Kháng chiến chống Nguyên Mông lần 2 – Kỳ 13 : Trần Nhật Duật và mặt trận phía tây bắc

Kháng chiến chống Nguyên Mông lần 2 – Kỳ 13 : Trần Nhật Duật và mặt trận phía tây bắc

1. Tương quan lực lượng mặt trận tây bắc :

Trong lúc chiến sự diễn ra quyết liệt ở trung châu nước Đại Việt, thì ở vùng biên thùy mạn tây bắc, Chiêu Văn vương Trần Nhật Duật cũng cầm quân đương đầu với quân Nguyên từ Vân Nam tiến sang. Cánh quân Nguyên ở Vân Nam do viên Bình chương Vạn hộ hầu Nạp Tốc Lạt Đinh (Naxirut Din) chỉ huy, ước chừng có hơn 1 vạn quân. Trong thành phần cánh quân này bao gồm cả quân lính người Mông Cổ và người Vân Nam. Nạp Tốc Lạt Đinh dẫn quân tiến theo con đường mà ngày trước đội quân của Ngột Lương Hợp Thai đã đi, từ châu Quy Hóa đánh xuống. Cánh quân Nguyên này đóng vai trò thứ yếu trong kế hoạch của Nguyên triều, cốt là để phân tán lực lượng của Đại Việt mà thôi. Tuy vậy, quân Đại Việt cũng không thể không điều quân trấn giữ vùng tây bắc. Nếu để hở hướng này, thì đòn hư sẽ biến thành đòn thực. Quân của Nạp Tốc Lạt Đinh một khi tiến xuống phối hợp với đại quân của Thoát Hoan hai mặt giáp công thì quân Đại Việt tất sẽ rơi vào thế hiểm nghèo. Bởi vậy, Hưng Đạo vương đã giao cho Chiêu Văn vương Trần Nhật Duật phụ trách mặt trận tây bắc, có nhiệm vụ chặn đứng quân địch, không cho chúng phối hợp với đại quân phía đông bắc của Thoát Hoan. Hưng Đạo vương còn bố trí quân đóng ở Tam Đái, do Hoài Thượng hầu Trần Lộng chỉ huy làm hậu viện cho quân ở mạn tây bắc.

Chiêu Văn vương là em thứ 6 của Thượng hoàng Trần Thánh Tông, chú của vua Trần Nhân Tông. Bấy giờ ông còn rất trẻ, chỉ mới 30 tuổi đã đảm nhận trọng trách trong quân. Chiêu Văn vương Trần Nhật Duật là người tuổi trẻ tài cao, tài khiêm văn võ. Đặc biệt, Chiêu Văn vương có kỳ tài về ngoại ngữ, không chỉ am hiểu tiếng nói mà còn hiểu biết phong tục tập quán của các sắc dân. Nhờ có năng lực, ngoài 20 tuổi ông đã được triều đình cho phụ trách ngoại giao và giao thiệp với các sắc dân thiểu số. Năm 1280, Trịnh Giác Mật ở Đà Giang làm phản, ông một mình vào trong sào huyệt của địch dụ hàng, khiến cho Trịnh Giác Mật cảm phục mà theo về kinh thành tạ tội. Triều đình Đại Việt nhờ ông mà dẹp yên được đạo Đà Giang, vừa không tốn một binh một tốt vừa thu phục được lòng dân ở đó.

Đặc điểm của các lực lượng quân sự tại vùng biên giới tây bắc có khác biệt lớn với vùng trung châu nước Đại Việt. Do binh lực Đại Việt phần lớn phải dồn cho chiến trường chính phía mạn đông bắc, Chiêu Văn vương Trần Nhật Duật chỉ trực tiếp nắm giữ vài ngàn quân, với thành phần lực lượng đủ mọi sắc tộc. Quân của ông bao gồm quân triều đình người Việt trung châu, quân sơn cước người Tày và các tộc thiểu số, quân người Tống sang quy phụ. Với lực lượng ít, không đồng nhất lại phải tác chiến độc lập, nhiệm vụ của Trần Nhật Duật không hề dễ dàng.

Triều đình Đại Việt không áp dụng chế độ trực trị đến châu huyện mà cho các tù trưởng nơi này quyền tự trị và thế tập. Họ thể hiện sự quy phục triều đình bằng cách nộp thuế, nốp cống phẩm, cho đất trú quân và điều quân phối hợp khi có chiến tranh. Tù trưởng các trại, châu, động nơi này tự cầm quân bản bộ của mình. Họ chỉ chiến đấu hiệp đồng với quân triều đình chứ không tách ghép quân lực, triều đình cũng không thể can thiệp sâu vào nhân sự, nội bộ của các đội quân người thiểu số. Thậm chí, nếu tình hình diễn biến phức tạp thì các sắc dân thiểu số có thể còn trở giáo theo phe địch. Bởi dù có chung một quốc gia, các sắc dân tây bắc thời kỳ này vẫn chưa thực sự coi người Việt là đồng chủng đồng văn. Quốc gia đối với họ đơn giản là một liên minh cực lớn của các cộng đồng. Trấn thủ vùng tây bắc, Chiêu Văn vương đã phải rất khéo léo thu phục được lòng trung thành của các sắc dân nơi này. Gặp dân ăn bốc thì ông cũng ăn bốc, gặp người uống bằng mũi thì ông cũng uống bằng mũi. Dân trong vùng người người đều cảm mến. Nhờ vậy mà các tù trưởng và quân dân các sắc dân thiểu số sẵn lòng xả thân cho Đại Việt ngay cả khi quân Nguyên chiếm thế thượng phong và quân triều đình phải rút lui khỏi vùng.

2. Chiến sự tây bắc:

Tại vùng tây bắc nước Đại Việt, châu Quy Hóa là cửa ngõ đầu tiên mà quân Nguyên tiến vào. Tại đây có dòng họ Hà người Tày, đời đời nối giữ chức trại chủ, là thế lực lớn mạnh và có uy tín nhất vùng Quy Hóa. Bấy giờ Hà Đặc là trại chủ Quy Hóa, cùng em là Hà Chương cả hai đều là người tuấn kiệt, mưu trí. Quân Nguyên với lực lượng mạnh đánh vào Quy Hóa, Chiêu Văn vương không thể mạo hiểm đem quân quá xa đại doanh ở trại Thu Vật mà ứng cứu. Bởi nhiệm vụ của ông là phòng thủ, bảo toàn lực lượng. Hà Đặc thế cô không thể đương đầu trực diện với giặc, chỉ đánh thăm dò rồi rút quân, nhường đường lớn cho Nạp Tốc Lạt Đinh tiến qua. Tuy nhiên, Hà Đặc không dễ dàng để yên cho quân Nguyên tung hoành. Ông chỉ huy quân rình rập sau hậu tuyến của quân Nguyên, đêm ngày đánh tỉa, bám đuôi giặc từ vùng núi non biên giới đến tận vùng đồng bằng. Mặc dù cách đánh này không ảnh hưởng lớn đánh tiến độ hành quân của quân Nguyên nhưng khiến cho giặc phải phân tán tinh thần và lực lượng.

Qua được địa bàn châu Quy Hóa, Nạp Tốc Lạt Đinh đối đầu với cửa ải Thu Vật (Yên Bình, Yên Bái ngày nay) của Chiêu Văn vương Trần Nhật Duật trong lúc mà chiến sự ở vùng Vạn Kiếp – Thăng Long đang gay go. Nhật Duật vừa giao chiến với quân của Nạp Tốc Lạt Đinh, vừa nghe ngóng quân tình ở mặt trận miền đồng bằng. Theo các sử liệu cũ, đã không có trận quyết chiến nào diễn ra ở đây. Nạp Tốc Lạt Đinh có ý muốn diệt gọn quân của Chiêu Văn vương, sai kỵ binh ngầm đi vòng ra sau trận tuyến của Đại Việt một quãng xa để mai phục, sau đó tung quân chia làm nhiều cánh tấn công mạnh vào trại Thu Vật. Chiêu Văn vương sau khi giao chiến vài trận nhỏ tiêu hao lực lượng địch, bèn hạ lệnh rút quân bảo toàn lực lượng. Bấy giờ căn cứ Tam Đái vẫn còn phía sau, Chiêu Văn vương vẫn có thể trông cậy vào đó mà phối hợp chặn giặc bảo vệ Thăng Long. Quân Đại Việt xuống thuyền rút theo dòng sông Lô về xuôi. Chiêu Văn vương ngồi trên chiến thuyền, quan sát thấy quân Nguyên trên bờ đuổi theo sau nhưng lại đi thong thả bèn nói với tướng sĩ: “Phàm đuổi thì cần nhanh, nay giặc tiến từ từ, sợ có tiền quân chắn ngang phía trước”.Nói xong sai quân đi trước do thám, quả nhiên phát hiện thấy phục binh của địch đợi sẵn ở phía hạ lưu. Chiêu Văn vương đã biết được quỷ kế của Nạp Tốc Lạt Đinh, sai quân bỏ thuyền lên bộ, hướng về Thăng Long.

Ngày 20.2.1285, quan quân về đến vùng Bạch Hạc (Việt Trì, Phú Thọ ngày nay) thì được tin Thăng Long đã thất thủ, đại quân cùng triều đình đã rút lui về đông. Lúc này trong quân có nhiều người hoang mang lo lắng. Chiêu Văn vương bèn cho dừng quân bên ngã ba sông Bạch Hạc, cùng ba quân làm lễ cắt tóc tuyên thề trước thần linh: “Nguyện dốc hết lòng trung để báo đền quân thượng”.Làm lễ xong, tinh thần quân sĩ lại lên cao. Chiêu Văn vương cùng các tướng sĩ trèo đèo vượt sông, tìm về với đại quân triều đình. Tại Tam Đái, quân của Trần Lộng cũng rút lui để tránh việc bị kẹt giữa hai khối quân lớn của Nạp Tốc Lạt Đinh và Thoát Hoan. Nạp Tốc Lạt Đinh tuy đánh lui được Chiêu Văn vương nhưng chịu thiệt hại không nhỏ do bị quân của Hà Đặc tập kích và cũng bị tổn thất tại Thu Vật.

Nạp Tốc Lạt Đinh phải chia quân đối phó với quân của các tù trưởng khá vất vả, chỉ còn có thể huy động được 1.000 quân đến hội với cánh quân của Thoát Hoan. Chẳng những vậy, tuyến hành lang hậu cần phía sau liên tục bị quấy rối,khiến quân của Nạp Tốc Lạt Đinh trở thành một gánh nặng về quân lương cho toàn bộ đoàn quân Nguyên xâm lược. Còn về phía Đại Việt, tuy mất kinh đô như đã phá được một gọng kìm trong thế ba gọng kìm. Quân Đại Việt giờ đây lại tập trung đối phó thế gọng kìm mới. Phía bắc là quân của Thoát Hoan ào ào đánh xuống, phía nam là quân của Toa Đô thừa thế đánh lên. Tình hình vẫn còn rất cam go, đòi hỏi phải có được bản lĩnh phi thường để đi đến thắng lợi.

(còn tiếp)

Quốc Huy/Một Thế Giới

Kháng chiến chống Nguyên Mông lần 2 – Kỳ 12 : Kinh thành dậy sóng

Kháng chiến chống Nguyên Mông lần 2 – Kỳ 12 : Kinh thành dậy sóng

Sau trận Vạn Kiếp, chỉ trong ba ngày quân Nguyên đã kéo quân đến sông Hồng, bên đây sông chính là kinh thành Thăng Long. Ngày 17.2.1285, thủy bộ quân Nguyên đã tiến đến Gia Lâm, làm chủ nhiều nơi ở Bắc Giang, uy hiếp kinh thành từ cả hai mặt đông và đông bắc. Quân Nguyên tạm thời chưa thể tấn công ngay được vì quân Đại Việt đã củng cố được tuyến phòng thủ vững chắc, buộc địch phải bỏ thời gian hội quân đông đủ, chuẩn bị khí cụ vượt sông và công thành. Quân Đại Việt tuy đã chuẩn bị thế trận phòng thủ, thể hiện quyết tâm bảo vệ kinh đô nhưng hoàn toàn không hề có ý định cố thủ. Hưng Đạo vương đã trù tính hai phương án lớn. Hoặc là quân ta sẽ đánh bại quân Nguyên nhanh chóng và đuổi chúng về nước trong một trận, hoặc là sẽ rút lui bảo toàn lực lượng, chuyển sang trường kỳ kháng chiến, chờ đến khi quân địch mệt mỏi và thiếu thốn về hậu cần. Bằng chứng là quân Đại Việt đã cho sơ tán các kho lương thảo khỏi kinh thành Thăng Long. Không chuẩn bị lương thảo lâu dài trong thành, cũng tức là không chuẩn bị cố thủ lâu dài trong thành. Trong chiến lược phòng ngự chủ động của Hưng Đạo vương, ngài đã tiên liệu rằng bằng mọi giá, quân Đại Việt sẽ không để bị quân địch bao vây.

Tranh thủ thời gian ngắn ngủi chiến sự tạm lắng, vua Trần muốn sai sứ sang trại quân Nguyên, mượn tiếng đàm phán để dò xét quân tình địch. Vì hai quân đang giao tranh dữ dội, bá quan vẫn sợ quân Nguyên sẽ chém sứ, ai nấy đều ngần ngại chưa dám đi.

Vua Trần Nhân Tông đang trong nhất thời chưa tìm được người đi sứ thì có viên Chi hậu cục thủ Đỗ Khắc Chung tâu lên : “Thần hèn mọn bất tài nhưng xin được đi”.

Vua Trần cả mừng, nói rằng: “Ngờ đâu trong đám ngựa kéo xe muối lại có ngựa kỳ, ngựa ký như thế”.

Đỗ Khắc Chung mang thư sang trại giặc, vào trướng Ô Mã Nhi mà đưa thư. Đoạn đối thoại của Ô Mã Nhi và Đỗ Khắc Chung đã được Đại Việt Sử Ký Toàn Thư chép tỉ mỉ:

“Ô Mã Nhi hỏi: “Quốc Vương ngươi vô lễ, sai người thích chữ “Sát Thát”, khinh nhờn thiên binh, lỗi ấy to lắm”.

Khắc Chung đáp: “Chó nhà cắn người lạ không phải tại chủ nó. Vì lòng trung phẫn mà họ tự thích chữ thôi. Quốc Vương tôi không biết việc đó. Tôi là cận thần, tại sao lại không có?”.

Nói rồi giơ cánh tay cho xem. Ô Mã Nhi nói: “Đại quân từ xa tới, nước ngươi sao không quay giáo đến hội kiến, lại còn chống lệnh. Càng bọ ngựa cản bánh xe liệu sẽ ra sao?”.

Khắc Chung nói: “Hiền tướng không theo cái phương sách Hàn Tín bình nước Yên, đóng quân ở đầu biên giới, đưa thư tin trước, nếu không thông hiếu thì mới là có lỗi. Nay lại bức nhau, người ta nói thú cùng thì chống lại, chim cùng thì mổ lại, huống chi là người”.

Ô Mã Nhi nói: “Đại quân mượn đường để đi đánh Chiêm Thành, Quốc Vương ngươi nếu đến hội kiến thì trong cõi yên ổn, không bị xâm phạm mảy may. Nếu cứ chấp mê thì trong khoảnh khắc núi sông sẽ thành đất bằng, vua tôi sẽ thành cỏ nát”.

Khắc Chung về rồi, Ô Mã Nhi bảo các tướng rằng: “Người này ở vào lúc bị uy hiếp mà lời lẽ tự nhiên, không hạ chủ nó xướng là Chích, không nịnh ta lên là Nghiêu, mà chỉ nói “Chó nhà cắn người”, thật giỏi ứng đối. Có thể nói là không nhục mệnh vua. Nước nó còn có người giỏi, chưa dễ mưu tính được”.

Nói xong, Ô Mã Nhi sai quân đuổi theo Đỗ Khắc Chung toan bắt lại nhưng không kịp. Sáng sớm ngày 18.2.1285, Đỗ Khắc Chung về đến doanh trại báo cáo lại tình hình phía quân Nguyên mà ông quan sát được. Những thông tin này rất có giá trị, góp phần vào việc hoạch định kế sách chống giặc. Nhờ chuyến đi sứ đầy mưu trí và dũng cảm này, Đỗ Khắc Chung được trọng dụng và ban quốc tính, đời sau biết đến với tên Trần Khắc Chung. Về sau, Khắc Chung làm quan thăng đến chức Hành Khiển.

Ngay khi Trần Khắc Chung về đến trướng quân Đại Việt không lâu thì quân Nguyên dưới quyền Ô Mã Nhi cũng kéo quân tới đánh. Quân ta đã chuẩn bị trước nên đẩy lui được giặc, không cho chúng vượt sông, tiêu diệt được một bộ phận sinh lực địch.Quân Đại Việt lại dùng máy bắn đá bắn sang bờ bắc khiêu chiến. Sau đợt tấn công đầu tiên thất bại, ngay trong ngày 18.2.1285, Thoát Hoan kéo toàn bộ lực lượng mở đợt tấn công quy mô lớn trải dọc theo bờ sông Hồng. Trọng tâm cuộc tấn công của quân Nguyên là từ Gia Lâm vượt sông đánh vào căn cứ Đông Bộ Đầu. Vị trí của Đông Bộ Đầu thời bấy giờ nằm về phía đông nam chân thành Thăng Long. Tấn công mạnh vào nơi này, quân Nguyên thể hiện rõ ý đồ chặn đường rút quân về phía nam của quân Đại Việt. Hưng Đạo vương quan sát thế trận biết được toan tính của địch, phò xa giá và Thượng hoàng rút lui, để lại một số quân tướng thủ thành nhằm cầm chân và tiêu hao lực lượng địch càng nhiều càng tốt.

Thoát Hoan cùng A Lý Hải Nha, hai tướng đứng đầu đội quân xâm lược đích thân đứng ra đốc chiến, khiến kỷ luật quân Nguyên rất vững. Bộ binh quân Nguyên bất chấp tên đạn bắn ra từ bờ nam sông Hồng và từ các thuyền trên sông, hết lớp này đến lớp khác liều chết bắc cầu phao vượt sông ồ ạt. Máy bắn đá và cung nỏ của quân Đại Việt bắn xối xả, gây cho địch rất nhiều thương vong nhưng cũng không cản nổi quân Nguyên vượt sông. Sang đến bờ nam rồi, chúng lại đổ máu lớn trước hàng rào gỗ bởi cung tên của quân Đại Việt. Tuy nhiên, quân công thành rất đông và khí thế rất dữ tợn, nhanh chóng phá thủng hàng rào gỗ để tiến gần đến chân thành, giáp chiến với quân thủ thành. Trong lúc này thì phần đông quân chủ lực Đại Việt và đầu não triều đình đã đi được khá xa trên đường rút lui về Thiên Trường – Trường Yên.

Thoát Hoan vẫn chưa hay biết rằng chủ lực ta đã rút gần hết, kéo đại quân sang bờ nam, đóng doanh lũy dưới chân thành, tiếp tục xua quân đánh thành. Thế trận tại Thăng Long đã định đoạt. Thuyền chiến Đại Việt đánh với quân Nguyên cũng quay mũi rút về nam, một số bỏ thuyền lên bộ để lẫn tránh rồi sau mới tìm đường về với đại quân. Chưa đầy một ngày, thành Thăng Long đã bị hạ, tất nhiên với một cái giá khá đắt cho quân Nguyên. Đến hôm sau, ngày 19.2 Thoát Hoan mới kéo quân vào trong nội thành. Bấy giờ hắn mới nhận ra Thăng Long đã là một tòa thành trống rỗng. Cung thất, kho tàng, dân chúng đều đã sơ tán. Vua tôi nhà Trần và quân đội cũng mất hút. Thoát Hoan vội phái truy binh tức tốc đuổi theo quân Đại Việt. Sau trận chiến, mặc dù quân Nguyên vẫn tổ chức yến tiệc mừng thắng trận, nhưng trong quanh cảnh trống vắng tiêu điều của thành Thăng Long, nỗi lo sợ sẽ giống như cái gương của Ngột Lương Hợp Thai khi trước đã hiện ra. Thoát Hoan ra ngoài thành đóng đại doanh, nghe ngóng tin tức của truy binh.

rut-quan

(còn tiếp)

Quốc Huy/Một Thế Giới

Kháng chiến chống Nguyên Mông lần 2 – Kỳ 11 : Mặt trận đồng bằng, trận Vạn Kiếp

Kháng chiến chống Nguyên Mông lần 2 – Kỳ 11 : Mặt trận đồng bằng, trận Vạn Kiếp

Quân Nguyên sau khi thắng trận ở Nội Bàng, về cơ bản đã chiếm trọn vùng Lạng Châu. Tuy nhiên ngay tại vùng này vẫn còn những đội quân nhỏ của các thủ lĩnh n gười dân tộc thiểu số phối hợp với quân triều đình hoạt động quấy rối. Trên các đoạn đường vận lương dài từ biên giới đến nơi đóng đại doanh của Thoát Hoan luôn phải tổ chức những cụm quân đóng giữ. Thoạt đầu tại Lạng Châu, binh lực quân Nguyên vẫn tập trung. Nhưng khi vùng chiếm đóng rộng ra, giặc sẽ càng phải phân tán một lực lượng lớn chỉ dùng để đóng giữ những nơi đã chiếm và canh giữ đường hậu cần.

1. Trận Vạn Kiếp:

Tại Vạn Kiếp, Hưng Đạo vương hội quân hơn 20 vạn thì Thoát Hoan cũng hội quân ở Nội Bàng một lực lượng lớn gần 50 vạn quân. Tựu chung, binh lực của quân Nguyên vẫn đông đảo hơn quân ta rất nhiều. Cả hai bên đều ra sức tranh thủ chỉnh đốn đội ngũ. Về phía quân ta, Hưng Đạo vương bố trí thế trận phòng thủ mới ở các vùng Bắc Giang (gồm Bắc Ninh, Bắc Giang, một phần Hà Nội ngày nay), Vạn Kiếp (thuộc Chí Linh, Hải Dương ngày nay).

Trong thế trận mà Hưng Đạo vương đã trù tính, vùng Bắc Giang lúc này như tấm khiên trực tiếp che chắn cho kinh thành Thăng Long, còn căn cứ Vạn Kiếp như ngọn giáo chực chờ phản kích giặc. Các phòng tuyến nhỏ ở Bình Than, Phả Lại được củng cố rào lũy, tăng cường quân thủy bộ. Thủy quân chốt giữ chặt chẽ các ngã sông để tiện bề tiến thủ. Vua Trần hằng ngày đều cho người nghe ngóng tin tức chiến sự. Về phía địch, Thoát Hoan không thể lựa chọn tấn công vào Bắc Giang trước. Nếu đánh xuống Thăng Long theo đường Bắc Giang, quân Nguyên sẽ rơi vào thế gọng kìm, bị đại quân của Hưng Đạo vương ở Vạn Kiếp phối hợp với thủy quân của vua Trần ở Thăng Long trước sau cùng đánh. Quân Nguyên không còn cách nào khả thi hơn cách đánh vào Vạn Kiếp trước, rồi mới từ đó đánh vào Thăng Long bằng đường vòng.

Thoát Hoan cùng đầu não quân Nguyên đã lên một kế hoạch mới để đánh một trận lớn tấn công vào Vạn Kiếp, hòng đánh tan lực lượng chủ lực của Đại Việt trước khi tấn công Thăng Long. Chúng hy vọng sẽ đánh một trận quyết định thành bại ngay tại Vạn Kiếp. Ngoài việc chuẩn bị các lực lượng kỵ bộ là lực lượng tấn công chủ chốt, quân Nguyên tìm cướp các ván gỗ, nguyên vật liệu trong vùng, lập xưởng đóng thuyền dã chiến. Cùng với các chiến thuyền quân Nguyên đã cướp được trong trận Nội Bàng và các thuyền tìm cướp trong dân, Thoát Hoan cho lập một đội thủy quân với khoản vài trăm chiến thuyền. Ô Mã Nhi được giao chỉ huy đội thủy quân, nhận nhiệm vụ phối hợp với quân trên bộ và đánh chặn đường rút lui của quân Đại Việt. Ô Mã Nhi là một tướng dũng mãnh, có tài về thủy chiến bậc nhất trong quân Nguyên, được phong danh hiệu Bạt Đô (nghĩa là dũng sĩ vô địch, theo binh chế nước Nguyên).

Ngày 11.2.1285, Thoát Hoan giao cho Ô Mã Nhi làm tiên phong, cầm đầu 30 vạn quân chia làm nhiều hướng tấn công vào Vạn Kiếp. Thoát Hoan thì dẫn mười mấy vạn quân còn lại theo sau làm lực lượng dự bị. Mở màn là đòn tấn công của thủy quân do Ô Mã Nhi cầm đầu đánh vào phòng tuyến Bình Than. Bộ binh địch cũng tiến dọc bờ sông phối hợp, đồng thời tiến đánh núi Phả Lại. Hưng Đạo vương đem hơn 1.000 chiến thuyền bày trận trên các ngã sông Lục Nam, Lục Đầu, ngay tại bến Bình Than, gọi là trận Dực Thủy, ứng chiến với Ô Mã Nhi. Thủy quân Nguyên cậy vào cung tên ở trên bộ hỗ trợ, hùng hổ tiến vào. Quân Đại Việt không hề nao núng, dựa vào hạm thuyền hùng hậu, thủy quân tinh nhuệ bẽ gãy các đợt tấn công của địch.

Quân Nguyên không tiến lên được, bị thiệt hại nặng. Quân ta giết được viên Vạn hộ Nghê Thuận tại Lưu Thôn. Tuy nhiên quân Nguyên cậy đông nối nhau tấn công dồn dập. Các tướng Nguyên là Na Khai, Tôn Đức Lâm cùng đem quân phối hợp với Ô Mã Nhi, tấn công quân của Đại Việt từ nhiều hướng. Dưới sông, thủy quân địch tỏ ra yếu thế hơn do thuyền của quân Đại Việt nhiều và thủy quân thiện chiến hơn, nhưng trên bộ thì kỵ binh địch lại chiếm thế thượng phong.

Vua Trần Nhân Tông được tin cấp báo, thân đem 1.000 chiến thuyền, 10 vạn quân dự bị chiến lược từ Thăng Long lên tiếp viện cho quân của Hưng Đạo vương. Tổng cộng quân số Đại Việt tại Vạn Kiếp lúc này đã lên tới gần 30 vạn quân, tuy vậy vẫn ít hơn quân của Thoát Hoan nhiều. 30 vạn quân Đại Việt cùng gần 50 vạn quân Nguyên kịch chiến dữ dội, ba ngày trời bất phân thắng bại. Đến ngày 14.2.1285, nhận thấy quân ta dần yếu thế hơn, Hưng Đạo vương cùng vua Trần Nhân Tông hạ lệnh lui quân, theo đúng như phương châm mà ngài đã đề ra trong Binh Thư Yếu Lược: “Người giỏi thắng không cần thắng nhiều lần, mà cần toàn thắng, đảm bảo thắng”.

Lần này, do giữ được vững chắc các tuyến sông lớn nên quân ta có thể rút lui nhanh chóng bằng đường thủy, thuận lợi theo đường sông Đuống về Thăng Long. Hạm thuyền hùng hậu đến hàng ngàn chiếc đủ sức chở một đạo quân khổng lồ hàng chục vạn quân rút lui. Tuy nhiên, phía quân ta vẫn phải chấp nhận hy sinh một số lực lượng nhất định để ở lại đánh chặn hậu cho toàn quân có đủ thời gian rút lui an toàn. Mặc dù thủy quân của Ô Mã Nhi rất cố gắng đánh cắt đường lui của quân Đại Việt nhưng không thành công. Tuy không có số liệu về thương vong sau trận kịch chiến tại Vạn Kiếp, nhưng ắt hẳn cả hai phía đều bị thiệt hại nặng với mức độ giao tranh ác liệt, kéo dài như thế.


2. Quyết tâm bảo vệ kinh thành:

Chiếm được Vạn Kiếp rồi, quân Nguyên nối nhau tiến quân vào lộ Bắc Giang. Tại vùng này Hưng Đạo vương chỉ bố trí những lực lượng cảm tử với quân số ít, chủ yếu để đánh cầm chân giặc. Các châu Vũ Ninh, Đông Ngàn có khá ít quân phòng giữ nên nhanh chóng rơi vào tay giặc. Quân Nguyên chiếm được Đông Ngàn, lại bắt cầu phao tung bộ binh vượt sông Đuống đánh chiếm châu Gia Lâm, uy hiếp kinh thành Thăng Long từ mặt phía đông, thanh thế vô cùng lớn.

Tại các vùng quân Nguyên đi qua, chúng thả sức làm điều bạo ngược, tàn hại sinh linh Đại Việt. Thoát Hoan bắt được quân ta, thấy trên cánh tay có thích chữ “Sát Thát”. Hắn giận lắm, sai giết hết những tù binh. Người nước Nguyên theo đuổi một thứ ảo tưởng việc bành trướng lãnh thổ, thậm chí thống nhất thế giới bằng bạo lực. Bất luận máu chảy thành sông, xương chất thành núi chúng cũng không ngần ngại. Những việc giết hại nhân dân các nước không chịu lệ thuộc, bọn chúng coi là lẽ đương nhiên.Thoát Hoan mới vào nước ta không lâu, dựa vào quân đông tướng mạnh thắng liền mấy trận, cho là quân Đại Việt tất nhụt chí. Hắn bèn bảo A Lý Hải Nha thảo thư dụ hàng, sai người gởi cho vua Trần.

Thư viết rằng: “Triều đình điều binh chinh phạt Chiêm Thành, nhiều lần đưa thư cho thế tử (1), bảo mở đường, chuẩn bị lương thực, nào ngờ trái mệnh triều đình, để bọn Hưng Đạo Vương đem quân nghênh chiến, bắn quân ta bị thương, khiến cho sinh linh An Nam gặp họa, đó là do nước người làm vậy. Nay đại quân đi qua nước ngươi thảo phạt Chiêm Thành, đó là thánh chỉ. Thế tử hãy nghỉ cho kĩ, nước ngươi quy phục đã lâu, nên vì cái đức khoan hồng từ bi của hoàng đế mà ra lệnh rút quân mở đường, khuyên bảo trăm họ ai nấy cứ sinh sống làm ăn, quân ta đi qua sẽ không gây chút phiền nhiễu nào, thế tử hãy ra nghênh tiếp Trấn Nam Vương, cùng bàn việc quân. Nếu không, đại quân sẽ dừng ở An Nam mở phủ”.

Dù giặc mạnh như cuồng phong, vua tôi nhà Trần vẫn không nao núng. Tại Thăng Long, quân Đại Việt lại chuẩn bị trận địa mới đón đánh giặc. Một mặt, triều đình tổ chức sơ tán nhân dân, cung thất, lương thảo, kho tàng đi nơi khác, chủ yếu là về lộ Thiên Trường (thuộc Nam Định ngày nay), Trường Yên (thuộc Ninh Bình ngày nay) để đề phòng bất trắc.Mặt khác, quân ta điều các chiến thuyền phòng giữ các ngả sông quanh thành Thăng Long, dọc bờ sông dùng gỗ và tre làm hàng rào, sau lớp rào đặt máy bắn đá (2), gia cố hào lũy ngoài tường thành, sẵn sàng nghênh chiến quân Nguyên để bảo vệ kinh thành. Quân Đại Việt đặt trọng binh trấn giữ tại Đông Bộ Đầu, đối trận với quân Nguyên phía bên Gia Lâm, chỉ cách nhau một con sông Hồng. Tiên phong quân Nguyên trong nhất thời không dám vượt sông tiến sang, dừng quân chờ tập kết thủy bộ đông đủ.

Qua việc tìm hiểu những bước chuẩn bị chiến đấu của quân Đại Việt tại Thăng Long, chúng ta cần hiểu rằng quân đội nhà Trần đã có cố gắng nhất định để bảo vệ kinh thành khỏi sự chiếm đóng của giặc. Điều này hoàn toàn trái ngược với một số nhận định chủ quan cho rằng nhà Trần không chú trọng việc bảo vệ kinh thành, dễ dàng để ngỏ cho quân Nguyên vào chiếm thành để thực hiện “vườn không nhà trống”. Thực tế, kế “vườn không nhà trống” nổi tiếng chỉ là phương án dự phòng trong chiến lược của vương triều Trần. Cuộc chiến tại thành Thăng Long sẽ lại là một trận chiến quy mô khá lớn.

Quốc Huy/Một Thế Giới

Kháng chiến chống Nguyên Mông lần 2 – Kỳ 10 : Mặt trận Đông Bắc, Nguyên binh ồ ạt tiến sang

Kháng chiến chống Nguyên Mông lần 2 – Kỳ 10 : Mặt trận Đông Bắc, Nguyên binh ồ ạt tiến sang

Đầu năm 1285, trong khi tại Thăng Long các bô lão đồng thanh hô “Đánh”, thể hiện ý chí bất khuất của toàn dân thì ngoài biên cương quân giặc cũng đã ồ ạt tiến sang. Quân dân Đại Việt lại cùng nhau diệt giặc cứu nước.

Hướng tiến công chính của quân Nguyên là ở biên thùy phía đông bắc, nơi Lạng Châu ( Lạng Sơn ngày nay ) của Đại Việt tiếp giáp Ung Châu của nước Nguyên. Vừa đặt chân vào lãnh thổ Đại Việt, trở ngại đầu tiên của quân Nguyên chính là các cửa ải. Đó là những cứ điểm phòng thủ thường đặt nằm ở các con đường núi, hai bên là vách núi cao. Địa thế vùng Lạng Giang có rất nhiều nơi có thể đặt cửa ải. Tại các ải, thông thường các bên tham chiến không thể điều động được binh lực lớn, quân giữ ải có thể lấy ít địch nhiều. Quân công phá ải chỉ có thể chia làm từng tốp quân nhỏ tiến đánh. Lớp này chết thì lớp khác lên thay. Quân Đại Việt tận dụng tối đa địa thế hiểm yếu của các cửa ải. Tất nhiên không thể hoàn toàn cản bước của giặc, nhưng có thể làm tiêu hao lực lượng của giặc ở mức độ cao nhất.

Ải Lộc Châu là cửa ải đầu tiên mà quân Nguyên tiến đánh. Với binh lực hùng hậu, quân Nguyên nhanh chóng chiếm được ải này. Không có ghi chép về việc có giao chiến tại đây, có thể quân Đại Việt đã chủ động rút trước do vị trí của ải Lộc Châu nằm quá trơ trọi ngoài biên giới. Thoát Hoan tại Lộc Châu đã chia quân làm hai mũi tiên phong đánh mạnh vào các cửa ải khác của quân ta. Mặc dù tương quan lực lượng ban đầu rất chênh lệch, các cụm quân giữ ải của Đại Việt đã dũng cảm chiến đấu, buộc địch phải trả giá đắt ngay khi chúng vừa đặt chân vào lãnh thổ nước ta.

Tại các ải Khâu Ôn, Khâu Cấp, Thất Nguyên, Thiết Lược, Vĩnh Châu, Khả Ly đều đã diễn ra những trận quyết chiến đẫm máu. Tại Thất Nguyên, quản quân Nguyễn Nộn giao chiến với cách tiên phong phía tây do Bột Đa Cáp Đáp Nhĩ cùng A Thâm chỉ huy, quân ta ít không địch nổi nhiều, dù chống trả kiên cường nhưng rốt cuộc phải lui. Quan quân ta chặn giặc ở ải Khâu Cấp, cánh quân tiên phong phía đông của Nguyên Mông do tướng Tản Tháp Nhĩ Hải và Lý Bang Hiến chỉ huy tấn công liên tiếp ba đợt đều không phá được ải, chết trận rất nhiều. Nhưng ở phía khác, ải Khả Ly bị vỡ, quản quân Đỗ Vĩ, Đỗ Hựu bị bắt nên quân các ải khác phải lui binh vào rừng núi hay rút về hậu tuyến để tránh bị giặc đánh bọc hậu.

Quan quân Đại Việt rút về thủ ải Chi Lăng, Động Bản. Bọn Tản Tháp Nhĩ Hải, Lý Bang Hiến tấn công ải Động Bản, tướng Tần Sâm của Đại Việt cùng quân lính tử chiến cho đến chết. Thoát Hoan dẫn đại quân Nguyên tiến theo sau cánh tiên phong phía đông vào ải, kéo nhau đến đóng ở thôn Biến Trú và phụ cận, chuẩn bị công phá đại doanh của quân Đại Việt do Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn chỉ huy trấn giữ. Trong khi đó, cánh tiên phong phía tây dưới quyền Bột Đa Cáp Đáp Nhĩ, A Thâm sau khi qua ải Thất Nguyên thì tiến một mạch đến ải Khâu Ôn, quân Đại Việt ở đây kiên trì phòng thủ khiến cho quân Nguyên không tiến được. Bấy giờ tại ải Nội Bàng ( thuộc Bắc Giang ), là nơi Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn đóng đại doanh, đích thân vị Quốc công Tiết chế đã sẵn sàng nghênh chiến.

Thoát Hoan thắng liền mấy trận đầu, sai người đem thư dụ hàng Hưng Đạo vương, hiển nhiên là không có kết quả. Hưng Đạo vương dựa vào quân tinh, lũy chắc dự định sẽ quyết chiến với giặc tại Nội Bàng. Nhưng quân Nguyên binh nhiều tướng mạnh, lại có nhiều kẻ trong trướng tinh thông binh pháp. Ngày 2/2/1285, Thoát Hoan chia quân làm 6 cánh, tấn công làm nhiều hướng, tập dụng được triệt để lợi thế về quân số. Hưng Đạo vương ít quân, phải chia ra chống cự nhiều mặt rất vất vả. Tuy vậy quân Đại Việt tinh nhuệ và có tinh thần chiến đấu rất cao, cũng chẳng dễ gì để quân Nguyên chiếm thế thượng phong.

Đương lúc giao chiến ác liệt thì được tin ải Khâu Ôn đã vỡ, ải Chi Lăng cũng thất thủ ngay sau đó. Quả thực quân Nguyên lần này không chỉ đông, mà sức chiến đấu còn mạnh mẽ vượt ngoài cả dự kiến của Hưng Đạo vương và triều đình. Trước tình hình đó, Hưng Đạo vương hạ lệnh chia quân làm nhiều tốp, vừa đánh vừa rút lui về bến thuyền ở Bãi Tân ( bến thuyền trên sông Lục Nam ), rồi toàn quân lên thuyền lui về giữ Vạn Kiếp. Cuộc rút lui này không đơn giản vì giao tranh với quân Thoát Hoan rất dữ dội. Trong lúc thuyền chở quân hầu hết đã rời bến thì vẫn còn một bộ phận lớn quân Đại Việt còn kẹt lại tại chiến trường Nội Bàng, trong đó có cả Hưng Đạo vương. Thoát Hoan tung quân truy kích mãnh liệt khiến cho quân Đại Việt bị tan vỡ lớn, các hiệu quân bị mất liên lạc với nhau, mạnh ai nấy rút, đại liêu bang Đoàn Thai bị giặc bắt, một số chiến thuyền của quân ta cũng bị quân Nguyên cướp được.

Bấy giờ Hưng Đạo vương sợ rằng đến bến sẽ không còn thuyền tất bị giặc bắt, định theo đường núi mà rút lui. Gia tướng Dã Tượng tâu rằng : “Yết Kiêu chưa thấy Đại vương, tất không chịu rời thuyền”. Hưng Đạo vương nghe lời, bèn thúc quân ra Bãi Tân tìm thuyền. Quả nhiên gia tướng Yết Kiêu vẫn neo thuyền ở đó đợi chủ, mặc cho phần đông các đạo thủy binh khác đã rút trước. Hưng Đạo vương trông thấy Yết Kiêu, rất mừng rỡ và cảm phục lòng trung của các gia tướng, nói với mọi người xung quanh rằng : “Chim hồng hộc sở dĩ bay cao được, tất phải nhờ có sáu cái xương trụ ở cánh, nếu không có sáu cái xương trụ cứng rắn, thì chim hồng hộc cũng như loài chim thường thôi!” ( theo Cương Mục ). Nói đoạn, cùng quân bản bộ dong thuyền theo dòng Lục Nam xuôi về Vạn Kiếp. Truy binh giặc đuổi tới bờ sông thì thuyền của Hưng Đạo vương đã giương buồm đi nhanh, không sao đuổi kịp. Chư quân Đại Việt tuy tan vỡ lớn ở Nội Bàng nhưng chỉ bị đánh tan mà không bị tiêu diệt, hầu hết đều tự tìm đường về hội quân tại Vạn Kiếp, quyết không nhụt chí đào ngũ. Hưng Đạo vương lại chia quân ra đóng giữ vùng Bắc Giang ( thuộc Bắc Ninh ngày nay ).

Vua Trần Nhân Tông ở kinh sư hay tin Hưng Đạo vương thua trận rút lui về Vạn Kiếp, lòng vô cùng lo lắng. Vua ngự thuyền nhỏ cùng hầu cận ra Hải Đông, cho dụ Hưng Đạo vương đến hỏi việc. Thuyền ngự đi gấp không chuẩn bị, đến chiều mà vua vẫn chưa ăn sáng. Người lính cận vệ bèn nấu phần gạo xấu của mình dâng lên vua. Vua gặp Hưng Đạo vương, liền hỏi : “Giặc truyền lời nói đánh để cướp đất, chúng giết người đầy đồng nội. Nay thế giặc như thế, có nên hàng chúng để cứu mệnh cho muôn dân ?”. Hưng Đạo vương đáp : “Lời bệ hạ nói ra thật là lời nói cùa bậc nhân giả. Nhưng còn tông miếu xã tắc thì sao ? Thần xin trước hãy chém đầu thần rồi sau hãy hàng giặc. Đầu thần nếu còn, xã tắc cũng còn. Xin bệ hạ đừng lo, thần đã có kế đánh bại giặc”. ( theo Trần Đại Vương Bình Nguyên Thực Lục, dẫn theo Hà Văn Tấn ). Vua bấy giờ mới yên dạ, ngự giá về Thăng Long sửa soạn thủy quân làm hậu viện cho quân của Hưng Đạo vương.

Hưng Đạo vương lấy quyền Quốc Công Tiết Chế, đốc suất các lộ Hải Đông, Vân Trà, Ba Điểm lấy thêm quân lính, chọn người dũng cảm làm tiên phong. Các vương hầu từ trước đi tuyển lính ở các xứ miền đông bắc là Hưng Vũ vương Trần Quốc Nghiễn, Hưng Nhượng vương Trần Quốc Tảng, Hưng Trí vương Trần Quốc Hiện, Minh Hiến vương Trần Uất cũng kịp kéo về hội quân ở Vạn Kiếp. Quân Đại Việt bấy giờ tại Vạn Kiếp đã đông đến hơn 20 vạn người. Mặc dù trong thành phần quân có nhiều tân binh, nhưng với lực lượng mới tập họp rất hùng hậu, khí thế quân Đại Việt lại phấn chấn lên.

Quốc Huy/Một Thế Giới

Kháng chiến chống Nguyên Mông lần 2 – Kỳ 9 : Hội nghị Diên Hồng, toàn dân quyết chiến

Kháng chiến chống Nguyên Mông lần 2 – Kỳ 9 : Hội nghị Diên Hồng, toàn dân quyết chiến

Càng gần đến ngày quân Nguyên tiến sang, không khí chuẩn bị kháng chiến càng tích cực. Để khích lệ lòng quân, Trần Hưng Đạo soạn Hịch Tướng Sĩ cho mọi người cùng đọc. Binh sĩ nghe lời hịch hết sức cảm khái, rủ nhau xăm lên cánh tay hai chữ Sát Thát để bày tỏ ý chí quyết chiến. Ông còn soạn Binh Thư Yếu Lược cho các tướng lĩnh học tập. Tháng 9.1284, Trần Hưng Đạo thừa lệnh vua Trần Nhân Tông tổ chức một cuộc tổng duyệt binh ở Đông Bộ Đầu, các quân vương hầu đều kéo đến tham dự rồi chia nhau đóng giữ các nơi xung yếu. Cho cuối năm 1284, ngay trước khi quân Nguyên tiến sang, những ngả đường quan trọng ở các tuyến biên giới đều có trọng binh trấn giữ.

Tại các vùng tây bắc, quân của các tù trưởng đã chuẩn bị chiến đấu. Thế lực họ Hà ở châu Quy Hóa trước đây đã có nhiều chiến công trong cuộc chiến chống Nguyên Mông lần thứ nhất, nay lại tiếp tục sản sinh ra những vị anh hùng mới. Hà Đặc bấy giờ là tù trưởng ở châu Quy Hóa, có trong tay hàng ngàn quân người Tày, sẽ là lực lượng đầu tiên đương đầu với quân Nguyên ở Vân Nam. Tù trưởng Trịnh Giác Mật ở châu Đà Giang cũng là một lực lượng đáng kể. Trịnh Giác Mật đã từng khởi binh chống lại triều đình năm 1280, được Chiêu Văn Vương Trần Nhật Duật chiêu dụ, Mật lại chịu phục tùng và sát cánh với triều đình Đại Việt.

Chiêu Văn Vương Trần Nhật Duật đóng ở lộ Tuyên Quang, giữ trại Thu Vật phòng quân Nguyên ở Vân Nam theo đường Quy Hóa đánh vào trung châu. Trần Nhật Duật là người tài năng kiệt xuất, tính cách nhu hòa, tinh thông ngôn ngữ và phong tục của nhiều tộc người nên rất được lòng các sắc dân thiểu số. Ông là cầu nối quan trọng giữ các lực lượng miền núi tây bắc và miền xuôi phía đông. Trong quân của Trần Nhật Duật có nhiều sắc dân cả trong và ngoài nước. Trong đó có nhiều người tài tuấn. Lựa chọn Trần Nhật Duật cho tuyến phòng thủ mặt tây bắc cho thấy cách dùng người rất hay của Trần Hưng Đạo và vua Trần.

Phần đông quân chủ lực Đại Việt dồn lên phía Lạng Châu để đề phòng quân Nguyên từ Ung Châu theo đường lớn đánh sang. Phạm Ngũ Lão cùng nhiều tướng khác đảm nhận tuyến biên giới đến ải Chi Lăng, bao gồm một loạt cửa ải Khâu Ôn, Khâu Cấp, Khả Li … Quân của Phạm Ngũ Lão bố trí trận địa dựa vào các địa hình hiểm trở, có vai trò cố gắng tiêu hao lực lượng địch càng nhiều càng tốt khi chúng vừa phạm vào biên giới. Trần Hưng Đạo đóng đại doanh ở ải Nội Bàng. Xung quanh Nội Bàng là các cụm cứ điểm vệ tinh để ứng cứu nhau và liệu đường tiến thoái. Quản quân Nguyễn Nộn được lệnh đóng giữ châu Thất Nguyên. Hoài Thượng Hầu Trần Lộng đóng giữ vùng Tam Đái… Thủy quân ở Vạn Kiếp, Thăng Long đã bố trí sẵn để làm hậu viện cho các cụm phòng thủ phía bắc. Tại Thăng Long, vua Trần Nhân Tông tự mình cũng nắm giữ một lực lượng thủy quân mạnh để tiện ứng biến.

Thế trận phòng ngự do Hưng Đạo Vương sắp đặt là một thế trận phòng ngự đa tuyến, đa điểm, không dồn quân vào một chỗ mà bố trí nhiều nơi để linh hoạt đánh và rút cũng như cơ động hỗ trợ cho nhau. Trong thế trận này, sự cơ động của thuyền bè đóng vai trò rất quan trọng mà ta sẽ thấy sau. Trần Quốc Tuấn còn sai các thân vương tích cực đi mộ binh các xứ để làm lực lượng dự bị. Cùng với việc bố trí các lực lượng quân sự, thì các kho tàng hậu cần cũng được chuẩn bị sẵn ở nhiều nơi để đề phòng quan quân sẽ dùng tới trong các cuộc di tản.

Mặc dù việc binh bị đã chuẩn bị rất khẩn trương, vua Trần Nhân Tông vẫn mong muốn níu kéo hòa bình. Trong năm 1284, lần lượt 3 sứ đoàn sang Nguyên xin hoãn binh đều không mang lại kết quả. Thoát Hoan vừa hành quân xuống miền nam nước Nguyên để tiến sang Đại Việt, vừa sai sứ đòi vua Trần phải chuẩn bị lương thực, và phải lên cửa quan đón quân Nguyên vào nước để “đi đánh Chiêm Thành”. Vua Trần Nhân Tông bèn trả lời thư: “Từ nước tôi đến Chiêm Thành, đường thủy đường bộ đều không tiện”.

Để dò biết lòng dân, đầu năm 1285 (tháng Chạp năm Giáp Thân 1284 Âm lịch) Thượng hoàng Trần Thánh Tông cho mời các bô lão trong nước đến dự hội nghị tại điện Diên Hồng. Thượng hoàng ban yến và ân cần hỏi ý kiến của các bô lão nên đánh hay hòa trước thế giặc mạnh. Trong hội nghị ấy, các bô lão, những người đại diện cho lòng dân cả nước đã đồng thanh hô “Đánh !”. Muôn người một tiếng, lời như một miệng phát ra. Đó cũng là hiệu lệnh quyết chiến cho toàn dân tộc. Sử gia các đời đánh giá rất cao hội nghị Diên Hồng vì đó là một động thái chính trị rất sáng tạo và đột phá trong bối cảnh lịch sử thời Trung đại. Ngày nay, chúng ta gọi đó là tinh thần dân chủ.

Trần Thánh Tông thông qua hội nghị không chỉ dò biết được ý nguyện của nhân dân, mà hơn thế nữa là cho nhân dân biết được ý nguyện của họ đã được các nhà cai trị tôn trọng và lắng nghe. Sức ảnh hưởng của hội nghị này rất lớn, giúp cho dân chúng một lòng quyết chiến với quân đội triều đình. Đại Việt Sử Ký Toàn Thư đã nhận xét : “Giặc Hồ vào cướp nước là nạn lớn nhất của đất nước. Hai vua hiệp mưu, bầy tôi họp bàn há lại không có kế sách gì chống giặc mà phải đợi đến ban yến hỏi kế ở các phụ lão hay sao? Là vì Thánh Tông muốn làm thế để xét lòng thành ủng hộ của dân chúng, để dân chúng nghe theo lời dụ hỏi mà cảm kích hăng hái lên thôi. Đó là giữ được cái nghĩa người xưa nuôi người già để xin lời hay vậy.”

Bấy giờ quân của Thoát Hoan đã tiến đến Ung Châu, quân Nguyên từ Vân Nam do Nạp Tốc Lạp Đinh (Naxirut Din) cũng đang sẵn sàng vượt biên giới. Tình thế vô cùng khẩn trương. Nhân dân trong nước ngoài việc cung cấp nhân lực, vật lực cho quân đội triều đình thì những người ở các làng xã cũng đã tự mình tổ chức cất giấu lương thực, lập các đội dân binh, các cụm chiến đấu tự vệ ở địa phương. Hầu hết dân chúng răm rắp làm theo mệnh lệnh triều đình: “Tất cả các quận huyện trong nước, nếu có giặc ngoài đến, phải liều chết mà đánh. Nếu sức không địch nổi thì cho phép lẩn tránh vào rừng núi, không được đầu hàng!”.

Cuối tháng 1.1285, quân Nguyên do Thoát Hoan và A Lý Hải Nha chỉ huy đã kéo đến biên giới nước ta, giáp với Lộc Châu (Lộc Bình, Lạng Sơn). Quân Đại Việt đã dàn sẵn trận địa để đợi giờ quyết chiến. Vua Trần sai người mang thư đến cho Thoát Hoan để nuôi cái chí kiêu ngạo của chúng: ” Không thể tận mắt trông thấy cái hào quang của ngài, nhưng trong lòng lấy làm hoan hỉ. Nhân vì ngày trước có nhận được thánh chiếu nói rằng: “Sắc riêng cho quân ta không phạm vào nước ngươi”, mà nay thì thấy ở Ung Châu doanh trạm cầu đường nối nhau san sát, trong lòng thật lấy làm kinh sợ, mong hãy xét rõ lòng trung thành, nếu có gì thiếu sót xin lượng thứ cho”. ( theo Nguyên sử )

Thoát Hoan đưa thư hồi đáp với lời lẽ gian trá: “Sở dĩ hưng binh là để phạt Chiêm Thành, chứ không phải An Nam” (theo Nguyên sử)

Thư từ qua lại như thế nhưng không ảnh hưởng gì tới tiến độ hành quân của quân Nguyên. Ngày 27.1.1285, quân Nguyên chia làm hai đạo tiên phong mà tiến. Cánh phía tây do Bột Đa Cáp Đáp Nhĩ (Bolquadar), A Thâm chỉ huy tiến vào Khâu Ôn (Ôn Châu, Lạng Sơn ngày nay). Cánh phía đông do Tản Tháp Nhĩ Hải (Satartai Satardai), Lý Bang Hiến chỉ huy tiến vào Khâu Cấp (Lộc Bình, Lạng Sơn ngày nay). Thoát Hoan cùng A Lý Hải Nha dẫn đại quân theo sau cánh quân phía đông. Tại những những nơi Khâu Ôn, Khâu Cấp những trận chiến đầu tiên đã diễn ra. Cuộc chiến Đại Việt – Nguyên Mông chính thức bắt đầu.

(còn tiếp)

Quốc Huy/Một Thế Giới