thang may mitsubishi lien doanh dao tao lai xe day lai xe hoc lai xe thi bang lai xe bao cao su dầu cắt gọt in băng rôn thu mua phe lieu thu mua phe lieu gia cao công ty thám tử uy tín nhất ho ca koi ho ca koi ngoai troi Cach mua the Mobifone Hướng dẫn mua thẻ zing du an green town
Lịch triều hiến chương loại chí _ Phan Huy Chú
Loading...
Trang 1/7 123 ... cuốicuối
kết quả từ 1 tới 10 trên 82

Ðề tài: Lịch triều hiến chương loại chí _ Phan Huy Chú

Hybrid View

  1. #1
    Tham gia ngày
    05-01-2009
    Bài gởi
    158
    Thanks
    5
    Thanked 177 Times in 88 Posts

    Default Lịch triều hiến chương loại chí _ Phan Huy Chú

    Hiện trong tay em chỉ có một phần của sách Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú. Đó là các phần Dư địa chí, Nhân vật chí, Binh chế chí, Văn tịch chí, Bang giao chí. Nếu đúng ra thì em còn thiếu các phần Quan chức chí, Lễ nghi chí, Khoa mục chí, Quốc dụng chí, Hình luật chí. Khổ, nhưng biết làm thế nào. Nhà em nghèo, tiền chưa có để mua toàn tập, đành phải đọc lắt chắt thế thôi. Nay em post lên, có bổ khuyết được phần nào thì bổ khuyết, mong các bác lượng thứ. Đa tạ ( mình có khách sáo quá không nhỉ )

    * *
    *

    LỊCH TRIỀU HIẾN CHƯƠNG LOẠI CHÍ




    Bài tựa






    Tôi (1) nghe : cách học để hiểu biết đến cùng sự vật thì pháp độ điển chương của một nước là việc lớn, cần phải biết rõ. Khổng tử nói : "Học rộng về văn". Văn tức là lẽ phải của sự vật xưa nay, cốt yếu của điển lễ nhà nước. Kẻ học giả ngoài việc đọc kinh sử còn cần phải xét hỏi sâu rộng, tìm kiếm xa gần, khảo cứu để định lấy lẽ phải, thế mới đáng là người học rộng. Có phải chỉ nhặt lấy từng câu từng đoạn, nặn ra thành lời văn hoa mà gọi là văn đâu.
    Nước Việt ta, từ thời Đinh, Lê, Lý, Trần, phong hội đã mở, đời nào cũng có chế độ của đời ấy. Đến nhà Lê, kiến thiết kĩ càng, phép tắc đầy đủ, thanh danh của nước và văn hoá, nhân tài đều thịnh không kém gì Trung Hoa. Những phương pháp đặt quan chức, cách thức thi lấy đỗ, qui chế về binh lính và lí tài, lễ nghi ở trong nước và giao thiệp với nước ngoài, hết thảy có từng điều từng chương và đều có điển lệ cốt yếu cả. Đời Hồng Đức [1470 - 1498] sửa định, các đời sau noi theo. Trong thời gian ấy trải bao vua chúa sáng suốt châm chước lại, người giúp việc tài giỏi sửa sang thêm rõ ra, hơn ba trăm năm vẫn tuân theo, gìn giữ, tuy gọi là đời nọ theo điển lễ của đời kia nhưng cũng biết trong đõ có sự thêm bớt.
    Duy điển lễ của các triều, từ trước chưa có sách dẫn. Trong quốc sử biên chép công việc hàng năm về điển lễ còn sơ lược nhiều. Huống chi từ năm Bính Ngọ (2) có việc binh đao đến giờ, sách cũ đều tan nát, chỉ còn được một ít của các cố gia thế tộc cất giấu đi. Các sách nát vở cũ còn lại biên chép lẫn lộn sai lầm chưa có đầu mối, có bàn về điển cố của các triều, thì lờ mờ không bằng cứ vào đâu. Vậy thời chép những điều mắt thấy tai nghe, chia ra từng việc từng loại để làm một quyển sách có khuôn phép há chẳng là nhiệm vụ của người học giả ru ?
    Hãy nói về việc cốt yếu như : gây dựng bờ cõi, lúc chia lúc hợp không giống nhau ; thu dùng nhân tài, đời trước đời sau đều có khác ; đặt quan thì chia ra phẩm trật chức vụ ; định lễ thì đặt ra miếu tự giao xã (3); lập khoa mục thì cách chọn học trò có đời kĩ càng có đời sơ lược ; chi dùng trong nước thì cách lấy của dân có đời nặng có đời nhẹ ; hình phạt để giúp việc trị nước mà mỗi triều luật định một khác ; binh lính để giữ yên nước mà mỗi đời đặt ra một tên ; cả đến những sách vở trước thuật của các đời, nghi lễ ứng tiếp với Trung Quốc, đều thuộc về điển chương, người khảo cổ nên tìm đọc mà đính chính lại.
    Lý, Trần trở về trước, điển cũ mất cả, chỉ thấy chép đại lược trong sử. Nhà Lê khi sáng nghiệp lúc trung hưng (4) từng điều từng chương hãy còn, nhưng chép tản mát ở các sách còn sót lại, không có hệ thống gì cả. Nếu tự mình không để ý tìm tòi phân biệt các khu, từng loại thì khó mà kê cứu ra được.
    Tôi, từ nhỏ đi học vẫn thường có chí ấy. May nhờ được sách vở của các đời để lại và sự dạy dỗ của gia đình, nên về điển chương, gọi là có biết qua đầu mối, nhưng hiềm vì sử sách tản mát chưa kịp sửa chép. Từ khi vào núi ở đến giờ mới đóng cửa tạ khách cố sức tìm nhặt, sau khi đọc sách được nhàn rỗi, thì lại tùy từng loại khảo xét và đính chính, có khi nghĩ được điều gì thì đem ra lời bàn. Ngày tháng góp lại đến nay đã trải qua mười năm, biên chép đã xong, cộng có mười chí : Dư địa, Nhân vật, Quan chức, Lễ nghi, Khoa mục, Quốc dụng, Hình luật, Binh chế, Văn tịch, Bang giao. Chí nào cũng có lời nói đầu để kể rõ đại ý. Mỗi chí lại chia ra tiết mục, chép riêng từng tập, nối liên với nhau gọi là Lịch triều hiến chương loại chí, cộng 49 quyển.
    Ôi ! Công việc trước thuật, người xưa vẫn phàn nàn là khó. Huống chi sau khi sách vở đã tan mất đi rồi, mà muốn hiểu suốt cả đời xưa đời nay, phân biệt những việc này việc khác, góp những văn còn sót của nghìn xưa, để làm thành sách thường đọc của một đời, như thế thì dù bậc học rộng, tay tài giỏi, còn lấy làm khó, huống sức học tầm thường như tôi, đâu dám dự bàn. Nay tạm góp nhặt những điều mắt thấy tai nghe để giúp vào chỗ thiếu sót. Tuy vậy, khảo xét dấu tích đời xưa, mà không dám nói thêm lên, phân tách mọi việc bằng lý để tìm ra lẽ phải, có chỗ tường tận mà không đến nỗi rườm, có chỗ sơ lược mà nắm được cốt yếu, khiến cho công nghiệp chế tác của các đời rõ rệt, đủ làm bằng chứng, đều ở trong sách này cả.
    Mong đạt đến nhà vua và được coi tới, để thấy rõ những pháp thức ngày xưa ngõ hầu có thể giúp ích cho việc lập chính được một phần nào.
    Tôi, Phan Huy Chú kính tựa.


    __________________
    (1) Nguyên văn là thần, nghĩa là lời bầy tôi nói với vua.
    (2) Tức là năm 1786, năm Tây Sơn đánh lấy được Thuận Hóa và vượt sông Gianh ra bắc diệt họ Trịnh.
    (3) Miếu : tế tôn miếu ; tự : tế các thần kì ; giao : tế trời đất ở đàn Nam Giao ; xã : tế thần Tiên Nông ( thần đất )
    (4) Lúc sáng nghiệp : tính từ năm 1428, năm Lê Thái Tổ lên ngôi vua đến năm 1527, năm Mạc Thái Tổ phế Lê Cung Hoàng mà lên ngôi.
    Lúc Trung hưng : từ năm 1533, năm Lê Trang Tông được tôn làm vua ở Lào đến năm 1789, năm Lê Chiêu Thống bỏ chạy sang Trung Quốc.

  2. The Following 5 Users Say Thank You to ...£ü√... For This Useful Post:

    kieuphong (17-08-2009),Trư Bát Nhao2 (03-10-2009),vvvvvvv (19-08-2009),wiwi (20-08-2009)

  3. #2
    Tham gia ngày
    05-01-2009
    Bài gởi
    158
    Thanks
    5
    Thanked 177 Times in 88 Posts

    Default

    Dẫn thứ tự các chí







    Từ khi có trời đất thì có núi sông. Đất nào thuộc phận sao nào đã chia sẵn, bờ cõi mỗi nước đều phân biệt. Nước nào có địa phận nước ấy. Việc định giới hạn để ngăn cách là việc cần phải làm trước tiên khi mới dựng nước.

    Nước Việt ta, từ trước [đối với Trung Quốc] ở vào cõi xa, phong khí (1) có phần chậm chạp. Từ đời Thương Chu trở về trước , còn là rừng rậm chằm lầy, chỗ rồng rắn ở. Khi ấy, hoặc ở xen lộn dưới sông trên cạn, hoặc chia ở miền núi miền biển, bờ cõi chưa được rõ ràng. Tới khi dựng nước Văn Lang, mới chia ra từng bộ, nhưng qui mô đời cổ đều hãy còn sơ sài. Về sau hợp vào nhà Thục, mất vào nhà Triệu, rồi nhà Hán sang cướp lấy ; trải qua Hán, Tấn đến Đường bảy tám trăm năm thay đổi nhau đặt làm quận huyện, cõi Nam một giải xa xa chỉ để cho bọn mục, thú sang cai trị. Cũng có lúc có người nổi dậy phấn đấu, nhưng nổi lên rồi lại bị diệt liền, chung qui vẫn không thể thoát khỏi vòng ràng buộc để lập bờ cõi riêng được. Thế chẳng phải là khi ấy thời trời chưa đến mà vận đất còn đợi [người tài giỏi ] sau này ru ?

    Nhà Đinh nổi lên gây nền thống nhất, [Tiền] Lê nổi sau mở rộng thêm ra, bờ cõi nước Việt ta bấy giờ mới định hẳn. Sau đến Lý Trần thay nhau nổi lên chống chọi với Tống, Nguyên. Lê Thái Tổ nổi dậy quét sạch giặc Minh, vận hội đến lúc thịnh, cõi đất ngày rộng ra, người phương bắc sợ sệt mà không dám manh tâm nghĩ đến việc cướp nước ta, đặt ra quận huyện nữa, mà đất nước Việt Nam ta, Trung Quốc phải coi là hùng mạnh. Truyện có nói rằng "mở mang phải dần dần" đúng như thế đấy.

    Vậy trước hết nên khảo cứu những điều cốt yếu về bờ cõi lúc chia lúc hợp, núi sông chỗ hiểm chỗ bằng, làm ra DƯ ĐỊA CHÍ chép lên đầu.


    *



    Có trời đất thì có người, loài người sinh ra rất nhiều, họp lại rất đông, phải có người đứng đầu để cai trị. Đế vương thì chăn dắt, coi và thống trị dân chúng, tướng tá thì giúp đỡ để giữ gìn cho dân. Lại có đạo đức giáo hóa và tiết nghĩa để ràng buộc thêm vào thì nước mới trị yên được. Nước Việt ta từ khi mới lập, phong tục và nhân vật thuần hậu, thói quen giản dị chất phác. Khi ấy vua tôi cùng nhau vui vẻ tự nhiên, không biểu lộ sự chia cách ; lúc ấy còn là đời hồng hoang, đời sau không thể khảo được. Còn đến thời kí nội thuọcc, hãy bỏ không bàn đến.

    Từ khi Đinh, Lê, Lý, Trần thay nhau nổi lên, đến nhà [Hậu] Lê dựng nước, đời nọ truyền đến đời kia, trong khi ấy những người làm vua sáng suốt, kẻ giúp việc tài giỏi, trước sau nói tiếp nhau. Tất cả những công lao sự nghiệp hay tiết hạnh tốt, có thể đem ra giúp đời sửa tục mà làm gương cho người sau, xem ở sách vở, còn có thể tưởng thấy được. Người sau nên xem đấy mà bắt chước.

    Kể ra, đạo làm người trên phải để tâm về việc trị nước thì mới hay ; đạo làm người dưới phái giữ hết lòng trung thì mới tốt. Làm người học trò phải có ý nghĩ sâu xa, lúc lâm nạn phải giữ tiết tháo bền vững đều là đạo thường phải thế, không thể vượt qua được. Thu nhặt mà chép ra để làm khuôn phép, do đó noi gương mà bắt chước, thì công việc trị nước giúp đời có thể nắm được bản lĩnh, vậy làm NHÂN VẬT CHÍ chép vào thứ hai.


    *



    Trong triều đình, người trên kẻ dưới chia chức vụ mà làm thì muôn việc mới đâu vào đấy, bởi thế phải đặt ra quan chức. Nước ta, từ khi có Lạc hầu Lạc tướng bắt đầu đặt thành tên quan, những bấy giờ là đời thái cổ phẩm trật chưa đủ, rồi sau mỗi đời dấy lên lại có chế độ về quan chức của đời ấy. Cách dựng đặt ra thì nhà Lý khác với nhà Đinh. Cách chia đặt ra thì thì nhà Trần khác với nhà Lý. Nhà Lê, lúc đầu phần nhiều nhân theo tên quan chức cũ của nhà Trần, về sau mới thay đổi. Đến lúc cuối tuy vẫn theo tên quan chức khi mới mở nước nhưng có đặt thêm ra nhiều. Việc nhân cũ hay đổi mới, xét trong sử sách có thể thấy được.

    Vả lại, cách đặt quan, về chức vụ có tường có lược, về phẩm tước có cao có thấp, lương lộc để hậu đãi mà lệ ân điển không nhất định ; thưởng phạt để nêu rõ mà phép thăng giáng có khác nhau. Khoảng trên dưới một nghìn một trăm năm, danh, loại rất nhiều ; phẩm, thức đầy đủ, nếu không đem góp cả lại cho liền đi, chia từng điều cho khác đi thì không thể biết được chỗ cốt yếu về chế độ đặt ra quan chức. Kinh Thư có nói : " Xét phép đời xưa để đặt ra quan, thì mọi việc đều đâu vào đấy cả", nên thêm hay bớt, phiền hay giản, cốt phải tùy thời châm chước mà làm. Đến như đại thể, đại cương để lập chính dùng người thì phải bắt chước đời xưa, cho nên xét tên chức quan đời trước, định ra chức việc từng người là điều cốt yếu của người làm chính trị. Vậy làm QUAN CHỨC CHÍ chép vào thứ ba.


    *



    Trời cao đất thấp, muôn vật tản mát khác nhau, bởi thế phải đặt ra lễ để giữ gìn [ cho có trật tự ]. Lễ là để phân định kẻ trên người dưới. Vương giả đời xưa dựng đặt ra mọi việc, việc gì cũng có lễ cả, như chế độ về áo xiêm, xe kiệu (2), tế lễ ở giao miếu, lễ cát lễ hung thì độ số bao nhiêu, nghi chương thế nào, đều có phẩm trật. Đó là việc lớn của điển lễ phép tắc, không thể sai lầm rối lẫn được. Cho nên , lễ để trị nước trước hết phải cần thận vào những điều ấy.

    Nhà Lý có định ra thông chế (3), nhà Trần có biên soạn sách [Kiến Trung] thường lễ, tiết mục nghi văn đều đủ cả, nhưng vì các sách ấy chép tản mát nên mất đi, không thể xét kĩ được. Đời Lê châm chước lại, định ra lễ chế rất kĩ càng đầy đủ, cho nên phẩm phục đúng lễ mà phẩm trật được phân minh, tế tự theo lễ mà quí thần đều cảm cách. Khí yên tiệc thỏa mãn được lòng người, khi tang ma không trái với lễ cổ. Trải mấy đời noi theo không thay đổi, tuy chưa được đúng với lễ chế của các tiên vương đời xưa những cũng đủ gọi là điển lễ của một đời được. Chỉ từ đời trung hưng trở về sau, quyền bính dần về tay người khác (4), danh phận trên dưới không khỏi sai lẫn ; chế độ về áo mặc, nghi tiết về sắc phong, có nhiều điều tiếm lạm, lẫn lộn không đúng lễ, chúa với vua cũng tôn trọng bằng nhau mà cái trật tự trên dưới từ xưa đặt ra mất dần đi hết. [Vậy nay] chép sự thực mà đính chính lại cốt để giữ gìn thể thống cho nhà vua. Ngoài ra còn có tiết mục và nghi văn rất nhiều cũng chép hết ra từng loại, từng hạng để cho biết điển lễ của nước là việc không thể thiếu được. Vậy làm LỄ NGHI CHÍ chép vào thứ tư.



