thang may mitsubishi lien doanh dao tao lai xe day lai xe hoc lai xe thi bang lai xe bao cao su dầu cắt gọt in băng rôn thu mua phe lieu thu mua phe lieu gia cao công ty thám tử uy tín nhất ho ca koi ho ca koi ngoai troi Cach mua the Mobifone Hướng dẫn mua thẻ zing du an green town
Lịch triều hiến chương loại chí _ Phan Huy Chú - Page 3
Loading...
Trang 3/9 đầuđầu 12345 ... cuốicuối
kết quả từ 21 tới 30 trên 82

Ðề tài: Lịch triều hiến chương loại chí _ Phan Huy Chú

  1. #21
    Tham gia ngày
    05-01-2009
    Bài gởi
    158
    Thanks
    5
    Thanked 177 Times in 88 Posts

    Default

    Năm Cảnh Trị thứ 6 [1668] đời Lê Huyền Tông, Dương Vương [Trịnh Tạc] đem quân đánh phá Cao Bằng, Mạc Kính Vũ kéo cả nhà chạy sang Trung Quốc. Bốn châu đều dẹp yên cả, sai quan gọi nhân dân ở các châu ấy cho đâu lại về đấy yên nghiệp làm ăn. Năm thứ 7, Mạc Kính Vũ kêu van với đề đốc hai tỉnh Quảng. Các viên ấy xin với vua Thanh giúp cho. Vua Thanh sai sứ sang bảo lấy bốn châu trả về cho họ Mạc. Khi ấy triều đình họp bàn, lấy cớ rằng đối với nước lớn phải nên cung kính, hãy tạm tuân theo. Mới ra lệnh cho đốc trấn đem quân về, lấy đất bốn châu (1) giao cho Kính Vũ.

    Năm Vĩnh Trị thứ 2 [1677] đời Lê Hy Tông, triều đình đem rất nhiều quân đánh Cao Bằng. Mạc Kính Vũ chạy sang Long Châu, các đồ đảng tan vỡ cả. Rồi bốn châu được bình định, từ đấy mới sai trọng thần làm đốc trấn cai trị.

    Năm Bảo Thái thứ 4 [1723] đời Lê Dụ Tông, triều đình định bản đồ trong nước, cộng 13 đạo, 55 phủ, 226 huyện, châu. Mốc giới chỗ này chỗ khác định lại rõ ràng, giao cho thừa ti chia ra từng khi vực mà làm.

    Năm Cảnh Hưng thứ 35 [1774], Tĩnh Vương [Trịnh Sâm] cho đem đại quân vào Đàng Trong, sai Việp [Quận] Công là Hoàng Ngũ Phúc tiến quân vào. Khi ấy Duệ Tông Hoàng đế [Nguyễn Phúc Thuần] (a) tự biết là thế lực không địch nổi, phải vượt biển lánh đi. Quân Trịnh kéo vào Thuận Hoá, Quảng Nam, rồi ra lệnh đặt tam ty để cai trị hai xứ ấy (b).

    Lời án : Sau khi các triều [vua Lê và chúa Nguyễn] chia [đất nước] để cai trị, Nam Bắc thôi việc binh đao hơn 100 năm. Từ khi đèo Ải Vân có Tây Sơn nổi lên thì Tĩnh Vương mới nảy ra mưu xấm lấn đất Đàng Trong. [Do đó] gây mối binh đao, đốn cây lấp giếng, những gò lớn núi cao khi trước đều thành ra đất bằng. Đời cuối Lê mà có được sự mở mang ấy là vì các đời trước triều nhà Nguyễn gặp phải vận ách, suy yếu một thời gian. Nhưng hội thịnh suy đã ngấm ngầm thay thế cho nhau. Khi vận thái bình sắp đến tất có kẻ ra để dẹp yên cái rối ren trước. Trong khoảng 20 năm, non sông đổi khác, chính là lòng trời có ý mở cho triều Nguyễn một cơ hội lớn, để thống nhất đất nước ngày nay.

    _____________
    (a) Nay tôn lên là Duệ Tông
    (b) Từ trung hưng trở về sau, cõi đất nam bắc chia đôi gần 200 năm, đến đây lại hợp làm một.

  2. The Following 3 Users Say Thank You to ...£ü√... For This Useful Post:

    kieuphong (21-08-2009),wiwi (20-08-2009)

  3. #22
    Tham gia ngày
    05-01-2009
    Bài gởi
    158
    Thanks
    5
    Thanked 177 Times in 88 Posts

    Default

    QUYỂN II



    SỰ KHÁC NHAU VỀ PHONG THỔ CÁC ĐẠO


    THANH HOA


    Nguyên trước là đất Tượng Quận, Tần, Hán gọi là Quận Cửu Chân,Lương đặt là châu Ái, Tuỳ lại gọi là Cửu Chân, Đường lại đổi là châu Ái. Thời nhà Đinh cũng theo như thế. Nhà Lý đổi làm trại, rồi đổi làm phủ. Nhà Trần đổi là Thanh Hoa, hoặc cũng gọi là phủ (a). Tới khi nhà Trần dời về đóng ở Tây Đô, đổi làm trấn Thanh Đô. Nhà Hồ đỏi làm phủ Thiên Xương, gồm cả Cửu Chân, Ái Châu gọi là Kinh kì tam phụ (b). Khi thuộc Minh lại gọi là phủ Thanh Hoa và phủ Ái Châu. Nhà Lê cũng theo thế. Trong đời Quang Thuận [1460 - 1669] đặt là thừa tuyên Thanh Hoa. Có 6 phủ, 22 huyện, 4 châu.

    Thanh Hoa mạch núi cao vót, sông lớn lượn quanh, biển ở phía đông, Ai Lao sát phía tây, bắc giáp trấn Sơn Nam, nam giáp đạo Nghệ An. Núi sông rất đẹp, là một chỗ đất có cảnh đẹp ở nơi xung yếu. Các triều trước vẫn gọi là một trấn rất quan trọng, đến Lê lại là nơi căn bản. Vẻ non sông tốt tươi chung đúc nên sinh ra nhiều bậc vương tướng, khí tinh hoa tụ họp lại, nảy ra nhiều văn nho. Đến những sản vật quí, cũng khác mọi nơi (c). Bởi vì đất thiêng thì người giỏi nên nảy ra những bậc phi thường ; vượng khí chung đúc nên xứng đáng đứng đầu cả nước.


    _________________________
    (a) Có những phủ Ái Châu, Cửu Chân
    (b) Từ đấy mới đổi Thanh Hoa làm Tây Đô, Thăng Long làm Đông Đô.
    (c) Như nhục quế, đá đẹp ở Thanh Hoa rất tốt.

  4. The Following 3 Users Say Thank You to ...£ü√... For This Useful Post:

    kieuphong (21-08-2009),wiwi (20-08-2009)

  5. #23
    Tham gia ngày
    05-01-2009
    Bài gởi
    158
    Thanks
    5
    Thanked 177 Times in 88 Posts

    Default

    Phủ Thiệu Thiên
    Có 8 huyện :
    Huyện Thụy Nguyên (a)
    Huyện Vĩnh Phúc (b)
    Huyện Đông Sơn (c)
    Huyện Lôi Dương (d)
    Huyện Yên Định (e)
    Huyện Cẩm Thủy (f)
    Huyện Thạch Thành (g)
    Huyện Quảng Bình (h)

    Phủ Thiệu Thiên ở phía tây bắc đạo Thanh Hoa, dải đất ở vào miền thượng du, núi sông quanh bọc. Huyện Thụy Nguyên ở quảng giữa của phủ. Huyện Vĩnh Phúc ở phía bắc, liền với huyện Thạch Thành. Huyện Đông Sơn ở phía nam giáp giới huyện Nông Cống. Huyện Lôi Dương ở ven núi, có nhiều người núi chập chồng. Huyện Yên Định thì giáp huyện Vĩnh Phúc và huyện Thụy Nguyên. Ba huyện Thạch Thành, Cẩm Thuỷ, Quảng Bình đều là đất giáp ven núi, địa giới liền với nước Ai Lao. Có một con sông phát nguyên từ Ai Lao chảy sang tức là sông Mã ; một con sông phát nguyên từ huyện Quảng Bình đổ về tức là sông Lương. Hai sông này hợp lại một dòng, quanh vòng ôm lấy bốn huyện miền dưới. Cuối đời Trần, Hồ Quý Ly dời kinh đô đến động An Tôn, huyện Vĩnh Phúc (i) gọi là Tây Đô, đắp thành đào hào, nền móng bền vững (j). Bên tả bên hữu thành, gần sát núi đá, sông Mã sông Lương hợp lại chảy về phía trước. Triều thần khi ấy là [Nguyễn] Nhữ Thuyết cho rằng đất ấy ở về cuối nước đầu núi, can Quý Ly không nên đóng đô ở đấy. Nhưng Quý Ly không nghe. Rồi sau hai cha con Quý Ly bị quân Minh bắt được, thành ấy phải bỏ.


    ___________________
    (a) Trước là huyện Lương Giang, có 1 hương, 44 xã, 5 trang, 1 vạn, 8 phường, trại. Đường đi đến Kinh đô phải 5 ngày. Các huyện chép sau đây cũng thế.
    (b) Trước là huyện Vĩnh Ninh, có 2 hương, 24 xã, 2 trại, 1 sở, 1 vạn.
    (c) Có 75 xã.
    (d) Có 63 xã, 30 châu, sở , trang.
    (e) Có 57 xã, 16 trang, 8 phường, 1 vạn.
    (f) Có 42 sách, 1 trang
    (g) Có 1 xã, 49 sách, 2 trang, 1 trại.
    (h) Có 4 xã, 24 sách, 3 trang.
    (i) Nay là những xã Hoa Nhai, Phương Nhai, Tây Nhai.
    (j) Thành rộng ước hơn 30 mẫu, đường đi lối ngang lối dọc đều lát đá hoa, móng thành bốn mặt đều xây đá xanh, vuông vắn dày dặn rất bền, nay còn thấy chân móng sót lại.

  6. The Following 3 Users Say Thank You to ...£ü√... For This Useful Post:

    kieuphong (21-08-2009),wiwi (20-08-2009)

  7. #24
    Tham gia ngày
    05-01-2009
    Bài gởi
    158
    Thanks
    5
    Thanked 177 Times in 88 Posts

    Default

    Lê Thái Tổ khởi nghĩa ở đất Lam Sơn, huyện Lương Giang (a), chặn giữ được chỗ hiểm yếu, làm nơi gây dựng cơ đồ cho nhà Lê. Khi xưa, tổ bốn đời của Lê Thái Tổ nhà ở thôn Như Áng, một hôm đến chơi Lam Sơn, trông thấy đàn chim bay liệng quanh đấy, cho là chỗ đất tốt, liền dời đến ở. Từ đấy mở rộng đất, dựng cơ nghiệp, làm người hào trưởng một phương. Truyền đến ba đời, sinh Thái Tổ ở làng Kim Sơn, huyện Lôi Dương. Đến khi Thái Tổ lớn lên, kết nạp những người hào kiệt, khởi nghĩa ở Lam Sơn, không đầy mười năm mà dẹp yên được cả nước, dựng nên Tây Kinh, thành ra một nơi căn bản trong nước.

    ( Điện Lam Kinh đằng sau gối vào núi, trước mặt trông ra sông, bốn bên non xanh nước biếc, rừng rậm um tùm. Vĩnh Lăng của Lê Thái Tổ, Thiệu Lăng (1) của Lê Thánh Tông và lăng các vua nhà Lê đều ở đấy cả. Lăng nào cũng có bia. Sau điện, lấy Tây Hồ làm não (2) giống như hồ Kim Ngưu (3). Hồ rất rộng lớn. Nước các ngả chảy cả vào đó. Có con sông phát nguyên từ hồ ấy chạy vòng trước mặt, lòng sông có những viên đá nhỏ, tròn và nhẵn trông thích mắt nhưng không ai dám lấy trộm. Lại có mạch nước nhỏ, cũng phát nguyên từ hồ đấy ở trong khu vực sông nhỏ, chảy từ bên tay phải qua trước điện, ôm vòng lại như cánh cung. Trên lạch có cầu, giống như Bạch Kiều ở Giảng Đình điện Vạn Thọ (4), đi qua cầu mới đến điện ; nền điện rất cao, hai bên cạnh mở rộng, duới sân điện có làn nước phẳng, giống như sân trước chỗ điện nhà vua coi chầu. Ngoài cửa Nghi môn có hai con chó ngao bằng đá rất thiêng. Điện làm ba ngôi liền nhau, kiểu chữ công, mẫu mực theo giống như kiểu các miếu ở kinh sư. Theo từng bậc mà lên, rồi trông xuống thì thấy núi, khe ở hai bên tả, hữu, cái nọ cái kia vòng quanh thật là một chỗ đất đẹp để gây dựng cơ nghiệp.)
    __________________
    (a) Nay là huyện Thụy Nguyên


    (1) Theo ĐVSKTT chép là lăng của Lê Thánh Tông là Chiêu Lăng. Đoạn văn này chắc có sự nhầm lẫn, vì chiểu theo thứ tự, thì sau lăng Lê Thái Tổ phải đến Hựu Lăng của Lê Thái Tông, rồi mới kể được đến lăng Lê Thánh Tông.
    (2) Não : theo thuyết phong thuỷ, chỗ để mộ hay làm nhà mà đằng sau có nước tụ lại, gọi là não thuỷ, tức là chỗ đất quí.
    (3) Hồ Kim Ngưu : hồ Tây (Hà Nội ) do tích ngày xưa có con trâu vàng chạy xuống đó.
    (4) Ở Kinh đô Thăng Long, nay không còn dấu tích.

  8. The Following 2 Users Say Thank You to ...£ü√... For This Useful Post:

    wiwi (20-08-2009)

  9. #25
    Tham gia ngày
    05-01-2009
    Bài gởi
    158
    Thanks
    5
    Thanked 177 Times in 88 Posts

    Default

    Cuối đời Quang Thiệu [1517 - 1522], Mạc Đăng Dung chuyên quyền, Lê Chiêu Tông về Tây Đô, để lại Hoàng tử Ninh (a) ở đấy trấn giữ. Khi Chiêu Tông tự làm tướng, đem quân ra đất Lạc Thổ sang đánh quân Mạc bị thua, Mạc Đăng Dung bắt hiếp đưa về Đông Đô thì Hoàng tử chạy sang Ai Lao.

    Đến lúc Mạc Đăng Doanh tiếm ngôi, sai viên Trung quan (1) là Trung Hậu Hầu (2) coi tất cả các xứ Thanh Hoa, bề tôi của Mạc là Lê Phi Thừa dèm rằng : "Đất châu Ái núi sông hiểm trở, ruộng đất phì nhiêu, lương nhiều binh đủ, vậy binh quyền nên chia ra, không nên để cho một người quản trị cả. Nay chuyên giao cho một người, nếu sau này xảy ra biến cố gì, sợ khó ngăn cản được". Đăng Doanh mới chia Thanh Hoa ra làm hai, giao 7 huyện Thụy Nguyên, Yên Định, Vĩnh Phúc, Đông Sơn, Thạch Thành, Cẩm Thuỷ, Quảng Bình giao cho Phi Thừa quản trị. Năm sau, Triệu Tổ [Nguyễn Kim] và Trịnh Duy Thuân tước Trang Tông ở sách Thúy Thuần, Ai Lao lập nên làm vua. Phi Thừa mới thu lấy tiền của ở ba ty rồi vào Ai Lao theo Trang Tông. Đến năm [Nguyên Hoà] thứ mười [1542], Triệu Tổ đem quân ra đánh lấy được huyện Lôi Dương, dẹp yên được các đô huyện. Năm thứ mười một [1543] Triệu Tổ tiến quân đánh lấy được Tây Đô, viên tổng trấn Trung Hậu Hầu của Mạc ra hàng. Đến khi Triệu Tổ chết [1545], Dực Quận Công là Trịnh Kiểm phụ chính. Trịnh Kiểm người xã Sóc Sơn, huyện Vĩnh Phúc, ngụ cư đất Biện Thượng (b), trước theo Triệu Tổ, lập nhiều chiến công. Đến đây lại nắm việc quân, giúp Lê, đựơc phong lên làm Thái sư Lượng Quốc Công.

    ________________________
    (a) Sau này là Lê Trang Tông
    (b) Trịnh Kiểm lúc còn bé, nhà nghèo, không biết lấy gì nuôi mẹ, thường lấy trộm gà gạo hàng xóm để nuôi mẹ, ai cũng ghét cả. Họ đem ném mẹ già Trịnh Kiểm xuống Vực Tôm ở sông Sóc Sơn. Đêm hôm ấy, mưa to gió lớn, sớm chớp ầm ầm, nước sông lên to. Sáng hôm sau thấy chỗ vực sâu ném mẹ Trịnh Kiểm xuống ấy đã biến thành một gò đất. Mọi người lấy làm lạ. Rồi Trịnh Kiểm lánh sang ở Biện Thượng. Đến sau có thầy địa lí đi qua chỗ gò đất ấy, đọc bốn câu :
    Phi đế phi bá
    Quyền khuynh thiên hạ
    Tộ truyền bát đại (3)
    Tiêu tường khởi hoạ

    Nghĩa là : ngôi đất này phát lên, không phải đế cũng không phải bá, mà quyền thế làm nghiêng cả thiên hạ, hưởng phúc đến 8 đời, thì người trong nhà gây nên tai vạ.

    (1) Hoạn quan
    (2) Tên là Dương Chấp Nhất
    (3) Có sách chép câu này là : Nhị bách dư niên, nghĩa là truyền được hơn hai trăm năm.

  10. The Following 3 Users Say Thank You to ...£ü√... For This Useful Post:

    kieuphong (21-08-2009),wiwi (20-08-2009)

  11. #26
    Tham gia ngày
    05-01-2009
    Bài gởi
    158
    Thanks
    5
    Thanked 177 Times in 88 Posts

    Default

    Khi Trung Tông lên ngôi, Thái sư lấy cớ Lam Kinh chật hẹp, chỉ có xã An Trường thuộc huyện Thụy Nguyên, bên tả có nhiều núi, bên hữu có sông to, hình thế rộng thoáng, cảnh tượng tươi đẹp, mới lập hành điện ở đấy, rước vua đến ở. Lúc ấy đường đi đánh Mạc từ huyện Thụy Nguyên ra đến huyện Thạch Thành, Cẩm Thuỷ, Quảng Bình, cho tới những đất Mỹ Lương, Yên Sơn, một dải ven núi, quân Lê lúc đi lúc về trong khoảng 60 năm, cung phủ Yên Trường là chỗ nhà Lê tạm đóng. Đến khi diệt được Mạc trở về sau, mới về chỗ đóng đô cũ ; nhưng mỗi khi có việc cần kíp đáng lo thì lại trở về Yên Trường để giữ vững căn bản (a). Về sau Yên Trường là cung miếu của phủ chúa, gọi là Nghi (1) Kinh, khoảng hơn 200 năm cùng với Biện Thượng, Sóc Sơn đều là chỗ rất quan trọng. Còn trấn sở, hiến ty (2) thì đặt riêng ở huyện Đông Sơn (b).

    Phủ Thiệu Thiên vẫn có tiếng là đất văn học, đỗ đạt nhiều. Huyện Thụy Nguyên, Vĩnh Phúc, Đông Sơn, Lôi Dương, yên Định đều có người đỗ đại khoa, mà huyện Đông Sơn đỗ nhiều hơn (c). Những bậc danh tiếng tốt, những người nho học giỏi của Đông sơn hơn cả trong một phủ (d).

    Còn danh sơn cổ tích như là : núi Đồng Cổ ở huyện Yên Định, núi An Hoạch ở huyện Đông Sơn, động Hồ Công ở huyện Vĩnh Phúc, động Diệu sơn ở huyện Cẩm Thuỷ, đều là chỗ phong cảnh đẹp có tiếng.

    ____________________
    (a) Khoảng đầu niên hiệu Thận Đức [1600] đời Lê Kính Tông, Thái Tổ Hoàng đế ta [Nguyễn Hoàng] về Thuận quảng, triều đình lấy làm lo sợ. Bình An Vương Trịnh [Tùng] rước vua về Tây Đô vài tháng mới về Đông Kinh
    Khoảng đầu niên hiệu Vĩnh Tộ [1623] đời Lê Thần Tông, Trịnh Xuân làm loạn bị giết, lòng người nao núng, Thanh Đô Vương Trịnh [Tráng] rước vua từ Ninh Giang đến Kim Bảng về phủ An Trường, 2 tháng sau mới về Đông Kinh.
    (b) Trấn sở ở xã Dương Xá, huyện Đông Sơn ; hiến ty ở xã Doanh Xá huyện Đông Sơn.
    (c) Thụy Nguyên 14 tiến sĩ, Vĩnh Phúc 11 người, Lôi Dương 12 người, Yên Định 11 người, chỉ có Đông Sơn 28 người.
    (d) Như Phủ Lý có Lê Văn Hưu, có tiếng là viết sử giỏi ; Viên Khê có Vũ Mộng Nguyên có tiếng là thơ văn hay ; Doãn Xá có Thiều Qui Linh là người có tiết nghĩa. Ngọc Bôi có Nguyễn Văn Nghi, Thạch Hà có Lê Hy là người có sự nghiệp to, đều người huyện Đông Sơn cả.

    (1) Mấy bản chép tay đều chép Tuyên Kinh. Trong Hán tự, chữ Nghi và Tuyên khá giống nhau. Nay theo ĐNNTC chép là Nghi Kinh.

  12. The Following 2 Users Say Thank You to ...£ü√... For This Useful Post:

    wiwi (20-08-2009)

  13. #27
    Tham gia ngày
    05-01-2009
    Bài gởi
    158
    Thanks
    5
    Thanked 177 Times in 88 Posts

    Default

    ( Núi Đồng Cổ ở xã Đan Khê, huyện Yên Định, thần núi rất thiêng. Thời Lý, Thái Tông đi đánh Chiêm Thành (1), đậu thuyền ngủ tại bãi Trường Chân, thần núi báo mộng xin theo đi để lập công. Đến khi đánh nước Chiêm về, Thái Tông sai lập miếu thờ ở Kinh sư (2). Khi Thái Tông lên ngôi, lại báo mộng cho biết việc ba vương mưu làm phản. Khi đã dẹp yên nạn ấy rồi, ban chiếu phong làm "Thiên hạ minh chủ thần", tước Vương.


    Núi An Hoạch ở thôn Nhuệ, xã An Hoạch, huyện Đông Sơn, đá núi rất đẹp, nhiều người dùng đá ấy làm bia, mốc và khánh. Sách quảng dư chí chép : "núi An Hoạch ở huyện Đông Sơn, quận Giao Chỉ, sản xuất đá đẹp, Dự Châu Thái Thú đời Tấn là Phạm Ninh từng sai người đến đấy để lấy đá đưa về làm khánh."

    Động Hồ Công ở xã Thiên Vực huyện Vĩnh Phúc , trong động có dấu tích cũ của Phí Trường Phòng (3). Động này có mấy lần núi cao, trước mặt có sông dài, phong cảnh âm u vắng vẻ và tao nhã.
    Lê Thánh Tông lên xem, có đề bài thơ :


    Thần chủy quỉ tạc vạn trùng san
    Hư thất cao song vũ trụ khoan
    Thế thượng công danh đô thị mộng
    Hồ trung nhật nguyệt bất thăng nhàn
    Hoa Dương long khứ huyền châu truỵ
    Bích lạc truyền lưu ngọc bách hàn
    Ngã dục thừa phong lăng tuyệt đính
    Vọng cùng vân hải hữu vô gian

    [Dịch]
    [Động Hồ Công này] ở trong muôn núi, vẻ đẹp như có quỉ thần soi tạc ra
    Trong bầu trời rộng rãi [động này như] cái nhà bỏ không có cửa cao.
    [Tới đây lòng tục tiêu tan] coi công danh trên đời chỉ như giấc mộng
    [Nay Phí Trường Phòng đi mất đạo cũng không còn] ví như con rồng ở núi Hoa Dương bay đi mà huyền châu (4) cũng mất.
    Chỉ thấy suối chảy ở dưới bầu trời xanh biếc, làm cho ngọc trắng phải lạnh lùng
    Ta muốn cưỡi gió lên tận đỉnh núi
    Để trông đến chỗ chân mây, mặt biển lờ mờ như có như không



    ____________________
    (1) Bấy giờ còn là Khai Thiên Vương, chưa làm vua, được Thái Tổ sai đi đánh Chiêm Thành năm 1020.
    (2) Theo ĐVSKTT thì lập miếu thờ năm 1028 khi dẹp xong loạn Tam vương.
    (3) Người đời Đông Hán, học đạo thần tiên, lúc về Hồ Công Long cho một cái gậy, đem gậy ấy ném xuống đất, đến lúc quay lại thì đã hóa ra một con rồng
    (4) Ý nói chân đạo. Xưa Hoàng Đế đi chơi đến núi Côn Lôn để lại huyền châu. Huyền châu mất đi ý nói đạo tu luyện cũng mất.

  14. The Following 3 Users Say Thank You to ...£ü√... For This Useful Post:

    kieuphong (21-08-2009),wiwi (20-08-2009)

  15. #28
    Tham gia ngày
    05-01-2009
    Bài gởi
    158
    Thanks
    5
    Thanked 177 Times in 88 Posts

    Default

    Động Diệu Sơn ở sách Biện Hạ, huyện Cẩm Thuỷ, phong cảnh âm u, cỏ cây xanh tốt. Tĩnh Vương Trịnh [Sâm] lên chơi có vịnh một bài thơ :

    Thiên tương hư thất tạc toàn ngoan
    Diệu tích nhưng truyền tại thử gian
    Nhất khiếu thâm tàng thiên cổ tỉnh
    Bán song đê hám cửu hồi than
    Hoa kình giác mộng vân trung ưởng
    Thạch tượng an thiền tuyết hậu ban (1)
    Hải vũ chính phùng thanh thiếp hội
    Hào đoan thu thập cẩm giang san

    [Dịch]
    Trời tạc ra một cái động trong dãy núi, trông hình như cái nhà rộng bỏ không
    Dấu tích màu nhiệm vẫn còn ở đây
    Một lỗ sâu, đó là cái giếng sâu từ nghìn xưa để lại
    Mở một nửa cánh cửa dòm xuống, thì thấy có cái ghềnh nước chảy xoáy chín vòng
    Chuông ở trong động đánh lên, làm vang đến tận mây, làm tỉnh giấc mộng trần
    Con voi đá đặt yên ở nơi cảnh chùa, sau khi mưa tuyết, còn thấy ngấn vết in vào đá
    Nay gặp buổi trong nước thanh bình
    Lên đây chơi xem, cảnh núi sông gấm vóc này, thu thập cả vào đầu ngòi bút lông
    )

    Còn như phong cảnh các núi Bàn A, Bằng Trình, Hộ Sơn, Long Hạm, cũng đều là chỗ du ngoạn nhã thú cả
    ( Núi Bàn A ở xã Đại Khánh, huyện Đông Sơn, núi rất cao mà quanh co uốn éo, thâm nghiêm và rộng thoáng đáng ưa. Trông xuống thì sông Lương ở liền chân núi. Một dải núi từ bên hữu chạy ra là núi Na Sơn, một dải núi từ huyện Thụy Nguyên chạy xuống là núi Thái Bình, sông Mã chảy đến đấy hợp lại. Hai sông chầu ở phía trước, hai núi ôm lại, cảnh trí rất thoáng rộng. Vua (2) có làm thơ khắc vào đá như sau :

    Tam chiết lưu biên tảng thạch đê
    Bàn căn vạn lý tráng khôn nghê
    Tán bộ thướng phong quan nhật dục
    Hoành chu trung chỉ thính viễn đề

    [Dịch]
    Bên dòng sông uốn ba khúc có núi cao nhô lên như cái đê bằng đá
    Chằng chịt muôn dặm làm cho chỗ đất ấy có vẻ mạnh mẽ lên
    Đi lên ngọn núi để xem ánh sáng mặt trời mọc
    Dừng thuyền ở giữa khe núi để nghe vượn hót

  16. The Following 2 Users Say Thank You to ...£ü√... For This Useful Post:

    wiwi (20-08-2009)

  17. #29
    Tham gia ngày
    05-01-2009
    Bài gởi
    158
    Thanks
    5
    Thanked 177 Times in 88 Posts

    Default

    Núi Bằng Trình thuộc làng Bằng Trình, huyện Thụy Nguyên, trên núi có chùa Thái Bình, cửa chùa trên đỉnh núi đối diện với núi Bàn A. Tĩnh Vương Trịnh [Sâm] có đề bài thơ :
    Sơn thủy hồi hoàn giác hữu tình
    Luân huân thụy khí ủng Bằng Trình
    Nhất điều thạch khiếu thông tà kính
    Cửu phẩm kim đài ỷ tiễu bình
    Thôn thị nhân quí sơ nguyệt thướng
    Ngư than khích độ vãn trào sinh
    Thử lai chính nghĩ tường phong thuỷ
    Thiều bạc tùy xa tụng thái bình

    [Dịch]
    Núi sông quanh co cảm thấy có tình
    Khí lành quấn quýt bao bọc cả dãy núi Bằng Trình
    Có một lối hang đá thông sang lối đi bên cạnh
    Lại có tháp vàng chín tầng dựa theo bên ngọn núi cao
    Có người thôn quê đi chợ về thì trăng non đã mọc
    Có người đi đò ngang qua chỗ bến đánh cá, thì buổi tối nước triều đã lên
    Ta cốt đến đây để xem hình thế phong thủy chỗ đất đẹp
    Trẻ già đều theo xe mà ca tụng thái bình

    Núi Hộ Sơn ở làng Dương Xá, huyện Đông Sơn, dưới chân núi liền với sông. Khi Tĩnh Vương lên du ngoạn đổi làm Tiên Sơn
    Núi Long Hạm ở huyện Đông Sơn.)

  18. The Following 3 Users Say Thank You to ...£ü√... For This Useful Post:

    kieuphong (21-08-2009),wiwi (20-08-2009)

  19. #30
    Tham gia ngày
    05-01-2009
    Bài gởi
    158
    Thanks
    5
    Thanked 177 Times in 88 Posts

    Default

    Phủ Hà Trung



    Có 4 huyện :
    Huyện Hoằng Hóa (a)
    Huyện Thuần Lộc (b)
    Huyện Nga Sơn (c)
    Huyện Tống Sơn (d)
    Phủ Hà Trung ở phía đông trấn Thanh Hoá. Huyện Tống Sơn phía bắc giáp huyện Yên Khang, là chỗ địa giới tận cùng của nội trấn. Huyện Nga Sơn, huyện Thuần Lộc đều ở giữa phủ. Huyện Hoằng Hóa phía nam giáp huyện Quảng Xương, gần biển lớn. Kể về núi sông sầm uất, chỉ có huyện Tống Sơn là có nhiều hơn cả. Gia Miêu Ngoại Trang là đất tổ của các vua triều Nguyễn, từ tiên tổ là Nguyễn Đức Trung làm chức Thái uý, có con gái lấy Lê Thánh Tông (1), sinh ra Hiến Tông. Con trai là Nguyễn Văn Lang, giúp nhà Lê lập Tương Dực Đế, được phong tước vương. Cháu là Hoằng Dụ lại lập Chiêu Tông. Đến Triệu Tổ [Nguyễn Kim] tôn lập Trang Tông, cơ nghiệp trung hưng của nhà Lê gây dựng ra từ đấy trước. Tới khi Thái Tổ Hoàng đế [Nguyễn Hoàng] về giữ Thuận Hoá, Quảng Nam, truyền được 8 đời. Đến triều Nguyễn bình định được cả đất nước thì làng Gia Miêu là ấp thang mộc (2). Vì là đất phát phúc to, khí tốt chung đúc còn lâu dài mãi mãi.
    Huyện Hoằng Hóa thường có nhiều người văn nho, đỗ đạt rất nhiều
    ( Cả huyện có 36 người đỗ, như Lương Đắc Bằng ở làng Hội Trào là người đỗ cao, giúp đời Hồng Thuận Lê [Tương Dực] bày nhiều kế hoạch giỏi. Lưu Đình Chất ở làng Quỳ Chử, đỗ chánh bảng (3), giúp đời trung hưng, trừ nạn trong nước, là một người có danh tiếng tốt trong các triều đại.
    Huyện Thuần Lộc, huyện Nga Sơn cũng có người đỗ đại khoa (e)
    Duy huyện Tống Sơn tuy là nơi đất phát đạt to hơn cả, nhưng từ trước đến nay chưa có người đỗ đại khoa. )
    _______________________
    (a) Trước là huyện Cổ Đằng có 67 xã, 2 trang, 1 sở
    (b) Trước là huyện Thuần Hựu, sau khi trung hưng, tránh tên húy của [Lê] Chân Tông đổi làm Thuần Lộc, có 1 hương, 38 xã, 1 sở, 3 trang, 1 phường, 1 vạn.
    (c) Có 34 xã, 1 trang
    (d) Có 30 xã, 33 trang, 3 trại. Đường đi đến kinh đô phải mất 5 ngày. Các huyện chép ở trên cũng thế.
    (e) Huyện Thuần Lộc đỗ 7 người, huyện Nga Sơn đỗ 5 người.


    (1) Tức là Trường Lạc Hoàng Thái hậu Nguyễn Thị Hằng, quí phi của Lê Thánh Tông, mẹ đẻ của Lê Hiến Tông, bị cháu nội là Lê Uy Mục ngầm giết vào năm 1505.
    (2) Thang là nước nóng, mộc là tắm gội. Ý chỉ đất quê hương nhà vua, hay chỗ nhà vua sinh ra.
    (3) Đỗ từ tiến sĩ trở lên.

Trang 3/9 đầuđầu 12345 ... cuốicuối

Bookmarks

Quyền Sử Dụng Ở Diễn Ðàn

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •