Kháng Minh Truyền Kỳ ( Phần 2 ) – Kỳ 2 : Toàn dân nổi dậy chống quân Minh

Kháng Minh Truyền Kỳ ( Phần 2 ) – Kỳ 2 : Toàn dân nổi dậy chống quân Minh

Phần 2 – Kỳ 1

Có thể nói rằng vua khai sáng nước Minh là Chu Nguyên Chương đã có một tầm nhìn xác đáng về vấn đề đối ngoại. Trong Hoàng Minh Tổ Huấn, Chu Nguyên Chương đã nhắc nhở các vua kế vị thận trọng khi động binh đao với những nước láng giềng:

“Trẫm sợ con cháu đời sau cậy vào sự giàu mạnh mà tham chiến công một thời, vô cớ dấy binh dẫn đến tổn hại mạng người. Hãy nhớ kĩ là không được làm như vậy !”.

Nhưng Chu Đệ với bản tính tham công ngạo mạn của mình đã bỏ ngoài tai, phạm đúng vào sai lầm “tham chiến công một thời”. Khi chiếm được nước ta rồi, Trương Phụ về triều tâng công với Chu Đệ. Vua tôi mặc sức tâng bốc lẫn nhau. Chu Đệ nói:

“Trẫm là vị chúa nhân dân trong bốn bể, há lại ưa dùng binh đến cùng, tham giàu có đất đai nhân dân ư! Vì nghịch tặc không thể không tru diệt, dân cùng khổ không thể không giúp. Bọn Phụ tuân theo mệnh của Trẫm, phấn dũng ra mưu, giết bắt bọn hung đồ, bình định một phương, công đó có thể gọi là hùng vĩ phi thường vậy!”.

Trương Phụ đáp lời: “Do Hoàng thượng trù hoạch cùng uy linh của quốc gia, còn kẻ ngu thần này có công gì?”

Chu Đệ lại nói: “Công của ngươi sẽ được vĩnh viễn ghi trong sử sách không bao giờ lu mờ, tuy Hán Phục Ba [tức Mã Viện – TG] cũng không hơn vậy”

Việc so sánh Trương Phụ với Mã Viện – viên tướng đời Hán đã đánh bại hai bà Trưng, thiết lập nền đô hộ của đế chế Hán lên vùng Lĩnh Nam cho thấy tư tưởng bành trướng của Chu Đệ chẳng thua kém vua Hán Quang Vũ Lưu Tú (vua của Mã Viện), và cả hai đều bất chấp nỗi thống khổ của nhân dân, sự mất mát việc nhân mạng cho thần dân, quân lính để đạt được mục đích. Tuy nhiên bấy giờ thời thế đã thay đổi. Dân tộc Việt thế kỷ 15 đã là một dân tộc đông đúc, có nền tảng văn minh mạnh, có ý thức quốc gia dân tộc mạnh, đủ sức để đương đầu với đế chế phương bắc trong một cuộc chiến đầu trường kỳ. Trước những tội ác của quân Minh, nhân dân đã từng bước nhận rõ bộ mặt thật của chúng. Phong trào chống Minh cũng do đó mà tăng dần theo thời gian, bất chấp sự đàn áp vô cùng tàn bạo của giặc. Trong bối cảnh nước Minh thời này vẫn phải chịu sự đe dọa thường trực và mạnh mẽ từ thế lực Bắc Nguyên, cuộc sa lầy ở Đại Việt càng làm cho nước Minh thêm khốn đốn.

Hầu như tiếp sau cuộc kháng chiến thất bại của nhà Hồ, ngay trong năm 1407 nhân dân nhiều nơi trong nước đã đứng lên chống Minh.Cho đến tháng 8.1407, Mộc Thạnh phải đem một phần quân chủ lực rút về nước Minh để giảm bớt gánh nặng hậu cần cho đạo quân khổng lồ (20 vạn lính lúc ra quân). Trương Phụ vẫn ở lại với một lực lượng khá đông đúc, tiếp tục chính sách xây dựng thêm các lực lượng ngụy binh để chia sẻ gánh nặng với quân chủ lực nước Minh. Hào kiệt các nơi thừa cơ Mộc Thạnh rút bớt quân về nước, càng hăng hái nổi lên chống giặc.

Nghĩa quân Thất Nguyên :

Tại châu Thất Nguyên (Lạng Sơn), những lực lượng còn sót lại của quân đội Đại Ngu vẫn kiên quyết đánh giặc bất chấp triều đình nhà Hồ đã sụp đổ. Họ trở thành một trong những nghĩa quân đầu tiên trong cuộc chiến tự phát chống quân Minh. Nghĩa quân lợi dụng địa thế hiểm trở mà cố thủ, quân Minh dù có lực lượng lớn vẫn không thể tung quân tiến đánh một trận được. Tháng 9.1407, nghĩa quân ở châu Thất Nguyên hoạt động mạnh ở khắp các vùng biên giới phía bắc. Trương Phụ phái Tiền quân đô đốc Cao Sĩ Văn đem quân tiến đánh, đến châu Quảng Nguyên (Cao Bằng) thì đụng độ quân ta. Hai bên giáp chiến hồi lâu, nghĩa quân rút vào trại cố thủ. Cao Sĩ Văn ngày đêm thúc quân công phá. Khi trại sắp vỡ, nghĩa quân cho một cánh quân ra khiêu khích rồi nhử giặc vào trong núi. Cao Sĩ Văn dẫn quân đuổi theo, trúng mai phục. Nghĩa quân dựa vào vách núi lăn đá, bắn tên đạn xuống tới tấp. Cao Sĩ Văn trúng đạn chết. Quân Minh tổn thất nặng, nhưng bộ tướng dưới trướng Cao Sĩ Văn lên thay thế vẫn cố sức đánh. Nghĩa quân phải rút về căn cứ Thất Nguyên. Trương Phụ lại phái thêm một đạo quân khác dưới quyền của Đô chỉ huy Trịnh Sảng tiến đánh Thất Nguyên. Nghĩa quân vốn đã chịu nhiều tổn thất ở Quảng Nguyên, lại bị quân Minh liên tiếp tăng viện nên không chống nổi, bị quân Minh đánh tan.

Nổi dậy ở phủ Diễn Châu (Nghệ An) :

Mùa thu năm 1407, nhân dân ở các huyện Đông Lan, Trà Thanh thuộc phủ Diễn Châu nổi dậy phá nhà ngục, giết chết huyện quan.

Khởi nghĩa Đông Triều (Quảng Ninh) :

Cuối năm 1407, tại bến Bình Than một tôn thất nhà Trần là Trần Nguyệt Hồ được thổ hào Phạm Chấn tôn làm vua, hiệu triệu nhân dân phất cờ khởi nghĩa. Nghĩa quân giương cờ Trung nghĩa quân đánh giặc. Cuộc khởi nghĩa thu hút nhiều tướng lĩnh, binh lính cũ của nhà Hồ tham gia, gây cho quân Minh rất nhiều khó khăn.

Khởi nghĩa Lục Ngạn (Bắc Ninh) :

Cũng cuối năm 1407, Phạm Tất Đại cùng chín chiến hữu của mình khởi binh chống Minh ở Lục Ngạn.

Các cuộc khởi nghĩa năm 1408 :

– Trần Nguyên Thôi khởi binh ở Tam Đái (Vĩnh Phú)

– Trần Nguyên Khoáng, Nguyễn Đa Bí khởi binh ở Thái Nguyên

– Trần Nguyên Lộc khởi nghĩa tại huyện Tuyên Hóa (Bắc Kạn)

– Trần Nguyên Tôn khởi nghĩa tại châu Hạ Hồng phủ Tân An (Hải Dương)

– Các cuộc khởi nghĩa ở Vĩnh Lộc (Thanh Hóa), Đan Phượng, Thạch Thất (Hà Nội ngày nay), Nam Sách (Hải Dương), Kiến Hưng (Thái Bình, Nam Định), Kiến Bình (Nam Định), Lạng Giang (Bắc Ninh, Lạng Sơn), ngoại thành Đông Quan (Hà Nội), Tây Đô (Thanh Hóa) …

Phong trào khởi nghĩa diễn ra rầm rộ khắp nơi, gần như tiến tới tổng khởi nghĩa khiến cho quân Minh vô cùng vất vả đối phó. Cho đến hết năm 1408, quân giặc chỉ thực sự nắm quyền kiểm soát tại các điểm đóng trong các thành trì. Những bản đồ mà nền đô hộ áp đặt lên đất nước ta vẫn chỉ là lý thuyết trên giấy. Ngay tại thủ phủ Đông Quan (tên của Đông Đô khi giặc Minh chiếm đóng), quân giặc cũng không dám tùy tiện đi lại ra khỏi thành lũy. Ở các vùng nông thôn, hầu hết quân dân người Việt vẫn làm chủ trên thực địa.

Nhưng với tính chất tự phát và manh mún, các cuộc khởi nghĩa không thể tiến tới một hành động thống nhất để tung những đòn quyết định nhằm vào giặc được. Quân Minh với lợi thế binh lực tập trung và sự thống nhất về bộ máy đã từng bước dồn quân đánh diệt từng cuộc khởi nghĩa. Giống như một bó đũa bị chia ra từng chiếc để rồi bị bẻ gãy nhanh chóng, các cuộc khởi nghĩa diễn ra rầm rộ nhưng rồi lần lượt bị giặc Minh dập tắt.

Các cuộc khởi nghĩa tự phát ban đầu dù thất bại nhưng cũng đóng góp rất lớn vào cuộc chiến chung của dân tộc chống lại quân Minh. Với việc phải bận chống lại các phong trào khởi nghĩa, quân Minh đã bị chậm tiến độ áp đặt nền đô hộ lên toàn cõi nước ta. Điều đó tạo thuận lợi cho những phong trào lớn hơn mang tính chất toàn quốc có thời gian, không gian tụ họp lực lượng để tung những đòn mạnh mẽ hơn vào quân xâm lược. Một bộ phận khá đông đảo thuộc các cuộc khởi nghĩa bị quân Minh đàn áp vẫn sống sót và trở thành những chiến binh kinh nghiệm, bổ sung cho các phong trào kháng chiến về sau.

Từ trong phong trào kháng Minh rầm rộ, một cuộc thế lực mới đã nổi lên mà về sau khiến cho quân Minh phải nhiều phen kinh hồn bạt vía. Ngày 1.11.1407, tại Mô Độ, Yên Mô, Trường Yên thổ hào Trần Triệu Cơ đã phò tôn thất Trần Ngỗi lên ngôi, lấy danh xưng là Giản Định Đế, đặt niên hiệu là Hưng Khánh, phất cờ khởi nghĩa đánh đuổi giặc Minh, khôi phục lại nhà Trần. Nhà Hậu Trần trong sử Việt bắt đầu từ đây. Một chương bi tráng bậc nhất của sử sách nước ta sắp sửa diễn ra.

 

Quốc Huy/Một Thế Giới

Kháng Minh Truyền Kỳ ( Phần 2 ) – Kỳ 1 : Tội ác của giặc Minh

Kháng Minh Truyền Kỳ ( Phần 2 ) – Kỳ 1 : Tội ác của giặc Minh

Phần 1 – Kỳ 14

Trong lúc tiến hành xâm lược nước ta, quân Minh đã không tiếc lời dụ dỗ nhân dân. Bảng văn tuyên truyền mà Trương Phụ cho người phân phát khắp nơi có những dòng nghe thật hợp với chính nghĩa: “Chờ đến ngày cha con giặc Lê [chỉ Hồ Quý Ly và các con] bị bắt, sẽ họp quan viên, tướng lại và kỹ lão trong nước, tìm con cháu họ Trần lập làm Quốc vương để rửa nỗi oan ức cho u hồn dưới suối vàng, cứu dân trong nước khỏi cơn cực khổ …”(theo An Nam chí nguyên, Cao Trùng Hưng).

Những lời lẽ đó đã lung lạc không ít người cả tin trong nước, khiến cho tay gươm buông lỏng, để cho quân xâm lược có được lợi thế. Họ không hay biết rằng, đằng sau những lời chính nghĩa là cả một âm mưu hủy diệt dân tộc của vua tôi nước Minh. Thực tế, ngay trước khi xuất quân thì Minh Thành Tổ Chu Đệ đã ra lệnh cho các tướng: “Khi tiến quân vào An Nam thì chỉ trừ những bản kinh và sách về Đạo, Thích không hủy. Còn tất cả những bản in sách, các giấy tờ cho đến sách học trẻ con như loại “thượng, đại, nhân, khẩu, ất, kỷ” thì nhất thiết một mảnh giấy, một chữ đều phải thiêu hủy hết. Trong nước ấy, chỉ có những bia do Trung Quốc dựng lên ngày trước thì để lại. Còn những bia do An Nam lập ra thì phải phá cho hết, một chữ cũng không được để lại”. Nhìn mệnh lệnh của Chu Đệ có thể thấy, việc xóa sổ nước ta là một âm mưu trước sau rất rõ ràng và nhất quán của giặc Minh, với trọng tâm xuyên suốt được Chu Đệ xác định là hủy diệt văn hóa, cắt đứt sợi dây liên kết giữa các thế hệ người Việt, biến dân ta thành một giống dân không văn hóa, không lịch sử, không bản sắc. Khi đó, kẻ đô hộ có thể dễ dàng hơn trong việc đồng hóa nhân dân nước ta.

Để thực hiện âm mưu của mình, Trương Phụ ngay sau khi chiếm quyền kiểm soát Đông Đô và các vùng phụ cận liền lập tức dựng lên một màn kịch hợp thức hóa việc xóa sổ nước Việt. Đầu tiên Trương Phụ vẫn cho phao tin tìm con cháu họ Trần ra làm vua. Kế đến, bọn phản quốc đứng đầu là Mạc Thúy được giặc giật dây mạo xưng là “quan lại và kỳ lão” nước ta nhiều lần khai rằng: “Họ Trần không còn người nào có thể thừa kế được. An Nam nguyên trước là Giao Châu, xin khôi phục lại chế độ quận huyện, cho dân được đổi mới”. Trương Phụ theo lời đó tâu về triều, Chu Đệ lập tức đổi nước ta thành quận Giao Chỉ, trực thuộc nước Minh. Tên nước Đại Việt bị xóa bỏ, nhân dân bấy giờ nhìn rõ hơn bao giờ hết nỗi đau mất nước và bộ mặt giả nhân giả nghĩa của giặc.

Mọi việc không chỉ dừng lại ở đó. Mặc dù tiếng là người chung một nước với quân Minh, thực chất kẻ đô hộ chỉ coi dân ta là những “dân hạng hai”. Trong các văn bản, lời nói vẫn nhiều lúc gọi người Việt là “người Di”, “người Man”. Về các chính sách cai trị, người ở quận Giao Chỉ thuộc Minh đều phải chịu sự phân biệt với những dân mà Minh triều coi là “trong vòng thanh giáo”.

Về tổ chức chính quyền cai trị, giặc Minh bãi bỏ mô hình hành chính cũ của nước ta và thay thế bằng mô hình hành chính của “chính quốc”. Đứng đầu bộ máy cai trị quận Giao Chỉ là ba ti gồm Đô ti phụ trách quân sự, Bố chính ti phụ trách dân sự và tài chính, Án sát ti phụ trách tư pháp và giám sát. Chúng lại chia “quận Giao Chỉ” thành 15 phủ, 36 châu, 118 huyện. Ngoài ra còn có 5 châu trực thuộc quận. Ở các làng xã nông thôn, giặc Minh chia làm các lí và giáp. Mỗi lí gồm 110 hộ, mỗi giáp gồm 10 hộ. Ở kinh thành làng xã chia thành phường và sương với số hộ tương đương với các lí, giáp tại nông thôn. Giặc Minh cố gắng can thiệp vào hệ thống làng xã truyền thống của người Việt. Nhưng đó chỉ là trên lý thuyết của chúng. Trên thực tế quân Minh chưa bao giờ kiểm soát được toàn bộ lãnh thổ nước ta. Ngay trong các vùng giặc kiểm soát, tính tự trị của làng xã vẫn rất lớn. Điểm nổi bật nhất trong việc tổ chức cai trị là việc quân sự hóa một cách cao độ. Trên toàn cõi nước ta, quân Minh xây dựng một hệ thống đồn lũy, thành trì dày đặc. Có đến 39 thành trì lớn, với số quân thường trực khoảng 10 vạn quân (chưa kể ngụy binh) được duy trì để sẵn sàng đán áp các sự phản kháng của nhân dân ta.

Ngay từ lúc tiến đánh nước Đại Ngu thì quân Minh đã thẳng tay vơ vét, cướp bóc của cải. Số “chiến lợi phẩm” mà Trương Phụ báo về Minh triều gồm 235.000 voi, ngựa, trâu bò, 13.600.000 thạch thóc, 8.670 chiến thuyền, 2.539.800 đồ quân khí. Những con số khổng lồ đó cũng là minh chứng cho việc cướp bóc một cách tàn nhẫn của giặc. Sau đợt cướp bóc đó là sự vơ vét bằng các loại thuế muối, thuế khai mỏ, thuế đinh, thuế ruộng… Nhân dân còn bị bắt phu để khai thác vàng, bạc, mò ngọc trai, tìm lâm sản… Chẳng những bóc lột của cải vật chất, nước Minh còn bắt rất nhiều người Việt làm nô lệ cho chúng. Rất nhiều người bao gồm thợ thủ công, nhạc công, thầy thuốc, phụ nữ, trẻ em… đã bị bắt về nước Minh phục dịch suốt đời cho triều đình, quan lại người Minh. Tàn ác hơn cả là chúng đã tìm bắt những bé trai tuấn tú lúc còn rất nhỏ để đem về nước thiến hoạn, rồi giáo dục các bé trai đó trở thành nô bộc suốt đời trong cung cấm Minh triều, không chút ý niệm về sự phản kháng.

Để thực hiện chính sách “dùng người Di trị người Di”, giặc Minh lôi kéo những trí thức, quý tộc người Việt làm tay sai cho chúng. Người Minh đem người trẻ con người Việt gọi là “Giao Đồng” về nước dạy dỗ để chúng trở thành những kẻ vong bản, rồi lại phái về nước làm ngụy quan. Thanh niên trai tráng người Việt được chiêu mộ hoặc cưỡng ép tòng quân. Số lượng ngụy quan, ngụy quân thời thuộc Minh rất đông đảo. Giặc Minh dùng chính những người này để kìm kẹp nhân dân, đàn áp các lực lượng chống lại chúng, đồng thời cũng là cách để chia rẽ người Việt với nhau, khiến cho dân ta không đoàn kết lại. Với những người mà giặc Minh không lung lạc được, chúng tìm cách giam lỏng, bắt bớ, giết hại.

Nhất quán và xuyên suốt hơn cả là chính sách hủy diệt văn minh, đồng hóa dân tộc của giặc Minh. Các sách vở, văn bia bị phá hủy không thương tiếc. Một số sách bị thu gom về nước Minh. Các công trình kiến trúc đã xây dựng xuyên suốt mấy trăm năm của người Việt phút chốc tan tành trước sự tàn phá của quân giặc. An Nam Tứ Đại Khí bao gồm vạc Phổ Minh, chuông Quy Điền, tháp Báo Thiên, tượng phật Quỳnh Lâm là những báu vật bằng đồng quý giá, biểu trưng cho văn minh Đại Việt lần lượt bị quân Minh phá hủy. Các phong tục, tập quán của người Việt đều bị coi là “Man tục”. Quân Minh cấm người nước ta không được nhuộm răng đen, nam không được cắt tóc, nữ không được mặc váy… Mọi nghi lễ, chuẩn mực đều phải theo người nước Minh. Những người chống đối lại bị tàn sát không thương tiếc. Sách Cương Mục nhà Nguyễn viết về sự tàn bạo của quân Minh: “… đi đến đâu chém giết thả cửa, hoặc xếp thây người làm quả núi, hoặc bồn ruột người quấn vào cây, hoặc rán thịt người lấy mỡ, hoặc làm nhục hình bào lạc để mua vui. Thậm chí có người theo lệnh giặc, mổ bụng người chửa, cắt lấy hai tai của mẹ và con để dâng cho giặc… ”

Tộc ác của quân Minh không sao kể cho hết được. Đúng như lời Nguyễn Trãi trong Bình Ngô Đại Cáo:

Độc ác thay, trúc Nam Sơn không ghi hết tội

Dơ bẩn thay, nước Đông Hải không rửa hết mùi

Trước đây, khi quân Minh tiến vào nước ta nhiều tầng lớp nhân dân vẫn mù mờ về dã tâm của giặc. Đến khi nước Minh áp đặt được chế độ trực trị, tội ác đã quá rõ ràng, người người bèn rủ nhau chống lại. Trong dân gian có lời nguyền :

“Muốn sống đi ẩn rừng ẩn núi

Muốn chết làm quan triều Minh”

Rõ ràng những chính sách chiêu an giả tạo của người Minh đã không lừa dối được đại đa số nhân dân nữa, khi mà hành tung của chúng luôn đi ngược với những lời nói nhân nghĩa. Ngay lúc nhà Hồ sụp đổ, các cuộc khởi nghĩa đã manh nha nổ ra khắp đất nước.

Quốc Huy/Một Thế Giới

Kháng Minh Truyền Kỳ ( Phần 1 ) – Kỳ 14 : Công luận các đời về nhà Hồ

Kháng Minh Truyền Kỳ ( Phần 1 ) – Kỳ 14 : Công luận các đời về nhà Hồ

Kỳ 13

Quay lại thời điểm năm 1405, trước khi giặc Minh sang xâm lược, Tả tướng quốc Hồ Nguyên Trừng đã từng có câu nói nổi tiếng trong hội nghị bàn kế sách giữ nước: “Thần không sơ đánh, chỉ sợ lòng dân không theo thôi!”. Quả thật câu nói này thể hiện rất chính xác khó khăn mà nhà Hồ phải đối mặt, bị tách rời khỏi nhân dân trong cuộc chiến với giặc Minh, quân đội nhà Hồ trở nên đơn độc và hoang mang trước kẻ địch. Cuộc kháng chiến thất bại của nhà Hồ nước Đại Ngu là bài học lớn trong lịch sử nước ta.

Về khách quan mà nói, nhà Hồ kế thừa đất nước từ triều đại trước với những khó khăn chồng chất. Nước Đại Ngu bị kẹp giữa hai thế lực hiếu chiến và đương lúc hùng mạnh, lại quyết tâm xâu xé nước ta một cách cao độ. Nhưng quan trọng nhất, thất bại trong chiến tranh là hệ quả của một loạt những sai lầm về đường lối chính trị, quân sự, kinh tế của những người lãnh đạo đất nước, cùng với những nhận thức sai lầm về kẻ xâm lược của các tầng lớp nhân dân.

Các sách sử thời phong kiến chỉ trích Hồ Quý Ly rất nặng nề. Thậm chí có lúc cực đoan đến mức coi việc họ Hồ bại vong về tay người Minh là một điều hợp với quy luật. Trong Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, Ngô Sĩ Liên bàn: “Họ Hồ giết Trần Thuận Tông mà cướp lấy nước, những người như Trần Hãng, Trần Khát Chân mưu giết mà không được. Sau khi họ chết, trong khoảng 7, 8 năm, không còn ai có thể làm được việc ấy nữa. [Họ Hồ] tự cho là người trong nước không còn ai dám làm gì nữa. Nhưng bọn loạn thần tặc tử thì ai ai cũng có thể giết chết chúng được và trời cũng không một ngày nào tha trừng phạt chúng dưới gầm trời này! Người trong nước giết chúng không được thì ngưoời nước láng giềng có thể giết, người nước láng giềng giết không được thì người Di người Địch có thể giết. Vì thế người Minh mới có thể giết được chúng”.

Sách Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục thời Nguyễn có lời phê về việc Hồ Quý Ly bị giặc Minh bắt: “Mấy lần lật lọng lời thề nguyền, tính toán lấn cướp ngôi vua một cách xảo quyệt! Đến bây giờ có thể xảo trá để thoát thân được không ? Đạo trời báo ứng, rõ ràng không sai, chả đáng sợ lắm sao?”

Ngay cả một trí thức đầu thế kỷ 20 như Trần Trọng Kim cũng có lời phê bình nặng nề: “Xem công việc của Hồ Quý Ly làm thì không phải là một người tầm thường, nhưng tiếc thay một người có tài kinh tế như thế, mà giả sử cứ giúp nhà Trần cho có thủy chung, thì dẫu giặc Minh có thế mạnh đến đâu đi nữa, cũng chưa hầu dễ đã cướp được nước Nam, mà mình lại được cái tiếng thơm để lại nghìn thu. Nhưng vì cái lòng tham xui khiến, hễ đã có thế lực là sinh ra bụng muốn tranh quyền, cướp nước. Bởi thế Hồ Quý Ly mới làm sự thoán đoạt, và nhà Minh mới có cái cớ mà sang đánh lấy nước An Nam. Cũng vì cái cớ ấy, cho nên lòng người mới bỏ họ Hồ mà đem theo giặc, để đến nỗi cha con họ Hồ thua chạy, bị bắt, phải đem thân đi chịu nhục ở đất nước người !”

Các sách xưa không tiếc lời chỉ trích Hồ Quý Ly là vì sao? Là bởi Hồ Quý Ly đã làm việc mà luân lý Nho giáo đương thời coi là “đại nghịch bất đạo”, tức là bề tôi mà cướp ngôi vua. Thêm nữa, Hồ Quý Ly đã chịu tội cướp ngôi, lại chịu thêm tội danh làm mất nước. Tuy nhiên, thử thoát khỏi lối tư duy Nho giáo mà suy xét, có đôi điều cần nhìn nhận lại.

Điều cần xét lại đầu tiên, trách nhiệm của việc để mất nước không phải chỉ một mình triều nhà Hồ phải chịu. Đất nước đã suy yếu từ rất lâu trước khi Hồ Quý Ly nắm quyền bính, do những cuộc đấu đá nội bộ và sự điều hành yếu kém, sai lầm của các vua cuối đời Trần. Hồ Quý Ly chuyên chính, phần nào đã giúp đất nước giải quyết được khủng hoảng, đáng kể nhất là lấy lại được thế thượng phong khi đối đầu với nước Chiêm Thành. Kinh tế, quân sự thời nhà Hồ vượt trội hơn hẳn cuối thời Trần. Quân Đại Ngu đủ sức khiến nước Chiêm Thành phải cắt đất cầu hòa, chấp nhận triều cống. Đó là điều mà quân Đại Việt cuối thời Trần không bao giờ làm nổi.

Điều thứ hai cần nhìn nhận lại, nếu xét theo quan niệm “chính danh” của Nho gia thì ở nước ta, những triều đại rực rỡ cũng không đáp ứng được tiêu chí “chính danh”. Đinh Tiên Hoàng nhân lúc trung ương suy yếu mà khởi binh ở Hoa Lư, chống nhau với Ngô vương. Trên thực tế, thế lực họ Đinh là sứ quân nổi lên đầu tiên, tức là người khởi loạn chứ không phải chờ các sứ quân khác làm loạn rồi mới ra quân dẹp loạn như một số sách viết theo lối thần tượng hóa nhân vật lịch sử.Đinh Tiên Hoàng cuối cùng thống nhất các sứ quân mà lên ngôi. Lê Đại Hành, Lý Thái Tổ đều là quyền thần có được ngôi vị nhờ vào vây cánh ủng hộ. Lê Đại Hành nằm quyền quân đội, Lý Thái Tổ thao túng cả triều đình. Nhà Trần lên ngôi cũng do Trần Thủ Độ sắp xếp, họ Trần từng bước nắm hết quyền lực của họ Lý, khi đổi ngôi đã giết hại rất nhiều tôn thất nhà Lý.

Vậy điều khác biệt là ở đâu? Là những họ kia dù cướp ngôi nhưng lập được chiến công chống giặc ngoại xâm, hay có đức dày tạo phúc cho dân nên từ chỗ không “chính danh”, đều trở thành “hợp với mệnh trời”. Còn riêng họ Hồ đã không hoàn thành được sứ mệnh lịch sử, nên bị công luận lên án gay gắt là vậy.

Với luồng tư tưởng mới, sử sách hiện đại có cách nhìn nhận có phần khác biệt các sách sử xưa. Sách Đại cương Lịch sử Việt Nam của Nhà xuất bản Giáo dục nhận xét: “Mong sớm giải quyết cuộc khủng hoảng trước nguy cơ ngoại xâm đang đến gần, Hồ Quý Ly đã tiến hành cuộc cải cách về mọi mặt, thậm chí giành lấy ngôi vua, lập triều đại mới để cải cách. Nhà Hồ đã làm được một số việc phù hợp với yêu cầu chung của xã hội ta hồi ấy nhưng lại không xoa dịu được mâu thuẫn sâu sắc vốn có. Một số hành động đàn áp, tàn sát do việc chuyển đổi triều đại gây ra lại tạo thêm khó khăn cho việc giải quyết những mâu thuẫn nói trên…”

Học giả Lê Thành Khôi trong sách Lịch Sử Việt Nam Từ Nguồn Gốc Đến Thế Kỷ 20 một mặt đánh giá rằng việc thoán đoạt ngôi vua của Hồ Quý Ly đã tạo cớ cho Trung Quốc xâm lược, nhưng mặt khác vẫn dành những mục dài để viết về sự thối nát cuối thời Trần, coi sự sụp đổ của triều đại này là một điều tất yếu. Lê Thành Khôi cũng đánh giá Hồ Quý Ly là một “chính trị gia có đầu óc”đã có nhiều cố gắng và ghi nhận một số thành tựu đáng kể của nhà Hồ trong việc cải thiện kinh tế xã hội.

Như vậy, trong khi sử sách phong kiến coi Hồ Quý Ly thuần túy là một con người vì lòng tham mà thoán đoạt ngôi vua thì sử sách của thời đại mới lại nhìn nhận Hồ Quý Ly là một nhà cải cách đã bị buộc phải dùng đến biện pháp mạnh nhất là giành lấy ngôi vị để cải cách. Đó là công luận các thời kỳ, các độc giả có thể tham khảo để rút ra chính kiến của riêng mình. Tuy nhiên, dù có bào chữa như thế nào thì nhà Hồ cũng không tránh khỏi tội danh làm mất nước vào tay ngoại bang, một lần nữa đẩy dân tộc ta vào ách đô hộ phương bắc. Lần đô hộ này, dân tộc Việt đã chịu nhiều mất mát về con người, của cải, thành tựu văn hóa…

Tuy nhiên, với sức sống của một dân tộc đang vươn lên mạnh mẽ, tổ tiên của chúng ta đã một lần nữa chứng minh ý chí và sức mạnh trước quân xâm lược. Những năm quân Minh chiếm đóng nước ta cũng là những năm ròng chiến đấu không ngơi nghỉ. Quân giặc sẽ còn đổ tốn nhiều xương máu cho tới khi hoàn toàn thất bại.

Quốc Huy/Một Thế Giới

Kháng Minh Truyền Kỳ ( Phần 1 ) – Kỳ 13 : Nhà Hồ diệt vong và các lực lượng cuối cùng của Đại Ngu

Kháng Minh Truyền Kỳ ( Phần 1 ) – Kỳ 13 : Nhà Hồ diệt vong và các lực lượng cuối cùng của Đại Ngu

Kỳ 12

1. Nhà Hồ diệt vong:

Do mắc phải liên tiếp nhiều sai lầm về chiến thuật, chiến lược mà sau trận Hàm Tử kết thúc, triều nhà Hồ hầu như không còn cơ sở để lật ngược tình thế. Chẳng những các lực lượng tinh nhuệ, đông đảo nhất đã bị đánh tan, thuyền bè vũ khí mất mát lớn mà điều nguy hiểm không kém là tinh thần quân đội đã tụt dốc nghiêm trọng. Thêm vào đó, lòng dân lại không ủng hộ triều đình nhà Hồ do những việc làm mất lòng dân trước đó.

Hồ Quý Ly cùng các tướng vượt biển về lại Tây Đô, cố gắng gượng chống đỡ. Vua tôi nhà Hồ chỉ còn hy vọng vào sự kiên cố của thành Tây Đô và các đồn trại ở Thanh Hóa mà toan cố thủ. Hồ Quý Ly lại sai người mang thư báo cho An phủ sứ lộ Thăng Hoa là Hoàng Hối Khanh ở biên thùy phía nam, lệnh cho Hoàng Hối Khanh đem những di dân khi trước đã phái vào nam khai khẩn đất đai cùng với binh lính địa phương gộm lại, giao cho Tả châu phán Nguyễn Rỗ ở Thăng Hoa chỉ huy để làm quân Cần vương (tức quân giúp vua lúc nguy nan), phong Cổ Lũy huyện thượng hầu Chế Ma Nô Đà Nan (vua cũ của Chiêm Thành, bị lật đổ và theo hàng Đại Ngu) làm Thăng Hoa quận vương để kêu gọi dân Chăm quy phục triều đình nhà Hồ.

Quân dân biên thùy phía nam ít ỏi, vốn không so bì được với lực lượng mạnh mà nhà Hồ đã để tổn thất trước đó. Tuy nhiên đây là sự lực lượng cuối cùng mà Hồ Quý Ly có thể trông cậy vào. Nhưng rốt cuộc việc này cũng không thành. Hoàng Hối Khanh trước lo việc biên giới lỡ cắt nhượng cho giặc quá nhiều đất, bị Hồ Quý Ly nhục mạ không tiếc lời, nhưng sau lại giao cho trọng chức ở phương nam. Hoàng Hối Khanh còn nhớ mối nhục cũ, vốn trong lòng không phục Hồ Quý Ly mà chỉ muốn tự mình tìm minh chủ khác đảm đương việc chống giặc nên giấu thư đi, không cho các quan chức khác biết. Đó thực là đã cố ý đẩy hai vua họ Hồ vào đường chết.

Một khi lòng người đã ly tán thì mọi kế hoạch đều khó lòng thực hiện được. Tháng 5.1407, sau khi ổn định lại lực lượng và tiến hành mua chuộc các tầng lớp nhân dân ở vùng đồng bằng trung châu (vùng quanh Thăng Long), Trương Phụ dốc toàn lực tấn công vào Thanh Hóa. Thuyền quân Minh vượt biển đánh vào Lỗi Giang (Vĩnh Lộc, Thanh Hóa). Quân Đại Ngu nhác trông thấy bóng quân Minh đã sợ hãi, không đánh mà tự tan. Quân Minh đánh vào cửa biển Điền Canh, quân tướng Đại Ngu cũng nhanh chóng bỏ thuyền chạy. Đến đây thì có thể thấy, đại đa số lực lượng thuộc quân đội của nhà Hồ đã không còn tinh thần chiến đấu nữa, hễ gặp giặc là bỏ chạy. Thượng hoàng Hồ Quý Ly cùng vua Hồ Hán Thương dẫn lực lượng nhỏ bé còn lại lánh ra Thâm Giang (sông Ngàn Sâu, Hà Tĩnh), thấy địa thế bất lợi không thể phòng thủ, định chạy vào Nghệ An.

Lúc này tướng nhà Hồ là Ngụy Thức cùng kế, thấy không còn hy vọng nên xin vua và Thượng hoàng nên tự thiêu. Ngụy Thức nói với Hồ Quý Ly: “Nước đã sắp mất, bậc vương giả không chết bởi tay kẻ khác”. Căm giận vì lời nói của Ngụy Thức, Hồ Quý Ly sai chém chết. Sau đó, Hồ Quý Ly lại dẫn quân chạy vào Nghệ An. Binh lính, quan lại rơi rớt dọc đường, nhiều người đầu hàng giặc, một số khác thất lạc nhau trên đường hành quân. Càng gần cuối cuộc chiến, quân đội nhà Hồ càng tỏ rõ là một đội quân yếu kém về tổ chức. Một số kẻ vì tham công, tiếc mạng lại tình nguyện dẫn đường cho giặc lùng bắt hoàng tộc nhà Hồ.

Về phía quân Minh, bọn tướng lĩnh rất hăng máu và quyết tâm cao độ để lập “kỳ công”. Trương Phụ sau khi chiếm được thành Tây Đô và kiểm soát được Thanh Hóa, bèn mở một cuộc hành quân lớn đánh vào Nghệ An, quyết vây bắt bằng được vua tôi nhà Hồ. Trương Phụ cùng Mộc Thạnh dẫn bộ binh tiến vào Nghệ An, Liễu Thăng chỉ huy binh thuyền tiến theo đường thủy. Quần thần trong triều gồm Trần Nhật Chiêu, Nguyễn Phi Khanh, Nguyễn Cẩn, Đỗ MãnThượng… thế bức bách đều phải đầu hàng quân Minh. Thượng hoàng Hồ Quý Ly chạy đến cửa biển Kỳ La (thuộc Kỳ Anh, Hà Tĩnh ngày nay) thì bị giặc đuổi theo kịp. Quân nhà Hồ chẳng mấy chốc tan vỡ, Hồ Quý Ly bị giặc bắt. Vua Hồ Hán Thương dẫn Thái tử Hồ Nhuế chạy đến núi Cao Vọng (thuộc Kỳ Anh, Hà Tĩnh) thì cũng sa lưới quân giặc. Các quan tướng cao cấp là Tả tướng quốc Hồ Nguyên Trừng, Hữu tướng quốc Quý Tì, Phán trung đô Vô Cửu, tướng quân Hồ Đỗ, Nguyễn Lục Tài, Nguyễn Nghiện Quang, Đoàn Bồng… đều lần lượt bị bắt cả. Hành khiển tham tri chính sự Ngô Miễn, Trực trưởng Kiều Biểu nhảy sông tự sát. Triều đình nhà Hồ đến đây coi như bị diệt. Tuy nhiên ở các vùng phía nam vẫn còn các lực lượng Đại Ngu tiếp tục chiến đấu một thời gian.

 

2. Các lực lượng cuối cùng của nước Đại Ngu:

Trong khi quân Minh đánh diệt nhà Hồ từ phía bắc thì ở các châu phía nam, một số tướng lĩnh Đại Ngu đang phải đối phó với quân Chiêm Thành thừa cơ hội đánh ra lấn đất. An phủ sứ Hoàng Hối Khanh bấy giờ là viên quan có quyền hành cao nhất, phục trách mọi việc ở lộ Thăng Hoa (Quảng Nam ngày nay) và trấn Tân Ninh (thuộc Quảng Nam). Đặng Tất làm Đại tri châu, cùng với Phạm Thế Căng làm tâm phúc cho Hoàng Hối Khanh. Nguyễn Cảnh Chân làm An phủ sứ trấn Tân Ninh phụ trách vùng rừng núi. Nguyễn Rỗ cũng là một tướng có thực lực trong vùng, nhưng hay tị hiềm với Đặng Tất vì ghen ghét công trạng của nhau. Chế Ma Nô Đà Nan đóng quân trấn giữ tại châu Tư Nghĩa (Quảng Ngãi ngày nay), là nơi cực nam của nước Đại Ngu thời kỳ này.

Vua Chiêm là Ba Đích Lại đem quân tấn công vào châu Tư Nghĩa thuộc lộ Thăng Hoa, do Chế Ma Nô Đà Nan trấn thủ. Hoàng Hối Khanh cùng Đặng Tất, Nguyễn Rỗ đem quân vào cứu viện. Sau thế quân Chiêm quá mạnh, dân Việt vào khai khẩn từ trước phần nhiều bỏ chạy về bắc. Hoàng Hối Khanh, Đặng Tất, Nguyễn Rỗ cũng rút lui bỏ mặc Chế Ma Nô Đà Nan bị vây khốn. Quân Chiêm chiếm được châu Tư Nghĩa, Chế Ma Nô Đà Nam cô thế bị giết. Chiêm Thành thừa thế chiếm luôn Thăng Hoa, các lực lượng cuối cùng của nước Đại Ngu phải kéo nhau rút dồn về Hóa Châu, Tân Bình, bị kẹp giữa quân Minh và quân Chiêm Thành.

Tại thành Hóa Châu (Huế ngày nay), tướng trấn thủ là Nguyễn Phong thấy đoàn thuyền chở quân của Đặng Tất bỏ biên cương chạy về nên đóng cửa thành không cho vào. Đặng Tất thúc quân đánh chiếm luôn thành trì, giết chết Nguyễn Phong. Vì ở xa triều đình trung ương, tin tức không thông, lại trong tình thế hỗn loạn nên các tướng lĩnh vùng phía nam đã trở thành các thế lực cát cứ vô tổ chức, mạnh ai người nấy giữ lấy quân của mình. Nguyễn Rỗ cùng các di dân đi đường bộ nên đến chậm, không chịu sát nhập lực lượng với Đặng Tất mà cùng nhau tranh cướp thành trì. Đặng Tất ở trong thành cố thủ, đánh nhau với Nguyễn Rỗ hơn 1 tháng. Nguyễn Rỗ ở ngoài thành không có tiếp viện, phải đem gia quyến đầu hàng Chiêm Thành.

Phạm Thế Căng đem quân về Tân Bình thì hay tin cha con Hồ Quý Ly đều đã bị bắt, bèn ra Nghệ An đầu hàng quân Minh, chỉ điểm cho Trương Phụ, Mộc Thạnh vào đánh Hóa Châu. Đặng Tất ở Hóa Châu, nam thì Chiêm Thành đánh lên, bắc thì quân Minh đánh xuống, liệu thế không chống cự nổi cũng đành chịu đầu hàng quân Minh, xin với Trương Phụ được làm quan cai quản Hóa Châu, thực ra là ẩn nhẫn chờ đợi thời cơ về sau. Trương Phụ lúc này cũng muốn tranh thủ mua chuộc các thế lực tướng lĩnh, quan lại nên đã đồng ý. Đặng Tất hàng Minh rồi, cho người đem Hoàng Hối Khanh giải về Đông Đô làm tin. Hoàng Hối Khanh đến cửa biển Đan Thai (cửa Hội, Nghệ An) thì nhảy xuống biển tự vẫn. Trương Phụ vẫn không chịu buông tha ông, sai người vớt xác chặt đầu bêu ở chợ Đông Đô.Việc Đặng Tất đầu hàng Trương Phụ chỉ là khổ nhục kế, là bước nhẫn nhịn nhất thời. Trên thực tế ông vẫn nắm giữ lực lượng của mình, về sau là nòng cốt quan trọng để tiếp tục chống lại quân Minh. Về phần Nguyễn Cảnh Chân lúc này cũng phải cho hàng ngũ tan rã, sống ẩn dật chờ đợi thời cơ, tìm bạn đồng chí để cùng mưu sự về sau.

Như vậy là các lực lượng cuối cùng của nước Đại Ngu trước sức ép của quân Minh và quân Chiêm Thành cũng đều phải tan rã hoặc theo hàng giặc. Tuy nhiên, tình hình sẽ hoàn toàn không như ý định của quân Minh xâm lược. Việc tiêu diệt được triều đình nhà Hồ không có nghĩa là chúng đã bình định được nước ta. Quân giặc không đủ khả năng dập tắt được các sự kháng cự ở rải rác khắp cả nước và không thể bóp chết được các mầm yêu nước trong nhân dân. Nước Đại Ngu không còn, nhưng dân tộc Việt vẫn còn. Cuộc kháng chiến chống quân Minh của dân tộc Việt vẫn chỉ mới ở giai đoạn đầu.

 

Quốc Huy/Một Thế Giới

Kháng Minh Truyền Kỳ ( Phần 1 ) – Kỳ 12 : Trận Hàm Tử Quan, nhà Hồ một trận dốc túi

Kháng Minh Truyền Kỳ ( Phần 1 ) – Kỳ 12 : Trận Hàm Tử Quan, nhà Hồ một trận dốc túi

Kỳ 11

Thành quả phát triển qua hàng trăm năm đã cho phép dân tộc Việt đầu thế kỷ 15 có được tiềm lực dồi dào hơn trong chiến tranh. Điều đó có nghĩa là quân đội Đại Ngu có thể chịu đựng những thiệt hại lớn hơn các đội quân người Việt trong quá khứ mà vẫn có được lực lượng đủ để chiến đấu và giành chiến thắng với giặc. Khi quân Minh gặp bất lợi phải lui về giữ Hàm Tử quan, Hồ Nguyên Trừng nhân đà thuận lợi tiến quân chiếm đóng trở lại căn cứ Hoàng Giang. Hai đội quân giữ thế gườm nhau, chuẩn bị cho một trận quyết chiến tiếp theo.

Tại Hàm Tử, quân Minh vẫn còn lực lượng rất mạnh với mười mấy vạn quân và nhiều chiến thuyền. Trong số các thuyền chiến có nhiều chiếc là chiến lợi phẩm thu được của quân Đại Ngu qua các trận chiến trước. Quân Minh còn bắt trai tráng nước ta bổ sung vào lực lượng đã bị thiệt hại. Ngụy binh trong hàng ngũ giặc không có lòng chiến đấu, chỉ chực chờ rút chạy hoặc đào ngũ. Tuy nhiên, tướng lĩnh nước Minh rất thạo việc cưỡng bức quân lính chiến đấu, ngụy binh do đó mà không có nhiều cơ hội thoát khỏi sự kìm kẹp của giặc, phải cầm vũ khí chống lại chính đất nước của mình.

Về phần quân Đại Ngu ở Hoàng Giang, quân số của ta ít hơn giặc rất nhiều. Hồ Nguyên Trừng hội quân các nơi về, tất cả được 7 vạn quân, nói phao lên là 21 vạn. Bù lại, quân ta có rất nhiều thuyền bè, khí giới. Hàng trăm chiến thuyền hai tầng bong có vỏ ngoài đóngđinh sắt to lớn “Tải lương cổ lâu”, cùng với thuyền đóng đinh sắt “Tải lương trung tàu” tập trung ở căn cứ Hoàng Giang. Binh lực của nhà Hồ thực sự vẫn đủ sức chống cự với giặc nếu như các tướng lĩnh biết cách dùng quân đúng đắn, quân lính dũng cảm diệt giặc.

Tháng 4.1407, Tả tướng quốc Hồ Nguyên Trừng quyết định chủ động mở cuộc phản công lớn để giành chiến thắng. Các đại tướng nhà Hồ chia quân từ Hoàng Giang đến đánh Hàm Tử. Hồ Xạ, Trần Đĩnh cầm quân bộ men theo bờ nam sông tiến lên. Bên bờ bắc, quân bộ do hai tướng Đỗ Nhân Giám, Trần Khắc Trang chỉ huy. Thủy quân tiên phong gồm 100 chiến thuyền đặt dưới quyền chỉ huy của Nguyễn Công Chửng. Hồ Nguyên Trừng, Hồ Đỗ cùng với các tướng Đỗ Mãn, Hồ Vấn chỉ huy trung quân là các chiến thuyền chủ lực theo sau đạo thủy quân tiên phong. Quân Đại Ngu tiến rầm rộ, thuyền chiến chắn ngang dày kín cả con sông, kéo dài hơn 10 dặm, khí thế rất hùng hổ.

Quân Minh ở cửa Hàm Tử do thám biết được quân Đại Ngu tấn công, chúng bèn chia quân làm hai đạo thủy bộ mai phục chờ sẵn. Quân Đại Ngu tuy mạnh về vũ khí nhưng kỷ luật kém, hành quân được một quãng thì đâm ra trễ nải. Quân Minh thừa cơ hội, phục binh từ hai bên bờ sông nhất tề xông ra tấn công. Quân bộ Đại Ngu ở bờ bắc đụng trận với giặc trước, quân lính không chống nổi, hàng ngũ rối loạn, bị địch lùa xuống sông chết rất nhiều. Thủy quân ở dưới sông cố sức cầm cự với quân Minh, hai bên kịch chiến đẫm máu. Hồ Xạ chỉ huy quân bộ ở bờ nam tiến quân chậm ở phía sau, hay tin quân ta trúng mai phục, dùng dằn chưa dám tiến quân. Hồ Đỗ sai người trách bảo: “tướng quân sao không đánh giặc”. Hồ Xạ lúc ấy mới thúc quân tiến lên. Nhưng khi Hồ Xạ chưa kịp đến thì thế trận đã định.

Thủy quân Đại Ngu sau một hồi giao chiến cũng không cầm cự nổi, nối nhau tan vỡ. Các chiến thuyền Tải Lương đều bị đánh chìm, mang theo những đơn vị thủy quân tinh nhuệ của nhà Hồ bỏ mình nơi đáy nước. Chỉ có lực lượng thủy quân theo sau là chạy thoát được cùng với các chủ tướng. Quân của Hồ Xạ đến nơi muộn màng cũng nhanh chóng bị đánh thua, An phủ sứ Bắc Giang là Nguyễn Hi Chu bị giặc bắt sống. Bị giải đến doanh của Trương Phụ, Hi Chu không ngớt lời chửi mắng. Phụ tức giận, sai đem giết.

Chủ trương chủ động tấn công địch của Hồ Nguyên Trừng không tệ, nhưng trận Hàm Tử thất bại là do những sai lầm cơ bản. Quân nhà Hồ đã để lộ quân cơ quá sớm, khiến cho giặc có thời gian bố trí trận địa mai phục chờ sẵn. Khi hành quân, tướng giỏi sẽ biết dùng du binh đi trước do thám bốn mặt rồi đại quân mới theo sau. Hồ Nguyên Trừng hành quân rầm rộ nhưng thiếu tin tức của du binh, để toàn quân bị tấn công bất ngờ, đó là do thiếu cẩn trọng. Quân Đại Ngu gặp mai phục thì hoảng loạn nhanh, sách Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục chép tình cảnh thời bấy giờ “Quân bộ của nhà Hồ không thể đối địch được, cùng nhau trốn chạy, gặp phục binh nhà Minh, đều quay giáo, nhảy xuống sông chết”. Điều này một lần nữa cho thấy kỷ luật kém, tinh thần chiến đấu kém của quan quân nhà Hồ.

Việc Hồ Xạ hiệp đồng tác chiến chậm càng làm quân Đại Ngu gặp bất lợi, chứng tỏ rằng các tướng lĩnh nhà Hồ không có một đường lối chung trong phương thức tác chiến nên khi gặp các tình huống bất ngờ ngoài chiến trường thì không biết ứng biến như thế nào cho đúng. Những sự yếu kém này lỗi lầm sâu xa là do đường lối quân sự sai lầm của Thượng hoàng Hồ Quý Ly và vua Hồ Hán Thương. Họ chú trọng vũ khí, quân số mà rèn quân luyện tướng kém, các tướng soái được giao trọng trách chỉ là những người có năng lực trung bình hoặc kém, hoàn toàn không phải đối thủ của những tướng xảo quyệt của giặc Minh là Trương Phụ, Mộc Thạnh …

Trận Hàm Tử đã đánh dấu một giai đoạn mới của cuộc chiến tranh. Quân Đại Ngu sau trận này đã mất đi những thành phần dự bị chiến lược quan trọng nhất, hầu như không còn đủ sức gượng dậy nổi. Quân Minh một mặt ra sức truy kích họ Hồ mặt khác tiến hành các bước chuẩn bị sát nhập nước ta thành quận huyện của nước Minh. Trương Phụ cùng bọn Việt gian đã phối hợp cùng nhau dựng lên một màn kịch để hợp thức hóa việc xóa sổ nước ta. Giặc Minh vờ truyền lệnh tìm con cháu họ Trần để lập làm vua. Bọn Mạc Thúy cùng đám bán nước tiếm xưng là “kỳ lão nước An Nam” dâng sớ tâu: “Họ Trần không còn người nào có thể thừa kế được. An Nam nguyên trước là Giao Châu, xin khôi phục lại chế độ quận huyện, cho dân được đổi mới” !!! Trương Phụ mới nhân đó tâu về với vua Minh, chuẩn bị hoàn tất kế hoạch cướp nước của chúng.

Quan quân nhà Hồ sau khi thua trận tan tác, chia làm nhiều hướng mà rút chạy, nhiều nhánh quân hoàn toàn tan rã. Hồ Quý Ly, Hồ Hán Thương theo đường sông Đáy vượt biển rút về Thanh Hóa. Giặc Minh thúc quân đuổi gấp đêm ngày, tình cảnh vô cùng khốn đốn.

 

Quốc Huy/Một Thế Giới