kết quả từ 1 tới 8 trên 8

Ðề tài: Súng thần công và Hồ Nguyên Trừng.

  1. #1
    Tham gia ngày
    05-01-2009
    Bài gởi
    158
    Thanks
    5
    Thanked 177 Times in 88 Posts

    Smile

    Bác nào có tư liệu về cái trên kia thì làm ơn gõ nhanh nhanh cho em nhá. Càng nhiều càng tốt. Nói nhiều về Hồ Nguyên Trừng mà cái sáng chế của ông không mấy ai mô tả tường tận về cấu tạo, thời điểm chế tạo, công dụng, ưu nhược thì chít. Có ảnh nữa thì tốt.
    Nhanh lên nhá ...Thanks nhiều !

    Suýt quên. Em đã vào tư liêụ của Viện Quân sự. Nó nói về súng của cụ Hồ mà lại tả cái thứ súng của bọn nảo bọn nào ở châu Ấu ấy. Đừng ai lấy lại cái tư liệu ấy nhá, cho nó thừa

  2. #2
    Tham gia ngày
    17-08-2008
    Bài gởi
    4187
    Thanks
    2,138
    Thanked 682 Times in 469 Posts

    Default

    Hồ Nguyên Trừng(1374-1446) là con trai cả của Hồ Quý Ly, anh của Hồ Hán Thương

    Hồ Nguyên Trừng phát minh Thần cơ hỏa sang, 1 loại súng trường nhưng không được phổ biến

    Sau thất bại trong cuộc chiến chống quân Minh, ông cùng cha bị bắt ở Hà Tĩnh mang về TQ năm 1407. Hồ Quý Ly bị đồ làm lính còn Hồ Nguyên Trừng vì có tài đúc súng nên được cho làm quan trong triều đình TQ

    Thần cơ hỏa sang là loại súng có đầy đủ bộ phận cơ bản của súng thần công ở những thế kỷ sau này. Nòng súng là 1 ống đúc bằng sắt hoặc bằng đồng, phía đuôi súng được đúc kín có bộ phận ngòi cháy ở chổ nhồi thuốc nổ. Đạn pháo là mũi tên bằng sắt lớn.Khi bắn người ta nhồi thuốc súng vào phía đáy và đặt mũi tên vào giữa và nhồi loại đạn ghém bằng sắt và chì
    Súng thần cơ có nhiều loại: loại nhỏ dùng cho bộ binh bắn xa chừng 700m
    Như tại châu Âu, việc chuyển giao, thích ứng và sử dụng kiến thức và kỹ thuật quân sự nước ngoài đã đóng góp nhiều vào sự phát triển của các nhà nước Đông Nam Á. Tuy nhiên, không phải lúc nào cũng dễ để viết về những sự chuyển giao quân sự đó tại Đông Nam Á. Sau nhiều thập niên dưới chế độ thuộc địa phương Tây, chưa kể các cuộc chiến giải phóng dân tộc ở Đông Dương và Indonesia, các kiến trúc sư quá khứ, mang quan điểm dân tộc chủ nghĩa, muốn chọn cách nhấn mạnh yếu tố ‘bản địa’ và ‘chân thật’ thay vì ngoại lai”

    “Việc đưa các đóng góp ‘phương Tây’ và ‘Hoa kiều’ vào bức tranh chung có thể gây vấn đề cho các sử gia dân tộc chủ nghĩa, những người muốn nhấn mạnh vai trò của dân tộc họ trong việc xây dựng quốc gia và quá khứ của nó”

    “Mặc dù 3 bài viết ở đây lưu ý các quan tâm ‘quốc gia’ và ‘khu vực’, nhưng chúng cũng dựa trên niềm tin rằng không quốc gia hay khu vực nào là 1 hòn đảo – cũng như quá khứ của quốc gia đó. Bản chất tương liên của Đông Nam Á, vị trí của nó ở giao lộ các tuyến thủy-bộ chính và sự đa dạng trong văn hóa-xã hội khiến các quan niệm về sự tự chủ quốc gia và khu vực khó đứng vững. Điều này đặc biệt đúng khi ta tìm hiểu dòng lưu chuyển kiến thức và kỹ thuật quân sự nước ngoài vào Đông Nam Á lục địa”

