thang may mitsubishi lien doanh dao tao lai xe day lai xe hoc lai xe thi bang lai xe bao cao su dầu cắt gọt in băng rôn thu mua phe lieu thu mua phe lieu gia cao công ty thám tử uy tín nhất ho ca koi ho ca koi ngoai troi Cach mua the Mobifone Hướng dẫn mua thẻ zing du an green town
Lịch triều hiến chương loại chí _ Phan Huy Chú - Page 2
Loading...
Trang 2/9 đầuđầu 1234 ... cuốicuối
kết quả từ 11 tới 20 trên 82

Ðề tài: Lịch triều hiến chương loại chí _ Phan Huy Chú

  1. #11
    Tham gia ngày
    05-01-2009
    Bài gởi
    158
    Thanks
    5
    Thanked 177 Times in 88 Posts

    Default

    Năm Kiến Vũ (1) thứ 15 [40] đời Đông Hán, người con gái ở huyện Mi Linh thuộc Phong Châu là Trưng Trắc nổi lên, đem quân đánh đuổi thái thú quận Giao Chỉ là Tô Định, quân đi đến đâu thì nhân dân theo hết, cả những người Man, Lý ở quận Nam Hải, Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố cũng đều hưởng ứng cả. Rồi đó dẹp yên hơn 50 (2) thành ở đất Lĩnh Nam, tự lên làm vua. Nhà Hán cho Mã Viện (3) làm Phục ba tướng quân, men bờ biển tiến sang, gặp chỗ nào có núi thì sửa thành đường, chừng nghìn dặm xa mới đến Lãng Bạc. Trung Vương rút lui giữ đất Cấm Khê, cùng với em gái là Trưng Nhị chống đánh quân Hán nhưng bị thua, quân tan rã cả, hai chị em đều chết. Quân còn sót lại do Đô Dương đem về tụ họp ở quận Cửu Chân. Mã Viện lại đuổi đánh, đến huyện Cư Phong thì Đô Dương phải chịu hàng. Đất Kiệu Nam (4) dẹp yên cả, Viện mới dựng cột đồng ở đất Kiệu Nam để làm địa giới tận cùng của nhà Hán, Lại theo chế độ quận huyện cũ để cai trị. Từ đấy về sau, nước Lạc Việt phải theo các công việc cũ của Mã Viện đã đặt ra, nên nước Việt ta lại thuộc về Hán.

    Lời án : Sách Nhất thống chí của nhà Minh (5) chép : Cột đồng ở động Cổ Sâm thuộc châu Khâm, trên có lời thế rằng : " Cột đồng gãy thì Giao Chỉ phải tiêu diệt ". Người nước Việt ta sợ cột đồng gãy nên mỗi khi có ai đi qua dưới cột ấy đều lất đá đắp thêm vào thành ra gò lớn. Châu Khâm ở về phía đông hải phận nước ta. Cách phía tây châu ấy 300 dặm, có núi Phân Mao (6), ở lưng chừng núi có cột đồng cao một trượng hơn hai thước. Vậy mà xét ở sách Thông điển (7) của Đỗ Hựu đời Đường lại nói rằng : " Cách phía nam nước Lâm Ấp hơn 2000 dặm (8) có cột đồng của Mã Viện dựng lên ", thế thì cột đồng lại ở ngoài quận Nhật Nam, không giống như Nhất thống chí của nhà Minh, chưa rõ sách nào phải. Thiết tưởng lúc bấy giờ dựng cột đồng tất dựng ở chỗ cùng cực phía nam, mà châu Khâm còn gần kề đất Trung Quốc, không lẽ lại dựng mốc giới ở chỗ ấy, thì cột đồng ở Cổ Sâm, ngờ là người đời sau dựng lên. Trong khoảng đời Nguyên Hòa (9) , đô hộ là Mã Tổng có dựng cột đồng ở chỗ cũ của nhà Hán thì cột đồng ấy có lẽ là Mã Tổng dựng lên mà đời sau bảo là di tích của Phục Ba Tướng quân chăng ? Nay hãy chép ra để tham khảo.

    ________________
    (1) Kiến Vũ : niên hiệu của Hán Quang Vũ (25 - 57) nhà Hán, dùng từ năm 25 đến năm 56.
    (2) Nhiều sách chép là 65 thành.
    (3) Mã Viện (14 TCN - 49 ) : người ở Phù Phong, Mậu Lăng, là danh tướng của nhà Đông Hán, người có nhiều công lao giúp Hán Thế Tổ bình định Trung Quốc và chinh phục Giao Chỉ.
    (4) Không rõ ở đâu, có lẽ Lĩnh Nam viết nhầm ra chăng ?
    (5) Đại Minh Nhất thống chí : sách địa dư của Trung Quốc, do vua Minh sai bọn Lý Hiền soạn, theo quyển Nhất thống chí của nhà Nguyên.
    (6) Phân Mao sơn : tên núi giáp giới ta với châu Khâm thuộc Quảng Châu, Trung Quốc. Tương truyền núi có nhiều cỏ tranh, một nửa ngọn cỏ rẽ về phía nam, một nửa ngọn rẽ về phía bắc.
    (7) Sách Thông điển : chép về điển lệ chính trị từ đời Hiên Viên đến đời Thiên Bảo nhà Đường, trên dưới ba nghìn năm trăm năm, gồm 200 quyển.
    (8) Khoảng 1000 km.
    (9) Niên hiệu Đường Hiến Tông nhà Đường (TQ), ( 778 - 820 ), dùng từ năm 806 đến năm 820

  2. The Following 4 Users Say Thank You to ...£ü√... For This Useful Post:

    kieuphong (19-08-2009),phithiengia (19-08-2009),wiwi (20-08-2009)

  3. #12
    Tham gia ngày
    05-01-2009
    Bài gởi
    158
    Thanks
    5
    Thanked 177 Times in 88 Posts

