Abraham – Ông tổ của các đạo Chúa

Abraham – Ông tổ của các đạo Chúa

Các đạo thờ Chúa gồm đạo Do Thái, đạo Kitô và đạo Hồi đều có chung một ông tổ là Abraham. Abraham là người Do Thái, sinh trưởng tại thành phố Ur thuộc đế quốc Babylon, (hiện nay thuộc phía nam Iraq, gần giáp Kuwait) vào thế kỷ 20 trước công nguyên.

Theo các nhà khảo cổ thì, hiện tại vùng Lưỡng Hà Châu (Mesopotamia) là vùng đồng bằng được cấu tạo bởi hai con sông lớn Tigris và Euphrate, giống người Sumerians đã lập nên một nền văn minh quan trọng của thế giới cổ. Họ là những người đầu tiên xây cất những thành phố lớn, thời cổ gọi là những quốc gia đô thị (city-states) như UR, ERECH, KISH, BABYLON vào khoảng 4000 năm trước Công Nguyên. Tại những thành phố này, người Sumerians đã phát minh ra chữ viết, bánh xe, kỹ thuật luyện kim, vườn treo, những tháp Babel (trong kinh thánh Do Thái) những điều luật thành văn, thơ văn và rất nhiều huyền thoại. Trong số những huyền thoại của Sumerians có chuyện vườn Địa Đàng của đạo Do Thái sau này (Garden of Eden).

Abraham - Ông tổ của các đạo Chúa

Abraham – Ông tổ của các đạo Chúa

Năm 2300 trước Công Nguyên, giống dân Semitic-Akkadians tức giống Do Thái-Ả Rập dưới sự lãnh đạo của vua Sargon đã chiếm toàn vùng Lưỡng Hà Châu. Hai nền văn hóa Semitic – Akkadian và Sumerians hòa đồng và phát triển trong 300 năm. Tới năm 2000 trước Công Nguyên, giống dân Armonites chinh phục các quốc gia đô thị trong vùng Lưỡng Hà Châu và lập nên đế quốc Babylon. Họ chọn đô thị Babylon làm thủ đô cho cả đế quốc. Babylon hiện nay là vùng sa mạc, cách Baghdad thủ đô Iraq khoảng 80 dặm về phía nam. Những người sống trong đế quốc Babylon tin tưởng thủ đô của họ là nơi linh thiêng, là cái cổng của thiên đàng. Babylon được xây dựng như hình ảnh của nước trời (an image of heaven). Mỗi một ngôi đền, mỗi một ngọn tháp hay một khu vườn treo (hanging gardens) là một bản sao của các lâu đài trên thiên đàng (a replica of celestial palace). Tại các đền thờ, các tu sĩ làm lễ và đọc sách Thánh Kinh mà họ gọi là Enuma Elish. Thánh kinh thường được viết dưới dạng thơ có nội dung ca tụng các vị thần đã chiến thắng sự hỗn mang trong vũ trụ (the victory of the gods over chaos). Trong số các vị thần đó có thần El mà tượng của “ngài” là một con bò đực mạ vàng (the gilded bull). Babylon là tiếng ghép lại từ hai chữ Bab và Ili, có nghĩa là Cái Cổng của Trời (Gate of God). “Tư tưởng cốt yếu của người Babylon là: không có vật gì tự nhiên mà có. Trước khi có thần thánh và con người, một vật tự hữu thiêng liêng đã có từ trước vô cùng” (There was no creation out of nothing. Before either the gods or human being existed, a substance which was itself devine had esixted from all eternity – A History of God p. 7). Đó là tư tưởng sơ khởi về một Thiên Chúa cho các đạo thuộc hệ thống Độc Thần Giáo sau này. Những quan niệm của người Babylon về thiên đàng, về thánh kinh, về đất thánh (Holy place) và về thần quyền (sacred power) là những yếu tố quan trọng làm nền móng cho cả 3 đạo Do Thái, Kitô và đạo Hồi.

Đế quốc Babylon được thành lập cách đây khoảng 4000 năm, nhưng trước đó có những thành phố khác trong đế quốc như thành phố Ur đã được xây cất từ năm 5500 TCN. Ur là một trong những thành phố cổ nhất thế giới vì tính tới nay thành phố này đã có 7500 tuổi! Thành phố Ur và toàn vùng Babylon đã bị hủy diệt do một trận lụt lớn gây ra vì sự đổi dòng của con sông Euphrate vào cuối thế kỷ thứ tư trước Công Nguyên, cả vùng này trở thành sa mạc vì thiếu nguồn nước. Các nhà khảo cổ gọi nền văn minh ở vùng này là “nền văn minh của dân Sumerian trước đế quốc Babylon” (the pre-Babylon Sumerian civilization). Chính tại thành phố Ur, các nhà khảo cổ đã tìm thấy những dấu vết về nhân vật Abraham (thực sự là những huyền thoại nói về Abraham) ông tổ chung của đạo Do Thái, đạo Kitô và đạo Hồi. Tại thành phố này, người Sumerians đã phát minh ra bánh xe, chữ viết, một giờ có 60 phút, vòng tròn có 360 độ. Thành phố này cũng đã phát sinh ra các bạo chúa (tyrans) và các cuộc tàn sát đẫm máu về tôn giáo. Nhiều bạo chúa tại thành phố này đã tự xưng là thần thánh từ trời xuống cai trị muôn dân bằng thần quyền (to rule by divine right). Dân Sumerians biết luyện kim để đúc lưỡi cầy khiến cho những cánh đồng của họ thêm màu mỡ và biết dẫn thủy nhập điền để tạo nên một nền nông nghiệp phồn thịnh. Tuy nhiên, họ cũng dùng luyện kim để đúc giáo mác và mũi tên đồng khiến cho những ruộng lúa xanh tươi của họ trở thành những cánh đồng máu (killing fields).

Giữa thế kỷ 19, các nhà khảo cổ Âu Châu đổ xô đến vùng Babylon khai quật tìm cổ vật. Họ đã mang về các nước Âu Châu không biết bao nhiêu di vật của nền văn minh rất lâu đời này: Những con bò đực mạ vàng (the gilded bulls), những phiến đá ghi chép các huyền thoại và các luật thời cổ. Có nhiều huyền thoại của dân Sumerians sau này đã đi vào kinh thánh của Do Thái. Các cổ vật tìm thấy ở Babylon đã mở toang cánh cửa bí mật của các đạo thờ Chúa* bằng những hiện vật cụ thể và các tài liệu lịch sử thành văn (written history). Các cổ vật này cũng là những tài liệu vô cùng quí giá cho nhiều ngành nghiên cứu khoa học. Năm 1917, nhân dịp quân Anh đánh chiếm Iraq, một đoàn khảo cổ người Anh do nhà khoa học Leonard Wooley dẫn đầu, đã đến phía nam Iraq, gần giáp Kowait, khai quật thành phố Ur chìm dưới lớp cát sa mạc. Giữa thập niên 60, nhiều đoàn khảo cứu khoa học của Mỹ đến vùng Babylon và Ur khai quật 25.000 địa điểm (identified sites) đã tìm thấy rất nhiều di vật của nền văn hóa cổ này. Họ đã giúp cho các nhà nghiên cứu hiểu thêm rất nhiều về nguồn gốc của các đạo thờ Chúa. Căn cứ vào các cổ vật và sử liệu khách quan, các nhà nghiên cứu đã xác định Babylon mới thực sự là nơi xuất phát đầu tiên của các đạo Thiên Chúa. Trước đó, mọi người đã lầm tưởng Jerusalem, thủ đô Do Thái, là thánh địa của các đạo này. Người Babylon quan niệm cuộc sống trên thế gian chỉ là tạm bợ, cuộc sống đời sau ở thiên đàng mới đích thực là hạnh phúc vĩnh cửu. Họ tin thế gian này sẽ bị tiêu hủy trong một lúc nào đó gọi là ngày tận thế. Sau ngày tận thế, nước trời sẽ được thiết lập ở thế gian. Hai ý niệm về thiên đàng và ngày tận thế luôn luôn quyện lại với nhau. Đó là những ý niệm xuyên suốt từ Babylon (Gate of God) qua Jerusalem và Vatican ngày nay.

Những tư tưởng đầu tiên của Abraham chưa hẳn là đã xác định có một Thiên Chúa Duy Nhất (The Only One God) mà ông ta chỉ có ý định chọn một vị thần mạnh nhất trong các vị thần của dân Sumerians để tôn thờ mà thôi. Vị thần mà Abraham chọn là thần El, một con bò đực mạ vàng. Hiện nay tại bào tàng viện Baghdad có trưng bày tượng bò đực mạ vàng của dân Sumerians thuộc thời đại đế quốc Babylon (3000 TCN). Khoảng năm 2000 TCN, Abraham được tôn lên làm vị lãnh đạo các tộc trưởng Do Thái trong đế quốc Babylon (the leader of all patriachs of Jews). Abraham dẫn dân Do Thái rời khỏi đế quốc Babylon về miền Đất Hứa là vùng Canaan, hiện nay được gọi là West Bank (tả ngạn phía Tây sông Jordan). Tại đây, Abraham đã kết hợp với các bộ lạc Do Thái khác với ý định thành lập một quốc gia cho các dân tộc Do Thái. Ông có nhiều vợ. Dân tộc Do Thái rất tự hào tự xưng là con cháu của Abraham (the children of Abraham) nhưng thuộc dòng Isaac, con trai của Abraham và bà vợ cả của Abraham là Sarah.

Các dân tộc Hồi Giáo Ả Rập cũng tự xưng là con cháu của Abraham, nhưng thuộc dòng Ismael, con trai của Abraham và bà vợ bé tên là Hagar. Sau khi sinh Isaac (có nghĩa là Tiếng Cuời) bà vợ cả Sarah thường hay ghen tương với bà vợ bé nên đã đòi Abraham phải ruồng bỏ Hagar và Ismael. Abraham cầu xin Chúa cho Ismael thì được Chúa hứa sẽ cho Ismael trở thành tổ phụ của một đại quốc gia sau này. Sau đó, Abraham đưa bà Hagar và con trai Ismael đến thung lũng Mecca. Tại đây có con suối thiêng Zamzam, hai mẹ con của Ismael được Thiên Chúa đích thân chăm sóc. Abraham thường hay đến thăm Ismel và hai cha con cùng xây nên đền Kabah là ngôi đền thờ Thiên Chúa đầu tiên trên thế giới. Ismael trở thành tổ phụ của các dân tộc Ả Rập. ( A History of God. p.154).

Những người theo đạo Kitô gốc Âu Mỹ hay Á Châu không có liên hệ huyết thống gì với Abraham, nhưng vì đạo Kitô cũng như đạo Hồi đều thoát thai từ đạo Do Thái nên những người theo đạo Kitô cũng coi Abraham như một vị thánh tổ phụ (Father). Trong sách kinh Nhựt Khóa của Tổng-giáo-phận Sài Gòn (trang 143-146) có “Kinh Cầu Cho Dân Nước Việt Nam Đặng Trở Lại Đạo Thánh” có đoạn như sau: “Lạy Chúa, thuở Chúa mới giáng sanh, Chúa đã kêu gọi ba vua phương Đông đến thờ lạy chúa. Chúa đã phán rằng: Ngày sau sẽ có nhiều kẻ bởi Đông Tây đến nghỉ ngơi cùng thánh Abraham trên nước thiên đàng. Nay nước Việt Nam cũng là một cõi Đông Phương đang còn nhiều kẻ tin vơ thờ quấy, chưa hề biết Đấng Chí Tôn. Xin Chúa hãy làm cho nó tìm đến cùng Chúa hầu ngày sau đặng nghỉ ngơi trên nước thiên đàng, chúc tụng không khen Chúa đời đời kiếp kiếp”.

Đối với đạo Hồi, Abraham là tiên tri thứ nhất, Moses là tiên tri thứ hai, kế đến là nhiều tiên tri Do Thái khác rồi mới đến Jesus. Mahomét (Ma-hô-mét) là tiên tri cuối cùng và lớn hơn hết của Thiên Chúa (The last and greatest prophet of God). Người Hồi Giáo không coi Jesus hay Mahomét là Thiên Chúa Hiện Thân (God Incarnate) mà chỉ coi những vị này là những con người bằng xương bằng thịt như chúng ta. Tuy nhiên họ tôn kính Mahomét là một vị đại thánh mà không một ai trên thế gian có thể sánh ngang với ngài về sự hiểu biết và quyền năng. Không một ai được Thiên Chúa mặc khải một cách hoàn hảo cho bằng Mahomét! (None is his equal either in knowledge or in authority. None has received or handed down so perfect a relevation).

Khác với Jesus, Mahomét không khoe khoang khoác lác mạo nhận là con Một (The Only Son Of God) hay con thứ củaThiên Chúa, không làm phép lạ để biểu diễn khả năng phù thủy bịp bợm, không lập ra các phép bí tích nhảm nhí và cũng không truyền chức cho ai độc quyền cai trị giáo hội và thế giới. Jesus dốt đặc cán mai nên không viết một chữ nào để lại cho hậu thế. Các lời Jesus nói đều do người khác gán cho. Mahomét là một thi sĩ đã viết kinh Coran trong 23 năm dưới dạng thi ca như David thuở xưa viết Psalm (Thánh Vịnh) ca ngợi Thiên Chúa. Nhưng ông ta khôn khéo không nhận mình là tác giả mà chỉ nhận mình là anh thư ký ghi chép lại các lời của Thiên Chúa do thiên thần Gabriel (Ga-bơ-ri-en) đọc cho ông ta viết mà thôi.

Trong kinh Coran, có đoạn Mahomét viết về thiên thần Gabriel như sau: “Khi tôi đang trên đường lên núi thì bỗng nghe có tiếng nói từ trời xuống ” Ôi Mahomet, con là vị tông đồ của Chúa, ta là Gabriel đây”. Tôi ngẩng đầu lên để xem ai đang nói. Tôi thấy Gabriel là một người đàn ông với những bàn chân chắn ngang chân trời” (When I was midway on the mountain, I heard a voice from heaven saying : “Oh! Muhammad ! You are the Apostle of God and I am Gabriel”. I raised my head toward heaven to see who was speaking and Gabriel in the form of a man with feet astride the horizon – A History of God p. 138) Trong niềm tin của đạo Hồi thì thiên thần Gabriel là Thánh Linh Thiên Chúa (The Spirit of God) mà Ki Tô Giáo gọi là Đức Chúa Thánh Thần (The Holy Spirit). Đạo Hồi là Đạo Thiên Chúa đúng nghĩa vì họ tin Thiên Chúa là Đấng chỉ có Một Ngôi Duy Nhất (The God of Islam is Unity God). Trái lại Ki Tô Giáo là đa thần giáo trá hình vì Thiên Chúa của Ki Tô Giáo là Thiên Chúa Ba Ngôi (The Christian God is Trinity God).

Về Abraham, trong Kinh Coran Mahomét viết như sau: “Thiên thần Gabriel nâng tôi lên cao trong không khí. Trước hết ngài đưa tôi đến viếng Jerusalem, sau đó ngài đưa tôi qua 6 tầng trời. Đến tầng trời thứ 7 tôi gặp Adam tổ phụ loài người, thánh Gioan Baotixita (giáo chủ Essenes kiêm thầy dạy giáo lý cho Jesus) Enoch, Aaron, Moises, Jesus và Abraham. Cuối cùng tôi được gặp Thiên Chúa (God / Allah) và nói chuyện trực tiếp với Ngài. Chúa phán “Ôi Mohamét! Ta đón tiếp con như một người bạn cũng như trước đây ta đã đón tiếp Abraham như một người bạn vậy. Ta nói chuyện với con mặt đối mặt cũng như trước đây ta nói chuyện mặt đối mặt với Moises vậy.” (Oh Muhammad! I take you as a friend, just as I took Abraham as a friend. I am speaking to you, just as I spoke face to face with Moises).

Tiếng Ả Rập KORAN có nghĩa là sự kể chuyện (Recitation). Những người Hồi Giáo coi kinh KORAN là những lời cuối cùng của Thiên Chúa dành cho loài người (Koran is the final words of God to mankind), là cuốn sách MẸ của mọi cuốn sách (The Mother of Books). Cũng như các đạo thờ Chúa khác, người Hồi Giáo tin Kinh Thánh của họ là chân lý tuyệt đối. Các kinh thánh ngoài đạo của họ đều là đồ giả mạo cần phải hủy diệt bằng bạo lực. Cũng như các tòa án dị giáo của Công Giáo La Mã chủ trương giết hết, đốt hết, phá hết tất cả những gì khác với giáo lý Công Giáo vậy.

Độc Thần Giáo, tức các đạo thờ Chúa (Monotheist religions /Abrahamic religions) bành trướng thế lực tôn giáo bằng chiến tranh máu lửa. Số tín đồ tăng lên theo nhịp độ phát triển của các chủ nghĩa đế quốc và thực dân cũ mới. Trải qua nhiều thế kỷ, ngày nay tổng số tín đồ của Độc Thần Giáo đã lên tới 3 tỷ 200 triệu trên tổng dân số nhân loại là 5 tỷ 804 triệu (The World Almanach and Books of Facts 1998). Hai tôn giáo lớn nhất của hệ thống Độc Thần Giáo hiện nay là Công Giáo La Mã với gần 1 tỷ tín đồ, kế đến là giáo phái Hồi Giáo Sunny với 936 triệu tín đồ. Các con số tín đồ đông đảo không nói lên giá trị của các tôn giáo này vì họ là những khối người khổng lồ luôn luôn dốc phần lớn sinh lực của họ để tìm cách tiêu diệt lẫn nhau và phá hoại hòa bình thế giới. Năm 383, triều đại con cháu của Constantine đã đổi tên Kitô Giáo thành Công Giáo (Cattolica) có nghĩa là tôn giáo toàn cầu (universal church). Danh từ “Công Giáo” nói lên ý đồ nham hiểm thâm độc của Đế quốc La Mã nhắm tới sự nô lệ hóa toàn cầu dưới chiêu bài tôn giáo. Vì vậy nếu hiểu Công Giáo chỉ đơn giản là quốc giáo “state religion” hoặc đạo công cộng “public religion” là chưa đánh giá đúng mức tim đen của đế quốc. Những danh từ phiên âm như đạo Gia tô hay đạo Ca Tô Rô Ma đều làm chúng ta quên đi ý đồ nham hiểm của đạo Công Giáo Vatican.

Với thời gian, do sự mâu thuẫn trong việc giải thích Kinh Thánh và tranh chấp quyền lợi vật chất giữa các giới lãnh đạo chóp bu, đạo Công Giáo đã bị phân hóa thành nhiều ngành (lines) :

1. Công Giáo La Mã còn được gọi là Giáo hội Tây Phương (Roman Catholics / Western Church) hiện có 981 triệu tín đồ (the main line of Christianity)

2. Công Giáo Đông Phương (Eastern Church) là Chính Thống Giáo (Greek Catholics or Orthodox) chính thức tách rời khỏi Công Giáo La Mã vào năm 876. Số tín đồ hiện nay khoảng 218 triệu, đa số tại nước Nga, Hy Lạp, Thổ Nhĩ Kỳ và Đông Âu (Bulgary, Serbia, Armenia)

3. Công Giáo Anh còn được gọi là Anh Giáo (British Catholics or Anglicanism) có khoảng 69 triệu tín đồ tại Anh, Úc, Tân Tây Lan, Canada và Mỹ. Chính thức tách rời khỏi Công Giáo La Mã năm 1539.

4. Các giáo phái Tin Lành : Danh xưng chính thức của Tín Đồ Tin Lành là “Những Kẻ Chống Công Giáo La Mã” (Protestants). Đạo Tin Lành là “Đạo Chống Công Giáo La Mã” (Protestantism). Việt Nam là nước duy nhất trên thế giới chẳng giống ai gọi họ là Tin Lành (Good News), nhưng thực tế chẳng có gì lành. Khoảng đầu thế kỷ 20, nhiều người Công Giáo Việt Nam gọi họ là những kẻ theo “Đạo Thệ Phản”. Sau này không thấy ai xử dụng danh từ “Đạo Thệ Phản” nữa, có lẽ vì danh từ này mang tính kỳ thị tôn giáo ( ? + ! . . . ).

Công Giáo La Mã, Chính Thống Giáo và Anh Giáo có thể được gọi chung là Công Giáo (Catholicism) vì các lý do sau đây:

1. Giáo lý của 3 tôn giáo này rất tương đồng

2. Cả 3 tôn giáo đều thờ ảnh tượng Chúa và các thánh. Bước chân vào giáo đường của 3 tôn giáo này ta rất khó phân biệt. Khác hẳn với các giáo phái “Tin Lành” tuyệt đối không thờ ảnh tượng. Họ chỉ xử dụng cây thánh giá trơn (không có tượng Chúa) làm biểu tượng mà thôi.

3. Cả 3 đạo Công Giáo này đều thờ Bà Maria và tin bà còn đồng trinh (virgin) sau khi sinh Chúa Jesus. Người theo đạo Tinh Lành tin Chúa Jesus là Thiên Chúa hóa thân nhưng không tin bà Maria đồng trinh vì ngoài Chúa ra, bà Maria còn sinh 3 trai và 3 gái với ông Joseph. Người Hồi Giáo cũng tin bà Maria đồng trinh nhưng phủ nhận bản tính Thiên Chúa của Jesus, họ chỉ coi Jesus là tiên tri đứng sau tiên tri Mahomét.

4. Ba đạo Công Giáo nói trên đều có giáo đô riêng. Công Giáo La Mã có giáo đô tại Vatican (một lãnh địa tự trị tách ra khỏi thủ đô La Mã của nước Ý). Giáo đô của Chính Thống Giáo đặt tại Constantinophe (nay là Istambul, Thổ Nhĩ Kỳ). Giáo đô Anh Giáo đặt tại Canterburry Anh quốc. Các giáo phái Tin Lành không có giáo đô.

5. Các đạo Công Giáo có hàng giáo phẩm được truyền chức để làm lễ (mass) biến bánh và rượu thành máu và thịt của Chúa Jesus. Hàng giáo phẩm Công Giáo La Mã và Công Giáo Hy Lạp (Chính Thống Giáo) đều là nam giới. Riêng Công Giáo Anh có nữ linh mục, cũng làm lễ như nam linh mục và có chồng con. Con số nữ linh mục Anh Giáo tại Anh, Úc, Canada và Mỹ hiện nay lên tới khoảng 2000 người.

Tất cả các người theo đạo Kitô (Christians) không thuộc 3 giáo hội Công Giáo nói trên đều được gọi chung là Tin Lành (protestants). Số tín đồ Tin Lành hiện nay lên tới 686 triệu. Các mục sư không làm lễ, chỉ giảng thánh kinh mà thôi.

Trong những thế kỷ trước, người Việt Nam gọi đạo Công Giáo La Mã là Đạo Da-Tô hay Gia Tô. Da-Tô là tiếng chữ Hán phiên âm chữ Jesus. Đạo Da-Tô có nghĩa là đạo thờ Jesus. Trong Kinh Cảm Tạ Cầu Hồn viết bằng Hán tự mà các giáo dân Bùi Chu Phát Diệm và Thái Bình ngày nay vẫn còn đọc trong các đám giỗ, có câu: “Thần Chúa Da-Tô thục tội thi ân chỉ đại” nghĩa là “Lạy Chúa Jê-Su chuộc tội và ban ơn rất lớn”.

ĐẠO HỒI

Đạo Hồi là đạo thứ ba trong hệ thống Nhất Thần Giáo. Thiên Chúa của đạo Hồi là Thiên Chúa của đạo Do Thái và đạo Kitô. Người Hồi Giáo cũng giống như Do Thái Giáo, phủ nhận ngôi thứ hai tức Jesus và ngôi thứ ba là Chúa Thánh Thần của đạo Kitô nên Thiên Chúa của Hồi Giáo và Do Thái Giáo là Thiên Chúa Duy Nhất (Unity God). Đạo Hồi chịu ảnh hưởng sâu đậm giáo lý của đạo Do Thái và đạo Kitô, do Mohammed sáng lập vào thế kỷ thứ 7. Đạo Hồi được truyền bá và phát triển phần lớn dựa vào bạo lực và chiến tranh. Đạo Công Giáo La Mã là một đế quốc tinh thần, luôn luôn bước song hành với các chủ nghĩa thực dân đế quốc. Đạo Hồi và Công Giáo La Mã là hai kẻ thù lớn nhất của hòa bình thế giới. Cả hai đạo này đều là con đẻ của Do Thái nhưng đều đã quay ngược lại tiêu diệt Do Thái đến gần tuyệt chủng. Hai đạo này được ví như hai cái boomeranges của Do Thái vậy!

Số tín đồ đạo Hồi hiện nay là 1 tỷ 128 triệu, đứng thứ nhì sau đạo Kitô (1 tỷ 955 triệu). Công Giáo La Mã là giáo phái có đông tín đồ nhất của đạo Kitô, Nó là con đẻ của chủ nghĩa đế quốc La Mã và cả chủ nghĩa thực dân cũ mới của Âu Châu. Ngày nay, các chủ nghĩa đế quốc và thực dân đã suy tàn, đạo Công Giáo tất nhiên phải gánh chịu những hệ lụy của các chủ nghĩa thực dân đế quốc mà suy tàn theo. Đó là một thực tế của tiến trình tiến hóa tất yếu của lịch sử.

Nói tóm lại, Thiên Chúa Giáo là một hệ thống gồm 3 tôn giáo chính yếu: Do Thái Giáo, Kitô Giáo và Hồi Giáo. Cả 3 tôn giáo này đều bắt nguồn từ đạo Do Thái Nguyên Thủy (Pre-Mosaic Judaism) của các tổ phụ lập quốc Do thái là Abraham, Isaac và Jacob. Đạo Do Thái Nguyên Thủy thờ Thiên Chúa mang tên Elohim với hình tượng của ngài là con bò vàng. Đạo thờ bò đã tồn tại trong hơn 8 thế kỷ đầu của lịch sử nước Do Thái. Các đạo thờ Thiên Chúa hiện nay chỉ là hậu thân của đạo Do Thái Nguyên Thủy. Nói đúng hơn, những đạo này chỉ là những biến dạng khác nhau của đạo thờ bò.

Theo Sachhiem

Vì sao Trung Quốc bị “cấm cửa” trên trạm vũ trụ quốc tế ISS?

Vì sao Trung Quốc bị “cấm cửa” trên trạm vũ trụ quốc tế ISS?

Trung Quốc hiện là một trong số ít các quốc gia có khả năng mang con người lên không gian, tuy nhiên Trung Quốc lại không được phép sử dụng chung trạm vũ trụ quốc tế ISS với Nga và Mỹ. Bạn có biết lý do tại sao

Trạm vũ trụ Quốc tế (International Space Station – ISS) là tổ hợp công trình nghiên cứu không gian, hợp tác giữa 5 cơ quan không gian lớn nhất thế giới bao gồm NASA (Mỹ), RKA (Nga), CSA (Canada), JAXA (Nhật Bản) và ESA (châu Âu).

Được xem là trạm vũ trụ quốc tế, nhưng các phi hành gia của Trung Quốc lại không được phép đặt chân lên ISS, mặc dù hiện tại Trung Quốc là một trong 3 quốc gia có khả năng mang con người lên không gian (bên cạnh Nga và Mỹ).

Sở dĩ có điều này bởi lẽ đó là một phần trong đạo luật được đưa ra vào năm 2011, cấm NASA sử dụng bất kỳ hình thức hợp tác nào trong các dự án về không gian với Trung Quốc. Luật này được đưa ra bởi Hạ nghị sĩ Frank Wolf, với những lo ngại về an ninh quốc gia, đặc biệt là tình trạng gián điệp công nghiệp của Trung Quốc.

Mặc dù Frank Wolf đã nghỉ hưu từ năm 2015 nhưng đến nay lệnh cấm vẫn có hiệu lực. Nhiều báo cáo của chính phủ Mỹ kể từ khi luật có hiệu lực đã tuyên bố hoạt động không gian của Trung Quốc là một mối đe dọa đến an ninh chính trị và quân sự của Mỹ.

Là trạm vũ trụ quốc tế nhưng các phi hành gia Trung Quốc bị “cấm cửa” tại ISS

Là trạm vũ trụ quốc tế nhưng các phi hành gia Trung Quốc bị “cấm cửa” tại ISS

Tuy nhiên, nhiều người đã đặt ra câu hỏi về ý nghĩa thực sự của luật cấm này, khi mà trước đó Mỹ cũng đã hợp tác cùng Liên Xô trong thời kỳ chiến tranh lạnh để phát triển các chương trình nghiên cứu không gian chung và đến nay cho dù Nga và Mỹ vẫn có những bất đồng nhưng vẫn tiếp tục hợp tác cùng nhau để xây dựng trạm không gian ISS.

Năm 2007, Thứ trưởng Bộ khoa học và Công nghệ Trung Quốc Li Xueyong tuyên bố Trung Quốc muốn được tham gia vào dự án xây dựng ISS. Đến năm 2010, Tổng giám đốc Cơ quan vũ trụ châu Âu (ESA) Jean-Jacque Dordain cho biết ESA đã sẵn sàng để kiến nghị với 4 đối tác xây dựng ISS khác để mời Trung Quốc hợp tác vào dự án này, nhưng ông cũng cho biết cần phải có một quyết định tập thể của tất cả các thành viên tham dự án. Trong khi Nga và châu Âu mở cửa với Trung Quốc để tham gia vào dự án ISS thì Mỹ vẫn giữ nguyên lập trường với việc “cấm cửa” Trung Quốc.

Chính phủ Trung Quốc đã nhiều lần khẳng định rằng giao lưu quốc tế và hợp tác trong lĩnh vực kỹ thuật hàng không vũ trụ trên cơ sở cùng có lợi và sử dụng vì mục đích hòa bình, phát triển chung, tuy nhiên dường như điều này vẫn chưa đủ để thuyết phục Quốc hội Mỹ bỏ qua luật cấm.

Các nhà khoa học Trung Quốc cũng đã nhiều lần chỉ trích lệnh cấm được Quốc hội Mỹ thông qua là “vô đạo đức”. Dù bị cấm hợp tác với Mỹ tuy nhiên Trung Quốc hiện đang hợp tác với Nga cũng như cơ quan không gian châu Âu (ESA) cho các dự án nghiên cứu không gian của mình.

Bản thân Trung Quốc cũng đang tự phát triển chương trình nghiên cứu không gian của riêng mình, trong đó phát triển trạm không gian Thiên Cung, được phóng lên vũ trụ từ tháng 9/2011.

Theo T.Thủy
Dân trí

Thị trường nô lệ Đại Việt và Đông Nam Á thời Trung Đại

Thị trường nô lệ Đại Việt và Đông Nam Á thời Trung Đại

Thời trung đại ở nước ta, vào khoảng thế kỷ thứ 11 đến thế kỷ thứ 14 đã từng chứng kiến việc chiếm hữu nô lệ khá lớn. Tuy chưa đến mức hình thành một xã hội chiếm hữu nô lệ như ở phương Tây thời cổ đại, nhưng tỉ lệ nô lệ, nô tì, những người mất tự do trong xã hội Đại Việt là khá cao.

Tình trạng mua bán nô lệ tràn lan đầu thời Lý đã khiến vua Lý Thái Tông phải ra chiếu chỉ nghiêm cấm việc mua Hoàng nam ( những trai tráng đến tuổi quân dịch ) làm nô. Số lượng phụ nữ nghèo trở thành nô tì rất nhiều, điều này khiến Ỷ Lan Nguyên Phi mà sau này trở thành Linh Nhân Hoàng thái hậu đã dùng nhiều tiền bạc để chuộc thân cho những con gái nhà nghèo bị bán làm nô tì. Sang đến thời Trần, gia nô được nuôi nấng từ nhỏ và phục vụ cho giới quý tộc ở trong các Thái ấp khá phổ biến. Họ rất trung thành với chủ nhân và có tư tưởng chấp nhận thân phận. Một số gia nô được đào tạo khá tốt để có thể làm những việc của giới trí thức và võ sĩ. Những anh hùng dân tộc như Yết Kiêu, Dã Tượng, Nguyễn Địa Lô … đều là những gia nô, một dạng nô lệ gia đình. Nếu như gia nô lập gia đình và sinh con, thì con cháu họ cũng là gia nô của chủ. Họ lệ thuộc vào chủ nhân đời này qua đời khác. Việt Sử Tiêu Án của Ngô Thì Sĩ đã ghi nhận đóng góp của giới nô lệ trong kháng chiến chống Nguyên Mông : “Lúc nhà Trần đương thịnh, đánh nhau với giặc Hồ ( tức giặc Mông – Nguyên) , nhờ sức các gia nô của vương hầu nhiều lắm ”.

Đấy là nói về những nô lệ người Việt. Còn những nô lệ người Chăm thì được mang về sau những cuộc viễn chinh của các vua Tiền Lê – Lý – Trần – Hồ. Đại Việt và Chiêm Thành suốt nhiều thế kỷ đã có nhiều cuộc chiến đẫm máu. Phần lớn chiến thắng thuộc về Đại Việt, quân Việt nhiều lần chiếm đóng kinh đô Chiêm Thành. Cứ thắng trận là quân Đại Việt bắt hàng vạn người làm nô lệ. Những nô lệ này được biên chế thành những làng để khai hoang. Trải qua một vài thế hệ, khi những nô lệ Chăm được “Việt hóa” thì họ dần được coi như nông dân lĩnh canh của nhà nước. Ngoài ra, các vũ công Chăm bị bắt phục vụ cho cung đình Đại Việt. Các vũ công Chăm không có tự do nhưng được sống sung sướng trong nhung lụa.

Ngoài hai nguồn nô lệ chính là người Việt và người Chăm, Đại Việt còn mua những người nước ngoài khác để làm nô. Lĩnh Nam Ngoại Đáp của Chu Khứ Phi nước Tống chép : “ Giao Chỉ có cái lợi mỏ vàng mới mua dân ta làm nô ”. Nô lệ người Tống là nguồn đứng thứ 3. Đợt bắt nô lệ người Tống lớn nhất là sau cuộc tấn công phủ đầu của Lý Thường Kiệt vào các châu Ung, Khâm, Liêm 1075 – 1076. Đợt này, quân đội nhà Lý đã mang về hàng ngàn trai tráng và thiếu nữ người Tống. Những trai tráng mới lớn bị thích chữ Thiên tử binh và bắt xung quân, thiếu nữ bị thích chữ Quan khách và bị bắt làm nô lệ tình dục cho binh lính Đại Việt. Sau khi đánh bại quân Tống, nhà Lý trao trả tù binh bị bắt này như một điều kiện hòa đàm, nhưng chỉ trả có 200 – 300 người trong tổng số mấy ngàn người cho có lệ. Nước Tống mới bại trận, cũng phải làm lơ cho qua.

Đại Việt Sử Ký Toàn Thư có ghi nhận một sự kiện như một minh chứng cho việc buôn bán nô lệ thông qua các thương nhân ngoại quốc như sau : “ Buổi đầu dựng nước, thuyền buôn nước Tống sang dâng người nước Tiểu Nhân, thân dài 7 tấc, tiếng như ruồi nhặng, không thông ngôn ngữ … “.

Người nước Tiểu Nhân thực ra là chỉ một giống người nhỏ con không rõ xuất xứ mà thôi. Không chỉ thương nhân Tống buôn nô lệ, mà trong việc này thương nhân người Chăm mới là bậc thầy. Người Chăm thời này nổi tiếng là những kẻ săn nô lệ. Họ lùng sục khắp vùng Tây Nguyên để bắt người dân tộc thiểu số miền núi đem bán. Người Chăm cũng hay bắt cóc cư dân người Việt, người Khmer khi có cơ hội. Họ dùng nô lệ xây dựng các công trình và buôn bán kiếm lợi. Thuyền buôn Chăm dong thuyền khắp biển Đông, lúc thì buôn bán lúc thì làm cướp biển. Sử sách Việt ghi nhận nhiều lần người Chăm bắt cóc dân Việt dẫn đến chiến tranh giữa hai nước.

Với người Khmer, họ cũng bắt dân những tộc người láng giềng để xây dựng các đền đài quy mô cực lớn. Trong đó có các kiến trúc Angkor đều được xây nhờ sức các nô lệ. Còn đế chế Nguyên Mông thì bắt các nước lân bang cống nạp những người có giá trị như pháp sư, thầy thuốc, mỹ nữ, thợ giỏi, vũ công … để làm nô lệ cho nhà nước, làm tốt thì được phong quan chức. Ta thấy rằng, việc buôn bán và sử dụng nô lệ là mẫu chung ở Trung Quốc, Đại Việt và các quốc gia Đông Nam Á thời trung đại.

