Kháng Minh Truyền Kỳ ( Phần 3 ) – Kỳ 26 : Bày binh bố trận, đón lõng viện binh nước Minh

Kháng Minh Truyền Kỳ ( Phần 3 ) – Kỳ 26 : Bày binh bố trận, đón lõng viện binh nước Minh

Xem kỳ 25

Theo chiến lược Vây thành diệt viện, sau các chiến thắng Khâu Ôn, Xương Giang, nghĩa quân Lam Sơn đã hoàn thành kế hoạch chặt đứt những “cầu nối” của quân Minh trên tuyến đường từ Quảng Tây đến Đông Quan. Những lực lượng cơ động đông mạnh của quân ta được rảnh tay, Bình Định vương bèn cho đều quân lên tăng cường cho hai tuyến biên giới tây bắc và đông bắc để chuẩn bị quyết chiến với quân cứu viện của Mộc Thạnh và Liễu Thăng. Khác với những cuộc chiến trước đó của dân tộc Việt khi đối đầu với các đạo quân phương bắc, lần này Lê Lợi và tướng lĩnh Lam Sơn lựa chọn chiến trường chính là ngay ở các cửa ải địa đầu, không cho chúng tiến xuống vùng đồng bằng. Sự lựa chọn này đến như một lẽ hiển nhiên, đến từ hoàn cảnh lúc bấy giờ.

Lý do tiên quyết là ở trong nội địa, quân Minh còn giữa được bốn thành Đông Quan, Tây Đô, Cổ Lộng, Chí Linh làm chỗ trú chân. Nếu để quân tiếp viện của giặc đánh được vào sâu, chúng sẽ giải vây được cho đồng bọn, hình thành thế trận trong đánh ra, ngoài đánh vào. Khi ấy diễn biến trận chiến sẽ trở nên rất khó lường. Lý do thứ hai cũng không kém phần quan trọng là bởi quân Lam Sơn không giống những đội quân mạnh truyền thống trước đây của người Việt. Nếu như các triều trước từ Ngô – Đinh – Tiền Lê – Lý – Trần – Hồ đều có thủy quân hùng mạnh, có thể tận dụng hệ thống sông ngòi chằng chịt làm lợi thế chiến đấu thì ngược lại, quân Lam Sơn khởi phát từ rừng núi Thanh Hóa, giỏi chiến đấu trên bộ, nơi địa hình rừng núi phức tạp.

Đầu tháng 10/1427, hai đạo quân Minh tiếp viện đã tiến sát biên giới. Ở hướng Vân Nam, Kiềm Quốc công nước Minh là Mộc Thạnh cùng các tướng Từ Hanh, Đàm Trung với 5 vạn quân, 1 vạn ngựa đã chỉnh tề đội ngũ, sửa soạn tiến đánh ải Lê Hoa (thuộc Lào Cai, giáp Vân Nam). Phía đông bắc thì tướng giặc là Chinh lỗ tướng quân Thái tử thái phó An Viễn hầu Liễu Thăng, Tham tướng Bảo Định bá Lương Minh, Đô đốc Thôi Tụ, Binh bộ thượng thư Lý Khánh, Công bộ thượng thư Hoàng Phúc, thổ quan Hữu bố chính sứ Nguyễn Đức Huân dẫn 10 vạn quân, 2 vạn ngựa chiến nhằm đánh ải Pha Lũy (nay thuộc Bằng Tường, Quảng Tây, Trung Quốc).

Trước thềm trận chiến quyết định, Lê Lợi đã có lời nhận định: “Giặc vốn khinh ta, cho là ngưới nước ta nhút nhát, sợ oai giặc đã lâu, nay nghe tin đại quân sang, hẳn là ta rất hoảng sợ. Huống chi lấy mạnh nạt yếu, lấy nhiều lần ít đó là lẽ thường. Giặc không thể tính được hình thế được thua của người của mình, không thể hiểu được cơ vi qua lại của thời của vận. Vả lại, quân đi cứu nguy cấp phải lấy mau chóng làm quý, giặc nhất định phải hành quân gấp vội. Binh pháp có nói: Hành quân 500 dặm mà chỉ vội hám lợi thì sẽ què thượng tướng. Nay Liễu Thăng đến, đường sá xa xôi, quân lính tất mỏi mệt. Ta đem quân nhàn khỏe, đợi đánh quân mỏi mệt, nhất định sẽ thắng” (theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư)

Để nuôi thêm sự kiêu ngạo của giặc, Nguyễn Trãi nhân danh của vua bù nhìn Trần Cảo soạn thư cầu hòa gởi đến Liễu Thăng. Thư có đoạn viết:

“Nay tôi tủi phận là con cháu còn sót lại của vua Trần, ẩn náu ở đất Lão Qua đã hơn 10 năm nay. Người trong nước tôi khổ về chính sự khắc nghiệt của các quan lại triều đình [chỉ quan tướng nước Minh đô hộ]; nhớ lại ơn đức cũ của các vua Trần trước kia, mới cùng bàn nhau đánh đuổi bọn quan cai trị, ép tôi về nước. Khoảng tháng 11 năm ngoái, các quan quân đóng giữ ở các thành các xứ đều đã lục tục mở cửa, bỏ binh giáp, hòa giải cùng với chúng tôi. Tất cả các quan lại và quân dân trai gái gồm có hơn một vạn người, chúng tôi đều thu nuôi cả, không phạm đến mảy may.

Nay tôi lại nghe thấy, triều đình lại sai tướng quân đem đại quân đến bờ cõi nước tôi; không biết rõ đạo quân ấy là quân cứu viện chăng? Hay là quân đến đóng giữ chăng? Hay lại là quân đến làm việc lập lại họ Trần chăng? Các ông ví xét rõ sự tình thời thế, đóng đại quân lại rồi đem việc hào giải của tất cả các quan lại quân dân nói trên kia, làm tờ số tâu rõ công việc về triều đình, tôi cũng liền lập tức cho đúc người vàng, mang tờ biểu, tiến cống thổ sản địa phương.

Còn các bầy tôi trong triều may ra biết đem đường lối thẳng thắn can ngăn Vua [chỉ Tuyên Tông nước Minh] lại làm việc dấy kẻ bị diệt, nối lại dòng kẻ mất gốc mà tránh được việc phi lí dùng binh đến cùng, khoe khoang võ lực như đời Hán, Đường. Sai một vài đặc sứ dụ dỗ bằng lới nói êm ấm để tha tội cho nước An Nam. Làm như thế thì các ông có thể ngồi yên đó mà hưởng thành công. Mà nước lớn sẽ làm trọn được đạo “lạc thiên”; nước nhỏ cũng tỏ được hết lòng thành thực “úy thiên”. Như thế há chẳng tốt đẹp lắm ru!”(theo Quân Trung Từ Mệnh Tập)

Cùng với việc gởi thư vờ xin Liễu Thăng lui binh, quân ta cũng rút bỏ thành Khâu Ôn vừa chiếm được trước đó không lâu, vì thành này nằm ở vị trí quá xa các ải khác trong nội địa, bất lợi để thiết lập phòng thủ. Liễu Thăng dẫn quân tiến vào thành Khâu Ôn, càng đinh ninh là quân Lam Sơn nhát sợ, nóng lòng muốn lập công to.

Mặc dù xác định sẽ đánh giặc nơi địa đầu, nhưng Lê Lợi vẫn theo gương các đời trước cho nhân dân các xứ phía bắc làm kế thanh dã (tức Vườn không nhà trống). Lúa ngoài đồng được gặt sớm, lương thực đều được mang đi cất giấu, không để lại thứ gì mà quân giặc có thể tận dụng làm quân lương tại chỗ được. Trừ những người làm nhiệm vụ chiến đấu, thì nhân dân đều nhận lệnh sơ tán khỏi những nơi dự kiến sẽ trở thành chiến địa.Trong khi thường dân được lệnh lùi về các tuyến sau, thì những chiến binh dũng mãnh nhất tiến lên tuyến đầu. Các tướng Lê Sát, Trần Lựu, Lưu Nhân Chú, Đinh Liệt, Lê Lĩnh, Lê Thụ nhận trọng trách đem 1 vạn quân tinh nhuệ lên giữ ải Chi Lăng, là nơi dự kiến diễn ra trận đánh quan trọng đầu tiên trong chiến dịch đánh diệt 10 vạn quân của Liễu Thăng. Ở mặt trận tây bắc, các tướng Phạm Văn Xảo, Trịnh Khả, Lê Trung, Lê Khuyển cũng dẫn quân mạnh lên giữa ải Lê Hoa để cầm cự với 5 vạn quân của Mộc Thạnh.

Lê Lợi không chủ quan ở mặt trận nào khi mà cả hai hướng tây bắc, đông bắc đều có quân mạnh trấn giữ. Nhưng riêng đối với cánh quân của Mộc Thạnh, Bình Định vương nhận định rằng: “Mộc Thạnh tuổi đã già, từng trải việc đời đã nhiều, lại biết tiếng vua từ trước, nhất định còn đợi xem Liễu Thăng thành bại ra sao chứ không nhẹ dạ tiến quân”(theo ĐVSKTT). Do đó, ngài ngầm đem mật thư cho Trịnh Khả, Lê Khuyển lệnh không nên đem quân ứng chiến sớm, chỉ cần đặt mai phục để đợi.

Trọng tâm của chiến dịch vẫn được xác định nằm ở mặt trận phía đông bắc với mục tiêu là tiêu diệt cánh quân của Liễu Thăng. Phía sau đội quân của Lê Sát là hàng loạt các đạo quân hùng mạnh khác chực chờ tiếp ứng cho tuyến đầu. Cách ải Chi Lăng không xa, tướng Lê Lý đặt sẵn phục binh đón đánh quân Minh. Sau quân của Lê Lý là đại quân của Trần Nguyên Hãn đóng ở thành Xương Giang dài đến thành Chí Linh bao gồm cả quân thủy lẫn quân bộ, vừa là điểm tựa cho các quân ngoài biên ải, vừa giữ nhiệm vụ cô lập hoàn toàn quân Minh trong thành Chí Linh, không cho chúng có cơ hội xuất thành. Bản thân Bình Định vương Lê Lợi thì bấy giờ đóng ở dinh Bồ Đề (thuộc Gia Lâm, Hà Nội ngày nay), giữ các vệ quân Thiết đột tinh anh cùng các mãnh tướng Nguyễn Xí, Phạm Vấn, Lê Khôi làm lực lượng dự bị, tùy cơ lợi hại mà tung quân vào chiến trận để tiếp ứng cho các hướng quân hay góp sức đánh dứt điểm quân địch.

Một thế trận liên hoàn, nhiều tầng, nhiều lớp đã được bày ra để chờ đánh viện binh của giặc. Toàn bộ quân dân Việt đã tập trung ở mức cao nhất tinh thần và lực lượng, sẵn sàng bước vào trận chiến sinh tử quyết định vận mệnh toàn dân tộc.

(còn nữa)

Quốc Huy

Kháng Minh Truyền Kỳ ( Phần 3 ) – Kỳ 25 : Đại phá thành Xương Giang

Kháng Minh Truyền Kỳ ( Phần 3 ) – Kỳ 25 : Đại phá thành Xương Giang

Xem kỳ 24

Nói về tình hình thành Xương Giang, trước hết phải kể qua chính sách di dân của nước Minh. Bên cạnh việc bắt người Việt đưa sang nước Minh làm nô lệ, Minh triều còn cho người nước Minh sang ở trong các thành thị trên lãnh thổ Đại Việt. Đây là một trong những chính sách nhằm mục đích đồng hóa người Việt. Người nước Minh sang đất Việt ở trước tiên phải kể đến là vợ con, gia quyến của các binh lính, quan lại người Minh. Kế đến là giới thị dân, thương gia. Hiện chưa có con số thống kê, nhưng ước tính có đến hàng vạn người Minh đã sinh sống trên lãnh thổ nước ta, chủ yếu tại các thành lớn hoặc gần biên giới nước Minh như Đông Quan, Tam Giang, Tây Đô, Khâu Ôn… Thường dân người Minh bị bắt làm tù binh đông đúc đến mức Bình Định vương Lê Lợi phải hạ lệnh các xứ chia nhau chu cấp cho họ. Bốn xứ Thiên Trường, Kiến Xương, Lý Nhân, Tân Hưng phải chia nhau nuôi ăn 6.000 thường dân người Minh bị bắt. Điều này thể hiện thiện chí rất lớn của nghĩa quân Lam Sơn, ngay khi mà chiến tranh còn đang gay cấn.

Riêng tại thành Xương Giang, quân Minh chính quy vốn chỉ có vài ngàn, do các tướng Lý Nhậm, Kim Dận, Cố Phúc, Phùng Trí, Lưu Thuận, Lưu Tử Phụ chỉ huy. Các tướng Minh đã dùng lời và đe dọa vừa cổ vũ các dân chúng trong thành (chủ yếu là người Minh), cả nam lẫn nữ, già trẻ đều cùng tham gia thủ thành. Cùng với ưu thế vượt trội về hỏa lực, thêm thành cao, hào sâu, thành Xương Giang trở thành một con nhím vô cùng khó công phá. Xưa kia Lý Thường Kiệt đánh thành Ung Châu, quân tướng đều tinh nhuệ nhưng cũng phải đến hơn một tháng rưỡi mới hạ nổi, thiệt hại lên đến hơn một vạn quân. Ung Châu và Xương Giang đều có điểm chung là quân và dân đều tự đặt mình vào thế cùng mà đồng lòng tử thủ, và đều là thành trì kiên cố, vũ khí dồi dào. Riêng thành Xương Giang còn có ưu thế của thời đại, khi mà hỏa lực trên thành hoàn toàn vượt trội nghĩa quân Lam Sơn. Ngoài ra còn có một điểm bất lợi là quân lính mà Bình Định vương Lê Lợi dùng để đánh thành vốn không phải quân lính tinh nhuệ mà là tân binh mới tuyển ở các lộ Khoái Châu, Lạng Giang khi quân Lam Sơn tiến ra bắc.

Vì có nhiều điều bất lợi nên mặc dù các tướng Lê Sát, Lê Thụ, Nguyễn Đình Lý (tức Lê Lý), Lê Lĩnh, Lý Triện, Lê Hốt đều là tướng tài ba với hàng vạn quân trong tay nhưng đánh với giặc hàng mấy tháng trời vẫn không hạ nổi. Quân Lam Sơn cố gắng tiếp cận tường thành trước hết phải vượt qua hỏa lực của các loại súng đại bác, hỏa tiễn trên thành bắn xuống. Thành cao, quân ta trèo lên thì địch trên thành giương cờ hò hét, chống cự rất mãnh liệt. Đánh nhau ngày đêm, quân ta thiệt hại nhiều vẫn không hạ được thành.

Quân Lam Sơn phải chuyển sang kế hoạch lâu dài hơn. Lê Lợi điều động nhân dân các xứ tích cực rèn vũ khí, đúc súng lớn, tải lương thực tiếp tế cho đội quân đánh thành Xương Giang. Lê Sát cùng các tướng lại ở ngoài thành dựng thêm nhiều chiến cụ công thành, lại đắp núi đất, đặt súng bắn vào thành. Quân dân nước Minh trong thành thiệt hại nặng, nhưng vẫn quyết tâm chiến đấu. Nhân một đêm tối trời, Lý Nhậm dẫn cảm tử quân ra ngoài thành đánh phá, đốt các chiến cụ mà quân ta dày công chế tạo. Quân Lam Sơn bị bất ngờ nên để mất mát các chiến cụ quan trọng và để xổng mất quân địch. Mất đi các chiến cụ, việc công phá thành lại thêm cam go. Quân Lam Sơn dùng kế đào địa đạo vào trong thành. Bọn Lý Nhậm, Cố Phúc phát hiện được, cho đào hào cắt ngang địa đạo, ném đá xuống như mưa, quân ta lại bị thiệt hại. Suốt hơn sáu tháng trời, quân Lam Sơn vừa chế tạo lại chiến cụ công thành vừa đánh giằng co với địch.

Đến tháng 9.1427, mặc dù cục diện thành Xương Giang vẫn không ngã ngũ, tình hình trên cả nước lại có những biến chuyển tích cực. Vòng vây quanh thành Đông Quan đã được củng cố chặt chẽ như kế hoạch của Bình Định vương Lê Lợi. Các hậu phương được củng cố, hệ thống cai trị dần hoàn thiện, lực lượng quân Lam Sơn được bổ sung, quân lính được huấn luyện và trang bị tốt hơn. Thêm nhiều thành trì khác của quân Minh đã bị đánh hạ hoặc xếp giáo quy hàng. Thành Xương Giang càng trở nên trơ trọi. Tình hình mới cho xếp Lê Lợi có thêm nhiều lực lượng cơ động mạnh để tung vào các điểm nóng trên chiến trường. Thái úy Trần Nguyên Hãn được lên đem quân tăng cường cho mặt trận thành Xương Giang, hội binh với Lê Sát và các tướng lên đến 8 vạn quân, nhận nhiệm vụ bằng mọi giá phải sớm hạ được thành trước khi bọn Liễu Thăng, Mộc Thạnh tiến sang.

Đáp lại lòng tin tưởng của Bình Định vương, Trần Nguyên Hãn cùng các tướng đã dùng kế hợp nhiều phương pháp công phá thành. Các núi đất được tăng cường đắp lên quanh bốn mặt thành, từ đó súng đạn, cung nỏ của quân Lam Sơn bắn vào thành tới tấp. Trần Nguyên Hãn lại cho quân một lần nữa đào địa đạo xuyên vào trong thành, đồng thời tung quân với sự yểm trợ của tượng binh tràn lên tấn công khắp bốn mặt thành. Quân Minh nhiều tháng đánh nhau, lực lượng cũng đã hao hụt nhiều. Đến khi quân ta tổng tiến công như thế, chúng đã bị phân tán làm nhiều hướng, không còn phòng bị được kín kẽ. Quân Lam Sơn từ địa đạo chui lên, đánh tỏa ra, cùng với quân từ bên ngoài, toàn thành bị tắm máu. Bấy giờ là ngày 28.09.1427, thành Xương Giang bị hạ sau 6 tháng bị vây đánh. Bọn tướng Minh từ Lý Nhậm trở xuống đều tự sát. Quân Lam Sơn phóng hỏa đốt thành, bắt sống hết những người còn sống sót. Trần Nguyên Hãn đem hết những chiến lợi phẩm, ngọc lụa, con gái người Minh chia cho sĩ tốt làm quà khích lệ (theo Đại Việt sử ký toàn thư).

Chiến thắng Xương Giang có ý nghĩa lớn về chiến lược. Một điểm nóng đóng vai trò làm bàn đạp cho quân Minh từ trong nước đánh xuống đã bị tiêu diệt sau nhiều tháng khó nhọc. Xương Giang giờ đây lại trở thành một cứ điểm phòng ngự lợi hại của quân Lam Sơn, chắn ngang con đường tiến quân mà giặc dự kiến. Thắng trận không lâu thì thám binh cũng báo về, viện binh nước Minh dưới trướng Liễu Thăng, Mộc Thạnh sau nhiều tháng chuẩn bị, gom quân, hành quân đã tiến đến gần biên giới, chuẩn bị tập kết vượt biên tiến vào lãnh thổ nước ta.

Bấy giờ sau khi thành Xương Giang bị hạ thì trên nước ta chỉ còn bốn thành mà quân Minh còn chiếm giữ là Đông Quan, Chí Linh, Cổ Lộng, Tây Đô. Cả bốn thành đều bị vây chặt không thể cự quậy. Tại mặt trận Đông Quan, quân Lam Sơn lại vừa phá được thành phụ của giặc ở đê Vạn Xuân, từ chỗ ấy đắp lên một chiến lũy dọc đê, chỉ trong một đêm hoàn toàn cắt đứt đường ra thành chăn ngựa, cắt cỏ của quân Minh.Các tướng thấy quân trong thành đã khốn cùng mà viện binh giặc sắp sang, phần nhiều khuyên Bình Định vương đánh gấp để hạ thành Đông Quan, tiệt nguồn nội ứng của giặc. Lê Lợi đáp: “Đánh thành là hạ sách. Ta đánh thành bền vững hàng năm hàng tháng không hạ được, khi ấy quân ta sức mỏi chí nhụt, nếu viện binh của giặc lại đến thì trước mặt, sau lưng đều bị tấn công, đó là con đường nguy hiểm. Chi bằng nuôi sức quân, mài giũa tinh thần sắc bén, để đợi viện binh của giặc. Viện binh giặc bị phá thì thành giặc nhất định phải hàng. Như thế là nhất cử lưỡng tiện, là mưu chước vẹn toàn” ( Đại Việt Sử ký toàn thư).

Chư tướng nghe lời bàn, đều phục là cao luận. Rõ ràng các trận đánh thành Khâu Ôn, Xương Giang là minh chứng rõ nét cho sự khó khăn của việc công phá những thành trì quân Minh. Trong khi quân ta hoàn toàn có khả năng thực hiện chiến lược “Vây thành diệt viện”. Theo chiến lược chung, Lê Lợi tiếp tục thực hiện những bước chuẩn bị đón đánh viện binh giặc. Đồng thời, ngài vẫn không quên tiếp tục việc chiêu hiền đãi sĩ. Chiếu cầu hiền đã truyền xuống quân dân, lời lẽ rất khiêm nhường :

“Các thành đã phá được rồi, chỉ còn thành Đông Quan chưa hạ được. Ta vì thế mà nằm không yên chiếu, ăn không ngon miệng, sớm khuya suy nghĩ, khô héo ruột gan. Thế mà bên cạnh ta, vẫn chưa có được người giúp đỡ. Ta tuy là chủ tướng, nhưng xét lại bản thân mình một là già ốm, bất tài, hai là học thức nông cạn, ba là trách nhiệm nặng nề khó bề kham nổi, mà các đại thần như tả, hữu tướng quốc, thái phó, thái bảo vẫn chưa đặt, thái úy, đô nguyên soái vẫn còn khuyết, hành khiển và các quan, mười phần mới được một, hai phần. Cho nên, ta nhún mình thành thực khuyên bảo các hào kiệt cùng nhau dốc sức, cứu giúp muôn dân, chớ có mai danh ẩn tích, để thiên hạ phải lầm than mãi mãi. Nếu có ai khí tiết thanh cao như Tứ Hạo, lánh đời ẩn tích như Tử Phòng cũng hãy ra cứu nạn cho dân đã, đợi khi thành công, muốn thoả chí xưa thì lại trở về rừng núi, không hề cấm giữ”. (theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư)

(còn nữa)

Quốc Huy/Một Thế Giới

Kháng Minh Truyền Kỳ ( Phần 3 ) – Kỳ 24 : Chấn chỉnh đội ngũ, thiết lập nền cai trị

Kháng Minh Truyền Kỳ ( Phần 3 ) – Kỳ 24 : Chấn chỉnh đội ngũ, thiết lập nền cai trị

Xem kỳ 23

Sự phát triển quá nhanh về quy mô trong một thời gian ngắn bên cạnh việc giúp cho quân đội Lam Sơn trở thành một đạo quân đông mạnh, cũng nảy sinh những khó khăn cho các chỉ huy tối cao ngay trong việc quản lý chính đội quân của mình. Đến năm 1427, quân Lam Sơn đã đông đến hơn 35 vạn người.

Tại mặt trận thành Đông Quan thế trận đã diễn ra đúng như kế hoạch của bộ chỉ huy quân Lam Sơn. Vương Thông sau một số cố gắng quấy rối vòng vây của quân ta, cuối cùng lại phải chịu cảnh bị vây khốn đến mức không còn đường ra khỏi cổng thành. Thế nhưng vẫn còn một những vấn đề lớn mà nghĩa quân Lam Sơn cần phải giải quyết trước khi bước vào trận đánh quyết định với viện binh từ nước Minh sang.

Một trong những vấn đề cốt yếu nhất là chỉnh đốn lại đội ngũ, tổ chức. Sự phát triển quá nhanh về quy mô trong một thời gian ngắn bên cạnh việc giúp cho quân đội Lam Sơn trở thành một đạo quân đông mạnh, cũng nảy sinh những khó khăn cho các chỉ huy tối cao ngay trong việc quản lý chính đội quân của mình. Đến năm 1427, quân Lam Sơn đã đông đến hơn 35 vạn người. Trong số này, có rất nhiều tân binh chưa nhiều kinh nghiệm chiến đấu. Bình Định vương Lê Lợi đã phải tổ chức nhiều cuộc tập trận, duyệt binh để nâng cao khả năng chiến đấu cho các tân binh. Đồng thời, tổ chức quân đội cũng được xếp đặt lại một cách bài bản và quy củ. Kỷ luật được quy định rõ ràng và nghiêm ngặt. Lê Lợi cho thi hành 10 điều nghiêm cấm đối với tướng hiệu và quân nhân, hễ ai phạm phải một trong các điều này đều xử chém:

1 – Làm huyên náo trong quân.

2 – Gây kinh động hão, bịa điều họa phúc làm dao động lòng quân.

3 – Khi ra trận, nghe tiếng trống, thấy cờ hiệu mà giả cách không nghe, không thấy, dùng dằng

không tiến.

4 – Khi ra trận, trông thấy cờ dừng quân, nghe thanh la dừng quân mà không đứng lại.

5 – Nghe tiếng chiêng lui quân mà cưỡng lại không lui.

6 – Canh phòng túc trực không siêng, hoặc ngủ say bỏ canh, bỏ hàng ngũ ngầm trốn về.

7 – Đắm đuối nữ sắc,lén lút thả riêng cho người họ nhà vợ không làm quân dịch.

8 – Thả quân lính để lấy tiền và che dấu không biên vào sổ quân.

9 – Theo thói ưa ghét của riêng mình mà đảo lộn công tội của người.

10 – Bất hoà với mọi người, gian ác, trộm cắp.

( theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư )

Đối với các võ tướng thì có thêm ba điều răn :

1- Chớ thờ ơ.

2- Chớ lừa dối.

3-Chớ tham lam.( theo ĐVSKTT )

Sau đó, lại ra quân lệnh: “Hễ nghe một tiếng pháo nổ mà không có tiếng chiêng thì phải đến ngay để nghe mệnh lệnh. Khi nào có hai, ba tiếng pháo và hai ba tiếng chiêng nổi lên thì là có động gấp rút, bấy giờ chấp lệnh thì mau mau sắp xếp hàng ngũ cho chỉnh tề, thiếu úy thì tới quân doanh để nghe mệnh lệnh. Các quân khi đi trận, mà lùi chạy, hoặc bỏ không cứu quân đoạn hậu thì phải chém. Nhưng khi biết góp sức khiêng ra được bạn đồng ngũ không may chết trận thì được miễn tội chạy trốn ấy.” (theo Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục)

Những quy định rất cụ thể, rõ ràng đã giúp khả năng hiệp đồng tác chiến quy mô lớn của quân Lam Sơn được nâng cao. Đặc biệt là đầu não Lam Sơn dù trên đà thắng trận nhưng vẫn dự liệu việc ra quân bị thất thế bị rút lui, nên ra ra điều luật “bỏ không cứu quân đoạn hậu thì phải chém”. Điều này có nghĩa là chẳng may thất thế, thì đội quân chặn hậu vẫn được coi là đối tượng được các đồng đội hỗ trợ để tìm đường sinh tồn, chứ không phải mặc định là đội cảm tử, “thí mạng” như nhiều quân đội khác.

Thói kiêu binh cũng là một trong những điều quan trọng cần nói. Kiêu binh trước là khinh nhờn quân pháp, sau là chủ quan khinh địch, muốn sớm nhàn hạ. Việc Lý Triện, Đinh Lễ tử trận chính là những ví dụ điển hình về sự tai hại của sự kiêu ngạo. Lê Lợi đã cố gắng uốn nắn, khuyên răn các tướng sĩ của mình. Bấy giờ quân Thiết đột trải nhiều phen gian lao, nhiều người hy sinh. Lê Lợi cố gắng ủy lạo những chiến sĩ tinh anh này, và ra chiếu dụ rằng: “Đồng lòng liều mạng để phá giặc… Đó là công sức của các ngươi. Còn như sắp xếp quy mô kế hoạch, lo liệu áo mặc, lương ăn, ban thưởng, ban tước thì ở cả một mình ta đây. Các ngươi nên một lòng một dạ đánh giặc, đừng ngại nhọc nhằn” (theo KĐVSTGCM)

Lê Lợi thậm chí bất đắc dĩ đã phải dùng nghiêm hình đối với những người có thân tín có công cao, chức lớn để làm răn, hòng củng cố kỷ luật quân đội. Tư mã Lê Lai (tên thật là Nguyễn Thận, đổi sang tên Lê Lai, trùng tên với Lê Lai chết thay cho Lê Lợi) cậy là người theo hầu Lê Lợi từ đầu, có nhiều công lao đánh dẹp, nên ăn nói có nhiều lời khinh mạn. Lê Lợi đã xử tử Lê Lai vì vi phạm quân pháp.

Lê Lợi đồng thời cũng xuống chiếu dụ quân dân: “Giặc mạnh chưa trừ diệt hết, dân sinh chưa được thỏa thuê, các ngươi có yên tâm không? Xưa kia, họ Hồ lỗi đạo, người Minh thừa cơ kéo sang xâm lược, bắt dân ta phải chịu thuế nặng, sưu cao, hình phạt hà khắc. Các ngươi đều mắc vào vòng bạo ngược của chúng, nên mới cùng nhau đứng dậy, chống kẻ thù địch. Bây giờ công việc đã gần thành tựu, các ngươi nên cố gắng đắp tròn quả núi, đừng để thiếu một sọt đất mà núi phải dở dang! Vả, chỉ phải dùng sức khó nhọc một năm mà được hưởng vui sướng thái bình muôn thuở. Các ngươi hãy cố gắng lên!” (theo Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục)

Riêng đối với quân nhân, tướng hiệu người các xứ Nghệ An, Tân Bình, Thuận Hóa là những xứ góp công lớn giúp cuộc khởi nghĩa Lam Sơn vượt qua những thử thách chông gai buổi ban đầu, Lê Lợi vẫn có thái độ ưu đãi đặc biệt. Ngài dụ rằng:

“Ta khởi binh ở đất các ngươi, đã gần thành công. Mong các ngươi trước sau một lòng, vàng đá một tiết, để trọn nghĩa vua tôi, cha con. Ta biết các ngươi đều là hiền sĩ của đất nước. Trước kia, Hưng Khánh, Trùng Quang chỉ có tiếng hão, không nên công gì là bởi chính lệnh không thống nhất, đại thần không được biết gì. Bọn các ngươi chỉ uổng phí sức lực cho họ thôi. Nay thiên hạ về một mối, ta cùng các ngươi như nghĩa cha con, mong các ngươi dốc lòng khôi phục lãnh thổ nước nhà. Từ xưa các tướng văn tướng võ được phong hầu cũng chỉ như các ngươi thôi, có khác gì đâu. Các ngươi hãy chỉnh đốn đội ngũ của mình, luyện tập quân sĩ của mình, sau khi dẹp yên bọn giặc tàn bạo, sẽ chia một nửa sốngười về làm ruộng. Nay trời mượn tay ta diệt giặc, việc không đừng được. Kẻ nào theo lệnh ta thì phá được giặc, vẫn sống mà lại có công, kẻ nào không theo lệnh ta thì chết mà chẳng được việc gì! Mỗi đội đều phải chép lại một bản lệnh này, mỗi ngày đọc đi đọc lại nhiều lần cho quân lính được biết”. (theo ĐVSKTT)

Ngài cũng hứa hẹn sau khi dẹp giặc sẽ thư giãn sức dân, cho quân sĩ được nghỉ ngơi: “Giặc Minh tàn hại dân ta đã hơn hai chục năm. Buổi đầu số quân của ta có mấy trăm người. Hiện nay có 35 vạn. Đợi khi phá được thành Đông Quan, sẽ cho 25 vạn người về nhà làm ruộng, chỉ để lại 10 vạn làm quân để phòng việc nước. Một nhà 3 người thì 1 người làm quân, mọi loại phú dịch đều tha cho 3 năm” (theo ĐVSKTT)

Những chiếu dụ của Lê Lợi ban xuống là một nguồn động viên tinh thần rất lớn đối với quân dân cả nước, cũng là nhắc nhở quân dân rằng cần phải cố gắng hơn nữa mới có thể đi đến thắng lợi cuối cùng. Các chiếu dụ này, hầu hết đều qua ngòi bút của Nguyễn Trãi thay mặt Lê Lợi soạn thảo. Sách Lam Sơn Thực Lục đã ghi nhận công lao của Nguyễn Trãi: “Vua từ khi khởi binh cho đến khi dẹp được giặc Ngô và giành lại được nước nhà, bao nhiêu văn thư qua lại ở trong quân ngũ đều do Nguyễn Trãi làm cả”.

Quân Lam Sơn cũng đặc biệt có bước thay đổi từ chế độ tuyển mộ sang chế độ quân dịch. Sổ quân dân đã được lập ra để kiểm soát nhân khẩu trên cả nước. Căn cứ vào sổ sách, tráng đinh sẽ thực hiện nghĩa vụ tòng quân diệt giặc. Những kẻ du thủ du thực, cố tình trốn tránh cũng bị truy xét, bắt buộc sung quân để đền nợ nước. Chế độ quân dịch đã đánh dấu sự chuyển mình của quân đội Lam Sơn từ một đạo quân ứng nghĩa trở thành một quân đội chính quy của chế độ quân chủ chuyên chế. Đây là xu hướng tất yếu đi cũng như việc một hoàng triều mới sẽ hình thành sau khi cuộc khởi nghĩa thắng lợi. Việc đổi sang chế độ quân dịch đã giúp quân ta chủ động được nguồn quân số, và giúp san sẻ trách nhiệm diệt giặc cứu nước một cách công bằng hơn. Lê Lợi đã cố gắng huy động ở mức cao nhất sức mạnh tổng hợp của cả nước

Các biện pháp chấn chỉnh đội ngũ, củng cố sự cai trị, cổ vũ tinh thần quân dân đã đem lại cho quân Lam Sơn một sức mạnh mới, sức mạnh của một vương triều phong kiến đang hình thành. Giặc Minh vẫn chưa sạch bóng trên toàn cõi đất nước, nhưng hiệu lệnh của Bình Định vương Lê Lợi đã thực sự được thông suốt từ trên xuống dưới, cố kết cả nước thành một khối thống nhất. Chỉ có như vậy quân dân ta mới đủ sức đương đầu với lực lượng quân Minh được tổ chức bài bản, quy củ và đông mạnh. Mùa thu năm 1427, nghĩa quân Lam Sơn đã đủ điều kiện để giải quyết dứt điểm những vấn đề còn lại trước khi viện binh giặc tiến sang. Vấn đề thứ nhất là hạ thành Xương Giang, một bàn đạp mà viện binh nước Minh có thể dùng. Vấn đề thứ hai là củng cố các cửa ải, cơ động các lực lượng hùng mạnh nhất lên biên ải để đón đánh giặc.

(còn nữa)

Quốc Huy/Một Thế Giới

Kháng Minh Truyền Kỳ ( Phần 3 ) – Kỳ 23 : Chiến sự Đông Quan, tổn thất vì khinh địch

Kháng Minh Truyền Kỳ ( Phần 3 ) – Kỳ 23 : Chiến sự Đông Quan, tổn thất vì khinh địch

Xem kỳ 22

Trong năm 1427, đồng thời với các chiến dịch đánh chiếm các thành trì phía bắc thì chiến sự tại thành Đông Quan cũng diễn ra sôi động. Vương Thông cùng quân tướng Minh trong thế chân tường đã lựa chọn con đường quyết tử với quân Lam Sơn, nuôi hy vọng cầm cự cho đến lúc viện binh đến cứu.

Giai đoạn nửa đầu thế kỷ 15, sau cuộc chiến Minh – Đại Ngu vốn đang là thời kỳ các loại súng thần công đặt trên mặt thành phát triển rất mạnh mẽ, trong khi các loại dã pháo cơ động ngoài chiến trường vẫn còn chưa phát triển mạnh. Bởi vậy, thành trì của quân Minh có ưu thế về hỏa lực rất lớn. Ngoài lợi thế về hỏa lực, quân Minh vẫn còn trong tay trên 5 vạn quân. Điều nguy hiểm hơn nữa là chúng tự đặt mình vào thế cùng, sẵn sàng liều chết với quân Lam Sơn chứ không còn dễ dàng tan chạy như thuở nghĩa quân mới nổi lên chống giặc nữa.

Thực ra nếu quyết định công phá Đông Quan, quân Lam Sơn vẫn có cửa thắng cao, nhưng thương vong sẽ rất khó lường. Trong bối cảnh quân ta còn phải chờ đón đánh viện binh, việc hạ thành quả là hạ sách. Bình Định vương Lê Lợi sau khi cân nhắc đã quyết định củng cố vòng vây thành Đông Quan. Nhiệm vụ đặt ra là không chỉ uy hiếp Đông Quan từ một vài hướng, mà còn phải tổ chức bao vây thật kín kẽ, không cho Vương Thông có đường hành quân đào thoát hay phối hợp với các khối quân Minh khác.

Bình Định vương Lê Lợi đã chia quân làm 4 hướng, đóng doanh trại ngay trước 4 cửa thành Đông Quan để bao vây:

– Hướng cửa đông do Thiếu úy Trịnh Khả thống lĩnh

– Thái giám Lê Chửng (hay Lê Cực) cầm quân Thiết Đột giữ cửa tây

– Hướng cửa nam do Tư đồ Đinh Lễ chỉ huy

– Thiếu úy Lý Triện được giao trọng trách trấn giữ cửa bắc

Tuyến sau của bốn doanh này là ba doanh trại Cảo Động (Từ Liêm, Hà Nội ngày nay) nằm phía tây bắc, trại Sa Lôi (thuộc Từ Liêm, Hà Nội) nằm phía tây, Tây Phù Liệt (Thanh Trì, Hà Nội) nằm hướng nam thành Đông Quan.

Vòng vây hai lớp này đảm bảo quân Minh trong thành Đông Quan hoàn toàn bị cô lập. Để có thể bố trí thế trận này, Bình Định vương Lê Lợi đã phải dùng rất nhiều binh lực. Cùng với việc bố trí lực lượng vây Đông Quan, Lê Lợi cũng dời đại doanh đến đóng ở Bồ Đề (Phú Viên, Gia Lâm, Hà Nội ngày nay). Đại doanh nằm dọc theo dòng sông Hồng, trong doanh dựng một vọng lâu nhiều tầng, cao bằng tháp Báo Thiên (khoảng hơn 90 mét) để nhìn vào trong thành. Ngày ngày, Vương ngự trên tầng cao nhất quan sát động tĩnh quân Minh trong thành. Nguyễn Trãi lúc bấy giờ nhờ có nhiều công lao nơi màn trướng, được tiến phong Triều liệt đại phu, Nhập nội hành khiển, Lại bộ thượng thư kiêm hành Khu mật viện sự là chức quan cao nhất văn ban. Trãi được vinh dự cho ngồi tầng dưới, cùng Bình Định vương thảo luận kế sách và phụ trách soạn thư thảo hịch gởi ra ngoài doanh, phân tích thư từ các nơi gởi đến.

Sở dĩ Lê Lợi trọng dụng một văn nhân như thế, là vì giai đoạn này quân Lam Sơn đã cai quản một vùng lãnh thổ rộng lớn, và cần phải biết cách điều hành bài bản, hòng huy động tối đã nhân tài, vật lực cho trận chiến sinh tử. Nguyễn Trãi là người từng có kinh nghiệm làm quan cho nhà Hồ, lại là một danh sĩ trước khi tham gia vào hàng ngũ nghĩa quân Lam Sơn. Với việc tin dùng Nguyễn Trãi, Lê Lợi vừa phát huy được tài trí của nhân vật này, vừa được lòng hiền sĩ các nơi.

Tại dinh Bồ Đề, Lê Lợi đã xuống những chiếu thư cầu hiền, truyền hịch kêu gọi nhân dân càng chung sức hơn nữa. Một chiến lũy cao ngang mặt thành Đông Quan được dựng lên ở bờ bắc sông Nhị (sông Hồng chảy qua hướng bắc Hà Nội ngày nay), nhờ vào sự đóng góp to lớn về sức người và của cải của nhân dân các xứ gần Đông Quan. Những trại ngoài vây quanh thành Đông Quan cũng đều dựng lũy mà kiềm chế giặc. Chiến thuật lấy lũy vây thành càng làm quân Minh gần như hết đường đào thoát. Quân Lam Sơn đêm ngày tuyển mộ đội ngũ, tập dợt thủy chiến, rèn thêm chiến cụ …

Tuy nhiên Vương Thông cũng không phải là một tướng tay mơ. Mặc dù không có khả năng lật ngược tình thế, tướng giặc vẫn cố gắng điều quân đánh phá vòng vây của quân ta, tìm kiếm những chiến thắng cục bộ hòng khích lệ tinh thần binh sĩ.

Ngày 4.3.1427, quân Minh từ trong thành quan sát thấy cánh quân ở Cảo Động bố phòng sơ hở. Phương Chính bèn cầm quân tinh nhuệ ra đánh úp. Cảo Động là tuyến bao vây vòng ngoài, còn cách thành Đông Quan một vòng vây. Bởi thế mà một số tướng sinh chủ quan, cho rằng giặc kéo ra thành tất gặp phải quân vòng trong trước, rồi quân vòng ngoài mới điều động ứng cứu. Nhưng không ngờ tướng giặc bạo gan lựa chỗ khoảng hở giữa các khối quân ta, dẫn quân luồn sâu xuyên qua trận địa. Lý Triện, Đỗ Bí cùng quân dưới trướng bị đánh bất ngờ nên thương vong lớn. Lý Triện cố sức đánh trả rồi tử trận. Đỗ Bí bị giặc bắt sống làm con tin.

Ngày 13.3.1427, quân Minh vẫn theo chiến thuật luồn sâu thình lình đánh vào trại Sa Đôi. Lần này quân Lam Sơn đã có phòng bị, cố sức chống trả. Hết sạch tên đạn, quân ta dùng cả vò lọ, gạch nấu bếp liệng vào quân Minh. Giặc không tiến được, phóng hỏa đốt nhà dân làm kế hỏa công. Các quân đa phần sợ lửa, nhảy xuống sông bơi trốn, chết đuối rất nhiều. Chỉ có quân Thiên Quan nhiều người không biết bơi, ở lại tử chiến với quân Minh. Khí thế của những người lính cùng đường đã bất ngờ đánh lui được giặc.

Sau hai trận đột kích ra ngoài của quân Minh, Bình Định vương Lê Lợi bèn chỉnh đốn các quân, tăng cường phòng bị hơn nữa. Trong cuộc duyệt binh ở Vĩnh Động (Kim Thi, Hưng Yên ngày nay), Vương đã lệnh chém đầu Chánh đốc Nguyễn Liên vì hàng ngũ chiêng trống trễ nải. Nhờ tăng cường nghiêm lệnh, các quân bớt chủ quan hơn với giặc.

Ngày 6.4.1427, Vương Thông đem quân tinh nhuệ đích thân đánh vào trại Tây Phù Liệt. Thái giám Lê Nguyễn cố sức dựa vào lũy mà cầm cự, quân Minh không công phá được. Đến lúc Đinh Lễ, Nguyễn Xí thấy động, liền tức tốc đem 500 quân Thiết đột và tượng binh đến cứu. Tinh binh gặp tinh binh, Vương Thông bỗng chốc trở nên thất thế vì bị hai hướng đánh kẹp lại. Thông liệu thế không chống nổi, bèn hạ lệnh thu quân. Đinh Lễ, Nguyễn Xí ham đánh quá, cứ cưỡi voi đuổi theo bất chấp việc quân của Vương Thông vẫn còn đông. Đuổi đến Mi Động, Thông ngoái lại thấy Lễ và Xí ít quân, liền hô quân đánh quật lại. Voi bị sa lầy, Đinh Lễ và Nguyễn Xí bị giặc bắt. Nơi trướng giặc, Đinh Lễ không ngớt lời mắng chửi. Vương Thông giận quá đem giết đi. Nguyễn Xí thì dù mưu mẹo lừa quân canh, vượt ngục trốn thoát được về.

Những trận tập kích của Vương Thông tuy không làm thay đổi được thế trận chung, nhưng đã khiến quân Minh hăng hái hơn, và làm quân ta tổn thất nhất định. Mỗi một nghĩa quân ngã xuống đều đáng tiếc thương. Trong số những tổn thất đặc biệt phải kể đến là hai danh tướng Lý Triện, Đinh Lễ. Hai ông đều là tướng tài ba, đặc biệt trong chiến cuộc Ninh Kiều đã cùng nhau lập công lao rất hiển hách. Sự hy sinh của hai ông là mất mát rất lớn đối với nghĩa quân.

Những tổn thất ở Cảo Động, Sa Đôi, Mi Động cho thấy rằng tâm lý kiêu binh đã lan truyền trong quân Lam Sơn, sau những ngày dài kinh qua quá nhiều chiến thắng. Bình Định vương Lê Lợi sau khi hay tin Đinh Lễ bị giặc giết rất đau xót, than rằng: “Lỗi tại Lễ quen thắng rồi khinh địch, ta đã nhiều lần răn bảo rồi, quả nhiên bị hại” (theo Đại Việt Thông Sử). Đinh Lễ vốn là cháu gọi Lê Lợi bằng cậu, ngoài nghĩa vua tôi còn có tình thân huyết nhục. Trước đây, Đinh Lễ đại phá quân Minh ở Tốt Động, oai danh lẫy lừng. Quân tướng các doanh đều ca tụng Lễ là giỏi. Duy chỉ có Lê Lợi là răn bảo: “Trăm trận đánh được cả trăm trận không phải là tốt đâu, hắn cậy lanh giỏi quen mùi được luôn, thất bại có thể đứng trông thấy ngay” (theo Đai Việt Sử Ký Toàn Thư). Có thể thấy tâm lý khich địch mà Bình Định vương răn bảo Đinh Lễ cũng là lời nên dành cho toàn quân Lam Sơn vào lúc này.

Một điều may mắn cũng nên kể đến là sự trở về của danh tướng Nguyễn Xí. Ông bị bắt cùng với Đinh Lễ, nhẫn nhịn tìm thời cơ. Cuối cùng dùng mưu lừa được quân canh mà trốn về doanh trại. Khi Xí về đến nơi, Lê Lợi đang dùng bữa, buông đũa chạy vội ra đón mừng. Vua tôi mừng rỡ khôn xiết, Lê Lợi reo lên: “Thực là sống lại!”(theo Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí). Kế đó, Bình Định vương Lê Lợi lại sai đi cầm quân.

Trong lần thứ ba dẫn quân xuất thành đột kích quân Lam Sơn, Vương Thông đã không còn giữ được yếu tố bất ngờ nữa. Việc bắt được tướng của ta chỉ là tận dụng sai lầm cá nhân. Sau trận Mi Động, quân Lam Sơn đã rành mưu của giặc, càng bố trí phòng bị chặt chẽ hơn. Khi các tướng Minh khuyên Vương Thông tiếp tục xuất thành giao chiến, hắn đã bác bỏ vì biết chiến thuật cũ đã không còn dùng được.

(còn nữa)

Quốc Huy/Một Thế Giới

Kháng Minh Truyền Kỳ ( Phần 3 ) – Kỳ 22 : Đánh chiếm các thành trì, tuyệt nguồn nội ứng

Kháng Minh Truyền Kỳ ( Phần 3 ) – Kỳ 22 : Đánh chiếm các thành trì, tuyệt nguồn nội ứng

Xem kỳ 21

Đầu năm 1427, Bình Định vương Lê Lợi mặc dù đã hoàn toàn chiếm thế thượng phong trên chiến trường nhưng vẫn mở cho quân Minh một lối thoát trong danh dự, tích cực thúc đẩy việc hòa nghị. Lê Lợi đã có nhiều nhượng bộ như chấp nhận tôn Trần Cảo làm vua, chấp nhận một nước Đại Việt mới gây dựng lại sẽ thực hiện triều cống nước Minh theo lễ nước nhỏ đối với nước lớn, bản thân Lê Lợi thì chỉ xưng làm Lam Sơn động chủ để tiện cho việc hòa đàm. Đối với quân Minh đầu hàng, phía ta đã cam kết đảm bảo đường sá, thuyền bè đi lại, hứa sẽ giữ an toàn cho chúng rút về nước. Thế nhưng thiện chí đó là không đủ để dập tắt lửa chiến tranh. Trong khi Vương Thông vì nghe lời xui của bọn ngụy quan mà hành xử tráo trở với quân ta, thì tại nước Minh đang gấp rút điều động thêm những đạo quân tiếp viện lớn.

An Viễn hầu nước Minh là Liễu Thăng được vua Minh Tuyên Tông giao cho các quân lấy từ Bắc Kinh, Nam Kinh cùng các tỉnh Hồ Quảng, Giang Tây, Phúc Kiến, Chiết Giang, Sơn Đông, Hà Nam, Quảng Đông, Quảng Tây, Quý Châu, Phúc Kiến. Tổng cộng chừng 10 vạn quân tinh nhuệ, 2 vạn ngựa chiến, nhận nhiệm vụ tiến xuống nước ta từ hướng Quảng Tây, phối hợp với quân Minh đang cố thủ ở thành Xương Giang đánh xuống thành Đông Quan từ hướng đông bắc.

Kiềm Quốc công Mộc Thạnh – tên tướng già nhiều phen chinh chiến tại Đại Việt được giao các quân điều động từ Thành Đô, Tứ Xuyên, Vân Nam, tổng cộng chừng 5 vạn tinh binh, 1 vạn ngựa chiến. Đạo quân này nhận nhiệm vụ từ Vân Nam tiến xuống, băng qua vùng Tây Bắc nước ta, trước chiếm thành Tam Giang rồi sau đó đánh tỏa xuống đồng bằng, phối hợp với quân của Vương Thông ở thành Đông Quan.

Khác với các lần tăng viện trước đó, lần này Minh triều gần như chuẩn bị lại cả một bộ khung xâm lược mới với trọn vẹn một đạo quân đông đến 15 vạn, được biên chế đầy đủ, được chuẩn bị về lương thực, khí giới để có thể hoàn toàn độc lập tác chiến trước khi phối hợp được với các đạo quân Minh tại các thành trì trên lãnh thổ nước ta. Để tập trung một lực lượng quân viễn chinh lớn như thế trong bối cảnh vừa mới điều động 5 vạn quân cho Vương Thông đi đánh chưa lâu, nước Minh đã phải mất hơn nửa năm trời tiến hành hàng loạt những cuộc hành quân, gom quân, vận chuyển lương thực, khí giới không ngơi nghỉ. Tướng lĩnh cầm quân đều được vua Minh tuyển chọn từ những tướng có nhiều kinh nghiệm tại Đại Việt. Ngoài Liễu Thăng, Mộc Thạnh còn có các tướng Lương Minh, Lý Khánh, Hoàng Phúc, Thôi Tụ …

Sự tráo trở của Vương Thông và việc nước Minh ráo riết điều quân tiếp viện đều được nghĩa quân Lam Sơn nhanh chóng biết được. Đó là một vấn đề không hề đơn giản đối với quân ta, đòi hỏi phải có những quyết định chính xác để không bị mất đi thế thắng. Nếu như chỉ phải đánh với Vương Thông và những quân Minh ở các thành trì bị bao vây thì quân Lam Sơn đã hoàn toàn áp đảo, chỉ cần chờ cho kẻ địch trong các thành hết lương thực, khí giới chúng sẽ phải quy hàng hoặc chịu chết. Thế nhưng tình hình lúc này đòi hỏi quân ta phải có giải pháp đối với các thành trì để khi viện binh giặc tiến sang, chúng không còn khả năng “nội ứng ngoại hợp”.

Trong quãng thời gian tương đối dài mà nước Minh tiến hành gom quân thì ở trên chiến trường cũng có nhiều diễn biến phức tạp. Tin tức vua Minh quyết định tăng viện lớn đến tai bọn quân Minh trong các thành trì khiến chúng trở nên phấn chấn trở lại, nuôi hy vọng dằn co với quân Lam Sơn cho đến khi được cứu viện. Bình Định vương Lê Lợi căm giận sự giả trá của Vương Thông và bọn quân tướng Minh, bèn tuyệt giao, tăng cường cho quân đánh giặc. Vương Thông thường phái thám tử về bắc xin viện binh và liên lạc, quân ta phục bắt đến hơn 3.000 tên và 500 con ngựa. Thông đành phải thôi không cho người ra thành do thám nữa.

Nhận thấy rằng những thành trì ở gần phía bắc nằm trên hai tuyến đường từ Vân Nam, Quảng Tây nước Minh tiến sang có thể trở thành những điểm tiếp vận, phối hợp với viện binh của giặc, Bình Định vương Lê Lợi đồng loạt điều quân đi đánh chiếm.

Bùi Quốc Hưng lãnh binh đánh thành Điêu Diêu (Gia Lâm, Hà Nội ngày nay), Thị Cầu (thuộc Bắc Ninh ngày nay)

Trịnh Khả, Lê Khuyển nhận lệnh tiến đánh thành Tam Giang (thuộc Vĩnh Phúc ngày nay)

Trần Lựu, Lê Bôi đem quân đánh thành Khâu Ôn (thuộc Lạng Sơn ngày nay).

Riêng thành Xương Giang (Bắc Giang ngày nay) là thành trì vững chắc và nằm ở vị trí chiến lược quan trọng trên tuyến đường Thiên lý từ Quảng Tây đến Đông Quan, Lê Lợi phái hàng loạt tướng giỏi là Lê Sát, Lê Thụ, Nguyễn Đình Lý (tức Lê Lý), Lê Lĩnh, Lý Triện, Lê Hốt … cùng hàng vạn quân đi đánh.

Nhân dân cả nước cũng tích cực tham gia vào các cuộc vận lương, chuyển khí giới cho quân Lam Sơn đánh thành. Kết quả các mặt trận công thành có khác biệt lớn. Thành Điêu Diêu đầu hàng trong tháng 2.1427, thành Thị Cầu đầu hàng tháng 3.1427 sau khi nhận thư dụ hàng do Nguyễn Trãi viết. Thành Tam Giang đầu hàng vào tháng 4.1427 khi Nguyễn Trãi đích thân vào chiêu dụ tướng giữ thành là Lưu Thanh. Việc nhanh chóng chiếm được các thành này giúp cho Lê Lợi có thể nhanh chóng tập trung lại lực lượng, tiếp tục khép chặt vòng vây Đông Quan.

Ở mặt trận thành Khâu Ôn, quân Minh cậy ở gần biên giới, quân lương khí giới đầy đủ nên kiên quyết cố thủ. Trần Lựu, Lê Bôi ngoài việc đối phó với quân Minh trong thành còn phải ghìm nhau với 5 vạn quân của Cố Hưng Tổ ở Quảng Tây. Tại đây diễn ra nhiều trận đánh quyết liệt, hễ quân Lam Sơn tiến đánh thành thì giặc dùng súng thần công, phi pháo bắn ra như mưa, lại có quân Quảng Tây chực ứng cứu. Chiến sự dai dẳng từ tháng 2.1427 đến mấy tháng sau quân ta vẫn chưa hạ được thành. Đến tháng 8.1427, Trần Lựu và Lê Bôi dùng kế nghi binh đánh thành, dụ 5 vạn quân của Cố Hưng Tổ tiến cứu. Quân ta ngầm mai phục ở ải Pha Lũy, đánh tan quân của Cố Hưng Tổ. Bấy giờ Trần Lựu và Lê Bôi mới rảnh tay dốc toàn lực đánh thành Khâu Ôn, phá được thành này. Tàn quân giặc chạy sang Quảng Tây, thương vong rất nhiều.

Riêng mặt trận thành Xương Giang, tình hình còn khó khăn hơn nữa. Thành Xương Giang kiên cố gần ngang ngửa thành Đông Quan, người Minh đã dời dân đến ở rất đông. Khi quân Lam Sơn đánh thành, các tướng Minh là Kim Dận, Lý Nhậm, Mã Trí, Lưu Nhuận, Lưu Tử Phụ … điều động hết quân Minh chính quy, ngụy binh người Việt và dân binh người Minh cả trai lẫn gái đông hàng vạn người quyết đánh trả quân ta đến cùng. Giặc cậy thành cao, súng đạn nhiều, gây cho quân ta rất nhiều thương vong khi cố gắng tiếp cận. Lý Nhậm còn thường lựa những chỗ quân Lam Sơn sơ hở đem quân tinh nhuệ nửa đêm ngầm ra đánh úp, đốt phá chiến cụ. Đối phó với thành trì vững chắc, quân đông tướng mạnh tại thành Xương Giang, quân tướng Lam Sơn đã phải gặp rất nhiều trở ngại. Qua đó cũng cho thấy việc đánh thành là khó khăn như thế nào, cũng thấy được sách lược “đánh vào lòng người” thay vì cố sức đánh thành ngay từ đầu cuộc khởi nghĩa là hết sức đúng đắn.

Thế nhưng, lúc này quân ta đã bước sang giai đoạn quyết định đòi hỏi phải đánh hạ những thành trì nằm ở những vị trí chiến lược quan trọng. Đặc biệt là thành Xương Giang, một thành trì không thể không đánh chiếm trước khi viện binh của Liễu Thăng, Mộc Thạnh tiến sang. Thử thách đối với nghĩa quân Lam Sơn vẫn còn lớn để có thể giành thắng lợi chung cuộc.

(còn nữa)

Quốc Huy