    Trong 3 bài, 1 bài xem xét sự du nhập công nghệ từ nhà Minh vào Đông Nam Á lục địa thời kì từ 1390 đến 1527. Nhìn từ phía nam, bài 2 tập trung vào chuyển giao quân sự của Pháp vào VN trong thế kỷ 18 và đầu 19. Bài 3 tìm hiểu dòng chảy vũ khí vào VN qua các ngả đường châu Á từ 1905 đến 1954

    Đại Việt thời Hậu Trần – Hồ
    Thế kỷ 15 chứng kiến VN mở rộng cương vực rộng lớn chưa từng có. Sự bành trướng này bao gồm sự kiện nổi tiếng năm 1471 khi kinh đô Vijaya của Chăm thất thủ trước Lê Thánh Tông, và cuộc “trường chinh” ít người biết của Đại Việt đến sông Irawaddy của Miến khoảng giữa 1479 và 1484.
    vì sao, sau hàng trăm năm đối đầu với Chăm, Đại Việt lại có thể đánh quỵ Chăm vào thời điểm này?:

    _về nông nghiệp và dân số: sự tăng dân số của Đại Việt vừa tạo động lực lại vừa đem lại lợi thế cho tiến trình Nam tiến của người Việt. Chiến thắng của người Việt, tóm gọn lại, là chiến thắng của biển người

    _về sự chuyển hóa Khổng giáo: cuộc xâm lược của nhà Minh năm 1406-1407 dẫn tới việc người Việt áp dụng mô hình Trung Hoa kiểu nhà Minh, đặc biệt dưới triều Lê Thánh Tông, khiến nhà nước VN được chuyển hóa. Cụ thể, Đại Việt bám lấy hệ tư tưởng của Trung Hoa “văn minh đối nghịch dị chủng” và áp dụng nó trong quan hệ với Chăm. “Giờ đây câu hỏi về đạo đức chiếm vai trò trung tâm và đánh dấu sự khác biệt giữa người “văn minh” và người “man di”. Sự tương đối văn hóa không còn ngự trị , và các cuộc tấn công cũng thôi không còn là các cuộc cướp phá để sau đó 1 hoàng tử địa phương khác được đặt lên ngôi. Giờ đây mục tiêu là đem ‘văn minh’ cho các địch quốc dị chủng.” Nói cách khác, người Việt phải chiếm vĩnh viễn Chăm để khai hóa cho dân tộc đó

    _về định chế. Nếu lý thuyết về Khổng giáo giải thích sức mạnh thể chế của Đại Việt, sự diễn giải định chế giải thích yếu kém của Chăm. Chăm là “1 hệ thống nhà nước được thể chế hóa yếu ớt phụ thuộc vào các mạng lưới liên minh cá nhân để liên kết 1 dân số tản mác” Kết quả là sự yếu kém thể chế cố hữu của nhà nước Chăm cuối cùng đóng dấu số phận của nó

    Bài 2 tiếp cận vấn đề từ góc độ kỹ thuật bằng cách xem xét khía cạnh công nghệ quân sự. Nó cho rằng hỏa khí lấy từ gốc TQ đã đóng vai trò quan trọng trong tiến trình tiến về miền Tây, Nam của Đại Việt trong cuối thế kỷ 15

    Vũ khí Đại Việt thời kỳ đầu
    Việc chuyển giao công nghệ quân sự từ TQ vào VN đã có từ lâu, nhưng 1 diễn biến quan trọng xảy ra đầu thời Minh. Năm 1390, vua Chăm bị giết khi trúng đạn của quân Trần. Loại súng được dùng để bắn vào thuyền vị vua họ Chế trước nay thường được hiểu là thần công, nhưng có lẽ nên hiểu đó là súng cầm tay

    Để hiểu tầm quan trọng của chiến thắng năm 1390 của Đại Việt, cần nhớ trong suốt nhiều năm trước đó, sức mạnh của vua Chế Bồng Nga là nỗi kinh hoàng cho nhà Trần. Trong 3 thập niên(1361-1390), Chế Bồng Nga thực hiện khoảng 10 cuộc xâm lăng vào Đại Việt, và thủ đô Thăng Long rơi vào tay quân Chàm 3 lần. Khi Trần Khát Chân được cử đi chống quân Chăm, vua tôi nhà Trần cùng khóc giữa lúc quân tiến lên đường. Giữa lúc khủng hoảng đó, thì 1 đầy tớ của họ Chế vì bị tội, trốn sang quân Trần chỉ cho biết thuyền của vua Chế. Trần Khát Chân cho tập trung hỏa lực bắn vào thuyền Chế Bồng Nga, Chiêm vương trúng đạn chết, quân tướng bỏ chạy. Sự phản bội của người đầy tớ Chàm đã ngừng bước tiến của quân Chàm và cứu Đại Việt khỏi sụp đổ. Tuy vậy, nếu không có kỹ thuật thuốc súng mới thu lượm, chiến thắng thủy chiến của Đại Việt, cũng như số phận vương quốc, sẽ không chắc chắn. Vì thế, năm 1390 được nhiều người xem là đánh dấu sự thay đổi trong tương quan lực lượng giữa Đại Việt và Chăm. Có vẻ như hiệu quả của công nghệ quân sự mới của Đại Việt đóng 1 vai trò trong thay đổi này

    Loại súng cầm tay của Đại Việt được học hoặc từ các thương nhân hoặc từ những binh lính đào ngũ nhà Minh trước năm 1390. Dường như việc áp dụng súng tại Đại Việt đã tăng nhu cầu về thuốc súng, giống như vào năm 1396, nhà Hậu Trần dưới sự kiểm soát của Hồ Quý Ly phát hành tiền giấy và yêu cầu nhân dân đổi lại tiền đồng, có thể 1 phần với mục đích thu thêm đồng để sản xuất súng

    Sự xâm lăng và chiếm đóng của nhà Minh tại Đại Việt từ 1406 đến 1427 thúc đẩy việc chuyển giao công nghệ quân sự từ TQ. Nhà Minh đã huy động các vị tướng và binh lính thiện chiến nhất cho chiến dịch tấn công Đại Việt. Để đối phó với hỏa khí của Đại Việt, vua Minh Thành Tổ ra lệnh sản xuất các khiên lớn và dày. Ông ra lệnh không được để lộ kỹ thuật làm súng cho đối phương, phải bảo đảm là khi rút quân, súng “phải được đếm theo số hiệu và không để 1 khẩu nào thất lạc.” Trong số 215.000 quân Minh tham gia chiến dịch viễn chinh, khoảng 21.000 lính thuộc khẩu đội được vũ trang bằng súng

    Ngày 19 tháng 11-1406, quân Minh do Trương Phụ dẫn đầu tiến vào từ Quảng Tây, còn đội quân của Mộc Thạnh tấn công từ Vân Nam. Sau các thắng lợi ban đầu, quân Minh tổ chức đánh thành Đa Bang, thuộc Sơn Tây, là tiền tuyến của quân Hồ. Việc chiếm thành Đa Bang bộc lộ vai trò quan trọng của súng ống của quân Minh. Đa Bang là vị trí chiến lược quan trọng nhất trong toàn bộ hệ thống phòng thủ khi ấy của Đại Việt, và nhà Hồ tập trung quân tướng và vũ khí tốt nhất để phòng thủ nơi này. Trận tấn công bắt đầu ngày 19 tháng 1/1407. Khi quân Minh dùng thang ập vào thành mà leo lên, những người lính Việt chỉ có thể bắn vài mũi tên và đạn. Sau khi vào thành, quân Minh đối diện với các đoàn voi trận. Quân Minh vẽ hình sư tử trùm lên ngựa để làm voi sợ, và đặc biệt, nhóm quân súng thần cơ đóng vai trò quyết định cho thắng lợi của quân Minh. Các đoàn voi trận Đông Nam Á vốn vẫn là đối thủ đáng gờm trước quân TQ trong nhiều thế kỷ, nhưng trước hỏa lực mạnh của đối phương, voi đành bỏ chạy. Khi Đa Bang vỡ, quân nhà Hồ không còn ngăn được đà tiến về miền đông và nam của quân Minh. Ngày 20/1, Thăng Long sụp đổ, và 6 ngày sau, Tây Đô cũng rơi vào tay quân viễn chinh

    Trong các trận chiến sau đó, súng của quân Minh cũng chứng tỏ hiệu quả. Ngày 21/2, trên Lục giang, quân Minh huy động thủy – lục quân với nhiều loại súng, tấn công 500 chiến thuyền của Hồ Nguyên Trừng, giết chết hơn 10.000 lính Việt. “súng bắn ra như sao rơi, sét đánh.” Đầu tháng 5/1407, 1 trận lớn diễn ra ở bến Hàm Tử, Hưng Yên. Nhà Hồ huy động lực lượng đáng kể(70.000 quân) và nhiều chiến thuyền kéo dài trên sông đến 5Km. Mặc dù quân Hồ cũng sử dụng súng chống trả, nhưng hỏa lực quân Minh vẫn đủ sức tạo chiến thắng, với 10.000 lính Việt tử trận. Ngày 16-17 tháng Sáu 1407, quân Minh kết thúc chiến dịch với việc bắt sống Hồ Quý Ly và các con. Chiến thắng nhanh chóng khiến tướng Hoàng Phúc bình luận: “Thành công nhanh chóng thế này chưa bao giờ xảy ra trong quá khứ”

    Đại Việt dưới thời Hồ Quý Ly đã chuẩn bị cho khả năng bị xâm lăng từ sớm, và huy động một lực lượng quân đội lớn chưa từng thấy. Tuy vậy, chế độ nhà Hồ sụp đổ nhanh chóng. Lý do, bên cạnh các yếu tố khác như bất mãn của tầng lớp quý tộc và dân chúng trong nước, sai lầm chiến lược, còn là ưu thế quân sự, bao gồm súng đạn, của nhà Minh

    Đại Việt áp dụng kỹ thuật súng
    Tuy nhiên, quân Minh dần dần đánh mất ưu thế công nghệ này vì đối phương của họ, dưới sự lãnh đạo của Lê Lợi, cướp ngày càng nhiều vũ khí của quân Minh trong các trận đánh năm 1418, 1420, 1421, 1424 và 1425. Ví dụ như trận Ninh Kiều cuối năm 1426. Trước đó, quân Minh ở Thăng Long đã sử dụng súng để chống đỡ đợt vây ráp của quân Lê Lợi. Người Việt rút lui, và quân Minh đuổi theo. Khoảng 100.000 quân Minh do Vương Thông và các tướng khác dẫn đầu bị phục kích và chịu thất bại thảm hại. Điều quan trọng cho chủ đề ta đang bàn ở đây là trong số quân Minh có 510 người lính thuộc đơn vị quân súng thần cơ. Vì thua trận, quân Minh mất gần hết vũ khí. Sau khi lui về Thăng Long, họ buộc phải tái sản xuất súng đạn, sử dụng chất liệu đồng từ việc phá hủy chuông Quy Điền và vạc Phổ Minh(2 trong số tứ bảo của VN)

    Chiến thắng Ninh Kiều có 2 tầm quan trọng cho quân Lê Lợi. Thứ nhất, đây là lần họ thu được nhiều nhất súng ống của quân Minh, khiến trang bị được tăng cường. Thứ hai, trận đánh là điểm bước ngoặt trong phong trào chống Minh của Đại Việt. Đến tháng 12-1426, Lê Lợi đã đưa quân ra vây Đông Quan.

    Ngoài ra, những tù binh và hàng tướng quân Minh cũng dạy lại cho người Việt các kỹ thuật quân sự. Trong số hàng binh, có lẽ viên sĩ quan có tên Cai Fu là nhân vật cao cấp nhất. Ông ta đã đóng vai trò lớn giúp quân Minh chiếm thành Đa Bang năm 1407, nhưng đến đầu năm 1427, ông đầu hàng và dạy cho quân của Bình Định Vương Lê Lợi các kỹ thuật đánh thành mà sau đó sẽ dùng để lấy Xương Giang và Đông Quan.

    Các loại vũ khí, thu được hay chế tạo mới, đã giúp quân Đại Việt đánh đuổi quân Minh. Điều này đặc biệt thể hiện trong việc vây thành Xương Giang, có lẽ là cứ điểm quan trọng nhất của quân Minh đầu năm 1427. Quân Minh dựa vào đây để hỗ trợ Đông Quan trong lúc chờ viện binh từ Trung Quốc. Vì thế, quân Đại Việt quyết chiếm lấy Xương Giang trước khi viện binh Trung Quốc đến từ Vân Nam. Lê Lợi đã vây thành này hơn sáu tháng, nhưng vẫn chưa đánh được. Khoảng hai ngàn lính Minh đã dùng súng và máy bắn đá để bảo vệ thành phố. Cuối cùng, khoảng 80.000 chiến binh Đại Việt đã cướp được thành bằng cách dùng những kỹ thuật học từ người Trung Quốc. Đại Việt sử ký toàn thư chép quân Lê Lợi “mở đường đánh nhau với giặc, dùng câu liêm, giáo dài, nỏ cứng, tên lửa, súng lửa, bốn mặt đánh vào, thành cuối cùng bị hạ.” Giống như việc quân Minh chiếm thành Đa Bang năm 1407 báo hiệu nhà Hồ sụp đổ, việc Xương Giang vỡ cũng báo hiệu ngày tàn của quân Minh. Nếu không có hỏa lực hạng nặng, gần như không thể có chiến thắng của quân Đại Việt. Hai mươi năm sau khi Đa Bang sụp đổ, quân Đại Việt giờ đây được vũ trang tốt hơn với các loại súng mà nhiều trong đó lấy của quân Minh.

    Chiếm được Xương Giang, quân Đại Việt cướp thêm được nhiều vũ khí, và họ chiếm thêm được nhiều hơn nữa khi cuối năm 1427, quân Đại Việt đánh bại 150.000 viện binh nhà Minh. Đại Việt sử ký toàn thư chép là số vũ khí mà quân Lê Lợi lấy từ viện quân nhiều gấp đôi số lượng lấy được từ Xương Giang. Khi hơn 80.000 quân và thường dân nhà Minh cuối cùng rút khỏi Đại Việt tháng Giêng 1428, chắc chắn số binh lính Minh đã bi tước vũ khí. Số lượng vũ khí cũng như người Minh còn ở lại Đại Việt sau khi quân Minh rút lui đã gây lo ngại lớn cho triều đình phương Bắc. Nhà Minh liên tục đòi Đại Việt trao trả các quan binh, và vũ khí. Về vũ khí, mặc dù chính thức thì bảo đã trả hết, nhưng Đại Việt không trả lại món nào và cuối cùng triều Minh phải từ bỏ yêu sách

  3. #3
    Tham gia ngày
    17-08-2008
    Bài gởi
    4187
    Thanks
    2,138
    Thanked 682 Times in 469 Posts

    Default

    Nửa đầu thế kỷ 17 đến đầu thế kỷ 19, trong phân tranh Trịnh-Nguyễn, trận Tây Sơn đánh Thanh, phân tranh Nguyễn-Tây Sơn, mặc dù người Việt vẫn sử dụng các thuật ngữ gốc tiếng Hoa để chỉ các loại hỏa khí, nhưng các loại súng kiểu TQ dần dần nhường chỗ cho kỹ thuật Tây phương. Tuy vậy, chúng vẫn không biến mất hoàn toàn. Cần nói là kỹ thuật quân sự Tây phương sau này du nhập vào VN không phải trong 1 khoảng chân không, mà nó được hình thành từ lớp nền Hoa-Việt từ trước đó. Cũng đáng lưu ý là người Việt, khác với nhiều nước Đông Nam Á khác như Miến, có khuynh hướng không dựa vào quân đánh thuê mà vào quân bản địa. Kỹ năng hỏa khí thuần thục của người Việt có lẽ đã khiến cho việc thuê mướn thành không cần thiết

    Kết luận

    Hỏa khí TQ như vậy đã vào Đại Việt khoảng năm 1390, hơn 120 năm trước khi Melaka rơi vào tay người phương Tây(Bồ Đào Nha) năm 1511. Việc chuyển giao công nghệ lại được thúc đẩy với việc chiếm đóng của quân Minh thời kì 1406-1427. Quân Minh, nhờ 1 phần vào ưu thế hỏa khí, đã chinh phục Đại Việt – 1 thành tích mà sau này không còn triều đại TQ nào lặp lại được. Tuy vậy, ưu thế hỏa khí này sau đó đã bị người Việt học hỏi và góp phần vào cuộc đánh đuổi người Minh ra khỏi Đại Việt

    Các nhà nước và dân tộc phát triển và suy thoái vì nhiều lý do. Sự sụp đổ của Chăm có nhiều nguyên nhân, và công nghệ thuốc súng có thể là 1 trong nhiều yếu tố đó. Nửa cuối thế kỷ 15 là thời đại vàng son của Đại Việt, đặc biệt về mặt bành trướng ra nước ngoài. Về phía nam, Đại Việt đè bẹp Chăm sau mấy trăm năm đối đầu để rồi từ đó trở đi Chăm không còn sức mạnh, khiến tính chất địa chính trị của khu vực Đông Nam Á lục địa thay đổi nhiều. Về hướng tây, Đại Việt không chỉ bình ổn vùng biên giới với các dân tộc Thái, mà còn tiến lên cả sông Irrawaddy ở Miến cuối thập niên 1470. Kết quả là các vương quốc ở mạn bắc của Đông Nam Á lục địa gồm Lan Sang, Chiang Mai, Sipsong Panna và Miến lo ngại, đến cả nhà Minh cũng thấy cần báo động

    Có thể cho là Đại Việt đã mượn, lĩnh hội và nội hóa công nghệ quân sự TQ và dùng nó cho mục đích của mình, trong lúc Chăm, vì những lý do chưa rõ ràng, lại không học công nghệ này và hứng chịu hậu quả. Các vương quốc khác tại Đông Nam Á, mặc dù cũng thu lấy công nghệ thuốc súng, nhưng áp dụng nó không hiệu quả như Đại Việt thế kỷ 15

  4. #4
    Tham gia ngày
    18-01-2007
    Nơi Cư Ngụ
    Beejnh Land
    Bài gởi
    529
    Thanks
    0
    Thanked 1 Time in 1 Post

    Default

    Cho hỏi
    Trong Thủy Hử ( Đời Tống) là có nhân vật Oanh Thiên Lôi Lăng Chấn, cũng sử dụng "thần công" tương tự như vậy
    Vậy 2 cái này giống nhau hay là khác nhau

    Thuốc nổ thực chất được phát minh ra ở TQ. Người TQ cũng tận dụng làm pháo hoa rất nhiều. Từ thời Tam Quốc, Tam quốc chí cũng nhắc đến rất nhiều việc Khổng Minh dùng địa lôi, hỏa pháo để công kích quân địch

    Phải chăng Hồ Nguyên Trừng chỉ là người chỉnh lý, phát triển dựa trên cơ sở ấy, rồi sáng tạo thêm các bộ phận, cơ quan để biến súng thần công thành 1 vũ khi có độ sát thương lớn hơn rất nhiều lần, vận hành đơn giản hơn so với các loại "súng" trước đó
    Đảng lãnh đạo, nhà nước quản lý, dân làm ... dân

  5. #5
    Tham gia ngày
    17-08-2008
    Bài gởi
    4187
    Thanks
    2,138
    Thanked 682 Times in 469 Posts

    Default

    thuốc súng được phát hiện 1 cách tình cờ trong quá trình "luyện" thuốc trường sinh của các đạo sỹ TQ
    TQ ban đầu chỉ dùng nó làm pháo hoa. Những người sử dụng thành công thuốc súng trong quân sự là Mông Cổ, A Rập
    Thuốc nổ phát minh vào cuối Đường, đầu Tống nên chuyện GCL đời Hán nghịch thuốc nổ là không đúng
    Hồ Nguyên Trừng chỉ là người chỉnh lý, phát triển dựa trên cơ sở ấy
    nếu bạn đã đọc bài trên của tôi chắc đã quá hiểu

  6. #6
    Tham gia ngày
    21-10-2008
    Bài gởi
    507
    Thanks
    5
    Thanked 46 Times in 34 Posts

    Default

    Thuốc nổ được phát minh đồng thời ở Trung Quốc và Ấn Độ
    Trung Quốc dùng làm pháo hoa
    Ấn Độ mới dùng làm hỏa pháo
    Hỏa pháo du nhập đến Chăm-pa làm quân nhà Trần thất diên bát đảo !
    Nhờ trời Po Binasor vắng số chết dzô dziên chúng ta chiến thắng !
    Hồ Nguyên Trừng phát triển hỏa pháo thành súng thần cơ ;
    Cấu tạo của nó Bác Tôn đã đề cập .
    Thần cơ hỏa sang là loại súng có đầy đủ bộ phận cơ bản của súng thần công ở những thế kỷ sau này. Nòng súng là 1 ống đúc bằng sắt hoặc bằng đồng, phía đuôi súng được đúc kín có bộ phận ngòi cháy ở chổ nhồi thuốc nổ. Đạn pháo là mũi tên bằng sắt lớn.Khi bắn người ta nhồi thuốc súng vào phía đáy và đặt mũi tên vào giữa và nhồi loại đạn ghém bằng sắt và chì
    Súng thần cơ có nhiều loại: loại nhỏ dùng cho bộ binh bắn xa chừng 700m
    xin bổ sung nó chủ yếu là đặt trên tường thành cao bắn đì dùng xuống đưới.
    Nói chung uy lực nó ko lớn chủ yếu làm hoảng loạn đội hình đối phương .
    Đây chí là loại vũ khí nhỏ ko phải là súng đại bác như ngày nay !
    Hồ Nguyên Trừng chỉ là 1 những ông tổ của súng thần công TQ và chắc chắn ko phải là ông tổ súng thần công thế giới ! Buồn nhỉ !

  7. #7
    Phần tử dân tộc cực hữu's Avatar
    Phần tử dân tộc cực hữu vẫn chưa có mặt trong diễn đàn Chủ tịch Chandaly Sitphaxay fanclub Việt Nam Ngự sử đài Đô ngự sử
    Tham gia ngày
    17-09-2006
    Bài gởi
    7279
    Thanks
    1,987
    Thanked 2,915 Times in 1,501 Posts

    Default

    Như ta đã biết, hỏa khí đã được dùng từ thế kỷ thứ 11 ở Tàu, dưới thời Tống. Thế nhưng hỏa khí thời này còn thô sơ lắm. Chủ yếu là nhồi thuốc vào vỏ sắt làm lựu đạn tay, hoặc bắn bằng máy bắn đá (hồi pháo). Súng ống thời này còn tệ hại hơn nữa. Chất lượng nòng rất kém (đại bác thường ghép bằng các tấm kim loại ,thạm chí là ván gỗ, theo chiều dọc, lấy đinh tán để ghép. Cách làm này súng ko bền, nòng ko kín, lại nguy hiểm cho xạ thủ. Súng tay thì nòng ngắn, trông như cái bầu). Nòng thì thế, giá súng còn tạm bợ hơn. Tử tế thì đóng cái bàn buộc súng vào, còn thông thường cứ nằm lăn ra đất, lấy gạch đá chèn. Súng đã yếu, bắn kém chính xác lại ko chỉnh được hướng bắn, góc bắn. Súng tay thì chỉ gồm 1 que làm cán, khi bắn 1 tay cầm, 1 tay điểm hỏa, ko tì lên vai để ngắm bắn như súng hỏa mai được. Thế nên súng chỉ để làm hiệu lệnh, hoặc dùng tiếng nổ để gây tác động tâm lý như trong trận Crecy thế kỷ 14.
    Đến cuối chiến tranh 100 năm, tức giữa thế kỷ 15, hỏa khí ở châu Âu vẫn vậy, ko tiến xa hơn là bao. Mà ta biết rằng công nghệ lan truyền rất nhanh, nhất là công nghệ quân sự. Chỉ mất khoảng vài chục năm để 1 vũ khí mới tỏa ra khắp cựu thế giới. Thế nên ta có thể suy ra rằng súng ống ở Á Đông vào thời trước chiến tranh Hồ-Minh (cuối tk 14) cũng ko khá khẩm hơn.
    Thế nhưng năm 1453 đã đánh dấu 1 hiện tượng nhảy vọt của lịch sử hỏa khí. Năm đó, quân đội Thổ Nhĩ Kỳ đã sử dụng đại bác và súng tay với số lượng lớn để đập tan bức tường Constantinope đã đứng vững 1000 năm. Các khẩu thần công của Thổ là 1 thứ khác biệt hoàn toàn các loại "thùng rỗng kêu to" mà châu Âu đã biết. Các súng này bắn đạn cỡ lớn, nòng cấu tạo từ các khúc riêng rẽ, ghép lại bằng ren, vừa bền mà lại tiện tháo ra di chuyển. Giá súng có thể chỉnh góc, có bánh xe dể kéo đẩy. Súng hoạt động quá hiệu quả, uy lực và chính xác. Bộ binh Thổ cũng đươc trang bị 1 loại vũ khí mới: súng hỏa mai. Súng này có báng gỗ, có bộ phận giữ mồi lửa, nòng đúc dài, có thể áp lên vai mà ngắm bắn. Súng hỏa mai đòi hỏi ít sự luyện tập hơn cung,bắn nhanh và mạnh hơn nỏ. Những ưu điểm đó khiến các loại súng mới kể trên nhanh chóng được ưa chuộng ở châu Âu. Năm 1492, Columbus đi thám hiểm Tân thế giới đã mang theo đủ các loại khí tài tân tiến ấy. Vào thời Trịnh Hòa đi viễn chinh, cách đó cả 6-7 chục năm, các hạm đội Bảo thuyền nhà Minh cũng được trang bị các loại khí cụ này.
    Câu hỏi đặt ra là: lấy đâu ra bước tiến vượt bậc ấy của súng ống? Tôi xét lại các thời điểm và nhận thấy: có lẽ hải quân Trung Hoa là nơi đầu tiên có vũ khí mới, từ thời Chu Đệ-Trịnh Hòa. Sau đó phát minh này lan ra Tây Vực, tới Ottoman và Châu Âu. Nhưng Chu Đệ là kẻ đã phát động xâm lược Đại Việt, bắt giữ Hồ Nguyên Trừng, thâu tóm các phát minh của cụ. Giả thiết đặt ra: Hồ Nguyên Trừng tuy ko phát minh ra súng, nhưng là người cải tiến thuật đúc súng và đưa súng ống ra chiến trường như 1 loai vũ khí có sức mạnh ghê gớm-Thần cơ. Từ đo, bộ mặt chiến trường đã thay đổi.
    Trần Thái Tông trước sự ngạo mạn của tên sứ Nguyên Trương Đình Trân, đòi vua quỳ lạy, bắt vua ngồi ngang hàng:"Thánh Thượng thương ta nhưng thằng sứ giả vô lễ. Mày là viên quan nhỏ, tao là tước vương, đòi lễ ngang nhau, từ cổ đến nay há có chuyện đó?", về việc cống tê voi: "đã xưng nước lớn sao còn đòi tê tượng?"

  8. #8
    Tham gia ngày
    17-08-2008
    Bài gởi
    4187
    Thanks
    2,138
    Thanked 682 Times in 469 Posts

    Default

    muốn tìm hiểu quá trình phổ biến của súng à
    *các đạo sỹ TQ tình cờ phát hiện ra thuốc súng trong quá trình luyện thuốc trường sinh->thuốc súng được dùng làm pháo hoa ở TQ
    ->Mông Cổ sử dụng thuốc súng rất thành công trong chiến tranh
    ->thuốc súng truyền từ Mông Cổ sang A Rập
    ->thuốc súng truyền vào châu Âu theo đường Tây Ban Nha(thuộc Ả Rập)
    ->chiến tranh Napoleon là 1 cuộc chiến cho thấy sự quan trọng của súng đạn

Bookmarks

Quyền Sử Dụng Ở Diễn Ðàn

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •