Kháng Minh Truyền Kỳ ( Phần 3 ) – Kỳ 15 : Chiến dịch Thuận Hóa, Trần Nguyên Hãn mộ được hàng vạn tân binh

Kháng Minh Truyền Kỳ ( Phần 3 ) – Kỳ 15 : Chiến dịch Thuận Hóa, Trần Nguyên Hãn mộ được hàng vạn tân binh

Xem kỳ 14 tại đây

Theo chủ trương tránh mạnh đánh yếu, mùa thu năm 1425 Bình Định vương lệnh cho Tư đồ Trần Nguyên Hãn và Thượng tướng Lê Nỗ, Chấp lệnh Lê Đa Bồ đem quân đi tuần hai xứ Tân Bình (thuộc Quảng Bình ngày nay), Thuận Hóa (thuộc Quảng Trị, Thừa Thiên Huế ngày nay). Nhiệm vụ của Trần Nguyên Hãn và Lê Nỗ không dễ hoàn thành vì quân Minh và ngụy binh ở các xứ này vẫn còn rất đông, mặc dù đã mất liên lạc với các thành trì phía bắc của giặc.

 Theo nhiều sử liệu cũ, Tư đồ Trần Nguyên Hãn thuộc dòng dõi Tư đồ Trần Nguyên Đán, một quý tộc nổi danh cuối thời Trần. Là người trí dũng song toàn, Trần Nguyên Hãn từ lúc theo Lê Lợi khởi nghĩa đã nhiều lần xông pha trận mạc, lập nhiều chiến công nơi trận tiền. Bình Định vương biết tài lược của ông, rất tin dùng, cho dự bàn mưu kín, rồi thăng dần lên chức Tư đồ. Việc phái Trần Nguyên Hãn vào nam không chỉ vì tài năng, mà còn vì uy tín của một hậu duệ quý tộc Trần.

Khoảng 1.000 quân Lam Sơn và 1 thớt voi hành quân từ Nghệ An vào nam, đến châu Bố Chính (thuộc Quảng Bình), gặp phải tướng Minh là Nhậm Năng đem quân dàn trận bên sông Giang đón đánh. Trần Nguyên Hãn cùng Lê Nỗ, Lê Đa Bồ thấy quân Minh đông hơn quân ta gấp mấy lần vẫn không nao núng, một mặt cho người về Nghệ An xin thêm viện binh, mặt khác bình tĩnh chia quân đối phó. Quân Lam Sơn ngầm bố trí mai phục chỗ đường hẹp tại Hà Khương, Trần Nguyên Hãn cùng quân tướng còn lại thì ra đường lớn dàn trận dụ địch.

Nhậm Năng vốn chưa đụng trận với quân Lam Sơn nên chưa không rõ về thuật dùng binh của quân ta, cứ đem hết quân qua sông mà đánh vỗ mặt. Trần Nguyên Hãn cầm quân vừa đánh vừa lui, nhử quân giặc vào bẫy. Đến chỗ mai phục, quân ta hai mặt nổi lên đánh kẹp lại. Lê Nỗ dẫn voi và các quân khỏe mạnh xông ra, đánh cắt ngang đội tiên phong của quân Minh, phá nát thế trận của giặc. Nhậm Năng không chống nổi phải quay đầu chạy, các quân tướng giặc cũng đều tan chạy cả. Quân Lam Sơn truy bức đến tận bờ sông. Trận này quân Minh bị giết và chết đuối hơn 1.000 người. Thiệt hại phía quân ta không đáng kể.

Nhậm Năng thua trận đầu nhưng quân vẫn còn đông, tỏ ra thận trọng hơn. Lúc này, Bình Định vương Lê Lợi nhận được tin tức từ cánh quân nam tiến của Trần Nguyên Hãn, Lê Nỗ và Lê Đa Bồ báo về, liệu rằng cần phải dùng thủy quân để tăng cường. Ngài bèn lệnh cho các tướng Lê Ngân, Lê Bôi, Lê Văn An đem 70 chiến thuyền từ Nghệ An vượt biển vào tiếp ứng. Quân Lam Sơn hai đạo thủy bộ họp lại, vừa đánh giặc vừa chiêu mộ thêm lực lượng, cùng nhân dân vây bức, dụ hàng các đồn trại quân Minh ở các châu huyện.

Khí thế của quân Lam Sơn cùng với sự hỗ trợ nhiệt tình của nhân dân khiến cho quân Minh không thể địch nổi, rút vào hai thành Tân Bình, Thuận Hóa tử thủ. Trần Nguyên Hãn vẫn theo sách lược chung, chia quân vây bức thành trì mà không công phá, giữ gìn lực lượng, chiêu dụ nhân dân. Trên thực tế đất đai hai xứ Tân Bình, Thuận Hóa đã thuộc quyền kiểm soát của nghĩa quân Lam Sơn, quân Minh ở trong thành đã hoàn toàn bị cô lập, chỉ còn trông cậy vào lương thực, khí giới đã tích lũy từ trước mà cầm cự lay lắt qua ngày.

Chẳng những chiếm được đất đai, lực lượng quân Lam Sơn lại còn được dịp phát triển vượt bậc về số lượng. Trần Nguyên Hãn với tài năng và uy tín của mình đã tuyển chọn thêm được hàng vạn quân sung vào đội ngũ, khiến tương quan lực lượng tổng thể giữa quân Lam Sơn và quân Minh có một chuyển biến lớn. Cho đến tháng 10.1425, một dải giang sơn từ Thanh Hóa đến Thuận Hóa đã thuộc quyền làm chủ của nghĩa quân Lam Sơn. Ngoài ra mở rộng vùng giải phóng, phát triển thêm thế lực thì việc này còn giúp quân Lam Sơn tránh khỏi mối lo “nội cố”, tức bị trong đánh ra, ngoài đánh vào, phải tiến hành phòng thủ các hai hướng bắc và nam. Với thế trận mới, một lực lượng cơ động chiến lược lớn của quân ta được rảnh tay mà dồn sức tạo thành những mũi tiến công lớn.

Theo như sách lược mà Nguyễn Chích đã đề ra từ trước, quân Lam Sơn sẽ tiến đánh Nghệ An rồi dùng nhân tài vật lực xứ này mà quay ra đánh Đông Quan. Nhưng trong quá trình thực hiện, kế hoạch chung của nghĩa quân đã thay đổi theo tình hình thực tế. Quân ta chẳng những đánh chiếm đất đai Nghệ An mà còn đánh cả Diễn Châu, Thanh Hóa và tiến đánh sâu vào nam, kiểm soát một vùng rộng lớn. Với nhân tài, vật lực các xứ đã chiếm được, quân Lam Sơn đủ sức vừa tiến hành bao vây chặt quân Minh ở các thành trì vừa có thể chuyển sang giai đoạn mới, đó là bắt đầu kế hoạch bắc tiến để thu phục Đông Quan, khôi phục lại toàn bộ giang sơn Đại Việt.Với những chiến công vang dội liên tiếp, các tướng đồng loạt suy tôn Bình Định vương Lê Lợi là Đại Thiên Hành Hóa (tức người thay trời làm việc giáo hóa). Từ đó về sau các mệnh lệnh, thư từ Lê Lợi đều dùng danh hiệu này để xưng.

Bấy giờ, tuy quân dân ta thắng trận giòn giã, nhưng quốc lực nước Minh vẫn đang trong lúc cường thịnh nhất. Mặc dù nước Minh bị phân tán lực lượng khi phải đối phó với người Mông Cổ, nhưng nếu vua tôi Minh triều hạ quyết tâm thì vẫn có thể điều động hàng chục vạn quân để tăng viện cho quân Minh ở Đại Việt. Lê Lợi biết rằng cuộc chiến đấu vẫn còn nhiều gian nan, nên muốn dùng biện pháp chính trị, ngoại giao để phối hợp với quân sự. Để tiện cho việc giao thiệp với nước Minh và góp phần phân hóa nội bộ Minh triều, Lê Lợi đã cho rước một người tự xưng là con cháu họ Trần tên là Trần Cao, từ châu Ngọc Ma về để tôn làm vua.

Thực chất, Trần Cao chỉ là vua bù nhìn để góp phần khiến cho phe chủ chiến ở triều đình nước Minh hết đường viện cớ xua quân tăng viện, là mất đi sự “chính danh” giả hiệu mà vua tôi nước Minh vẫn rêu rao và tự huyễn hoặc chính mình. Còn trên thực tế, Lê Lợi vẫn là người lãnh đạo cuộc khởi nghĩa và dùng uy tín của mình để kêu gọi toàn dân đánh đuổi quân Minh.

(còn nữa)

Quốc Huy/Một Thế Giới

Kháng Minh Truyền Kỳ ( Phần 3 ) – Kỳ 14 : Vây thành Nghệ An, tránh mạnh đánh yếu

Kháng Minh Truyền Kỳ ( Phần 3 ) – Kỳ 14 : Vây thành Nghệ An, tránh mạnh đánh yếu

Kỳ 13

Tháng 5.1425, quân Lam Sơn gần như đã làm chủ hoàn toàn đất đai Nghệ An. Tổng binh Trần Trí nước Minh cùng đội quân của hắn đóng chặt cửa thành Nghệ An mà cố thủ chờ viện binh. Bên ngoài thành trì, Bình Định vương cho dựng trại, đắp lũy vây lấy thành. Nhân dân trong vùng lũ lượt kéo nhau đến cửa quân góp tiền của và xin gia nhập hàng ngũ, đông như trẩy hội.

Tin tức Trần Trí bị vây khốn tại Nghệ An chấn động cả hệ thống quân Minh đô hộ. Từ thành Đông Quan, tướng Lý An tước An Bình bá lệnh gom quân tất cả các thành trì phía bắc, được vài vạn quân, thuyền bè khí giới đều mạnh, kéo nhau vào cứu viện cho Trần Trí. Bấy giờ Lê Lợi đang gấp rút chuẩn bị binh mã đánh thành, hay tin viện binh tới bèn thay đổi kế hoạch. Quân ta rút xa khỏi chân thành Nghệ An, đem ém quân tại sông Quật Giang huyện Đỗ Gia, là tuyến đường mà quân Minh phải đi qua để tiến về phía tây hòng chiếm lại vùng thượng đạo xứ Nghệ. Lý An vào được thành Nghệ An, hội quân với Trần Trí.

Các quân thủ thành lẫn quân tiếp viện của giặc cộng lại đã vượt hẳn quân Lam Sơn về số lượng. Tướng giặc bị vây lâu ngày, nay có quân đông mạnh liền muốn đánh thốc ra lật ngược tình thế. Nhưng hướng hành quân của Trần Trí đã bị bộ chỉ huy quân Lam Sơn sớm đoán biết được. Khi quân Minh đến huyện Đỗ Gia, đang lúc vượt sông Quật Giang thì bị quân ta phục sẵn từ trước đổ ra đánh. Đám quân Minh đi trước bị chém chết hơn 1.000 tên. Số giặc chết đuối còn nhiều hơn mấy lần. Trần Trí, Lý An liền hạ lệnh cho quân chạy ngược trở về thành Nghệ An, càng ra sức đào hào đắp lũy cố giữ.

Vì tướng giặc trúng mai phục đã nhiều lần nên sinh đa nghi, cho nên trận Đỗ Gia quân Lam Sơn thắng được quân Minh nhưng không được giòn giã như các trận trước. Quân giặc rút kịp về thành vẫn còn rất đông, thành càng khó công phá hơn nữa. Tuy nhiên, việc quân Minh dồn sức cố thủ tại Nghệ An đã mở ra một thời cơ khác cho quân ta. Sau khi bàn bạc cùng các tướng, Lê Lợi nói rằng: “Quân giặc đến hết cả để cứu Nghệ An. Các nơi tất là trống rỗng” (theo Lam Sơn Thực Lục).

Mùa hạ năm 1425, Bình Định vương muốn thừa cơ tiến đánh Diễn Châu và thu phục Thanh Hóa. Trước tiên, sai Đinh Lễ đem quân đi trước đến Diễn Châu phủ dụ nhân dân, vây bức thành trì. Đinh Lễ đến Diễn Châu, dò biết tin 300 thuyền lương của quân Minh do Đô ty Trương Hùng từ Đông Quan sắp đến. Ông đoán rằng quân Minh trong thành sẽ ra đón thuyền lương, nên chưa vội đánh Trương Hùng mà ngầm đặt quân mai phục sẵn gần nơi bến cảng. Ít lâu sau, quả nhiên giặc ở thành Diễn Châu kéo ra như Đinh Lễ tiên liệu. Quân Lam Sơn lặng lẽ chờ giặc lọt vào bẫy, xông ra đánh mạnh, cả phá được. Thiên hộ giặc họ Tưởng và 300 quân bị giết tại trận, số còn lại cố chết chạy về thành Diễn Châu cố thủ. Thừa thắng, Đinh Lễ đem quân đánh Trương Hùng, cướp sạch thuyền lương, đuổi Trương Hùng chạy dài từ Diễn Châu đến tận Thanh Hóa. Trương Hùng chạy kịp đến hội với quân Minh ở thành Tây Đô, đóng trại ngăn chặn quân Lam Sơn.

Đinh Lễ tiến quân đến xứ Thanh Hóa, liệu thế quân ít chưa thể đánh ngay,cho người báo tin về Nghệ An. Lê Lợi được tin, liền sai các tướng Lê Sát, Lý Triện, Lê Bị, Lưu Nhân Chú đem 2.000 tinh binh, 2 thớt voi ngày đêm theo đường tắt đi gấp đến tăng viện cho Đinh Lễ. Quân Minh chỉ lo phòng giữ cánh quân của Đinh Lễ, không hay biết tin tức của cánh quân tiếp viện. Lê Sát cùng các tướng chia quân nửa đêm đánh úp trại giặc, chém hơn 500 tên, bắt sống tù binh rất nhiều. Quân Minh phải chạy vào trong thành Tây Đô mà cố thủ.

Hệ thống kìm kẹp, đô hộ của người Minh tại xứ Thanh Hóa đều bị vô hiệu hóa khi mà lực lượng quân đội giặc bị quân ta vây bức trong thành. Quân Lam Sơn dù thiếu thốn vật chất nhưng đi đến đâu đều theo nghiêm lệnh không động đến tài sản của nhân dân, kể cả những dân sống chung với giặc. Đinh Lễ, Lý Triện chia người phủ dụ nhân dân, không ai là không theo. Người Thanh Hóa trước đã nghe danh Bình Định vương Lê Lợi, nay có dịp đều thi nhau đến cửa quân xin diệt giặc.

Bấy giờ là vào khoảng mùa thu năm 1425, nghĩa quân Lam Sơn chỉ trong khoảng nửa năm đã từ một đội quân chỉ chiến đấu quanh quẩn ở núi rừng tây Thanh Hóa phát triển thành một đội quân đông mạnh, đủ sức bao vây chủ lực quân Minh trong hàng loạt thành trì lớn. Có được điều này một phần là do sự can trường, sức chiến đấu bền bỉ của nghĩa quân, một phân nữa là nhờ sự ủng hộ chân thành, nhiệt tình của nhân dân các xứ. Nhờ vào sự ủng hộ to lớn đó mà quân Lam Sơn có thể tuyển mộ lực lượng tại mọi nơi có dân cư một các rất nhanh chóng. Quân lương, khí giới cũng nhờ vào nhân dân hỗ trợ mà nhanh chóng được sung túc, lại không phải tiếp vận đường xa. Ngoài ra, các tin tức tình báo đều được thông suốt, kịp thời nhờ vào tai mắt của dân, trong khi quân giặc thì luôn mù mờ về tin tức của quân ta. Đó là những lợi thế của một đạo quân giải phóng nhân dân, một đạo quân chính nghĩa mới có được.

Tuy vậy, quân Minh cũng có lợi thế của kẻ cường đạo. Các thành trì mà quân Minh đã xây dựng lên trên lãnh thổ nước ta đều thuộc hàng cứng và chắc, thành cao hào sâu, trên thành thường đặt đại pháo phòng thủ nên rất khó công phá. Quân giặc lại có được lương thực, khí giới, đạn dược dồi dào tích lũy trong các thành. Bởi thế nên dù liên tiếp thua trận, quân Minh vẫn có khả năng cố thủ trong thành, chờ đợi thời cơ thuận lợi về sau. Bấy giờ, quân Lam Sơn đã vây bức giặc tại ba thành Tây Đô, Diễn Châu, Nghệ An. Nếu Bình Định vương Lê Lợi muốn công phá bất kỳ thành trì nào trong số này đều phải chấp nhận trả giá đắt về nhân mạng.

Trước tình hình đó, Lê Lợi cùng các tướng Lam Sơn đã chủ trương tránh chỗ mạnh, đánh chỗ yếu. Lê Lợi đoán biết rằng các thành trì phía nam ở xa cách, mất liên lạc với chính quyền đô hộ đã lâu. Ngài bèn nói với các tướng: “Các vị tướng giỏi thời xưa, thường bỏ chỗ kiên cố mà đánh vào nơi nứt rạn; lánh chỗ xung đột mà đánh vào nơi trống không. Như vậy thì chỉ dùng nửa phần sức lực, mà thu lượm được thành công gấp đôi. Nay hai xứ Thuận Hóa và Tân Bình, mất liên lạc với Nghệ An và Đông Đô đã lâu rồi. Vậy ta nên thừa thời thế tiến đánh hai xứ đó” (theo Đại Việt Thông Sử – Lê Quý Đôn)

Bàn định xong, Lê Lợi phái Tư đồ Trần Nguyên Hãn, Thượng tướng Lê Nỗ ( Doãn Nỗ ), Chấp lệnh Lê Đa Bồ đem 1.000 quân, 1 thớt voi đi kinh lược hai xứ Thuận Hóa, Tân Bình. Sử cũ chép hai từ Kinh Lược, tức là đạo quân Lam Sơn tiến về nam lần này không chỉ có nhiệm vụ chiến đấu đơn độc với quân Minh ở các thành mà còn phải đảm đương nhiệm vụ tuyên truyền, kêu gọi nhân dân cùng đứng lên chiến đấu với nghĩa quân. Các tướng đi đánh Tân Bình, Thuận Hóa không chỉ có năng lực cầm quân đánh trận mà còn phải có khả năng chiêu dụ nhân dân, mộ thêm lực lượng tại chỗ để hoàn thành nhiệm vụ.

(còn nữa)

Quốc Huy/Một Thế Giới

Kháng Minh Truyền Kỳ ( Phần 3 ) – Kỳ 13 : Nội bộ Minh triều lục đục vì cuộc chiến ở Đại Việt

Kháng Minh Truyền Kỳ ( Phần 3 ) – Kỳ 13 : Nội bộ Minh triều lục đục vì cuộc chiến ở Đại Việt

Kỳ 12

Chiến tranh chống quân Minh xâm lược cũng giống như mọi cuộc chiến khác ở thời kỳ trung đại về mặt thông tin liên lạc. Nước Minh là bên điều quân viễn chinh, tin tức từ đầu não triều đình đến được quân tướng ngoài mặt trận phải mất hàng tháng trời. Một sự kiện diễn ra ở vùng Thanh Nghệ nước Đại Việt, nếu tính từ khâu báo cáo lên vua Minh cho đến khi tướng lĩnh quân Minh nhận được chỉ thị của vua thì có khi phải mất hơn nửa năm. Chính vì vậy, kế hoạch của Minh triều thành hay bại phụ thuộc rất nhiều vào năng lực của tướng chỉ huy ngoài mặt trận.

Thế nhưng bấy giờ phong trào Lam Sơn nổi lên, nhân tài hội tụ, cơ mưu thường vượt trên hẳn các tướng giặc. Quân Minh do đó mà liên tiếp thua kế, bại trận. Trải ba năm từ 1424 đến 1426, nước Minh liên tiếp đổi ngôi hai lần (Minh Nhân Tông thay Minh Thành Tổ trị vì được một năm thì chết, Minh Tuyên Tông lên nối ngôi), thay tướng tại Đại Việt một lần (Trần Trí thay Lý Bân làm Tổng binh). Các vua Minh đều rất thất vọng với các tướng của mình, thường hay ra chiếu trách phạt và chỉ đạo. Thế nhưng các chiếu chỉ vua Minh thường không theo kịp diễn tiến của cuộc chiến tại nước ta, càng góp phần khiến cho tướng lĩnh quân Minh thêm bối rối, mắc thêm những sai lầm.

Ngay từ những năm Minh Thành Tổ Chu Đệ còn trị vì, đã có những quan viên nước Minh tỏ thái độ không đồng tình với chính sách hai mặt của vua Minh tại nước ta. Thế nhưng, dưới bàn tay sắt của Chu Đệ và tai mắt giám sát chặt chẽ của cơ quan mật vụ Cẩm Y Vệ, những ai dám lên tiếng trái ý đều mang tai họa. Kể từ năm 1424 trở đi, làn sóng chỉ trích việc nam chinh mới rộ lên dần dưới thời vua Minh Nhân Tông Chu Cao Sí.

Góp phần không nhỏ vào làn sóng đó chính là sự phản kháng mãnh liệt của nhân dân Việt và những chiến thắng của quân Lam Sơn trước quân Minh đô hộ. Bên cạnh đó, thực tế nước Minh cũng không ở trong hoàn cảnh yên ổn mà lo chuyện mở rộng lãnh thổ, bởi sức ép từ quân Mông Cổ ở phương bắc luôn đe dọa sự tồn vong của đế chế. Binh lực phải chia ra hai hướng bắc nam đã có lúc khiến cho quốc khố nước Minh gần đến chỗ cạn kiệt, quân dân nhiều vùng phải khổ sở vì lao dịch và chiến đấu.

Áp lực từ bên cương phía bắc và trong nước đã khiến vua Minh Nhân Tông phải nhìn nhận lại về cuộc đô hộ của nước Minh tại đất Việt. Vị vua này đã tỏ ý muốn chiêu dụ các lực lượng khởi nghĩa tại nước ta. Thực chất đó chỉ là một thái độ thiện chí nửa vời, vì vua Minh Nhân Tông có xuống nước so với Minh Thành Tổ Chu Đệ nhưng chung quy vẫn muốn duy trì sự thống trị của nước Minh đối với người Việt, xóa sổ nước Đại Việt, dần đồng hóa dân ta với dân nước Minh. Điều đó hoàn toàn đi ngược lại nguyện vọng của nhân dân Việt. Bởi vậy, việc chiêu dụ của vua Minh Nhân Tông không hiệu quả. Nhân dân ta vẫn đứng lên đánh đuổi quân Minh để mong giành lại độc lập, và vua Minh lại tiếp tục việc đàn áp. Mọi chuyện đâu lại hoàn đấy, chiến tranh vẫn tiếp diễn theo một quán tính đã thiết lập sẵn.

Giai đoạn từ nửa cuối năm 1425 đến đầu năm 1425, khi phong trào Lam Sơn có những bước phát triển vượt bậc cũng là lúc vua Minh Nhân Tông càng thêm khó xử. Khi biết tin Lê Lợi dẫn quân tiến vào Nghệ An, vua Minh đã mong muốn đánh nhanh. Thái giám Sơn Thọ theo ý của Trần Trí tâu lên rằng có thể chiêu dụ Lê Lợi. Vua Minh nghe theo, giáng chiếu chỉ đem chức Tri phủ Thanh Hóa ra để mua chuộc Lê Lợi bãi binh, quy hàng. Thực sự vua tôi nước Minh đã đánh giá quá thấp chí hướng của Lê Lợi. Quân Lam Sơn chẳng những không đầu hàng, còn lợi dụng điều này để lừa giặc không đem binh cứu viện kịp thời cho Cầm Bành tại châu Trà Lân, giúp quân ta chiếm được Trà Lân dễ dàng. Binh bộ thượng thư Trần Hiệp báo tin Trà Lân thất thủ về triều, Vua Minh rất tức giận, xuống chỉ trách phạt nặng nề Trần Trí, Phương Chính. Lúc này quan Ngự sử nước Minh còn hặc tội bọn đô chỉ huy Sư Hựu, Trương Hùng làm nhiều việc trái quân pháp. Vua Minh sai bắt Sư Hựu, Trương Hùng về kinh trị tội.

Tờ chiếu chỉ trách tội của vua Minh có lời lẽ rất gay gắt: “Triều đình mệnh các ngươi trấn thủ Giao Chỉ là để yên ổn một phương. Nay được biết bọn đầu đảng Lê Lợi cướp phá châu huyện, ngăn cắt đường sá. Các ngươi mới đây tâu rằng đã chiêu dụ Lê Lợi xin đợi mùa thu mát đến Thanh Hoá nhậm chức. Nay đã mùa thu rồi, thực sự Lợi đã đến nhậm chức chưa? Trẫm ước tính tên giặc này nguỵ trá, không có lòng quy thuận, chỉ dùng lời lẽ hoãn binh để bọn chúng được thung dung tụ tập, tương lai tất gây hậu hoạn, các ngươi không suy nghĩ đến hay sao? Về việc Thổ quan Tri phủ Cầm Bành tại châu Trà Lung bị Lợi đánh vây 7 tháng nay rồi, lương thảo sắp hết, quân chết đến một phần ba, Bành vẫn kiên thủ cự địch, Giao Chỉ có được người như vậy cũng không dễ kiếm! Các ngươi từng chứng kiến lòng trung thành của con người này, sao không điều binh cứu viện?

Khi sắc dụ đến nơi, như thấy Lê Lợi không có bụng quy thuận hãy tìm cánh đánh bắt. Gấp phát binh tiếp viện Cầm Bành, vỗ về hậu hĩ, để bồi dưỡng lòng kiên cường trung thuận. Các ngươi đều là đại thần của triều đình, cần đồng tâm hiệp lực làm tròn uỷ nhiệm, đừng lo việc ban thưởng phong tước không được công bằng ! ”

Thực ra tin tức của vua Minh nhận được không hoàn toàn chính xác. Cầm Bành không cố thủ nổi đến 7 tháng. Thời điểm vua Minh ra chiếu chỉ này thì Cầm Bành đã đầu hàng quân ta rồi. Quân Minh khi hay tin Cầm Bành bị giết thì cho rằng Cầm Bành tử thủ đến chết, nhưng thực chất là lập mưu làm binh biến sau khi đầu hàng nên bị Lê Lợi giết. Bọn Trần Trí nhận được tờ chiếu trách phạt thì rất sợ hãi, điều binh tiến đánh quân ta thì thua ở trận Khả Lưu, rồi sau lại thua ở trận Bồ Ải.

Đến khi vua Minh Tuyên Tông Chu Chiêm Cơ lên nắm quyền giữa năm 1425, triều đình nước Minh đã chia làm hai phe chủ hòa và chủ chiến với Đại Việt rõ rệt. Phe chủ chiến dẫn đầu là các tướng lĩnh đã tham chiến tại nước ta, nổi trội nhất là Trương Phụ, tên tướng luôn phục tùng Chu Đệ trong các kế hoạch thôn tính và đồng hóa nước ta. Trương Phụ và các tướng lĩnh luôn cho rằng rút quân, nghị hòa với người Việt là một sự mất thể diện, và làm “phí công đánh dẹp” của quân tướng nước Minh. Phe chủ hòa thì nổi lên là các quan văn có uy tín và quyền hành lớn thời bấy giờ, được vua Minh Tuyên Tông tin dùng gồm Dương Sĩ Kỳ, Dương Vinh, Dương Phổ (được gọi là nhóm Tam Dương). Những người này vốn chủ trương đề cao trị quốc bằng đức chính, không thích việc gây chiến liên miên tạo áp lực lên nhân dân.

Minh Tuyên Tông mặc dù muốn dùng đức chính, nhưng vẫn chịu ảnh hưởng từ tư tưởng bành trướng cố hữu của các triều đại Trung Hoa và sợ mất thể diện nên vẫn thi hành chính sách đàn áp. Tuyên Tông xuống chiếu trách mắng và đôn đốc bọn quan tướng Minh:

“Giặc Lê Lợi vốn chỉ là tên nhãi con, nếu sớm tận tâm đánh bắt, thì dễ như nhặt một cọng lá. Nhưng rồi các ngươi ngồi yên không lo tính, dưỡng giặc nên trở thành mối hoạ. Nay nghe tin mang binh tới ải Khả Lưu và châu Trà Lân, cả hai nơi đều nhục vì tổn thất. Do bọn ngươi ngày thường dựa vào ý riêng tranh hơn thua, không ai chịu nhường. Lúc đụng việc thì kẻ dũng tiến quân một mình nhưng vô mưu, người khiếp nhược thì sợ co lại không cứu. Như vậy thì làm sao thành công được? Luận tội há có thể tha được ư! Nay tạm khoan dung, các ngươi ngày đêm hãy đồng tâm hiệp lực, luyện tập sĩ tốt tinh nhuệ, lo diệt giặc này để chuộc lỗi trước.”

Một điều rõ ràng là quân dân ta không thể trông cậy vào sự thương xót của vua tôi nước Minh được. Sử sách phương bắc vẫn thường đánh giá hai vua Minh Nhân Tông, Minh Tuyên Tông thuộc dạng vua hiền, thế nhưng vẫn không hề từ bỏ tham vọng đô hộ, trái lại cứ tiếp tục chính sách đàn áp các cuộc khởi nghĩa. Sự nhân từ của vua Minh, có chăng chỉ thấm tới một vài cá nhân chịu nghe theo lời “chiêu dụ” của giặc.

Còn lại đại bộ phận nhân dân muốn thoát khỏi kiếp ngựa trâu, tìm lại nhân phẩm của một dân tộc tự do chỉ có một con đường là chứng minh cho bọn giặc thấy rằng người Việt không dễ khuất phục, sẵn sàng chiến đấu đến cùng để giành lại chủ quyền cho đất nước. Chính sự chiến đấu ngoan cường của nghĩa quân Lam Sơn và toàn dân Việt đã ngày càng khiến nội bộ nước Minh dấy lên phong trào phản chiến mạnh mẽ. Những cuộc tranh luận về việc hòa hay đánh tại Minh triều ngày càng gay gắt hơn nữa khi trên chiến trường, quân Lam Sơn càng đánh càng mạnh, càng giáng những đòn mạnh vào quân giặc.

(còn tiếp)

Quốc Huy/Một Thế Giới

Kháng Minh Truyền Kỳ ( Phần 3 ) – Kỳ 12 : Trận Bồ Ải – Kế Điệu Hổ Ly Sơn

Kháng Minh Truyền Kỳ ( Phần 3 ) – Kỳ 12 : Trận Bồ Ải – Kế Điệu Hổ Ly Sơn

Kỳ 11

Ba chiến thắng liên tiếp tại xứ Nghệ là Bồ Đằng, Trà Lân, Khả Lưu đã thực sự đưa cuộc khởi nghĩa Lam Sơn lên một tầm cao mới.Thế nhưng lúc này điểm yếu của quân Lam Sơn là tiềm lực vật chất không thể sánh được với giặc.

Trần Trí sau khi thua ở Khả Lưu thì cho quân lui về phía hạ lưu. Quân Minh hành quân bằng thuyền nên có tốc độ nhanh, chiếm được chỗ núi cao, gấp rút lên núi đắp lũy, cùng với chiến thuyền dàn trận thủy bộ liên hoàn, ngăn chặn đường quân Lam Sơn tiến xuống đồng bằng. Lê Lợi dẫn quân tiến đánh thì giặc đã chiếm trước địa lợi, lũy trại đã vững rồi nên không thể đánh ngay được. Lương thực của quân Minh được đảm bảo nhờ sự chuẩn bị từ trước. Ngược lại, quân Lam Sơn từ Thanh Hóa tiến vào Nghệ An, đã khá xa hậu phương chính. Tuy rằng được nhân dân trong vùng mới tích cực đóng góp, nhưng do quân số dưới trướng Bình Định vương Lê Lợi bấy giờ đã đông mà vùng Tây Nghệ An lại là nơi đồi núi thưa dân, cho nên quân ta dần đến chỗ cạn lương thực.

Được độ mấy ngày, Lê Lợi bàn với chư tướng: “Quân giặc nhiều lương, đắp lũy để làm kế lâu dài. Quân ta ít lương không thể giữ giằng dai được với nó”.(theo Lam Sơn Thực Lục)

Bộ chỉ huy nghĩa quân bèn tính kế nhử Trần Trí dẫn quân khỏi trại để đánh một trận lớn. Quân Lam Sơn theo lệnh Bình Định vương đốt hết doanh trại. Quân ta giả vờ rút đi, nhưng lại ngầm theo đường vòng đi ngược trở lại, đặt mai phục sẵn đón đánh quân Minh. Trần Trí ở trong lũy trại được tin Lê Lợi đốt doanh trại và lui binh, mừng thầm trong bụng. Trí cho rằng quân Lam Sơn đã hết lương thực và buộc phải rút đi như toan tính của hắn, bèn cho quân đuổi theo, muốn thừa thế truy kích quân ta. Tướng giặc tưởng rằng đã nắm được lợi thế, nào ngờ là lại một lần nữa bị quân ta lừa, trúng vào kế “Điệu Hổ Ly Sơn”.

Quân Minh thủy bộ đều tiến gấp, đến gần Bồ Ải thì bắt gặp quân Lam Sơn. Lê Lợi sai quân khinh kỵ đón đánh quân Minh, vờ như là đội quân đi sau chặn hậu. Trần Trí sai quân ứng chiến, đánh nhau một hồi, kỵ binh Lam Sơn quay ngựa rút lui. Trí hăm hở thúc toàn quân đuổi theo, không hay biết mình đã trúng kế hiểm. Đại quân Lam Sơn mai phục dày đặc ở Bồ Ải, chỉ chờ toàn đội hình quân Minh tiến vào, phục binh liền nổi lên tả xung hữu đột. Giữa chốn núi rừng hoang vu, tiếng reo hò của quân Lam Sơn vang lên dậy đất, tiếng chân người ngựa dồn dập, gươm giáo tua tủa lao thẳng vào quân Minh. Hai hổ tướng Lê Sát, Đinh Lễ đánh hăng hái nhất, tranh nhau đi đầu dẫn quân thọc sâu vào hàng ngũ giặc. Các mãnh tướng Phạm Vấn, Lê Bôi, Lưu Nhân Chú, Nguyễn Xí, Lý Triện, Lê Ngân, Lê Khôi… cũng tranh nhau lên trước, cùng quân sĩ từ các hướng đánh tụ lại, quyết tử với giặc, khí thế rất hùng dũng.

Quân Minh không cầm cự nổi trước khí thế đó, trận thế nhanh chóng rối loạn, nối nhau vỡ chạy. Các tướng Minh thúc quân chạy ngược ra sông, nhưng không kịp lên thuyền khi mà mọi ngả đường đều đã do quân Lam Sơn kiểm soát. Quân Minh phần chết trận nơi triền núi, phần bị lùa xuống sông chết. Tình cảnh bi đát của giặc đã được miêu tả lại trong sách Đại Việt Sử Ký Toàn Thư: “Thuyền giặc trôi ngổn ngang, xác chết đuối nghẹn tắc khúc sông, khí giới vứt đầy cả rừng núi”. Tướng tiên phong quân Minh là Hoàng Thành bị chém chết tại trận, Đô ty Chu Kiệt bị quân ta bắt sống. Trần Trí, Sơn Thọ thu thập tàn quân chạy thục mạng về thành Nghệ An. Lê Lợi thúc quân truy kích theo sau, đuổi giặc đến 3 ngày liền. Giặc chết rơi rớt dọc đường rút chạy. Trần Trí, Sơn Thọ cùng một số quân tướng nước Minh may mắn rút kịp vào thành, đắp thêm hào lũy cố thủ. Kỵ binh Lam Sơn đuổi sát đến chân thành, lập trại dàn quân vây thành.

Bình Định vương Lê Lợi sau trận đại thắng đã dẫn quân tiến xuống được đồng bằng Nghệ An rộng lớn. Theo sách lược Mưu Phạt Tâm Công (đánh vào lòng người), ngài không vội đốc thúc quân sĩ công phá thành Nghệ An mà chủ trương chia quân đi dụ hàng đồn trại giặc ở các châu huyện, ra sức phủ dụ nhân dân. Bấy giờ, quân tướng Lam Sơn đánh trận lâu ngày nơi rừng núi, đói khát gian khổ đã nhiều. Tướng sĩ có người ba ngày trời chưa được một bữa ăn, thế mà vẫn chẳng mảy may xâm phạm đến tài sản của dân. Bình Định vương đã ra quân lệnh: “Nhân dân ta lâu nay đã khốn khổ về chánh trị bạo tàn của người Minh! Vậy quân sĩ đến châu huyện nào, cũng không được xâm phạm của dân một mảy may. nếu không phải là trâu bò thóc gạo của ngụy quan, thì dù có thiếu thốn cũng không được lấy”. (theo Đại Việt Thông Sử)

Đạo quân nhân nghĩa của Bình Định vương Lê Lợi đã được đền đáp lại xứng đáng. Tại các châu huyện mà quân Lam Sơn đến chiêu dụ, hầu hết quân giặc gồm cả ngụy binh và quân Minh đều mở cửa quy hàng. Tri phủ châu Ngọc Ma là Cầm Quý lại còn dẫn 8.000 quân bản bộ, 10 thớt voi chủ động đến cửa quân ta xin hàng, Lê Lợi thu nhận, phong cho chức Thái úy. Về phía nhân dân trong các vùng mà quân Lam Sơn đi qua, sự chào đón quân ta rất nồng nhiệt. Từ lúc tin tức quân Lam Sơn tiến quân vào Nghệ An, muôn dân đã hết sức ngóng trông. Đến khi quân ta tiến xuống đồng bằng, người già người trẻ từ khắp các thôn làng đều tranh nhau đem thóc gạo, rượu thịt đến khao quân, dù rằng dân chúng đa phần đều nghèo khổ. Già trẻ đều vui mừng bảo nhau:  “Không ngờ ngày nay lại được trông thấy uy nghi của nước cũ” (theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư). Bình Định vương Lê Lợi đem chia các tặng phẩm của dân chúng cho tướng sĩ, mọi người lại được no đủ mà càng vững lòng đánh giặc. Trai tráng từ khắp nơi trong xứ đều hăng hái xin gia nhập hàng ngũ nghĩa quân. Lê Lợi kén lấy người khỏe mạnh để dùng.

(còn nữa)

Quốc Huy/Một Thế Giới

Kháng Minh Truyền Kỳ ( Phần 3 ) – Kỳ 11 : Trận Khả Lưu, Trần Trí lại bị lừa

Kháng Minh Truyền Kỳ ( Phần 3 ) – Kỳ 11 : Trận Khả Lưu, Trần Trí lại bị lừa

Kỳ 10

Châu Trà Lân thời kỳ thuộc Minh là vùng đất sinh sống của các sắc dân Thái, Mường, Việt. Nhiều gia đình ở đây có con em là thuộc hạ của tù trưởng Cầm Bành vừa bị quân Lam Sơn đánh bại. Bình Định vương Lê Lợi biết rõ điều đó, trước sau đã nhiều lần căn dặn quân lính không được xâm phạm đến nhân dân, chỉ cố gắng chế phục Cầm Bành, chiếm lấy đất đai mà thôi. Đến khi Cầm Bành bị mưu phản bị giết, những người thuộc hạ cũ đa số được Lê Lợi tha tội. Ngài cố sức an ủi nhân dân, mọi người đều mến phục. Bình Định vương Lê Lợi kén chọn những trai tráng khỏe mạnh, lấy được hơn 5.000 người hạng ưu xung vào đội ngũ quân Lam Sơn. Uy võ và đức độ của Lê Lợi càng thêm lừng lẫy.

Vào khoảng giữa năm 1425, tại nước Minh, vua Minh Nhân Tông chết. Thái tử Chu Chiêm Cơ lên nối ngôi, lấy hiệu Tuyên Đức, sử gọi là Minh Tuyên Tông. Vua mới của nước Minh vẫn kế tục chính sách cố giữ “đất An Nam”, chiến tranh Minh – Việt vẫn tiếp diễn.

Lại nói bọn Phương Chính sau khi trúng kế trá hàng của Bình Định vương, để mất châu Trà Lân vào tay quân ta thì rất cay cú. Phương Chính biết mình bị lừa, giận dữ đem quân tiến đánh. Nhưng thế quân ta đã vững, đánh lui được quân Minh. Phương Chính cùng Sơn Thọ phải dẫn quân rút về thủ thành Nghệ An, chờ đợi viện binh từ Đông Quan xuống phối hợp. Bình Định vương Lê Lợi dẫn quân tiến đóng tại Khả Lưu (thuộc Đô Lương, Nghệ An ngày nay), phủ dụ nhân dân, lập mưu đánh thành Nghệ An. Thế nhưng thành này kiên cố, chưa dễ công phá.

Nhân lúc vua Minh Tuyên Tông vừa lên ngôi, bọn thái giám Sơn Thọ lại viết thư dụ hàng. Quan tướng nước Minh đã rất cố gắng dụ dỗ, mua chuộc Lê Lợi, tỏ ra sẵn sàng bỏ qua chuyện cũ và hứa hẹn về quan tước. Nhưng quân giặc bạo ngược đã lâu ngày, nay chẳng qua thua trận liên tiếp mới phải xuống giọng chiêu an. Bởi thế mà người nước ta trên dưới đã không còn lòng tin được nữa. Vả lại, chí của Lê Lợi không chỉ muốn bản thân được êm ấm, mà là cứu muôn dân, khôi phục giang sơn. Bình Định vương Lê Lợi nhận thư của Sơn Thọ, cho họp các tướng, bàn rằng : “Giặc sai người đến lừa ta, ta nhân chỗ sơ hở của chúng mà lừa lại, chính là dịp này đây”.

Lê Lợi muốn thăm dò tình hình mới sai sứ giả thư từ qua lại day dưa với giặc, cốt là để cho người được ra vào thành Nghệ An mà do thám việc phòng bị của quân Minh đóng giữ thành. Một lần nữa, tướng lĩnh nước Minh lại thua trí của Bình Định vương và đầu não quân Lam Sơn. Sứ ta mấy lần vào thành, đều tích cực quan sát đường đi lối lại và sự bố phòng của quân Minh trong thành. Sau mấy lần thư từ qua lại mà không đạt được mục tiêu gì, Sơn Thọ mới dần hiểu ra mưu kế của quân ta, bèn tuyệt giao và càng chú tâm phòng bị.

Trong thời gian thư từ với giặc, Lê Lợi cho quân đóng chiến thuyền, chuẩn bị lương thực, khí giới. Ngài cho huấn luyện quân lính một cách bài bản các môn võ nghệ, kỹ thuật chiến đấu, các chiến thuật, hiệu lệnh để dùng đánh thành. Tướng giặc vừa tuyệt giao, quân Lam Sơn đã sẵn sàng đội ngũ, voi ngựa thuyền bè chia làm hai đường thủy bộ tiến đánh thành Nghệ An. Tuy nhiên, quân sắp đi thì có tin do thám báo về rằng quân Minh từ thành Đông Quan đến cứu viện thành Nghệ An, voi ngựa rất đông đảo.

Lê Lợi được tin báo, xét rằng tình hình khó mà đánh thành ngay được, bèn họp các tướng bàn rằng: “Quân địch đông, quân ta ít, đem ít đánh đông chỉ ở những đất hiểm là có thể lập được côngVả chăng binh pháp nói: “Nhử người tới, chứ không để người nhử tới”.”

Từ kế hoạch đánh chiếm thành Nghệ An, bộ chỉ huy nghĩa quân chuyển sang lập mưu đánh diệt quân Minh ở bên ngoài thành trì.

Lê Lợi nói với các tướng: “Trần Trí bị vây khốn đã nhiều ngày, bây giờ có viện binh tới, y tất nhiên ra đánh”. Một thế trận liên hoàn sau đó được bộ chỉ huy nghĩa quân bày ra để đón đánh quân địch tại ngay địa bàn mà quân ta đang chiếm giữ. Các tướng Đinh Liệt, Lê Ninh được lệnh đi đường tắt tiến nhanh đến huyện Đỗ Gia (thuộc Hương Sơn, Hà Tĩnh ngày nay), tranh chiếm trước địa lợi. Lê Lợi thì đích thân chỉ huy đại quân, chia quân phục sẵn các nơi hiểm yếu, đón đánh quân Minh tại ải Khả Lưu (thuộc huyện Anh Sơn, Nghệ An).

Trần Trí có được viện binh, quả nhiên mở cổng thành dẫn quân đến đánh Khả Lưu, đúng như Lê Lợi tiên liệu trước. Quân của Đinh Liệt và Lê Ninh đụng trận với Trần Trí trước tại Đỗ Gia. Với lực lượng ít ỏi, quân Lam Sơn tại đây chỉ có nhiệm vụ đánh thăm dò, kéo dài thời gian cho quân ở Khả Lưu bố trí lực lượng rồi nhanh chóng rút đi. Quân Minh vượt Đỗ Gia tiến đến Khả Lưu, dàn quân đối lũy với quân ta, hai bên cách nhau một con sông Lam. Bấy giờ quân Lam Sơn đã hùng mạnh, không còn chênh lệch về quân số nhiều như trước nữa. Trần Trí thấy trận thế quân ta đã vững, bèn cho quân hạ trại, chuẩn bị chiến cụ, thuyền bè vượt sông. Lê Lợi cũng cho quân dựng trại dọc bờ sông, giương cờ gióng trống, phô trương thanh thế. Đêm đến, đèn đuốc quân Lam Sơn sáng rực một khúc sông, thu hút sự chú ý của quân Minh. Trong khi đó, tượng binh và quân tinh nhuệ của ta đã âm thầm vượt sông ở một đoạn sông khác, đi vòng ra phía sau lưng địch mai phục sẵn.

Rạng sáng ngày 17.5.1425 Âm lịch, quân Minh cậy có hạm thuyền hùng mạnh, cứ ồ ạt cho quân vượt sông đánh vào trại quân ta. Một phần lực lượng quân Lam Sơn dàn trận nghênh chiến rồi giả vờ yếu thế, vừa đánh vừa lui dần, dẫn dụ quân Minh vào sâu trong trận địa mai phục. Trần Trí đã nhiều phen thua vì trúng mai phục, nên lần này hắn đã thận trọng hơn trước. Một lực lượng lớn quân Minh vẫn chưa vượt sông mà còn ở bờ phía đông, chờ cho quân tiên phong đánh mở đường, tạo không gian an toàn cho khối hậu quân. Khi thấy quân tiên phong đã trụ vững rồi, Trí mới cho từng tốp nối nhau vượt sông.

Thế nhưng Trần Trí dù đã có phòng bị nhưng vẫn trúng kế quân ta. Khi quân Minh qua sông được chừng một nửa, Bình Định vương Lê Lợi mới phát lệnh tổng công kích. Vẫn là một quan cảnh quen thuộc trong các trận mai phục của quân Lam Sơn, phục binh bốn phía đổ ra vây đánh dữ dội vào đám quân Minh đã vượt sông trước. Quân tiên phong giặc nhanh chóng bị tổn thất nặng, quay đầu chạy ngược về bờ sông. Trần Trí chưa biết xử trí thế nào, thì phục binh của ta vốn đã phục sẵn phía sau trại quân Minh cũng nhất tề xông thẳng ra đánh phá. Quân mai phục của ta đánh vào khối quân của Trần Trí tuy không đông, nhưng đều là tinh binh thiện chiến, đã gây nên sự hoảng loạn về tâm lý cho quân Minh. Trần Trí thua trận nhiều nên sinh nhát vía, chỉ phút chốc gặp quân mai phục, hắn đã cho quân lên thuyền rút lui. Quân Minh tranh nhau lên thuyền, rơi xuống sông chết đuối nhiều gấp mấy lần số bị quân ta giết trong trận.

Tại trận này, theo các sử sách phía ta chép thì quân Minh bị giết và bị chết đuối kể đến hàng vạn tên. Đây có thể coi là một trận đại thắng nữa của quân Lam Sơn sau các trận Bồ Đằng, Trà Lân.

(còn nữa)

Quốc Huy/Một Thế Giới