông biển được hình thành, phát triển theo yêu cầu của các cuộc khởi nghĩa, nhất là kháng chiến chống quân xâm lược từ bên ngoài, trở thành truyền thống quý báu làm phong phú thêm kho tàng tri thức quân sự Việt Nam, đồng thời là tài sản vô giá để quân đội ta nói chung, Hải quân nhân dân Việt Nam nói riêng kếthừa và phát huy trong các cuộc chiến tranh giải phóng cũng như¬ chiến tranh bảo vệ Tổ quốc dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

    ngày 3 tháng 2 năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, đội tự vệ công nông, mầm mống đầu tiên của lực lượng vũ trang cách mạng hình thành. Tiếp đó, các đội quân tiền thân của quân đội ta (Đội du kích Bắc Sơn, Quân du kích Nam Kỳ, các đội Cứu quốc quân, Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân, Đội du kích Ba Tơ...) lần lượt hình thành, phát triển nhanh chóng trong cao trào chống Nhật, cứu nước, được thống nhất thành Việt Nam giải phóng quân, cùng toàn dân tiến hành Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945, đánh đổ hoàn toàn ách thống trị của phát xít Nhật và tay sai, giành chính quyền cách mạng trong cả nước. ngày 2 tháng 9 năm 1945, tại Quảng trường Ba Đình (Hà Nội), Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam châu á.

    Cách mạng tháng Tám vừa giành được thắng lợi, nhân dân ta lại đứng trước khó khăn chồng chất và những thử thách ngặt nghèo, nhất là nguy cơ thực dân Pháp xâm lược nước ta một lần nữa và hành động của các thế lực thù địch đang lăm le bóp chết cách mạng Việt Nam. Trước khó khăn của cách mạng, trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã coi trọng việc xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, trong đó có lực lượng hải quân. trên cơ sở những đơn vị du kích và tự vệ chiến đấu phát triển rộng khắp, Đảng ta tuyển chọn những chiến sĩ có giác ngộ, có tinh thần chiến đấu bổ sung vào các đơn vị vũ trang tập trung.

    Để bảo vệ chủ quyền vùng biển của nước ta, các tổ chức dân quân ở các làng xóm, thôn xã ven biển được khẩn trương xây dựng. Nhiều chi đội Vệ quốc quân được điều về chốt giữ trên những địa bàn xung yếu. một số tổ chức Hải quân do các địa phương thành lập cũng ra đời. Tại Hải phòng, Bộ Tư lệnh khu Duyên Hải tổ chức ủy ban Hải quân Việt Nam, quân số gần 200 ngư¬ời. Tiêu biểu là đại đội Ký Con thành lập năm 1945 với phương tiện hoạt động gồm một tàu nhỏ và 3 ca nô với cách đánh du kích, đã lập nên nhiều chiến công. Tàu được đặt tên là Bạch Đằng cùng các tàu và ca nô của ủy ban Hải quân Việt Nam có nhiệm vụ hoạt động ở cửa biển Hải phòng và vùng ven biển Đông Bắc.

    Ở Đà Nẵng, có tổ chức thủy quân miền Nam trung Bộ, lực lượng gồm khoảng 400 ng¬ười. ngoài ra, một số địa phương khác như¬ Cửa Lò, Nha Trang, Sài Gòn,. .. các lực lượng vũ trang trên biển cũng được thành lập. những đơn vị này, nơi gọi " thủy quân ", nơi gọi "Hải quân ". Mặc dầu tên gọi khác nhau, nhưng các tổ chức vũ trang đó đều đặt dưới sự lãnh đạo của các đảng bộ địa phương và sự chỉ huy trực tiếp của bộ Tư lệnh các khu.
    trong năm đầu của chính quyền nhân dân, các tổ chức thủy quân vừa tiến hành xây dựng lực lượng, chuẩn bị cơ sở vật chất, vừa cùng các lực lượng vũ trang nhân dân ta đẩy mạnh các hoạt động chiến đấu, kiên quyết bảo vệ chủ quyền vùng sông biển của Tổ quốc.

    Thực hiện âm mưu trở lại xâm lược nước ta, bọn thực dân Pháp cho bọn tàn quân từ trung Quốc lén lút chiếm một số hòn đảo và dùng tàu khiêu khích ta ở vùng biển Đông Bắc. đầu tháng 9 năm 1945, chúng cho chiếc tàu Cray-xắc (Crayssac) đến vùng biển Hòn Gai tiến hành các hoạt động khiêu khích và móc nối với bọn phản động trong đất liền. Quyết tâm bảo vệ lãnh hải của Tổ quốc, đại đội Ký Con được lệnh dùng hai tàu Bạch Đằng, Giao Chỉ và một ca nô cùng một trung đội tiến ra vây bắt tàu địch. Các thuyền đánh cá của nhân dân đang hoạt động trên biển cũng lao đến hỗ trợ. Bọn giặc có nhiều vũ khí trang bị nhưng trước áp lực của quân dân ta, chúng hoang mang, lúng túng buộc phải đầu hàng. Ta bắt hơn 10 tên, cả chỉ huy và thủy thủ Pháp, giải thoát một số thủy thủ người Việt. Số thủy thủ này tình nguyện theo quân cách mạng, được biên chế vào đơn vị tàu của ta. Đại đội Ký Con thu tàu Cray-xắc, 1 khẩu pháo 37mm, 2 trọng liên, 2 đại liên, 1 ba-dô-ca, 2 các -bin, một số súng trường và trang bị kỹ thuật. ngày 8 tháng 9 năm 1945, đồng chí Nguyễn Bình, Khu trưởng chiến khu 3 đến thăm, biểu dương cán bộ, chiến sĩ đại đội Ký Con. Đồng chí ra lệnh gỡ chữ Cray-xắc và gắn chữ Ký Con bằng đồng vào mũi tàu. Từ đây tàu Ký Con được biên chế trong lực lượng vũ trang chiến khu 3.

    ngày 11 tháng 9 năm 1945, địch huy động tàu Ô đát xi ơ (Audacieuse) đến vùng biển Hòn Gai trinh sát tìm kiếm tàu Cray-xắc. Ta dùng ngay tàu Ký Con (tức tàu Cray-xắc) vừa chiếm được đánh đuổi và chiếm tàu ô đát xi ơ bắt 8 sĩ quan và thủy thủ Pháp đầu hàng, thu 1 đại liên, 1 ba-dô-ca cùng một số vũ khí trang bị khác. ngày 12 tháng 9, ta giao tàu ô-đát-xi-ơ cho một đơn vị vận tải thuộc chiến khu 3 và tổ chức tàu Ký Con cùng một số ca nô thành một thủy đội làm nhiệm vụ tuần tiễu vùng ven biển từ Hòn Gai đến Hải phòng .
    The above-all

  5. #5
    Tham gia ngày
    04-10-2007
    Nơi Cư Ngụ
    Northern Crater
    Bài gởi
    6755
    Thanks
    81
    Thanked 241 Times in 135 Posts