    *




    Điển lễ phải đợi có người mới làm được, mà cách chọn người thì cần phải đặt ra các khoa thi. Từ khi bỏ lối lấy nhân tài bằng cách do hương (5) cử ra, do lý (6) chọn ra thì các đời đều lấy khoa thi làm trọng, mà những người tài cao học rộng cũng do đấy mà ra. [Tiền] Lê và Lý trở về trước, chưa định phép thi. Đến đời Trần mới đặt khoa cử chia ra từng giáp từng bậc cũng đã chọn được nhiều người tài giỏi. Nhà [Hậu] lê buổi đầu cũng theo thế và đặt thêm ra nhiều khoa thi. Đến đời Hồng Đức mới định ra ba năm một kỳ thi. Khi ấy nảy ra bao nhiêu người hiền tài anh tuấn, làm cho chính trị văn hóa được vang lừng, đức chính nhà vua thêm rực rỡ, bốn mươi năm nước được thái bình, vài bốn đời còn để lại ơn trạch, đều nhờ các người trong khoa mục. Cái công hiệu lấy được nhân tài thực rất nhiều. Kịp đến nhà Mạc tiếm ngôi, cũng đặt các khoa thi, những người thi đỗ phần nhiều là tài giỏi, nhờ đó duy trì được cơ nghiệp họ Mạc cũng là do ở nhân tài giúp nên. Trang Tông nhà Lê nối ngôi ở Thanh Hoa chưa kịp bàn đến việc thi cử. Trung Tông đời Thuận Bình [1549 -1556] mới đặt ra chế khoa lấy người đỗ (7), từ đời Quang Hưng [1578 - 1599 ] sau khi diệt Mạc, lại theo chế độ cũ (8), thi hành một thời gian lâu kể cũng lấy được nhiều người tài giỏi, nhưng phong hội đã khác, văn thể ngày một biến đối, nhân tài phần nhiều không bằng đời trước. Vì cách thi của người trên đặt ra có khác nên xu hướng của học trò cũng khác, nếu lấy về sức học sâu rộng, thì có người có thực học không lo phải loại bỏ ra, mà nếu câu nệ về trích từng câu tìm từng chương thì người tài giỏi thường vì khuôn khổ bó buộc mà bị hỏng. Xem đời trước đời sau, đời nào lấy được nhân tài nhiều hay ít thì biết phép thi của đời ấy hay hay dở có khác nhau. Có câu nói rằng : " Văn chương quan hệ ở thế vận thịnh hay suy", cho nên phải thận trọng lắm. Về phép thi dễ dàng hay nghiêm mật ; lệ thi kĩ càng hay sơ lược, phải mặt nhân cũ và đổi mới của nó. Vậy làm KHOA MỤC CHÍ chép vào thứ năm.



    ____________________
    (1) Phong khí : phong là phong thổ ( cũng có nghĩa là hơi gió thổi). Khí là khí hậu. Đây nói là văn minh tiếp thu của Trung Quốc.
    (2) Dịch chữ dư phục, nghĩa là xe , kiệu và các đồ trang sức, nghi trượng khác.
    (3) Năm Kiến Trung thứ 6 (1230) triều Trần Thái Tông, soạn sách Quốc triếu thông chế, 20 quyển, trong có ghi chế độ đời trước, tức đời nhà Lý.
    (4) Chỉ chúa Trịnh.
    (5) Hương : 5 nhà là một hương ( theo Từ nguyên)
    (6) Lý : 5 hương là một lý ( theo Từ nguyên)
    (7) Năm Thuận Bình thứ 6 (1554) đời Lê Trung Tông Vũ Hoàng đế, đặt chế khoa chọn nhân tài, cho Đinh Bạt Tuỵ, Chu Quang Trứ 13 người đỗ.
    (8) Năm Quang Hưng thứ 18 (1595), đời Lê Thế Tông Nghị Hoàng đế, thi Hội ở bến Cỏ, cho Nguyễn Thực và Nguyễn Viết Tráng đỗ đầu, Nguyễn Đức Mậu và 3 người nữa đỗ đồng tiến sĩ xuất thân, lấy có 6 người.


    P/s : ơ xin lỗi, mấy tháng rồi em lười Hứa đến hè post nốt mà quên mất. Cảm ơn Mol đã gửi thư nhắc nhở ( bây giờ mới vào đọc )

  4. The Following 3 Users Say Thank You to ...£ü√... For This Useful Post:

    phithiengia (15-08-2009),wiwi (20-08-2009)

  5. #3
    Tham gia ngày
    05-01-2009
    Bài gởi
    158
    Thanks
    5
    Thanked 177 Times in 88 Posts

    Default

    Làm thế nào để tụ họp mọi người ? Phải có của. Trong sách "Truyện" nói việc lý tài nối liền với việc dùng người. Bởi vì vương giả nuôi dân tất phải nhờ tiền của làm cốt yếu. Làm người đứng đầu muôn dân, đặt ra phương pháp trị nước, phải xét hộ khẩu để biết số dân đông hay thưa ; định thuế khóa để rõ số thu nhiều hay ít ; cẩn thận về thuế đánh ở các cửa ải và các chợ ; lưu thông các sản vật ở miền biển miền rừng ; giữ tiết kiệm, định mức độ tính số thu vào để làm số chi ra. Đó là vương chính cần phải cẩn trọng.

    Kể ra, làm chủ cả một nước không phải lo thiếu của, nhưng muốn lập ra chính trị hay lý tài thì phải có phương pháp. Nhưng chỉ nên nhân lợi tự nhiên của trời đất, định ra qui chế thông thường giản dị, để cho dưới không đến nỗi hại dân, trên thì đủ dùng cho nước. Thời cổ lấy đạo mà trị , quyền nghi mà làm, đều như thế cả. Đời Lý đời Trần lấy của dân đều có phép thường, nhưng sổ sách mất mát chỉ nghe được sơ lược thôi. Đời Hồng Đức [1470 - 1498 ] nhà Lê, định rõ phép tắc, đến trung hưng lại thay đổi đi. Việc kiểm soát hộ tịch thì có phép kế tu (1) và bình lệ (2). Việc định các thuế thì có lệ giảm thuế đinh, tăng thuế điền đều là tùy thời châm chước, thay đổi. Vì có điều hợp ở đời cổ, nhưng không thể đem làm ở đời nay ; có điều tiền làm ở thời sau, không câu nệ phải theo đúng như đời trước. Châm chước mà biến thông, cốt để tiện cho dân và thích hợp với việc làm mà thôi. Đến như khai thác nguồn của cải, lưu thông việc buôn bán, định mức cho dân phải nộp để làm thuế chính cung (3) ; ước số hàng năm phải dùng để làm chi tiêu thường, các đời xếp đặt đều có đủ tiết mục cần phải tra cứu rõ ràng. Vậy làm QUỐC DỤNG CHÍ chép vào thứ sáu.


    *



    Kinh Dịch nói " Làm ra và sử dụng tiền của cho hợp lẽ ; định danh từ cho chính đáng, cấm dân làm điều trái, thế gọi là hợp lẽ phải. " Phàm việc gì có lợi, dễ sinh ra tranh cướp nhau cần phải phân biệt phải trái, nêu rõ lệnh cấm, để trừng trị những kẻ không thể dạy bảo được, thì muôn dân mới trị yên. Cho nên nói việc cấm dân làm trái phép liền sau việc lý tài là vì hình phạt không thể bỏ thiếu được.