Ảnh : Nô lệ chèo thuyền chiến cho thủy quân Chăm

theo FB Văn Hóa Lịch Sử

– 10/10/1954: Giải phóng thủ đô

– 10/10/1954: Giải phóng thủ đô

 

giai-phong

Theo Hiệp định Gieneve, Hà Nội nằm trong khu vực tập kết 80 ngày của quân đội Pháp. Người Pháp đã lợi dụng thời gian này để mang đi các máy móc, kho tàng, cắt điện nước, in truyền đơn, công phiếu giả và cuối cùng là tham gia chiến tranh tâm lý để lôi kéo dân di cư vào Nam. Sau quá trình đấu tranh trên mặt trận ngoại giao ở Hội nghị Phù Lỗ đòi Pháp rút khỏi Hà Nội đúng thời hạn, đảm bảo an toàn về tài sản, tiếp quản trong trật tự, ngày 30-9-1954, hai bên đã ký Hiệp định chuyển giao Hà Nội về quân sự; ngày 2-10, ký tiếp Hiệp định chuyển giao Hà Nội về hành chính. Xác định nguyên tắc chuyển giao phải đảm bảo trật tự, an toàn, không được phá hoại và không làm gián đoạn các hoạt động của đời sống thành phố.

Theo các văn bản đã được ký kết, từ ngày 2 đến 5-10-1954, các đội hành chính, trật tự của Việt Minh vào thành phố trước, chuẩn bị cho việc tiếp quản các cơ quan, công sở, các công trình công cộng. 422 cán bộ, nhân viên đội hành chính và 158 công an có vũ trang của đội trật tự đã tiến hành kiểm kê và giải quyết các công việc chuẩn bị, lập xong các biên bản để bàn giao ngày 7-10-1954.

Ngày 6-10-1954, quân Pháp rút khỏi quận lỵ Văn Điển. Đây là quận lỵ đầu tiên ở ngoại thành được giải phóng. Ngày hôm sau, nhiều đơn vị quân đội nhân dân Việt Nam theo nhiều đường tiến về Hà Nội. Chiều ngày 8 tháng 10, một số đơn vị tiến sát vành đai Đê La Thành, Nhật Tân, Cầu Giấy, Ngã Tư Sở, Bạch Mai và Vĩnh Tuy. Trong khi đó, địch rút khỏi Yên Viên. Sáng 9-10-1954, bộ đội đã tiếp quản 4 quận Quảng Bá, Cầu Giấy, Ngã Tư Sở và Quỳnh Lôi, tiếp theo là Đại lý Hoàn Long. Quân đội nhân dân Việt Nam theo nhiều đường, từ ngoại thành tiến vào tiếp thu Hà Nội, chia làm nhiều cánh quân tiến vào năm cửa ô chính rồi tỏa ra các khu. Lần lượt, bộ đội ta tiếp thu nhà ga Hà Nội, phủ Toàn quyền cũ, khu Đồn Thủy, khu Bờ Hồ, Bắc Bộ phủ.

Đến 16 giờ ngày 9-10-1954, những lính Pháp cuối cùng đã rút qua cầu Long Biên; quân dân ta hoàn toàn kiểm soát thành phố. Sáng ngày 10-10-1954, Ủy ban Quân chính thành phố và các đơn vị quân đội nhân dân gồm có bộ binh, pháo binh, cao xạ, cơ giới… chia làm nhiều cánh lớn đã mở cuộc hành quân lịch sử tiến vào Hà Nội. 20 vạn dân Thủ đô với cờ, hoa trong tay hân hoan xuống đường chào đón đoàn quân chiến thắng.

Trong thư gửi đồng bào Hà Nội sau ngày giải phóng Thủ đô, chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Tám năm qua, Chính phủ đã phải xa rời Thủ đô để kháng chiến cứu nước. Tuy xa nhưng lòng Chính phủ luôn gần cạnh đồng bào. Ngày nay do nhân dân ta đoàn kết nhất trí, quân đội ta chiến đấu anh dũng, hòa bình đã thắng lợi, Chính phủ ta lại trở về Thủ đô với đồng bào. Muôn dặm một nhà, lòng vui mừng khôn xiết”.

– 9/10/1806: Phổ tuyên chiến với Pháp trong Chiến tranh Liên minh thứ tư.

– 9/10/1806: Phổ tuyên chiến với Pháp trong Chiến tranh Liên minh thứ tư.

Các hoạt động của cái gọi là Liên minh sông Rhine, do Napoleon làm bảo hộ công, khiên Phổ thấy bất an vì bị gạt ra khỏi các vấn đề ở Tây và Nam Đức. Friedrich Wilhelm III tham chiến khi đồng minh Nga vẫn còn ở rất xa và chưa hồi phục lại sau thảm bại ở Austerlitz. Vua và hoàng hậu Phổ tự mình đi thăm các quân đoàn, kích động tinh thần binh lính. Sĩ khí người Phổ tăng lên rất cao: “Cho tới nay, Napoleon đã chiến thắng được những ai? Quân Áo ư? Chẳng qua đó là một bầy hèn nhát đủ các chủng tộc. Hay quân Ý hèn yếu? Hay đám Mamluk mọi rợ? Hay quân Nga cũng mọi rợ chẳng kém gì Mamluke..…Dễ thường cái vinh quang của Napoleon sẽ không bị tan thành mây khói khi chạm trán với quân đội của Frederick II sao?”.
 
Trong khi đó người Anh lại có cái nhìn thực tế hơn, thủ tướng William Pitt trên giường bệnh đã gọi người hầu đến gỡ bản đồ châu Âu treo trên tường xuống và dặn rằng: “Cuốn nó lại, 10 năm nữa sẽ không cần đến nó”.
 
1024px-myrbach-prussian_garde_du_corps
(Ảnh: Trong một động thái khiêu khích chưa từng có tiền lệ, các sĩ quan Phổ kéo đến và đem gươm ra……mài trước bậc thềm đại sứ quán Pháp ở Berlin, cuối tháng 8/1806.)