    Default

    Phát huy thắng lợi, Bộ Tư lệnh khu Duyên Hải quyết định đánh vào hai đảo Cô tô và Vạn Hoa, nơi quân Pháp từ Bắc Hải ( trung Quốc) về chiếm đóng trái phép sau khi quân Nhật đầu hàng Đồng minh, nhằm phá tan căn cứ của chúng. Đêm ngày 10 tháng 11 năm 1945, ta tiến đánh Vạn Hoa và đêm ngày 13 tháng 11, đánh đảo Cô Tô. Cô Tô là một đảo lớn dài 12km, rộng 2,5km nằm ở vùng biển Đông Bắc. Tàn quân thủy binh Pháp có 3 tàu và 1 trung đội chiếm đóng trái phép đảo Cô Tô. Đêm ngày 13 tháng 11, khoảng 50 cán bộ, chiến sỹ đại đội Ký Con chia làm hai bộ phận đổ bộ lên đảo. lực lượng ta tuy ít nhưng chiến đấu rất dũng cảm. Bộ phận đánh Đồn Cao (hướng chủ yếu ) gặp khó khăn do địch chống trả quyết liệt, ta bị thương vong nhiều, không giải quyết được mục tiêu đề ra. Bộ phận đánh hướng Đền tiến công quyết liệt, địch hoảng sợ bỏ chạy, ta chiếm được Đền và đốt cháy kho của chúng. Sáng ngày 14 tháng 11, theo kế hoạch, ta định rút, nhưng địch đã phá hủy hết số thuyền, triệt đường rút của ta. Trước tình hình đó, cán bộ, chiến sĩ ta phải ở lại đảo chiến đấu Liên tục 4 ngày (14 đến 18-11-1945). Kết quả, ta hy sinh 17 đồng chí, bị bắt 22 đồng chí, trong đó có đại đội trưởng Lê Phú và trung đội trưởng Nhâm Ngọc Bình.[Đối với số đồng chí bị địch bắt, ngày 26 tháng 4 năm 1946, địch mở phiên tòa xét xử ở Nam Bộ, xử tử các đồng chí Lê Phú, Nhâm Ngọc Bình; các đồng chí khác bị xử từ tù chung thân đến nhiều năm ở Côn Đảo Đến năm 1954, sau khi Hiệp định Giơ-ne-vơ ký kết, 15 đồng chí còn sống, trong đó có đồng chí Lê Phú ( được rút xuống tù chung thân). Bảy đồng chí khác đã hy sinh khi vượt ngục qua đường biển về đất liền.] đây là một tổn thất lớn đối với đại đội Ký Con. Chỉ có tiểu đội đồng chí Lê Hai tìm được thuyền, sáng ngày 15 tháng 11, bí mật từ đảo Cô Tô vượt biển về đảo Minh Châu, sau đó về đảo Cát Bà an toàn.

    Để tăng cường khả năng phòng thủ ở phía cửa biển Hải phòng, ta tiến hành khôi phục lại trận địa pháo binh trên đảo Cát Bà, do Pháp xây dựng từ năm 1939. Trận địa này có 3 khẩu pháo 138mm, trong đó kính ngắm, kim hỏa và bộ máy cò đã bị địch tháo gỡ, phá hủy. Anh em đã tự chế tạo bằng phương Pháp thủ công, khôi phục lại các chi tiết máy móc và sau này nhiều lần sử dụng chiến đấu trừng trị các tàu của giặc Pháp xâm phạm vùng biển của ta; có tàu bị đánh đuổi, có tàu trúng đạn bị thương như¬ các tàu công Tum, Tờ-ri-ông-phăng, Ê-min Béc-tanh... Các tàu và ca nô của ủy ban Hải quân Việt Nam thuộc Bộ Tư lệnh Duyên Hải còn thường xuyên đi tuần tiễu, trấn áp bọn phản động phá hoại, bắt giữ nhiều thuyền của bọn cướp biển, giữ gìn trật tự an ninh, bảo vệ vững chắc vùng biển, hải đảo của Tổ quốc.

    trong khi toàn Đảng, toàn dân từ Bắc chí Nam, từ trung ương đến các địa phương đang khẩn trương xây dựng, phát triển lực lượng vũ trang cách mạng đánh tàn quân Pháp xâm nhập, trấn áp bọn phản động tay sai của Mỹ - T¬ưởng phá hoại ở miền Bắc, bảo vệ chính quyền cách mạng, thì đêm ngày 22 rạng ngày 23 tháng 9 năm 1945, quân Pháp được sự đồng lõa của quân Anh bất ngờ nổ súng đánh chiếm một số công sở của ta ở thành phố Sài Gòn, mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam một lần nữa. Từ ngày 23 tháng 11 năm 1945 đến tháng 2 năm 1946, sau khi đánh vùng nông thôn Nam Bộ, quân Pháp đánh rộng ra các tỉnh Nam trung Bộ và Tây Nguyên. Lợi dụng các sông rạch, thủy quân Pháp hành quân đánh chiếm những vị trí quan trọng ở khắp các tỉnh Nam Bộ và miền Nam trung Bộ. Mặc dù có ư¬u thế về phương tiện và hỏa lực, thủy quân Pháp vẫn Liên tiếp bị quân dân miền Nam chặn đánh, gây cho chúng nhiều thiệt hại.

    Đêm ngày 15 tháng 10 năm 1945, ta đốt cháy tàu A-lác ở cảng Sài Gòn. ngày 26 tháng 10, quân dân Nha Trang bắn hỏng một tàu khi chúng vào gần bờ biển thành phố. Tại Gò công, ngày 28 tháng 10, địch cho tàu Ri-sơ-li-ơ chở quân đánh chiếm thị xã, bị ta đánh trả mãnh liệt và chịu một số thiệt hại. ngày 20 tháng 1 năm 1946, quân Pháp đổ bộ lên Hà Tiên bị bộ đội ta tiêu diệt gần chục tên, trong đó có tên chỉ huy trúng đạn ngã gục xuống sông. những hoạt động chiến đấu của quân dân ta trên sông biển cùng với cuộc chiến đấu kiên cường trên đất liền những tháng cuối năm 1945 đã gây cho thực dân Pháp một số thiệt hại, tạo điều kiện cho quân dân cả nước chuẩn bị mọi mặt để kháng chiến chống thực dân Pháp khi chúng mở rộng cuộc chiến tranh xâm lược ra quy mô toàn quốc.

    những tháng đầu năm 1946, âm mưu đánh nhanh giải quyết nhanh của thực dân Pháp hòng bình định miền Nam trong vài tháng đã bị thất bại. Ở miền Bắc, nhờ toàn dân đoàn kết một lòng, âm mưu phá hoại lật đổ của bè lũ Mỹ - Tưởng và tay sai không thực hiện được; chính quyền cách mạng được giữ vững và củng cố ngày càng vững chắc. nhiệm vụ chủ yếu của lực lượng vũ trang ta lúc này là ra sức củng cố, tăng cường xây dựng lực lượng, quy mô về tổ chức và trang bị.

    Để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ cách mạng trong tình hình mới, ngày 22 tháng 5 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 71/SL về Quân đội quốc gia Việt Nam, quy định tổ chức, biên chế thống nhất từ tiểu đội, trung đội, đại đội, tiểu đoàn, Liên đoàn, tập đoàn của bộ binh, các đơn vị chuyên môn và hỏa lực trợ chiến. Tiếp đó, ngày 19 tháng 7 năm 1946, quyền Chủ tịch nước Huỳnh Thúc Kháng ra Quyết định số 125/QĐ thành lập trong Quân đội quốc gia ngành Hải quân Việt Nam, đặt dưới quyền Bộ Quốc phòng về phương diện quản trị và Quân sự ủy viên hội về phương diện điều khiển.

    Thực hiện quyết định của Chủ tịch nước, ngày 10 tháng 9 năm 1946, đồng chí Võ Nguyên Giáp, Chủ tịch Quân sự ủy viên hội ra Nghị định số 103/NĐ thành lập "Cơ quan Hải quân " (hiện nay gọi là Hải đoàn bộ ), do một hải đoàn trưởng điều khiển trực thuộc Bộ Tổng Tham mưu. nhiệm vụ của Hải đoàn bộ là tổ chức thủy đội tuần tiễu và phòng thủ duyên hải; tập trung các nhân viên, bộ đội thủy quân đã có trong Quân đội Việt Nam và tuyển lựa cựu thủy binh để thành lập ngay một tổ chức hải quân. đây là văn bản đầu tiên của Nhà nước ta về tổ chức lực lượng hải quân trong Quân đội quốc gia Việt Nam. Nhưng do tình hình lúc đó nhất là phải tập trung cho toàn quốc bước vào kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, các quyết định đó chư¬a có điều kiện thực hiện. Song đây là cơ sở để sau này xây dựng một tổ chức Hải quân nhân dân Việt Nam phù hợp với điều kiện phát triển của đất nước.

    những tháng cuối năm 1946, thực dân Pháp tăng quân đổ bộ lên Đà Nẵng, Đại lãnh, Quy Nhơn, Đồ Sơn, Cát Bà, Hải phòng và Lạng Sơn. Quân và dân ta đã kiên quyết đánh trả, gây cho địch một số thiệt hại. trên mặt trận sông biển, ngày 20 tháng 6 năm 1946, ở vùng Cái Tàu (Cà Mau) quân dân địa phương phục kích đánh chìm 20 chiếc xuồng, diệt 80 tên địch. tháng 10 năm 1946, ta đánh chìm tàu Rê-nê ở gần Chợ Gạo (Mỹ Tho). ngày 3 tháng 12 năm 1946, Vệ quốc đoàn Khu 8 tiến công chiếm một tàu giặc ở Cao lãnh. Tại miền trung, địch đổ quân trái phép lên Đại lãnh bị quân dân ta đánh trả quyết liệt, buộc chúng phải rút quân.
    ngày 19 tháng 12 năm 1946, cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ. Cùng với các cánh quân trên bộ, thực dân Pháp lợi dụng các dòng sông, cửa biển, đ¬a tàu và ca nô chở quân, đánh phá quyết liệt các thành phố, những vị trí quân sự quan trọng của ta.

    Quân và dân các vùng ven biển, ven sông quyết tâm cùng cả nước đứng lên kháng chiến chống thực dân Pháp. Ở Hải phòng, lực lượng bảo vệ bờ biển đã chiến đấu quyết liệt chặn bước tiến của bọn xâm lược, đánh chìm, đánh h¬ỏng một số tàu và ca nô giặc khi chúng đổ quân vào Đồ Sơn, sông Cấm. Tại cửa Ba Lạt, nhân dân vùng Nam định, Thái Bình đ¬ưa hàng trăm thuyền lớn chất đầy đá hộc ra đánh đắm ở cửa sông tạo thành chướng ngại không cho tàu giặc từ biển tiến vào. Ở Quảng Bình, ngày 27 tháng 3 năm 1947, lực lượng Vệ quốc đoàn đánh vào ca nô chở quân của địch, diệt hơn chục tên tại cửa Nhật Lệ. Ở Thừa Thiên, ngày 8 tháng 4 năm 1947, một xuồng của Pháp bị đánh chìm trên đoạn sông từ Phò Trạch lên Đất Đỏ. Tại Nam Bộ, bộ đội đã tự chế thủy lôi đánh chìm một sà lan lớn của địch ở Phương Diều (Bạc Liêu). trong trận này, ta thu được ba thuyền đạn và hàng chục khẩu súng các loại.
    The above-all

  6. #6
    Tham gia ngày
    04-10-2007
    Nơi Cư Ngụ
    Northern Crater
    Bài gởi
    6755
    Thanks
    81
    Thanked 241 Times in 135 Posts

    Default

    Sau vài tháng chiến đấu tiêu hao, ngăn chặn địch ở Thủ đô Hà Nội và các thành phố, thị xã (Hải Dương, BắcNinh, Bắc Giang, Nam định, Vinh, Huế, Đà Nẵng), phần lớn các đơn vị vũ trang tập trung của ta tạm thời chuyển lên vùng miền núi và về các vùng nông thôn đồng bằng, trung du xây dựng lực lượng, làm nòng cốt cho toàn dân kháng chiến lâu dài.

    Thu Đông năm 1947, quân dân ta lập chiến công lớn trên dòng sông Lô, khi thực dân Pháp âm mưu đánh lên Việt Bắc, hòng tiêu diệt bộ đội chủ lực và cơ quan đầu não kháng chiến của ta. Nắm chắc đường địch tiến quân trên sông Lô, quân dân Việt Bắc đã vận chuyển hàng nghìn thanh đường ray xe lửa đóng xuống lòng sông làm cọc và đư¬a hàng chục thuyền chở đá xây kè ngăn tàu giặc ở đoạn Sóc Đăng. Quân địch không tiến được, phải đ¬ưa máy đến nhổ cọc và dùng máy bay ném bom phá kè để mở luồng. Bộ đội pháo binh ta bố trí sẵn đã nổ súng kịp thời vào đoàn tàu giặc. Phối hợp bộ đội chủ lực, quân dân địa phương đã đốt rơm rạ gây khói mù nghi binh thu hút hỏa lực địch. Hàng trăm quả b¬ưởi sơn đen giả làm thủy lôi đã được thả xuống sông uy hiếp chúng.

    ngày 25 tháng 11 năm 1947, một đoàn tàu chiến Pháp gồm 5 chiếc từ Tuyên quang xuống đến ngã ba đầu nguồn sông Lô, đoạn xã Chi Đám, lọt vào trận địa phục kích của trung đội pháo Xuân Canh ( trung đội ở pháo đài Xuân Canh - Láng, Hà Nội rút lên) và trung đội pháo lục tỉnh (pháo được lắp ghép từ nhiều bộ phận ta thu được ở sáu tỉnh, nên gọi là pháo lục tỉnh). Rút kinh nghiệm trận đánh trước đặt pháo xa bắn không trúng, lần này, ta đ¬ưa pháo ra sát bờ sông, bắn ngắm trực tiếp, bắn chìm tại chỗ 2 tàu, diệt hàng trăm tên địch, bắn hỏng nặng 2 chiếc khác. trong các trận đánh trên dòng sông Lô, ta đã đánh chìm, đánh hỏng 16 tàu và 32 ca nô địch, bẻ gãy gọng kìm đường thủy của giặc Pháp tiến lên Việt Bắc. âm mưu " đánhnhanh, giải quyết nhanh" của thực dân Pháp bị thất bại. Cuộc kháng chiến của quân và dân ta chuyển sang giai đoạn mới .

    Ở Nam Bộ, sau trận M¬ương điều, nhiều địa phương đã huy động nhân dân dựng kè, đắp cản trên các kênh rạch chặn tàu thuyền giặc. Vùng Cà Mau, kè, cản được xây dựng gần một trăm chiếc, có chiếc nh¬ư một đập lớn, bề mặt rộng đến 120m. Hệ thống vật chướng ngại vững chắc này là bức tường thành ngăn cản, hạn chế các cuộc tiến công của quân Pháp vào căn cứ kháng chiến của ta. cách đánh địch trên sông biển bằng hình thức đặc công bắt đầu xuất hiện sớm trong lực lượng vũ trang ta. Cuối năm 1948, các chiến sĩ xưởng quân giới trung đoàn 312 đã cải tiến một quả thủy lôi không nổ của quân Pháp thành một quả thủy lôi mới nặng 80kg đánh theo kiểu chạm nổ. chiến sĩ Võ Văn Hợp, biệt động Sài Gòn đã dùng quả thủy lôi này đánh chìm chiếc tàu chở đạn Xe-luýt-blơ của Pháp trên sông Sài Gòn, thiêu hủy 400 tấn đạn. Ở Long Châu Sa, ngày 21 tháng 4 năm 1949, đội săn tàu của tỉnh đã dùng thủy lôi tự tạo đánh chìm tàu Gly-xin (số D27) trên sông Sở Thượng, diệt hàng trăm tên địch.
    Sau đó hai tháng, ngày 20 tháng 6 năm 1949, đơn vị lại đánh chìm tàu Gly-xin (số D28) ở Cái Lách.

    trong quá trình kháng chiến chống Pháp, quân và dân ta vừa bám sông, bám biển diệt địch, vừa lợi dụng sông nước để tổ chức vận tải phục vụ kháng chiến. trên các sông suối, kênh rạch, các loại bè mảng, ghe thuyền được huy động chở quân, vận chuyển vũ khí, lương thực. Dọc tuyến vận tải ven biển, những đơn vị chuyên làm nhiệm vụ vận tải được tổ chức. Đặc biệt, đội vận tải đường biển của Liên khu 5 đã có những đóng góp to lớn cho kháng chiến. Từ cuối năm 1947, tình hình kháng chiến ở các tỉnh Cực Nam trung Bộ nh¬ư Ninh Thuận, Bình Thuận, Khánh Hòa gặp nhiều khó khăn. Địch chiếm đóng và kiểm soát chặt chẽ các trục giao thông. Chúng Liên tiếp mở các cuộc càn quét, phá hoại mùa màng, lập những vành đai trắng. lực lượng vũ trang hoạt động ở các địa phương ngày càng thiếu thốn lương thực, thực phẩm, vũ khí. một số địa phương phải giải tán bớt lực lượng vũ trang. Trước tình hình đó, Liên khu ủy và Bộ chỉ huy Liên khu 5 quyết định thành lập đội vận tải đường biển của Liên khu nhằm chi viện mạnh mẽ cho các địa phương ở Nam trung Bộ duy trì, đẩy mạnh kháng chiến. Lúc đầu, đội có 40 đồng chí và 8 thuyền nhỏ, mỗi thuyền chở được một tấn hàng. trong hai năm 1948-1949, đội vận tải đường biển của Liên khu 5 đã thực hiện vận chuyển được hơn 600 tấn vũ khí, lương thực, nguyên liệu, sách báo và đ¬ưa hàng trăm cán bộ từ vùng tự do Bình định, Quảng Ngãi vào tăng cường cho các tỉnh Nam trung Bộ kháng chiến.
    The above-all

  7. #7
    Tham gia ngày
    04-10-2007
    Nơi Cư Ngụ
    Northern Crater
    Bài gởi
    6755
    Thanks
    81
    Thanked 241 Times in 135 Posts

    Default

    Vừa chiến đấu, vừa xây dựng, Đảng ta tập trung bổ sung quân số, củng cố, chấn chỉnh tổ chức, biên chế các cơ quan và đơn vị quân đội. Theo phương hướng đó, ngày 8 tháng 3 năm 1949, Bộ Tổng Tư lệnh Quân đội quốc gia và dân quân Việt Nam ra Nghị định (số 604/QĐ, do Đại tướng Võ Nguyên Giáp ký), thành lập Ban nghiên cứu thủy quân thuộc Bộ Tổng Tham mưu. Tại buổi lễ công bố quyết định thành lập, Thiếu tướng Hoàng Văn Thái - Tổng Tham mưu trưởng giao nhiệm vụ và căn dặn: "Nhìn về tương lai rộng mở, để xây dựng quân đội tiến lên, đất nước ta với bờ biển dài ba ngàn cây số, nhất định phải có một lực lượng hải quân hùng mạnh, xứng đáng với lịch sử mấy ngàn năm của dân tộc đã từng có những lực lượng thủy quân lập nên chiến công hiển hách, lẫy lừng trên sông Bạch Đằng, Lục đầu Giang. .. Chính vì mục tiêu đó, căn cứ vào điều kiện thực tế hiện nay, Bộ quyết định trước mắt thành lập Ban nghiên cứu thủy quân (đồng thời với Ban nghiên cứu không quân ) để:

    - Nghiên cứu những phương án xây dựng và chiến đấu của lực lượng thủy quân, phù hợp với thực tiễn hiện nay và trong tương lai gần.

    - Tập hợp đội ngũ cán bộ, công nhân viên hải quân cũ, tạo điều kiện xây dựng cơ sở ban đầu.

    - Tuyển mộ, huấn luyện đào tạo một đội ngũ thủy quân cách mạng, trẻ, có trình độ khoa học kỹ thuật hàng hải”.

    Tiếp đó, đồng chí Tổng Tham mưu trưởng nêu rõ: "Ban nghiên cứu thủy quân bước đầu còn non bé, nhưng tiền đồ sẽ vẻ vang. Chắc một ngày không xa sẽ trưởng thành thành Quân chủng Hải quân " [Dẫn theo Lịch sử Hải quân nhân dân Việt Nam (1955-1995)- Biên niên sự kiện, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1996, tr.11-12.]
    Về tổ chức, Ban nghiên cứu thủy quân gồm có ba ban chuyên môn là hàng hải, thông tin hàng hải, điện cơ máy nổ và các bộ phận hành chính, quản trị, hậu cần. Đồng chí Nguyễn Văn Chương được cử làm trưởng ban, đồng chí Nguyễn Việt làm chính trị viên [ tháng 10 năm 1949, đồng chí Nguyễn Việt về nhận nhiệm vụchính trị viên Ban nghiên cứu thủy quân. ]à đồng chí Trần Đình Vọng làm phó ban. Cơ quan Ban nghiên cứu thủy quân đóng tại phố Giàn, bên bờ sông Chảy thuộc huyện Đoan Hùng tỉnh Phú Thọ.

    Bộ Quốc phòng rất chú trọng xây dựng lực lượng thủy quân. nhiệm vụ đầu tiên đặt ra cho Ban nghiên cứu thủy quân là huấn luyện xây dựng một đội du kích có khả năng hoạt động trên sông, rồi từ sông mới tiến ra biển khi có điều kiện. Đó cũng chính là ý nghĩa Chỉ thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với Bộ Tổng Tham mưu khi nghe báo cáo và đề nghị thành lập Ban nghiên cứu thủy quân và mở lớp thủy quân ( thủy quân chứ ch¬ưa phải là hải quân ).

    Sau hơn mư¬ời tháng chuẩn bị, tháng 2 năm 1950, khóa học thủy quân đầu tiên được khai giảng. Tham gia khóa học này có 180 học viên được tuyển chọn từ các đơn vị bộ binh, dân quân du kích vùng ven biển Đông Bắc, một số là học sinh các trường trung học ở Bắc Ninh, Bắc Giang, PhúThọ, Vĩnh Yên, tổ chức thành một tiểu đoàn huấn luyện, do đồng chí Trần Lưu Phương làm tiểu đoàn trưởng. cán bộ đại đội, trung đội từng học ở Trường Lục quân TrầnQuốc Tuấn, nên việc huấn luyện các học viên thủy quân có nhiều thuận lợi về rèn luyện đội ngũ, lễ tiết tác phong, công tác, sinh hoạt. Phụ trách chung cả ban và lớp học là các đồng chí Nguyễn Văn Chương, Trần Đình Vọng (từng hoạt động trong ngành hàng hải Pháp) và đồng chí Nguyễn Việt. trên thực tế, Ban nghiên cứu thủy quân có chức năng "hiệu bộ " của lớp. Cả ban và lớp mang phiên hiệu chung là Đội sản xuất 71[Phan Văn Trà (tức Trần Trọng trung ), " thủy quân Sông Lô", Tạp chí Lịch sử quân sự, số 2 - 1999, tr. 80.]. Đội thủy binh 71 thành lập ngày 10 tháng 8 năm 1950 dưới sự chỉ đạo của Ban nghiên cứu thủy quân thuộc Bộ Tổng Tham mưu đóng quân tại làng Cò, gần phố Giàn, huyện Đoan Hùng (PhúThọ). Vùng Đoan Hùng được chọn làm căn cứ để huấn luyện và xây dựng đội. Đội ngũ giáo viên khoảng 10 ngư¬ời - vốn là lính thủy thời Pháp, được chia thành ba tổ bộ môn: hàng hải, thông tin và điện cơ - máy nổ. Học cụ là một số mô hình các loại tàu chiến của Pháp, do giáo viên đóng bằng gỗ. Phương tiện huấn luyện cũng tự tạo như¬ cờđèn. .. một số học cụ không có (la bàn đi biển, các phương tiện thông tin hàng hải...), giáo viên phải dạy "chay".
    The above-all

  8. #8
    Tham gia ngày
    04-10-2007
    Nơi Cư Ngụ
    Northern Crater
    Bài gởi
    6755
    Thanks
    81
    Thanked 241 Times in 135 Posts

    Default

    Chương trình huấn luyện gồm quân sự, chính trị, chuyên môn, trong đó tập trung huấn luyện một số nội dung kỹ thuật, chiến thuật của bộ binh chiến đấu trong môi trường sông biển như¬ bắn súng trên tàu thuyền, trên ca nô, tập bơi, lặn, tập chèo thuyền, chèo xuồng, tập động tác đổ bộ (từ bờ lên thuyền và từ thuyền nhảy xuống tiếp cận bờ triển khai đội hình chiến đấu), tập sử dụng hải đồ, xác định vị trí tàu trên biển bằng phương Pháp quan sát, đo đạc các mục tiêu địa văn và theo kinh nghiệm của nhân dân (nhìn trăng, sao, xem thủy triều, hướng gió...), học cách sử dụng các phương tiện thông tin đơn giản (cờ, đèn...).

    Sau ba tháng huấn luyện, ban chỉ huy đang chuẩn bị chiêu sinh và bổ sung nội dung để mở lớp cán bộ hàng hải - lái tàu, thì nhận được chỉ thị của Bộ Tổng Tham mưu: chọn khoảng 100 học viên đư¬a sang trung Quốc học tập nâng cao trình độ. Bộ phận khung ở lại tiếp tục chiêu sinh, mở khóa II.

    đầu tháng 6 năm 1950, gần 100 học viên của Đội 71, dưới sự chỉ huy của một ban phụ trách mới (gồm các đồng chí Lê Ngọc quang, Trắc Vi Nam, Nguyễn Việt) nhận nhiệm vụ sang Nào Cháu ( điều Thuận), một hòn đảo nằm ở phía đông bán đảo Lôi Châu ( trung Quốc) học tập. Nội dung học tập chủ yếu theo chương trình huấn luyện phân đội bộ binh của bạn. So với khóa học trong nước, có những điểm mới về nội dung, phương Pháp huấn luyện và đặc biệt là môi trường biển - hải đảo. một nội dung quan trọng nữa là được nghe giới thiệu về kinh nghiệm Giải phóngquân ( trung Quốc) dùng thuyền buồm gắn máy hành quân trên biển, đổ bộ giải phóng đảo Hải Nam.

    Sau khi Đội 71 thủy binh lên đường sang trung Quốc, tháng 6 năm 1950, khóa II đào tạo thủy quân gồm khoảng 100 học viên được khai giảng. thành phần học viên chủ yếu của khóa này là học sinh trung học mới nhập ngũ. Về lãnh đạo, bên cạnh một ban chỉ huy còn có một ban cán sự Đảng được chỉ định gồm các đồng chí Trần L¬ưu Phương, Nguyễn Khổng Hiệu, Trần Trọng trung. Về quân sự và chuyên môn, nội dung huấn luyện cơ bản như¬ khóa trước. Về chính trị, học viên học tập quán triệt hai tài liệu cơ bản: chiến tranh nhân dân và Quân đội nhân dân. Đến giữa tháng 4 năm 1951, khóa II vừa kết thúc được ít ngày, thì toàn bộ học viên của Đội 71 hoàn thành nhiệm vụ học tập ở nước ngoài trở về nước đóng căn cứ ở làng Cò thuộc huyện Đoan Hùng (Phú Thọ).

    trên cơ sở lực lượng dân quân phát triển rộng khắp và bộ đội địa phương hình thành, trong những năm 1949-1952, sáu đại đoàn bộ binh 308, 304, 312, 320, 316, 325 và Đại đoàn công - pháo 351 lần lượt được thành lập, đánh dấu bước phát triển vượt bậc của quân đội ta về tổ chức.

    trong thời gian này, thực dân Pháp tăng cường lực lượng mở các cuộc càn quét quy mô lớn nhằm khống chế nhân dân trong vùng tạm bị chiếm, trọng điểm là vùng đồng bằng Bắc Bộ, thực hiện chính sách "dùng ngư¬ời Việt đánh ngư¬ời Việt, lấy chiến tranh nuôi chiến tranh".

    Trước tình hình đó, song song với việc chấn chỉnh, xây dựng các đại đoàn chủ lực, trung ương Đảng chủ trương mở các chiến dịch lớn nhằm tiêu diệt sinh lực địch, phát triển chiến tranh du kích, phá kế hoạch bình định vùng đồng bằng của địch. Theo phương hướng đó, trung ương Đảng và Bộ Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam tăng cường chi viện lực lượng cán bộ và bộ đội cho các chiến trường. Trước yêu cầu đặt ra là góp phần duy trì chiến tranh du kích ở vùng Đông Bắc và châu thổ duyên hải Bắc Bộ, đầu năm 1951, Bộ Quốc phòng quyết định giải thể Ban nghiên cứu thủy quân [Cùng thời gian này, Bộ Quốc phòng còn quyết định giải thể Ban nghiên cứu không quân thuộc Bộ Tổng Tham mưu.] và Đội thủy binh 71. trong buổi gặp gỡ cán bộ, chiến sĩ để thông báo chủ trương của Bộ và giao nhiệm vụ mới, Thiếu tướng Hoàng Văn Thái, Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam nêu rõ: "Đất nước ta có bờ biển dài, vùng biển rộng, có nhiều sông ngòi, nhất định phải có lực lượng thủy quân tương xứng để bảo vệ chủ quyền của Tổ quốc. Nhưng trong hoàn cảnh hiện thời, ta chư¬a có điều kiện để xây dựng thủy quân như¬ mong muốn. một mặt, vì khả năng trang bị và địa bàn cho thủy quân hoạt động rất khó khăn. Mặt khác, Bộ đang cần tập trung nhân lực, vật lực để xây dựng một số đại đoàn chủ lực, cần phải cắt giảm quân số và chi tiêu ở những nơi chư¬a thật cần thiết. Do vậy, Bộ chủ trương giải thể thủy quân và không quân. Bộ giao cho Ban nghiên cứu thủy quân việc phân bổ số học viên ở đây sao cho hợp lý để phát huy được kiến thức văn hóa và nghiệp vụ mà anh em đã được đào tạo. ngoài việc chuyển đại bộ phận đi đào tạo thêm ở trường lục quân, pháo binh, cần chú ý chọn một số anh em đi xây dựng du kích ở vùng biển Đông Bắc. .. Số anh em này trực thuộc các tỉnh đội, vừa hoạt động chiến đấu, vừa làm quen với chiến trường sông biển ”.[Lịch sử Hải quân nhân dân Việt Nam (1955-1995) - Biên niên sự kiện, Sđd, tr. 14.]
    The above-all

  9. #9
    Tham gia ngày
    04-10-2007
    Nơi Cư Ngụ
    Northern Crater
    Bài gởi
    6755
    Thanks
    81
    Thanked 241 Times in 135 Posts

    Default

    Thực hiện quyết định của Bộ, tháng 4 năm 1951 Đội thủy binh 71 giải thể, phần lớn học viên khóa I và một số học viên khóa II được chuyển ra các vùng Hòn Gai, Hải Ninh, Quảng Yên, góp phần đẩy mạnh chiến tranh du kích ở các địa bàn ven biển. một bộ phận học viên chuyển về Đại đoàn công - pháo 351 và các đại đoàn bộ binh đang trong quá trình xây dựng. Bộ phận lực lượng còn lại về nhận công tác ở các Liên khu, Bộ Tổng Tư lệnh, hoặc đi học ở Trường Lục quân Trần Quốc Tuấn.

    Việc thành lập Ban nghiên cứu thủy quân và Đội thủy binh 71 từ năm 1949 chứng tỏ Tổng Quân ủy và Bộ Quốc phòng đã có ý định xây dựng thủy quân từ sớm. Song vấn đề xây dựng và duy trì tất cả lực lượng thủy quân hoạt động trên chiến trường sông biển đòi hỏi phải có đầu t¬ư rất lớn về nhiều mặt trong khi đó nền kinh tế kháng chiến của ta còn rất nghèo nàn, thiếu thốn và lạc hậu. Vì thế, chủ trương đề ra, nhưng ta chư¬a đủ điều kiện để bảo đảm xây dựng, phát triển lực lượng thủy quân. Tuy nhiên, trong thế trận chung của cuộc chiến tranh nhân dân, truyền thống về cách đánh thủy chiến và các hoạt động chiến đấu trên sông biển của quân dân ta vẫn được phát huy và phát triển khá phong phú suốt những năm kháng chiến chống Pháp. Kết quả nghiên cứu và truyền thống chiến đấu trên sông biển những năm chống Pháp là cơ sở rất quan trọng để Tổng Quân ủy và Bộ Quốc phòng đề ra chủ trương, biện Pháp và chính thức bước vào xây dựng hải quân khi đất nước ta có đủ điều kiện.

    trong thế trận chiến tranh du kích phát triển, ta đã kìm giữ, phân tán lực lượng địch, tạo điều kiện cho bộ đội chủ lực mở những chiến dịch tiến công và phản công, lập chiến công oanh liệt ở Tây bắc, Hòa Bình, đồng bằng Bắc Bộ, Bình - Trị - Thiên, Tây Nguyên, Liên khu 5, Nam Bộ. Cùng thời gian này, hoạt động tác chiến trên sông nước của quân dân ta cũng phát triển. đầu năm 1950, chiến sĩ biệt động Hải phòng tập kích vào khu bến cảng, đánh chìm tàu chở hàng của hãng Pha-nếch ( Pháp). ngày 26 tháng 1 năm 1950, bộ đội ta tiến công chiếm tàu VP75 của địch ở Sa Đéc. ngày 26 tháng 5 năm 1950, tiểu đoàn 307 đánh chìm tàu Xanh Lu-be, trọng tải 7.000 tấn trên sông Lòng Tàu. Ở sông Sài Gòn, ngày 10 tháng 10 năm 1951, ta thả thủy lôi đánh chìm 2 tàu chiến và 1 ca nô của giặc, diệt bọn chỉ huy trên tàu, buộc địch phải bỏ dở cuộc càn quét vào khu căn cứ của ta. Bị đánh ở các nơi và chịu thiệt hại nặng, giặc Pháp phải thừa nhận: "Việt Minh đã chặn yết hầu vận tải thủy ở miền Nam".

    trên chiến trường Bắc Bộ, quân và dân ta phát huy cao độ lòng dũng cảm và trí thông minh, sáng tạo ra nhiều cách đánh thủy chiến với hiệu quả cao. trong chiến dịch Hà - Nam - Ninh, đêm ngày 21 tháng 6 năm 1951, tổ ba ngư¬ời của đồng chí Nguyễn quang Vinh (Đại đoàn 308) dùng thuốc nổ áp mạn tàu địch, đánh chìm 1 tàu của chúng trên sông Đáy. trong chiến dịch Hòa Bình, ngày 22 tháng 12 năm 1951, chỉ trong 20 phút, pháo binh ta đã bắn chìm và bắn hỏng nặng 1 tàu chiến và 5 ca nô giặc trên đoạn sông Lạc Song - Đồng Việt và gây một số thiệt hại cho chúng. Tại Phả Lại, đêm ngày 15 tháng 6 năm1953, một tổ chiến đấu của ta bí mật luồn sâu vào nơi trú đậu đánh chìm 5 tàu và ca nô giặc, phá tan cuộc chuẩn bị hành quân càn quét của chúng.

    những năm cuối cuộc kháng chiến, đội vận tải đường biển của Liên khu 5 phát triển lên 200 ngư¬ời với số thuyền là 130 chiếc, trong đó một nửa là loại thuyền lớn trọng tải mỗi thuyền từ 15 đến 40 tấn. Từ năm 1952, đội được giao thêm nhiệm vụ vận chuyển cho cả một số tỉnh miền Đông Nam Bộ để "tiếp máu của trung ương cho chiến trường miền Nam". Quy mô vận chuyển ngày càng lớn, có chuyến phải huy động 24 thuyền. cán bộ, thủy thủ đã phải trải qua những thử thách gay go, chèo lái vượt bão, dùng sức ngư¬ời khênh thuyền và hàng hóa vòng qua núi tránh tàu địch phục kích, lợi dụng ban đêm mở đường chạy ra khơi và nhiều lần phải chiến đấu thoát vòng vây, không để sa vào tay giặc.

    được nhân dân và chính quyền các tỉnh ven biển tận tình giúp đỡ, đội vận tải biển của Liên khu 5 đã thực hiện vận chuyển được gần 3.000 tấn hàng (từ năm 1948 đến năm 1954) cho các tỉnh Cực Nam trung Bộ và miền Đông Nam Bộ. Tuy có thuyền bị địch bắn chìm, có thuyền phải tự đánh đắm để giữ bí mật, nhiều đồng chí anh dũng hy sinh hoặc bị địch bắt, tra tấn dã man, nhưng công tác vận chuyển vẫn bảo đảm Liên tục, thường xuyên. Quá trình vận chuyển đội đã rèn luyện, bồi dưỡng được nhiều cán bộ, chiến sĩ tận tụy, mưu trí, dũng cảm, tiêu biểu là đồng chí Trần Á được Quốc hội và Chính phủ tuyên dương danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân (1956).

    Trước những diễn biến của cuộc kháng chiến ngày càng có lợi cho ta, tháng 9 năm 1953, Bộ Chính trị Ban Chấp hành trung ương Đảng thông qua kế hoạch tác chiến Đông Xuân 1953-1954 và tháng 12 năm 1953 quyết định mở chiến dịch Điện Biên Phủ. đầu năm 1954, phối hợp với chiến dịch Điện Biên Phủ, tiểu đoàn 922 thuộc trung đoàn 46 ( Liên khu 3) được lệnh đánh đoàn tàu chiến, ca nô địch từ Nam định theo sông Đào tiến vào Ninh Bình tiếp viện cho bọn giặc đang bị ta bao vây. Tiểu đoàn tổ chức trận địa phục kích ở khu vực từ Cốc thành đến Dương Độ (các h thành phố Nam định chừng 10km). Thực hiện chiến thuật "độn thổ” giấu kín lực lượng, chờ khi đoàn tàu địch lọt vào khu vực phục kích, bộ đội ta đồng loạt nổ súng tiến công. Sau một giờ chiến đấu, bộ đội ta bắn chìm 3 tàu chiến, 7 ca nô, diệt 500 tên địch .

    trong chiến dịch Điện Biên Phủ, ta lợi dụng các dòng sông, suối tổ chức gần 12 nghìn thuyền buồm, thuyền độc mộc, bè mảng thực hiện vận chuyển lương thực, thực phẩm và các thứ nhu yếu phẩm tiếp tế, góp phần vào thắng lợi của chiến dịch Điện Biên Phủ đư¬a đến việc ký kết Hiệp định Giơ-ne-vơ, kết thúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.
    The above-all

  10. #10
    Tham gia ngày
    04-10-2007
    Nơi Cư Ngụ
    Northern Crater
    Bài gởi
    6755
    Thanks
    81
    Thanked 241 Times in 135 Posts

    Default

    Chín năm kháng chiến chống thực dân Pháp, chiến trường sông biển Việt Nam đã trở thành một thế trận vô cùng lợi hại của cuộc chiến tranh nhân dân Việt Nam.Nghệ thuật đánh giặc trên sông nước của quân và dân ta phát triển phong phú. Mục tiêu chủ yếu thường được lựa chọn để đánh địch là tàu lớn (tàu chỉ huy và tàu chở quân ). Pháo binh đánh tàu phát huy được yếu tố bí mật, ứng dụng phương Pháp bắn gần, bắn thẳng, các trận địa phục kích được nghiên cứu, bố trí Liên hoàn trên cả một đoạn sông dài và ở nơi địa hình có lợi. Bộ đội ta còn bất ngờ tập kích vào các căn cứ trú đậu, gây nỗi kinh hoàng cho địch. Với lối đánh mưu trí, dũng cảm, các lực lượng vũ trang và nhân dân ta đã đánh chìm, đánh bị thương 603 tàu chiến lớn, nhỏ của địch, hoàn thành nhiệm vụ tác chiến trên sông biển, góp phần vào thắng lợi chung của quân dân ta trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Đó là thắng lợi mở đầu, đồng thời là tiền đề cho việc xây dựng và phát triển Hải quân nhân dân Việt Nam những năm tiếp theo.

    2. thành lập Cục phòng thủ bờ bể và lực lượng phòng thủ bờ biển

    Thắng lợi của cuộc tiến công chiến lược Đông Xuân 1953-1954, mà đỉnh cao là chiến dịch Điện Biên Phủ đã góp phần quyết định kết thúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đư¬a nước ta chuyển sang thời kỳ mới. Miền Bắc hoàn toàn giải phóng và bước vào xây dựng chủ nghĩa xã hội, làm cơ sở cho cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà. Miền Nam tạm thời dưới ách thống trị của đế quốc Mỹ và tay sai. Sự nghiệp đấu tranh giải phóng đất nước của quân và dân ta chư¬a hoàn thành .

    Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, quân đội ta khẩn trương củng cố lực lượng, sắp xếp lại tổ chức biên chế, nhằm bảo vệ miền Bắc, thực hiện đấu tranh hoàn thành độc lập dân chủ ở miền Nam, tiến tới thống nhất Tổ quốc. Đối với quân và dân ta, bảo vệ chủ quyền, quản lý chặt chẽ bờ biển, vùng biển trở thành nhiệm vụ quan trọng có ý nghĩa chiến lược cả về chính trị, kinh tế và quốc phòng .
    Nền kinh tế miền Bắc vốn đã lạc hậu lại bị chiến tranh tàn phá nặng nề, nhất là sau khi thực dân Pháp rút đi, hầu hết các nhà máy, các trung tâm sản xuất công nghiệp đều bị chúng vơ vét, phá hoại. trên cơ sở nền kinh tế nghèo nàn, chậm phát triển, công cuộc xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng để đáp ứng tình hình, nhiệm vụ mới gặp rất nhiều khó khăn. Mặc dù vậy, việc xây dựng lực lượng phòng thủ bờ biển làm nòng cốt bước đầu bảo vệ và quản lý vùng biển, làm cơ sở để xây dựng Hải quân nhân dân Việt Nam và tạo điều kiện cho các ngành biển hoạt động trở thành nhiệm vụ cấp thiết của Đảng và quân đội.

    Chính vì thế, ngay sau khi Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết, cuối tháng 7 năm 1954, Bộ Tổng Tư lệnh đã chỉ thị cho Cục Tác chiến (Bộ Tổng Tham mưu) tổ chức một bộ phận chuyên theo dõi tình hình mọi mặt ở vùng biển, nghiên cứu việc tiếp quản thành phố Hải phòng và chuẩn bị đề án tổ chức xây dựng lực lượng bảo vệ vùng biển, hải đảo của Tổ quốc.

    đầu tháng 8 năm 1954, trên đường từ căn cứ kháng chiến ở Việt Bắc tiến về tiếp quản Thủ đô Hà Nội, Bộ Quốc phòng điều động 7 đồng chí trước đây ở Ban nghiên cứu thủy quân và Đội thủy binh 71 (còn gọi là Trường Huấn luyện thủy binh) đang công tác ở một số đơn vị trên các chiến trường về Cục Tác chiến và tháng 1 năm 1955 điều bổ sung 4 đồng chí nữa. Đồng chí Nguyễn Bá Phát, nguyên Tham mưu trưởng Liên khu 5 được Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh giao trực tiếp phụ trách bộ phận nghiên cứu lực lượng bảo vệ vùng biển. Số cán bộ điều động về Cục Tác chiến được tổ chức thành ba bộ phận. Bộ phận thứ nhất được phân công thăm dò cơ sở đóng thuyền, ca nô, tham khảo hình dáng, kích thước và quy cách thiết kế các loại phương tiện hoạt động trên sông biển. Sau khi phát hiện cơ sở đóng thuyền, ca nô ở Tiên Yên và Quảng Yên, một số đồng chí được cử đi đặt đóng và nghiên cứu để sau này tổ chức lực lượng tự sản xuất phương tiện tàu, thuyền. Bộ phận thứ hai được giao nhiệm vụ nghiên cứu địa hình và tình hình mọi mặt trên vùng ven biển miền Bắc từ Móng Cái đến Cửa Tùng (trừ khu vực Hải phòng, Cát Bà, lúc này quân đội Pháp còn đang đóng quân theo quy chế khu 300 ngày của Hiệp định Giơ-ne-vơ). Vừa nghiên cứu thực địa kết hợp với những hải đồ của hải quân Pháp để lại, bộ phận này bước đầu xác định kế hoạch bố trí lực lượng để trước mắt theo dõi được tình hình vùng biển và xử lý kịp thời những tình huống do bọn phản động cưỡng ép đồng bào ta di c¬ư, bọn gián điệp và biệt kích phá hoại gây ra. Sau đó, cùng với các Liên khu nghiên cứu những địa điểm để đặt đài quan sát, xây dựng các trận địa pháo, phối hợp mọi lực lượng cùng bảo vệ bờ biển. Bộ phận thứ ba đảm nhiệm làm đề án về tổ chức, kế hoạch xây dựng lực lượng phòng thủ bờ biển.

    Căn cứ vào tình hình thực tế của đất nước ta và tham khảo kinh nghiệm của các nước bạn, bộ phận nghiên cứu đã từng bước xây dựng hoàn chỉnh đề án về xây dựng bộ đội phòng thủ bờ biển; dự thảo tổ chức biên chế cơ quan, trường, xưởng và các đơn vị phòng thủ bờ biển; chọn lựa, điều động các cán bộ có khả năng nghiệp vụ về hàng hải, cơ điện; dự kiến tìm và thu hồi máy móc dụng cụ ở các tàu địch bị quân ta đánh chìm trong kháng chiến; lập kế hoạch đóng thuyền, ca nô, thuê thuyền, tuyển thêm công nhân để thành lập xưởng; cử ngư¬ời dịch và biên soạn tài liệu chuẩn bị cho việc mở trường huấn luyện bộ đội làm nhiệm vụ bảo vệ vùng biển, hải đảo miền Bắc.

    trong hai ngày 13 và 14 tháng 4 năm 1955, Tổng Quân ủy họp thông qua ba đề án xây dựng lực lượng phòng thủ bờ biển gồm: Đề án tổ chức biên chế cơ quan, trường huấn luyện thủy quân, xưởng đóng mới, sủa chữa ca nô và kế hoạch chọn lựa, điều động cán bộ, chiến sĩ từng là thủy quân Sông Lô, đang hoạt động trên các chiến trường sông biển của cả nước về xây dựng thủy quân. Đề án xây dựng lực lượng phòng thủ bờ biển gồm các đài, trạm quan sát, các khu tuần phòng và các trận địa pháo bờ biển. Đề án xây dựng lực lượng tàu thuyền hoạt động ở ven biển gồm: tập trung phương tiện thủy của các đơn vị, địa phương; tìm và trục vớt các tàu địch bị ta đánh chìm để khôi phục sửa chữa, chuẩn bị đóng mới một số ca nô vỏ gỗ gắn máy .
    The above-all

Trang 1/24 12311 ... cuốicuối

Bookmarks

Quyền Sử Dụng Ở Diễn Ðàn

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •