Vụ Mỹ bắn hạ máy bay chở khách Iran năm 1988 – Chỉ là sai lầm?

Vụ Mỹ bắn hạ máy bay chở khách Iran năm 1988 – Chỉ là sai lầm?

Năm 1988 thế giới phải chứng kiến một thảm kịch hàng không đau buồn khi chiếc máy bay thương mại của hãng hàng không Iran Air mang số hiệu 655 bị tàu tuần dương USS Vincennes của Mỹ bắn rơi, cướp đi mạng sống của 290 con người vô tội.

Sai lầm chết người

10 giờ 17 phút sáng ngày 3/7/1988 định mệnh, cơ trưởng Mohsen Rezaian cùng phi hành đoàn của chiếc Airbus A300B2 số hiệu 655 của hãng hàng không Iran Air được lệnh cất cánh từ sân bay Bandar Abbas (phía nam Iran) lên đường đi Dubai. Trong khoảng thời gian đó, Hải quân Mỹ đang thử nghiệm hệ thống chiến đấu AEGIS trên hạm tuần dương USS Vincennes gần eo biển Hormuz – nơi chuyến bay 655 sẽ bay ngang qua. Tàu ngầm USS Vincennes lưu đỗ tại vịnh Persian trong bối cảnh cuộc chiến tranh Iran – Iraq vẫn đang diễn ra, được triển khai nhằm bảo vệ tàu chở dầu của Kuwait cũng như hạn chế các hoạt động tàu ngầm của Iran. Hạm trưởng USS Vincennes lúc đó là Tướng William C. Rogers III.

Giống như phần lớn các máy bay hiện đại, chiếc Airbus của Iran Air được trang bị hệ thống phát sóng nhận dạng – một phiên bản nâng cấp hơn của hệ thống “nhận dạng, bạn hay thù” (IFF) được dùng trong Chiến tranh Thế giới thứ II.

Sau khi cất cánh khỏi đường bay số 21, chiếc Airbus A300B2 mã hiệu 655 được lệnh từ trạm kiểm soát không lưu Bandar Abbas yêu cầu bật hệ thống phát sóng nhận dạng và hướng về vịnh Persian.

Tín hiệu máy bay 655 xuất hiện trên radar của tàu tuần dương Vincennes vào lúc 10 giờ 17 phút và 10 giờ 19 phút. Theo các tài liệu điều tra sau này của chính phủ Mỹ, tàu Vincennes đã nhầm chiếc máy bay dân sự này sang thành một chiếc chiến đấu cơ. Giới chức lúc đó đã nhận dạng các thông số bay của chiếc A300B2 giống như một chiếc F – 14A của không quân Iran. Theo Đô đốc William Crowe, Tổng Tham mưu trưởng Liên quân Mỹ, hệ thống phát sóng nhận dạng của máy bay dân sự 655 đã phát ra một mã ở kênh quân sự “Chế độ 2”. Trong 3 phút tiếp theo, tàu Vincennes đã đưa ra tín hiệu cảnh báo ngược lại trên tần số báo động hàng không quân sự, và cũng đã nhiều lần cố liên lạc với phi hành đoàn chuyến bay 655 nhưng không có lời hồi đáp.

10 giờ 24 phút sáng, Tướng Rogers ra lệnh bắn hai tên lửa phòng không SM – 2ER vào chiếc máy bay nghi ngờ là chiến đấu cơ F – 14A kia. Chiếc máy bay chở 290 người bốc cháy và rơi xuống vịnh Persian., không một ai sống sót.

Ngay chiều hôm đó, trực thăng Iran và tàu cứu hộ đã khẩn trương đến khu vực máy bay rơi để tìm kiếm thi thể người gặp nạn. Chỉ cho đến tận tối muộn cùng ngày, binh sĩ hải quân và những người trên tàu Vincennes mới nhận ra sai lầm chết người của mình.

Cuộc chiến không hồi kết

Ngày 6/7/1988, Hiệp hội điều tra Hải quân do Chuẩn Đô đốc William M. Fogarty chỉ đạo bắt đầu tiến hành điều tra tại Bahrain. Các phiên điều trần chính thức diễn ra chỉ 1 tuần sau đó, và toàn bộ quá trình điều tra cũng như báo cáo gửi tới Hải quân được hoàn thành vào ngày 28/7. Bản báo cáo điều tra kết luận, việc khai hỏa tên lửa nhằm vào máy bay 655 của Iran là một quyết định hoàn toàn tỉnh táo của chỉ huy trưởng dựa trên hoàn cảnh nghi ngờ tàu chiến đang cận kề mối đe dọa lớn từ phía đối phương.

Bày tỏ niềm thương tiếc trước các nạn nhân trong thảm kịch song chính phủ Mỹ khẳng định không nhận trách nhiệm cũng như xin lỗi về bất kỳ hành động sai trái nào gây nên vụ bắn rơi máy bay. Thậm chí thủy thủ đoàn có mặt trên tàu Vincennes còn được trao giải và nhận huân chương chiến công.

Hộp đen của chiếc máy bay A300B2 xấu số vẫn chưa được tìm thấy và các nhà điều tra vẫn không thể nào biết được chu trình bay của chiếc A300B2 lúc đó ra sao, cũng như liệu rằng phi hành đoàn có “phớt lờ” các tín hiệu cảnh báo của phía tàu ngầm Mỹ hay đơn giản là không hề nghe thấy. Tuy nhiên, trên tàu Vincennes vẫn còn hộp đen riêng, radar AN/SPY – 1 và hệ thống máy tính điều khiển vũ khí lắp đặt trên tàu.

Theo như kết luận báo cáo, Hải quân Mỹ cho rằng, họ đã nhầm chiếc A – 300 với máy bay chiến đấu F – 14 của Iran. Tuy nhiên, dữ liệu từ hệ thống chiến đấu Aegis cho thấy chiếc Airbus A300B2 đang lấy độ cao để bay lên chứ không giảm dần độ cao điển hình của một cuộc tấn công từ trên không. Tại các thiết bị thu dữ liệu cũng không hề có sự xuất hiện nào khác ngoài tín hiệu ở kênh dân sự “Chế độ 3, mã 6760” của chiếc Airbus 655, nhưng tàu Vincennes vẫn tiếp tục hiểu sai tín hiệu. Nhiều người nghi ngại rằng tàu Vincennes liên tục gửi cảnh báo qua tần số quân sự trong khi chiếc A300B2 lại không được thiết kế để nhận các tần số này, và khi tàu Vincennes phát tần số dân sự khẩn cấp thì có thể nó đã hướng sang một máy bay khác.

Theo ghi nhận của các đài điều khiển không lưu, máy bay A300B2 mã hiệu 655 còn liên lạc radio và sử dụng tần số dân sự chuẩn, thậm chí còn nói bằng tiếng Anh với nhân viên trạm kiểm soát Bandar Abbas chỉ vài giây trước khi bị tàu Vincennes bắn.

Một bản báo cáo điều tra của Các Tiểu Vương quốc Ả rập thống nhất (UAE) cho biết lúc bắn, tàu Vinccenes đang ở trong lãnh hải của Iran, chứ không phải ở cách 64 km về phía nam (nơi con tàu chính thức được lệnh lưu đỗ ở đó) như Chỉ huy trưởng Roger và chính phủ Mỹ tuyên bố. Hơn nữa chuyến bay 655 cũng ở trong tuyến đường bay thương mại, chứ không hề đi chệch hướng 6 km như trong báo cáo.

Hai phóng viên điều tra John Barry và Roger Charles của tờ Newsweek cho rằng chỉ huy trưởng Rogers đã hành động bất cẩn mà không có sự suy tính kỹ càng, cũng như buộc tội chính phủ Mỹ bao che cho hành động sai lầm từ phía quân mình.

Vào ngày 6/11/2003, Tòa án Công lý Quốc tế kết luận hành động của Hải quân Mỹ tại vịnh Persian trong năm 1988 là vi phạm pháp luật. Iran và gia đình các nạn nhân thiệt mạng trong chuyến bay 655 được nhận một khoản bồi thường trị giá 61,8 triệu USD.

Thảm kịch này đã làm mối quan hệ “cơm không lành canh chẳng ngọt” giữa Iran và Mỹ ngày một leo thang. Và chỉ khoảng 6 tháng sau khi xảy ra vụ tai nạn, ngày 21/12/1988, chuyến bay 103 của hãng hàng không Pan Am lịch trình vượt Đại Tây Dương từ sân bay London Heathrow (Anh) tới sân bay quốc tế John F. Kennedy (Mỹ) đã bị “thổi bay” khi đang thực hiện hành trình trên bầu trời Scotland do một thiết bị nổ plastic. 270 người từ 21 quốc gia, bao gồm 11 người ở mặt đất, thiệt mạng. Chính phủ Mỹ và Anh cáo buộc một tổ chức phiến quân Palestine được Iran hậu thuẫn, phải nhận trách nhiệm cho vụ tấn công trên và coi đây là hành động trả đũa nhằm vào Mỹ.

Theo BÁO TIN TỨC

Sự thật về viên gạch đặc biệt giúp Bác Hồ vượt qua mùa đông giá rét ở Paris

Sự thật về viên gạch đặc biệt giúp Bác Hồ vượt qua mùa đông giá rét ở Paris

Ít ai biết đến câu chuyện thú vị về loại gạch đặc biệt giúp Bác Hồ “chống lại cả mùa băng giá” trong thời gian Người ở Paris.

Rất nhiều người Việt Nam biết đến câu thơ "Một viên gạch hồng, Bác chống lại cả mùa băng giá" nói về giai đoạn Bác Hồ ở Paris trong bài thơ "Người đi tìm hình của nước" của nhà thơ Chế Lan Viên. Nhưng ít ai biết đến câu chuyện thú vị về loại gạch đặc biệt được nhắc đến trong bài thơ này.

Rất nhiều người Việt Nam biết đến câu thơ “Một viên gạch hồng, Bác chống lại cả mùa băng giá” nói về giai đoạn Bác Hồ ở Paris trong bài thơ “Người đi tìm hình của nước” của nhà thơ Chế Lan Viên. Nhưng ít ai biết đến câu chuyện thú vị về loại gạch đặc biệt được nhắc đến trong bài thơ này.

Trên thực tế, sưởi ấm bằng gạch là một cách sưởi ấm phổ biến ở Châu Âu từ nhiều thế kỷ trước. Khi đó, ở các thành phố lò sưởi là một vật dụng khá xa xỉ và chi phí sưởi ấm rất đắt, không phái gia đình nào cũng có lò sưởi, đặc biệt là với dân lao động...

Trên thực tế, sưởi ấm bằng gạch là một cách sưởi ấm phổ biến ở Châu Âu từ nhiều thế kỷ trước. Khi đó, ở các thành phố lò sưởi là một vật dụng khá xa xỉ và chi phí sưởi ấm rất đắt, không phái gia đình nào cũng có lò sưởi, đặc biệt là với dân lao động…

Để chống lại sự khắc nghiệt của mùa đông, những cư dân nghèo của châu Âu đã sử dụng một cách sưới ấm rẻ tiền, đó là nung nóng gạch, cuộn nó vào quần áo hoặc báo cũ rồi mang lên đặt ở phía chân hoặc dưới gầm giường để ngủ cho ấm.

Để chống lại sự khắc nghiệt của mùa đông, những cư dân nghèo của châu Âu đã sử dụng một cách sưới ấm rẻ tiền, đó là nung nóng gạch, cuộn nó vào quần áo hoặc báo cũ rồi mang lên đặt ở phía chân hoặc dưới gầm giường để ngủ cho ấm.

Để phục vụ nhu cầu này, đã xuất hiện một thị trường sản xuất gạch sưởi.

Để phục vụ nhu cầu này, đã xuất hiện một thị trường sản xuất gạch sưởi.

Vào giai đoạn Bác Hồ sống ở Châu Âu, loại gạch sưởi phổ biến nhất là loại Chauffeuse của Pháp. Ở Anh có một loại tương tự gọi mang nhãn hiệu Victoria. Chúng được thiết kế khá thẩm mỹ và tiện dụng.

Vào giai đoạn Bác Hồ sống ở Châu Âu, loại gạch sưởi phổ biến nhất là loại Chauffeuse của Pháp. Ở Anh có một loại tương tự gọi mang nhãn hiệu Victoria. Chúng được thiết kế khá thẩm mỹ và tiện dụng.

Gạch dùng để sưởi ấm không phải loại gạch xây dựng bình thường mà là gạch chịu nhiệt (firebrick) - chính là loại gạch dùng để xây lò sưởi, chịu được nhiệt độ cao và có khả năng giữ nhiệt rất lâu.

Gạch dùng để sưởi ấm không phải loại gạch xây dựng bình thường mà là gạch chịu nhiệt (firebrick) – chính là loại gạch dùng để xây lò sưởi, chịu được nhiệt độ cao và có khả năng giữ nhiệt rất lâu.

Khi được nung đến khoảng 400 độ và bọc gói kỹ lưỡng, viên gạch sẽ giữ nhiệt được khoảng 5-7 tiếng đồng hồ, đủ cho một đêm.

Khi được nung đến khoảng 400 độ và bọc gói kỹ lưỡng, viên gạch sẽ giữ nhiệt được khoảng 5-7 tiếng đồng hồ, đủ cho một đêm.

Tại khác khu nhà trọ dành cho người lao động ở thành phố, mỗi sáng khi đi làm, người thuê nhà sẽ đưa cho chủ nhà một viên gạch sưởi. Khi đốt lò sưởi buổi tối, họ sẽ đặt viên gạch vào lò cho nóng.

Tại khác khu nhà trọ dành cho người lao động ở thành phố, mỗi sáng khi đi làm, người thuê nhà sẽ đưa cho chủ nhà một viên gạch sưởi. Khi đốt lò sưởi buổi tối, họ sẽ đặt viên gạch vào lò cho nóng.

Khi trở về nhà, trước khi ngủ những người thuê nhà sẽ lấy viên gạch bọc kỹ nó để sử dụng.

Khi trở về nhà, trước khi ngủ những người thuê nhà sẽ lấy viên gạch bọc kỹ nó để sử dụng.

Là một người cần lao, không có gì khó hiểu khi Bác Hồ sử dụng cách thức sưởi ấm bình dân này trong thời kỳ sinh sống ở châu Âu.

Là một người cần lao, không có gì khó hiểu khi Bác Hồ sử dụng cách thức sưởi ấm bình dân này trong thời kỳ sinh sống ở châu Âu.

Ngày nay, một viên gạch sưởi như vậy đang được trưng bày tại Bảo tàng Hồ Chí Minh ở Hà Nội như dấu ấn về một giai đoạn hoạt động cách mạng của Bác Hồ.

Ngày nay, một viên gạch sưởi như vậy đang được trưng bày tại Bảo tàng Hồ Chí Minh ở Hà Nội như dấu ấn về một giai đoạn hoạt động cách mạng của Bác Hồ.

Theo Kiến Thức

Abraham – Ông tổ của các đạo Chúa

Abraham – Ông tổ của các đạo Chúa

Các đạo thờ Chúa gồm đạo Do Thái, đạo Kitô và đạo Hồi đều có chung một ông tổ là Abraham. Abraham là người Do Thái, sinh trưởng tại thành phố Ur thuộc đế quốc Babylon, (hiện nay thuộc phía nam Iraq, gần giáp Kuwait) vào thế kỷ 20 trước công nguyên.

Theo các nhà khảo cổ thì, hiện tại vùng Lưỡng Hà Châu (Mesopotamia) là vùng đồng bằng được cấu tạo bởi hai con sông lớn Tigris và Euphrate, giống người Sumerians đã lập nên một nền văn minh quan trọng của thế giới cổ. Họ là những người đầu tiên xây cất những thành phố lớn, thời cổ gọi là những quốc gia đô thị (city-states) như UR, ERECH, KISH, BABYLON vào khoảng 4000 năm trước Công Nguyên. Tại những thành phố này, người Sumerians đã phát minh ra chữ viết, bánh xe, kỹ thuật luyện kim, vườn treo, những tháp Babel (trong kinh thánh Do Thái) những điều luật thành văn, thơ văn và rất nhiều huyền thoại. Trong số những huyền thoại của Sumerians có chuyện vườn Địa Đàng của đạo Do Thái sau này (Garden of Eden).

Abraham - Ông tổ của các đạo Chúa

Abraham – Ông tổ của các đạo Chúa

Năm 2300 trước Công Nguyên, giống dân Semitic-Akkadians tức giống Do Thái-Ả Rập dưới sự lãnh đạo của vua Sargon đã chiếm toàn vùng Lưỡng Hà Châu. Hai nền văn hóa Semitic – Akkadian và Sumerians hòa đồng và phát triển trong 300 năm. Tới năm 2000 trước Công Nguyên, giống dân Armonites chinh phục các quốc gia đô thị trong vùng Lưỡng Hà Châu và lập nên đế quốc Babylon. Họ chọn đô thị Babylon làm thủ đô cho cả đế quốc. Babylon hiện nay là vùng sa mạc, cách Baghdad thủ đô Iraq khoảng 80 dặm về phía nam. Những người sống trong đế quốc Babylon tin tưởng thủ đô của họ là nơi linh thiêng, là cái cổng của thiên đàng. Babylon được xây dựng như hình ảnh của nước trời (an image of heaven). Mỗi một ngôi đền, mỗi một ngọn tháp hay một khu vườn treo (hanging gardens) là một bản sao của các lâu đài trên thiên đàng (a replica of celestial palace). Tại các đền thờ, các tu sĩ làm lễ và đọc sách Thánh Kinh mà họ gọi là Enuma Elish. Thánh kinh thường được viết dưới dạng thơ có nội dung ca tụng các vị thần đã chiến thắng sự hỗn mang trong vũ trụ (the victory of the gods over chaos). Trong số các vị thần đó có thần El mà tượng của “ngài” là một con bò đực mạ vàng (the gilded bull). Babylon là tiếng ghép lại từ hai chữ Bab và Ili, có nghĩa là Cái Cổng của Trời (Gate of God). “Tư tưởng cốt yếu của người Babylon là: không có vật gì tự nhiên mà có. Trước khi có thần thánh và con người, một vật tự hữu thiêng liêng đã có từ trước vô cùng” (There was no creation out of nothing. Before either the gods or human being existed, a substance which was itself devine had esixted from all eternity – A History of God p. 7). Đó là tư tưởng sơ khởi về một Thiên Chúa cho các đạo thuộc hệ thống Độc Thần Giáo sau này. Những quan niệm của người Babylon về thiên đàng, về thánh kinh, về đất thánh (Holy place) và về thần quyền (sacred power) là những yếu tố quan trọng làm nền móng cho cả 3 đạo Do Thái, Kitô và đạo Hồi.

Đế quốc Babylon được thành lập cách đây khoảng 4000 năm, nhưng trước đó có những thành phố khác trong đế quốc như thành phố Ur đã được xây cất từ năm 5500 TCN. Ur là một trong những thành phố cổ nhất thế giới vì tính tới nay thành phố này đã có 7500 tuổi! Thành phố Ur và toàn vùng Babylon đã bị hủy diệt do một trận lụt lớn gây ra vì sự đổi dòng của con sông Euphrate vào cuối thế kỷ thứ tư trước Công Nguyên, cả vùng này trở thành sa mạc vì thiếu nguồn nước. Các nhà khảo cổ gọi nền văn minh ở vùng này là “nền văn minh của dân Sumerian trước đế quốc Babylon” (the pre-Babylon Sumerian civilization). Chính tại thành phố Ur, các nhà khảo cổ đã tìm thấy những dấu vết về nhân vật Abraham (thực sự là những huyền thoại nói về Abraham) ông tổ chung của đạo Do Thái, đạo Kitô và đạo Hồi. Tại thành phố này, người Sumerians đã phát minh ra bánh xe, chữ viết, một giờ có 60 phút, vòng tròn có 360 độ. Thành phố này cũng đã phát sinh ra các bạo chúa (tyrans) và các cuộc tàn sát đẫm máu về tôn giáo. Nhiều bạo chúa tại thành phố này đã tự xưng là thần thánh từ trời xuống cai trị muôn dân bằng thần quyền (to rule by divine right). Dân Sumerians biết luyện kim để đúc lưỡi cầy khiến cho những cánh đồng của họ thêm màu mỡ và biết dẫn thủy nhập điền để tạo nên một nền nông nghiệp phồn thịnh. Tuy nhiên, họ cũng dùng luyện kim để đúc giáo mác và mũi tên đồng khiến cho những ruộng lúa xanh tươi của họ trở thành những cánh đồng máu (killing fields).

Giữa thế kỷ 19, các nhà khảo cổ Âu Châu đổ xô đến vùng Babylon khai quật tìm cổ vật. Họ đã mang về các nước Âu Châu không biết bao nhiêu di vật của nền văn minh rất lâu đời này: Những con bò đực mạ vàng (the gilded bulls), những phiến đá ghi chép các huyền thoại và các luật thời cổ. Có nhiều huyền thoại của dân Sumerians sau này đã đi vào kinh thánh của Do Thái. Các cổ vật tìm thấy ở Babylon đã mở toang cánh cửa bí mật của các đạo thờ Chúa* bằng những hiện vật cụ thể và các tài liệu lịch sử thành văn (written history). Các cổ vật này cũng là những tài liệu vô cùng quí giá cho nhiều ngành nghiên cứu khoa học. Năm 1917, nhân dịp quân Anh đánh chiếm Iraq, một đoàn khảo cổ người Anh do nhà khoa học Leonard Wooley dẫn đầu, đã đến phía nam Iraq, gần giáp Kowait, khai quật thành phố Ur chìm dưới lớp cát sa mạc. Giữa thập niên 60, nhiều đoàn khảo cứu khoa học của Mỹ đến vùng Babylon và Ur khai quật 25.000 địa điểm (identified sites) đã tìm thấy rất nhiều di vật của nền văn hóa cổ này. Họ đã giúp cho các nhà nghiên cứu hiểu thêm rất nhiều về nguồn gốc của các đạo thờ Chúa. Căn cứ vào các cổ vật và sử liệu khách quan, các nhà nghiên cứu đã xác định Babylon mới thực sự là nơi xuất phát đầu tiên của các đạo Thiên Chúa. Trước đó, mọi người đã lầm tưởng Jerusalem, thủ đô Do Thái, là thánh địa của các đạo này. Người Babylon quan niệm cuộc sống trên thế gian chỉ là tạm bợ, cuộc sống đời sau ở thiên đàng mới đích thực là hạnh phúc vĩnh cửu. Họ tin thế gian này sẽ bị tiêu hủy trong một lúc nào đó gọi là ngày tận thế. Sau ngày tận thế, nước trời sẽ được thiết lập ở thế gian. Hai ý niệm về thiên đàng và ngày tận thế luôn luôn quyện lại với nhau. Đó là những ý niệm xuyên suốt từ Babylon (Gate of God) qua Jerusalem và Vatican ngày nay.

Những tư tưởng đầu tiên của Abraham chưa hẳn là đã xác định có một Thiên Chúa Duy Nhất (The Only One God) mà ông ta chỉ có ý định chọn một vị thần mạnh nhất trong các vị thần của dân Sumerians để tôn thờ mà thôi. Vị thần mà Abraham chọn là thần El, một con bò đực mạ vàng. Hiện nay tại bào tàng viện Baghdad có trưng bày tượng bò đực mạ vàng của dân Sumerians thuộc thời đại đế quốc Babylon (3000 TCN). Khoảng năm 2000 TCN, Abraham được tôn lên làm vị lãnh đạo các tộc trưởng Do Thái trong đế quốc Babylon (the leader of all patriachs of Jews). Abraham dẫn dân Do Thái rời khỏi đế quốc Babylon về miền Đất Hứa là vùng Canaan, hiện nay được gọi là West Bank (tả ngạn phía Tây sông Jordan). Tại đây, Abraham đã kết hợp với các bộ lạc Do Thái khác với ý định thành lập một quốc gia cho các dân tộc Do Thái. Ông có nhiều vợ. Dân tộc Do Thái rất tự hào tự xưng là con cháu của Abraham (the children of Abraham) nhưng thuộc dòng Isaac, con trai của Abraham và bà vợ cả của Abraham là Sarah.

Các dân tộc Hồi Giáo Ả Rập cũng tự xưng là con cháu của Abraham, nhưng thuộc dòng Ismael, con trai của Abraham và bà vợ bé tên là Hagar. Sau khi sinh Isaac (có nghĩa là Tiếng Cuời) bà vợ cả Sarah thường hay ghen tương với bà vợ bé nên đã đòi Abraham phải ruồng bỏ Hagar và Ismael. Abraham cầu xin Chúa cho Ismael thì được Chúa hứa sẽ cho Ismael trở thành tổ phụ của một đại quốc gia sau này. Sau đó, Abraham đưa bà Hagar và con trai Ismael đến thung lũng Mecca. Tại đây có con suối thiêng Zamzam, hai mẹ con của Ismael được Thiên Chúa đích thân chăm sóc. Abraham thường hay đến thăm Ismel và hai cha con cùng xây nên đền Kabah là ngôi đền thờ Thiên Chúa đầu tiên trên thế giới. Ismael trở thành tổ phụ của các dân tộc Ả Rập. ( A History of God. p.154).

Những người theo đạo Kitô gốc Âu Mỹ hay Á Châu không có liên hệ huyết thống gì với Abraham, nhưng vì đạo Kitô cũng như đạo Hồi đều thoát thai từ đạo Do Thái nên những người theo đạo Kitô cũng coi Abraham như một vị thánh tổ phụ (Father). Trong sách kinh Nhựt Khóa của Tổng-giáo-phận Sài Gòn (trang 143-146) có “Kinh Cầu Cho Dân Nước Việt Nam Đặng Trở Lại Đạo Thánh” có đoạn như sau: “Lạy Chúa, thuở Chúa mới giáng sanh, Chúa đã kêu gọi ba vua phương Đông đến thờ lạy chúa. Chúa đã phán rằng: Ngày sau sẽ có nhiều kẻ bởi Đông Tây đến nghỉ ngơi cùng thánh Abraham trên nước thiên đàng. Nay nước Việt Nam cũng là một cõi Đông Phương đang còn nhiều kẻ tin vơ thờ quấy, chưa hề biết Đấng Chí Tôn. Xin Chúa hãy làm cho nó tìm đến cùng Chúa hầu ngày sau đặng nghỉ ngơi trên nước thiên đàng, chúc tụng không khen Chúa đời đời kiếp kiếp”.

Đối với đạo Hồi, Abraham là tiên tri thứ nhất, Moses là tiên tri thứ hai, kế đến là nhiều tiên tri Do Thái khác rồi mới đến Jesus. Mahomét (Ma-hô-mét) là tiên tri cuối cùng và lớn hơn hết của Thiên Chúa (The last and greatest prophet of God). Người Hồi Giáo không coi Jesus hay Mahomét là Thiên Chúa Hiện Thân (God Incarnate) mà chỉ coi những vị này là những con người bằng xương bằng thịt như chúng ta. Tuy nhiên họ tôn kính Mahomét là một vị đại thánh mà không một ai trên thế gian có thể sánh ngang với ngài về sự hiểu biết và quyền năng. Không một ai được Thiên Chúa mặc khải một cách hoàn hảo cho bằng Mahomét! (None is his equal either in knowledge or in authority. None has received or handed down so perfect a relevation).

Khác với Jesus, Mahomét không khoe khoang khoác lác mạo nhận là con Một (The Only Son Of God) hay con thứ củaThiên Chúa, không làm phép lạ để biểu diễn khả năng phù thủy bịp bợm, không lập ra các phép bí tích nhảm nhí và cũng không truyền chức cho ai độc quyền cai trị giáo hội và thế giới. Jesus dốt đặc cán mai nên không viết một chữ nào để lại cho hậu thế. Các lời Jesus nói đều do người khác gán cho. Mahomét là một thi sĩ đã viết kinh Coran trong 23 năm dưới dạng thi ca như David thuở xưa viết Psalm (Thánh Vịnh) ca ngợi Thiên Chúa. Nhưng ông ta khôn khéo không nhận mình là tác giả mà chỉ nhận mình là anh thư ký ghi chép lại các lời của Thiên Chúa do thiên thần Gabriel (Ga-bơ-ri-en) đọc cho ông ta viết mà thôi.

Trong kinh Coran, có đoạn Mahomét viết về thiên thần Gabriel như sau: “Khi tôi đang trên đường lên núi thì bỗng nghe có tiếng nói từ trời xuống ” Ôi Mahomet, con là vị tông đồ của Chúa, ta là Gabriel đây”. Tôi ngẩng đầu lên để xem ai đang nói. Tôi thấy Gabriel là một người đàn ông với những bàn chân chắn ngang chân trời” (When I was midway on the mountain, I heard a voice from heaven saying : “Oh! Muhammad ! You are the Apostle of God and I am Gabriel”. I raised my head toward heaven to see who was speaking and Gabriel in the form of a man with feet astride the horizon – A History of God p. 138) Trong niềm tin của đạo Hồi thì thiên thần Gabriel là Thánh Linh Thiên Chúa (The Spirit of God) mà Ki Tô Giáo gọi là Đức Chúa Thánh Thần (The Holy Spirit). Đạo Hồi là Đạo Thiên Chúa đúng nghĩa vì họ tin Thiên Chúa là Đấng chỉ có Một Ngôi Duy Nhất (The God of Islam is Unity God). Trái lại Ki Tô Giáo là đa thần giáo trá hình vì Thiên Chúa của Ki Tô Giáo là Thiên Chúa Ba Ngôi (The Christian God is Trinity God).

Về Abraham, trong Kinh Coran Mahomét viết như sau: “Thiên thần Gabriel nâng tôi lên cao trong không khí. Trước hết ngài đưa tôi đến viếng Jerusalem, sau đó ngài đưa tôi qua 6 tầng trời. Đến tầng trời thứ 7 tôi gặp Adam tổ phụ loài người, thánh Gioan Baotixita (giáo chủ Essenes kiêm thầy dạy giáo lý cho Jesus) Enoch, Aaron, Moises, Jesus và Abraham. Cuối cùng tôi được gặp Thiên Chúa (God / Allah) và nói chuyện trực tiếp với Ngài. Chúa phán “Ôi Mohamét! Ta đón tiếp con như một người bạn cũng như trước đây ta đã đón tiếp Abraham như một người bạn vậy. Ta nói chuyện với con mặt đối mặt cũng như trước đây ta nói chuyện mặt đối mặt với Moises vậy.” (Oh Muhammad! I take you as a friend, just as I took Abraham as a friend. I am speaking to you, just as I spoke face to face with Moises).

Tiếng Ả Rập KORAN có nghĩa là sự kể chuyện (Recitation). Những người Hồi Giáo coi kinh KORAN là những lời cuối cùng của Thiên Chúa dành cho loài người (Koran is the final words of God to mankind), là cuốn sách MẸ của mọi cuốn sách (The Mother of Books). Cũng như các đạo thờ Chúa khác, người Hồi Giáo tin Kinh Thánh của họ là chân lý tuyệt đối. Các kinh thánh ngoài đạo của họ đều là đồ giả mạo cần phải hủy diệt bằng bạo lực. Cũng như các tòa án dị giáo của Công Giáo La Mã chủ trương giết hết, đốt hết, phá hết tất cả những gì khác với giáo lý Công Giáo vậy.

Độc Thần Giáo, tức các đạo thờ Chúa (Monotheist religions /Abrahamic religions) bành trướng thế lực tôn giáo bằng chiến tranh máu lửa. Số tín đồ tăng lên theo nhịp độ phát triển của các chủ nghĩa đế quốc và thực dân cũ mới. Trải qua nhiều thế kỷ, ngày nay tổng số tín đồ của Độc Thần Giáo đã lên tới 3 tỷ 200 triệu trên tổng dân số nhân loại là 5 tỷ 804 triệu (The World Almanach and Books of Facts 1998). Hai tôn giáo lớn nhất của hệ thống Độc Thần Giáo hiện nay là Công Giáo La Mã với gần 1 tỷ tín đồ, kế đến là giáo phái Hồi Giáo Sunny với 936 triệu tín đồ. Các con số tín đồ đông đảo không nói lên giá trị của các tôn giáo này vì họ là những khối người khổng lồ luôn luôn dốc phần lớn sinh lực của họ để tìm cách tiêu diệt lẫn nhau và phá hoại hòa bình thế giới. Năm 383, triều đại con cháu của Constantine đã đổi tên Kitô Giáo thành Công Giáo (Cattolica) có nghĩa là tôn giáo toàn cầu (universal church). Danh từ “Công Giáo” nói lên ý đồ nham hiểm thâm độc của Đế quốc La Mã nhắm tới sự nô lệ hóa toàn cầu dưới chiêu bài tôn giáo. Vì vậy nếu hiểu Công Giáo chỉ đơn giản là quốc giáo “state religion” hoặc đạo công cộng “public religion” là chưa đánh giá đúng mức tim đen của đế quốc. Những danh từ phiên âm như đạo Gia tô hay đạo Ca Tô Rô Ma đều làm chúng ta quên đi ý đồ nham hiểm của đạo Công Giáo Vatican.

Với thời gian, do sự mâu thuẫn trong việc giải thích Kinh Thánh và tranh chấp quyền lợi vật chất giữa các giới lãnh đạo chóp bu, đạo Công Giáo đã bị phân hóa thành nhiều ngành (lines) :

1. Công Giáo La Mã còn được gọi là Giáo hội Tây Phương (Roman Catholics / Western Church) hiện có 981 triệu tín đồ (the main line of Christianity)

2. Công Giáo Đông Phương (Eastern Church) là Chính Thống Giáo (Greek Catholics or Orthodox) chính thức tách rời khỏi Công Giáo La Mã vào năm 876. Số tín đồ hiện nay khoảng 218 triệu, đa số tại nước Nga, Hy Lạp, Thổ Nhĩ Kỳ và Đông Âu (Bulgary, Serbia, Armenia)

3. Công Giáo Anh còn được gọi là Anh Giáo (British Catholics or Anglicanism) có khoảng 69 triệu tín đồ tại Anh, Úc, Tân Tây Lan, Canada và Mỹ. Chính thức tách rời khỏi Công Giáo La Mã năm 1539.

4. Các giáo phái Tin Lành : Danh xưng chính thức của Tín Đồ Tin Lành là “Những Kẻ Chống Công Giáo La Mã” (Protestants). Đạo Tin Lành là “Đạo Chống Công Giáo La Mã” (Protestantism). Việt Nam là nước duy nhất trên thế giới chẳng giống ai gọi họ là Tin Lành (Good News), nhưng thực tế chẳng có gì lành. Khoảng đầu thế kỷ 20, nhiều người Công Giáo Việt Nam gọi họ là những kẻ theo “Đạo Thệ Phản”. Sau này không thấy ai xử dụng danh từ “Đạo Thệ Phản” nữa, có lẽ vì danh từ này mang tính kỳ thị tôn giáo ( ? + ! . . . ).

Công Giáo La Mã, Chính Thống Giáo và Anh Giáo có thể được gọi chung là Công Giáo (Catholicism) vì các lý do sau đây:

1. Giáo lý của 3 tôn giáo này rất tương đồng

2. Cả 3 tôn giáo đều thờ ảnh tượng Chúa và các thánh. Bước chân vào giáo đường của 3 tôn giáo này ta rất khó phân biệt. Khác hẳn với các giáo phái “Tin Lành” tuyệt đối không thờ ảnh tượng. Họ chỉ xử dụng cây thánh giá trơn (không có tượng Chúa) làm biểu tượng mà thôi.

3. Cả 3 đạo Công Giáo này đều thờ Bà Maria và tin bà còn đồng trinh (virgin) sau khi sinh Chúa Jesus. Người theo đạo Tinh Lành tin Chúa Jesus là Thiên Chúa hóa thân nhưng không tin bà Maria đồng trinh vì ngoài Chúa ra, bà Maria còn sinh 3 trai và 3 gái với ông Joseph. Người Hồi Giáo cũng tin bà Maria đồng trinh nhưng phủ nhận bản tính Thiên Chúa của Jesus, họ chỉ coi Jesus là tiên tri đứng sau tiên tri Mahomét.

4. Ba đạo Công Giáo nói trên đều có giáo đô riêng. Công Giáo La Mã có giáo đô tại Vatican (một lãnh địa tự trị tách ra khỏi thủ đô La Mã của nước Ý). Giáo đô của Chính Thống Giáo đặt tại Constantinophe (nay là Istambul, Thổ Nhĩ Kỳ). Giáo đô Anh Giáo đặt tại Canterburry Anh quốc. Các giáo phái Tin Lành không có giáo đô.

5. Các đạo Công Giáo có hàng giáo phẩm được truyền chức để làm lễ (mass) biến bánh và rượu thành máu và thịt của Chúa Jesus. Hàng giáo phẩm Công Giáo La Mã và Công Giáo Hy Lạp (Chính Thống Giáo) đều là nam giới. Riêng Công Giáo Anh có nữ linh mục, cũng làm lễ như nam linh mục và có chồng con. Con số nữ linh mục Anh Giáo tại Anh, Úc, Canada và Mỹ hiện nay lên tới khoảng 2000 người.

Tất cả các người theo đạo Kitô (Christians) không thuộc 3 giáo hội Công Giáo nói trên đều được gọi chung là Tin Lành (protestants). Số tín đồ Tin Lành hiện nay lên tới 686 triệu. Các mục sư không làm lễ, chỉ giảng thánh kinh mà thôi.

Trong những thế kỷ trước, người Việt Nam gọi đạo Công Giáo La Mã là Đạo Da-Tô hay Gia Tô. Da-Tô là tiếng chữ Hán phiên âm chữ Jesus. Đạo Da-Tô có nghĩa là đạo thờ Jesus. Trong Kinh Cảm Tạ Cầu Hồn viết bằng Hán tự mà các giáo dân Bùi Chu Phát Diệm và Thái Bình ngày nay vẫn còn đọc trong các đám giỗ, có câu: “Thần Chúa Da-Tô thục tội thi ân chỉ đại” nghĩa là “Lạy Chúa Jê-Su chuộc tội và ban ơn rất lớn”.

ĐẠO HỒI

Đạo Hồi là đạo thứ ba trong hệ thống Nhất Thần Giáo. Thiên Chúa của đạo Hồi là Thiên Chúa của đạo Do Thái và đạo Kitô. Người Hồi Giáo cũng giống như Do Thái Giáo, phủ nhận ngôi thứ hai tức Jesus và ngôi thứ ba là Chúa Thánh Thần của đạo Kitô nên Thiên Chúa của Hồi Giáo và Do Thái Giáo là Thiên Chúa Duy Nhất (Unity God). Đạo Hồi chịu ảnh hưởng sâu đậm giáo lý của đạo Do Thái và đạo Kitô, do Mohammed sáng lập vào thế kỷ thứ 7. Đạo Hồi được truyền bá và phát triển phần lớn dựa vào bạo lực và chiến tranh. Đạo Công Giáo La Mã là một đế quốc tinh thần, luôn luôn bước song hành với các chủ nghĩa thực dân đế quốc. Đạo Hồi và Công Giáo La Mã là hai kẻ thù lớn nhất của hòa bình thế giới. Cả hai đạo này đều là con đẻ của Do Thái nhưng đều đã quay ngược lại tiêu diệt Do Thái đến gần tuyệt chủng. Hai đạo này được ví như hai cái boomeranges của Do Thái vậy!

Số tín đồ đạo Hồi hiện nay là 1 tỷ 128 triệu, đứng thứ nhì sau đạo Kitô (1 tỷ 955 triệu). Công Giáo La Mã là giáo phái có đông tín đồ nhất của đạo Kitô, Nó là con đẻ của chủ nghĩa đế quốc La Mã và cả chủ nghĩa thực dân cũ mới của Âu Châu. Ngày nay, các chủ nghĩa đế quốc và thực dân đã suy tàn, đạo Công Giáo tất nhiên phải gánh chịu những hệ lụy của các chủ nghĩa thực dân đế quốc mà suy tàn theo. Đó là một thực tế của tiến trình tiến hóa tất yếu của lịch sử.

Nói tóm lại, Thiên Chúa Giáo là một hệ thống gồm 3 tôn giáo chính yếu: Do Thái Giáo, Kitô Giáo và Hồi Giáo. Cả 3 tôn giáo này đều bắt nguồn từ đạo Do Thái Nguyên Thủy (Pre-Mosaic Judaism) của các tổ phụ lập quốc Do thái là Abraham, Isaac và Jacob. Đạo Do Thái Nguyên Thủy thờ Thiên Chúa mang tên Elohim với hình tượng của ngài là con bò vàng. Đạo thờ bò đã tồn tại trong hơn 8 thế kỷ đầu của lịch sử nước Do Thái. Các đạo thờ Thiên Chúa hiện nay chỉ là hậu thân của đạo Do Thái Nguyên Thủy. Nói đúng hơn, những đạo này chỉ là những biến dạng khác nhau của đạo thờ bò.

Theo Sachhiem

Vì sao Trung Quốc bị “cấm cửa” trên trạm vũ trụ quốc tế ISS?

Vì sao Trung Quốc bị “cấm cửa” trên trạm vũ trụ quốc tế ISS?

Trung Quốc hiện là một trong số ít các quốc gia có khả năng mang con người lên không gian, tuy nhiên Trung Quốc lại không được phép sử dụng chung trạm vũ trụ quốc tế ISS với Nga và Mỹ. Bạn có biết lý do tại sao

Trạm vũ trụ Quốc tế (International Space Station – ISS) là tổ hợp công trình nghiên cứu không gian, hợp tác giữa 5 cơ quan không gian lớn nhất thế giới bao gồm NASA (Mỹ), RKA (Nga), CSA (Canada), JAXA (Nhật Bản) và ESA (châu Âu).

Được xem là trạm vũ trụ quốc tế, nhưng các phi hành gia của Trung Quốc lại không được phép đặt chân lên ISS, mặc dù hiện tại Trung Quốc là một trong 3 quốc gia có khả năng mang con người lên không gian (bên cạnh Nga và Mỹ).

Sở dĩ có điều này bởi lẽ đó là một phần trong đạo luật được đưa ra vào năm 2011, cấm NASA sử dụng bất kỳ hình thức hợp tác nào trong các dự án về không gian với Trung Quốc. Luật này được đưa ra bởi Hạ nghị sĩ Frank Wolf, với những lo ngại về an ninh quốc gia, đặc biệt là tình trạng gián điệp công nghiệp của Trung Quốc.

Mặc dù Frank Wolf đã nghỉ hưu từ năm 2015 nhưng đến nay lệnh cấm vẫn có hiệu lực. Nhiều báo cáo của chính phủ Mỹ kể từ khi luật có hiệu lực đã tuyên bố hoạt động không gian của Trung Quốc là một mối đe dọa đến an ninh chính trị và quân sự của Mỹ.

Là trạm vũ trụ quốc tế nhưng các phi hành gia Trung Quốc bị “cấm cửa” tại ISS

Là trạm vũ trụ quốc tế nhưng các phi hành gia Trung Quốc bị “cấm cửa” tại ISS

Tuy nhiên, nhiều người đã đặt ra câu hỏi về ý nghĩa thực sự của luật cấm này, khi mà trước đó Mỹ cũng đã hợp tác cùng Liên Xô trong thời kỳ chiến tranh lạnh để phát triển các chương trình nghiên cứu không gian chung và đến nay cho dù Nga và Mỹ vẫn có những bất đồng nhưng vẫn tiếp tục hợp tác cùng nhau để xây dựng trạm không gian ISS.

Năm 2007, Thứ trưởng Bộ khoa học và Công nghệ Trung Quốc Li Xueyong tuyên bố Trung Quốc muốn được tham gia vào dự án xây dựng ISS. Đến năm 2010, Tổng giám đốc Cơ quan vũ trụ châu Âu (ESA) Jean-Jacque Dordain cho biết ESA đã sẵn sàng để kiến nghị với 4 đối tác xây dựng ISS khác để mời Trung Quốc hợp tác vào dự án này, nhưng ông cũng cho biết cần phải có một quyết định tập thể của tất cả các thành viên tham dự án. Trong khi Nga và châu Âu mở cửa với Trung Quốc để tham gia vào dự án ISS thì Mỹ vẫn giữ nguyên lập trường với việc “cấm cửa” Trung Quốc.

Chính phủ Trung Quốc đã nhiều lần khẳng định rằng giao lưu quốc tế và hợp tác trong lĩnh vực kỹ thuật hàng không vũ trụ trên cơ sở cùng có lợi và sử dụng vì mục đích hòa bình, phát triển chung, tuy nhiên dường như điều này vẫn chưa đủ để thuyết phục Quốc hội Mỹ bỏ qua luật cấm.

Các nhà khoa học Trung Quốc cũng đã nhiều lần chỉ trích lệnh cấm được Quốc hội Mỹ thông qua là “vô đạo đức”. Dù bị cấm hợp tác với Mỹ tuy nhiên Trung Quốc hiện đang hợp tác với Nga cũng như cơ quan không gian châu Âu (ESA) cho các dự án nghiên cứu không gian của mình.

Bản thân Trung Quốc cũng đang tự phát triển chương trình nghiên cứu không gian của riêng mình, trong đó phát triển trạm không gian Thiên Cung, được phóng lên vũ trụ từ tháng 9/2011.

Theo T.Thủy
Dân trí

Thực chất Mỹ là một chế độ độc đảng

Thực chất Mỹ là một chế độ độc đảng

Noam Chomsky, trí thức cánh tả người Mỹ, trả lời phỏng vấn của tuần báo Đức Spiegel về cuộc khủng hoảng của chủ nghĩa tư bản, thuật hùng biện của Barack Obama và vai trò của tôn giáo trong chính trị Mỹ.

SPIEGEL: Thưa ông Chomsky, các ngôi đền của chủ nghĩa tư bản đã sụp đổ, chính phủ bảo thủ của nước Mỹ đang dùng những tháng cuối cùng còn lại trong nhiệm kì của mình cho các kế hoạch quốc hữu hóa. Ông cảm thấy thế nào?

Chomsky: Thời buổi đang rất nghiêm trọng, những khó khăn rất to lớn nên tôi khó có thể hả hê được. Tôi chỉ xác định rõ rằng cuộc khủng hoảng này, về quy mô thì có thể không, nhưng về bản chất thì có thể tiên đoán một cách hoàn hảo. Thị trường là thứ bao giờ cũng kém hiệu quả.

SPIEGEL: Chính xác ông đã tiên đoán được điều gì?

Chomsky: Rằng cũng như trong những ngành công nghiệp khác, trong công nghiệp tài chính có những rủi ro không qui ra được bằng giá thành, bởi vậy chúng cũng không được dự toán. Nếu anh bán cho tôi một chiếc xe thì có thể qua đó chúng ta có một vụ kinh doanh thành công. Nhưng vụ kinh doanh này có nhiều ảnh hưởng tới những cái khác không được đề cập trên hóa đơn. Ô nhiễm môi trường gia tăng. Giá xăng dầu đắt lên. Tắc đường xảy ra thường xuyên hơn. Đó là những phí tổn ngoại sinh của vụ kinh doanh của chúng ta. Trong trường hợp của những nhà băng thì các phí tổn ngoại sinh này là khủng khiếp.

SPIEGEL: Nhưng nhiệm vụ của nhà băng một phần cũng là chấp nhận sự rủi ro, và có thể nói đó cũng là mục đích tồn tại của nó?

Chomsky: Dĩ nhiên! Và một nhà băng được điều hành tốt như Goldman Sachs sẽ làm chủ được những rủi ro riêng và có thể bù lỗ những thất thoát của mình. Nhưng không một ngân hàng nào có thể làm chủ được những rủi ro thuộc về hệ thống. Bởi vậy rủi ro bị đánh giá quá thấp và người ta đã mạo hiểm quá mức mà nền kinh tế có thể chịu tốt. Nguy cơ của những rủi ro thuộc về hệ thống đã tăng lên hết sức đáng kể qua việc giảm điều tiết từ phía chính quyền và sự thắng thế của tự do hoá thị trường, khả năng một cơn bão Tsunami tài chính sinh ra từ đó.

SPIEGEL: Mọi thứ đều tốt đẹp cho đến lúc xe trượt bánh. Nhưng liệu có nên đổ trách nhiệm hoàn toàn cho Wall Street không? Có phải tầng lớp trung lưu Mỹ cũng sống dựa vào đồng tiền mượn trước, một ngày nào đó sẽ trả sau hoặc không bao giờ trả được?

Chomsky: Nợ nần của các hộ gia đình là rất lớn, nhưng tôi sẽ không qui trách nhiệm cho từng cá nhân bởi điều đó. Cái chủ nghĩa tiêu thụ này bắt nguồn từ bản chất xã hội của chúng ta, một xã hội bị chi phối bởi những lợi ích thương mại. Có một guồng máy tuyên truyền ồ ạt níu kéo mọi người với tiêu thụ. Tiêu thụ mang tính tích cực cho lợi nhuận và cho sự thiết lập, củng cố chính trị.

Noam Chomsky

Noam Chomsky

 

SPIEGEL: Các nhà chính trị được gì khi người dân đi xe nhiều, ăn nhiều, mua bán nhiều?

Chomsky: Tiêu thụ phân tán tư tưởng người dân. Giám sát xã hội bằng quân đội thì khó, nhưng phân tán tư tưởng của nó bằng tiêu thụ thì được. Ở điểm này, báo chí kinh tế định hướng mục tiêu rất rõ ràng.

SPIEGEL: Trước đây ít lâu, chính ông đã từng gọi Mỹ là “đất nước tuyệt vời nhất thế giới”. Điều này có mâu thuẫn không?

Chomsky: Mỹ là một đất nước tuyệt vời trên nhiều phương diện. Ở đây tự do ngôn luận được tôn trọng hơn hết so với ở tất cả các nước khác. Hiệp chúng quốc là một xã hội rất tự do, ở đây giáo sư và thợ sửa xe chuyện trò bình đẳng. Không ai được đề cao hơn ai.

SPIEGEL: Cách đây hơn 170 năm, sau khi đến thăm nước Mỹ, học giả người Pháp Alexis de Tocqueville đã tường trình rằng: “Quần chúng thống trị giới chính trị Mỹ như Chúa thống trị vũ trụ”. Ông ấy có quá khen không?

Chomsky: Chắc chắn. Ngay năm 1787 tại hội nghị hiến pháp, James Madison, một trong những “khai quốc công thần” của nước Mỹ, đã tán thành quan niệm rằng chính quyền nhà nước có nhiệm vụ “bảo vệ nhóm thiểu số giàu có trước nhóm đa số”. Do đó thượng nghị viện chỉ gồm một trăm thành viên, phần lớn rất giàu có, và được trao cho rất nhiều quyền lực. Hạ nghị viện với vài trăm thành viên đã là dân chủ hơn, nhưng có ít quyền hạn hơn nhiều. Thậm chí một người thiên về chủ nghĩa tự do như Walter Lippmann, một trong những trí thức hàng đầu của thế kỉ 20, đã có ý kiến rằng trong một chế độ dân chủ hoạt động tốt thì nhóm thiểu số thông minh, đó là những người nên nắm quyền, phải được bảo vệ trước sự “giày xéo và la hét của một bầy đàn bối rối”. Còn ở phe bảo thủ thì mới đây, phó Tổng thống Dick Cheney đã minh họa cách hiểu dân chủ của mình. Khi được hỏi tại sao ông ủng hộ duy trì cuộc chiến Iraq, trong khi đa số dân chúng phản đối cuộc chiến này, thì câu trả lời của ông ta là: “Thế thì đã sao?”

SPIEGEL: “Change” là từ mốt trong cuộc bầu cử tổng thống năm nay. Ông có nhìn thấy những cơ hội cho một sự thay đổi sớm và rõ rệt cho nước Mỹ? Ông có bị khích động, bị “fired up”, nói theo kiểu một hiệu lệnh xung trận của Obama?

Chomsky: Không chút nào cả. Cái phản ứng ở châu Âu về Obama là một sự tự lừa phỉnh kiểu châu Âu.

SPIEGEL: Dù sao Obama nói ra những câu tốt đẹp mà từ lâu người châu Âu mong đợi. Ông ấy nói về tình hữu nghị xuyên Đại Tây dương, sự ưu tiên của chính sách ngoại giao và sự hòa giải của xã hội Mỹ.

Chomsky: Tất cả là thuật hùng biện, ai hơi đâu mà quan tâm tới những điều đó. Toàn bộ cuộc tranh cử này xoay quanh thuật hùng biện xuất thần, xoay quanh hy vọng, sự biến chuyển, xoay quanh tất cả những cái có thể, chỉ không xoay quanh những vấn đề cụ thể.

SPIEGEL: Không lẽ ông thấy phe kia nhiều hứa hẹn hơn: cựu chiến binh Việt Nam 72 tuổi McCain và cựu hoa hậu Sarah Palin từ Alaska?

Chomsky: Hiện tượng Sarah Palin thực sự là độc đáo. Nếu ai đó từ sao Hỏa quan sát chúng ta, người đó có thể nghĩ rằng đất nước chúng tôi bị loạn trí.

SPIEGEL: Có vẻ như những người cực bảo thủ và những cử tri sùng đạo rất hân hoan?

Chomsky: Đừng bao giờ nên quên là đất nước này được thiết lập bởi những người theo đạo cuồng tín. Giới tôn giáo bảo căn luôn giữ vai trò quan trọng trong tất cả các cuộc bầu cử kể từ Jimmy Carter. Ông ta là người đầu tiên tự trưng trước công chúng như thể là Chúa hồi sinh. Từ đó sự tính toán của đám điều hành vận động tranh cử là: Hãy tỏ ra là người theo đạo cuồng tín, thực tế anh sẽ tự động nhận được một phần ba số phiếu cử tri. Ở thời của Tổng thống Lyndon B. Johnson những năm 60, còn chưa ai hỏi liệu ông ấy có đến nhà thờ hàng ngày không. Bill Clinton có lẽ cũng sùng đạo như tôi, tức là bằng không, nhưng những trợ lý của ông ấy đảm bảo rằng sáng Chủ nhật nào ông ấy cũng đến nhà thờ Baptist để hát thánh ca.

SPIEGEL: Liệu ông có thể nói tốt cho McCain chút nào không?

Chomsky: Về một phương diện thì ông ấy thật thà hơn ứng viên đối thủ. Ông ấy đã làm sáng tỏ rằng cuộc bầu cử này không xoay quanh những vấn đề cụ thể, mà chỉ xoay quanh các cá nhân. Những người Dân chủ không được thật thà như vậy, mặc dù họ nhìn vấn đề không khác chút nào.

SPIEGEL: Như vậy theo ông thì phe Cộng hòa và phe Dân chủ chỉ là những dạng khác nhau của một đường lối chính trị chung?

Chomsky: Tất nhiên là có những khác biệt, nhưng không phải là cơ bản. Đừng có ai nên ảo tưởng. Thực chất Mỹ là một chế độ độc đảng, và cái đảng cầm quyền là Đảng Kinh doanh.

SPIEGEL: Ông cường điệu hóa. Trong hầu hết những vấn đề cốt yếu, từ việc đánh thuế người giàu đến năng lượng nguyên tử, hai bên luôn có những lập trường khác nhau, đặc biệt trong vấn đề chiến tranh và hòa bình. Những người Cộng hòa muốn chiến đấu tới lúc thắng lợi tại Iraq, dẫu cho tới cả trăm năm nữa như McCain đã nói. Những người Dân chủ thì yêu cầu một kế hoạch rút quân.

Chomsky: Nhìn cho kĩ thì chúng ta sẽ nhận ra rằng những khác biệt này mới hạn chế và mỉa mai làm sao. Phái diều hâu tuyên bố, chúng ta sẽ chiến thắng nếu tiếp tục cuộc chiến. Phái bồ câu nói rằng cuộc chiến quá đắt đỏ. Đố anh nêu cho tôi được một chính trị gia Mỹ, người thẳng thắn phát biểu rằng cuộc xâm lược này là một tội ác. Vấn đề không ở chỗ, liệu chúng tôi có thắng hay không, hoặc liệu cuộc chiến có quá đắt hay không. Anh còn nhớ cuộc xâm lược của Liên Xô vào Afghanistan không? Lúc đó chúng ta có tranh luận liệu Liên bang Xô-viết có thể giành được chiến thắng, hoặc cuộc chiến đó có quá đắt không? Có thể những cái đó đã được tranh luận tại Điện Kremlin hoặc trên báo Pravda. Đó là kiểu tranh luận thu hẹp mà thông thường ta thấy ở những xã hội toàn trị; điều quan trọng không phải là ai thắng ai thua. Giả sử có được những thắng lợi tại Iraq như Putin ở Chechnya, chắc tướng Petraeus đã được phong vương. Vấn đề then chốt thực ra là, liệu chúng ta có áp dụng cho bản thân mình những thước đo mà ta dành cho người khác không.

SPIEGEL: Theo ông, ai ngăn cản giới trí thức đặt ra câu hỏi này và trả lời nó với tinh thần phê phán? Vừa rồi ông đã tán dương tự do ngôn luận ở Mỹ.

Chomsky: Giới trí thức vô cùng tuân thủ. Ngay Hans Morgenthau, một trong những người sáng lập chủ nghĩa Hiện thực Chính trị (Political Realism), đã lên án sự phục tùng quyền lực của một bộ phận trong giới trí thức. George Orwell đã viết rằng những người theo chủ nghĩa dân tộc, thông thường là toàn bộ giới trí thức của một đất nước, không những không lên án các tội ác của nhà nước họ, mà họ còn có khả năng phi thường là thậm chí không từng nghe tới những tội ác đó. Điều này chính xác. Chúng tôi nói nhiều về tội ác của người khác. Về tội ác của chính nước mình thì chúng tôi là những người theo chủ nghĩa dân tộc theo nghĩa của Orwell.

SPIEGEL: Nhưng ở Mỹ và khắp thế giới đã và đang có những phản đối lớn tiếng chống chiến tranh Iraq?

Chomsky: Ít ra thì cũng có nhiều phản đối chống chiến tranh Iraq hơn so với chống chiến tranh Việt Nam thời kì đầu. Năm 1962, khi Kennedy điều cố vấn quân sự tới Việt Nam thì chỉ có một cái ngáp dài, rồi chẳng bao lâu sau, tin 4000 binh sĩ đầu tiên tử trận và 150.000 lính Mỹ tham chiến cũng chẳng làm ai quan tâm.

SPIEGEL: Cuối cùng, có lẽ ông có đôi lời giải hòa về tình thế quốc gia?

Chomsky: Xã hội Mỹ ngày nay văn minh hơn so với trước kia. Chúng tôi có được điều này nhờ vào sự phát triển trong những năm 60. Xã hội chúng tôi và cả xã hội châu Âu lúc đó đã trở nên tự do hơn, cởi mở hơn, dân chủ hơn và qua đó làm nhiều người khiếp đảm. Vì điều này mà thế hệ đó đã bị lên án. Nhưng nó đã phát huy tác dụng.

SPIEGEL: Thưa ông Chomsky, cám ơn ông về cuộc phỏng vấn này.

Noam Chomsky là một trong những nhà ngôn ngữ học quốc tế quan trọng hàng đầu, nhưng ông được biết đến trước hết qua hàng loạt những xuất bản phê phán văn hóa và xã hội, trong đó ông công kích không thương xót đường lối chính trị Mỹ và cũng chỉ ra những hiểm họa của sự toàn cầu hóa. Được mệnh danh là thủ lĩnh lỗi lạc của phe cánh tả Mỹ, trong những cuốn sách của mình như Profit over People (2000) và War against People (2001) Chomsky phân tích sắc sảo hoạt động của những tập đoàn đa quốc gia. Noam Chomsky hiện 79 tuổi, là con một người nhập cư gốc Do Thái từ Đông Âu. Năm 2005 tờ tạp chí Anh Prospect đã tuyên bố ông là nhà trí thức hàng đầu trên thế giới.

Noam Chomsky là một trong những nhà ngôn ngữ học quốc tế quan trọng hàng đầu, nhưng ông được biết đến trước hết qua hàng loạt những xuất bản phê phán văn hóa và xã hội, trong đó ông công kích không thương xót đường lối chính trị Mỹ và cũng chỉ ra những hiểm họa của sự toàn cầu hóa. Được mệnh danh là thủ lĩnh lỗi lạc của phe cánh tả Mỹ, trong những cuốn sách của mình như Profit over People (2000) và War against People (2001) Chomsky phân tích sắc sảo hoạt động của những tập đoàn đa quốc gia. Noam Chomsky hiện 79 tuổi, là con một người nhập cư gốc Do Thái từ Đông Âu. Năm 2005 tờ tạp chí Anh Prospect đã tuyên bố ông là nhà trí thức hàng đầu trên thế giới.

Hải Ngô dịch
Gabor Steingart thực hiện