Câu chuyện về “anh hùng nhỏ tuổi nhất” của Hitler.

Câu chuyện về “anh hùng nhỏ tuổi nhất” của Hitler.

Trong khi hơn 76 vạn lính Đức và 2,5 triệu chiến sĩ Xô Viết giành giật nhau từng tấc đất quanh thủ đô Berlin, Hitler đã rời Boongke lần cuối cùng để lên mặt đất, trao huân chương cao quý nhất của Đức (Thập tự Sắt) cho một số thành viên tổ chức Hitler Youth -Thanh niên Hitler (gồm trẻ em từ 14 đến 18 tuổi). Được nhận huân chương còn có 19 thành viên của Jungvolk (tổ chức quân sự dành cho trẻ em Đức nhỏ hơn, từ 10 đến 14 tuổi).
 
Cậu bé đang được bắt tay là Alfred Czech, người nhỏ tuổi nhất nhận huân chương ngày hôm đó. Trong một cuộc phỏng vấn năm 2005, cụ ông Alfred Czech nhớ lại khoảng khắc sau khi được gắn huân chương “Führer bắt tay tôi, sau đó ông ta véo tai trái của tôi một cái và nói: Hãy giữ gìn nó!”.
 
Gia đình Alfred Czech ở làng Silau, Goldenau, được cắt cho Ba Lan sau khi thế chiến kết thúc. Trong 2 ngày, cậu bé 12 tuổi đó đã đưa được 12 lính Đức bị thương về tuyến sau, bất chấp đạn vãi như mưa ngược xung quanh. Vài ngày sau, một viên tướng xuất hiện và nói cậu được triệu tập đến Berlin. Alfred Czech lên máy bay và ngay khi bước chân xuống đường băng, cậu cảm nhận được sự rung chuyển của mặt đất, 11.000 khẩu pháo các cỡ của Hồng quân đang nã đạn vào Berlin.
 
Những thành viên Hitler Youth và Jungvolk được giới thiệu với nhau, mặc trang phục đẹp và ăn một bữa no nê. Bên trong khu vườn Reich Chancellory, họ xếp hàng vào sáng hôm đó (20/4) đợi Führer đến. Một đội quay phim tuyên truyền của Đức đã lắp máy và chọn vị trí sẵn sàng. Hitler xuất hiện với cổ áo chưa gấp, râu mép màu xám và một bên tay trái áp sát vào người, nó bị co giật nên ông ta không thể tự mình gắn huân chương được. Một người phụ tá phải làm thay việc này. Khi đến lượt Alfred Czech, Hitler mở miệng “Vậy ra đây là người nhỏ tuổi nhất? Cậu không sợ gì khi cứu lính của ta à?”. Alfred Czech nhớ lại mình đã trả lời: “Không, thưa Führer!”.

Sau buổi lễ, họ được đi cùng với lãnh đạo Đức Quốc xã xuống boongke ngầm. Ở đó, cả nhóm được cho ăn trưa trong khi Hitler trao đổi với từng người về cảm nhận chiến tranh. Khi kết thúc, mỗi người đều được hỏi muốn trở về nhà hay ra mặt trận. Alfred Czech, như mọi thành viên khác, đã trả lời rằng: “Mặt trận, thưa Führer!” Tối hôm đó khi Hitler đã về phòng ngủ, tình nhân Eva Braun dẫn cả nhóm lên mặt đất để tổ chức một bữa tiệc mừng. Moi người uống champagne, nhồi nhét thức ăn trong tiếng máy hát vặn to, bài “Blood-red roses tell you of happiness”.
 

Rồi Alfred Czech được đưa đi huấn luyện quân sự cấp tốc, rất nhanh chóng cậu đã có thể sử dụng súng trường và súng chống tăng Panzerfaust. Trước khi ra trận, viên sĩ quan hỏi cậu có ước muốn gì không. Alfred Czech nói mình chỉ muốn sở hữu một cây đàn phong cầm và được trao nó vài giờ sau. Trên thực tế, ngay cả khi muốn về nhà, cậu nhóc 12 tuổi cũng không thể làm được điều đó. Vào thời điểm Alfred Czech được gắn huân chương thì vùng Goldenau đã bị Hồng quân đánh chiếm. Cậu ta không còn lựa chọn nào khác ngoài việc hành quân đến Freudenthal ở vùng Sudetenland để chiến đấu. Mọi lính Đức đều phải chào Alfred Czech khi nhìn thấy huân chương Thập Tự Sắt trên ngực cậu, tuy nhiên một số người sau đó đã khuyên cậu bé nên quay về, tất cả đều là thương binh hay lính kỳ cựu. Được nhồi nhét chủ nghĩa anh hùng cá nhân nên Alfred Czech bỏ qua tất cả những lời khuyên đó.

Những ngày cuối cùng của tháng 4, một viên đạn bắn xuyên phổi đã khiến Alfred Czech bị bắt làm tù binh. Cậu vẫn sống sót một cách kỳ diệu trong hai năm bị giam giữ ở Tiệp Khắc. Khi được trả tự do năm 1947, Alfred Czech trở về nhà và biết tin cha mình đã chết trong chiến tranh. Sự nổi tiếng đã gây hại cho cậu. Cảnh sát Ba Lan đến và buộc gia đình cậu hủy bức ảnh chụp cảnh nhận huân chương Thập Tự Sắt treo trên tường, tuy nhiên Alfred Czech không bị bắt giam mà chỉ bị thẩm vấn vài giờ, có lẽ do người ta nhận thấy khi đó cậu còn quá nhỏ tuổi để ý thức được mọi thứ. Alfred Czech di cư sang Tây Đức vào năm 1964, sau rất nhiều nỗ lực vì khi đó Ba Lan và Tây Đức đang thuộc 2 phe đối đầu nhau trong Chiến tranh Lạnh. Ông định cư ở vùng Rhineland và kiếm sống bằng nghề xây dựng. Năm 2005, Alfred Czech có 10 đứa con và hơn 20 đứa cháu.

Ông không còn giữ được huân chương Thập Tự Sắt, nó đã thất lạc khi Alfred Czech bị bắt làm tù binh. Tuy nhiên bức ảnh lịch sử thì vẫn còn, do tư liệu về “anh hùng nhỏ tuổi nhất của Hitler” đã được tìm thấy sau chiến tranh. Hiện bức ảnh được đóng khung treo trên phòng khách nhà Alfred Czech. Hồi tưởng lại cuộc đời mình hơn nửa thế kỷ trước, ông trầm ngâm: “Khi đó tôi còn bé, không suy nghĩ nhiều mà chỉ muốn làm được điều gì đó. Tôi không nghĩ việc gửi trẻ em ra mặt trận là sự điên rồ. Đấy là chiến tranh.”

– Dịch và biên tập: Muitenbac777:-

SỰ KIỆN MÃN CHÂU NĂM 1931

SỰ KIỆN MÃN CHÂU NĂM 1931

Sau chiến tranh Nga-Nhật, hiệp ước Portsmouth cho phép Nhật Bản thuê lại chi nhánh đường sắt Nam Mãn Châu. Tuyến đường sắt này tuy thuộc lãnh thổ Trung Quốc, nhưng gần như đã bị nhượng cho Nga do một hiệp ước bất bình đẳng từ năm 1896 quy định người Nga có hầu hết chủ quyền ở đây. Bởi vậy, lính Nhật được phép đóng quân dọc tuyến để đảm bảo an ninh đường sắt, đối mặt với các doanh trại biên phòng Trung Quốc ở khu vực đó.

Trong tiếng Nhật, Gekokujō ( 下克上) là một thuật ngữ dùng để chỉ hành vi vượt quyền của cấp dưới, hay còn gọi là “hạ khắc thượng”. Tuân theo tinh thần này và quan niệm rằng xung đột ở Mãn Châu sẽ tạo ra lợi ích tốt nhất cho Nhật Bản, một nhóm sĩ quan đã lên kế hoạch tạo sự cố để có cớ gây chiến với Trung Quốc.

Nhóm sĩ quan này gồm đại tá Seishirō Itagaki, trung tá Kanji Ishiwara , đại tá Kenji Doihara, thiếu tá Suemori Komoto và thiếu tá Takayoshi Tanaka. Họ bí mật đặt chất nổ trên đường sắt ở 1 vị trí hẻo lánh (đến nỗi nó không có tên trong bản đồ) cách doanh trại Trung Quốc chỉ 800m và kích nổ lúc 22h20 ngày 18/9/1931. Do tính toán sai lượng nổ, chỉ có 1,5m đường bị hư hỏng, không đủ để làm trật bánh một đoàn tàu từ Trường Xuân đi qua ngay sau đó. Mặc dù vậy, đây là cái cớ để ngày hôm sau nhóm sĩ quan này cho 2 đơn vị pháo binh bắn phá và chỉ huy khoảng 500 lính Nhật tấn công doanh trại Trung Quốc ở Phụng Thiên (nay là Thẩm Dương).

Dù có tới 7000 người (đông gấp 12 lần) nhưng lính Trung Quốc trang bị kém, huấn luyện tồi và tinh thần thấp, còn quân Nhật thời điểm đó đã đáp ứng phần lớn tiêu chuẩn quân sự châu Âu. Sau 1 ngày giao tranh, quân Trung Quốc bỏ doanh trại rút lui, để lại khoảng 500 xác chết. Phía Nhật chỉ có vài thương vong. Tướng Shigeru Honjō – tư lệnh đạo quân Quan Đông của Nhật sau khi biết tin, rất ngạc nhiên vì cấp dưới đã giao tranh mà không hề có sự cho phép của mình. Nhưng rồi báo cáo của trung tá Kanji Ishiwara đã thuyết phục được tướng Shigeru Honjō về sự “gây hấn” của đối phương, nguyên do là tuyến đường sắt bị “tấn công” có tầm quan trọng lớn về công nghiệp và kinh tế.

(“Bằng chứng” do người Nhật đưa ra là mũ, súng của lính Trung Quốc và 2 đoạn tà vẹt hỏng – tất cả đều được ngụy tạo)

Giận dữ vì sự “phá hoại”, tướng Shigeru Honjō bèn gọi thêm viện quân từ Hàn Quốc sang, ra lệnh đánh chiếm tất cả các thành phố và vị trí chiến lược tại Mãn Châu để trả đũa. Tướng Quốc dân đảng là Trương Học Lương, với sự đồng ý ngầm từ Tưởng Giới Thạch, liên tiếp rút quân mà không hề kháng cự. Lúc đó Trương đang dùng cố vấn Nhật trong một số lĩnh vực, và những người này chỉ việc tuồn tin về hướng tiến quân của Nhật để Trương ra lệnh thu dọn kho tàng rút lui mà thôi. Mặc dù có sự chống cự từ các nhánh quân địa phương ở Hắc Long Giang và Cát Lâm, nhưng diễn ra lẻ tẻ và không kéo dài được lâu. 5 tháng sau sự cố, đất Mãn Châu đã hoàn toàn nằm trong sự kiểm soát của Nhật Bản.

Việc rút lui của Trương Học Lương bị chỉ trích rất mạnh mẽ (báo chí gọi ông ta là “Tướng khuất phục”), dù lệnh không kháng cự này là từ chính phủ trung ương ban hành xuống. Ở vùng Đông Bắc lúc ấy, tư lệnh Trương Học Lương có trong tay 250.000 quân chính quy, một số xe tăng, 60 máy bay chiến đấu, 4000 súng máy và 4 tiểu đoàn pháo binh. Đối mặt với họ chỉ là 11.000 quân Nhật với trang bị nhẹ, vốn chỉ có nhiệm vụ duy trì an ninh đường sắt.

Năm 1932, chính quyền Quốc dân đảng có rất nhiều vấn đề nội bộ phải giải quyết. Trận lụt khủng khiếp ở sông Dương Tử năm 1931 đã khiến 200.000 người chết và 28.5 triệu người bị ảnh hưởng. Ba đợt bao vây tấn công cứ địa của Đảng Cộng sản Trung Quốc đều bị đẩy lui với tổn thất nặng nề. Ở Quảng Châu, Hồ Hán Dân thành lập chính phủ riêng đối lập với Tưởng. Do đang dồn các nguồn lực để khắc phục hậu quả lũ lụt và tổ chức đợt bao vây tấn công thứ tư, Tưởng Giới Thạch đã quyết định “buông” Mãn Châu để tránh phải sa vào một cuộc xung đột vũ trang với Nhật Bản. Dĩ nhiên điều này không được công khai. Trong hội nghị ngày 20 tháng 11 năm 1932, phe Quảng Châu công kích Tưởng dữ dội và đòi Tưởng từ chức vì để mất một vùng đất đai rộng lớn, giàu tài nguyên khoáng sản. Ngày 15 tháng 12, Tưởng từ chức chủ tịch và được thay thế bởi Tôn Khoa – con trai Tôn Trung Sơn.

Trung Hoa dân quốc đưa vụ việc ra khiếu nại tại Hội Quốc Liên từ ngày 19 tháng 9. Ngày 24 tháng 10, Hội Quốc Liên ra nghị quyết yêu cầu Nhật Bản rút quân về vị trí cũ, bắt đầu từ ngày 16 tháng 11. Nhật bác bỏ nghị quyết này và nhấn mạnh vào các cuộc đàm phán song phương với chính phủ Trung Quốc, vốn chậm chạp và chẳng mang lại kết quả gì.

(Đại diện Trung Quốc đưa vụ việc ra trình bày ở Hội Quốc Liên)

Ngày 7 tháng 1 năm 1932, Bộ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ Henry Stimson công bố Học thuyết Stimson, trong đó tuyên bố rằng Hoa Kỳ sẽ không công nhận bất kỳ chính phủ nào được thành lập nhờ các hành động quân sự của Nhật Bản tại Mãn Châu. Vào ngày 14 tháng 1 năm 1932, một ủy ban của Hội Quốc Liên, đứng đầu là bá tước Anh Victor Bulwer-Lytton xuống tàu biển đến Mãn Châu để điều tra. Tuy nhiên đến tháng 3, Nhật đã thành lập xong cái gọi là Mãn Châu Quốc, do hoàng đế bù nhìn Phổ Nghi làm lãnh đạo.

Bất chấp vị thế cao của Nhật Bản trong Hội Quốc Liên, báo cáo của Lytton tuyên bố Nhật Bản là thế lực xâm chiếm, Mãn Châu Quốc là “một nước do bộ tham mưu Nhật tạo ra”, yêu cầu hoàn trả Mãn Châu cho Trung Quốc, dù có khéo léo dung hòa lợi ích bằng việc từ chối khẳng định người Nhật là chủ mưu vụ đánh bom đường sắt. Trước khi báo cáo có thể được bỏ phiếu tại Đại hội đồng Hội Quốc Liên, chính phủ Nhật Bản tuyên bố ý định tiến xa hơn nữa vào lãnh thổ Trung Quốc. Báo cáo được Đại hội đồng thông qua với kết quả 42–1 vào năm 1933 (chỉ Nhật Bản bỏ phiếu trống), song thay vì rút binh sĩ khỏi Trung Quốc, Nhật Bản quyết định rời bỏ Hội Quốc Liên.

Sử gia người Anh Charles Mowat khi đó viết rằng ý tưởng về an ninh tập thể và pháp quyền đã bị đánh bại. Hội Quốc Liên không có lực lượng vũ trang riêng để buộc các nước thành viên thực thi nghị quyết của mình. Sau thế chiến I, các cường quốc đều không muốn dính líu vào một cuộc xung đột quân sự xa xôi. Cấm vận kinh tế cũng không hiệu quả, do Mỹ không phải thành viên Hội Quốc Liên nên Nhật có thể buôn bán trực tiếp với nước này qua ngả Thái Bình Dương. Người Nhật lập ra một chính phủ quân chủ lập hiến – trên danh nghĩa là chính phủ cai trị đất Mãn Châu, tuy nhiên các cố vấn Nhật (giữ vai trò thứ trưởng) là người quyết định mọi việc. Nhà nước bù nhìn Mãn Châu Quốc được các đồng minh của Nhật công nhận (28 quốc gia), trở thành bàn đạp quan trọng cho việc xâm chiếm lãnh thổ Trung Quốc về sau.

(Mãn Châu Quốc năm 1939)

 – Muitenbac777 –

– 9/4/1388: Trận Naffels

– 9/4/1388: Trận Naffels

Là giao tranh cuối cùng của cuộc chiến giữa các bang  Thụy Sĩ và đế chế Áo kéo dài gần như suốt thế kỷ 14. Một vài tuần sau trận Sempach vào ngày 9 tháng 7 năm 1386, Liên bang Thụy Sĩ (cũ) tấn công và bao vây làng Weesen ở vùng Walensee. Sang năm, bang Glarus nổi dậy chống lại nhà Habsburgs và tấn công thị trấn Windegg gần đó. Ngày 11 tháng 3 năm 1387, hội đồng Glarus ban hành luật pháp riêng và tuyên bố họ không còn quan hệ gì với triều đình Habsburg nữa.

Người Áo phản công. Đêm 21-22 tháng 2 năm 1388, một đội quân tập kích làng Weesen và đánh bật lực lượng Thụy Sĩ ra ngoài. Đầu tháng 4, hai cánh quân Áo được huy động để đàn áp “bọn phản loạn” Glarus, lúc này đã là một thành viên liên bang Thụy Sĩ. Chủ lực khoảng 5.000 người, trang bị đầy đủ, tiến về phía thị trấn Näfels dưới sự chỉ huy của Công tước Donat von Toggenburg và Hiệp sĩ Peter Thorberg. 1.500 lính khác dưới quyền Công tước Hans von Werdenberg-Sargans, hành quân qua đèo Kerenzerberg mà không gặp trở ngại gì.

Thị trấn Näfels có nhiều nông trang nhỏ bao quanh các ngọn đồi. Khi quân Áo ùn ùn kéo đến, lực lượng phòng thủ (hơn 400 người) nhận thấy sự chênh lệch quá lớn nên sau một đợt kháng cự ngắn ở các công sự đắp bằng đất, đá có cọc nhọn cắm xung quanh, tất cả rút lên đồi. Quân Áo cho rằng đám “nông dân hèn kém” đã bỏ chạy nên chia nhau ra cướp bóc, đốt phá xung quanh thị trấn. Người Thụy Sĩ nhìn cảnh tượng đó với sự căm thù ngày càng tăng, và rồi họ phản công khi nhận ra lực lượng đối phương đã phân tán, cũng như sương mù đang dần dần phủ lên thị trấn. Hãy hình dung một lính Áo, kiếm đã cho vào bao, đang hì hục bê tấm khiên của mình (trên đặt những cuộn da cừu cướp được) ra khỏi nhà thì gặp phải một nông dân cầm Halberd (kích) lao tới từ trong màn sương. Kết quả gần như là sự tàn sát một chiều.

Kháng cự ít ỏi đến từ những hiệp sĩ, quý tộc Áo cưỡi ngựa, vốn không thèm tham gia cướp bóc. Tuy nhiên nó không kéo dài lâu. Giáo, kích, thương của người Thụy Sĩ có cự ly tác chiến xa hơn kiếm, và những kỵ sĩ ở gần chân núi được ưu tiên “chăm sóc” bằng đá tảng. Cuối cùng thì tinh thần quân Áo sụp đổ. Tất cả bỏ chạy về phía làng Weesen, nhưng do quá nhiều người ngựa chen chúc nhau, cây cầu gỗ bắc qua sông Linth bị gãy khiến lính Áo chìm nghỉm do giáp trụ nặng nề trên người. Công tước Hans von Werdenberg-Sargans đang đi dọc bờ sông đến cứu viện, nhìn thấy cảnh này cũng chẳng dám đánh tiếp và vội vã cho quân rút lui về làng Beglingen gần đó. Trận chiến kết thúc bằng một thảm kịch trong đầm lầy gần làng Weesen, khi những lính Áo không quen đường chạy lạc vào đầm lầy này và bị lún sâu dưới bùn.

Näfels là 1 trong 5 trận đánh “khai quốc” của Thụy Sĩ. Mặc dù tỉ lệ là 1 chọi 16, nhưng người Thụy Sĩ đã kết thúc nó một cách tuyệt vời chỉ với tổn thất tương đối nhỏ. 54 người hy sinh đổi lấy 1700 lính Áo thiệt mạng quả là một con số ấn tượng, đặc biệt trong thời đại vũ khí lạnh và phẩm chất lực lượng hai bên rất chênh lệch (nông dân, thợ thủ công đấu với hiệp sĩ, lính chính quy). Triều đình Habsburgs nhận thấy việc đánh nhau với đám nông dân hung bạo và cứng đầu trên núi quá ư tốn kém, nên đành tiến hành đàm phán hòa bình. Năm 1389, hiệp ước hòa bình 7 năm (sau gia hạn 20 năm) được ký kết tại kinh đô Vienna, liên bang Thụy Sĩ được công nhận độc lập và có chủ quyền với toàn bộ lãnh thổ mà họ giành được trên vùng núi Alpes. Trong cùng năm đó, người ta tổ chức một cuộc hành hương đến địa điểm của trận chiến Näfels (một nhà nguyện được xây ngay sau đó tại nơi này, do quan niệm chiến thắng đó là nhờ phán quyết của Thiên Chúa).

Truyền thống hành hương vẫn duy trì đến nay, diễn ra vào ngày thứ Năm đầu tiên của tháng 4 (đây là ngày nghỉ lễ của bang Glarus). Cư dân đi cùng đoàn rước đến nhà thờ và đài tưởng niệm, tại đó người ta tổ chức buổi ăn mừng chiến thắng với đội kèn, trống và các nhóm nghi lễ. Tham gia còn có đại diện của nhà thờ Công giáo và Tin Lành. Một nghi thức quan trọng là đại diện chính quyền bang sẽ đọc to tên từng người một trong số 54 chiến binh đã ngã xuống.

 

– 2/4/1863: Vụ nổi loạn bánh mì

– 2/4/1863: Vụ nổi loạn bánh mì

Là vụ bạo động dân sự ngắn diễn ra ở thủ đô Richmond của liên minh miền Nam trong nội chiến Mỹ. Khoảng 5.000 người nghèo (chủ yếu là phụ nữ), đã xông vào các cửa hàng và lấy đi mọi thứ: thực phẩm, quần áo, giày dép, và đồ trang sức trước khi quân đội được huy động đến khôi phục lại trật tự.

Do hậu quả của chiến tranh, lạm phát ở miền Nam tăng vọt và thất nghiệp tràn lan, nhất là phụ nữ. Thủ đô Richmond nhận thêm 60.000 dân tị nạn trong 3 năm, gây nên sự quá tải về nhà ở và nhu yếu phẩm. Vụ thu hoạch mùa xuân năm đó phần lớn bị chất vào kho dự trữ hay chuyển ra tiền tuyến, trong khi liên bang miền Bắc thực hiện chính sách tiêu thổ (đi đến đâu là phá nông trại, giết gia súc đến đấy). Hệ quả là giá ngô tăng gấp đôi, trong khi giá bơ và sữa thì gấp ba. So với năm 1861, bột mì và thịt xông khói tăng giá cao nhất: 10 lần. Muối khan hiếm và gần như vô giá, do đường biển bị hải quân liên bang phong tỏa khiến không thể nhập khẩu, mỏ muối ngầm duy nhất thì vừa bị đánh chiếm.

Những người bức xúc tin rằng tình hình tồi tệ là do chính phủ quản lý kém và bọn đầu cơ tích trữ. Để bày tỏ sự bất mãn, nhiều người (chủ yếu là phụ nữ, vì nam giới hầu hết đã ra trận) phản đối sự tăng giá hàng hóa đã chuyển sang hành động bạo lực. Trong suốt tháng 3 và 4 năm 1863, tại các bang Columbus, Georgia, Macon, Atlanta, Bắc Carolina và Augusta, những đám đông vũ trang gậy gộc tấn công các cửa hàng và nhà kho, một số bị đập phá sau khi vét sạch hàng hóa.

Ngày 2 tháng 4 năm 1863, một nhóm phụ nữ nghèo, trong cơn đói và sự tuyệt vọng, kéo đến trụ sở chính quyền tại thủ đô Richmond yêu cầu cứu trợ. Bị từ chối một cách thô lỗ, đám đông chuyển thành biểu tình tự phát và rất nhanh chóng tăng số lượng lên đến hàng ngàn. Họ hét lên “Bánh mì hoặc máu!”, kéo nhau đi đập phá cửa sổ những cửa hàng xung quanh, lấy mọi thứ có thể. Thống đốc Letcher dùng luật bạo loạn để ra lệnh đám đông giải tán, nhưng chẳng ai tuân theo. Giới giàu có co rúm trong nhà với súng lăm lăm trong tay. Quân đội được huy động đến, lưỡi lê chĩa thẳng, nhưng không ai nổ súng vì trước mặt họ chỉ toàn phụ nữ và trẻ em. Đám đông hơi chững lại nhưng không có dấu hiệu giải tán.

Các tướng Elze và Winder muốn gọi thêm quân đến và sử dụng vũ lực, nhưng Bộ trưởng Chiến tranh James Seddon từ chối ban hành lệnh đó. Tình hình căng thẳng, cuối cùng tổng thống Jefferson Davis phải ra mặt. Người ta lấy một chiếc xe bò gần đó làm bục cho ông này đứng, Jefferson Davis nói một hồi, bày tỏ sự thông cảm và đề nghị đám đông giải tán, sau đó ông ra lệnh mang thức ăn từ nhà mình ra để phát. Dĩ nhiên số này chỉ là muối bỏ biển, Jefferson Davis gần như phải cầu xin bằng cách mở ví, dốc hết tiền trong túi ra trước mặt đám đông: “Đây, đây là tất cả những gì tôi có”. Lính bắt đầu lôi đạn trong túi ra nạp, có lẽ để dọa dẫm. Biện pháp này tỏ ra hiệu quả, mọi người chạy vội về nhà, ôm chặt những gì mình lấy được.

Tuy thiệt hại chỉ là mấy chục nghìn đô la hàng hóa bị đánh cắp và vài người bị thương, nhưng sự kiện này đã làm bẽ mặt chính quyền Liên minh miền Nam. Báo chí được chỉ đạo im lặng. Nhưng rồi tin tức vẫn rò rỉ ra ngoài và bị phe miền Bắc thu được. Vụ bạo động bánh mì nhanh chóng được tờ New York Times đưa lên trang nhất. Người ta còn viết thêm là một số phụ nữ chậm chân đã bị bắt lại và tống giam vì tội trộm cắp, nhưng sau vài tuần chính quyền thả họ ra vì nhận thấy những người này thích ngồi tù (được nuôi ăn) hơn là ra ngoài.