    Nước Việt ta, từ Lý Trần dựng nước, đời nào cũng có sách hình luật của đời ấy. Nay tuy không xét được kĩ càng, những đại yếu về các điều lệ phòng kẻ gian, cấm kẻ làm bậy đều đã đủ cả. Nhà Lê nổi lên thì đời Thuận Thiên [1428 - 1433] định ra luật lệ, đời Hồng Đức [1470 - 1498] định rõ thêm điều lệ, những công việc để sửa chữa cho dân, tiết mục đã kĩ càng lắm rồi. Từ trung hưng trở về sau noi theo điển cũ, đến đời Vĩnh Thọ [1658 - 1662], Cảnh Trị [1663 - 1671] đặt thêm rõ ra, đời Chính Hòa [1680 - 1705], Bảo Thái [1720 - 1729] chuẩn định lại, luật lệ về khám xét xử đoán, tường tất không sót (4). Từng khoa từng điều quí báu ấy đã thành ra hiến pháp nhất định, rất rõ ràng. Khoảng hơn một trăm năm, có lúc lại chấn chỉnh mà sửa chữa thêm ra, khuôn phép đều ở trong đó, không ai vượt được.

    Ôi ! Làm ra hình luật cốt để ngăn ngừa dân, từ thời Tam đại (5) trở về sau, trị nước không thể thiếu bỏ hình luật được. Vậy chia ra từng điều, hợp lại một mối cần phải rõ ràng. Vậy làm HÌNH LUẬT CHÍ chép vào thứ bảy.


    *



    Những kẻ cướp trộm gian phi, hình phạt không thể ngăn cấm nổi, phải có binh lính để dẹp đi. Đời Ngu Thuấn lấy chức sĩ sư (6) kiêm việc binh, đời Chu thì chức tư mã coi việc quân đều liệt vào hạ quan (7). Về binh chính, qui chế đã từng tận từ lâu rồi. Dùng để đánh kẻ không thần phục và chống đối kẻ địch bên ngoài thì việc lớn của nước cốt ở binh. Vậy chế độ về nuôi nấng, phương pháp về khu xử, người trên phải nghĩ cho phải đạo. Lý, Trần lấy sự truyền ngôi cho nhau mà được nước, lúc mới khai sáng không phiền đến sức binh lính. Sau khi giữ cơ nghiệp đã thành thì việc phá quân Tống, dẹp quân Nguyen uy thanh lừng lẫy, không bởi cớ nào khác, mà bởi trị binh phải đạo. Nhà Lê khi sáng nghiệp lúc trung hưng, đều trải qua trăm trận gian nan mới bình định thì sức của binh lính có thể gọi là rất mạnh. Nhưng rồi sau quân lính cậy công thành ra kiêu hỗng. Từ đời Vĩnh Thọ [1658 - 1662] trở về sau, họ dần dần vượt ra ngoài vòng kiềm chế . Cho đến cuối đời Cảnh Hưng [1740 - 1787], quân lính ba phủ gây ra biến loạn (8), cậy công làm càn, không thể ngăn cấm được, rồi nước cũng mất theo. Ôi ! Xét kĩ những việc hưng vong của đời trước thì việc trị binh cần phải cẩn thận lắm ! Những phép chế ngự quân lính và phương pháp cấp nuôi, luyện tập, giảng dinh duyệt binh của các đời đã có đủ tiết mục, có thể tra được, cần phải khảo kỹ trước sau. Vậy làm BINH CHẾ CHÍ chép vào thứ tám.


    *

    Chính sự đời trước đời sau, phải có sách vở để ghi chép, thì mới biết được trị hay loạn, thấy được thịnh hay suy, sách vở là để gom góp muôn việc vào đấy.

    Đinh Lê trở về trước, văn hóa nước Việt ta chưa phát triển. Từ khi Lý, Trần dấy lên, văn vật đã thịnh, những vua sáng tôi hiền trước thuật ra, những người học rộng tài cao phát huy thêm hơn bốn trăm năm, [văn hóa] đã tỏ ra tốt đẹp. Đến đời Hồng Đức [1470 - 1498] nhà Lê, vận hội càng mở mang, trên có nhà vua sáng thuật ra, điển chương rất nhiều, dưới thì bề tôi hưởng ứng theo, văn chương cũng giỏi. Cho nên sách vở đầy rẫy, thực là rất thịnh. Nhưng trải theo nhiều phen biến loạn nên các sách tản mát đi (9), tiếc rằng nay không còn mấy ! Tuy vậy, những sách cũ nát còn sót lại cũng còn có thể khảo cứu được ; một ích sách còn lại đều là tinh thần của người xưa ngụ ở trong, lẽ nào lại để cho mai một mà không truyền bá lại ru ? Trung hưng trở về sau hơn hai trăm năm, sách vở cũng còn tìm ra được nhiêu. Cuối nhà Lê, văn vận lại mở mang ít nhiều, khi ấy có người chú ý về kinh sử, có người nổi tiếng về văn thơ làm ra các bài, đều có thể dùng được. Nay chép cả lại chia biệt ra từng loại, ghi đại lược lại từng bộ sách để rõ tâm thuật của tác giả. Vậy làm VĂN TỊCH CHÍ chép vào thứ chín.



    *



    Chính trị trong nước đã làm rồi, thì việc giao thiệp với nước láng giềng, phụng sự nước lớn cho hợp lẽ càng nên cẩn thận lắm.Vì những giấy tờ đi lại, sứ mệnh giao thông, các nước ngoài coi đấy đoán được nước mình mạnh hay yếu ; thể diện của một nước bởi đấy mà được trọng hay bị coi khinh. Cho nên tỏ lòng tin thực, gây tình hòa hảo, là một điều cốt yếu lớn.

    Nước Việt ta lập ra ở xứ nóng, từ xưa có tiêng là nước văn vật, Tuy ở xa cách biển khơi nhưng Trung Quốc vẫn coi trọng ta là nước nho nhã. Từ Đinh, [Tiền] Lê, Lý, Trần được chịu phong điển của Trung Quốc, danh hiệu vẻ vang rực rỡ trong sách phong ; ơn vinh đầm thấm sáng tỏ đến cột đồng. Về lễ cống hiến, nghi thức khoản tiếp, các đời tùy thời châm chước mà làm, đều không mất quốc thể, lại được người Trung Quốc kính trọng.

    Đến khi nhà Lê dựng cơ nghiệp, bình được giặc Ngô (10), mà phải lựa lời mềm dẻo để giảng hòa ; khi trung hưng diệt Mạc phải tốn công biện bạch về danh nghĩa, khi ấy giấy tờ đi lại đôi bên đều ăn khớp cả, thành ra chuyển việc chiến tranh ra giao hảo, dẹp việc binh đao mà hòa bình, như thế đủ thấy cái công hiệu của giấy tờ rất có lợi cho nước. Còn những tờ biểu chương khi đưa lễ cống, lễ mừng sang Trung Quốc, điển lệ về sứ bộ đi lại, công việc về chia định biên cương, sách của các triều còn sót lại, có thể khảo cứu được, những người kê cứu về đời cổ cần phải xem cho đủ. Vậy làm BANG GIAO CHÍ chép vào thứ mười.


    _______________________
    (1) Kế tu : làm sổ hộ tịch mỗi năm một lần
    (2) Bình lệ : làm sổ hộ tịch nhất định, số đinh tăng không kể, hao cũng không trừ.
    (3) Thuế chính cung : tức là thuế chính ngạch, như thuế đinh thuế điền.
    (4) Ý chỉ chính sách đổi mới của chúa Trịnh Cương được tiến hành vào những năm Bảo Thái đời Lê Dụ Tông, trong đó có đổi mới về qui chế luật pháp.
    (5) Tam đại : chỉ ba triều đại đầu tiên bên Trung Quốc : Hạ, Thương, Chu.
    (6) Sĩ sư : chức quan giữ việc hình ngục.
    (7) Hạ quan : chức quan giữ việc binh ( theo Kinh Lễ )
    (8) Năm Cảnh Hưng thứ hai (1741), ưu binh nổi loạn, phá nhà quan Tham tụng Nguyễn Quý Cảnh vì Quý Cảnh không chấp thuận đề nghị của ưu binh đòi trao quan chức cho chúng.
    Năm Cảnh Hưng thứ bốn mươi ba (1782), ưu binh làm chính biến, phế truất ngôi của chúa Trịnh Cán, đưa anh Cán là Tông lên làm chúa. Từ đấy, mọi công việc trong triều ngoài quận đều do ưu binh quyết định, chính sự rối loạn. Cuối cùng, họ Trịnh bị Tây Sơn diệt.
    (9) Có thể đại khái kể ra những cuộc biến loạn :
    _Năm 1370, quân Chiêm Thành đánh thẳng vào Thăng Long, cung điện và đồ thư đều bị thiêu trụi hết cả.
    _Năm 1407, tướng Minh là Trương Phụ đánh bại nhà Hồ. Bèn ra lệnh thu sách, một phần cho đốt bỏ ngay tại chỗ, phần lớn sách thì chở về Kim Lăng theo đường sông.
    _Năm 1516, Trần Cảo ( hay Cao ) khởi binh ở vùng Đông Triều, vua Lê Tương Dực sai Nguyễn Hoằng Dụ đi đánh. Nhưng khi ấy nhà vua bị tướng Trịnh Duy Sản giết chết, rồi Sản lập Lê Chiêu Tông. Nguyễn Hoằng Dụ bèn đem quân về đốt phá Kinh thành, Duy Sản rước vua về Thanh Hoa. Quân Trần Cảo ( hay Cao) nhân đó vào đánh chiếm Thăng Long, cung điện bỏ phế. Nhân dân tranh nhau vào cấm thành cướp vàng bạc, người ít cũng được ba bốn trăm lạng , người yếu cũng đến hơn trăm lạng, của cái chất đầy nhà dân. Sách vở, hồ tiêu bị vứt ở đường cái cao đến một hai tấc, không ai thu nhặt lấy.
    _Năm 1592, chúa Trịnh Tùng đánh lấy lại thành Thăng Long, sách vở trong nội phủ họ Mạc lại bị thiêu đốt đi cả.
    ...
    (10) Vì Minh Thái Tổ khởi binh đánh nhà Nguyên ở đất Ngô, tự xưng Ngô Vương, cho nên người Việt Nam thường gọi là nhà Minh là nhà Ngô, giặc Minh là giặc Ngô ( giặc bên Ngô không bằng bà cô bên chồng).

  6. The Following 4 Users Say Thank You to ...£ü√... For This Useful Post:

    kieuphong (17-08-2009),phithiengia (19-08-2009),wiwi (20-08-2009)

  7. #4
    Tham gia ngày
    05-01-2009
    Bài gởi
    158
    Thanks
    5
    Thanked 177 Times in 88 Posts

    Default

    Phàm lệ



    _Sự tích chép ở sách này, trên từ đời thượng cổ, xuống đến cuối [Hậu] Lê, chứng dẫn đều có điển tích. Về các sử thần bàn luận, có phát minh được điều gì cũng đều chép vào để xem. Nếu có chỗ nào phải hay trái nên đính chính lại, thì tôi lấy ý riêng cân nhắc, biện luận ở dưới rồi nêu một chữ "án" lên đầu để phân biệt. Đó là vì phải đắn đo sự lý tìm đến lẽ phải, không dám chê bai xằng bậy.

    _Về Dư địa chí chép đủ các tên đất nhân cũ đổi mới và cảnh trí núi sông đều có chứng cớ chính xác, chỉ về phong thổ thì chỗ chép kĩ, chỗ chép dối không thể đủ hết được. Những điều không biết đành bỏ thiếu, đợi sau sẽ thêm vào.

    _Về Nhân vật chí, vua chúa thì chép đủ thứ tự trước sau, bầy tôi thì người tài giỏi, chia ra từng loại. Chép về vua chúa chỉ nói đại cương, chép về người tài giỏi thì chép rõ cả sự trạng. Bởi vì việc làm của các vua có thể khảo được ở quốc sử, còn công việc trước sau của các bầy tôi, sử kí chưa chép đủ, cho nên [ người nào có ] một lời nói hay, một việc làm tốt thì cứ theo loại mà chép cả ra để nêu đức nghiệp của người đấy.
    _Về Quan chức chí, Lễ nghi chí có rất nhiều điều mục, nếu không tìm rộng chép kĩ thì không thể rõ ràng đầy đủ được. Cho nên phàm những chức [ vụ của quan nào ], nghi [ tiết của lễ nào ] nhất nhất chép đủ ; dùng để kê cứu về chính sự, khảo xét về nghi tiết mới không thiếu sót.
    _Trong các chí, lấy đủ mọi việc, chép cả văn từ. Phàm các chiếu lệnh, tấu chương của các đời có quan hệ đến cốt yếu của điển chương đều chép vào hết thảy. Và văn thơ của các danh công, cự nho (1) có thể chép được, cũng đều tùy loại chép mà không bỏ sót. Vì như quả mùa thu, hoa mùa xuân, tùy ý trẩy cả hai, thì mới khỏi thiên về một bên.
    _Các sách ở Trung Quốc dẫn chứng vào thì có các bộ như Chu lễ (2), hai mươi mốt bộ sử (3), Văn hiến thông khảo (4), Đại học diễn nghĩa (5), Đại Thanh hình luật (6). Còn sự dẫn dụng sử sách của nước ta thì mục lục đã chép đầy đủ ở Văn tịch chí rồi, không kể lại thêm thừa.

    ______________________
    (1) Danh công : những người làm quan to học giỏi có danh tiếng.
    Cự nho : những nhà nho học giỏi có tiếng
    (2) Sách chép về điển lễ và quan chức đời Chu, còn gọi là Kinh Lễ.
    (3) Chính sử nhà Minh, lấy 17 bộ sử của các nhà soạn trước hợp với 4 bộ sử Tống, Liêu, Kim, Nguyên. Sau đời Càn Long nhà Thanh lại in thêm 3 bộ nữa, gồm 24 bộ : Sử kí Tư Mã Thiên, Hán thư Ban Cố, Hậu Hán thư Phạm Việp, Tam quốc chí Trần Thọ, Tấn thư Phạm Huyền Linh, Tống thư Thẩm Ước, Nam Tề thư Tiêu Tử Hiển, Lương thư và Trần thư Diêu Tư Liêm, Hậu Ngụy thư Nguỵ Thu, Bắc Tề thư Lý Bách Dược, Hậu Chu thư Lệnh Hồ Đức Phân, Tùy thư Ngụy Trưng, Nam sử và Bắc sử Lý Diên Thọ, Cựu Đường thư Lưu Hu, Tân Đường thư Âu Dương TuTống Kỳ, Cựu Ngũ Đại sử Tiết Cư Chính, Tân Ngũ Đại sử Âu Dương Tu, Tống sử và Liêu sử, Kim sử Thoát Thoát, Nguyên sử Tống Liêm, Minh sử Trương Đình Ngọc, Tân Nguyên sử Kha Thiệu Văn, Thanh sử cảo Triệu Nhĩ Tốn.
    (4) Của Mã Đoan Lâm đời Nguyên soạn, bổ sung Thông điển của Đỗ Hựu và chép đến đời Tống Ninh Tông, gồm 348 quyển.
    (5) Do Chân Đức Tú đời Tống soạn, diễn rộng nghĩa sách Đại học và chứng dẫn thêm kinh sử, gồm 43 quyển.
    (6) Có lẽ là một phần của bộ Đại Thanh luật lệ, soạn năm Càn Long thứ 5 (1740) gồm 47 quyển.

  8. The Following 3 Users Say Thank You to ...£ü√... For This Useful Post:

    phithiengia (19-08-2009),wiwi (20-08-2009)

  9. #5
    Tham gia ngày
    05-01-2009
    Bài gởi
    158
    Thanks
    5
    Thanked 177 Times in 88 Posts

    Default

    Mục lục



    I. DƯ ĐỊA CHÍ

    Quyển I :
    _Sự khác nhau về bờ cõi qua các đời.
    Quyển II :
    _Sự khác nhau về phong thổ các đạo
    Thanh Hóa - Nghệ An - Sơn Nam
    Quyển III :
    _Sự khác nhau về phong thổ các đạo
    Kinh Bắc - Sơn Tây - Hải Dương - An Bang
    Quyển IV :
    _Sự khác nhau về phong thổ các đạo
    Hưng Hóa - Thái Nguyên - Cao Bằng - Lạng Sơn
    Quyển V :
    _Sự khác nhau về phong thổ các đạo
    Thuận Hóa - Quảng Nam - Phú Yên - Bình Khang - Diên Khánh - Bình Thuận - Gia Định - Định Viễn - Hà Tiên.

    II. NHÂN VẬT CHÍ

    Quyển VI :
    _Dòng chính thống các đế vương
    Kinh Dương - Lạc Long - Hùng Vương - An Dương - Trưng Vương - 3 vua nhà Tiền Lý - Tiền Ngô Vương - 12 sứ quân - 2 vua nhà Đinh - 3 vua nhà [Tiền] Lê - 9 vua nhà Lý - 12 vua nhà Trần - ( Phụ thêm : nhà Nhuận Hồ ) - 2 vua nhà Hậu Trần - 26 vua nhà [Hậu] Lê - Dòng dõi chúa Trịnh - Sự tích nhà Nhuận Mạc.
    Quyển VII :
    _Người phò tá có công lao tài đức
    4 người đời Lý - 10 người đời Trần - 18 người đời Lê sơ - 1 người đời Mạc.
    Quyển VIII :
    _Người phò tá có công lao tài đức
    39 người sau Lê Trung hưng
    Quyển IX :
    _Tướng có tiếng và tài giỏi
    2 người đời Lý - 4 người đời Trần - 10 người đời Lê sơ
    Quyển X :
    _Tướng có tiếng và tài giỏi
    19 người sau Lê Trung hưng.
    Quyển XI :
    _Nhà nho có đức nghiệp
    1 người đời Trần - 10 người đời Lê sơ - 4 người đời Mạc - 14 người sau Lê Trung hưng
    Quyển XII :
    _Bề tôi tiết nghĩa
    7 người đời Trần - 42 người đời Lê sơ - 1 người cuối Lê

  10. The Following 3 Users Say Thank You to ...£ü√... For This Useful Post:

    phithiengia (19-08-2009),wiwi (20-08-2009)

  11. #6
    Tham gia ngày
    05-01-2009
    Bài gởi
    158
    Thanks
    5
    Thanked 177 Times in 88 Posts

    Default

    DƯ ĐỊA CHÍ


    QUYỂN I




    Của báu của nước, không gì quí bằng đất đai ; nhân dân và của cải đều do đấy mà sinh ra. Cho nên nhà Thành Chu cẩn thận về công việc của chức phương (1), các đời coi trọng về chức trách của tư không (2), đều cốt để biết hết bờ cõi mà hiểu rõ lợi hay hại trong nước.

    Nước Việt ta, từ đời Hùng Vương dựng nước, chia địa giới, đặt kinh đô, núi sông nước Nam đã có giới hạn ở sách trời. Tuy trải qua thời nội thuộc Hán Đường cắt đặt có khác, nhưng đến khi Đinh Lý nối nhau dấy lên, bờ cõi đã nhất định. Truyền đến các đời xưng hùng xưng đế một phương, được sắc vàng sách phong của Trung Quốc, dựng cột đồng làm giới hạn cõi Nam có 15 đạo thừa tuyên, chia ra rào bọc các nơi, có thể gọi là một bản đồ rất rộng và bờ cõi có nhất định. Nhưng tên đất nhân cũ đổi mới trước sau có khác nhau, phong khí mỗi ngày mở mang xưa nay có biển đổi, mà sử ghi chép về địa dư không có bằng chứng hoặc còn thiếu sót, thì người muốn xem rộng biết kê cứu vào đâu để đính chính được !

    [Tôi] thường khảo : từ đời Triệu Vũ (3) trở về trước, đất Ngũ Lĩnh (4) đều là cõi đất của Việt. Đến khi Triệu đã mất nước, thì các đời sau chỉ có vùng Giao Nam, thế thì đất ở chỗ quan ải [ giáp giới hai nước ] trước sau không giống nhau. Từ Lý Trần trở về trước, châu Hoan châu Ái còn gọi là trại, đến nhà Lê dấy lên, thì hai xứ ấy mới là nơi căn bản, như thế thì cõi đất Nhật Nam cũng mở rộng dần ra. Đến như địa giới trong 4 thừa tuyên chia ra hay hợp lại, núi sống ở ngoại trấn hiểm trở hay bằng phẳng, chỗ này chỗ kia khác nhau, hình thế mọi chỗ đều nên khảo kĩ kê cứu thêm vào, rồi biên đủ và chép rõ. Nên mới lấy ở các sách cũ, tham khảo thêm ở các truyện, đầu tiên chép về bờ cõi, chia biệt ra các thừa tuyên.
    Thứ nhất nói về SỰ KHÁC NHAU VỀ BỜ CÕI QUA CÁC ĐỜI
    Thứ hai nói về SỰ KHÁC NHAU VỀ PHONG THỔ CỦA CÁC ĐẠO
    Việc xếp đặt của đời xưa đời nay đều nói rõ, các sự tích ở nơi gần, nơi xa đều ghi đủ, để cho người xem có thể mở sách mà biết được khắp.

  12. The Following 4 Users Say Thank You to ...£ü√... For This Useful Post:

    kieuphong (17-08-2009),phithiengia (19-08-2009),wiwi (20-08-2009)

  13. #7
    Tham gia ngày
    05-01-2009
    Bài gởi
    158
    Thanks
    5
    Thanked 177 Times in 88 Posts

    Default

    __________________
    (1) Chức phương : tên một chức quan đời xưa coi việc bờ cõi đất đai của một nước ( Kinh Lễ )
    (2) Chức quan từ đời Thiếu Hiệu đặt ra, coi giữ riêng về đất đai của nước ( Kinh Lễ )
    (3) Triệu Vũ : Triệu Đà, lúc chết được dâng hiệu là Triệu Vũ Đế.
    (4) Ngũ Lĩnh : theo Hán thư của Ban Cố thì khoảng đất ở giữa hai quận Giao Chỉ và Hợp Phố có năm dãy núi, nên gọi là Ngũ Lĩnh. Theo sách Nam Khang ký của Đặng Đức Minh, Ngũ Lĩnh có năm quả núi: Đài Lĩnh là quả núi thứ nhất, ở đất Đại Dũ; Kỵ Điền là quả núi thứ hai, ở đất Quế Dương; Đô Bàng là quả núi thứ ba, ở đất Cửu Chân (nay là tỉnh Thanh Hóa); Manh Chử là quả núi thứ tư, ở đất Lâm Hạ; Việt Thành là quả núi thứ năm, ở đất Thủy An.Theo Quảng Châu ký thì Đại Dũ, Thủy An, Lâm Hạ, Quế Dương, Yết Dương là Ngũ Lĩnh. Phương Dĩ Trí có nói: "Kể đến Cửu Chân thì xa quá, nên cho thuyết sau là phải hơn". Sách Lĩnh Ngoại đại đáp của Chu Khứ Phi chép rằng: "Từ nhà Tần, có vấn đề Ngũ Lĩnh, mọi thuyết đều cho là chỉ vào núi mà gọi tên cả. Bây giờ xét ra, đó là năm đường đi vào Ngũ Lĩnh, chứ không cứ phải là núi đâu: Con đường từ tỉnh Phúc Kiến qua sông Thinh, vào tỉnh Quảng Đông, sang núi Tuần Mai, là một; con đường từ tỉnh Giang Tây đi Nam An, qua núi Đại Dũ, vào Nam Hùng, là hai; con đường từ tỉnh Hồ Nam đi sang đất Thâm rồi vào đất Liên, là ba; con đường từ Đạo Châu vào Quảng Tây rồi đi huyện Lâm Hạ, là bốn; con đường từ Toàn Châu vào Tỉnh Giang, là năm.

  14. The Following 4 Users Say Thank You to ...£ü√... For This Useful Post:

    kieuphong (17-08-2009),phithiengia (19-08-2009),wiwi (20-08-2009)

  15. #8
    Tham gia ngày
    05-01-2009
    Bài gởi
    158
    Thanks
    5
    Thanked 177 Times in 88 Posts

    Default

    Bài thông luận của sử thần họ Ngô (1) : Xét lúc đầu đời Đường chia thiên hạ ra làm 15 đạo, lấy đất 9 quận của nhà Hán làm đạo Lĩnh Nam, còn đất An Nam đặt làm phủ đô hộ, đều thuộc vào đạo Lĩnh Nam thống trị. Đến năm Vũ Đức thứ 5 [622] gọi là Giao Châu. Từ đời Điều Lộ (2) trở về sau không gọi là Giao Châu nữa mà gọi là An Nam. Từ Vũ Đế Triệu Đà trở về sau, hơn 1000 năm lại thuộc về Trung Quốc.

    Tại sao những nước Lâm Ấp, Phù Nam, Chân Lạp, Ai Lao, tuy đều là những nước nhỏ mọn mà còn có quân trưởng, không đến nỗi lệ thuộc quá như nước Nam mình ?

    Vì rằng các nước ấy ở chỗ bãi biển chân núi, nhân dân tiền của đều không bõ làm mối lợi cho Trung Quốc, cho nên hễ trái mệnh lệnh thì đánh, phục tùng thì tha, lễ triều cống có hay không cũng không thèm trách. Còn nước Nam ta là nơi đô hội lớn ở phương Nam, tuộng cấy lúa tốt, đất trồng dâu tốt, núi sẵn vàng bạc, biển sẵn châu ngọc, người ở đâu đến buôn bán cũng làm giàu được cả. Cái tiếng phong phú ấy đồn đi xa, nên Trung Quốc lúc nào cũng nghĩ cách chiếm đất của nước mình, đặt ra quận huyện để cai trị đã từ lâu rồi. Lúc chưa lấy được thì nghĩ cách để lấy ; lúc đã lấy được rồi thì không chịu bỏ ra nữa. [ Ta thì ] đường đường một nước to tát, thiếu gì người anh hùng hảo kiệt, há lại thích nhắm mắt cúi đầu để cho bọn đô đốc, thứ sử sai khiến ru ? Chỉ vì nước bị nội thuộc đã lâu, chia quận đặt quan rải rác khắp các nơi, ra oai ra phúc, đén đây ai cũng phải vâng theo, cho nên một người thổ hào (3) nổi dậy thì quận thú đánh để diệt đi ; một quận thú nổi dậy thì thứ sử kết hợp lại đánh ngay. Một thứ sử nổi dậy thì Trung Quốc đem toàn lực sang đánh. Như Lý Tốn (4), Trương Thạc (5) về đời Tấn, Dương Thanh (6), Lý Mạnh Thu, Hữu Ngạn (7), Mai Thúc Loan, Vương Thăng Triều (8) về đời Đường đều như thế cả. Hai nhà Lý và nhà Triệu (9) ở nước ta đều giữ được cõi đất xưng hiệu vua đến năm sáu mươi năm là vì khi ấy đương lúc nhà Lương, nhà Trần ở Trung Quốc tạm nương náu một nơi ; Giang Tả (10) vì lắm việc, nên không để ý lắm về Giao Châu. Còn như đương lúc nhà Hán nhà Đường toàn thịnh, thì khi nào họ chịu bỏ cõi đất đã lấy được và đồ cống hiến vẫn được hưởng của họ, mà để cho ta tự lập thành một nước lớn ở ngoài đất Ngũ Lĩnh. Thế cho nên luôn luôn có lúc nổi lên, rồi lại bị diệt, chung qui bị họ khép là phản bạn. Cả trên dưới nghìn năm vẫn phải lệ thuộc vào Trung Quốc và chia làm quận huyện cũng là thế bắt buộc phải như vậy. Huống chi ý trời chưa muốn cho nước mình được bình trị, lại đổ lỗi cho tự việc người thế nào được.



    _____________________________
    (1) Nhiều đoạn thông luận này không rõ của Ngô Thì Sĩ viết hay ai viết, hiện chưa khảo được.
    (2) Niên hiệu Đường Cao Tông, dùng trong khoảng từ 679 đến 680.
    (3) Người hào trưởng ở một địa phương.
    (4) Lý Tốn : làm thái thú quận Cửu Chân. Năm 380 chiếm giữ châu chống mệnh lệnh nhà Tấn bị Đỗ Viện dẹp.
    (5) Trương Thạc : chính tên là Lương Thực làm Thái thú Tân Xương. Đời Tấn Huệ Đế, họp quân vây thứ sử Vương Lượng ở Long Biên, tự làm Thái thú Giao Chỉ. Rồi bị Đào Khản dẹp.
    (6) Dương Thanh : làm thứ sử Hoan Châu giết Lý Tượng Cổ. Sau bị Quế Trọng Vũ dẹp.
    (7) Lý Mạnh Thu, Hữu Ngạn : theo nhiều sách chép là Bỉ Ngạn ( An Nam chí nguyên, An Nam chí lược ). Có sách như Giao Chỉ di biên chép là Lý Mạnh Phong và Lý Bỉ Sầm. Thu làm tư mã chaua Diễn, Ngạn làm thứ sử châu Phong nổi lên chống nhà Đường, bị Tạ Lương Giao dẹp năm 782.
    (8) Vương Thăng Triều : làm thứ sử châu Phong, năm 828 giữ châu chống phủ Đô hộ bị Hàn Ước dẹp.
    (9) Chỉ nhà Tiền Lý và Hậu Triệu ( Triệu Việt Vương).
    (10) Tên một tỉnh ở phía đông sông Trường Giang, thuộc tỉnh Giang Tô, TQ bây giờ. Ở đây ý chỉ nhà Ngô trong thời Ngũ Đại Thập Quốc.

  16. The Following 2 Users Say Thank You to ...£ü√... For This Useful Post:

    wiwi (20-08-2009)

  17. #9
    Tham gia ngày
    05-01-2009
    Bài gởi
    158
    Thanks
    5
    Thanked 177 Times in 88 Posts

    Default

    Quân Minh sang đánh bắt được họ Hồ, đặt ra Giao Chỉ tam ty (1). Các phủ, châu, huyện thì đều theo tên cũ của nhà Trần, chỗ lị sở đều đắp thành lớn thành nhỏ, đóng quân canh giữa. Tam ty đóng ở thành Đông Quan. Ngoài ra như : Tây Đô, Nghệ An, Tân Bình, Thuận Hoá và Cổ Lộng, Tam Giang, Chí Linh, Thị Thê, Câu Diếu, thành Xương Giang, thành Khâu Ôn và Đoàn Thành, đều là chỗ quan trọng có đóng quân coi giữa. Rồi biên chép cõi đất trong nước ; từ đông sang tây 1700 dặm, từ nam đến bắc 2800 dặm.
    Thái Tổ nhà Lê mới đến Đông Đô, chia đất nước làm 4 đạo. Đến khi lấy được cả nước chia làm 5 đạo (a) ; chia các phủ, huyện, lộ, trấn thuộc vào các đạo ấy (b). Năm Quang Thuận thứ 7 [1466] Lê Thánh Tông đặt ra 12 đạo thừa tuyên là : Thanh Hoá, Nghệ An, Thuận Hoá, Thiên Trường, Nam Sách, Quốc Oai, Bắc Giang, An Bang, Hưng Hoá, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Lạng Sơn và phủ Trung Đô. Đổi lộ làm phủ, đổi trấn làm châu. Rồi sai các chức thừa tuyên xét núi sông trong chỗ mình cai quản, làm thành địa đồ. Năm thứ 10 [1469] kỉ sửu, sửa định lại bản đồ trong nước để thống thuộc các phủ huyện vào các thừa tuyên. Đến năm Hồng Đức tân mão [1471] bình được nước Chiêm, đặt ra thừa tuyên Quảng Nam, cộng là 13 đạo.
    Cuối niên hiệu Thống Nguyên đời Cung Hoàng đế [1527], Mạc Đăng Dung cướp ngôi, đóng đô ở Đông Kinh, lấy làng Cổ Trai [Hải Dương] làm Dương Kinh. Bấy giờ cả nước đều thuộc Mạc cả, nên Lê Trang Tông lên ngôi ở sách Thuý Thuần (2) do Triệu Tổ Hoàng đế (3) Nguyễn [Kim] lập nên để mưu lấy lại nước. Khi ấy, các viên tướng cũ là bọn Trịnh Duy Thuân, Vũ Văn Uyên đều sai sứ lại chầu, nhũng người hào kiệt các nơi cũng lần lượt theo giúp. Triệu Tổ đều thu dùng, sai đi đánh dẹp các xứ, thế quân càng mạnh. Rồi đánh lấy đất Ái Châu, sai sứ vượt biển sang nhà Minh báo cáo nạn nước. Khi ấy Mạc Đăng Dung xin đầu hàng nhà Minh, đang nộp hai châu Như Tíchm Thiệm Lãng ở An Quảng gồm có 4 động là : Tê Lẫm, Kim Lặc, Cổ Sâm, Liễu Cát, lại dâng biểu xin lệ thuộc vào Trung Quốc (4). Vua Minh ra lệnh thu hết các châu động đã nộp ấy ghi vào bản đồ và sổ sách Khâm Châu, đổi quốc hiệu An Nam làm An Nam đô thống sử ty.