    Default

    Khoảng năm Kiến An (1) nhà Hậu Hán mới đặt ra Giao Châu để thống trị các quận. Đến thời Tam Quốc, vua Ngô là Tôn Quyền lấy cớ rằng Giao Châu xa quá, mới chia từ quận Giao Chỉ trở về phía nam gọi là Giao Châu, về phía bắc gọi là Quảng Châu (a) đặt chức thứ sử riêng để cai trị. Rồi sau lại hợp làm Giao Châu. Đến khi Tôn Hạo lên ngôi, lại chia làm hai như cũ. Sau lại chia Giao Chỉ ra làm quận Tân Hưng cho Đào Hoàng (2) làm thứ sử, đô đốc việc quân ở Giao Châu. Khi dẹp yên được những người Di, Lạo ở quận Vũ Bình, Cửu Đức, Tân Hưng, đặt ra 3 quận và hơn 30 huyện của quận Cửu Chân thuộc về [nước Tấn]. Cuối đời Nguỵ, Vũ đế nhà Tấn cho Lã Hưng (3) làm An Nam Tướng quân,đô đốc các đạo quân ở Giao Châu. Nước ta gọi là An Nam bắt đầu từ đấy.
    Thời nhà Tấn chia Giao Châu làm 7 quận, 50 huyện :
    Quận Giao Chỉ có 14 huyện (b)
    Quận Cửu Chân có 7 huyện (c)
    Quận Nhật Nam có 5 huyện (d)
    Quận Cửu Đức có 8 huyện (e)
    Quận Tân Xương có 6 huyện (f)
    Quận Vũ Bình có 7 huyện (g)
    Quận Hợp Phố có 6 huyện (h)
    Về sau người Lâm Ấp (4) thường đến cướp quận Nhật Nam, quận Cửu Chân vì khi ấy quận Giao Châu suy yếu. Khoảng năm Nguyên Gia (5), nhà Tống sai Đàn Đạo Tế (6) làm thứ sử Giao Châu dẹp yên được Lâm Ấp. Vũ Đế nhà Lương lại chia Giao Châu đặt ra Ái Châu, rồi đổi quận Nhật Nam gọi là Đức Châu. Từ đời nhà Hán về sau cho châu được thống trị các quận. Đời Lục triều (7) vẫn theo thế. Chức thứ sử Giao Châu thống trị 7 chức quận thú.
    Nhà Lương năm Đại Đồng (8) thứ 7 [541], chức quân giám quận Cửu Đức là Lý Bôn nổi lên, đem quân đánh đuổi thứ sử là Tiêu Tư (9), chiếm giữ lấy thành Long Biên (i), lại đánh phá được Lâm Ấp ở Cửu Đức , rồi xưng là hoàng đế, đặt quốc hiệu là nước Vạn Xuân. Khi quân nhà Lương sang xâm lấn, đến sông Tô Lịch, quân của vua bị thua, chạy vào thành Gia Ninh, lại chạy vào chỗ người Lạo ở quận Tân Xương rồi chết. Anh là Lý Thiên Bảo cũng viên tướng người cùng họ là Lý Phật Tử thu quân vào quận Cửu Chân, rồi giữ lấy động Dã Năng (j) xưng là Đào Lang Vương. Rồi đại tướng quân [ của Tiền Lý Nam Đế ] là Triệu Quang Phục đem quân đóng ở đầm Nhất Dạ (k), xưng là Dạ Trạch Vương (l) chống nhau với quân nhà Lương, quân Lương tan vỡ bỏ chạy. Quang Phục mới vào ở thành Long Biên. Khi ấy Đào Lang Vương đã chết, Phật Tử nối ngôi (m) đốc suất quân chúng, cùng Triệu Việt Vương đánh nhau ở đất Thái Bình giảng hoà với nhau, cắt bãi Quân Thần làm giới hạn (n). Triệu Việt Vương dời về đóng ở thành Ô Diên (10). Sau đem quân đánh diệt Triệu, xưng là Nam Đế, đóng đô ở Ô Diên rồi lại thiên sang Phong Châu. Sau bị nhà Tuỳ diệt mất.

    _________________________________________
    (a) Nay thuộc tỉnh Quảng Đông
    (b) Không có huyện Phong Khê, Vọng Hải như của nhà Hán, thêm các huyện : Giao Hưng, Vũ Ninh, Nam Định, Hải Bình.
    (c) Tư Phố, Di Phong, Trạm Ngô, Kiến Sơ, Thường Lạc, Phù Lạc, Tùng Nguyên.
    (d) Theo y như các huyện đời nhà Hán.
    (e) Cửu Đức, Hàm Hoan, Nam Lăng, Dương Toại, Phù Linh, Khúc Tư, Phố Dương, Đô Vấn.
    (f) Mi Linh, Gia Ninh, Ngô Định, Phong Sơn, Lâm Tây, Tây Đạo.
    (g) Vũ Bình, Vũ Hưng, Căn Ninh, Phù An, Phong Khê, Kim Sơn, An Định (11)
    (h) Nam Bình, Đăng Xương, Từ Văn, Độc Chất, Châu Quan, Hợp Phố.
    (i) Tức là Tiền Lý Nam Đế
    (j) Thuộc Ai Lao.
    (k) Nay là bãi Tự Nhiên, huyện Đông An [ Hưng Yên ]
    (l) Tức là Triệu Việt Vương
    (m) Tức Hậu Lý Nam Đế
    (n) Nay là xã Thượng Cát, Hạ Cát huyện Từ Liêm [ Hà Nội ]




    (1) Niên hiệu của Hán Hiến Đế dùng từ năm 196 đến năm 219.
    (2) Đào Hoàng : tự là Thế Anh, người Đan Dương, từng làm Thái thú quận Thương Ngô, là bề tôi nhà Ngô, có công lao bình định Giao Châu. Khi nhà Tấn lên, vua Ngô là Tôn Hạo đầu hàng, viết thư tay cho Hoàng bảo hàng Tấn. Hoàng khóc rồi Hoàng, được phong Uyển Lăng Hầu, vẫn coi việc Giao Châu. Làm hơn 30 năm thì chết, cả châu thương khóc. ( An Nam chí lược ) Về sau, con là Đào Uy, Đào Thục lại nối nhau làm Thứ sử Giao Châu.
    (3) Tấn Vũ Đế cho Lã Hưng làm An Nam đô đốc, nhưng Hưng đến châu bị công tào là Lý Thống giết. Mã Dung được cử sang thay.
    (4) Tức là người Chiêm Thành sau này.
    (5) Niên hiệu của Tống Văn Đế, dùng từ năm 423 đến năm 453.
    (6) Có lẽ là Đàn Hoà Chi đánh Lâm Ấp vào năm Nguyên Gia thứ 13 (436)
    (7) Sáu triều vua ở Trung Quốc : Ngô, Đông Tấn, Tống, Tề, Lương, Trần.
    (8) Niên hiệu Lương Vũ Đế (502 - 549), dùng trong những năm từ 535 đến 546.
    (9) Tiêu Tư : tự là Thế Thái, tôn thất nhà Lương. Do làm Thứ sử Giao Châu, vơ vét quá đáng, bị Lý Nam Đế đánh đuổi, nhưng về Trung Quốc, không bị tội gì.
    (10) Bảo Triệu Việt Vương dời về đóng ở thành Ô Diên là không đúng. Chính sử chép Lý Phật Tử sau khi giảng hoà, dời về đóng ở Ô Diên.
    (11) Theo Tấn thư, mục Địa lý chí dẫn trong PĐĐC thì là hai huyện Tiến Sơn và An Vũ.

  4. The Following 2 Users Say Thank You to ...£ü√... For This Useful Post:

    wiwi (20-08-2009)

  5. #13
    Tham gia ngày
    05-01-2009
    Bài gởi
    158
    Thanks
    5
    Thanked 177 Times in 88 Posts

    Default

    Nhà Tuỳ chia Giao Châu làm 5 quận (1) 32 huyện :
    Quận Giao Chỉ có 9 huyện (a)
    Quận Cửu Chân có 7 huyện (b)
    Quận Nhật Nam có 8 huyện (c)
    Quận Lâm Ấp có 4 huyện (d)
    Quận Tỵ Ảnh có 4 huyện (e)
    Đầu đời Vũ Đức (2) nhà Đường lấy hai huyện Giao Cốc, Kim An ở quận Nhật Nam làm Trí Châu đặt riêng một chức thứ sử, rồi mới đổi chức thứ sử Giao Châu làm chức đô đốc. Đến đầu năm Vĩnh Huy (3) mới đặt phủ An Nam đô hộ, coi 12 châu 5 huyện :
    Châu Giao có 8 huyện (f)
    Châu Lục có 3 huyện (g)
    Châu Phong có 5 huyện (h)
    Châu Phúc Lộc có 3 huyện (i)
    Châu Thang có 3 huyện (j)
    Châu Chi có 7 huyện (k)
    Châu Diễn có 6 (4) huyện (l)
    Châu Vũ Nga có 7 huyện (m)
    Châu Vũ An có 2 huyện (n)
    Châu Ái có 6 huyện (o)
    Châu Hoan có 4 huyện (p)
    Châu Trường có 4 huyện (q)
    Lời án : Châu Giao là đất [của nước] Lạc đời xưa, nhà Hán gọi là quận Giao Chỉ, đời Hậu Hán đổi là Giao Châu, thống trị các quận, đời Lục triều cũng theo thế. Châu Phúc Lộc cũng là đất [của nước] Lạc trước và là đất Tượng Quận ở đời Tần. Năm Tổng Chương (5) thứ 6 đời Đường, thứ sử quận Trí Châu là Tạ Pháp Thành lấy đất Đường Lâm cũ đặt làm châu Phúc Lộc. Huyện Nhu Viễn là là huyện Gia Viễn. Huyện Đường Lâm nay là đất huyện Hoài An, Mĩ Lương. Châu Ái là đất Tượng Quận đời Tần, nhà Hán gọi là quận Cửu Chân, từ nhà Tấn trở về sau cũng theo thế. Châu Hoan xưa là nước Việt Thường. Đời Tần thuộc về đất Tượng Quận, đời Hán thuộc về quận Cửu Chân, Ngô đặt là quận Cửu Đức, đời Lục triều cũng theo thế. Đến Tuỳ đặt là châu Hoan, lại đặt là quận Nhật Nam. Nhà Đường lại đặt là châu Hoan, cũng gọi là quận Nhật Nam. Châu Phong là nước Văn Lang đời xưa, thuộc vào Tượng Quận đời Tần, và thuộc quận Giao Chỉ đời Hán, Ngô gọi là Tân Hưng, Tấn đổi làm Tân Xương, Trần (6) đặt là Hưng Châu, Tuỳ lại đổi làm Phong Châu, sau gộp cả vào quận Giao Chỉ. Đầu đời Đường lấy huyện Gia Ninh của quận Giao Chỉ đặt ra châu Phong. Châu Lục đời Tần là đất Tượng Quận, đời Hán thuộc quận Giao Chỉ, Lương chia ra làm châu Hoàng và quận Ninh Hải, Tuỳ đổi làm châu Vương. Đến đời Đường đổi làm châu Lục. Châu Diễn cũng là châu Hoan, đầu đời Đường đặt làm châu Hoan, sau đổi làm châu Diễn mà lập riêng châu Hoan ra. Huyện Trung Nghĩa và huyện Long Trì có lúc gọi là quận, có lúc lại gọi là quận Diễn Thuỷ. Đất châu Trường cũng là châu Phúc Lộc. Còn như châu Chi ngờ nay là tỉnh Hưng Hoá. Châu Vũ Nga ngờ nay là tỉnh Thái Nguyên, Châu Thang ngờ nay là tỉnh Tuyên Quang, Châu Vũ An ngờ nay là tỉnh Quảng Yên. Lại lúc đầu nhà Đường, thì châu Lâm có 3 huyện (r) châu Cảnh có 3 huyện (s) đều là đất Lâm Ấp. Lúc đầu nhà Đường thu phục được Lâm Ấp, đặt vào trong vùng cơ mi, nhưng vẫn giao quyền cho châu Hoan ở phía nam trông coi. sau đó lại nhập vào Lâm Ấp. [Đất ấy] tức là Thuận Hoá, Quảng Nam đời nay.


    ___________________________
    (a) Giao Chỉ, Tống Bình, Long Biên, Chu Diên, Long Bình, Gia Ninh, Tân Xương. An Nhân, Bình Đạo.
    (b) Cửu Chân, Di Phong, Tư Phố, Long An, Quân An, An Thuận, Nhật Nam
    (c) Cửu Đức, Hàm Hoan, Phố Dương, Việt Thường, Kim Ninh, Giao Cốc, An Viễn, Quang An.
    (d) Tượng Phố, Kim Sơn, Giao Giang, Nam Cực.
    (e) Tỵ Ảnh, Chu Ngô, Thọ Lãnh, Tây Quyển - Thọ Lãnh là huyện thuộc quận Giao Chỉ ở đời Hán, còn ba huyện kia là huyện thuộc quận Nhật Nam đời Hán.
    (f) Tống Bình, Nam Định, Thái Bình, Giao Chỉ, Chu Diên, Long Biên, Bình Đạo, Vũ Bình.
    (g) Ô Lôi, Hoa Thanh, Ninh Hải.
    (h) Gia Ninh, Thừa Hoá, Tân Xương, Cao Sơn, Châu Lục.
    (i) Nhu Viễn, Đường Lâm, Phúc Lộc.
    (j) Dương Tuyền, Lục Thuỷ, La Thiều.
    (k) Hân Thành, Phú Xuyên, Bình Tây, Lạc Quang, Lạc Diễm, Mã Long (7), Đa Vân.
    (l) Trung Nghĩa, Long Trì, Tư Nông, Vũ Động, Vũ Dung, Vũ Kim.
    (m) Vũ Nga, Mã Thạch, Vũ Nghĩa, Vũ Di, Vũ Duyên, Vũ Lao, Lương Sơn (8).
    (n) Vũ An, Lâm Giang.
    (o) Cửu Chân, An Thuận, Sùng Bình, Quân Ninh, Nhật Nam, Trường Lâm.
    (p) Cửu Đức, Phố Dương, Việt Thường, Hoài Hoan
    (q) Văn Dương, Đồng Thái, Trường Sơn, Kỳ Thường.
    (r) Lâm Ấp, Kim Lonh, Hải Giới.
    (s) Tỵ Ảnh, Do Văn, Chu Ngô.


    (1) Theo Tuỳ thư, mục Địa lý chí dẫn trong PĐĐC thì có 6 quận : thêm quận Ải Âm, gồm có 4 huyện : Tân Dung, Chân Long, Đa Nông, An Lạc.
    (2) Niên hiệu của Đường Cao Tổ (566 - 635), dùng từ năm 618 đến năm 626.
    (3) Niên hiệu của Đường Cao Tông (628 - 683), dùng từ năm 650 đến năm 655.
    (4) Theo PĐĐC thì có 7 huyện, không có huyện Vũ Động, thêm huyện Vũ Lang và Hoài Hoan.
    (5) Niên hiệu của Đường Cao Tông (628 - 683), dùng từ năm 668 đến năm 670, không có năm thứ sáu.
    (6) Trần : triều đại ở TQ do Trần Cao Tổ huý là Bá Tiên lập nên, tồn tại từ năm 557 đến năm 589.
    (7) CM chép là Ân Long, PĐĐC chép là Tư Long.
    (8) Theo PĐĐC không có Mã Thạch, mà là Như Mã.

  6. The Following 4 Users Say Thank You to ...£ü√... For This Useful Post:

    kieuphong (19-08-2009),vvvvvvv (19-08-2009),wiwi (20-08-2009)

  7. #14
    Tham gia ngày
    05-01-2009
    Bài gởi
    158
    Thanks
    5
    Thanked 177 Times in 88 Posts

    Default

    Khoảng đời Khai Nguyên (1) Mai Thúc Loan ở châu Hoan đem quân đánh chiếm giữ lấy châu tự xưng là Hắc Đế (a) rồi bị quân nhà Đường diệt mất. Đầu đời Chí Đức (2) đổi làm Trấn nam đô hộ phủ, đắp La Thành, sau lại đổi làm An Nam đô hộ phủ. Khoảng đời Trinh Nguyên (3) người ở huyện Đường Lâm là Phùng Hưng nổi lên đem quân đánh Kinh lược sứ là Cao Chính Bình, vào chiếm giữ phủ thành. Chưa được bao lâu thì Phùng Hưng chết (b). Đô hộ là Triệu Xương (4) sang ta, sai người dụ con Phùng Hưng ra đầu hàng, đắp thêm La Thành. Nhà Đường lại đặt chức đô đốc ở châu Phong và châu Hoan. Khi ấy các châu thuộc [ phủ đô hộ] đều đặt thứ sử để thống trị các châu cơ mi. Đầu đời Nguyên Hoà [806] Trương Chu (5) làm đô hộ, đắp thêm thành Đại La. Lại nhân vì thành hai châu Hoan Ái trước bị Hoàn Vương nước Lâm Ấp (6) phá huỷ nên Chu bắt đắp lại hết. Thời [ Đường] Mục Tông, đô hộ là Lý Nguyên Tố cho rằng cửa thành có nước chảy ngược, sợ trong châu có nhiều người làm phản, mới dời phủ thành đến ngoài cửa Đông Quan. Thời [Đường] Ý Tông, người Nam Chiếu thường đến quấy nhiễu, đánh lấy Tống Bình (7), vua Đường mới đổi phủ lị đô hộ ra trấn Hải Môn (8), rồi sai Cao Biền làm Đô hộ, đánh phá được Nam Chiếu. Nhân đó vua đặt quân Tĩnh Hải ở Giao Châu, cho Cao Biền làm tiết độ sứ. Cao Biền giữ lấy chỗ phủ trị, đắp thành Đại La.

    ____________________________
    (a) Nay là huyện Nam Đường [Nghệ An]
    (b) Nay có đền thờ ở xã Thịnh quang, huyện Quảng Đức


    (1) Niên hiệu của Đường Huyền Tông (685 - 762), dùngtừ năm 713 đến năm 741.
    (2) Niên hiệu của Đường Túc Tông, dùng từ năm 756 đến năm 757.
    (3) Niên hiệu của Đường Đức Tông (742 - 805), dùng từ năm 785 đến năm 805.
    (4) Triệu Xương : tự Hồng Tộ, trước có làm Thứ sử Càn Châu, hai lần làm An Nam đô hộ
    (5) Trương Chu : trước làm An Nam kinh lược phán quan, sau làm Kinh lược sứ, đắp thành Đại La, sửa sang binh khí ở phủ đô hộ, quân khí phấn chấn trở lại. Chu chết, Liễu Tử Hậu có làm văn tế.
    (6) Theo PĐĐC thì Hoàn Vương là tên khác của nước Lâm Ấp.
    (7) Theo CM thì sau này là huyện Siêu Loại, tức Thuận Thành, Bắc Ninh.
    (8) Theo Thanh Nhất thống chí thì ở huyện Bác Bạch, châu Uất Lâm. Quảng Đông.

  8. The Following 3 Users Say Thank You to ...£ü√... For This Useful Post:

    kieuphong (19-08-2009),wiwi (20-08-2009)

  9. #15
    Tham gia ngày
    05-01-2009
    Bài gởi
    158
    Thanks
    5
    Thanked 177 Times in 88 Posts

    Default

    Bài thông luận của sử thần họ Ngô (1) : Xét lúc đầu đời Đường chia thiên hạ ra làm 15 đạo, lấy đất 9 quận của nhà Hán làm đạo Lĩnh Nam, còn đất An Nam đặt làm phủ đô hộ, đều thuộc vào đạo Lĩnh Nam thống trị. Đến năm Vũ Đức thứ 5 [622] gọi là Giao Châu. Từ đời Điều Lộ (2) trở về sau không gọi là Giao Châu nữa mà gọi là An Nam. Từ Vũ Đế Triệu Đà trở về sau, hơn 1000 năm lại thuộc về Trung Quốc.

    Tại sao những nước Lâm Ấp, Phù Nam, Chân Lạp, Ai Lao, tuy đều là những nước nhỏ mọn mà còn có quân trưởng, không đến nỗi lệ thuộc quá như nước Nam mình ?

    Vì rằng các nước ấy ở chỗ bãi biển chân núi, nhân dân tiền của đều không bõ làm mối lợi cho Trung Quốc, cho nên hễ trái mệnh lệnh thì đánh, phục tùng thì tha, lễ triều cống có hay không cũng không thèm trách. Còn nước Nam ta là nơi đô hội lớn ở phương Nam, tuộng cấy lúa tốt, đất trồng dâu tốt, núi sẵn vàng bạc, biển sẵn châu ngọc, người ở đâu đến buôn bán cũng làm giàu được cả. Cái tiếng phong phú ấy đồn đi xa, nên Trung Quốc lúc nào cũng nghĩ cách chiếm đất của nước mình, đặt ra quận huyện để cai trị đã từ lâu rồi. Lúc chưa lấy được thì nghĩ cách để lấy ; lúc đã lấy được rồi thì không chịu bỏ ra nữa. [ Ta thì ] đường đường một nước to tát, thiếu gì người anh hùng hảo kiệt, há lại thích nhắm mắt cúi đầu để cho bọn đô đốc, thứ sử sai khiến ru ? Chỉ vì nước bị nội thuộc đã lâu, chia quận đặt quan rải rác khắp các nơi, ra oai ra phúc, đén đây ai cũng phải vâng theo, cho nên một người thổ hào (3) nổi dậy thì quận thú đánh để diệt đi ; một quận thú nổi dậy thì thứ sử kết hợp lại đánh ngay. Một thứ sử nổi dậy thì Trung Quốc đem toàn lực sang đánh. Như Lý Tốn (4), Trương Thạc (5) về đời Tấn, Dương Thanh (6), Lý Mạnh Thu, Hữu Ngạn (7), Mai Thúc Loan, Vương Thăng Triều (8) về đời Đường đều như thế cả. Hai nhà Lý và nhà Triệu (9) ở nước ta đều giữ được cõi đất xưng hiệu vua đến năm sáu mươi năm là vì khi ấy đương lúc nhà Lương, nhà Trần ở Trung Quốc tạm nương náu một nơi ; Giang Tả (10) vì lắm việc, nên không để ý lắm về Giao Châu. Còn như đương lúc nhà Hán nhà Đường toàn thịnh, thì khi nào họ chịu bỏ cõi đất đã lấy được và đồ cống hiến vẫn được hưởng của họ, mà để cho ta tự lập thành một nước lớn ở ngoài đất Ngũ Lĩnh. Thế cho nên luôn luôn có lúc nổi lên, rồi lại bị diệt, chung qui bị họ khép là phản bạn. Cả trên dưới nghìn năm vẫn phải lệ thuộc vào Trung Quốc và chia làm quận huyện cũng là thế bắt buộc phải như vậy. Huống chi ý trời chưa muốn cho nước mình được bình trị, lại đổ lỗi cho tự việc người thế nào được.



    _____________________________
    (1) Nhiều đoạn thông luận này không rõ của Ngô Thì Sĩ viết hay ai viết, hiện chưa khảo được.
    (2) Niên hiệu Đường Cao Tông, dùng trong khoảng từ 679 đến 680.
    (3) Người hào trưởng ở một địa phương.
    (4) Lý Tốn : làm thái thú quận Cửu Chân. Năm 380 chiếm giữ châu chống mệnh lệnh nhà Tấn bị Đỗ Viện dẹp.
    (5) Trương Thạc : chính tên là Lương Thực làm Thái thú Tân Xương. Đời Tấn Huệ Đế, họp quân vây thứ sử Vương Lượng ở Long Biên, tự làm Thái thú Giao Chỉ. Rồi bị Đào Khản dẹp.
    (6) Dương Thanh : làm thứ sử Hoan Châu giết Lý Tượng Cổ. Sau bị Quế Trọng Vũ dẹp.
    (7) Lý Mạnh Thu, Hữu Ngạn : theo nhiều sách chép là Bỉ Ngạn ( An Nam chí nguyên, An Nam chí lược ). Có sách như Giao Chỉ di biên chép là Lý Mạnh Phong và Lý Bỉ Sầm. Thu làm tư mã chaua Diễn, Ngạn làm thứ sử châu Phong nổi lên chống nhà Đường, bị Tạ Lương Giao dẹp năm 782.
    (8) Vương Thăng Triều : làm thứ sử châu Phong, năm 828 giữ châu chống phủ Đô hộ bị Hàn Ước dẹp.
    (9) Chỉ nhà Tiền Lý và Hậu Triệu ( Triệu Việt Vương).
    (10) Tên một tỉnh ở phía đông sông Trường Giang, thuộc tỉnh Giang Tô, TQ bây giờ. Ở đây ý chỉ nhà Ngô trong thời Ngũ Đại Thập Quốc.

  10. The Following 2 Users Say Thank You to ...£ü√... For This Useful Post:

    wiwi (20-08-2009)

  11. #16
    Tham gia ngày
    05-01-2009
    Bài gởi
    158
    Thanks
    5
    Thanked 177 Times in 88 Posts

    Default

    Cuối đời Đường, Cao Biền không làm trấn thủ nữa. Giao Châu rối loạn, thổ hào là Khúc Thừa Dụ người ở Hồng Châu chiếm cứ lấy thành, tự xưng là tiết độ sứ. Rồi đến cháu là Thừa Mỹ nối chức, yêu cầu nhà Lương cho làm tiết độ sứ. Khi ấy chúa nhà Nam Hán chiếm giữ đất Phiên Ngung, đem quân đánh bắt được Thừa Mỹ, rồi đặt thứ sử. Viên tướng của Khúc là Dương Diên Nghệ (a) nổi lên đem quân đánh lấy lại châu thành, tự xưng là Tiết độ sứ. Rồi sau bị nha tướng là Kiểu Công Tiễn giết chết. Khi ấy, một biệt tường của Diên Nghệ, người huyện Đường Lâm là Ngô Quyền, giết Công Tiễn, đánh phá quân Nam Hán ở sông Bạch Đằng, tự lập làm vua, đóng đô ở Loa Thành (b). Rồi sau trong nước rối loạn, các nơi tranh nhau nổi dậy.
    Ở Bình Kiều có Ngô Xương Xí
    Ở Phong Châu (c) có Kiểu Tam Chế
    Ở Tam Đái (d) có Nguyễn Thái Bình
    Ở Đường Lâm (e) có Ngô Lãm Công
    Ở Đỗ Động (f) có Đỗ Cảnh Thạc
    Ở Siêu Loại có Lý Lãng Công
    Ở Tiên Du (g) có Nguyễn Lệnh Công
    Ở Tế Giang (h) có Lã Tá Công
    Ở Tây Phù Liệt có Nguyễn Hữu Công
    Ở Hồi Hồ có Kiều Lệnh Công (i)
    Ở Đằng Châu (j) có Phạm Phòng Át
    Ở Bố Hải Khẩu (1) có Trần Minh Công.
    Gồm tất cả 12 sứ quân cùng tranh nhau đứng đầu. Khi ấy Đinh Tiên Hoàng ở Hoa Lư bắt đầu đến nương tựa Trần Minh Công. Rồi nhân có quân lính của Minh Công, đánh phá được các sứ quân, thống nhất được cả nước, chia trong nước làm 10 đạo (k). Năm Ứng Thiên thứ 9 [1002] đời Lê Đại Hành, đổi 10 đạo làm lộ, phủ, châu (l). Đến Khai Minh Vương (2) đổi Đằng Châu làm phủ Thái Bình (m).


    _____________________
    (a) Người ở Ái Châu
    (b) Tức là Tiền Ngô Vương
    (c) Nay là huyện Bạch Hạc [Phú Thọ]
    (d) Tức là làng Vĩnh Mỗ, huyện An Lạc [Vĩnh Phúc] ngày nay, cũng tức là Nguyễn Gia Loan.
    (e) Cũng có người bảo là ở Giao Thuỷ [Nam Định]
    (f) Làng Bảo Đà, huyện Thanh Oai, phủ Ứng Thiên [Hà Nội]
    (g) Nay có đền thờ ở làng Xung Khê, huyện Tiên Du [Bắc Ninh]
    (h) Nay là Văn Giang [Hưng Yên]
    (i) Nay ở Hoa Khê, Trần Xá (3) có nền thành cũ.
    (j) Nay là Kim Động [Hưng Yên]
    (k) Tên đạo chưa rõ. Hoa Lư nay là Gia Viễn, phủ Trường Yên [Ninh Bình], đời Đinh, [Tiền] Lê đều đóng đô ở đấy.
    (l) Kgi ấy, phong cho các con ra ở các châu huyện như Đinh ở Phong Châu ; Ngận ở Phong Lan ; Đĩnh ở Ngũ Huyện Giang (4) ; Tương ở Đỗ Động Giang ; Kính ở huyện Càn Đà, huyện Mạt Liên ; Mang ở châu Vũ Lục (5) ; Đề ở Bắc ngạn châu Cổ Lãm. Con nuôi ở làng Phù Đái.
    (m) Gọi là phủ bắt đầu từ đấy.


    (1) Tức cửa Bố ở xã Kỳ Bố, huyện Vũ Tiên, Thái Bình.
    (2) Tức là Lê Ngoạ Triều (985 - 1009)
    (3) Hoa Khê sau đổi là Cẩm Khê. CM chép là Trương Xá, không phải Trần Xá.
    (4) Theo CM thì đất phong của Lê Long Đĩnh là Đằng Châu, Ngũ Huyện Giang là của Long Tung, anh em khác của Long Đĩnh. Chỗ này bản chữ Hán chép sót Long Tung, có lẽ vì thế mà nhầm.
    (5) CM chép là Vũ Long.



  12. The Following 2 Users Say Thank You to ...£ü√... For This Useful Post:

    wiwi (20-08-2009)

  13. #17
    Tham gia ngày
    05-01-2009
    Bài gởi
    158
    Thanks
    5
    Thanked 177 Times in 88 Posts

    Default

    Lý Thái Tổ lấy được nước rồi, từ động Hoa Lư dời ra đóng ở thành Đại La, đổi tên là thành Thăng Long, đổi châu Cổ Pháp (a) làm phủ Thiên Đức, đổi sông Bắc Giang làm sông Thiên Đức (1), đổi thành Hoa Lư làm phủ Trường Yên. Chia 10 đạo làm 24 lộ, châu Ái, châu Hoan làm trại, đổi phủ Ứng Thiên (b) làm Nam Kinh, lại đổi trấn Chiêu Dương làm châu Vĩnh An (c). Năm Thiên Thành thứ 6 [1033] đời Lý Thái Tông, đổi châu Hoan làm Nghệ An. Năm Thần Vũ thứ nhất [1069] đời Lý Thành Tông, chúa nước Chiêm đem dâng ba châu là Địa Lý, Ma Linh, Bố Chính để chuộc tội, bèn đổi Địa Lý làm châu Lâm Bình (d), Ma Linh làm châu Minh Linh (e).
    Năm Thiên Ứng Chính Bình thứ 11 [1042] đời Trần Thái Tông, chia trong nước làm 12 (2) lộ (f). Đời Thánh Tông đổi hương Tức Mặc làm phủ Thiên Trường ; đời Anh Tông đổi châu Ô, châu Lý làm châu Thuận, châu Hoá. Đời Duệ Tông đổi châu Diễn làm lộ Diễn Châu, chia châu Hoan làm các lộ Nhật Nam, Nghệ An nam bắc trung, đổi châu Lâm Bình làm phủ Tân Bình. Đời Thuận Tông dời kinh đô đến động An Tôn (g), đổi trấn Thanh Hoá làm trấn Thanh Đô, trấn Quốc Oai làm trấn Quảng Oai, trấn Đà Giang làm trấn Thiên Hưng, trấn Nghệ An làm trấn Lâm An, trấn Trường An làm trấn Thiên Quan, trấn Lạng Giang làm trấn Lạng Sơn, trấn Diễn Châu làm trấn Vọng Giang, trấn Tân Bình làm trấn Tân Ninh.
    Đến khi họ Hồ cướp ngô nhà Trần, đổi phủ Thanh Hoá làm phủ Thiên Xương, hồm cả quận Cửu Chân và Ái Châu làm ba phụ, đổi Diễn Châu làm phủ Linh Nguyên, hợp cả bốn phụ (3), đổi phủ Kiến Xương làm phủ Kiến Ninh. Lại lấy đất động Chiêm, động Cổ Luỹ của nước Chiêm Thành chia lập ra bốn châu Thăng, Hoa, Tư, Nghĩa .

    _________________________
    (a) Trước gọi là Cổ Hiền
    (b) Tức thành Thăng Long.
    (c) Nay thuộc An Quảng.
    (d) Nay thuộc Quảng Nam
    (e) Nay thuộc Thuận Hoá.
    (f) Lộ Thiên Trường, lộ Hồng, lộ Khoái, lộ Quốc Oai, lộ Hải Đông, lộ Bắc Giang, lộ Hoàng Giang, lộ Lạng Giang, lộ Thanh Hoá, lộ Diễn Châu, lại có phủ, châu, trấn như phủ Nghệ An, phủ Tân Bình, phủ Hoá Châu, Thái Nguyên, Quảng Nam (4) vân vân...
    (g) Nay là các xã Hoa Nhai, Tây Nhai, Mao Nhai ở huyện Vĩnh Phúc [Thanh Hoá]


    (1) Nay là sông Đuống
    (2) Chỗ này chỉ thấy chép 10 lộ. Theo CM thì đủ 12 lộ, không có lộ Lạng Giang mà lại thêm 3 lộ : Long Hưng, Trường Yên, Kiến Xương.
    (3) Tức "Kinh kì tam phụ", "Kinh kì tứ phụ" : phụ nghĩa là giúp cho kinh đô
    (4) Theo CM chép thì không có Hoá Châu, Quảng Nam mà có Lạng Giang.

  14. The Following 2 Users Say Thank You to ...£ü√... For This Useful Post:

    wiwi (20-08-2009)

  15. #18
    Tham gia ngày
    05-01-2009
    Bài gởi
    158
    Thanks
    5
    Thanked 177 Times in 88 Posts

    Default

    Quân Minh sang đánh bắt được họ Hồ, đặt ra Giao Chỉ tam ty (1). Các phủ, châu, huyện thì đều theo tên cũ của nhà Trần, chỗ lị sở đều đắp thành lớn thành nhỏ, đóng quân canh giữa. Tam ty đóng ở thành Đông Quan. Ngoài ra như : Tây Đô, Nghệ An, Tân Bình, Thuận Hoá và Cổ Lộng, Tam Giang, Chí Linh, Thị Thê, Câu Diếu, thành Xương Giang, thành Khâu Ôn và Đoàn Thành, đều là chỗ quan trọng có đóng quân coi giữa. Rồi biên chép cõi đất trong nước ; từ đông sang tây 1700 dặm, từ nam đến bắc 2800 dặm.
    Thái Tổ nhà Lê mới đến Đông Đô, chia đất nước làm 4 đạo. Đến khi lấy được cả nước chia làm 5 đạo (a) ; chia các phủ, huyện, lộ, trấn thuộc vào các đạo ấy (b). Năm Quang Thuận thứ 7 [1466] Lê Thánh Tông đặt ra 12 đạo thừa tuyên là : Thanh Hoá, Nghệ An, Thuận Hoá, Thiên Trường, Nam Sách, Quốc Oai, Bắc Giang, An Bang, Hưng Hoá, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Lạng Sơn và phủ Trung Đô. Đổi lộ làm phủ, đổi trấn làm châu. Rồi sai các chức thừa tuyên xét núi sông trong chỗ mình cai quản, làm thành địa đồ. Năm thứ 10 [1469] kỉ sửu, sửa định lại bản đồ trong nước để thống thuộc các phủ huyện vào các thừa tuyên. Đến năm Hồng Đức tân mão [1471] bình được nước Chiêm, đặt ra thừa tuyên Quảng Nam, cộng là 13 đạo.
    Cuối niên hiệu Thống Nguyên đời Cung Hoàng đế [1527], Mạc Đăng Dung cướp ngôi, đóng đô ở Đông Kinh, lấy làng Cổ Trai [Hải Dương] làm Dương Kinh. Bấy giờ cả nước đều thuộc Mạc cả, nên Lê Trang Tông lên ngôi ở sách Thuý Thuần (2) do Triệu Tổ Hoàng đế (3) Nguyễn [Kim] lập nên để mưu lấy lại nước. Khi ấy, các viên tướng cũ là bọn Trịnh Duy Thuân, Vũ Văn Uyên đều sai sứ lại chầu, nhũng người hào kiệt các nơi cũng lần lượt theo giúp. Triệu Tổ đều thu dùng, sai đi đánh dẹp các xứ, thế quân càng mạnh. Rồi đánh lấy đất Ái Châu, sai sứ vượt biển sang nhà Minh báo cáo nạn nước. Khi ấy Mạc Đăng Dung xin đầu hàng nhà Minh, đang nộp hai châu Như Tíchm Thiệm Lãng ở An Quảng gồm có 4 động là : Tê Lẫm, Kim Lặc, Cổ Sâm, Liễu Cát, lại dâng biểu xin lệ thuộc vào Trung Quốc (4). Vua Minh ra lệnh thu hết các châu động đã nộp ấy ghi vào bản đồ và sổ sách Khâm Châu, đổi quốc hiệu An Nam làm An Nam đô thống sử ty.

    ___________________________
    (a) Nam, Bắc, Đông, Tây và đạo Hải Tây.
    (b) Các trấn Tam Giang, Tuyên Quang, Hưng Háo, Gia Hưng thuộc Tây đạo ; các lộ Thượng Hồng Hạ Hồng, Thượng Sách Hạ Sách và trấn An Giang thuộc Đông đạo ; các trấn và lộ như Bắc Giang, Lạng Giang, Thái Nguyên thuộc Bắc đạo ; các lộ Khoái Lỵ, Tân Hưng, Kiến Xương, Thiên Trường thuộc Nam đạo ; các lộ Thanh Hoá, Nghệ An, Tân Bình, Thuận Hoá thuộc [Hải] Tây đạo.

    (1) Tức là Bố chính ty, Án sát ty và Đô ty.
    (2) Xét Trang Tông lên ngôi ở Ai Lao, vậy sách Thuý Thuần có lẽ là đất của Ai Lao. Trong CM có chép châu Thuý Đả thuộc Thanh Hoa, chữ đảthuần khá giống nhau. Có thể bản chép tay chép nhầm.
    (3) Đây là miếu hiệu mà nhà Nguyễn về sau truy tôn cho An Thanh Hầu Nguyễn Kim.
    (4) CM chua Tê Lẫm còn có tên là Tê Phù, Kim Lặc còn có tên là Tư Lặc. Ngoài ra, CM còn cho việc này đáng ngờ :
    Sử cũ chép Mạc Đăng Dung đầu hàng nhà Minh, xin nộp các động Ti Phù, Kim Lặc, Cổ Sâm, Liễu Cát, La phù và An Lương thuộc châu Vĩnh An ở Yên Quảng cho lệ thuộc vào Khâm Châu. Nay xét Khâm Châu chí của nhà Thanh, chỉ thấy chép đời Gia Tĩnh (1522 - 1566 ), Đăng Dung nộp trả năm động Ti Phù, La Phù, Cổ Sâm, Liễu Cát và Kim Lặc mà thôi, chứ không thấy nói đến động An Lương. Lại tra cứu đến Quảng Yên sách thì động An Lương hiện nay là phố An Lương thuộc châu Vạn Ninh nước ta. Có lẽ, về động An Lương, Đăng Dung chưa từng dâng nộp, mà chỉ là do sử cũ chép sai sự thực đó chăng?
    Lại xét: Trong năm Mạc Minh Đức thứ 2, tức là năm Minh Gia Tĩnh thứ 7 (1528), Sử cũ chép
    Đăng Dung sợ nhà Minh hỏi tội, bèn tính chuyện cắt đất đem dâng hai châu Quy, Thuận; vua Minh thu nhận. Từ đó, Nam, Bắc lại cho sứ giả đi lại thông hiếu. Nhưng, nay tra cứu bản đồ nước ta thì có Quý Hóa châu và Thuận Châu. Hai châu này hiện nay thuộc tỉnh Hưng Hóa. Trong Đại Thanh nhất thống chí tuy có chép châu Quy Thuận nguyên thuộc phủ Trấn An tỉnh Quảng Tây nhà Thanh đấy thật, nhưng hai châu mà sử cũ gọi là Quy Thuận có lẽ tức là Quy Hóa và Thuận Châu đó thôi. Lại xét Minh sử thông giám kỷ sự: hồi năm Mạc Đại Chính thứ 9 (1538), Mạc Đăng Dung được tin quân Minh sang đánh, cả sợ, sai sứ xin hàng, nói dối là họ Lê không có người kế tự, cha con Đăng Dung có công với nước, được mọi người suy tôn; còn Đăng Dung sở dĩ không dâng được biểu chương, cho sứ sang tiến cống, là chỉ vì trước kia bị Trần Cung chiếm cứ Lạng Sơn làm nghẽn đường, đến sau lại bị quan giữ biên cương đóng cửa ải, không tiếp nhận. Này, từ năm Gia Tĩnh thứ 7 (1528) đến năm thứ 17 (1538), trải hàng 10 năm chưa từng có sứ đi thông hiếu, thế mà sử cũ, ở năm Gia Tĩnh thứ 7, đã vội chép rằng "Đăng Dung tính chuyện cắt đất dâng nộp hai châu Quy, Thuận, từ đó Nam, Bắc lại cho sứ giả đi lại thông hiếu ". Về việc này, những điểm sử cũ chép đó điều xa sự thực, nên nay rút bớt đi mà chép phụ vào đây để tham khảo.

  16. The Following 2 Users Say Thank You to ...£ü√... For This Useful Post:

    wiwi (20-08-2009)

  17. #19
    Tham gia ngày
    05-01-2009
    Bài gởi
    158
    Thanks
    5
    Thanked 177 Times in 88 Posts

    Default

    Truyền đến đời Mạc Phúc Nguyên, nhân dân chia lìa, giặc cướp nổi lên. Lúc ấy, quân quan nhà Lê đánh đâu được đấy, các châu Hoan, Diễn, Ô, Lý đều lần lượt dẹp yên cả. Trung Tông nhà Lê nối ngôi, thế nước ngày càng mạnh. Năm thứ 3 [1551] thái sư là Trịnh Kiểm đem quân tiến vào lấy được Đông Đô. Từ đấy một dải ven núi về mạn tây nam và những phủ như Thường [Tín], Ứng [Thiên], Lỵ [Nhân], Quốc [Oai], Quảng Oai đều tạm dẹp yên. Họ Mạc chỉ giữ được Đông Đạo và Bắc Giang hạ lộ thôi. NHưng vì chưa cố kết được lòng người nên Trịnh Kiểm lại phải trở về Thanh Hoa, thành ra hai đạo Tây Nam lại trở về là đất của Mạc. Năm thứ 4 [1552] sai tướng đánh lấy Thuận Hoá, lại lấy được cả Quảng Nam, đặt quan coi giữ hai xứ ấy. Năm thứ 5 [1553], vì cớ Tây Kinh chật hẹp, mới lập hành điện ở xã An Trường. Khi ấy, Mạc Phúc Nguyên cho là trong cõi đất của mình tạm yên, mới sai Mạc Kính Điển đem hết quân vào đánh, thái sư Trịnh Kiểm phục quân ở sông Mã phá tan được.

    Năm Chính Trị thứ 3 đời Lê Anh Tông [1560](1) thái sư Trịnh Kiểm chia quân ra một lối do các lộ Hồng, Khoái đi về phía nam đánh phá Tiên Hưng, một lối do Nam Sách đi vè phía đông đánh phá Kinh Môn lấy hết được các huyện. Họ Mạc đóng quân ở kinh thành, sai các quốc công dàn quân đóng đồn ở ngoài thành, giữ một dải sông Nhị trở về tây, từ Bạch Hạc đến Nam Xang (2), phòng giữ rất nghiêm ngặt. Mạc Phúc Nguyên dời sang huyện Thanh Đàm (3). Khi ấy, Thái Nguyên, Hưng Hoá, Tuyên Quang, Lạng Sơn đã là đất của Lê. Nhà Lê sai tướng chia quân để đóng giữ. Năm thứ 4 [1561] quân nhà Mạc vượt biển vào đánh Thanh Hoa, quân các đạo của Lê lại rút về. Các huyện miền Đông, Bắc trở xuống lại thuộc về Mạc. Năm thứ 13 [1570], Thái Tổ Hoàng đế Nguyễn [Hoàng] vào trấn giữ Thuận Hoá và Quảng Nam để mớ rộng thêm cõi đất làm rào giậu cho nhà Lê. Năm sau, Mạc lại đánh vào Thuận Hoá, Thái Tổ lập mưu chém được tướng của Mạc, quân đều thua chạy. Từ đấy về sau, Mạc không dám dòm đến Thuận, Quảng nữa ; hai trấn ấy mới yên.


    __________________________-
    (1) Bản chữ Hán chép là năm Thiên Hựu thứ 3 ; xét niên hiệu Thiên Hựu đời Lê Anh Tông chỉ có 1 năm. Vậy chúng tôi ( nhóm dịch ) theo CM chép việc Trịnh Kiểm chia quân ra đánh Mạc vào năm Chính Trị thứ ba ( cũng niên hiệu đời Anh Tông ) sửa lại cho đúng.
    (2) Nay là phủ Lý Nhân, Hà Nam.
    (3) Nay là huyện Thanh Trì, Hà Nội.

  18. The Following 2 Users Say Thank You to ...£ü√... For This Useful Post:

    wiwi (20-08-2009)

  19. #20
    Tham gia ngày
    05-01-2009
    Bài gởi
    158
    Thanks
    5
    Thanked 177 Times in 88 Posts

    Default

    Lê Thế Tông khoảng đầu niên hiệu Gia Thái [1573 - 1578] quân Lê mới tạm dẹm được các huyện Mỹ Lương, Thạch Thất, An Sơn, Phúc Lộc, tiên Phong, Mạc hợp hai đạo Tây, Nam đắp luỹ trồng tre, suốt từ sông Hát thuộc huyện Đan Phượng xuống đến sông thuộc làng Hoa Đình huyện Sơn Minh, ven bờ sông chạy dài vài trăm dặm để phòng bị. Năm Quang Hưng thứ 15 [1592] tiết chế Trịnh Tùng tiến quân lấy lại được Đông Đô. Mạc Mậu Hợp chạy về Kim Thành. Trịnh Tùng đuổi đánh bắt được. Trong nước khi ấy bình định. Từ Lê Trang Tông trung hưng đóng ở Tây Đô đến đây trải ba đời, hơn 60 năm, cõi đất chia xé đến nay lại thống nhất. Những tên đất trong bản đồ chỗ nào bị họ Mạc thay đi, đều đổi lại như cũ (a). Khi ấy, con cháu của Mạc còn lại là Mạc Kính Cung trốn ở Cao Bằng, sang kêu với nhà Minh xin cho bốn châu để ở, vua Minh bằng lòng cho. Triều đình nhà Lê tạm bỏ việc ấy không hỏi đến.

    Năm Thận Đức thứ nhất [1600] đời Lê Kính Tông, Thái Tổ Hoàng đế Nguyễn [Hoàng] về Thuận Hoá. Từ đấy trở đi chuyên giữ hai xứ Thuận Hoá và Quảng Nam, nhưng thường vẫn sai sứ đi lại với vua Lê. Đến Hy Tông Hoàng đế (b) [Nguyễn Phúc Nguyên] kháng cự với Nghị Vương Trịnh [Tráng], đắp luỹ ở bờ bên nam cửa biển Nhật Lệ, xứ Thuận Hoá mới có giới hạn ngăn cách. Đầu đời Thịnh Đức [1653] đời Lê Thần Tông, Thái Tông Hoàng đế Nguyễn [Phúc Tần] (c)đánh lấy được đất Chiêm, từ phía đông sông Phan Lãng (1) đến tỉnh Phú Yên lập ra phủ Thái Khang (d), phủ Diên Ninh (e) đặt các phủ trấn nên bờ cõi rộng gấp hai trước.(f)


    ________________________
    (a) Như : các phủ Khoái Châu, Tân Hưng, Kiến Xương, Thái Bình trước thuộc về xứ Sơn Nam ; phủ Thuận An trước thuộc về xứ Kinh Bắc ; huyện An Lãng trước thuộc xứ Sơn Tây ; huyện Bình Tuyền thuộc phủ Tam Đới ; phủ Phú Bình thuộc xứ Thái Nguyên, phủ huyện nào trước thuộc về xứ nào, nay lại trở về xứ ấy như cũ. Còn những tên phủ huyện như : Đào Nguyên, Thao Giang, Quảng Đức, Tiên Lữ, Phù Dung, Phụ Dực, Vọng Doanh, Bình Lục, Thượng Nguyên, Bình Hà, Linh Sơn, Giáp Sơn, Phượng Nhãn, Hiệp Hoà trước bị họ Mạc đổi càn, nay đều trả lại tên cũ.
    (b) Nay truy tôn làm Hy Tông
    (c) Nay truy tôn làm Thái Tông
    (d) Nay là Bình Khang
    (e) Nay là Diên Khánh
    (f) Trải qua 7 đời, đến đời Thế Tông Hoàng đế [Nguyễn Phúc Khoát] lại lấy được đất của Chiêm Thành, lập phủ Bình Thuận, lấy lại đất của Cao Miên lập phủ Gia Định, sau này hợp lại đặt làm 5 phủ là Phú Yên, Bình Khang, Diên Khánh, Bình Thuận, Gia Định.


    (1) Tức Phan Rang, phiên âm tiếng Chàm Panduranga.


  20. The Following 2 Users Say Thank You to ...£ü√... For This Useful Post:

    wiwi (20-08-2009)

Trang 2/9 đầuđầu 1234 ... cuốicuối

Bookmarks

Quyền Sử Dụng Ở Diễn Ðàn

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •