Kháng chiến chống Nguyên Mông lần 3 – Kỳ 12 : Luận công ban thưởng, xét xử tội nhân

Kháng chiến chống Nguyên Mông lần 3 – Kỳ 12 : Luận công ban thưởng, xét xử tội nhân

Cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông lần thứ 3 của quân dân nước Đại Việt khép lại với chiến thắng vẻ vang. Ngày 18.04.1288, Thượng hoàng Trần Thánh Tông, vua Trần Nhân Tông cùng quần thần, quân đội đem bọn tù binh Tích Lệ Cơ Ngọc, Ô Mã Nhi, các thiên hộ, vạn hộ quân Nguyên bị bắt về phủ Long Hưng, làm lễ mừng công trước Chiêu lăng (lăng mộ vua Trần Thái Tông). Trong chiến tranh quân Nguyên tiến vào lăng muốn đào mộ vua Trần Thái Tông nhưng tìm mãi không thấy quan tài. Đến khi bái yết, vua Trần Nhân Tông thấy chân ngựa đá trong lăng đều lấm bùn, cho rằng thần linh đã ngầm giúp. Cảm khái vì sự bi tráng của chiến tranh và chiến công của quân dân Đại Việt, vua Trần Nhân Tông đã làm đôi dòng thơ:

“Xã tắc lưỡng hồi lao thạch mã

Sơn hà thiên cổ điện kim âu”

Dịch thơ :

Xã tắc hai phen chồn ngựa đá,

Non sông nghìn thưở vững âu vàng

Khi triều đình về lại Thăng Long, cung điện đã bị quân Nguyên đốt phá. Đến nỗi Thượng hoàng Trần Thánh Tông phải ngự ở hàng lang Thị Vệ để làm việc. Triều đình ra lệnh đại xá cả nước, những nơi chịu thiệt hại do chiến tranh đều xem xét miễn giảm thuế khóa, phu dịch tùy theo mức độ.

Khi định công lao dẹp giặc, Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn lĩnh công đầu. Vì ngài đã tột bực vinh hiển, nên vua phong thêm tước Đại vương. Con trai Hưng Đạo vương là Hưng Vũ vương Trần Quốc Nghiễn có công lớn được phong làm Khai Quốc công, Hưng Nhượng vương Trần Quốc Tảng được phong Tiết độ sứ. Đỗ Khắc Chung có công lao và dũng khí đi sứ trong lúc chiến sự cam go, được ban quốc tính, gọi là Trần Khắc Chung. Quản lĩnh quân Thánh Dực là tướng Nguyễn Khoái được phong tước Liệt hầu, được ban cho một hương (làng) làm thái ấp, sau gọi là hương Khoái Lộ. Tù trưởng Lạng Giang Lương Uất có quân công nên được phong làm Trại chủ Quy Hóa. Tù trưởng Hà Tất Năng có công chỉ huy người thiểu số đánh giặc, được phong tước Quan phục hầu.

Hưng Trí vương Trần Quốc Hiện cũng có công lao rất lớn, nhưng vì cãi lệnh vua đem quân đánh bọn Thoát Hoan trong khi vua đã hạ lệnh thả cho chúng một con đường sống nên ông không được phong thưởng. Nội minh tự Đỗ Hành bắt được Ô Mã Nhi, là lập được đại công nhưng vì không dâng lên vua mà lại dâng lên Thượng hoàng nên bị bắt tội bất kính, chỉ được phong tước Quan nội hầu.

Bấy giờ người trong nước lập được quân công rất nhiều mà chức tước, bổng lộc của triều đình thì có giới hạn. Việc thưởng công xong rồi, nhiều người vẫn cho là sơ sài. Thượng hoàng Trần Thánh Tông bèn dụ rằng:

“Nếu các khanh biết chắc là giặc Hồ không vào cướp nữa thì nói rõ cho trẫm biết, dù có thăng đến cực phẩm trẫm cũng không tiếc. Nếu không thế mà đã vội thưởng hậu, vạn nhất giặc Hồ trở lại, và các khanh lại lập công nữa thì trẫm lấy gì mà thưởng để khuyến khích thiên hạ” (theo Đại Việt sử ký toàn thư).

Lời dụ ban xuống, mọi người đều bằng lòng. Triều đình lại cho vẽ chân dung, ghi công trạng những người có chiến công đặc biệt trong hai cuộc chiến (kháng chiến chống Nguyên lần 2, lần 3) vào sách Trùng Hưng Thực Lục.

Đến lúc xét xử người kẻ hàng giặc, những nhân dân và quân lính được miễn tội chết nhưng bị bắt phải chịu phu dịch nặng nề, chuyên chở gỗ đá để xây dựng cung điện. Các quan viên hàng giặc thì bị nghiêm trị tùy theo tội trạng. Những hương sớm hàng giặc là Bàng Hà, Ba Điểm thì bắt dân ở đó đời đời chỉ được làm lính, làm nô, không được đi thi hay tiến cử làm quan, làm tướng.

Khi quân Nguyên rút chạy, quân ta bắt được một hòm chứ đầy văn thư ước hẹn xin hàng của các vương hầu, quan lại. Khi đem hòm ấy ra, nhiều kẻ run sợ. Thượng hoàng sai quân đem đốt hòm ấy đi để tỏ sự khoan hồng. Còn lại những kẻ phản quốc từ trước, đã lộ hình tích thì triều đình thẳng tay trừng trị. Đến như Trần Kiện đã chết rồi vẫn đem ra xử, cho đổi sang họ Mai. Trần Lộng cũng bị đổi thành Mai Lộng. Trần Ích Tắc vì là tôn thất rất gần nên không thể đội họ, bị gọi là Ả Trần (ngụ ý nhút nhát như đàn đà) … Về việc này, các ý kiến thời hiện đại thường trách vua Trần trọng nam khinh nữ. Bởi lẽ đàn bà Đại Việt cũng nghĩa khí chẳng kém đàn ông. Ý kiến của sử gia Nguyễn Khắc Thuần có thể coi là tiêu biểu cho luồng tư tưởng đương đại: “Than ôi, sử thần xưa đã nương tay không phải chỗ, đàn bà thời Trần dũng cảm đánh giặc, để lại biết bao gương sáng cho đời sau noi theo, nào ai hèn nhát và cam tâm theo giặc như Trấn Ích Tắc đâu!” (theo Việt Sử giai thoại).

Cận thần rất được tin dùng của vua Trần Nhân Tông là Đặng Long trước đây vua đã định phong làm Hàn Lâm học sĩ nhưng Thượng hoàng ngăn cản. Đặng Long bất mãn nên hàng giặc. Khi giặc thua, Long bị bắt, vua sai đem chém đầu làm răn. Nhìn chung, việc thưởng công phạt tội của triều đình nhà Trần sau chiến tranh tương đối xác đáng, đặc biệt là vừa thể hiện được đức khoan dung vừa giữ được tính nghiêm minh của pháp chế, giúp duy trì kỷ cương trật tự, củng cố khối đoàn kết toàn dân.

(còn tiếp)

Quốc Huy/Một Thế Giới

Kháng chiến chống Nguyên Mông lần 3 – Kỳ 11 : Mặt trận trên bộ, truy kích Thoát Hoan

Kháng chiến chống Nguyên Mông lần 3 – Kỳ 11 : Mặt trận trên bộ, truy kích Thoát Hoan

Trong lúc phần lớn lực lượng quân Đại Việt tập trung tiêu diệt đạo thủy quân Nguyên Mông rút theo ngả sông Bạch Đằng thì ở phía mặt trận trên bộ, hàng vạn quân ta bao gồm quân chính quy của triều đình và các đạo dân binh, thổ binh cũng đã bố trí thế trận truy kích khối quân kỵ bộ của Thoát Hoan trên đường rút chạy về nước. Trên toàn tuyến các cửa ải dài từ Vạn Kiếp đến ra khỏi địa phận nước Đại Việt, quân ta đã hoàn toàn làm chủ, cắt đứt triệt để hành lang hậu tuyến của giặc. Giờ đây để có thể trở về, quân Nguyên không còn cách nào khác là vừa rút lui vừa phải chiến đấu để giành đường đi.

Trên đoạn đường qua ải Nội Bàng, quân Đại Việt mai phục dày đặc. Tại ải Nữ Nhi, quân ta đào hầm sỉa ngựa đón đánh kỵ binh giặc. Các cửa ải khác trên tuyến biên giới cũng đều bố trí phục binh và quân chặn cửa ải.

Ngày 8.4.1288, Thoát Hoan đem quân rút lui theo đường Vạn Kiếp, Lạng Sơn về nước. Quân Nguyên rút theo hai đường. Đường phía đông có A Bát Xích đem quân tiên phong đi trước, Thoát Hoan dẫn quân đi sau theo. Đường này quân Nguyên sẽ đi qua ải Nội Bàng, ải Nữ Nhi, ải Khâu Cấp (tức Lộc Bình, Lạng Sơn ngày nay) để về nước. Tích Đô Nhi dẫn quân theo đường phía tây, tức phải qua ải Chi Lăng, trại Vĩnh Bình để về. Dù đi theo đường nào thì trên mỗi bước đường quân Nguyên đều phải đánh đổi bằng xương máu.

Tích Đô Nhi đem quân theo đường hướng tây, chỉ đi được đến cửa ải Hãm Sa đã bị quân Đại Việt chặn đánh hàng chục trận, chịu thương vong đáng kể lực lượng. Nhận thấy không tiến lên được nữa, Tích Đô Nhi chuyển hướng cho quân theo hướng đông đến họp quân với Thoát Hoan để cùng rút lui. Về phía cánh quân Nguyên rút theo phía đông cũng chẳng dễ dàng. Thoát Hoan đem quân đến đoạn đường qua ải Nội Bàng thì lọt vào trận địa mai phục của quân Đại Việt.

Quân ta chờ cho giặc hành quân qua gần hết mới tung quân đánh cắt đôi đội hình, vây bức hậu quân của giặc mà tiêu diệt. Thoát Hoan sai Vạn hộ Đáp Lạt Xích, Lưu Thế Anh cố sức đánh mới giải vây được cho hậu quân. Quân Đại Việt vẫn đánh đuổi theo sau lưng quân Nguyên khiến chúng chết rơi rớt dọc đường. Thoát Hoan phải sai Vạn hộ Trương Quân cầm 3.000 tinh binh chặn hậu cho toàn quân còn lại rút lui.

Qua khỏi ải Nội Bàng, cánh quân của Thoát Hoan gặp lại cánh quân của Tích Đô Nhi từ đường phía tây quay trở lại, họp thành một đoàn để cùng rút lui. Trước, sau và hai cánh đoàn quân rút chạy của chúng đều có quân Đại Việt chực chờ đánh phá.

Trong lúc các tướng sĩ đang nức lòng đánh diệt giặc thì có chiếu chỉ của vua Trần hạ lệnh thôi không truy kích nữa, nhường đường cho Thoát Hoan dẫn đám tàn binh bại trận về nước. Hưng Đạo vương và vua Trần đã thống nhất rằng mặc dù quyết chí tổ chức truy kích khối quân bộ Nguyên Mông những đòn đau, tiêu hao thật nhiều lực lượng của chúng, thể hiện cho chúng biết sức mạnh to lớn của quân dân Đại Việt nhưng vẫn muốn chừa cho Thoát Hoan một con đường sống hòng tiện cho việc bang giao về sau. Toan tính này xuất phát từ thực tế rằng chính những lực lượng thủy quân Nguyên Mông mới là mối nguy hiểm lớn đối với Đại Việt, còn kỵ bộ quân Nguyên không có nhiều đất dụng võ ở chiến trường Đại Việt.Lại thêm đế quốc Nguyên Mông to lớn hơn Đại Việt hàng chục lần, tiềm lực cũng mạnh hơn nhiều lần. Nếu cứ thẳng thừng đối đầu thì sẽ dẫn đến chinh chiến liên miên, dẫu có mãi thắng trận cũng không phải là phúc cho dân.

Vua Trần Nhân Tông là người có tầm nhìn xa, chuộng hòa bình. Tuy nhiên việc chừa cho Thoát Hoan một con đường sống lại không phù hợp với ý nguyện của nhiều tướng sĩ Đại Việt thời bấy giờ. Hưng Trí vương Trần Quốc Hiện là tướng chỉ huy các quân giữ ải căm hận quân Nguyên tàn hại sinh linh Đại Việt, bất tuân thượng lệnh. Ông vẫn cho quân tổ chức đánh diệt đám bại binh của Thoát Hoan. Quân Đại Việt dùng kế Hư trương thanh thế để dẫn địch đi theo đúng ý của mình. Trải dài từ ải Khâu Cấp đến ải Nữ Nhi, quân ta quân ta phô trương rầm rộ, đào hầm sỉa ngựa để đợi. Trước quân Nguyên cài gián điệp (nhiều khả năng là người sắc dân thiểu số vùng biên giới) vào hàng ngũ của ta. Nay gián điệp ấy lại theo về quân ta, báo tin tức sai lệch khiến cho đám du binh quân Nguyên tưởng lầm rằng ta có rất đông quân.

Chưa kịp hoàn hồn sau trận chiến tại Nội Bàng, Thoát Hoan lại nghe gián điệp báo về rằng quân ta “chia binh hơn 30 vạn, giữ cửa quan Nữ Nhi cùng núi Khâu Cấp, trải dài hơn trăm dặm chặn đường về”(theo Tân Nguyên sử). Đó chỉ là báo cáo sai lệch của gián điệp. Thực ra phần lớn quân chủ lực Đại Việt đã dồn về ven biển để đánh diệt thủy quân giặc, toàn tuyến biên giới trên bộ chỉ có khoảng vài vạn quân ta hoạt động. Thoát Hoan trúng kế phản gián, lệnh cho các quân theo đường Lộc Châu về Tư Minh. Đây là đoạn đường hẹp. Thoát Hoan cho hành quân gấp để nhanh chóng vượt qua biên giới, đội hình quân Nguyên do đó mà đứt đoạn, dàn mỏng theo dọc đường đi.

Quân Nguyên liên tiếp nhiều ngày đói ăn, lại phải căng mình chiến đấu nên sức lực đã cùng kiệt, tướng sĩ nhìn nhau thất sắc. Chưa qua được ải quan, giặc lại lọt vào trận địa mai phục mà quân Đại Việt dưới trướng Hưng Trí vương bày sẵn. Quân Đại Việt dựa vào địa thế núi cao, rừng rậm dọc đường để mai phục, dùng cung nỏ với mũi tên tẩm độc bắn vào đội hình hành quân của giặc. Quân Nguyên chết như rạ, xác nằm chồng lên nhau. Các tướng sĩ thân tín cố hết sức mà mở đường máu, lấy thân che chắn cho chủ tướng Thoát Hoan thoát khỏi tử địa. Tướng tiên phong mở đường của giặc là A Bát Xích trúng ba mũi tên độc, đầu cổ đều sưng vù, chết trên đường đi.

Ngày 19.4.1288, Thoát Hoan về đến châu Tư Minh nước Nguyên sau những nỗi kinh hoàng tột cùng mà quân Đại Việt đã cho hắn nếm trải. Đạo quân xâm lược hàng chục vạn tên hùng hổ vượt qua biên giới lúc đầu cuộc chiến giờ đây chỉ còn lại một nhúm quân tàn tạ, đói rách, thương tích đầy mình. Thoát Hoan phải hạ lệnh bãi binh ngay lập tức. Ái Lỗ đem quân bản bộ về Vân Nam. Áo Lỗ Xích đem đám tàn binh còn lại về bắc. Cuộc xâm lược Đại Việt lần thứ ba của Nguyên Mông chính thức khép lại. Lại thêm một thất bại ê chề dành cho những kẻ xâm lược hiếu chiến, và một dấu son mới được ghi vào trang sử chống ngoại xâm của dân tộc ta.

(còn tiếp)

Quốc Huy/Một Thế Giới

Kháng chiến chống Nguyên Mông lần 3 – Kỳ 10 : Đại chiến Bạch Đằng, xóa sổ thủy quân Nguyên Mông

Kháng chiến chống Nguyên Mông lần 3 – Kỳ 10 : Đại chiến Bạch Đằng, xóa sổ thủy quân Nguyên Mông

Theo lệnh của Thoát Hoan, ngày 30.3.1288, Ô Mã Nhi và Phàn Tiếp đem thủy quân đi về trước. Dọc bờ sông, Thoát Hoan phái kỵ binh do Trịnh Bằng Phi, Đạt Truật đi theo hộ tống hạm đội. Kế hoạch này chẳng qua là Thoát Hoan muốn trấn an bọn tướng lĩnh và binh lính khối thủy quân mà thôi. Trên thực tế, tốc độ của kỵ binh đi trên bờ và thủy quân dưới sông là hết sức khác biệt, nhiều chỗ ven sông không có đường cho kỵ binh di chuyển. Đạo kỵ binh hộ tống của quân Nguyên đến chợ Đông Triều (huyện Đông Triều, Quảng Ninh ngày nay) thì gặp sông chắn ngang, cầu đã bị quân Đại Việt phá nên không tiến được. Trịnh Bằng Phi dò biết tin quân ta đã chờ sẵn bên kia sông để đón đánh chúng, bèn bắt các kỳ lão trong vùng dẫn đường tắt đi ngược trở về Vạn Kiếp, hòng tranh thủ hội quân rút lui cùng khối bộ binh của Thoát Hoan.

Như vậy là thủy quân của Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp đã hoàn toàn bị khối bộ binh bỏ mặc. Bọn chúng đơn độc xuôi theo dòng sông Lục Nam tiến về đông, định theo ngã sông Bạch Đằng để ra biển. Tướng lĩnh thủy quân Nguyên Mông vô cùng lo lắng. Việc phải rút lui theo đường thủy chẳng qua là chúng miễn cưỡng tuân lệnh mà thôi. Không có bộ binh hộ tống, đạo thủy quân Nguyên Mông đi được rất chậm. Quân Đại Việt dưới sự chỉ huy trực tiếp của vua Trần Nhân Tông tổ chức thành những biên đội thủy quân nhỏ, cùng các toán dân binh đã chặn giặc liên tục, đánh dài từ Vạn Kiếp đến Bạch Đằng, không ngày nào ngơi nghỉ. Sự đánh phá này cốt để làm cho quân giặc thêm xuống sức, tạo thuận lợi cho đại quân ta tiêu diệt chúng trong một trận quyết chiến.

Trong khi vua Trần cầm quân đánh chặn, quấy nhiễu thủy quân Nguyên Mông trên sông Lục Nam thì ở ven biển, Hưng Đạo vương đang chuẩn bị lực lượng lớn ở cửa vùng cửa sông Bạch Đằng để đón đánh thủy quân giặc. Hưng Đạo vương đặt quân thủy bộ mai phục dày đặc ở các tuyến sông Giá, sông Kênh, sông Chanh, sông Đá Bạch, sông Thai, núi Tràng Kênh, Yên Hưng… Tại một số nơi lòng sông rộng trên sông Bạch Đằng, thủy triều lên xuống chênh lệch mạnh, quân ta cắm cọc nhọn rồi phủ cỏ lên trên. Các bãi cọc này là những công trình tiêu tốn khá nhiều công sức. Nhân dân trong vùng cùng với quân đội triều đình đã phải tốn nhiều thời gian chuẩn bị từ trước để diệt giặc. Bãi cọc vừa đóng vai trò là cạm bẫy đánh chìm thuyền giặc, vừa làm hẹp thủy lộ, khiến cho thuyền giặc phải di chuyển theo toan tính của quân ta.

Ô Mã Nhi đem binh thuyền đến ngã ba Đụn (sông Đá Bạch giao với sông Giá), vùng Trúc Động (Thủy Nguyên, Hải Phòng ngày nay) vào ngày 8.4.1288. Quân Nguyên phải mất đến 8 ngày để đi đoạn đường sông từ Vạn Kiếp đến đây do bị đánh phá liên tục trên dọc đường đi. Ô Mã Nhi muốn lợi dụng lúc thủy triều rút nhanh, xuôi theo dòng sông Giá kéo quân ra biển. Quân Đại Việt bày trận trong sông Giá dày đặc để ngăn lại. Ô Mã Nhi sai Lưu Khuê dẫn tiên phong đánh thăm dò, bị quân ta đánh bậc trở lại nhanh chóng. Ô Mã Nhi thấy quân ta ở sông Giá đông và mạnh, nên không dám đi vào sông Giá nữa.

Ô Mã Nhi đem hết quân thẳng đường sông Đá Bạch mà đi. Hừng sáng ngày 9.4.1288, thuyền quân Nguyên tiến vào sông Đá Bạch, gần đến núi Tràng Kênh đương lúc nước triều lên cao, Hưng Đạo vương sai quân ra đánh nhử, cầm chân địch. Thủy quân Nguyên gặp phải quân ta, dàn thuyền xáp lại đánh. Giao chiến một hồi, quân ta rút lui theo đúng theo kế mà Hưng Đạo vương đã định từ trước. Ô Mã Nhi tưởng quân ta rút lui thật, thừa thế thúc toàn quân tiến nhanh vào sông Bạch Đằng. Lúc này thủy triều đang xuống mạnh, hạm thuyền giặc lọt thỏm vào muôn trùng trận địa mai phục của quân ta mà vẫn chưa hay biết. Thuyền quân Nguyên đương lúc mải truy đuổi thì thình lình vướng vào bãi cọc, nối nhau vỡ đắm. Đó là lúc quân Đại Việt phát lệnh phản công.

Tướng quân Nguyễn Khoái thống lĩnh quân Thánh Dực dũng nghĩa, đội cấm binh tinh nhuệ bậc nhất của Đại Việt từ hạ lưu đánh thẳng vào chính diện đội hình các chiến thuyền Nguyên Mông. Đội thuyền đương giả thua cũng quay đầu lại đánh, chắn ngang đường ra biển của giặc. Từ các nhánh sông Chanh, sông Kênh, sông Giá, sông Thai, sông Điền Công… thủy quân ta vốn mai phục sẵn từ trước nhất tề đổ ra đánh phá tạt sườn đội hình giặc. Đồng thời hàng loạt các thuyền bè chở đầy chất gây cháy, lửa chảy bừng bừng được thẳng từ thượng nguồn xuôi dòng nước lao thẳng vào hậu quân Nguyên Mông. Chẳng mấy chốc trên sông Bạch Đằng đã thành một biển lửa. Thuyền quân Nguyên cháy rực cả khúc sông. Thủy quân Đại Việt từ sông Uông phối hợp với bộ binh ở núi Tràng Kênh kéo ra khóa đuôi hạm đội quân Nguyên. Từ hai bên bờ sông, cung tên, hỏa tiễn của quân ta tưới thẳng vào đầu kẻ địch.

Các tướng Nguyên là Phàn Tiếp, Lưu Khuê, Hoạch Phong, Ô Mã Nhi, Trương Ngọc, Tích Lệ Cơ cùng chỉ huy quân lính cố gắng củng cố lại đội hình chống trả rất mãnh liệt. Phàn Tiếp cho quân đổ bộ lên chiếm lấy núi Tràng Kênh, toan lấy chỗ cao cho quân tựa lưng vào đó mà dàn trận. Nhưng lúc này thì cả Thiên thời, Địa lợi, Nhân hòa chúng đều không có. Quân của Phàn Tiếp vừa lên bờ đã bị phục binh của ta ở núi Tràng Kênh vây đánh, đẩy ngã xuống sông. Thủy triều xuống nhanh làm hiện ra những bãi cọc nhọn đâm thủng rất nhiều thuyền chiến Nguyên Mông, chiếc đi trước vừa vướng cọc chìm thì chiếc đi sau là lao tới. Quân giặc chết đuối nhiều vô kể. Cả đoàn thuyền bị ùn tắc. Đám thuyền không vướng cọc thì cũng bị một đội thuyền hùng mạnh của quân ta chặn ngang từ phía hạ lưu, không sao thoát ra hướng biển được. Giặc bị hãm giữa trận, tiến thoái đều không được. Các thuyền quân Nguyên lo sợ bị vướng cọc nên di chuyển rất hạn chế, tụ lại một chỗ thì lại làm mồi cho cung tên của quân Đại Việt. Quân ta vòng vây càng lúc càng siết chặt.

Hai bên kịch chiến suốt mấy canh giờ, quân Nguyên càng núng thế, lớp này đến lớp khác gục ngã dưới làn mưa tên nhưng vẫn chưa chịu buông xuôi. Bởi chúng đã bị dồn vào thế cùng đường nên dùng hết khả năng mà kháng cự. Binh pháp cổ hạn chế việc dồn kẻ địch vào thế cùng, khi bao vây thường vây ba hướng, chừa một hướng cho địch quân rút chạy rồi đuổi theo truy sát. Thế nhưng với cách thức dụng binh của Hưng Đạo vương thì có phần khác biệt. Trong trận Bạch Đằng lần này, quân Đại Việt quyết không chừa cho kẻ địch một con đường thoát nào.

Đương lúc trận chiến bước vào đoạn cao trào, Hưng Đạo vương cùng vua Trần Nhân Tông, thượng hoàng Trần Thánh Tông dẫn đoàn chiến thuyền hùng mạnh nhất tung vào trận. Các đạo cấm quân tinh nhuệ thường ngày giữ nhiệm vụ bảo vệ vua và triều đình, nay được dịp thả sức tung hoành. Các quân thấy đội thuyền của nhà vua kéo tới tiếp viện, càng thêm phấn chấn, cùng hợp sức mà đánh giết quân giặc, trút tên như mưa vào các thuyền giặc. Ở chiều ngược lại, quân Nguyên càng thêm hoảng loạn, trận thế tan vỡ. Quân Đại Việt thả sức tàn sát, máu nhuộm đỏ cả một khúc sông lớn. Tướng giặc là Trương Ngọc chết trong đám loạn quân. Phàn Tiếp té xuống sông, quân ta dùng câu liêm móc lên bắt sống. Các tướng Ô Mã Nhi, Tích Lệ Cơ Ngọc cũng bị bắt sống. Nội minh tự Đỗ Hành bắt được Ô Mã Nhi, đem giải đến thuyền ngự của Thượng hoàng Trần Thánh Tông. Thượng hoàng sai người rót rượu cho Ô Mã Nhi uống.

Kết thúc trận chiến Bạch Đằng, quân Nguyên đại bại. Toàn bộ đạo thủy quân Nguyên Mông gồm khoảng 6 vạn binh lính bị giết hoặc bị bắt sống hết. Không một tên nào chạy thoát. Thuyền quân Nguyên cả thảy khoảng 600 chiếc cỡ lớn, quân Đại Việt bắt được 400 chiếc, số còn lại khoảng 200 chiếc bị đánh chìm trong tại trận.

Sở dĩ triều đình Đại Việt tốn nhiều tâm huyết để tiêu diệt thủy quân Nguyên Mông là bởi vì đánh giá rằng đây mới là đội quân nguy hiểm nhất cho Đại Việt, không thể để lại làm hậu họa về sau. Trận Bạch Đằng là một trận chiến có quy mô hủy diệt vào loại cực cao trong sử sách. Chỉ trong chưa đầy một ngày mà hàng vạn quân giặc đã bỏ xác trên chiến trường. Đội thủy quân tinh nhuệ nhất của đế chế Nguyên Mông, đội chiến thuyền mà nước Nguyên đã huy động rất nhiều tiềm lực mới có được trong phút chốc tan tành theo bọt sóng Bạch Đằng giang. Cùng với việc tổ chức tiêu diệt đạo thủy quân của giặc thì trên các tuyến biên giới trên bộ, quân Đại Việt cũng giăng sẵn những cạm bẫy chờ tiêu diệt khối bộ binh của Thoát Hoan.

(còn tiếp)

Quốc Huy/Một Thế Giới

Kháng chiến chống Nguyên Mông lần 3 – Kỳ 9 : Liệu thế không thắng được, Thoát Hoan tính kế rút quân

Kháng chiến chống Nguyên Mông lần 3 – Kỳ 9 : Liệu thế không thắng được, Thoát Hoan tính kế rút quân

Quân Nguyên lần thứ 3 tiến đánh Đại Việt, lao tâm bày kế, huy động thủy bộ rầm rộ nhưng hiệu quả chiến đấu lại càng kém cỏi hơn lần xâm lược trước. Thật đúng như phán đoán của Hưng Đạo vương khi bước vào cuộc chiến “Năm nay đánh giặc nhàn”.

Quân ta với sự phối hợp nhịp nhàng của quân đội triều đình cùng các đạo nghĩa binh, dân binh đã đánh giặc ở khắp nơi mà chúng đóng quân. Lần lượt những đồn trại mà quân Nguyên rải rác khắp nơi đều thất thủ. Thoát Hoan đã không diệt liệu thế nguy khốn, cho dời đại doanh từ Thăng Long trở về Vạn Kiếp. Trên đường từ Thăng Long đến Vạn Kiếp quân Nguyên vấp phải sức tấn công mạnh của các đạo quân tác chiến độc lập của Đại Việt. A Bát Xích dẫn quân đi tiên phong, đánh nhau với quân ta hơn 30 trận.

Quân Nguyên đụng trận với quân ta ở Tam Giang khẩu (ngã ba sông Lục Đầu, sông Cầu, sông Thương giao nhau), Vạn hộ Đường Tông bỏ mạng, A Bát Xích rất vất vả đánh thông được đường cho đại quân của Thoát Hoan đi về Vạn Kiếp. Đoạn đường từ Thăng Long đến Vạn Kiếp không dài, lại là vùng mà quân Nguyên đã đi qua mà quân ta còn hoạt động mạnh như thế, đủ cho thấy quân Nguyên đã bất lực trong việc kiểm soát lãnh thổ. Quân ta thừa thế dần chiếm lại được hầu hết đất đai trong nước, trong đó có các vị trí quan trọng như phủ Thiên Trường, phủ Long Hưng, kinh đô Thăng Long…

Trước nguy cơ thiếu lương thực trầm trọng, A Bát Xích dẫn quân cướp bóc khắp nơi, gom lại được 1 vạn 3 ngàn thạch gạo để nuôi quân. Cộng thêm số gạo 4 vạn thạch mà Ô Mã Nhi cướp phá được, tạm thời quân Nguyên không bị cạn lương, nhưng cũng đã bắt đầu chịu cảnh đói khát cơ cực. Cho đến cuối tháng 3.1288, tức gần 4 tháng tính từ khi Thoát Hoan dẫn quân đặt chân vào lãnh thổ nước ta, thủy bộ quân Nguyên đã dần co cụm lại ở Vạn Kiếp và phụ cận, lương thực ít ỏi, vùng chiếm đóng liên tục bị thu hẹp do sức tấn công của quân Đại Việt,bệnh dịch đã bùng phát trong quân do thời tiết chuyển từ xuân sang hè.

Bấy giờ Hưng Đạo vương đóng đại doanh ở Tháp Sơn, với lực lượng hơn 1.000 chiến thuyền hoạt động khắp vùng Hải Đông, gần như hoàn toàn làm chủ mặt biển. Quân Đại Việt đã sẵn sàng đối đầu những trận chiến lớn với quân Nguyên. Thấy thế lực ta đã mạnh, vua Trần và thượng hoàng từ Thanh Hóa đem quân trở ra bắc hội quân với Hưng Đạo vương, cổ vũ tinh thần quân dân cả nước. Đại doanh của vua Trần đóng ở Trúc Động (huyện Thủy Nguyên, Hải Phòng ngày nay) để điều động quân dân.

Biết tin vua Trần đóng ở Trúc Động, Thoát Hoan bèn sai A Bát Xích đem quân đến đánh để quyết giành lại thế chủ động. Quân Nguyên kéo đến gần Trúc Động như lạc vào mê cung với chằn chịt các sông ngòi. Quân Đại Việt dựa vào địa hình sông nước mà chống trả mãnh liệt. A Bát Xích đánh không được phải rút lui.

Để kéo dài thêm thời gian cho quân Nguyên thêm xuống sức và khiến chúng lơ là cảnh giác, vua Trần dùng kế trá hàng để lừa giặc. Hưng Ninh vương Trần Tung được phái sang trại quân Nguyên, hẹn ngày “xin hàng”. Thoát Hoan như vớ được phao, tưởng là thật. Bọn giặc hy vọng triều đình Đại Việt sẽ cho chúng một lối thoát danh dự, dù là lời “đầu hàng suông” cũng được, miễn sao mở đường cho đoàn quân xâm lược về nước mà không mang bị là quân bại trận. Thoát Hoan bèn án binh bất động, sửa sang thành lũy mà chờ đợi vua Trần đến. Đương lúc quân Nguyên mất cảnh giác, quân Đại Việt thình lình tấn công vào ban đêm, hạ liền mấy trại. Thoát Hoan biết mình mắc mưu, vô cùng tức giận. Hắn hạ lệnh cho Vạn hộ Giải Chấn đốt thành lũy, muốn dẫn toàn quân ra tử chiến với quân ta một phen. Các tướng Nguyên dưới quyền phải hết sức can ngăn, Thoát Hoan mới bình tâm trở lại mà hủy lệnh. Bấy giờ bốn bề trại giặc đều cóquân Đại Việt chực chờ đánh phá, quân Nguyên chỉ còn tạm yên ổn trong hệ thống thành lũy Vạn Kiếp, Phả Lại, Chí Linh.

Tướng lĩnh quân Nguyên hoang mang tột độ, cùng nhau bàn bạc kế tiến thủ. Thần Nỗ Tổng Quản của quân Nguyên là Giả Nhược Ngu bàn rằng: “Quân có thể về, không thể giữ” (theo Tân Nguyên sử).

Các tướng Nguyên khác cùng tiếp lời: “Giao Chỉ chẳng có thành trì nào có thể giữ được, không có kho lương tiếp tế lương thực. Vả lại thời tiết đã nóng, sợ rằng hết lương binh mỏi, không thể ở lâu, làm xấu mặt triều đình, nên cho toàn quân quay về”(theo Nguyên sử).

Thoát Hoan sau khi nghe các tướng của mình phân tích cũng nói: “Xứ đất nóng nực, ẩm ướt, lương thảo thiếu, quân lính mệt mỏi”( theo An Nam Chí Lược – Lê Tắc).

Cũng như nhiều lần xâm lược của các quốc gia, triều đại phương bắc, quân xâm lược khi đánh không lợi đều đâm ra chê đất nước ta “nóng nực, lam chướng”. Thoát Hoan nói xong, đồng ý cho toàn quân rút lui. Nhưng rút bằng cách nào khi mà các ngã đường đã dày đặc quân dân Đại Việt chực chờ tiêu diệt chúng lại là cả một vấn đề lớn. Đám tướng lĩnh chỉ huy thủy quân đã quá ngao ngán việc phải đối đầu với thủy quân tinh nhuệ Đại Việt và sóng gió nơi biển cả nên hiến kế : “Hai lần thuyền vận tải tới mà đều bị chìm, bây giờ kéo quân về, không chi bằng phá huỷ hết thuyền bè, theo đường bộ là tiện hơn cả”(theo An Nam Chí Lược).

Thoát Hoan muốn nghe theo kế ấy nhưng đám thuộc hạ thân tín hết mực ngăn cản, xin chia quân làm hai đạo thủy bộ cùng rút lui theo hai hướng khác nhau. Bởi vì việc đốt thuyền rút chạy được coi là nhục nhã đối với quân đội của một đế quốc lớn như Nguyên Mông. Một nguyên do khác nữa là nếu chia quân hai đường thì đạo quân đường thủy sẽ giúp thu hút lực lượng quân Đại Việt truy kích, tạo điều kiện cho đạo quân rút theo đường bộ có thể rút lui an toàn hơn. Thoát Hoan cuối cùng quyết định chia quân rút lui theo hai đường thủy và bộ. Theo kế hoạch, Thoát Hoan sẽ dẫn bộ binh rút theo đường cũ mà trước hắn đã tiến sang, theo đườngLạng Châu về châu Tư Minh nước Nguyên. Thủy quân do Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp chỉ huy sẽ rút theo ngã sông Bạch Đằng, vượt biển về nước. Thoát Hoan còn phái thêm Trịnh Bằng Phi, Đạt Truật dẫn bộ binh đi dọc sông để hộ tống hạm thuyền của Ô Mã Nhi.

Vậy là sau những cố gắng để đánh bại nước Đại Việt không thành, đến đây Thoát Hoan cùng đám tướng lĩnh Nguyên Mông đã phải chấp nhận thất bại một lần nữa. Tuy nhiên, tham vọng của quân Nguyên vẫn còn đó và hơn ai hết, quân dân Đại Việt biết rõ điều này. Quân Nguyên nếu có thể rút lui mà bảo toàn được lực lượng, chúng sẽ tìm cách quay trở lại tái thực hiện mưu đồ thôn tín Đại Việt. Bởi vậy, Hưng Đạo vương đã bày sẵn muôn trùng cạm bẫy để tiêu diệt toàn bộ đạo quân xâm lược, đánh cho Nguyên Mông những đòn đau để chúng không còn đủ ý chí và tiềm lực cần thiết để xâm lược nước ta nữa. Cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông lần thứ 3 của quân dân Đại Việt chuyển sang giai đoạn cuối – truy kích tiêu diệt quân Nguyên xâm lược.

(còn tiếp)

Quốc Huy/Một Thế Giới

Tết Việt thời Lý Trần

Tết Việt thời Lý Trần

Tết Nguyên Đán là một trong những tục lệ truyền thống lâu đời nhất của dân tộc Việt Nam. Tương truyền nó có từ thời Hùng vương qua sự tích Bánh Chưng Bánh Dày. Cũng như nhiều dân tộc làm nông nghiệp theo mùa vụ cố định trên thế giới, người Việt thưở dựng nước ăn tết vào thời điểm sau thu hoạch vụ mùa năm cũ và chuẩn bị bắt đầu vụ mùa mới. Ý nghĩa của Tết ban đầu chính là chào đón một chu kỳ nông nghiệp mới, với những niềm hy vọng vào tương lai tươi sáng. Từ đó mà dần dần phát triển thêm nhiều tục lệ. Tết xưa rất trọng việc lễ nghi và thời cúng, là dịp để mọi người ôn lại truyền thống, thể hiện sự gắn kết gia đình và cộng đồng. Sau đây là đoạn miêu tả Tết Nguyên Đán vào thời Lý – Trần, trích từ sách An Nam Chí Lược của tác giả Lê Tắc sống vào thời nhà Trần :

“Thường năm, trước lễ Tết hai ngày, vua đi xe ngự dụng, các quan tuỳ tùng đều mặc triều phục hầu đạo tiền, tế điện Đế Thích. Ngày 30 Tết, vua ngồi giữa cửa Đoan Củng, các bề tôi đều làm lễ. Lễ rồi, xem các con hát múa trăm lối. Tối lại qua cung Động Nhân, bái yết Tiên Vương. Đêm ấy đoàn thầy tu vào nội làm lễ Khu Na ( nghĩa là đuổi tà ma quỉ mị ). Dân gian thì mở cửa đốt pháo tre, cổ bàn trà rượu cúng tổ. Con trai con gái nhà nghèo, không có người mai dong để làm hôn lễ thì tự mình phối hợp với nhau.

Ngày Nguyên Đán, vào khoảng canh năm, vua ngồi trên điện Vĩnh Thọ, các tôn tử ( con cháu nhà vua ), các quan cận thần làm lễ hạ trước, rồi vào cung Trường Xuân, vọng bái các lăng tổ. Buổi sáng sớm, vua ngồi trên điện Thiên An, các phi tần sắp lớp ngồi, các quan trong nội đứng lộn xộn trước điện đánh thổi các bài ca nhạc trước đại đình. Con cháu nhà vua và bề tôi sắp hàng bái hạ, ba lần rót rượu dâng lên. Xong, các con cháu lên điện chầu và dự yến. Các quan nội thần ngồi tiểu điện phía tây, các quan ngoại thần ngồi hai bên tả hữu vua, ăn tiệc, đến trưa lần lượt đi ra. Các thợ khéo làm một cái đài Chúng Tiên hai tầng ở trước điện, một lúc thì cái đài ấy làm xong, vàng ngọc sáng chói. Vua ngồi ăn trên đài ấy, các quan làm lễ, trước sau chín lạy, và chín tuần rượu rồi giải tán.

Ngày mồng hai Tết, các quan đều làm lễ riêng ở nhà.

Ngày mồng ba Tết, vua ngồi trên gác Đại Hưng, xem các con cháu và các quan nội cung đánh bóng, hễ bắt được mà không rơi xuống đất là thắng. Quả bóng lấy gấm mà làm, bằng nắm tay đứa bé, có tua đeo lòng thòng đến hai mươi sợi.

Mùng năm Tết, lễ khai hạ, ăn yến xong thì để quan và dân lễ các chùa miếu và du ngoạn các vườn hoa.”

Tết ngày nay tuy đã đổi khác nhiều. Có nhiều giá trị cũ đã phai nhạt, nhiều cái mới thay thế, có tốt, có xấu. Tuy nhiên vẫn còn cái cốt lõi thiết thực nhất và ý nghĩa nhất, đó là sự xum vầy.