Học lịch sử để rèn luyện tư duy phản biện

Học lịch sử để rèn luyện tư duy phản biện

Trong bối cảnh các bộ môn xã hội đang bị đánh giá thấp (vì sinh viên ra trường không kiếm được nhiều tiền), báo Los Angeles Times vừa đăng một bài về chủ đề “vì sao phải học lịch sử”. Bài viết cho rằng lịch sử là một chuyên ngành có ích để giúp hình thành tư duy phản biện. Đây là một lập luận mới, nhưng qua những gì xảy ra trên diễn đàn này thì mình thấy lập luận này cực kì hợp lý.
Bài viết dẫn chứng các sinh viên tốt nghiệp ngành Sử học ở các trường đại học Mỹ thường trở thành luật sư (phần lớn chính trị gia xuất thân từ luật sư). Những người không trở thành luật sư thường có thu nhập thấp khi bắt đầu sự nghiệp; nhưng đến khi có khoảng 10-15 năm kinh nghiệm thì sinh viên ngành Sử lại có thu nhập cao không thua gì những sinh viên tốt nghiệp ngành Quản trị Kinh doanh. Có thể so sánh với sinh viên các ngành Âm nhạc hay Nhiếp ảnh, thu nhập không bao giờ vươn lên được.
Lý do gì dẫn tới sự vươn lên này? Thời điểm 10-15 năm kinh nghiệm là lúc những người đi làm bắt đầu nắm vai trò lãnh đạo, đưa ra những quyết định quan trọng cho nơi mà mình làm việc. Những người được đào tạo bài bản về Sử học có một bộ kĩ năng mà các ngành khác ít khi có, đó là tư duy phản biện (critical thinking).
Lịch sử là bộ môn nghiên cứu một số lượng lớn dữ liệu, với mục đích hiểu được những dữ liệu đó, “đóng gói” chúng lại thành những câu chuyện, những bài học cụ thể. Những người nghiên cứu lịch sử thường xuyên phải tiếp xúc với nhiều góc nhìn khác nhau, nhiều “câu chuyện” khác nhau, nhiều khi xung khắc nhau, kể về cùng một quá khứ. Họ phải đưa quyết định là mình đồng thuận với góc nhìn nào, phản đối góc nhìn nào, hay là viết ra một câu chuyện hoàn toàn mới theo ý mình để diễn giải quá khứ.
Không chỉ vậy, người học sử còn phải xử lý những thông tin bị thiếu. Các chứng cứ để lại từ quá khứ là không đầy đủ, cho nên khi nghiên cứu một vấn đề cụ thể thì người học sử thường xuyên phải đối chiếu, sử dụng logic để phỏng đoán, đồng thời phản biện những phỏng đoán của người khác, với mục tiêu đạt tới một hiểu biết đúng và có ích nhất có thể. Những người nghiên cứu cũng thường xuyên “đồng ý về những bất đồng”, tức là phân định rõ ràng ra những điều nào đã đồng thuận với nhau không ai chối cãi, những điều nào còn đang nằm trong vòng tranh luận.
Những kĩ năng kể trên đều cực kì quan trọng trong quá trình ra quyết định của người lãnh đạo. Mỗi tổ chức, tập đoàn, hay chính phủ đều cần ít nhất một sử gia trong đội ngũ của mình. Và bộ môn Sử cần được dạy cho đúng cách, chứ vấn đề không nằm ở chỗ học nhiều hơn hay ít đi.
Chế độ cai trị của thực dân Pháp ở 3 miền

Chế độ cai trị của thực dân Pháp ở 3 miền

Có bạn nhắn tin hỏi về sự khác biệt trong chế độ cai trị của thực dân Pháp ở 3 miền. Thường thì ad không trả lời những câu hỏi mang tính “đối phó” với môn Sử trong lớp :v, tuy nhiên chủ đề này có vẻ ít người biết cho nên mình viết luôn thành một bài.

Pháp có được Nam Kỳ từ rất sớm, sau khi vua Tự Đức kí hòa ước Nhâm Tuất (1862) nhượng lại 3 tỉnh miền Đông, rồi Pháp chiếm nốt 3 tỉnh miền Tây vào năm 1867. Người Pháp thiết lập chế độ cai trị trực tiếp, các quận huyện đều do sĩ quan người Pháp đứng đầu.

Tận 28 năm sau, khi xảy ra chiến tranh Pháp-Thanh (1885) và trận Kinh thành Huế, thì Pháp mới thực sự kiểm soát Trung Kỳ và Bắc Kỳ. Pháp thiết lập chế độ bảo hộ, tức là nhà Nguyễn vẫn kiểm soát 2 xứ này trên danh nghĩa, các quan lại vẫn là người Việt và vẫn do nhà vua tuyển chọn, chỉ khác là nhà vua được quan Toàn quyền “cố vấn”. Vua Nguyễn cũng không trực tiếp điều hành Bắc Kỳ, mà giao lại công việc cho một đại diện của mình gọi là Kinh lược sứ.

Năm 1897, Pháp buộc vua Đồng Khánh phải bãi bỏ chức Kinh lược sứ. Kể từ đó vua Nguyễn không còn quyền hành gì ở Bắc Kỳ, các quan lại trên danh nghĩa vẫn thuộc về nhà Nguyễn nhưng do Toàn quyền Pháp trực tiếp lựa chọn.

Tóm lại:
– Nam Kỳ: Pháp cai trị trực tiếp
– Trung Kỳ: cai trị gián tiếp thông qua triều đình Nguyễn
– Bắc Kỳ: cai trị gián tiếp trên danh nghĩa, nhưng cai trị trực tiếp trên thực tế.

Pháp đổ bộ vào Đà Nẵng

Pháp đổ bộ vào Đà Nẵng

Đà Nẵng là nơi có hải cảng sâu và rộng, cắt đôi đất nước, lại khá gần kinh thành Huế. Hoàng đế Napoleon III cho rằng có thể dễ dàng đánh bại nhà Nguyễn, cho nên cử 3000 lính cùng 14 tàu chiến đổ bộ vào đây. Ngoài ra còn có 500 quân Tây Ban Nha hỗ trợ.

Ngày 1/9, tàu chiến Pháp bắn hàng trăm phát đạn vào bán đảo Sơn Trà, ngày 2/9 bắt đầu đổ bộ. Người Pháp bắn sập 2 đồn, chiếm được 2 đồn khác của quân nhà Nguyễn. Hữu quân Lê Đình Lý mang 2000 quân vào ứng cứu, nhưng bị tử thương trong một trận đánh ở xã Cẩm Lệ.

Trước tình hình đó, Nguyễn Tri Phương từ Nam Kỳ ra thống lĩnh quân phòng thủ. Ông thực hiện “vườn không nhà trống”, đắp lũy kéo dài, cô lập quân Pháp ngoài mé biển. Cách đánh của Nguyễn Tri Phương thụ động nhưng chu đáo, quân Pháp kẹt suốt 5 tháng không tiến được.

Tướng Pháp viết thư về chính quốc nói “Chính phủ bị đánh lừa về bản chất của cuộc đi đánh lấy Cochinchina; người ta trình bày rằng việc viễn chinh này chỉ là một việc dễ dàng thôi, nho nhỏ thôi; thực ra, nó không dễ, cũng không nhỏ…Người ta báo cáo rằng quân đội Việt không có gì, sự thật thì quân chính quy rất đông, còn dân quân…thì không đau ốm và không tàn tật…Trên bộ thì không hành quân lớn được, dù là chỉ hành quân ngăn ngắn mà thôi; binh lính không chịu đựng nổi…”

Sau thời gian dài bị cầm chân, quân Pháp quay lên tàu và tiến vào Gia Định. Mất thêm 4 năm chiến tranh nữa Pháp mới đánh thắng và buộc nhà Nguyễn nhượng lại 3 tỉnh miền Đông.

Kì 1: Thiết Mộc Chân thống nhất Mông Cổ

Kì 1: Thiết Mộc Chân thống nhất Mông Cổ

13558906_1453612751322913_2327542464863856837_o

Vào cuối thế kỷ 12, các bộ lạc du mục ở khu vực thảo nguyên Trung Á, phía bắc Trung Quốc bước vào giai đoạn hình thành một quốc gia thống nhất. Thời kỳ này người Mông Cổ có các liên minh bộ lạc lớn là Khiết Liệt, Mông Cổ, Nãi Man, Thát Đát … Do sự chia rẽ về lợi ích và chịu ảnh hưởng chính sách chia để trị của đế quốc Kim, các bộ lạc Mông Cổ vẫn thường xuyên đánh lẫn nhau.

Bấy giờ, một nhân vật kiệt xuất của người Mông Cổ nổi lên, đó là Thiết Mộc Chân (Temujin), thuộc bộ lạc Khất Nhan. Người này từng bước lập nên một liên minh lớn, tung quân đánh dẹp các bộ lạc thù địch, thống nhất được Mông Cổ. Năm 1206, hội nghị các quý tộc Mông Cổ đã tôn xưng Thiết Mộc Chân làm Thành Cát Tư Hãn ( Genghis Khan ), nghĩa là Vua của thiên hạ. Từ đây, Mông Cổ liên tục có những chiến dịch xâm lược quy mô lớn trên khắp các hướng. Tiến độ bành trướng của đế quốc Mông Cổ là chưa từng thấy trong lịch sử. Ban đầu, Mông Cổ thu phục nhanh chóng các bộ tộc lân cận người Khiết Đan, Đột Quyết. Sau đó lần lượt các đế chế hùng mạnh hàng đầu xung quanh bị đánh bại.

Năm 1206 Thành Cát Tư Hãn dẫn quân xâm lược nước Tây Hạ. Đến năm 1227 thì Tây Hạ vong quốc.

Năm 1219 quốc gia bá chủ Trung Á là Hoa Thích Tử Mô (Khwarezm) có xung đột với Mông Cổ. Thành Cát Tư Hãn dẫn quân tàn phá nước này. Đến năm 1221 thì hầu hết lãnh thổ nước này đã bị Mông Cổ chiếm.

Năm 1211 Mông Cổ tấn công đế quốc Kim, quốc gia của người Nữ Chân lập nên đang thống trị vùng Hoa Bắc. Đến năm 1215 thì chiếm được Trung Đô nước Kim. Nước Kim liên tiếp phải dời đô trốn tránh. Mông Cổ kết liên minh với Nam Tống cùng hội quân diệt Kim. Đến năm 1234 thì nước Kim hoàn toàn bị Mông Cổ thôn tính.

Trong khoảng thời gian từ 1229 đến 1242, một nhánh quân Mông Cổ do cháu nội của Thành Cát Tư Hãn là Bạt Đô (Batu) chỉ huy tiến quân về hướng tây bắc, tàn phá Đông Âu và Trung Âu. Quân Mông Cổ chiếm thành Moscow, tiêu diệt nước Nga Kiev (Kiev Rus), đánh bại quân Ba Lan, Hungari, Áo… Cả Châu Âu kinh hoàng trước sức mạnh quân Mông Cổ. Ở Đức xuất hiện bài cầu nguyện “Chúa cứu vớt chúng con khỏi sự cuồng bạo của Tatar”.

Quân Mông Cổ thời kỳ này đa phần là những kỵ binh cực kỳ tinh nhuệ và tàn bạo. Người Mông Cổ vốn là dân du mục lớn lên trên lưng ngựa, từ nhỏ đã tập tành cưỡi ngựa bắn cung và các kỹ thuật chiến đấu trên ngựa. Những trang bị vượt trội của quân Mông Cổ là cung tên bắn xa và mạnh, áo giáp độn da thú nhẹ và bền chắc, loan đao và gươm, giáo … Mỗi người lính Mông Cổ được trang bị đến bốn ngựa thay phiên nhau. Ngựa Mông Cổ dai sức, chạy nhanh, thích nghi được nhiều điều kiện thời tiết là thứ lợi khí quan trọng của người Mông Cổ. Khi tấn công vào vùng Trung Đông, người Mông Cổ tiếp thu kỹ thuật hỏa pháo và máy bắn đá loại Trebuchet. Những vũ khí này dùng để công phá thành trì cực kỳ lợi hại. Sau những cuộc chiến với người Châu Âu, người Mông Cổ bắt đầu xây dựng những đội Thiết kỵ binh với trang bị áo giáp hạng nặng bằng kim loại cho cả người và ngựa. Chúng ta thấy rằng, quân đội Mông Cổ không chỉ thiện chiến và trang bị tốt, mà còn biết tích cực tiếp thu kỹ thuật quân sự của những nền văn minh khác. Ngoài việc tiếp thu kỹ thuật, đế quốc Mông Cổ còn biết tận dụng nhân lực của những quốc gia bị thôn tính để bổ sung quân số. Do đó quân đội của đế quốc Mông Cổ vừa có chất lượng vừa đảm bảo số lượng.