Chiến tranh Đại Cồ Việt – Đại Lý thời vua Lý Thái Tổ – Kỳ 2 : Chiến công của hoàng tử

Chiến tranh Đại Cồ Việt – Đại Lý thời vua Lý Thái Tổ – Kỳ 2 : Chiến công của hoàng tử

Xem kỳ 1

Cuộc thân chinh của vua Lý Thái Tổ năm 1013 dù dễ dàng chiến thắng nhưng không đạt được mục tiêu triệt để. Tù trưởng Hà Trắc Tuấn tuy trốn tránh nhưng vẫn bảo toàn được lực lượng. Quân Đại Cồ Việt đứng trước nguy cơ vướng vào một cuộc chiến tiêu hao lâu dài với các sắc dân thiểu số.

Không thể đóng quân lâu dài nơi rừng núi, Lý Thái Tổ quyết định rút quân về đồng bằng dưỡng sức, chuẩn bị cho những biến cố về sau. Quả nhiên sau đó không lâu, quân giặc mạnh đã đến. Tháng giêng năm 1014, quân Đại Lý dưới do các tướng Dương Trường Huệ, Đoàn Kính Chí rầm rộ tiến sang, chính thức mở màn cuộc xâm lược nước Đại Cồ Việt. Theo sử cũ là Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, đoàn quân này đông đến 20 vạn người. Nhưng theo sách An Nam Chí Lược dẫn lời thư của vua Lý Thái Tổ gửi cho nước Tống thì quân Đại Lý chỉ có 3 vạn người. Vậy đâu là con số đáng tin?

Nếu tính theo tỷ lệ thông thường thời kỳ này là khoảng 3-4 dân phu cho một người lính viễn chinh, có thể suy ra quân số thực của Đại Lý là khoảng 4-5 vạn quân chiến đấu, 15-16 vạn dân phu. Trong thành phần đội quân Đại Lý, ngoài người Hạc Thác có 3 vạn, còn có số quân liên minh người Tày, Nùng, Thái… chiếm khoảng 1-2 vạn quân. Con số này phù hợp với tính chất của cuộc chiến là đánh lấn đất ngoài biên giới, mở rộng vùng ảnh hưởng và cướp bóc chứ không phải một cuộc chiến tổng lực nhằm thôn tính toàn bộ nước Đại Cồ Việt.

Thế mạnh của quân Đại Lý nằm ở chỗ họ có rất nhiều ngựa chiến, tức là có nhiều kỵ binh, cùng với nguồn hậu cần dồi dào. Nguyên nước Đại Lý thời kỳ là vương quốc buôn bán ngựa nổi danh trong khu vực. Ngựa Đại Lý được cho là tốt nhất trong các nước phương nam. Ngoài các lợi thế trên, quân Đại Lý còn có được sự ủng hộ của không ít dân Tày, Nùng, Thái trong vùng nhờ vào các mối quan hệ buôn bán trước đó và sự gần gũi về phong tục, ngôn ngữ.

Khi thấy giặc tiến sang, châu mục Bình Nguyên (thuộc Hà Giang ngày nay) là Hoàng Ân Vinh cho người chạy trạm cấp báo về thành Thăng Long. Lý Thái Tổ, tức vua Lý Công Uẩn được tin, bèn phái Dực Thánh Vương (không rõ tên thật) – vị hoàng tử thứ năm của nhà vua cầm hàng vạn quân đi đánh giặc. Quân Đại Cồ Việt có lợi thế lớn ở tượng binh, bộ binh thì dũng cảm và có nhiều kinh nghiệm trận mạc. Kỵ binh nước ta trước đó ít và yếu hớn nước Đại Lý, nhưng đã được tăng cường đáng kể nhờ vào nguồn ngựa bắt được từ chính những thương nhân Đại Lý vào năm 1012.

Quân Đại Lý tiến quân đóng ở bến Kim Hoa, châu Vị Long, lập doanh trại gọi là trại Ngũ Hoa để chờ quân Đại Cồ Việt đến. Quân Đại Lý không cần tiến nhanh như gió bão, mà chỉ mong chiếm cứ lấy phần đất biên giới. Việc quân Đại Lý đóng trại không tiến cùng với sự đồng tình của một bộ phận không nhỏ dân cư vùng biên viễn đã phần nào tăng thêm phần khó khăn cho quân Đại Cồ Việt. Giặc tuy là quân đi xâm lấn, nhưng lại giữ được thế nhàn. Quân ta là bên giữ đất nhưng trở thành kẻ phải chịu nhọc. Điều này đặt ra cho quân Đại Cồ Việt hai lựa chọn: một là phải chủ động tiến đánh quân Đại Lý lúc này đang ở thế thủ chờ sẵn, hai là chấp nhận mất đất vào tay Đại Lý.

Dực Thánh Vương kéo quân đến Vị Long, không ngần ngại cho quân tấn công vào trại quân Đại Lý. Đoàn Chí Kính, Dương Trường Huệ cũng dàn quân ra ứng chiến. Hai bên đánh nhau một trận lớn Mao Lâm. Quân Đại Lý dù có kỵ binh mạnh nhưng không chống nổi voi ngựa, cung nỏ của quân Đại Cồ Việt, phải tan chạy. Dực Thánh Vương thúc quân truy kích, bắt sống được tướng Dương Trường Huệ, chém hàng vạn quân Đại Lý. Đoàn Kính Chí cùng đám tàn quân và dân phu bỏ chạy thục mạng về nước, để lại hàng vạn ngựa chiến, vô số khí giới, lương thực… Tất cả đều trở thành chiến lợi phẩm cho nước Đại Cồ Việt.

Sau trận đại thắng, vua Lý Thái Tổ liền sai viên ngoại lang Phùng Chân cùng Lý Thạc đi sứ sang Tống, tặng 100 con ngựa chiến và báo tin thắng trận cho nước Tống biết. Việc ngoại giao này vừa để thể hiện thiện chí, vừa tỏ rõ cho người Tống thấy sự hùng cường của nước Đại Cồ Việt mà thôi không nhòm ngó. Ngoài ra, cũng là để gián tiếp kìm chế nước Đại Lý bởi vì ngoài Đại Cồ Việt thì nước Tống cũng là thế lực mà Đại Lý phải đề phòng. Nước Đại Lý vừa hao binh tổn tướng và nước Tống đã biết điều đó, buộc Đại Lý phải sắp đặt quân đội chuyển sang thế thủ chứ không thể nghĩ đến việc trả đũa.

Tống Chân Tông biết tin Đại Cồ Việt đánh thắng Đại Lý, lòng vừa phục vừa ái ngại. Để đáp lễ, vua Tống hết mực khoản đãi sứ giả. Từ lúc vào địa giới Tống cho đến kinh thành Khai Phong, phía Tống đài thọ tất cả chi phí. Khi sứ bộ Phùng Chân vào chầu, vua Tống ban nhiều mũ, đai, đồ dùng, lụa là tùy theo thứ bậc từng người. Sau việc đi sứ này, quan hệ Đại Cồ Việt và Tống trở nên êm thắm một thời gian, phần vì thiện chí của vua ta, phần vì nước Tống đã biết binh uy nước Đại Cồ Việt vẫn hùng mạnh sau cuộc đổi ngôi. Không như trước đó, Tống Chân Tông vẫn hục hặc với nhà Lý vì cho rằng Lý Thái Tổ là kẻ cướp ngôi.

Sau trận chiến này, người Đại Lý không còn dám bén mảng đến vùng biên thùy nước Đại Cồ Việt nữa. Thừa thế thắng, vương triều Lý cố gắng thiết lập lại nền cai trị chặt chẽ hơn đối với vùng tây bắc. Những tù trưởng người Di Lão muốn ly khai khỏi Đại Cồ Việt mất đi thế lực chống lưng trở nên yếu ớt, một số đành chấp nhận quy phục, một số khác cố gắng liên kết lại để phản kháng đều bị triều đình nhà Lý đều quân mạnh đi đánh dẹp. Năm 1015, liên minh các bộ lạc do tù trưởng Hà Trắc Tuấn nổi lên ở các châu Đô Kim, Vị Long, Thường Tân, Bình Nguyên, quyết trận sống mái với triều Lý hòng lập nên một cõi giang sơn riêng. Vua Lý Thái Tổ sai hai hoàng tử là Dực Thánh Vương, Vũ Đức Vương dẫn quân đi đánh. Hà Trắc Tuấn binh ít thế cô không thể địch nổi. Quân đội nhà Lý đánh tan tác đạo quân người dân tộc thiểu số, bắt sống Hà Trắc Tuấn giải về kinh đô Thăng Long, chém đầu bêu ở cửa đông thành.

Cuộc chiến với nước Đại Lý tuy sử liệu còn ít ỏi và ít được nhắc đến trong sử sách hiện đại, nhưng cùng đóng vai trò quan trọng trong việc định hình nên lãnh thổ nước Việt Nam. Nhờ vào chiến thắng trước quân Đại Lý, nhà nước quân chủ của người Việt đã tiến thêm một bước trong việc kiểm soát lãnh thổ vùng tây bắc, góp phần đưa các sắc dân nơi đây vào một quỹ đạo chung của triều đình Thăng Long. Chiến công này là một trong những nền tảng đầu tiên, cùng với những biện pháp hôn nhân, phủ dụ của các đời vua Lý về sau nữa, nước Đại Cồ Việt – Đại Việt dần có được một vùng biên giới tây bắc yên ổn để từ đó huy động sức người sức của vào các cuộc chiến chống ngoại xâm. Khi quân giặc từ phương bắc tiến sang, vùng tây bắc trở thành một vùng đệm che chở cho trung châu nước Việt.

Quốc Huy/Một Thế Giới

Chiến tranh Đại Cồ Việt – Đại Lý thời vua Lý Thái Tổ – Kỳ 1 : Nước Đại Lý và mâu thuẫn với Đại Cồ Việt

Chiến tranh Đại Cồ Việt – Đại Lý thời vua Lý Thái Tổ – Kỳ 1 : Nước Đại Lý và mâu thuẫn với Đại Cồ Việt

Đầu thế kỷ 11, khi mà nước Đại Cồ Việt vừa trải qua cuộc đổi ngôi từ họ Lê (tức nhà Tiền Lê) sang họ Lý, khi kinh thành Thăng Long mới vừa bước sang tuổi thứ tư với hàng loạt công trình đang xây dựng, một cuộc chiến tranh đã nổ ra với quy mô hàng chục vạn người. Chiến tranh giữa nước Đại Cồ Việt thời vua Lý Thái Tổ Lý Công Uẩn và vương quốc Đại Lý là cuộc chiến mà ngày nay khá nhiều người trong chúng ta chưa được biết rõ.

Đại Lý là quốc gia của các tộc người Bạch (còn gọi là người Hạc Thác), người Di Lão (Lô Lô, Tày, Nùng, Thái …) có lãnh thổ nằm ở phần đất mà ngày nay tương ứng với tỉnh Vân Nam, tỉnh Quý Châu, một phần tỉnh Tứ Xuyên thuộc nước Trung Quốc. Đại Lý được lập nên bởi Đoàn Tư Bình vào năm 937. Vương quốc này được coi là quốc gia kế thừa nước Nam Chiếu, được lập nên vào nửa đầu thế kỷ thứ 8. Trong thời kỳ Nam Chiếu, nước này liên tục tổ chức những cuộc chinh phạt mở rộng lãnh thổ ra các hướng. Nhiều lần quân Nam Chiếu đã đánh vào đất Giao Châu (tên lãnh thổ nước ta và một phần Quảng Tây thời Bắc thuộc), khiến quân Đường phải nhiều phen vất vả mới đánh lui nổi. Đến thế kỷ thứ 11, nước Đại Lý nổi lên như một thế lực hùng mạnh trong khu vực với nền nghệ thuật, tôn giáo, thương mại phát triển và quân sự cũng khá mạnh, đủ khiến các nước lân bang như Thổ Phồn, Pagan, Tống… đều phải dè chừng.

Mâu thuẫn giữa Đại Cồ Việt và nước Đại Lý bắt nguồn từ việc tranh giành ảnh hưởng ở vùng mà ngày nay là tây bắc nước Việt Nam. Vào khoảng thế kỷ thứ 11, vùng này là nơi sinh sống chủ yếu của người Tày, người Nùng, người Thái. Thời bấy giờ, người Việt và người Tống thường gọi chung các sắc dân vùng biên giới giữa hai nước là người Man, hoặc người Lý, người Lão. Nằm giữa ba trung tâm quyền lực mạnh là Đại Cồ Việt, Đại Lý và Tống, các tù trưởng trong vùng phải lựa chọn cho mình một phe để thần phục. Biên giới giữa Đại Cồ Việt, Đại Lý, Tống cũng chưa được định hình rõ ràng mà liên tục co duỗi, phụ thuộc vào tiềm lực và khả năng thu phục các tù trưởng người Nùng của các bên.

Trước khi vương triều Lý thành lập, kinh đô nước Đại Cồ Việt đặt tại Hoa Lư. Theo đó, trung tâm nước ta cũng là vùng ven biển phía đông đồng bằng sông Hồng. Lúc này nước Đại Cồ Việt vẫn đang trong thời kỳ quá độ từ phong kiến tản quyền lên nhà nước trung ương tập quyền, xu hướng ly khai của các thế lực cát cứ địa phương, các nhóm sắc tộc vẫn còn rất lớn. Các vua thường phải bận đi đánh dẹp liên miên trong nước. Do đó, việc cai trị ở các miền biên viễn phía tây bắc có phần lơi lỏng. Các tù trưởng ở các châu Vị Long (thuộc Chiêm Hóa, Tuyên Quang ngày nay), châu Đô Kim (thuộc Hàm Yên, Tuyên Quang ngày nay), châu Bình Nguyên (thuộc Hà Giang)… nắm quyền tự trị rất cao, tùy tiện quản lý địa hạt theo ý mình. Nhân đó, người Đại Lý thường xuyên xuất hiện trong các vùng ảnh hưởng của Đại Cồ Việt để trao đổi, buôn bán mà không thông qua triều đình nước ta. Nhiều phần đất ở vùng tây bắc dần dần trở thành vùng ảnh hưởng của nước Đại Lý trên thực tế.

Đến khi Lý Thái Tổ, tức vua Lý Công Uẩn lên ngôi, việc triều chính có nhiều biến chuyển mới. Thế nước Đại Cồ Việt dâng cao với kinh đô mới và một quân đội được tổ chức bài bản, chặt chẽ hơn trước. Việc trao các trọng trách về quân sự cho các thân vương, hoàng tử đã giúp vua Lý Thái Tổ dễ dàng hơn trong kiểm soát quân đội, ngăn ngừa nguy cơ phản loạn. Mệnh lệnh của vua được thông suốt từ trên xuống dưới. Bên cạnh đó, quân Đại Cồ Việt trong vốn thường xuyên phải đánh dẹp các lực lượng trong nước và đánh giặc ngoài (kháng chiến chống Tống 981, chiến tranh với Chiêm Thành những năm 982, 989 …) nên rất thiện chiến. Với sức mạnh và vị thế mới, triều đình Đại Cồ Việt không còn dễ dãi trong vấn đề biên giới như trước mà đã có những hành động cứng rắn đối với các tù trưởng khinh nhờn triều đình và cả người Đại Lý tự tiện xâm nhập vào vùng ảnh hưởng của mình.

Vào cuối năm 1012, Lý Thái Tổ được tin người Đại Lý đem ngựa đến buôn bán ở bến Kim Hoa, châu Vị Long rất đông đúc dưới sự bảo trợ của tù trưởng Hà Trắc Tuấn mà không xin phép triều đình Đại Cồ Việt. Để thể hiện uy quyền của triều đình, vua sai quân đến đánh bắt các thương nhân và tùy tùng người Đại Lý, tịch thu đến 1 vạn con ngựa. Sự kiện này ngoài việc thể hiện quyết tâm bảo vệ vùng ảnh hưởng của nước Đại Cồ Việt, còn là một sự thách thức công khai của đối với nước Đại Lý. Thông điệp của vua Lý Thái Tổ rất rõ ràng, rằng nước Đại Cồ Việt có đã đủ sức mạnh và quyết tâm để thẳng thừng đối đầu với Đại Lý, hòng bảo vệ đất đai và chủ quyền của mình.

Nước Đại Lý thời bấy giờ dưới sự cai trị của vua Tuyên Túc đế Đoàn Tố Liêm đang trong thời kỳ hưng thịnh, tất nhiên không dễ dàng bỏ qua chuyện này. Vua Đại Lý ngay sau đó đã chuẩn bị cho việc trả đũa. Năm 1013, tù trưởng châu Vị Long là Hà Trắc Tuấn vì muốn được thoải mái ngả về phe Đại Lý, đã khởi binh chống lại triều đình nhà Lý. Không bỏ qua cơ hội này, vua Đại Lý đã điều động binh mã, ước hẹn liên thủ với Hà Trắc Tuấn, mưu đồ đánh tách châu Vị Long ra khỏi lãnh thổ Đại Cồ Việt để nhập vào đất của Đại Lý, đồng thời lấy Vị Long làm chỗ đứng chân mà chiếm thêm các châu khác ở vùng tây bắc nước Đại Cồ Việt. Trước tình hình đó, vua Lý Thái Tổ đã quyết định thân chinh để đánh Hà Trắc Tuấn trước khi quân Đại Lý kịp tiến sang. Hà Trắc Tuấn quân ít không thể địch nổi quân đội của Lý Thái Tổ, nên dẫn quân tránh vào núi, ngầm cho người đi kêu gọi các dân người Tày, Nùng, Thái quanh vùng cùng đứng lên chống lại triều đình nhà Lý.

(còn nữa)

Quốc Huy/Một Thế Giới

Kháng Minh Truyền Kỳ ( Phần 3 ) – Kỳ cuối : Ngoại giao với vua Minh, kiến lập triều đại mới

Kháng Minh Truyền Kỳ ( Phần 3 ) – Kỳ cuối : Ngoại giao với vua Minh, kiến lập triều đại mới

Xem kỳ 31

Hội thề Đông Quan là một sự kiện lịch sử quan trọng, đánh dấu chiến thắng vĩ đại của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn trong công cuộc đánh đuổi quân Minh xâm lược khỏi bờ cõi. Nước Đại Việt trên thực tế đã được khôi phục đầy đủ nền độc lập sau khi Vương Thông dẫn đám bại binh về nước. Tình cảnh của quân Minh được miêu tả trong Bình Ngô Đại Cáo càng làm nổi bật lên tính nhân nghĩa của Lê Lợi và quân tướng Lam Sơn:

“Quân giặc các thành khốn đốn, cởi giáp ra hàng

Tướng giặc bị cầm tù, như hổ đói vẫy đuôi xin cứu mạng

Thần vũ chẳng giết hại, thể lòng trời ta mở đường hiếu sinh

Mã Kỳ, Phương Chính, cấp cho năm trăm chiếc thuyền, ra đến biển mà vẫn hồn bay phách lạc,

Vương Thông, Mã Anh, phát cho vài nghìn cỗ ngựa, về đến nước mà vẫn tim đập chân run.

Họ đã tham sống sợ chết mà hoà hiếu thực lòng

Ta lấy toàn quân là hơn, để nhân dân nghỉ sức”

 

Công cuộc đánh đuổi quân Minh, giành lại độc lập cho dân tộc Việt đã thành công. Thế nhưng phong trào Lam Sơn vẫn chưa hoàn thành đầy đủ sứ mạng của mình. Nước Minh thời kỳ này vẫn đang trong giai đoạn sung sức nhất, vẫn có thể mở thêm những cuộc xâm lược mới để báo thù. Muốn có được một nền hòa bình lâu dài để chuyên tâm xây dựng lại đất nước, phía ta không còn cách nào tốt hơn là nối lại bang giao với nước Minh, tránh khỏi sự thù địch lâu dài với một đế chế hùng mạnh và đông dân, lãnh thổ rộng lớn hơn nước ta gấp mấy chục lần.

Ý thức được điều đó, ngay lúc chiến sự vẫn chưa kết thúc thì Bình Định vương Lê Lợi đã giao cho Hành khiển Nguyễn Trãi trọng trách ngoại giao với Minh triều. Bình Định vương Lê Lợi dù đánh thắng giặc nhiều trận nhưng vẫn tìm cách giảng hòa với Vương Thông, thả nhiều quân dân người Minh về nước. Việc giảng hòa với tướng giặc là một bước trong tiến trình tìm kiếm hòa bình.

Đồng thời với việc hòa nghị với bọn Vương Thông, Nguyễn Trãi đã theo lệnh Lê Lợi, lấy danh nghĩa của Trần Cảo soạn biểu gởi sang vua Minh theo cả hai ngả đường Vân Nam và Quảng Tây. Mộc Thạnh ở Vân Nam nhận được biểu, tức tốc cho người chạy trạm chuyển lên cho vua Minh Tuyên Tông. Biểu viết như sau:

“Thái tổ Cao hoàng đế [ tức Chu Nguyên Chương ] khi mới lên ngôi, tổ tiên của thần là Nhật Khuê [chỉ vua Trần Nghệ Tông] trước tiên dâng lễ triều cống, được ơn đặc biệt khen thưởng và ban cho tước vương. Từ đó, đời đời giữ gìn bờ cõi, không hề thiếu sót lễ nghi triều cống. Mới đây, nhân họ Hồ soán nghịch, Thái tông Văn hoàng đế [chỉ vua Chu Đệ nước Minh] dấy quân hỏi tội. Sau khi dẹp yên, nhà vua hạ chiếu tìm kiếm con cháu họ Trần để cho giữ việc thờ cúng. Bấy giờ tổng binh quan Trương Phụ chưa kịp tìm kiếm rộng khắp, đã vội xin đặt nước tôi làm quận huyện.

Thần, trước đây, vì nước rối loạn, phải chạy trốn sang Lão Qua, chỉ muốn cho chút hơi tàn được tạm kéo dài ra thôi. Dè đâu người nước quen thói tục man di, xa nghĩ đến ơn trạch của tổ tiên nhà thần, ép thần phải về nước. Bất đắc dĩ thần phải gượng theo. Dẫu rằng việc làm hấp tấp này là do người nước ép buộc, nhưng cũng là cái tội bởi thần không biết đắn đo suy lường.

Vừa đây, đã đến cửa quân tạ tội, nhưng không được đâu để ý lắng nghe. Người nước bấy giờ sợ bị giết chết, mới phải đem nhau đi giữ những nơi quan ải để làm cái chước tự vệ lấy mình; nào ngờ quan quân từ xa đến, thấy voi, hoảng sợ, tự cùng nhau lánh chạy, tan vỡ. Việc đã đến thế, tuy là do sự bất đắc dĩ của người nước, mà cũng là tội lỗi của thần. Nhưng, số quan quân và ngựa bị bắt đều đã thu lượm nuôi dưỡng, không dám tơ hào xâm phạm.

Nép mong hoàng thượng dựa theo lời chiếu của Thái Tông Văn hoàng đế cho tìm kiếm con cháu họ Trần, nghĩ đến lòng thành thực của ông cha nhà thần đã dâng lễ triều cống trước tiên, tha cho thần cái tội to như đống gò, miễn cho thần khỏi bị giết chết bằng rìu búa, khiến thần được nối dõi ở cõi Nam, triều cống cửa trời.

Ngoài sự riêng sai bồi thần thân tín đem dâng tạ biểu và đưa đến kinh đô nộp trả ấn tín và người ngựa, nay xin đem danh sách và số mục kính cẩn tâu lên để nhà vua soi xét” (theo Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục)

Bài biểu này cho thấy rằng dù chiến thắng lừng lẫy trong cuộc chiến, nước Đại Việt trong thời kỳ trung đại vẫn chưa bao giờ có được vị thế ngang hàng về mặt ngoại giao đối với các triều đại phương bắc, mà phải chấp nhận một mối quan hệ giữa nước nhỏ và nước lớn đặc trưng của thời kỳ này. Đi cùng với biểu cầu phong là các đồ cống phẩm, tượng người vàng, bạc cho đến ấn tín, hổ phù đã bắt được của tướng giặc và các tù binh đã bắt được trong cuộc chiến.

Về phía vua Minh, mặc dù thừa biết rằng những lời lẽ trong tờ biểu là không thật lòng, nhưng lại xét rằng một là quân tướng Lam Sơn đã biết giữ thể diện cho Minh triều, hai là nước Minh vừa chịu hao binh tổn tướng khá nhiều, nên vẫn phải xem xét kỹ lưỡng.

Lúc bấy giờ tại triều đình nước Minh lại diễn ra cuộc tranh cãi nảy lửa giữa hai phe chủ chiến và chủ hòa. Trương Phụ là người tiêu biểu cho phe chủ chiến.Viên tướng này trước sau nhất quán theo đuổi chính sách thẳng tay đàn áp, đuổi cùng giết tận những quân dân Việt dám chống lại ách đô hộ nước Minh. Trương Phụ đã tâu với vua Minh rằng: “Quân sĩ khó nhọc đến vài năm mới lấy được đất ấy, sao lại nghe lời xin xảo quyệt của Lê Lợi, xin cứ cho quân đi đánh”

Bọn đình thần nước Minh là Kiển Nghĩa, Hà Nguyên Cát cũng theo đó nói: “Không có danh nghĩa gì mà bỏ đất, chỉ để thiên hạ thấy sự suy yếu của mình”

Chỉ có Dương Sĩ Kỳ là danh sĩ nổi tiếng nước Minh thời bấy giờ bàn rằng: “Từ năm Vĩnh Lạc đến nay, quân mỏi mệt, dân cùng khốn, không gì bằng theo y lời xin của địch, có thể chuyện họa ra phúc được, vả lại vua Thành Tổ sơ tâm là lập con cháu họ Trần, đó là việc thịnh đức, sao lại bảo là vô danh? Đời Hán bỏ Châu Nhai, tiền sử cho là vinh, sao lại bảo là thị nhược ?”(theo Việt Sử Tiêu Án)

Lúc mà đình thần nước Minh thảo luận việc đánh hay hòa thì tin tức Liễu Thăng, Mộc Thạnh bại trận vẫn chưa về tới. Vua Minh Tuyên Tông vốn đã muốn hòa, nhưng vẫn trông đợi vào thắng lợi của quân tiếp viện. Có thể thấy rằng dù trong trường hợp nào, quân dân ta vẫn phải giành được thắng lợi trên thực địa trước khi nói đến chuyện ngoại giao với kẻ xâm lược. Đến khi tin Liễu Thăng bại trận, vong mạng về đến Yên Kinh (Bắc Kinh, Trung Quốc) ngay sau biểu cầu phong đến, thì vua tôi nước Minh mới phải chấp nhận rằng họ đã thua trong cuộc chiến này. Dù rằng tiềm lực của nước Minh vẫn còn nhiều, nhưng một khi thế quân Lam Sơn đã lên cao thì thiên binh vạn mã của nước Minh tiến sang cũng chỉ gây lầm than cho muôn dân, chứ hy vọng chiến thắng cho quân Minh vẫn là rất nhỏ. Vua Minh bèn theo đó sai người đem chiếu thư sang phong cho Trần Cảo làm “An Nam Quốc Vương”, chính thức khôi phục lại chủ quyền của  người Việt. Vua Minh yêu cầu việc triều cống của nước ta phải theo lệ thời vua Chu Nguyên Chương, nhưng kèm theo việc cống người vàng, lấy cớ là “đền mạng’ cho Liễu Thăng (!?)

Việc ngoại giao đã xong cũng là lúc vấn đề nội bộ cần giải quyết. Từ lúc nghĩa quân Lam Sơn phất cờ đánh đuổi quân Minh cho đến lúc thiên hạ đại định thì Bình Định vương Lê Lợi là người chỉ huy tối cao. Nhưng trên danh nghĩa, Trần Cảo vẫn là vua để tiện việc bang giao với phương bắc. Khi mọi sự đã yên ổn, quần thần đều không phục Trần Cảo, lòng chỉ hướng về Lê Lợi. Cảo lấy làm sợ nên bỏ trốn. Lê Lợi cho người đuổi bắt, rồi giết đi.

Sau đó, ngày 29.4.1428, Lê Lợi theo sự suy tôn của các quan văn võ, chính thức lên ngồi Hoàng đế, đặt niên hiệu là Thuận Thiên, kiến lập triều Lê, sử gọi là nhà Hậu Lê. Tên nước Đại Việt chính thức được khôi phục, thành Đông Quan được khôi phục lại tên cũ là thành Đông Đô, được chọn làm kinh đô nước Đại Việt mới. Lê Lợi, tức vua Lê Thái Tổ trong sách sử cho ban hành Bình Ngô Đại Cáo do Nguyễn Trãi thay mặt ngài soạn thảo để bố cáo cho muôn dân sứ mạng đánh đuổi giặc đã hoàn thành, đất nước đã được tái sinh. Từ đây, một nền thái bình thịnh trị được mở ra.

Quốc Huy/Một Thế Giới

Kháng Minh Truyền Kỳ ( Phần 3 ) – Kỳ 31 : Hội thề Đông Quan

Kháng Minh Truyền Kỳ ( Phần 3 ) – Kỳ 31 : Hội thề Đông Quan

Xem kỳ 30

Sau trận Xương Giang, Bình Định vương Lê Lợi sai người giải bọn Thôi Tụ, Hoàng Phúc cùng cờ trống, ấn tín, chiến cụ, sổ quân… đến trước thành Đông Quan cho bọn quân tướng Minh trong thành chứng kiến. Trông thấy đồng đội bị bắt và những bằng chứng về sự thất bại thảm hại của hai đạo viện binh, Vương Thông và quân tướng dưới quyền rất sửng sốt và sợ hãi. Sau đó quân ta lại đem tù binh và vật chứng đi dụ các thành khác, khắp nơi quân Minh sợ tái mặt. Niềm hy vọng cuối cùng cho các đội quân Minh bị bao vây trong các thành trì đã sụp đổ.

Thế nhưng bọn giặc đã trót gây thù oán nhiều, nên vẫn chần chừ không dám xếp giáp quy hàng. Quân tướng nước Minh vẫn sợ rằng một khi quân Lam Sơn được đắc thắng sẽ giết chết chúng để trả thù. Một khi buông hạ khí giới, mở cửa thành trì, quân Minh sẽ không còn tự quyết được số phận của mình mà hoàn toàn lệ thuộc vào lòng nhân từ của quân ta. Chính vì ý nghĩ đó, Vương Thông và thuộc hạ thà liều chết cố thủ, mong một trận liều chết với quân dân ta chứ không chịu đầu hàng.

Về phía nghĩa quân Lam Sơn, rất nhiều tướng sĩ cũng không muốn cho quân Minh đầu hàng. Hầu hết đều căm giận quân giặc tàn ngược, chỉ mong đánh một trận sống mái, một phen giết quân Minh để rửa hận.Thế nhưng Bình Định vương Lê Lợi vẫn mong mở một lối thoát cho quân Minh để khôi phục lại bang giao, và giúp quân ta đỡ tốn máu xương mà vẫn giành được độc lập cho đất nước. Đại tướng Nguyễn Lôi được lệnh dẫn phái đoàn đến các thành Tây Đô, Cổ Lộng dụ hàng. Hai thành này trước đây nghe theo lời bọn ngụy quan nên ngoan cố tử thủ, dù Nguyễn Trãi đã viết rất nhiều thư vẫn không chiêu dụ được. Nhưng nay trước sự bại vong đã rành rành trước mắt, bọn tướng Minh đành phải xếp giáp quy hàng, trông mong vào sự nhân từ của nghĩa quân Lam Sơn.

Riêng ở thành Đông Quan,vì thấy bọn giặc vẫn ngoan cố, Bình Định vương hạ lệnh cho các quân phòng bị càng nghiêm ngặt. Bọn quân Minh ra thành hái củi, chăn ngựa cũng đều bị quân ta bắt hết. Quân Lam Sơn dựng lên thêm những chiến lũy đối diện tường thành, từ đó quan sát và đặt súng đạn, cung tên bắn vào giặc. Các chiến xa, chiến cụ dùng cho việc công thành cũng được chuẩn bị kỹ lưỡng, đề phòng trường hợp bất đắc dĩ phải công phá thành Đông Quan.

Ngày càng bị đẩy vào thế khốn đốn, Vương Thông sai người đem thư xin hòa.Lê Lợi chấp nhận cùng quân Minh hòa nghị. Thế nhưng, Vương Thông vẫn chưa thực lòng hòa hiếu, mà muốn lấy việc xin hòa làm quân Lam Sơn trễ nải phòng bị.

Một ngày tháng 11/1427, Vương Thông thình lình đem hết quân trong thành đánh ra từ cửa nam, muốn đem hết sức bình sinh mà đánh một trận liều chết với quân ta. Thế nhưng mưu kế của Vương Thông đã bị quân ta lường trước được. Khi mấy vạn quân Minh trong thành đánh ra, quân Lam Sơn án ngữ phía cửa nam Đông Quan vờ thua chạy, giặc tiến ra xa một chút thì gặp quân mai phục đổ ra đánh khép lại. Quân Minh thất thế, tiến thoái lưỡng nan. Vương Thông biết không thể tiến lên được nữa, đành phải lệnh cho quân chạy ngược vào thành. Quân Lam Sơn khép vòng vây chặn ngang đường quân Minh chạy vào, vây lấy người ngựa của Vương Thông, quyết bắt sống tướng giặc. Vương Thông đánh nhau với quân ta bị ngã ngựa, suýt bị bắt sống nhưng may sao được bộ hạ cứu thoát, chạy được vào thành. Tổn thất của quân Minh càng thêm nặng nề.

Quân Lam Sơn truy kích quân Minh đến sát cửa nam thành Đông Quan, rồi đắp một chiến lũy chặn ngang lối ra vào của giặc. Bình Định vương Lê Lợi đốc suất quân sĩ đắp lũy dài từ Yên Hoa (Yên Phụ, Tây Hồ, Hà Nội ngày nay) đến tận cửa bắc thành Đông Quan, chỉ trong một đêm là xong. Quân Minh bị bức đến nỗi không còn lối ra vào thành.

Trước đó, Nguyễn Trãi đã mấy lần thư từ qua lại với bọn Vương Thông, khi thì nhân danh Trần Cảo, khi thì nhân danh Lê Lợi phân tích lẽ thiệt hơn, lấy điều tín nghĩa ra mà thuyết phục Vương Thông đầu hàng. Nhưng sự kiên nhẫn của các lãnh tụ quân Lam Sơn chỉ có giới hạn. Cơ hội cho Vương Thông đầu hàng không còn nhiều.

Cuối cùng, Vương Thông cũng phải chịu khuất phục vì đã bị dồn vào đường cùng. Hắn cho tập họp quân tướng lại, nói rằng : “Thành không thể giữ được, mà đánh không thể thắng, không gì bằng toàn quân trở về Bắc” (theo Việt Sử Tiêu Án). Bàn luận xong, quân Minh lại cho người đem thư sang ta xin hòa một lần nữa.

Bấy giờ nơi màn trướng quân Lam Sơn, khi thư của Vương Thông đến thì các tướng đều nhao nhao mắng bọn giặc Minh trí trá, khuyên Bình Định vương Lê Lợi nên dùng binh mà giết sạch bọn chúng đi. Duy chỉ có Hành khiển Nguyễn Trãi ngày ngày cùng Lê Lợi bàn định cơ mưu, được xem những thư từ bắt được của giặc, nắm rõ nhất về thực lực và toan tính của bọn Vương Thông nên vẫn chủ trương hòa nghị. Nguyễn Trãi cho mọi người xem bức thư của Vương Thông gởi về Minh triều bị quân ta bắt được: “Chớ vì một góc đất đai nhỏ nhoi mà bao phen làm nhọc quân đi muôn dặm. Giả sử dùng tới số quân như lần đánh ban đầu, có được sáu, bảy, tám viên đại tướng như bọn Trương Phụ thì mới có thể đánh được. Nhưng dẫu có đánh được cũng không thể nào giữ được” (theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư)

Bình Định vương Lê Lợi sau khi nghe các tướng lĩnh tranh luận một lượt rồi, ngài mới bàn rằng: “Việc dụng binh, lấy sự toàn quân [tức bảo toàn lực lượng] là hơn cả. Nay hãy để cho lũ Vương Thông về nói với vua nhà Minh, trả lại đất nước ta, không còn xâm lấn, thì ta còn cần gì hơn nữa, hà tất phải giết hết, để kết mối thù với nước lớn”. (theo Đại Việt Thông Sử)

Các tướng nghe theo. Việc hòa nghị sau đó được tiến hành. Vương Thông sai Sơn Thọ, Mã Kỳ tới dinh Bồ Đề làm con tin. Đổi lại, Lê Lợi cũng cho thế tử Lê Tư Tề, đại tư mã Lưu Nhân Chú vào thành Đông Quan làm con tin. Hai bên định ngày lập đàn thề, bàn việc rút quân.

Ngày 10.12.1427, hai phái đoàn cùng đến hội thề ở ngoài cửa nam thành Đông Quan. Phái đoàn quân Lam Sơn do Bình Định vương Lê Lợi đứng đầu, cùng với bọn Vương Thông cam kết sẽ thực hiện những bước hoàn thành việc kết thúc chiến tranh. Văn thề có đoạn chủ yếu như sau:

“Chúng tôi cùng nhau phát tự lòng thành, ước hẹn thề thốt với nhau:

Từ sau khi lập lời thế này, quan tổng binh Thành sơn hầu là Vương Thông quả tự lòng thành, đúng theo lời bàn, đem quân về nước, không thể kéo dài năm tháng, để đợi viện binh đến nơi. Lại phải theo đúng sự lí trong bản tâu, đúng lời bán trước mà làm.

Bọn Lê Lợi chúng tôi nếu còn chứa giữ lòng làm hại, tự làm việc lừa dối, không dẹp xa ngay quân lính ngựa voi, việc làm không đúng lời nói ngầm sai… Các việc nói trên tuy là không tự mình làm lấy, lại chuyển sang người khác có xâm phạm đến một chút nào tức thì Trời, Đất, thần minh, núi cao sông lớn, cho đến thần kỳ các xứ, tôi cùng con cháu thân của tôi, và người cả một nước tôi, giết chết hết cả, không để sót lại mống nào.

Về phía bọn quan tổng binh Thành sơn hầu là Vương Thông, nếu không có lòng thực, lại tự trái lời thề (đối với việc) người phục dịch và các thuyền đã định rồi, cầu đập đường sá đã sửa rồi, mà không làm theo lời bàn, lập tức đem quân về nước, còn kéo dài năm tháng để đợi viện binh, cùng là ngày về đến triều đình lại không theo sự lí trong bản tâu, không sợ thần linh núi sông ở nước An Nam lại bàn khác đi, hoặc cho quan quân đi qua đâu cướp bóc nhân dân, thì Trời, Đất cùng là Danh sơn, Đại Xuyên và thần kỳ các xứ tất đem bọn quan tổng binh Thành sơn hầu là Vương Thông, tự bản thân cho đến cả nhà, thân thích, làm cho chết hết, và cả đến quan quân cũng không một người nào về được đến nhà.

Nếu mà cả hai bên đều do lòng thành cả thì Trời Đất thần minh đều phù hộ cho đến bản thân mình mạnh khỏe, trong nhà mình vinh thịnh, cùng hưởng lộc vị, đều được bình yên.

Trời, Đất thần kì cùng soi xét cho!” (theo Quân Trung Từ Mệnh Tập)

Những lời trong văn thề cũng là tóm tắt lại những thỏa thuận giữa nghĩa quân Lam Sơn và quân Minh. Theo đó, Hai bên cũng tiến hành trao đổi tù binh và con tin. Tướng Đỗ Bí cùng các quân tướng Lam Sơn bị bắt trước đó được trở về. Thượng thư nước Minh là Hoàng Phúc cùng hàng vạn tù binh trong trận Xương Giang cũng được Lê Lợi cho phóng thích. Riêng tướng Thôi Tụ bị bắt trong trận Xương Giang vì không chịu khuất phục nên đã bị quân Lam Sơn giết chết.

Quân ta chẳng những tha chết cho quân binh, thường dân người Minh về nước mà còn cho sửa sang cầu cống, đường sá, cấp thuyền bè, lương ăn cho chúng được đi lại dễ dàng. Vòng vây các thành Tây Đô, Cổ Lộng, Chí Linh được nới ra, cho quân Minh được tập kết lại ở Đông Quan rồi rút về nước một lượt. Khi quân Minh đã xuất hành, có nhiều quân dân lại khuyên Lê Lợi thừa cơ giết hết bọn chúng đi để báo thù, rửa mối hận mất nước và an ủi những linh hồn đã chết oan khuất bởi sự tàn bạo của giặc. Lê Lợi đáp lại rằng:

“Một lòng báo oán là thường tình của con người ta. Nhưng không thích giết người là bản tâm của bậc nhân giả. Vả chăng người ta đã ra hàng mà ta lại giết đi thì không còn gì không lành hơn nữa! Dữ kỳ hả cái giận trong một sớm, mà chịu mang tiếng giết kẻ đầu hàng với muôn đời, thì sao bằng để sống hàng ức, vạn mạng người, mà dứt mối chiến tranh về sau trong hai nước? Sử xanh chép lại, nghìn thuở còn thơm! Như thế lại không tốt đẹp hay sao ?” (theo Lam Sơn Thực Lục)

Đúng phương châm “Đem đại nghĩa để thắng hung tàn, lấy chí nhân để thay cường bạo” (trích Bình Ngô Đại Cáo ), tổng cộng cả quân mới, quân cũ và thường dân người Minh hết thảy chừng 30 vạn người đã được Bình Định vương Lê Lợi tha chết cho về nước. Cảm kích tầm lòng nhân từ, khoan dung của Lê Lợi, bọn quân Minh trước khi đi còn kéo nhau đến trước dinh Bồ Đề mà lạy tạ.

Cuộc chiến đánh đuổi quân Minh của nghĩa quân Lam Sơn về căn bản đã kết thúc tốt đẹp với việc quân Minh rút về nước. Tuy nhiên, đây chỉ là thỏa thuận của bọn Vương Thông với nghĩa quân Lam Sơn tại nơi thực địa. Để có được nền hòa bình lâu dài với nước Minh, ngăn chặn một làn sóng xâm lược mới, Lê Lợi cùng các chiến hữu của mình vẫn còn nhiều việc phải làm.

Đồng thời với việc nghị hòa với Vương Thông, Nguyễn Trãi vâng lệnh của Lê Lợi bắt tay vào việc hòa giải với vua Minh ở tại triều đình Bắc Kinh.

(còn nữa)

Quốc Huy/Một Thế Giới

Kháng Minh Truyền Kỳ ( Phần 3 ) – Kỳ 30 : Máu nhuộm cánh đồng Xương Giang

Kháng Minh Truyền Kỳ ( Phần 3 ) – Kỳ 30 : Máu nhuộm cánh đồng Xương Giang

Xem kỳ 29

Sở dĩ phải đánh mạnh khi quân Mộc Thạnh đã rút chạy là cốt phá đi những lực lượng tinh nhuệ của chúng, đề phòng hậu hoạn về sau và cũng chứng minh cho nước Minh thấy cái giá đắt như thế nào khi động đến nước Đại Việt. Qua trận truy kích không khoan nhượng này cũng cho thấy rằng, những lời chiêu dụ ân cần của Nguyễn Trãi chỉ là những đòn tâm lý chiến chứ không phải thực lòng. Quân Lam Sơn sẵn sàng đánh diệt quân Minh thẳng tay khi có cơ hội chứ không chỉ đơn giản là buộc chúng phải rút lui khỏi bờ cõi.

Sau đại thắng ở hướng tây bắc, nghĩa quân Lam Sơn càng có đủ điều kiện để dồn quân vây Đông Quan và dứt điểm bọn Thôi Tụ, Hoàng Phúc ở Xương Giang. Các lực lượng quân Lam Sơn rầm rộ hành quân dồn lại để xiết chặt vòng vây. Nguyễn Trãi vẫn tiếp tục dùng văn chương để lung lạc tinh thần của quân tướng nước Minh:

“… Ngày nay tôi đã răn bảo quân lính, dẹp mở dường về cho các ông từ Cần Trạm đến Khâu Ôn, nếu thấy đại quân qua lại không được xâm phạm mảy may. Các ông, trọng hạn ba ngày, nên thu nhặt mà đi. Quá hạn ấy mà còn chậm lại, thế là các ông thất tín, không phải lỗi ở tôi vậy. Kinh thi có câu nói: “Người khác có lòng, ta lường tính xem”. Chắc rằng các ông sở dĩ ở chậm lại, có ý trông mong vào quân ở thành Đông Quan sang tiếp ứng chăng? Hay là ở quân Vân-nam sang tiếp ứng chăng? Thì, từ Đông Quan đến đây chỉ có một ngày đường, không phải hẹn còn có thể tự đến cứu được, há lại nỡ lòng nào dửng dưng ngồi nhìn không đau lòng hộ ư? Thế thì các ông trông mong về quân thành Đông Quan đã tuyệt vọng rồi.

Còn như Kiềm quốc công ở Vân Nam trước đây cùng với các ông cũng vâng mệnh trên họp quân ở đấy. Nhưng Kiềm đại nhân tuổi cao đức cả, đã sớm biết lẽ phải, thấy việc làm rõ. vừa mới đến bờ cõi, lập tức sai người dò thăm hư thực, nghe tin trước đây thành trì các xứ Tam Giang đều đã hòa giải, bèn lui quân về Lâm An, làm bản tâu về triều. Tôi lại đem những quân nhân của các ông mà tôi đã bắt được đưa đến chỗ Kiềm đại nhân, nói rõ duyên do, bọn An viễn hầu, Bảo định bá, Lý thượng thư bị chét. Kiềm quốc đại nhân đã lui quân về Vân Nam rồi. Thế là bọn các ông trông mong về đạo quân ở Vân Nam lại tuyệt vọng nốt.

Hai mặt trông mong ấy đều đã tuyệt vọng, mà quân nhân mỗi ngày một bị chết, lương thực lại hết thì các ông còn đợi gì mà dùng dằng ở lại không đi chứ? Sao mà xét việc câu nệ, mưu việc không sớm thế? Than ôi, chén nước đã đổ khó mà vét lại được nữa, việc trước đã qua rồi, bỏ việc ngày nay không mưu tính đến, hối sao cho kịp. Thư nói chẳng hết lời.” (trích Quân Trung Từ Mệnh Tập)

Với bức tối hậu thư này, Lê Lợi và Nguyễn Trãi đã mong rằng 7 vạn viện binh còn lại dưới sự chỉ huy của Thôi Tụ, Hoàng Phúc sẽ tự rút lui như quân Mộc Thạnh, rồi quân ta sẽ thuận thế đánh một trận “dằn mặt” như ở mặt trận tây bắc. Được như thế, thắng lợi sẽ dễ dàng hơn, trọn vẹn hơn mà sự đổ máu cũng ít hơn. Thế nhưng bọn Thôi Tụ không trúng kế, vẫn tổ chức tử thủ ở cánh đồng Xương Giang.

Bất đắc dĩ, Bình Định vương Lê Lợi phải quyết định mở cuộc quyết chiến tiêu diệt viện binh còn lại của quân Minh. Ngài sai các quân hội nhau bao vây quân Minh ở Xương Giang, đều thêm quân Thiết đột và voi chiến dưới sự thống lĩnh của các tướng Lê Khôi, Phạm Vấn, Nguyễn Xí, Lê Hối … lên tiếp ứng cho các quân.

Ngày 3.11.1427, nhân một đêm mưa gió, quân Lam Sơn mở cuộc tổng tấn công tại Xương Giang. Từ bốn phương tám hướng, quân ta bắn pháo vào khối quân Minh, rồi trùng điệp người ngựa, voi chiến đánh dồn lại. Các danh tướng như Trần Nguyên Hãn, Lê Sát, Lê Khôi, Nguyễn Xí, Phạm Vấn, Lê Hối, Đinh Liệt, Lưu Nhân Chú, Nguyễn Đình Lý, Lê Văn An … đều tham chiến, thi nhau giết địch. Quân Minh dù vẫn còn hàng vạn, nhưng vũ khí đạn dược mất gần hết, lương thực không có, thế quân mệt mỏi cùng cực nên chẳng mấy chốc đã vỡ trận. Tai hại hơn cho giặc, lần này chúng đã không còn đường đào thoát nữa. Khắp nơi quân dân người Việt chia nhau chặn hết cả ngã đường thủy bộ, núi non, rừng rậm.

Gần 5 vạn quân Minh bỏ mạng trong trận quyết chiến, số còn lại hơn 2 vạn quân, 300 tướng cũng bị bắt sống hết cả. Đại Việt Sử Ký Toàn Thư chép thêm: “Còn những kẻ chạy trốn thì trong khoảng không đến 5 ngày đều bị bọn chăn trâu kiếm củi bắt gấn hết, không sót tên nào.”Theo sử nước Minh, toàn bộ đạo viện binh của Liễu Thăng đều bị diệt và bị bắt, chỉ có duy nhất một viên chủ sự tên Phan Hậu là chạy thoát được về nước. Số chiến lợi phẩm khổng lồ thu được từ đạo quân Minh được sách Lam Sơn Thực Lục miêu tả lại: “Giáo mác, lừa ngựa, vàng bạc, lụa là, gấm, đoạn, từng hòm, từng đống, chứa chất như núi, không thể kể xiết!”

Chiến thắng Xương Giang khép lại chiến dịch Chi Lăng – Xương Giang thành công tốt đẹp. Kể từ lúc Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn đại phá quân Nguyên ở trận Bạch Đằng năm 1288, chưa từng có lần nào người nước ta được đắc thắng như thế đối với phương bắc. Không chỉ là một trận chiến định giang sơn, mà âm vang để lại của chiến dịch Chi Lăng – Xương Giang còn vọng mãi đến ngày nay Hậu thế luôn nhắc đến chiến dịch này như một trong những chiến công hiển hách nhất trong suốt cả hàng năm năm lịch sử dựng nước và giữ nước.

(còn nữa)

Quốc Huy/Một Thế Giới