Dân chủ và cộng hòa

Dân chủ và cộng hòa

Nền dân chủ Athen

bạn thắc mắc về sự khác nhau giữa 2 khái niệm “dân chủ” và “cộng hòa”. Trong thời hiện nay thì hai khái niệm này thường bị trộn lẫn, đặc biệt là bởi nền chính trị “2 đảng như 1” của Mỹ, tuy nhiên trong quá khứ từng có sự phân biệt rõ nét giữa hai khái niệm này. Chúng ta sẽ bàn về hai nền chính trị thời cổ đại tiêu biểu cho mỗi khái niệm: nền dân chủ Athen và nền cộng hòa La Mã.

Trong suốt lịch sử loài người, từ khi nhà nước đầu tiên tồn tại cho đến tận vài trăm năm gần đây, cách tổ chức nhà nước phổ biến đó là quyền lực tập trung trong tay một cá nhân duy nhất (nhà vua). Trong một số trường hợp hiếm hoi không có vua, loài người đã thử nghiệm rất nhiều mô hình khác nhau để một nhóm đông người, với những nhu cầu khác nhau và niềm tin khác nhau và cách suy nghĩ khác nhau, có thể đưa ra một quyết định chung. Chúng ta thường nghĩ muốn ra quyết định chỉ cần “họp lại và bỏ phiếu”, nhưng lịch sử chứng minh việc đó không hề đơn giản.

Hãy nói về Athen, nhà nước dân chủ đầu tiên được ghi chép trong lịch sử. Buổi đầu, Athen cũng có vua. Những vị vua cổ của thành bang Athen lãnh đạo đến hết đời, sau đó chọn một người xứng đáng để thay thế mình. Mô hình này khá giống với truyền thuyết Tam hoàng Ngũ đế của Trung Hoa, thời mà vua Nghiêu vua Thuấn không truyền ngôi cho con mà chọn người kế vị theo năng lực. Tuy nhiên sau đó Athen phát triển theo một hướng khác so với Trung Hoa: xung đột giữa nhà vua với tầng lớp dưới nổ ra, nhà vua bị lật đổ và nền dân chủ hình thành.

Vì sao Athen lại phát triển theo hướng riêng biệt này? Đây là một câu hỏi khó trả lời, nhưng nếu đưa ra một dự đoán, thì nguyên nhân là phương thức lao động. Ở Trung Quốc hay Ai Cập, người dân làm nông là chủ yếu, họ cần tập họp dưới một nhà lãnh đạo mạnh mẽ để làm thủy lợi và chống ngoại xâm. Trong khi đó ở Hi Lạp thiên nhiên khá ôn hòa và biển Địa Trung Hải thuận lợi cho thương mại, khiến cho người Hi Lạp không cần thống nhất thành một nước lớn mà tổ chức thành những thành bang độc lập, và trong một số thành bang người ta cũng cảm thấy không cần đến sự hà khắc của nhà vua. Điều này sẽ lặp lại vào thời Phục hưng, những thành phố thương mại ven bờ Địa Trung Hải (Venice, Genoa …) là những nơi đầu tiên thoát khỏi chế độ quân chủ.

Và như vậy nền dân chủ đầu tiên hình thành, với một mô hình “tam quyền phân lập” sơ khai. Mỗi năm các công dân thành phố Athen họp lại với nhau khoảng 40 lần (lập pháp), mỗi lần yêu cầu ít nhất 6000 người tham dự, để bầu ra các chức vụ trong thành phố: người thu thuế, người lo việc cúng tế, người lãnh đạo quân đội … (hành pháp). Các công dân cũng phải luân phiên nhau làm nghĩa vụ tư pháp: hàng ngày người dân Athen họp nhau thành những phiên tòa có tới hàng trăm bồi thẩm, và họ sẽ bỏ phiếu để xử lý những vụ kiện tụng. Thời Athen được gọi là “nền dân chủ trực tiếp”, tất cả công dân có thể trực tiếp quyết định mọi vấn đề lớn nhỏ thông qua bỏ phiếu tại chỗ, quyền lực thực sự nằm trong tay số đông (trong số những người được xem là công dân).


Khủng hoảng của nền dân chủ Athen và cái chết của Socrates

 

Thể chế dân chủ xảy ra trùng với thời kì hoàng kim của thành bang Athen. Họ lãnh đạo các thành phố khác của Hy Lạp giành thắng lợi trong cuộc chiến với Ba Tư, rồi trở thành một đế quốc hùng mạnh.