    ___________________________
    (a) Nam, Bắc, Đông, Tây và đạo Hải Tây.
    (b) Các trấn Tam Giang, Tuyên Quang, Hưng Háo, Gia Hưng thuộc Tây đạo ; các lộ Thượng Hồng Hạ Hồng, Thượng Sách Hạ Sách và trấn An Giang thuộc Đông đạo ; các trấn và lộ như Bắc Giang, Lạng Giang, Thái Nguyên thuộc Bắc đạo ; các lộ Khoái Lỵ, Tân Hưng, Kiến Xương, Thiên Trường thuộc Nam đạo ; các lộ Thanh Hoá, Nghệ An, Tân Bình, Thuận Hoá thuộc [Hải] Tây đạo.

    (1) Tức là Bố chính ty, Án sát ty và Đô ty.
    (2) Xét Trang Tông lên ngôi ở Ai Lao, vậy sách Thuý Thuần có lẽ là đất của Ai Lao. Trong CM có chép châu Thuý Đả thuộc Thanh Hoa, chữ đảthuần khá giống nhau. Có thể bản chép tay chép nhầm.
    (3) Đây là miếu hiệu mà nhà Nguyễn về sau truy tôn cho An Thanh Hầu Nguyễn Kim.
    (4) CM chua Tê Lẫm còn có tên là Tê Phù, Kim Lặc còn có tên là Tư Lặc. Ngoài ra, CM còn cho việc này đáng ngờ :
    Sử cũ chép Mạc Đăng Dung đầu hàng nhà Minh, xin nộp các động Ti Phù, Kim Lặc, Cổ Sâm, Liễu Cát, La phù và An Lương thuộc châu Vĩnh An ở Yên Quảng cho lệ thuộc vào Khâm Châu. Nay xét Khâm Châu chí của nhà Thanh, chỉ thấy chép đời Gia Tĩnh (1522 - 1566 ), Đăng Dung nộp trả năm động Ti Phù, La Phù, Cổ Sâm, Liễu Cát và Kim Lặc mà thôi, chứ không thấy nói đến động An Lương. Lại tra cứu đến Quảng Yên sách thì động An Lương hiện nay là phố An Lương thuộc châu Vạn Ninh nước ta. Có lẽ, về động An Lương, Đăng Dung chưa từng dâng nộp, mà chỉ là do sử cũ chép sai sự thực đó chăng?
    Lại xét: Trong năm Mạc Minh Đức thứ 2, tức là năm Minh Gia Tĩnh thứ 7 (1528), Sử cũ chép
    Đăng Dung sợ nhà Minh hỏi tội, bèn tính chuyện cắt đất đem dâng hai châu Quy, Thuận; vua Minh thu nhận. Từ đó, Nam, Bắc lại cho sứ giả đi lại thông hiếu. Nhưng, nay tra cứu bản đồ nước ta thì có Quý Hóa châu và Thuận Châu. Hai châu này hiện nay thuộc tỉnh Hưng Hóa. Trong Đại Thanh nhất thống chí tuy có chép châu Quy Thuận nguyên thuộc phủ Trấn An tỉnh Quảng Tây nhà Thanh đấy thật, nhưng hai châu mà sử cũ gọi là Quy Thuận có lẽ tức là Quy Hóa và Thuận Châu đó thôi. Lại xét Minh sử thông giám kỷ sự: hồi năm Mạc Đại Chính thứ 9 (1538), Mạc Đăng Dung được tin quân Minh sang đánh, cả sợ, sai sứ xin hàng, nói dối là họ Lê không có người kế tự, cha con Đăng Dung có công với nước, được mọi người suy tôn; còn Đăng Dung sở dĩ không dâng được biểu chương, cho sứ sang tiến cống, là chỉ vì trước kia bị Trần Cung chiếm cứ Lạng Sơn làm nghẽn đường, đến sau lại bị quan giữ biên cương đóng cửa ải, không tiếp nhận. Này, từ năm Gia Tĩnh thứ 7 (1528) đến năm thứ 17 (1538), trải hàng 10 năm chưa từng có sứ đi thông hiếu, thế mà sử cũ, ở năm Gia Tĩnh thứ 7, đã vội chép rằng "Đăng Dung tính chuyện cắt đất dâng nộp hai châu Quy, Thuận, từ đó Nam, Bắc lại cho sứ giả đi lại thông hiếu ". Về việc này, những điểm sử cũ chép đó điều xa sự thực, nên nay rút bớt đi mà chép phụ vào đây để tham khảo.

  18. The Following 2 Users Say Thank You to ...£ü√... For This Useful Post:

    wiwi (20-08-2009)

  19. #10
    Tham gia ngày
    05-01-2009
    Bài gởi
    158
    Thanks
    5
    Thanked 177 Times in 88 Posts

    Default

    Truyền đến đời Mạc Phúc Nguyên, nhân dân chia lìa, giặc cướp nổi lên. Lúc ấy, quân quan nhà Lê đánh đâu được đấy, các châu Hoan, Diễn, Ô, Lý đều lần lượt dẹp yên cả. Trung Tông nhà Lê nối ngôi, thế nước ngày càng mạnh. Năm thứ 3 [1551] thái sư là Trịnh Kiểm đem quân tiến vào lấy được Đông Đô. Từ đấy một dải ven núi về mạn tây nam và những phủ như Thường [Tín], Ứng [Thiên], Lỵ [Nhân], Quốc [Oai], Quảng Oai đều tạm dẹp yên. Họ Mạc chỉ giữ được Đông Đạo và Bắc Giang hạ lộ thôi. NHưng vì chưa cố kết được lòng người nên Trịnh Kiểm lại phải trở về Thanh Hoa, thành ra hai đạo Tây Nam lại trở về là đất của Mạc. Năm thứ 4 [1552] sai tướng đánh lấy Thuận Hoá, lại lấy được cả Quảng Nam, đặt quan coi giữ hai xứ ấy. Năm thứ 5 [1553], vì cớ Tây Kinh chật hẹp, mới lập hành điện ở xã An Trường. Khi ấy, Mạc Phúc Nguyên cho là trong cõi đất của mình tạm yên, mới sai Mạc Kính Điển đem hết quân vào đánh, thái sư Trịnh Kiểm phục quân ở sông Mã phá tan được.

    Năm Chính Trị thứ 3 đời Lê Anh Tông [1560](1) thái sư Trịnh Kiểm chia quân ra một lối do các lộ Hồng, Khoái đi về phía nam đánh phá Tiên Hưng, một lối do Nam Sách đi vè phía đông đánh phá Kinh Môn lấy hết được các huyện. Họ Mạc đóng quân ở kinh thành, sai các quốc công dàn quân đóng đồn ở ngoài thành, giữ một dải sông Nhị trở về tây, từ Bạch Hạc đến Nam Xang (2), phòng giữ rất nghiêm ngặt. Mạc Phúc Nguyên dời sang huyện Thanh Đàm (3). Khi ấy, Thái Nguyên, Hưng Hoá, Tuyên Quang, Lạng Sơn đã là đất của Lê. Nhà Lê sai tướng chia quân để đóng giữ. Năm thứ 4 [1561] quân nhà Mạc vượt biển vào đánh Thanh Hoa, quân các đạo của Lê lại rút về. Các huyện miền Đông, Bắc trở xuống lại thuộc về Mạc. Năm thứ 13 [1570], Thái Tổ Hoàng đế Nguyễn [Hoàng] vào trấn giữ Thuận Hoá và Quảng Nam để mớ rộng thêm cõi đất làm rào giậu cho nhà Lê. Năm sau, Mạc lại đánh vào Thuận Hoá, Thái Tổ lập mưu chém được tướng của Mạc, quân đều thua chạy. Từ đấy về sau, Mạc không dám dòm đến Thuận, Quảng nữa ; hai trấn ấy mới yên.


    __________________________-
    (1) Bản chữ Hán chép là năm Thiên Hựu thứ 3 ; xét niên hiệu Thiên Hựu đời Lê Anh Tông chỉ có 1 năm. Vậy chúng tôi ( nhóm dịch ) theo CM chép việc Trịnh Kiểm chia quân ra đánh Mạc vào năm Chính Trị thứ ba ( cũng niên hiệu đời Anh Tông ) sửa lại cho đúng.
    (2) Nay là phủ Lý Nhân, Hà Nam.
    (3) Nay là huyện Thanh Trì, Hà Nội.

  20. The Following 2 Users Say Thank You to ...£ü√... For This Useful Post:

    wiwi (20-08-2009)

Trang 1/7 123 ... cuốicuối

Bookmarks

Quyền Sử Dụng Ở Diễn Ðàn

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •