“Trong trại giam của Việt Cộng” – Phần 2

“Trong trại giam của Việt Cộng” – Phần 2

Xem phần 1

TRONG TRẠI GIAM VIỆT CỘNG – Klaus Liedke ( Phần 2 )

Viên tư lệnh tạo điều kiện cho chúng tôi nói chuyện với hai người này. Họ muốn đi tiếp về Sài Gòn, từ hai tuần nay họ đã đi xa. Trong các cuộc tiếp xúc với nông dân và người thành thị, họ chưa bao giờ nghe đến hành động trả thù của Việt Cộng đối với dân thường hay là binh lính chính phủ. Những người du kích con can thiệp kịp thời, khi một đám đông người sau gỉai phóng Nha Trang định hành hình một tên cảnh sát mật Sài Gòn. Người đàn ông này sẽ phải ra trước một tòa án đặc biệt, các chiến sĩ du kích đã giải thích như vậy. Chỉ những kẻ cướp mới bị đưa ra xử áp mặt vào tường.

Sau đó, anh Sửu kể cho tôi nghe không có ai phải lo sợ dù trước đó là công chức hay binh lính làm việc cho chế độ cũ. Anh ta chỉ cần trình diện. Và những ai mong muốn, những ai đã tham dự lớp học, ai là trong sạch, người đó đều được tham gia làm việc trong hệ thống mới. “Chúng tôi không tiến hành chiến tranh xâm lược, mà tiến hành cuộc chiến tranh giải phóng”. Cuộc cách mạng không cho phép mình có nhiều kẻ thù thường trực. Con đường phục hồi đạo đức đang rộng mở đối với mọi người. Đó là quy luật.

Vào ngày đầu hàng, khi chúng tôi không muốn đồng thanh hoan hô, anh Sửu hỏi chúng tôi với vẻ nghi ngờ : “Vì sao các bạn không vui mừng ? Đây là bước ngoặc lịch sử, ách thống trị ngoại bang trên đất nước Việt Nam đã kết thúc. Trước hết là người Trung Quốc, sau đến người Pháp, và người Nhật, cuối cùng là người Mỹ. Chúng tôi đã thắng tất cả họ”. Chúng tôi giải thích cho anh ấy chúng tôi là nhà báo thích được cùng đoàn quân chiến đấu và cùng dân chúng chứng kiến giờ phút lịch sử này hơn là bị cầm giữ tại đây. Anh Sửu đến gặp chúng tôi với câu trả lời chuẩn mực : “Các bạn phải đợi lệnh của chính phủ”.

Ngày 1-5, cả buổi sáng những đoàn diễu hành kéo qua trước cửa sổ chúng tôi. Nhân dân Phan Thiết luyện tập diễu hành cho lễ mừng chiến thắng lần đầu tiên. Tập hô khẩu hiệu, theo khẩu lệnh chung. Mọi người vẫy cờ Việt Cộng. Sau khi thảo luận một hồi, viên tư lệnh cho phép chúng tôi chụp ảnh một trong những khối diễu hành đi qua. “Xin các bạn hãy chụp những tấm hình thật đẹp” – Ông nhắc nhở chúng tôi : “Và xin đừng bóp méo sự thật với cái máy ảnh của các bạn”. Ông chọn một đoàn quân, tập vẫy cờ nhiều lần và hô khẩu hiệu cách mạng. Và sau đó phóng viên nhiếp ảnh của báo Stern, anh Bollinger mới được phép bấm máy. Hình như mọi người, chị em phụ nữ, tài xế xích lô, học sinh đều rất thích thú, vui cười.

Điện thông thường hằng ngày chỉ có vài tiếng đồng hồ, nay có cả buổi chiều để phục vụ ngày lễ. Trời vừa chạng vạng, xe vận tải chạy vào trong sân, chở đầy những chuyên gia về hành chính từ Hà Nội vào Sài Gòn. Trong số họ có hai người nói tiếng Đức. Một người Nam Việt Nam 44 tuổi, theo sự phân công của Chính phủ Cách mạng đã học máy in thủ công tại Leipzig, về sau tham gia in truyền đơn trong những nhà in đặt trong rừng sâu của Việt Cộng. Anh kia 28 tuổi, người Bắc Việt Nam, học toán tại Đông Berlin và sẽ nhận một nhiệm vụ công tác tại Sài Gòn. Cả hai đều náo nức góp phần đưa cách mạng đến thành công. Nhưng anh học toán tỏ vẻ nghi ngại : “Người ở miền Nam có vẻ thực dụng. Nếu hàng nhập khẩu từ nước ngoài không còn nữa, điều gì sẽ xảy ra ? “.

Ngày tháng trôi qua, chúng tôi vẫn còn bị cầm giữ. 5 giờ sáng, ăn một dĩa cơm, trưa và tối có thêm mấy hạt đậu nành và thịt hộp làm sẵn. Đó là khẩu phần ăn bình thường của người du kích. Thỉnh thoảng Sửu mang đến cho chúng tôi một lon Coca Cola lấy từ tồn kho của một kios gần đó. Chúng tôi thanh toán “thức uống biểu trưng của đế quốc” như anh Sửu nói với vẻ khinh bỉ bằng tiền Sài Gòn vẫn còn được lưu hành bên cạnh đồng tiền Bắc Việt Nam trong vùng vừa giải phóng.

Những binh lính tới lui vào phòng để giúp chúng tôi giết thời gian có vẻ trẻ hơn, nhút nhát hơn và cũng ít hiếu chiến hơn những binh lính chính phủ Sài Gòn. Chúng tôi không nhìn thấy ai uống rượu bia như đã thấy ở đối phương của họ. Đây là những con em nông dân chân chất. Đối với nhiều người, chúng tôi là những người da trắng đầu tiên đối diện họ không phải kẻ thù. Một buổi chiều, Sửu giới thiệu với chúng tôi một nữ đồng đội : “Cô ấy là một cô gái dũng cảm” – anh nói : “Cô đã giết được nhiều lính Mỹ trong chiến đấu”. Cô gái 25 tuổi, xinh đẹp, ngón tay mân mê cây súng tiểu liên của mình, cười khúc khích vụt chạy khỏi chúng tôi. “Cô là tấm gương cho tất cả chúng tôi, là một người yêu nước thực sự”, Sửu khen và nói thêm, nửa đùa : “Các bạn hãy cẩn thận với cô ấy ! Các bạn trông giống người Mỹ lắm !”.

Cuối cùng, vào ngày thứ 10 bị quản chế, đã có quyết định của chính phủ. Chúng tôi được phép đi đến Sài Gòn. Vị tư lệnh đưa cho chúng tôi một bản thanh toán trên 9.500 Piaster, tròn 30 mác về chi phí và hậu cần trong những ngày qua và nói lời xin lỗi : “Mặt trận Giải phóng cũng không giàu có gì”. Sau đó, ông tiễn chúng tôi đi khỏi Phan Thiết. Ông chỉ cho chúng tôi những khu phố bị bom đạn tàn phá, những nhà giàu đã di tản và tài sản của họ đã bị sung vào công quỹ. Thành phố đã được dọn dẹp, các cửa hiệu đã mở cửa trở lại. Khắp nơi đều thấy hình ảnh Bác Hồ. Chiếc taxi đưa chúng tôi về Sài Gòn chở 7 người. Viên tư lệnh đề nghị chúng tôi cho vài anh chiến sĩ cùng đi theo, bởi vì những người giải phóng còn thiếu phương tiện vận chuyển. Chúng tôi cũng sẵn lòng và đưa các anh lính về tới dinh Tổng thống.

Trên quốc lộ 1, trước đó một tuần lễ hàng trăm ngàn người chạy về phía nam, bây giờ lại dồn lên phía bắc trở về quê mình. Lần đầu tiên từ 30 năm nay, các quốc lộ được phép chạy về đêm, không sợ bị tấn công.

Trên đồng ruộng cạnh đường có hàng trăm xe tăng và xe vận tải bị phá hủy nằm ngổn ngang mà người ta có thể làm ra những đôi dép Việt Cộng từ những chiếc lốp xe ấy. Thương nhân chào mới nước ngọt từ Bắc Kinh, thay cho Coca Cola. Những anh lính gác bảo vệ dinh mà chiếc hôm trước tiếp nhận hai anh du kích cùng đi xe với chúng tôi. Họ mời chúng tôi uống nước trà, vui đùa thích thú với những chiếc bật lửa và những cái kẹp cà vạt mạ vàng lấy từ kho tặng phẩm của cựu tổng thống có dòng chữ “Với những lời chúc mừng tốt đẹp nhất, Nguyễn Văn Thiệu”.

Sài Gòn khi chúng tôi rời khỏi lúc chế độ cũ còn tin vào cơ hội sống sót, và Sài Gòn hôm nay lúc chúng tôi quay trở lại khi những ông chủ mới mừng tuần lễ thứ hai sau giải phóng đã làm chúng tôi hết sức ngạc nhiên : Chúng tôi không thể hình dung thành phố Hồ Chí Minh lại bình thản, tự do và thân thiện đến như thế. Sự thay đổi chế độ sau một cuộc chiến tranh man rợ lại diễn ra hết sức văn minh thật hiếm thấy là vậy. Không hề có sân vận động để tập trung hàng vạn người chống chế độ. Không hề có chuyện đạo quân say chiến thắng truy tìm trả thù.

Có thể là, nhân dịp có hàng trăm nhà báo nước ngoài đang có mặt tại Sài Gòn, chế độ mới muốn chứng minh cho thế giới biết thiện chí của mình và vạch trần lý lẽ tuyên truyền quen thuộc của Mỹ về tắm máu là sự lừa bịp. Cũng có thể đơn giản là thiếu lực lượng giữ gìn trật tự, thiếu nhân sự. Lực lượng 120.000 cảnh sát Nam Việt Nam đã bị giải tán hoàn toàn. Các em học sinh phải điều khiển giao thông trên đường phố Sài Gòn. Công chức cũ tạm thời được lệnh trở lại công sở để hướng dẫn công việc cho những nhân viên hành chính mới.

Nhiều cái còn tồn tại. Bia 33 trên sân thượng khách sạn Continental, trẻ em ăn xin, gái điếm, thương gia Ấn Độ bán sách báo cuối đường Tự Do vẫn còn đổi đô la chợ đen. Và có nhiều cái mới : xử tử công khai những tên trộm cướp, tập thể dục buổi sáng theo từng khối, công chức không nhận tiền đút lót.

Giá những bộ bà ba đen – sắc phục chiến đấu của du kích tăng gấp đôi, tại chợ trời họ lại bị “cứa cổ”, họ không quen trả giá, khi họ mua đài bán dẫn Sony, túi xách PanAm, đồng hồ Thụy Sĩ mà nó chỉ chạy có mấy tiếng đồng hồ, vì trong ruột là máy đồng hồ đồ chơi trẻ em.

Nhiều người không tìm được chỗ để di tản, nay vui mừng vì ở lại. Tại một quán cafe, tôi gặp lại Lê Văn Danh làm phiên dịch cho người Mỹ trước kia. “Tôi rất mừng” – anh nói với tôi – “Người Mỹ không mang tôi đi theo. Không còn bị véo tai, lại có nhiều tự do”.

Rõ ràng có nhiều tự do. Trước khi các nhà báo phương Tây xuất cảnh ồ ạt, nhà cầm quyền đã siết chặt quy chế. Người ta bắt đầu đốt sách, phá hủy hết đĩa hát, xuống các chỉ dẫn về quần áo và nón, mũ đội đầu. Trước trụ sở hạ viện, trên bức tượng chiến sĩ đã bị giật đổ, có một người Nam Việt Nam đổ xăng và tự thiêu – một hình thức phản đối của đạo Phật. Người ta chính thức nói rằng người đàn ông này đã kết liễu đời mình do vui mừng về hòa bình.

Có thể đối với nhiều người trong chúng ta phản đối những đau đớn của họ còn dễ dàng hơn sống với chiến thắng của họ.

( còn tiếp )

Diễn đàn LSVN đánh máy và hiệu đính từ sách THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – GIỜ KHẮC SỐ O

“Trong trại giam của Việt Cộng” – Phần 1

“Trong trại giam của Việt Cộng” – Phần 1

Cuộc chiến tranh tại Việt Nam trong mắt của phương Tây là một cuộc chiến được truyền thông theo dõi sát chưa từng thấy. Công chúng được theo dõi từng trận đánh qua truyền hình, các nhà báo xuất hiện ở các tuyến để săn tin với mật độ dày đặc. Trong những ngày cao điểm của cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975, một nhóm nhà báo Đức từ Sài Gòn đã bạo gan dùng thuyền vượt chiến tuyến để từ vùng kiểm soát của quân đội Sài Gòn sang vùng kiểm soát của quân Giải Phóng hòng tìm kiếm những tin tức mới lạ, nóng bỏng nhất. Và họ đã bị bắt vì xâm nhập bất hợp pháp. Thế nhưng trong trại giam, nhà báo Klaus Liedke ( thuộc báo Stern ) vẫn có cơ hội để ghi nhận lại những diễn biến chiến sự từ góc nhìn của một … tù nhân. Nhân dịp kỷ niệm 42 năm ngày miền nam hoàn toàn giải phóng, đất nước hoàn toàn thống nhất, Diễn đàn Lịch Sử Việt Nam xin phép được đăng lại bài báo cho quý độc giả được hiểu rõ hơn về một giai đoạn lịch sử hào hùng của dân tộc :

TRONG TRẠI GIAM CỦA VIỆT CỘNG
Klaus Liedke

Khi giờ khắc số 0 đến, tôi ngồi trại giam. Không có chuồng cọp và tra tấn như ở trại giam của chính quyền cũ, mà là trại giam có một người du kích canh chừng, và nếu tôi hay bạn tôi Hans Bollinger – cùng ngồi với tôi – một trại giam của Việt Cộng tại thành phố biển Phan Thiết, cách Sài Gòn phía đông bắc 180 km.

Khi bị bắt, họ không tước mất chiếc đài bán dẫn của chúng tôi. “Các ông có thể nghe những gì các ông muốn”. Và khi nghe được tin chiến thắng do Đài phát thanh Giải Phóng phát đi, những người chiến thắng – những người hôm qua còn là lực lượng nổi dậy đã chạy vào phòng của chúng tôi, xúm lại quanh chiếc đài và hò reo sung sướng. Họ ôm chầm lấy nhau, mạnh dạn vỗ vai chúng tôi, kéo chúng tôi ra khỏi chiếc ghế như họ muốn mời chúng tôi nhảy điệu múa mừng chiến thắng.

“Phải chi Bác Hồ kính yêu còn sống để chứng kiến giờ phút này”, anh chiến sĩ tên Sửu được lệnh làm phiên dịch cho chúng tôi thốt lên – “Có ai nghĩ rằng mọi việc lại diễn ra nhanh như thế”. Nước mắt ràn rụa trên đôi mắt anh và tự hào, gần như bối rối gương cao chiếc huy hiệu Bác Hồ về phía chúng tôi : “Chúng tôi đã hoàn thành nhiệm vụ chiến đấu mà Bác đã giao”.

Bản tin về sự đầu hàng có tính lịch sử được các loa phóng thanh truyền đi khắp thành phố trong những ngày tiếp theo, sáng sáng đánh thức chúng tôi và tối tối đưa chúng tôi vào giấc ngủ ngon lành cho đến khi chúng tôi được thả ra.

Trước ngày thay đổi chính quyền, Sài Gòn sụp đổ đối với một số người, Sài Gòn giải phóng đối với những người khác, chúng tôi đã thay đổi trận tuyến. Vào thời gian Thiệu từ chức trong đó hình như có một khoảnh khắc dài có thể đàm phán. Với việc Thiệu ra đi, một trong những điều kiện tiên quyết của Việt Cộng cho giải pháp chính trị đã hoàn thành, trên chiến trường có được thời gian nghỉ xả hơi.

Tại thành phố có biết bao tin đồn đại. Đài của CIA đưa tin đảo chính ở Hà Nội, 3 sư đoàn quân Bắc Việt được lệnh quay trở ra bắc. Nhiều người cho rằng đình chiến đã được thỏa thuận từ lâu. Những người khác cũng như ở nước Đức ngày nào – tin vào một loại vũ khí thần kỳ mà tờ báo “12 giờ kém 5” có thể sử dụng. Trước đó mấy ngày không quân Nam Việt Nam bắt đầu ném bom, một loại bom khi nổ nó hút hết dưỡng khí trong chu vi mấy trăm mét, hủy diệt hết mọi sự sống.

Người kế tiếp Thiệu, ông Hương già yếu, đọc diễn văn trấn an. Tướng không quân Cao Kỳ, đã từng là thủ tướng một thời, hy vọng sẽ nhảy lên làm tổng tư lệnh lực lượng vũ trang, nói với tôi rằng nếu cần, ông muốn biến Sài Gòn là một Stalingrad : Ông sẽ di tản tất cả phụ nữ, trẻ em ra khỏi Sài Gòn, đưa họ đến đảo Phú Quốc và bảo vệ thành phố cho đến người lính cuối cùng. Mấy ngày trước đó, ông đã nghe 300 sĩ quan quân đội tuyên thệ trung thành cho đến chết.

Lời nói sáo rỗng này vô nghĩa trước sức mạnh vượt trội của 23 sư đoàn Bắc Việt và Việt Cộng đang đứng trước cửa ngõ Sài Gòn. Đánh chiếm thành phố hình như chỉ còn là thời gian tính từng tuần, thậm chí có thể là từng ngày. Chúng tôi quyết định tận dụng thời gian đi theo những câu chuyện rùng rợn, rằng quân nổi dậy trên đường hành quân đã làm thịt các con của các bà mẹ Nam Việt Nam và cha là người Mỹ, rằng họ lùa tất cả mọi người trong thành phố đưa đi hành quyết tập thể, rằng họ cưỡng hiếp các nữ tu Công giáo và tra tấn đến chết các nam Phật tử. Chúng tôi phải đi về hướng bắc, đặc biệt đi đến vùng Việt Cộng đã chiếm. Chúng tôi đi taxi 3 tiếng đồng hồ đến Vũng Tàu, tìm một ngư dân và đi đường biển tránh mặt trận.

Còn đường từ Sài Gòn đi Vũng Tàu hai bên đang đánh nhau nhưng cũng có thể đi được. Trong các trại tị nạn cạnh đường, hàng trăm ngàn người đầu hàng số phận. Họ không còn bỏ chạy hoảng loạn trước những cuộc ném bom của không quân chính phủ và pháo binh của Việt Cộng như hồi tháng 3 vừa qua, trong cuộc chạy quy mô lớn từ phía bắc. Trận chiến đã đuổi kịp họ. Và giờ đây, họ biết chạy đi đâu. Đây là trạm cuối cùng.

Tải cảng Vũng Tàu, chúng tôi đã mua nổi sợ hãi trước Việt Cộng của một ngư dân bằng 400.000 Piaster, tức gần 1.200 mác. “VC số 10”, anh ta nói như vậy cho đến khi giá được chấp nhận. “số 10” trong tiếng Anh nhà binh của người Việt Nam là số không tốt, “số 1” mới là tốt. Giữa hai số đó không có nghĩa là cả.

Chuyến đi trên biển của chúng tôi giữa hai trận tuyến trót lọt. Tại bờ biển, nơi chiến sự diễn ra, những cột khói hình nấm đang cuồn cuộn bốc cao lên trời. Dọc theo biển phía bên kia vùng ba hải lý, hàng không mẫu hạm của hạm đội 7 của Mỹ đang neo đậu. Không thấy tàu tuần tiễu của Nam Việt Nam ngăn chúng tôi lại. “Họ đang chuẩn bị tháo chạy”, ngư dân nói với chúng tôi. Khi chúng tôi đến được phía bắc, tới vùng kiểm soát của Việt Cộng, bỗng nhiên xuất hiện rất nhiều tàu thuyền treo cờ Việt Cộng trước mắt chúng tôi. Người ta cũng không ngăn chúng tôi lại. Chúng tôi về đến Phan Thiết vào buổi tối, nơi Việt Cộng chiếm được cách đây một tuần. Trước khi trời hừng sáng, ngư dân chèo thuyền đưa chúng tôi lên bờ, và ông ta cũng biến mất.

Những người đầu tiên nhìn thấy chúng tôi tại bãi biển, xúm lại quanh chúng tôi làm như chúng tôi là sinh vật từ một thế giới xa lạ nào khác. Không có ai mặc quân phục cả. Chúng tôi hỏi thăm người đại diện của Việt Cộng, không ai hiểu chúng tôi nói gì. Cuối cùng chúng tôi tự tìm đại diện Chính phủ Cách mạng lâm thời, gõ cửa một nhà có treo bức chân dung Hồ Chí Minh to lớn trước hành lang, phía dưới có tấm bản đồ khổ lớn chỉ các vùng giải phóng. Tất cả chính thức gây ấn tượng với chúng tôi. Một anh thanh niên xuất hiện, tay phải cầm súng tiểu liên kiểu Nga, băng đạn khoác trên vai, dọc thắt lưng là những quả lựu đạn. Giật mình khi thấy ánh mắt chúng tôi, anh ta đưa khẩu súng chìa ra song cửa quát lớn, làm như sự có mặt của chúng tôi là ma quỷ sáng sớm phải xua đuổi đi.

Tiếng hô lớn như tiếng báo động, một số người đàn ông trong bộ quân phục xanh Bắc Việt Nam từ trong nhà xông ra. Họ chăm chú nhìn vào chúng tôi, dáng vẻ nghi ngờ. Sau đó, họ mời chúng tôi vào nhà. Một người nói tiếng Pháp. Chúng tôi tự giới thiệu chúng tôi là nhà báo Đức đến từ Sài Gòn và muốn đưa tin về quân Giải Phóng và các vùng giải phóng. Người ta mời chúng tôi uống trà vị chát, và mời ăn những quả chuối bằng ngón tay. Một biên bản được hình thành. Sau nửa tiếng đồng hồ, trên một chiếc xe jeep chiến lợi phẩm của Mỹ, người ta đưa chúng tôi đến trụ sở chính của công an địa phương Việt Cộng. Trên chiếc xe vẫn còn sót lại là cờ bàn của Mỹ với dòng chữ “Ai can đảm, người đó thắng”.

Tại trụ sở chính có rào xung quanh – ngôi nhà cũ của tòa án trước đây, chúng tôi được viên tư lệnh và ba sĩ quan mang máy chụp ảnh Đông Đức nhãn hiệu “Praktica” trước ngực tiếp đón, hỏi han một lần nữa. Họ muốn biết chúng tôi đến từ nước Đức Bon hay nước Đức Berlin, chúng tôi có vũ khí không, liệu chúng tôi có phải làm gián điệp cho Mỹ không ?

Xe tăng quân Giải phóng được người dân chào đón

    Lúc chúng tôi nói rõ nguyện vọng muốn cùng quân Giải phóng hành quân tiến vào Sài Gòn khi ngày ấy đến, thì các sĩ quan đều nhìn chúng tôi hết sức ngạc nhiên. Sau một lúc suy nghĩ, một trong các sĩ quan giải thích cho chúng tôi :
    ” Điều gì khiến các anh đoán ngày ấy sẽ đến không xa ? Chúng tôi còn phải giải phóng nhiều vùng nữa, sự chống cự còn lớn”. Ở đây hình như không ai nghĩ đến sự sụp đổ nhanh chóng của Sài Gòn.

    Viên tư lệnh cuối cùng nói với chúng tôi : “Các anh dũng cảm đi đến đây. Nhưng các anh vào đây một cách bất hợp pháp. Từ giờ trở đi, các anh phải tuân thủ kỷ luật của Chính phủ Cách mạng lâm thời. Lời đề nghị của các anh sẽ được chính phủ chúng tôi xem xét”. Ông đưa chúng tôi qua một cái phòng 5x7m, trong đó có hai bàn làm việc và hai tủ đứng chứ không phải một xà lim bình thường trong nhà tù. Ông chỉ tay ra cái sân phía trước và nói không có gì ác ý : “Các anh được tự do đi lại trong khu vực này”.

    Một sự bắt giam chúng tôi – những người châu Âu thật hiếm thấy ! Người ta bàn tán về đôi mắt tròn của chúng tôi, câu chuyện lan nhanh như gió trong Việt Cộng địa phương này. Càng có nhiều chiến sĩ du kích xuất hiện trước cửa sổ phòng của chúng tôi và nheo mắt cười thân thiện nhìn vào bên trong phòng. Hầu như mỗi người đều mang khẩu súng tiểu liên AK, nòng súng chĩa xuống đất, mang dép lốt ô tô cũ. Quân phục của họ nhàu nát, đủ màu.

    Không có ai đeo cấp bậc, quân hàm cả. Không thấy ai đứng chào trước mặt sĩ quan mà có thể nhận ra nhờ có mang súng ngắn bên hông. Trong những ngày sống bên Việt Cộng, chúng tôi không nghe ai gọi thủ trưởng cả. QUan hệ giữa những người chiến đấu với nhau hiện ra trước mắt chúng tôi như trong gia đình. Một số mạnh dạn bước vào phòng chúng tôi và thông qua dấu hiệu bằng tay dạy chúng tôi một khóa học cấp tốc đúng quy định du kích. Người ta xếp chăn đắp như thế nào, giăng màn chống muỗi như thế nào cho đúng. Nhận biết qua cách cư xử của họ, chúng tôi tự biết phải cắt tóc mình phù hợp với sinh hoạt trong chiến khu, và không được quên buổi sáng và buổi tối ra giếng nước tắm rửa toàn thân. Một trong những người thăm chúng tôi đã xé một trang trong cuốn sách có tựa đề Cuốn sách cẩm nang xã hội kinh thánh Mỹ – nó là di sản của không lực Hoa Kỳ, rồi anh ta cuốn thành điếu thuốc lá để hút.

    Cuối cùng người ta giới thiệu anh Sửu, thông dịch viên với chúng tôi. Anh nói tiếng Anh giọng Mỹ. Anh học trong một trường học của Việt Cộng ở chiến khu và được phép nghe đài “tiếng nói Hoa Kỳ” trong những giờ giải lao giữa các trận chiến đấu. Tiếng nói của anh nghe rõ ràng : “Các bạn phải tuân theo mệnh lệnh của Chính phủ Cách mạng lâm thời. Nếu không, đầu các bạn rơi”.

    Buổi chiều ngày đầu tiên của chúng tôi trong tư thế bị quản chế, hai ngày trước khi Sài Gòn đầu hàng, bỗng nhiên chúng tôi nghe tiếng rầm rú của máy bay từ hướng Sài Gòn bay tới. Liền sau đó từ mặt đất các nòng súng vươn lên, nhả đạn liên hồi từ khắp các nóc nhà. Với những khẩu súng bình thường, người ta đã bắn đuổi theo máy bay. Những chiến sĩ phòng không khi phát hiện đã muộn : không phải phi công Nam Việt Nam định ném bom như những ngày trước đó, mà người đằng mình lái những chiếc máy bay ném bom A37 – chiến lợi phẩm của Mỹ, tấn công sân bay Tân Sơn Nhất. Máy bay bay ở tư thế thẳng đứng thoát được nguy hiểm từ mặt đất bắn lên. Trước đó, Việt Cộng chưa bao giờ sử dụng máy bay. “Chúng tôi không muốn làm nguy hại đến tính mạng của nhân dân”, viên tư lệnh giải thích cho chúng tôi. Sau đó, chúng tôi được biết cuộc tấn công đó là sự trả lời của Hà Nội đối với diễn văn nhậm chức của tổng thống Dương Văn Minh từ chối kêu gọi quân chính phủ bỏ súng xuống.

    Trưa hôm sau, người ta đã dẫn hai người đàn ông – người Nhật Yoshihiro và người Mỹ Earl Martin bước vào trụ sở chính. Họ ở tại Đà Nẵng, cách đây mấy trăm cây số về phía bắc, bị cuốn theo cuộc tiến quân của Cộng sản. Việt Cộng đã cấp cho họ giấy thông hành đi về phía nam bằng đường bộ hay xe bus, dọc đường họ phải trình với các địa phương. Hai ông là người làm công tác xã hội, theo sự ủy thác của tổ chức Công giáo Mỹ hướng dẫn nông dân Nam Việt Nam dò tìm bom mìn chưa nổ từ những nơi Mỹ ném bom và tránh xa chúng khi cày bừa trên đồng ruộng.

    ( còn tiếp )

    Diễn đàn LSVN đánh máy và hiệu đính từ sách THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – GIỜ KHẮC SỐ 0

Những tội ác của Nhà nước Congo Tự do (1885-1908)

Những tội ác của Nhà nước Congo Tự do (1885-1908)

Một người đàn ông Congo đang nhìn vào bàn tay và chân bị cắt đứt của con gái năm tuổi, bị giết chết và ăn thịt bởi nhân viên của Công ty Congo ABIR thuộc Bỉ. Lý do đơn giản là ông ta đã không nộp đủ thuế cao su. Người da trắng đã thuê những chiến binh của các bộ lạc ăn thịt người vùng thượng Congo làm dân quân, và họ sẵn sàng ăn thịt những kẻ chống đối để răn đe.

Nhà nước Congo Tự do là một quốc gia lớn ở Trung Phi, liên kết cá nhân với vương quốc Bỉ (tức có chung vua nhưng dùng luật pháp tiêng và xác định biên giới cụ thể cho mỗi nước). Cho đến giữa thế kỷ 19, Congo là trung tâm của khu vực Châu Phi còn giữ được độc lập, vì thực dân châu Âu ít khi tiến sâu vào lục địa mà chỉ tập trung khai thác vùng giáp biển. Nguyên nhân là do sự chống đối dữ dội của dân địa phương, những khu rừng nhiệt đới bao la với vô vàn đầm lầy, và sự hành hạ của bệnh sốt rét cũng như các bệnh khó chữa khác như bệnh “ngủ”. Theo tính toán của giới tư bản thì việc đầu tư khu vực này là quá tốn kém. Tuy nhiên năm 1876, vua Leopold II của Bỉ tổ chức một hội nghị địa lý hoành tráng tại thủ đô Brussels, ông ta mời những nhà thám hiểm nổi tiếng, nhà hảo tâm và thành viên của các hiệp hội địa lý tham gia vào “công tác nhân đạo” của người châu Âu ở vùng trung tâm châu Phi. Mục đích được đề ra “văn minh hóa” người dân bản địa. Tại hội nghị này, Leopold đã vẽ ra cái gọi là “Hiệp hội Châu Phi quốc tế” và được bầu làm chủ tịch.

(Vua Leopold II của Bỉ)

Nhà thám hiểm nổi tiếng Henry Morton Stanley được thuê để khám phá Congo trong 5 năm, từ đó người Bỉ bắt đầu xây dựng đường sá, vẽ bản đồ giúp tàu hơi nước vào sâu trong nội địa và lập các trạm đóng quân. Trong quá trình này, Stanley đã ký nhiều hiệp ước với các tù trưởng địa phương và lãnh đạo bản xứ. Lóa mắt trước những món quà đẹp đẽ, rất ít người trong số lãnh đạo đó đủ thông thái để hiểu được mình đã ký kết cái gì, và về cơ bản thì những văn bản này đã chuyển giao cho vua Bỉ Leopold II hầu như tất cả chủ quyền khu vực. Christian de Bonchamps, một nhà thám hiểm người Pháp đi theo đoàn, đã viết trong nhật ký: “Những hiệp ước với các bạo chúa Phi châu nhỏ bé này, gồm bốn trang giấy mà họ không hiểu một từ nào”.

Leopold II đề ra một chiến dịch tuyên truyền và vận động hành lang khắp châu Âu, tuyên bố “Hiệp hội Châu Phi quốc tế” chỉ hành động vì lợi ích của dân bản xứ, không duy trì chế dộ nô lệ ở đây, và miễn thuế hàng nhập khẩu trong 20 năm cho mọi quốc gia . Kế hoạch này hoàn toàn thành công. Vào tháng 11 năm 1884, thủ tướng Đức Otto von Bismarck triệu tập một hội nghị 14 quốc gia để phân chia dứt điểm châu Phi. Khoảng 2.344.000 km vuông lãnh thổ Congo đã được trao cho vua Leopold II của Bỉ như tài sản cá nhân, để rồi từ đó ông ta lập ra Nhà nước Congo Tự do. Nó tồn tại như một vùng đệm giữa các thuộc địa của Pháp, Đức, Anh, Bồ Đào Nha; và nhanh chóng được quốc tế công nhận chủ quyền cũng như giữ vị thế trung lập.

(Cờ và huy hiệu Nhà nước Congo Tự do)

Ngay sau khi nắm toàn bộ quyền kiểm soát Congo, Leopold II vứt luôn cái mặt nạ từ thiện và tiến hành khai thác thuộc địa thông qua lãnh đạo địa phương. Tuy nhiên lúc đầu việc buôn bán ngà voi không đem lại lợi nhuận như kỳ vọng và chính quyền thường xuyên phải trả những khoản nợ lớn. Đến năm 1890 thì nhu cầu cao su thế giới bùng nổ, Nhà nước Congo Tự do tăng cường tối đa bóc lột bằng cách cưỡng bức dân Congo đi lấy mủ cao su mọc hoang để xuất khẩu sang châu Âu và châu Mỹ.

Theo một đạo luật ban hành và có hiệu lực trong năm 1891, trừ những phần đất mà trên đó có nhà ở hay ruộng vườn, toàn bộ đất đai Congo đều thuộc Nhà nước Congo Tự do. Dân phải đóng thuế bằng cách vào rừng cạo mủ cao su trên những cây dây leo (khác với loại cây cao su thân gỗ Hevea brasiliensis được trồng khắp thế giới) đem đi nộp. Lúc đầu không có công nghệ khai thác, người cạo mủ phải bôi cao su lên da mình rồi bóc ra khi nó khô, cứ như vậy từng mảng một và việc này gây ra cảm giác rất đau đớn. Mãi đến đầu thế kỷ 20 mới có công nghệ hứng mủ bằng máng và chậu. Công ty Congo ABIR (Compagnie du Congo Belge ) được cấp phép khai thác cao su tự nhiên trong Nhà nước Congo Tự do. Công ty này thu được lợi nhuận rất lớn vào cuối thập niên 1890, bằng cách bán một kilôgam cao su ở châu Âu với giá 10 franc trong khi chi phí khai thác chỉ là 1,35 franc. Lợi nhuận này đạt được bằng một hình thức bóc lột nặng nề, tàn bạo và man rợ chưa từng thấy.

Các công ty tư nhân mua lại quyền khai thác trong một vùng và hầu như được sử dụng mọi biện pháp để tăng sản lượng cao su. Không tồn tại cái gọi là quyền lợi của người lao động ở đây, dù chỉ 1 chút; pháp luật thực tế là mớ giấy lộn và không có chút tác dụng nào hết. Người da trắng thuê dân da đen có địa vị (capitas) để tổ chức và quản lý lao động địa phương, hỗ trợ họ là quân đội thuộc địa (Forrce Publique), tuyển dụng từ nhiều nơi, do các sĩ quan da trắng chỉ huy.

Mỗi khu vực, mỗi ngôi làng sẽ bị áp một mức thuế-tức hạn ngạch cao su phải giao nộp trong một khoảng thời gian nhất định, và hạn ngạch này thường cao đến mức phi lý. Nếu dân làng từ chối, họ sẽ bị binh lính đến đánh đập, bắt cóc để cưỡng ép thực hiện. Nhiều ngôi làng đã bị tiêu diệt chỉ vì chống đối hay không thể đáp ứng được hạn ngạch cao su quá lớn. Binh lính được yêu cầu chặt tay nạn nhân sau khi giết và mang về làm chứng (họ trang bị bằng súng đạn nhập khẩu châu Âu có giá đắt đỏ nên không được dùng săn bắn). Nếu một ngôi làng không nộp đủ cao su, sẽ có số tay bị chặt tương ứng với phần còn thiếu. Điều này đôi khi dẫn đến xung đột đẫm máu trong một địa phương, khi các làng tấn công lẫn nhau để lấy bàn tay đem nộp thay cao su. Sau này do nhu cầu nhân lực, binh lính chỉ bắt giam trưởng làng hay những nhân vật quan trọng để uy hiếp những người còn lại đi gom đủ cao su (hay tay người) còn thiếu. Thống kê tháng 7 năm 1902 có tổng cộng 44 nhà tù như vậy, với 3 đến 10 tù nhân chết mỗi ngày do điều kiện giam giữ khắc nghiệt (báo cáo của Sở bưu điện ở Bongandanga và Mompono).

(2 nhà truyền giáo châu Âu đứng cạnh lính thuộc địa, trên tay họ là bàn tay người vừa bị chặt)

Một mục sư người Đan Mạch đã ghi chép lại cảnh một ngôi làng bị xóa sổ vì dám chống đối mức thuế cao su: binh lính quấn lưới vào một nhóm 10 người, buộc đá và đẩy họ xuống sông. Phụ nữ bị hãm hiếp trước khi đóng đinh cùng con cái họ lên thập tự giá, đầu nam giới trong làng được cắm trên các cọc rào. Bàn tay bị chặt được thu thập và xếp đầy các giỏ. Một người lính nói với ông: “Đừng quá quan tâm đến điều này, họ sẽ giết chúng tôi nếu không mang cao su về. Tuy nhiên tay người có thể giúp giảm thời gian quân dịch, ủy viên hội đồng công ty đã hứa với tôi như vậy”.

Không phải mỗi bàn tay đều là một người chết, đôi khi binh lính rủ lòng thương và chỉ chặt tay nạn nhân đem về. Những bức ảnh chụp bàn tay người bị cắt đứt, đặt dưới chân sĩ quan châu Âu đã trở thành biểu tượng của Nhà nước Congo Tự do. Lính thuộc địa mang chúng đến các trạm thu thuế nộp thay cao su. Người ta lập nhóm đi tấn công bất kỳ ai họ gặp để chặt tay, thay vì vào rừng cạo mủ. Tay người đã trở thành một loại tiền tệ riêng ở Congo. Nếu một người lính nộp nhiều tay hơn đồng đội, anh ta sẽ được thưởng tiền và rút ngắn thời gian quân dịch.

Sự bóc lột và tàn bạo đó đã mang lại lợi nhuận khổng lồ cho Công ty Congo ABIR, và dĩ nhiên là Nhà nước Congo Tự do. Trong hai năm đầu tiên kể từ khi thành lập (1892-94) công ty này có tổng lợi nhuận là 131.340 franc, đến năm 1898 đã là 2.482.697 franc. Giá trị cổ phiếu ABIR đã tăng từ 1892 franc (năm 1892) lên 15.000 franc (năm 1903).

Theo thống kê trong 23 năm (1885-1908) vua Bỉ Leopold II cai trị Congo, ông ta đã tàn sát khoảng 10 triệu người châu Phi  (15-20% dân số) bằng cách ra lệnh chặt tay, thiến, dìm chết đuối, bỏ đói khi cưỡng bức lao động thu hoạch cao su. Phần mỉa mai của câu chuyện này là Leopold II đã phạm những tội ác trên khi thậm chí không đặt chân vào Congo. Dưới sự quản lý của Leopold II, Nhà nước Congo Tự do đã trở thành một trong những vụ xì căng đan quốc tế lớn nhất đầu thế kỷ 20. Sự tàn bạo của nó lên đến độ mà tiêu chuẩn thực dân cũng không thể nào chấp nhận được. Đa số nhà thám hiểm, truyền giáo, nhà văn, phóng viên……từng đến Congo đều quay về gia nhập phong trào phản đối chế độ Leopold (trong số này có nhà văn Mỹ Mark Twain và nhà văn Anh Conan Doyle – tác giả tiểu thuyết Sherlock Holmes). Cuối cùng, nước Anh phải công khai yêu cầu quốc tế xem xét lại Hiệp định Berlin 1885 do đã trao quá nhiều quyền hạn và lãnh thổ cho vua Bỉ.

Áp lực quốc tế mạnh mẽ đã buộc Nhà nước Congo Tự do phải giải thể và sát nhập thành một thuộc địa của Bỉ năm 1908. Nhờ luật pháp Bỉ được áp dụng mà sự tàn bạo trong vấn đề thu hoạch cao su đã giảm đi (thực tế là do cao su mọc hoang đã bị khai thác cạn kiệt, còn cây cao su thân gỗ mới trồng thì chưa đến tuổi thu hoạch), y tế và giáo dục cũng được cải thiện hơn. Tuy nhiên xã hội Congo vẫn là xã hội thuộc địa bị bóc lột kiểu thực dân với mức độ phân biệt chủng tộc cao. Ngày 30 tháng 6 năm 1960, nước Cộng hòa Congo tuyên bố độc lập.

Cho đến nay, Bỉ chưa từng đưa ra lời xin lỗi về giai đoạn Nhà nước Congo Tự do.

Câu chuyện về “anh hùng nhỏ tuổi nhất” của Hitler.

Câu chuyện về “anh hùng nhỏ tuổi nhất” của Hitler.

Trong khi hơn 76 vạn lính Đức và 2,5 triệu chiến sĩ Xô Viết giành giật nhau từng tấc đất quanh thủ đô Berlin, Hitler đã rời Boongke lần cuối cùng để lên mặt đất, trao huân chương cao quý nhất của Đức (Thập tự Sắt) cho một số thành viên tổ chức Hitler Youth -Thanh niên Hitler (gồm trẻ em từ 14 đến 18 tuổi). Được nhận huân chương còn có 19 thành viên của Jungvolk (tổ chức quân sự dành cho trẻ em Đức nhỏ hơn, từ 10 đến 14 tuổi).
 
Cậu bé đang được bắt tay là Alfred Czech, người nhỏ tuổi nhất nhận huân chương ngày hôm đó. Trong một cuộc phỏng vấn năm 2005, cụ ông Alfred Czech nhớ lại khoảng khắc sau khi được gắn huân chương “Führer bắt tay tôi, sau đó ông ta véo tai trái của tôi một cái và nói: Hãy giữ gìn nó!”.
 
Gia đình Alfred Czech ở làng Silau, Goldenau, được cắt cho Ba Lan sau khi thế chiến kết thúc. Trong 2 ngày, cậu bé 12 tuổi đó đã đưa được 12 lính Đức bị thương về tuyến sau, bất chấp đạn vãi như mưa ngược xung quanh. Vài ngày sau, một viên tướng xuất hiện và nói cậu được triệu tập đến Berlin. Alfred Czech lên máy bay và ngay khi bước chân xuống đường băng, cậu cảm nhận được sự rung chuyển của mặt đất, 11.000 khẩu pháo các cỡ của Hồng quân đang nã đạn vào Berlin.
 
Những thành viên Hitler Youth và Jungvolk được giới thiệu với nhau, mặc trang phục đẹp và ăn một bữa no nê. Bên trong khu vườn Reich Chancellory, họ xếp hàng vào sáng hôm đó (20/4) đợi Führer đến. Một đội quay phim tuyên truyền của Đức đã lắp máy và chọn vị trí sẵn sàng. Hitler xuất hiện với cổ áo chưa gấp, râu mép màu xám và một bên tay trái áp sát vào người, nó bị co giật nên ông ta không thể tự mình gắn huân chương được. Một người phụ tá phải làm thay việc này. Khi đến lượt Alfred Czech, Hitler mở miệng “Vậy ra đây là người nhỏ tuổi nhất? Cậu không sợ gì khi cứu lính của ta à?”. Alfred Czech nhớ lại mình đã trả lời: “Không, thưa Führer!”.

Sau buổi lễ, họ được đi cùng với lãnh đạo Đức Quốc xã xuống boongke ngầm. Ở đó, cả nhóm được cho ăn trưa trong khi Hitler trao đổi với từng người về cảm nhận chiến tranh. Khi kết thúc, mỗi người đều được hỏi muốn trở về nhà hay ra mặt trận. Alfred Czech, như mọi thành viên khác, đã trả lời rằng: “Mặt trận, thưa Führer!” Tối hôm đó khi Hitler đã về phòng ngủ, tình nhân Eva Braun dẫn cả nhóm lên mặt đất để tổ chức một bữa tiệc mừng. Moi người uống champagne, nhồi nhét thức ăn trong tiếng máy hát vặn to, bài “Blood-red roses tell you of happiness”.
 

Rồi Alfred Czech được đưa đi huấn luyện quân sự cấp tốc, rất nhanh chóng cậu đã có thể sử dụng súng trường và súng chống tăng Panzerfaust. Trước khi ra trận, viên sĩ quan hỏi cậu có ước muốn gì không. Alfred Czech nói mình chỉ muốn sở hữu một cây đàn phong cầm và được trao nó vài giờ sau. Trên thực tế, ngay cả khi muốn về nhà, cậu nhóc 12 tuổi cũng không thể làm được điều đó. Vào thời điểm Alfred Czech được gắn huân chương thì vùng Goldenau đã bị Hồng quân đánh chiếm. Cậu ta không còn lựa chọn nào khác ngoài việc hành quân đến Freudenthal ở vùng Sudetenland để chiến đấu. Mọi lính Đức đều phải chào Alfred Czech khi nhìn thấy huân chương Thập Tự Sắt trên ngực cậu, tuy nhiên một số người sau đó đã khuyên cậu bé nên quay về, tất cả đều là thương binh hay lính kỳ cựu. Được nhồi nhét chủ nghĩa anh hùng cá nhân nên Alfred Czech bỏ qua tất cả những lời khuyên đó.

Những ngày cuối cùng của tháng 4, một viên đạn bắn xuyên phổi đã khiến Alfred Czech bị bắt làm tù binh. Cậu vẫn sống sót một cách kỳ diệu trong hai năm bị giam giữ ở Tiệp Khắc. Khi được trả tự do năm 1947, Alfred Czech trở về nhà và biết tin cha mình đã chết trong chiến tranh. Sự nổi tiếng đã gây hại cho cậu. Cảnh sát Ba Lan đến và buộc gia đình cậu hủy bức ảnh chụp cảnh nhận huân chương Thập Tự Sắt treo trên tường, tuy nhiên Alfred Czech không bị bắt giam mà chỉ bị thẩm vấn vài giờ, có lẽ do người ta nhận thấy khi đó cậu còn quá nhỏ tuổi để ý thức được mọi thứ. Alfred Czech di cư sang Tây Đức vào năm 1964, sau rất nhiều nỗ lực vì khi đó Ba Lan và Tây Đức đang thuộc 2 phe đối đầu nhau trong Chiến tranh Lạnh. Ông định cư ở vùng Rhineland và kiếm sống bằng nghề xây dựng. Năm 2005, Alfred Czech có 10 đứa con và hơn 20 đứa cháu.

Ông không còn giữ được huân chương Thập Tự Sắt, nó đã thất lạc khi Alfred Czech bị bắt làm tù binh. Tuy nhiên bức ảnh lịch sử thì vẫn còn, do tư liệu về “anh hùng nhỏ tuổi nhất của Hitler” đã được tìm thấy sau chiến tranh. Hiện bức ảnh được đóng khung treo trên phòng khách nhà Alfred Czech. Hồi tưởng lại cuộc đời mình hơn nửa thế kỷ trước, ông trầm ngâm: “Khi đó tôi còn bé, không suy nghĩ nhiều mà chỉ muốn làm được điều gì đó. Tôi không nghĩ việc gửi trẻ em ra mặt trận là sự điên rồ. Đấy là chiến tranh.”

– Dịch và biên tập: Muitenbac777:-

SỰ KIỆN MÃN CHÂU NĂM 1931

SỰ KIỆN MÃN CHÂU NĂM 1931

Sau chiến tranh Nga-Nhật, hiệp ước Portsmouth cho phép Nhật Bản thuê lại chi nhánh đường sắt Nam Mãn Châu. Tuyến đường sắt này tuy thuộc lãnh thổ Trung Quốc, nhưng gần như đã bị nhượng cho Nga do một hiệp ước bất bình đẳng từ năm 1896 quy định người Nga có hầu hết chủ quyền ở đây. Bởi vậy, lính Nhật được phép đóng quân dọc tuyến để đảm bảo an ninh đường sắt, đối mặt với các doanh trại biên phòng Trung Quốc ở khu vực đó.

Trong tiếng Nhật, Gekokujō ( 下克上) là một thuật ngữ dùng để chỉ hành vi vượt quyền của cấp dưới, hay còn gọi là “hạ khắc thượng”. Tuân theo tinh thần này và quan niệm rằng xung đột ở Mãn Châu sẽ tạo ra lợi ích tốt nhất cho Nhật Bản, một nhóm sĩ quan đã lên kế hoạch tạo sự cố để có cớ gây chiến với Trung Quốc.

Nhóm sĩ quan này gồm đại tá Seishirō Itagaki, trung tá Kanji Ishiwara , đại tá Kenji Doihara, thiếu tá Suemori Komoto và thiếu tá Takayoshi Tanaka. Họ bí mật đặt chất nổ trên đường sắt ở 1 vị trí hẻo lánh (đến nỗi nó không có tên trong bản đồ) cách doanh trại Trung Quốc chỉ 800m và kích nổ lúc 22h20 ngày 18/9/1931. Do tính toán sai lượng nổ, chỉ có 1,5m đường bị hư hỏng, không đủ để làm trật bánh một đoàn tàu từ Trường Xuân đi qua ngay sau đó. Mặc dù vậy, đây là cái cớ để ngày hôm sau nhóm sĩ quan này cho 2 đơn vị pháo binh bắn phá và chỉ huy khoảng 500 lính Nhật tấn công doanh trại Trung Quốc ở Phụng Thiên (nay là Thẩm Dương).

Dù có tới 7000 người (đông gấp 12 lần) nhưng lính Trung Quốc trang bị kém, huấn luyện tồi và tinh thần thấp, còn quân Nhật thời điểm đó đã đáp ứng phần lớn tiêu chuẩn quân sự châu Âu. Sau 1 ngày giao tranh, quân Trung Quốc bỏ doanh trại rút lui, để lại khoảng 500 xác chết. Phía Nhật chỉ có vài thương vong. Tướng Shigeru Honjō – tư lệnh đạo quân Quan Đông của Nhật sau khi biết tin, rất ngạc nhiên vì cấp dưới đã giao tranh mà không hề có sự cho phép của mình. Nhưng rồi báo cáo của trung tá Kanji Ishiwara đã thuyết phục được tướng Shigeru Honjō về sự “gây hấn” của đối phương, nguyên do là tuyến đường sắt bị “tấn công” có tầm quan trọng lớn về công nghiệp và kinh tế.

(“Bằng chứng” do người Nhật đưa ra là mũ, súng của lính Trung Quốc và 2 đoạn tà vẹt hỏng – tất cả đều được ngụy tạo)

Giận dữ vì sự “phá hoại”, tướng Shigeru Honjō bèn gọi thêm viện quân từ Hàn Quốc sang, ra lệnh đánh chiếm tất cả các thành phố và vị trí chiến lược tại Mãn Châu để trả đũa. Tướng Quốc dân đảng là Trương Học Lương, với sự đồng ý ngầm từ Tưởng Giới Thạch, liên tiếp rút quân mà không hề kháng cự. Lúc đó Trương đang dùng cố vấn Nhật trong một số lĩnh vực, và những người này chỉ việc tuồn tin về hướng tiến quân của Nhật để Trương ra lệnh thu dọn kho tàng rút lui mà thôi. Mặc dù có sự chống cự từ các nhánh quân địa phương ở Hắc Long Giang và Cát Lâm, nhưng diễn ra lẻ tẻ và không kéo dài được lâu. 5 tháng sau sự cố, đất Mãn Châu đã hoàn toàn nằm trong sự kiểm soát của Nhật Bản.

Việc rút lui của Trương Học Lương bị chỉ trích rất mạnh mẽ (báo chí gọi ông ta là “Tướng khuất phục”), dù lệnh không kháng cự này là từ chính phủ trung ương ban hành xuống. Ở vùng Đông Bắc lúc ấy, tư lệnh Trương Học Lương có trong tay 250.000 quân chính quy, một số xe tăng, 60 máy bay chiến đấu, 4000 súng máy và 4 tiểu đoàn pháo binh. Đối mặt với họ chỉ là 11.000 quân Nhật với trang bị nhẹ, vốn chỉ có nhiệm vụ duy trì an ninh đường sắt.

Năm 1932, chính quyền Quốc dân đảng có rất nhiều vấn đề nội bộ phải giải quyết. Trận lụt khủng khiếp ở sông Dương Tử năm 1931 đã khiến 200.000 người chết và 28.5 triệu người bị ảnh hưởng. Ba đợt bao vây tấn công cứ địa của Đảng Cộng sản Trung Quốc đều bị đẩy lui với tổn thất nặng nề. Ở Quảng Châu, Hồ Hán Dân thành lập chính phủ riêng đối lập với Tưởng. Do đang dồn các nguồn lực để khắc phục hậu quả lũ lụt và tổ chức đợt bao vây tấn công thứ tư, Tưởng Giới Thạch đã quyết định “buông” Mãn Châu để tránh phải sa vào một cuộc xung đột vũ trang với Nhật Bản. Dĩ nhiên điều này không được công khai. Trong hội nghị ngày 20 tháng 11 năm 1932, phe Quảng Châu công kích Tưởng dữ dội và đòi Tưởng từ chức vì để mất một vùng đất đai rộng lớn, giàu tài nguyên khoáng sản. Ngày 15 tháng 12, Tưởng từ chức chủ tịch và được thay thế bởi Tôn Khoa – con trai Tôn Trung Sơn.

Trung Hoa dân quốc đưa vụ việc ra khiếu nại tại Hội Quốc Liên từ ngày 19 tháng 9. Ngày 24 tháng 10, Hội Quốc Liên ra nghị quyết yêu cầu Nhật Bản rút quân về vị trí cũ, bắt đầu từ ngày 16 tháng 11. Nhật bác bỏ nghị quyết này và nhấn mạnh vào các cuộc đàm phán song phương với chính phủ Trung Quốc, vốn chậm chạp và chẳng mang lại kết quả gì.

(Đại diện Trung Quốc đưa vụ việc ra trình bày ở Hội Quốc Liên)

Ngày 7 tháng 1 năm 1932, Bộ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ Henry Stimson công bố Học thuyết Stimson, trong đó tuyên bố rằng Hoa Kỳ sẽ không công nhận bất kỳ chính phủ nào được thành lập nhờ các hành động quân sự của Nhật Bản tại Mãn Châu. Vào ngày 14 tháng 1 năm 1932, một ủy ban của Hội Quốc Liên, đứng đầu là bá tước Anh Victor Bulwer-Lytton xuống tàu biển đến Mãn Châu để điều tra. Tuy nhiên đến tháng 3, Nhật đã thành lập xong cái gọi là Mãn Châu Quốc, do hoàng đế bù nhìn Phổ Nghi làm lãnh đạo.

Bất chấp vị thế cao của Nhật Bản trong Hội Quốc Liên, báo cáo của Lytton tuyên bố Nhật Bản là thế lực xâm chiếm, Mãn Châu Quốc là “một nước do bộ tham mưu Nhật tạo ra”, yêu cầu hoàn trả Mãn Châu cho Trung Quốc, dù có khéo léo dung hòa lợi ích bằng việc từ chối khẳng định người Nhật là chủ mưu vụ đánh bom đường sắt. Trước khi báo cáo có thể được bỏ phiếu tại Đại hội đồng Hội Quốc Liên, chính phủ Nhật Bản tuyên bố ý định tiến xa hơn nữa vào lãnh thổ Trung Quốc. Báo cáo được Đại hội đồng thông qua với kết quả 42–1 vào năm 1933 (chỉ Nhật Bản bỏ phiếu trống), song thay vì rút binh sĩ khỏi Trung Quốc, Nhật Bản quyết định rời bỏ Hội Quốc Liên.

Sử gia người Anh Charles Mowat khi đó viết rằng ý tưởng về an ninh tập thể và pháp quyền đã bị đánh bại. Hội Quốc Liên không có lực lượng vũ trang riêng để buộc các nước thành viên thực thi nghị quyết của mình. Sau thế chiến I, các cường quốc đều không muốn dính líu vào một cuộc xung đột quân sự xa xôi. Cấm vận kinh tế cũng không hiệu quả, do Mỹ không phải thành viên Hội Quốc Liên nên Nhật có thể buôn bán trực tiếp với nước này qua ngả Thái Bình Dương. Người Nhật lập ra một chính phủ quân chủ lập hiến – trên danh nghĩa là chính phủ cai trị đất Mãn Châu, tuy nhiên các cố vấn Nhật (giữ vai trò thứ trưởng) là người quyết định mọi việc. Nhà nước bù nhìn Mãn Châu Quốc được các đồng minh của Nhật công nhận (28 quốc gia), trở thành bàn đạp quan trọng cho việc xâm chiếm lãnh thổ Trung Quốc về sau.

(Mãn Châu Quốc năm 1939)

 – Muitenbac777 –