Từ góc nhìn của người ngày nay, nền dân chủ Athen có nhiều hạn chế. Nô lệ, phụ nữ và kiều dân hoàn toàn không được hoạt động chính trị, khiến cho tỉ lệ dân số thực tế tham gia vào nền dân chủ chỉ khoảng 10 – 20%. Người dân Athen cũng thường xuyên đi xâm lược và thống trị nơi khác. Trong lần xâm lược quần đảo Melos, khi người dân bản địa hỏi rằng vì sao họ không phải kẻ thù mà vẫn bị tấn công bắt làm nô lệ, người Athen đã trả lời rằng:”Kẻ mạnh làm những gì anh ta có thể, và kẻ yếu chịu đựng những gì anh ta bị buộc phải” (dịch nghĩa: anh mạnh anh có quyền).

Đó là góc nhìn của thời nay, nhưng những người sống ở thời điểm đó có góc nhìn ngược lại. Socrates là một triết gia nổi tiếng, sống giữa thời hoàng kim của nền dân chủ Athen. Giống như rất nhiều triết gia từng sống, ông thường hay chỉ trích sự thiển cận và dốt nát của đám đông, đặc biệt là khi họ nắm quyền chính trị trong tay. Ông cũng chỉ trích những suy nghĩ theo cảm tính, sự thiếu logic và sự xuống cấp đạo đức của dân chúng. Vì thế ông không được người dân Athen yêu mến. Socrates thường bày tỏ cảm tình với Sparta, lúc đó là “kẻ thù ý thức hệ” của Athen. Nhà nước Sparta được điều hành bởi 30 trưởng lão và 2 vua, giữ được quyền lực trong tay giới quý tộc nhưng cũng bảo đảm không có bạo chúa, là một đối thủ nguy hiểm của chế độ dân chủ Athen.

Cuộc chiến tranh 30 năm giữa Sparta với Athen, kết thúc với việc Athen đầu hàng năm 404 TCN, dẫn tới một thời kì bất ổn. Một nhóm cực đoan có tên “30 bạo chúa” tiến hành đảo chính với hi vọng lập ra một nhà nước theo kiểu Sparta. Họ nắm quyền một thời gian ngắn, xử tử nhiều người, nhưng nhanh chóng bị lật đổ. Một số trong nhóm “30 bạo chúa” từng là học trò của Socrates. Giận dữ trước những bất ổn của xã hội, cho rằng thần linh đang trừng phạt thành phố Athen, đám đông dân chúng đòi mang Socrates ra xét xử.

Trong phiên tòa diễn ra vào năm 399 TCN, bồi thẩm đoàn 500 người của thành phố Athen kết án triết gia Socrates, lúc đó đã 70 tuổi, vào tội báng bổ thần linh, và xử ông phải uống thuốc độc. Nếu Socrates nhận tội thì có thể được tha mạng và chỉ phải sống lưu vong, nhưng ông thà chết chứ không thể thừa nhận một điều mà ông biết là sai. Socrates được xem là “thánh tử đạo” đầu tiên bảo vệ cho tự do tri thức.

1402985_1027040820646777_3988484319467512923_o

Bức họa “Cái chết của Socrates”, miêu tả thời khắc Socrates cầm lấy ly thuốc độc, xung quanh là các học trò của ông.


Plato, học trò nổi tiếng nhất của Socrates, vì thế trở thành kẻ thù của nền dân chủ Athen. Trong tác phẩm “Nền cộng hòa”, Plato cho rằng chế độ dân chủ kiểu Athen nếu đặt quyền lực vào tay số đông sẽ dẫn đến luật pháp bị vi phạm, xã hội hỗn loạn, và đến một mức độ nào đó một bạo chúa sẽ xuất hiện để lập lại trật tự.

Plato cho rằng một xã hội ổn định cần được lãnh đạo bởi một nhóm hạn chế của những người có tri thức. Và như vậy, xuất hiện khái niệm “cộng hòa” và sự đối lập của nó với khái niệm “dân chủ”.

 

Nền cộng hòa La Mã

Người La Mã (Roman) không tự gọi nhà nước của mình là “cộng hòa”. Họ ghi trên lá cờ của mình: “Viện Nguyên Lão và Nhân dân thành Rome” (Senātus Populusque Rōmānus, viết tắt là SPQR). Sở dĩ ngày nay chúng ta xem đó là thể chế cộng hòa, bởi vì nó mang đặc điểm: các chính sách được quyết định bởi một nhóm nhỏ các đại biểu (Viện Nguyên Lão) chứ không phải được số đông bỏ phiếu trực tiếp.

Viện Nguyên Lão có nguồn gốc là hội đồng 300 cố vấn của các vua La Mã cổ. Năm 509 TCN, Viện Nguyên lão xung đột với nhà vua, một cuộc chiến nổ ra, và từ đó họ không bầu chọn vua cho La Mã nữa mà chọn ra các quan chức làm việc theo nhiệm kì.

1795902_1028212573862935_6780477047038841858_o

Cộng hòa La Mã hoạt động dựa trên luật pháp. Những đạo luật mà Viện Nguyên Lão thông qua được khắc lên bia đá, và mọi người đều bình đẳng trước luật pháp. Khi chinh phục các thành phố khác, người La Mã cho phép những người bị chinh phục trở thành công dân của mình. Nhờ vậy trong vòng 300 năm La Mã từ một thành phố đã mở rộng lãnh thổ ra toàn bộ bán đảo Italia.

Vấn nạn của thể chế cộng hòa đó là quyền lực chỉ thuộc về những người giàu có. Chỉ có tầng lớp quý tộc (“patrician” – những người xuất thân từ những gia đình giàu có) mới được tham gia vào Viện Nguyên Lão. Qua thời gian, tầng lớp bình dân (“plebeian”) dần dần trở thành một lực lượng chính trị riêng. Họ thành lập “Hội đồng Thứ dân” (Plebeian Council) để cạnh tranh quyền lực với Viện Nguyên Lão và bầu ra những quan chức đại diện cho mình. Tuy nhiên thực tế phần lớn tài sản thuộc về giới quý tộc, cho phép họ mua chuộc các đại diện của giới bình dân, cũng như sử dụng vũ lực để giành lại quyền lực khi cần thiết.

Nhìn chung, nền chính trị của Cộng hòa La Mã tương đối ổn định, có khả năng liên tục cải cách để thích ứng, và tồn tại khá lâu. Tuy nhiên các mâu thuẫn dần tích tụ. Khoảng 400 năm liên tục mở rộng lãnh thổ, đàn áp khởi nghĩa nô lệ … giới bình dân phải phục vụ cho quân đội trong những chiến dịch quân sự ngày càng kéo dài, đất đai bị bỏ hoang. Tầng lớp quý tộc thu gom đất đai, và sau khi thắng trận thì các quý tộc lại trở thành thống đốc của những vùng đất mới chiếm được. Điều này khiến giới bình dân ngày càng bần cùng và trở nên triệt để trong chính trị. Sự phân hóa này dẫn tới 2 cuộc nội chiến năm 88 và 83 TCN, giới bình dân tạm thời kiểm soát được Rome, nhưng cuộc nổi loạn bị dập tắt bởi Sulla – nhà độc tài của giới quý tộc.

Giới bình dân bị bần cùng hóa dẫn tới chính quyền được quân sự hóa. Để phục vụ cho những cuộc chiến dài ngày, cải cách quân đội được tiến hành năm 107 TCN. Quân đội không còn sử dụng các nông dân đi lính ngắn hạn, mà tuyển mộ các quân nhân chuyên nghiệp phục vụ suốt đời được nhà nước trả lương. Những nông dân mất ruộng đất liền gia nhập quân đội, và quân đội hùng mạnh lại chiếm được thêm nhiều đất đai. Giới bình dân chán ghét Viện Nguyên Lão nhưng không đủ sức tự nắm quyền, còn quân đội chuyên nghiệp chỉ trung thành với người nào trả lương cho mình; tất cả đã sẵn sàng cho sự kết thúc của nền cộng hòa.

Julius Caesar là người tận dụng được những yếu tố kể trên. Ông chiếm được nhiều đất đai ở nước ngoài, có được lòng trung thành tuyệt đối của binh lính. Sau đó ông hành quân về chiếm thành Rome, ép buộc Viện Nguyên Lão tăng số đại biểu lên 900 người để cho giới bình dân tham gia. Caesar được quân đội và dân chúng tôn thờ, nhân đó ông thu gom hết quyền hành về trong tay mình. Caesar bị Viện Nguyên Lão ám sát, nhưng người cháu là Octavian hoàn thành sự nghiệp của ông, trở thành Hoàng đế đầu tiên của La Mã. Thể chế cộng hòa cổ đại vì thế kết thúc, và phải mất 1000 năm các nhà nước cộng hòa mới xuất hiện trở lại.

Trận Đông Khê (16/9-20/9/1950)

Trận Đông Khê (16/9-20/9/1950)

Năm 1950, cuộc chiến tranh Đông Dương đã kéo dài 4 năm. Quân đội viễn chinh Pháp không thể tiêu diệt được lực lượng Việt Minh ở vùng rừng núi Việt Bắc. Trong khi Việt Minh đang xây dựng các Đại đoàn để thực hiện những cú đấm lớn, thì Pháp cũng xây dựng các binh đoàn cơ động để thực hiện các chiến dịch bình định.

Để lấy lại thế chủ động, Pháp xây dựng một hệ thống phòng ngự kéo dài suốt dọc đường số 4 để kiểm soát biên giới Việt – Trung. Các vị trí phòng ngự Cao Bằng, Đông Khê, Thất Khê, Na Sầm, Đồng Đăng có công sự kiên cố để trú đóng lâu dài, đồng thời có các lực lượng cơ động sẵn sàng ứng cứu khi cần thiết.

Phía Việt Minh quyết tâm đánh bại chiến lược này. Trên toàn tuyến phòng ngự, Đông Khê và Thất Khê là nơi có ít quân đồng trú nhất. Cao Bằng là nơi có lực lượng mạnh nhưng sẽ bị cô lập nếu Đông Khê và Thất Khê bị mất. Lạng Sơn là nơi có lực lượng cơ động trú đóng, quân tiếp viện chắc chắn sẽ từ hướng đó đi lên. Việt Minh thực hiện “công đồn đả viện”, tiêu diệt Đông Khê rồi phục kích các cánh quân Pháp lên chi viện.

Tướng Hoàng Văn Thái sử dụng 2 trung đoàn có cối và DKZ hỗ trợ để tấn công Đông Khê, với một trung đoàn nữa làm dự bị. Quân Pháp có hệ thống công sự mạnh chống trả ác liệt, trận chiến diễn ra suốt 4 ngày. Đại đội trưởng Trần Cừ lấy thân mình lấp lỗ châu mai, tiểu đội trưởng La Văn Cầu nhờ đồng đội chặt cánh tay bị thương để tiếp tục lao lên đánh bộc phá. Đến ngày thứ 4 cứ điểm hoàn toàn thất thủ. Trong tổng số 350 quân Pháp chỉ có 20 người chạy thoát.

Đây là lân đầu tiên Quân đội Nhân dân Việt Nam áp dụng thành công chiến thuật công kiên có hiệu quả ở cấp trung đoàn. Thắng lợi của trận Đông Khê đã tạo điều kiện quan trọng cho chiến dịch, đồng thời mở ra một giai đoạn chiến đấu mới: chuyển từ cách đánh du kích sang đánh chính quy.

Ảo giác về số đông

Ảo giác về số đông

Vì sao khi tham gia mạng xã hội, chúng ta có cảm giác những quan điểm cực đoan là tràn lan, trong khi trên thực tế số lượng người cực đoan chỉ là số ít?

Học viện Khoa học Thông tin Hoa Kỳ đã thực hiện một nghiên cứu mang tên “Ảo giác về số đông trên mạng xã hội”. Nghiên cứu này giải thích vì sao những ý kiến cực đoan, dù chỉ thuộc về một số người, lại có thể lan tràn rất nhanh, tạo cho chúng ta ảo giác “trên mạng ai cũng nguy hiểm”.

Có một nghịch lý trên mạng xã hội: “Bạn bè của bạn luôn có nhiều bạn bè hơn bạn“. Diễn giải ra là, trên mạng xã hội chỉ có một số ít người kiểm soát rất nhiều mối liên kết, giống như trung tâm của một mạng lưới. Phần lớn mọi người khác nằm ở rìa mạng lưới. Nếu như những người mang tư tưởng cực đoan kiểm soát được những điểm trung tâm, họ sẽ tạo ra ảo giác rằng họ là số đông.

Trong ảnh bên dưới là 2 mô hình về các mối liên kết. Tạm gọi những vòng tròn màu đỏ là những người mang ý kiến cực đoan, những vòng tròn trắng là những người “bình thường”. Mỗi đường nối thể hiện một liên kết “bạn bè”.

majority-illussion

Trong trường hợp bên trái, dù chỉ có 3 người cực đoan, nhưng họ tích cực kết bạn với mọi người khác. Mỗi vòng tròn trắng nhìn thấy một nửa số “bạn bè” của mình là người cực đoan. Các vòng tròn trắng tưởng rằng quan điểm cực đoan là phổ biến, khiến cho họ mất niềm tin vào xã hội, hoặc dễ chấp nhận quan điểm cực đoan hơn.

Ngược lại, nếu những vòng tròn đỏ bị cô lập như mô hình bên phải, thì khả năng gây ảnh hưởng của họ rất thấp. 2 mô hình được đặt cạnh nhau để minh họa cho việc các mối liên kết trên mạng có thể dễ dàng thay đổi góc nhìn của chúng ta về xã hội như thế nào.

majority_illusion_blue_guy_world-pptx

Những người mang những tư tưởng hận thù, cực đoan thường rất tích cực lợi dụng mạng xã hội, tìm cách gầy dựng mạng lưới quan hệ nhiều hơn hẳn những người bình thường. Vì thế “ảo giác về số đông” diễn ra hàng ngày, khiến cho môi trường Internet tưởng như là một bãi chiến trường bất tận giữa những luồng ý kiến trái chiều nhau không bao giờ dung hòa được.

Nguồn: http://journals.plos.org/plosone/article?id=10.1371/journal.pone.0147617#abstract0

Nội chiến Mỹ – Trận Antietam

Nội chiến Mỹ – Trận Antietam

Là trận đánh đẫm máu nhất và cũng là khúc quanh của cuộc Nội chiến Mỹ. Trong 2 năm đầu tiên quân đội miền Bắc dù đông hơn nhưng chịu thất bại liên tiếp. Tướng miền Nam là Robert Lee chỉ huy Quân đoàn Bắc Virginia khét tiếng, đánh bại 3 chiến dịch tấn công của phía Bắc, rồi phản công đến gần thủ đô Washington. Nếu quân đội miền Bắc thua trận một lần nữa và để mất thủ290px-mcclellanlee đô, nhiều khả năng là chiến tranh sẽ kết thúc và nước Mỹ bị chia cắt lâu dài.

May mắn cho phía Bắc đó là trước ngày xảy ra trận chiến thì họ bắt được kế hoạch hành quân của tướng Lee. Tướng miền Bắc là McClellan, chỉ huy Quân đoàn Potomac, quyết định tập trung một lực lượng lớn và tấn công khi mà đối phương còn đang hành quân chưa kịp tập trung lại với nhau.

Mở màn trận đánh, phía miền Nam chỉ có 18000 quân, nhưng có vị trí phòng thủ tốt và tinh thần chiến đấu cao. Tướng McClellan tung 70000 quân tấn công từ 5g sáng đến tận 6g chiều. Trong lúc trận đánh diễn ra thì các đơn vị miền Nam liên tục kéo tới chi viện. Quân đội 2 bên đánh nhau suốt 12 tiếng đồng hồ trên một mặt trận dài 7 km. Đến cuối ngày không bên nào chiến thắng, nhưng cả 2 phía đều chịu thương vong gần 30%.

Khoảng 3g chiều, phòng tuyến của phía miền Nam bắt đầu suy yếu. Tướng McClellan muốn tung sư đoàn dự bị vào để chọc thủng chính diện và cắt đôi quân đoàn Virginia. Một sĩ quan nhắc nhở “Thưa ngài, đó là sư đoàn dự bị cuối cùng của quân đoàn cuối cùng của nền cộng hoà”. McClellan nghe vậy đành huỷ lệnh tấn công, để dành lực lượng này cho trường hợp nào thực sự khẩn cấp. Các sử gia cho rằng quyết định chết nhát này của tướng McClellan đã bỏ lỡ cơ hội đập tan Quân đoàn Virginia, làm cho chiến tranh kéo dài thêm khoảng 1 năm. Cuối ngày, phía miền Nam thiệt hại nặng nhưng vẫn giữ được phòng tuyến.

Đây được coi là ngày đẫm máu nhất của cuộc Nội chiến Mỹ, và là một trận hòa về mặt chiến thuật nhưng chiến thắng về mặt chiến lược cho phía miền Bắc. Phía miền Bắc có nền tảng công nghiệp mạnh và dân số đông hơn, dễ dàng thay thế những mất mát. Ngược lại, quân đoàn Bắc Virginia của tướng Lee chịu những thiệt hại không thể bù đắp được. Tướng Lee phải dừng chiếm dịch tấn công Washington và rút về Virginia.

14068320_1509286459088875_870641964071410201_n+

Ảnh: Dân Mỹ chơi trò đánh trận giả, tái hiện trận Antietam.

Nhà thiên văn học lỗi lạc ĐẶNG LỘ – Ông tổ của nền thiên văn Việt Nam

Nhà thiên văn học lỗi lạc ĐẶNG LỘ – Ông tổ của nền thiên văn Việt Nam

Trong lịch sử Việt Nam, tuy có rất nhiều danh nhân nhưng phần lớn là trong các lĩnh vực chính trị, quân sự và khoa học xã hội. Đặng Lộ xuất hiện trong sử Việt như một ngôi sao sáng về khoa học tự nhiên.

Nhà thiên văn học Đặng Lộ sống vào thế kỷ 14 dười triều nhà Trần. Ông quê ở làng Mạc Xá, huyện Chương Đức, lộ Ứng Thiên ( thuộc Chương Mỹ, Hà Nội ngày nay ). Đặng Lộ làm quan trải ba triều vua Trần Minh Tông, Trần Hiến Tông, Trần Dụ Tông.Thuở nhỏ Đặng Lộ có sở thích ngắm trăng sao và mặt trời, đến nổi bị đau mắt nặng vì ngắm mặt trời.

Lớn lên, Đặng Lộ được học ở Quốc tử giám và thi đậu Thái học sinh, được phong làm Liêm phòng sứ hai lộ Đại Hoàng, An Tiêm ( vùng Hà Nam, Nam Định ngày nay ). Sang thời Trần Hiến Tông, tài năng thiên văn của Đặng Lộ được vua và triều thần phát hiện nên ông được phong làm Hậu Nghi lang thái sử cục lệnh, đứng đầu đài Hậu Nghi, thuộc Khâm Thiên giám là cơ quan chuyên trách về thiên văn thời Trần.

Trong thời gian này, Đặng Lộ đã phát minh ra một loại máy dùng quan sát, đo đếm thiên tượng gọi là Lung Linh Nghi. Đây là phát minh quan trọng bậc nhất về lĩnh vực thiên văn của nước ta. Đại Việt Sử Ký Toàn Thư đánh giá : ” Lung linh nghi khảo nghiệm thiên tượng, không việc gì là không đúng”.

Với vốn kiến thức tích lũy và qua nghiên cứu từ Lung linh nghi, Đặng Lộ đã biên soạn một bộ lịch pháp mới gọi là Hiệp Kỷ Lịch và dâng lên vua Trần Hiến Tông. Bộ lịch này đã được dùng để thay thế Lịch Thụ Thời, là thứ lịch mà nước ta đã dùng dựa trên lịch của nhà Tống. Thời thượng cổ, nước ta vốn dĩ đã có lịch pháp cho riêng mình nhưng đã bị thất truyền. Sau thời Bắc thuộc, đành tạm dùng lịch của Trung Quốc. Tuy nhiên khí hậu nam bắc vốn khác biệt và bản thân lịch pháp Trung Quốc thời kỳ này cũng đã có nhiều bất cập nên dẫn đến lịch không khớp với chu kỳ thời tiết, gây khó khăn cho sản xuất nông nghiệp. Việc áp dụng lịch Hiệp kỷ, một thứ lịch mới chính xác hơn là bước tiến lớn về văn minh của Đại Việt, giúp cho sản xuất nông nghiệp được thuận lợi hơn. Công lao này của Đặng Lộ rất lớn.

Về sau, dựa vào các nghiên cứu này mà Trần Nguyên Đán viết sách Bách thế thông khảo, ghi rõ những sự kiện thiên văn trải dài nhiều thế kỷ đến tận thế kỷ 14. Đáng tiếc là thời nhà Hồ mất nước, các sách vở của Đặng Lộ và Trần Nguyên Đán đều bị giặc Minh cướp phá hoặc hủy hoại, công trình của họ bị thất truyền. Sang đến thời nhà Nguyễn, Khâm Thiên giám nhà Nguyễn mới soạn lại được Hiệp kỷ lịch, dựa trên sự tham khảo lịch pháp nhà Thanh.

Nguồn : FB Văn Hóa Lịch Sử