Kháng Minh Truyền Kỳ ( Phần 3 ) – Kỳ 29 : Mặt trận biên giới tây bắc, đánh tan quân Mộc Thạnh

Kháng Minh Truyền Kỳ ( Phần 3 ) – Kỳ 29 : Mặt trận biên giới tây bắc, đánh tan quân Mộc Thạnh

Xem kỳ 28

Trong lần tăng viện cuối năm 1427, ngoài 10 vạn quân của Liễu Thăng từ Quảng Tây tiến đánh nước ta từ hướng đông bắc còn có cánh quân của Mộc Thạnh với 5 vạn quân từ Vân Nam tiến đánh vùng tây bắc. Mộc Thạnh theo nhận định của tướng lĩnh Lam Sơn là đã già và thận trọng. So với mặt trận đông bắc đánh Liễu Thăng, thì mặt trận hướng tây bắc là thứ yếu. Tuy nhiên, điều này cũng không cho phép nghĩa quân Lam Sơn được lơ là mặt trận này. Bởi nếu biết được quân ta bố trí lực lượng mỏng yếu, Mộc Thạnh ắt sẽ thừa thế tiến vào đánh phá vây cho thành Đông Quan. Ở phía tây Đông Quan, các trận địa bao vây của quân ta sẽ bị uy hiếp trầm trọng từ cả hai phía.

Cánh quân Vân Nam mặc dù không tiến đánh gấp, nhưng đã kiềm chế một bộ phận không nhỏ lực lượng của quân Lam Sơn, cùng với các tướng lĩnh tài ba là Phạm Văn Xảo, Trịnh Khả, Nguyễn Chích, Lê Trung… Theo lệnh của Bình Định vương Lê Lợi, các tướng lĩnh tại mặt trận phía tây bắc này không chủ động tung quân đánh lớn, mà đặt phục binh để đợi giặc. Nhưng Mộc Thạnh thận trọng không mắc mưu, cứ án binh bất động. Quân ta cũng không thể rút bớt lực lượng tăng cường cho nơi khác khi mà địch tập trung dày đặc bên kia chiến tuyến.

Theo chính sách vừa đánh vừa chiêu dụ, Bình Định vương Lê Lợi cũng sai Nguyễn Trãi dùng danh nghĩa của vua bù nhìn Trần Cảo viết thư cho Mộc Thạnh. Tuy rằng Thạnh mưu trí và thận trọng, nhưng cũng là kẻ cầu toàn, so với Liễu Thăng thì kém ở dũng khí. Nắm được tâm lý của tướng giặc, Nguyễn Trãi không thiên về kích động sự kiêu ngạo như những thư gởi cho Liễu Thăng mà đi sâu vào phân tích sự được mất, lợi hại. Thư có đoạn:

“… Kể ra đồ binh là thứ hung bạo, đánh nhau là việc nguy hiểm. Thánh nhân bất đắc dĩ mới dùng đến. Còn việc dùng binh đến cùng, cậy vào vũ lực là điều mà xưa nay vẫn răn dạy. Từ khi quân nhà vua dẹp yên cõi Giao Chỉ đến giờ, binh đao liền liền, tai vạ chồng chất, một ngày một quá lắm. Người Trung Quốc [chỉ nước Minh] thì bị đòi bắt tần phiền, quân và ngựa đều bị chết. Cái lấy được không bù cho cái bị mất, cái cướp được không chữa được vết tổn thương. Trừ ra, nguyên số quân đi đánh lần tước, và nhiều lần tiếp tục, quân và ngựa chết hại không biết đâu mà tính. Không kể, năm ngoái, lại điện phát quân và ngựa ở ba tỉnh Vân Nam, Tứ Xuyên, Quý Châu hiện nay mười phần không còn một phần. Cứ xem thế, bảo đồ binh là thứ hung bạo, đánh nhau là việc nguy hiểm, há chẳng đúng lắm ru ? … ”(trích Quân Trung Từ Mệnh Tập)

Sau khi phân tích thiệt hơn, Nguyễn Trãi vừa khuyên Mộc Thạnh trình thư về vua Minh và cho lui binh. Mộc Thạnh xem thư, chừng ý chí tiến quân càng giảm xuống, nhưng hắn vẫn không dám cho lui binh vì như thế sẽ phạm quân kỷ của nước Minh.

Trong khi Mộc Thạnh cùng các tướng Lam Sơn ghìm nhau không giao chiến, thì chiến sự đông bắc diễn ra ác liệt với những tổn thất nặng nề cho đạo quân 10 vạn người ngựa dưới trướng Liễu Thăng, liên tiếp hai tướng soái của quân Minh bị giết trong mấy ngày. Việc giành được lợi thế ở mặt trận chính này cũng mở ra những triển vọng dứt điểm mặt trận tây bắc. Bức thư thứ hai mà Nguyễn Trãi gửi cho Mộc Thạnh được gởi đi ngay sau khi Liễu Thăng bị giết ở trận Chi Lăng như một đòn giáng mạnh vào tâm lý của tướng giặc :

“ … Nay đem thực sự bày tỏ hết để đại nhân rõ:

Ngày tháng 9 năm này, An viễn hầu Liễu Thăng thống lĩnh đại quân đến địa phận thành Khâu Ôn. Tôi đã hai ba lần gửi thư nói kỹ về thiên thời, về nhân sự (thời trời, việc người), nói đi nói lại không ngại rờm lời, mà Liễu công cho lời nói của tôi là không đáng tin, bèn mạo hiểm tiến quân vào sâu chuyên việc chém giết, ý định giết hết không để sót người nào. Nhưng không biết đạo trời ưa sống, lòng người ghét loạn. Thành hay bại, phúc hay họa, chỉ trong khoảng trở bàn tay thôi. Ngày 20 tháng 9, tiến quân đến cửa Chi Lăng, quân lính giữ cửa ải của tôi không làm thế nào được, liền phải chống cự lại. Liễu công bị chết tại trận, không biết lẫn lộn vào đâu. Bảo Định bá, Thái đô đốc, Lý thượng thư cũng nối nhau chết nốt. Còn các quân lính đều bỏ trốn chạy tan. Đó tuy cũng là tội lỗi của tôi, cố nhiên không thể chối cãi được, mà cái họa của Liễu công tất phải tự mình chuốc lấy. Người xưa có câu nói: “Cậy vào đức thì tốt, cậy vào sức thì chết”, tức là thế đấy …”(trích Quân Trung Từ Mệnh Tập)

Lời thư của Nguyễn Trãi vẫn rất ân cần, nhưng rõ ràng đã lấy Liễu Thăng làm tấm gương răn đe Mộc Thạnh. Nguyễn Trãi đã chỉ cho Mộc Thạnh thấy rõ cái giá của việc không nghe lời dụ, cố chấp tiến quân của Liễu Thăng. Những chiến lợi phẩm là bằng sắc, ấn tín của Liễu Thăng, cùng tù binh bắt được trong trận Chi Lăng gồm ba thiên hộ, một đô chỉ huy được Bình Định vương sai đem đến chỗ quân Mộc Thạnh, cho chúng tận mắt thấy bằng chứng về sự bại vong của bọn Liễu Thăng.

5 vạn quân Minh đóng trước cửa ải Lê Hoa đều sợ mất mật khi trông thấy những nhân chứng, vật chứng mà quân Lam Sơn mang đến trước mặt chúng, không còn lòng chiến đấu nữa. Mộc Thạnh biết quân không còn nhuệ khí, bản thân cũng đã khiếp sợ, lập tức hạ lệnh lui binh. Quân tướng nước Minh rút lui trong sự sợ hãi. Thuận đà, Phạm Văn Xảo cùng Trịnh Khả tung quân truy kích toàn tuyến. Giặc nhác thấy quân Lam Sơn, hoảng loạn giày xéo lên nhau mà chạy. Quân ta truy kích đến Lãnh Câu, Đan Xá, đánh giết một trận lớn. 1 vạn quân Minh chết tại trận, 1.000 tên bị bắt sống. Quân Lam Sơn thu 1.000 ngựa chiến cùng vũ khí, lương thực, của cải nhiều hơn cả lúc phá thành Xương Giang.

Xử lý xong cánh viện binh Mộc Thạnh, giờ là lúc quân Lam Sơn chuẩn bị dứt điểm với quân Minh ở cánh đồng Xương Giang.

(còn nữa)

Quốc Huy/Một Thế Giới

Kháng Minh Truyền Kỳ ( Phần 3 ) – Kỳ 28 : Vây khốn quân Minh ở cánh đồng Xương Giang

Kháng Minh Truyền Kỳ ( Phần 3 ) – Kỳ 28 : Vây khốn quân Minh ở cánh đồng Xương Giang

Xem kỳ 27

Sau cái chết của Lương Minh trong trận Cần Trạm, bọn Lý Khánh, Thôi Tụ, Hoàng Phúc cố gắng tổ chức lại lực lượng tiếp tục nhằm hướng thành Xương Giang mà hành quân. Do tin tức bị chậm, tướng giặc vẫn cho rằng thành Xương Giang vẫn chưa bị công phá. Chúng hy vọng rằng sẽ vượt qua được sự đánh phá dọc đường của quân Lam Sơn để vào thành Xương Giang dưỡng thương, dùng thành trì làm chỗ tiến thủ.

Qua diễn biến có thể thấy quân Minh tiến sang lần này là một đội quân rất kỷ luật và tinh thần chiến đấu cực cao khi bị mất liền hai tướng soái mà vẫn có thể giữ vững hàng ngũ tiến lên phía trước. Tuy nhiên, thế của giặc đã mất. Mọi hành động của quân Minh đều nằm trong tính toán của các tướng lĩnh Lam Sơn. Quân ta dù không vượt trội về lực lượng, nhưng hoàn toàn nắm thế chủ động trong chiến dịch diệt viện này.

Trận Phố Cát – Lý Khánh cùng kế tự vẫn:

Với ý nghĩ rằng thành Xương Giang vẫn còn do đồng đội chiếm giữ, viện binh nước Minh vẫn giữ được tinh thần mà cố sức chiến đấu. Về phía quân Lam Sơn, các tướng của ta đã không cố gắng khép chặt vòng vây ở Cầm Trạm, cố tình mở đường cho quân Minh tiến xuống. Địa hình từ Cần Trạm trở xuống là thung lũng hẹp và đồi thấp, rừng thưa. Quân ta tập họp lại lực lượng, lợi dụng địa hình theo đường tắt đi gấp bám sát theo sau quân Minh.

Ngày 18.10.1427, quân Lam Sơn tấn công quân Minh tại Phố Cát (Phố Tráng, Lạng Giang, Bắc Giang ngày nay). Tại nơi này, phục binh của quân ta đã xếp đặt sẵn từ trước. Khi quân Minh đến, phục binh trỗi dậy chặn ngang đường tiến. Các tướng Lê Sát, Nguyễn Đình Lý, Lưu Nhân Chú tung hết lực lượng đánh vào hậu quân của giặc. Bị vây đánh dữ dội từ cả hai mặt, quân Minh lâm vào cảnh tiến thoái lưỡng nan. Thượng thư bộ công nước Minh là Lý Khánh lúc này đang bệnh nặng, lại cùng kế, đã tự thắt cổ chết trong quân.

Trận Phố Cát kế thúc nhanh chóng với tổn thất khá nặng nề cho quân Minh. Giặc bị giết đến 1 vạn quân, xác nằm chồng chất lên nhau trên một ngọn đồi, dân gian về sau gọi là đồi Mả Ngô. Quân Lam Sơn bắt được trâu bò, lừa ngựa, quân trang nhiều không kể xiết. Thôi Tụ, Hoàng Phúc là những tướng lĩnh còn lại không còn kế sách gì, chỉ biết cố gắng chỉ huy quân lính vừa đánh vừa rút khỏi trận địa, miễn cưỡng tiến về hướng thành Xương Giang. Lê Sát cùng các tướng cũng giãn ra tái tổ chức lại, chuẩn bị đánh bồi những đòn mới.

Vây khốn Thôi Tụ tại Xương Giang:

Sau bao phen khốn đốn, Thôi Tụ cuối cùng cũng dẫn quân Minh đến được trước thành Xương Giang. Nhưng niềm hy vọng cuối cùng của quân Minh đã khép lại. Ngay trước mắt quân tướng giặc, một thành trì Lam Sơn sừng sững chắn ngang đường. Thôi Tụ, Hoàng Phúc nhất thời chẳng biết tiến thoái đi đâu, bèn đem quân đóng giữa đồng trống, đắp lũy đất thành vòng mà cố thủ.

Bình Định vương Lê Lợi vẫn muốn chừng cho giặc một con đường sống để nối lại mối bang giao về sau, nên đã sai Nguyễn Trãi gởi thêm hai bức thư chiêu dụ. Thư viết:

Tôi nghe: quân của Vương giả, cốt trên thuận òng trời, dưới hợp lòng người. Nay các ông vâng mệnh đi đánh dẹp, chỉ nên trên xét lòng trời, dưới thuận việc người. Trước đây cái tai họa đắm thuyền [trước đó quân Minh hành quân đến Quảng Tây thì bị đắm thuyền chết khá nhiều lính], thì trời đã răn bảo rõ lắm. Phàm quân đi qua một đường nào, việc chạy trốn hại thường thường có đến bao nhiêu người, nhân dân chừa oán lại quá lắm. Các ông bỏ việc ấy không xét đến mà xông pha nguy hiểm, khinh xuất tiến quân. Kinh Dịch có câu nói rằng: “Quân đi phải có kỷ luật, nếu không có kỷ luật thì dẫu phải cùng gặp sự không hay”. Huống chi lòng trời lòng người đã như thế mà các ông còn cố gượng cứ làm, thì tự mua lấy thất bại, há chẳng đáng ư?

Vả lại, bọn An Viễn hầu [Liễu Thăng], Bảo định bá [Lương Minh], Lý thượng thư [Lý Khánh] lại nối nhau bị chết, quân không người thống lĩnh, và không theo kỷ luật, chẳng bại vong sao được. Xin các ông nên chóng lui quân, đóng lại ở đất Long Châu, Bằng Tường[thuộc Quảng Tây, Trung Quốc], tôi lập tức đem ngay các quan lại quân nhân đã bắt được ở các thành đến ngoài cõi, trả lại hết cả. Và đem người vàng đã đúc, sai người đi theo, dâng biểu vào cống để nước nhỏ tôi được hết lễ thờ nước lớn, mà nước lớn được hết đạo vỗ yên người xa. Làm một việc mà được hai điều lợi, hai bên đều tốt cả. Thế không phải là may lớn cho nhân dân cả thiên hạ ư? Các ông nếu còn dùng dằng lâu ngày, chứa lòng nghi ngờ, làm hỏng mưu kế, tôi sợ rằng các ông sẽ chết vùi xương trong bụng cá ở Xương Giang, còn có ích gì đâu ? Thư này gửi đến, kính xin trả lời cho biết.

(trích Quân Trung Từ Mệnh Tập)

Một lần nữa Lê Lợi và Nguyễn Trãi lại thể hiện thiện chí rất lớn khi mà phần thắng hầu như đã nắm gần chắc trong tay quân ta. Sự toan tính của Lê Lợi không chỉ gói gọn ở việc thành hay bại trong một cuộc chiến, mà còn nghĩ làm thế nào để giành được độc lập với các giá phải trả về sinh mạng ít nhất và đảm bảo cho một đất nước mới tái sinh có được nền hòa bình lâu dài. Lê Lợi chấp nhận là bên chủ động gây dựng lại lòng tin, gây dựng lại mối quan hệ hữu hảo đối với đế chế Minh đang say máu chiến tranh. Việc này chỉ trông cậy vào tài văn chương của Nguyễn Trãi.

Bọn Thôi Tụ đã cùng đường, nên khi nhận được thư đã hồi đáp, ngỏ ý muốn đầu hàng. Tuy nhiên, với 7 vạn quân còn lại trong tay, Thôi Tụ vẫn chưa cam tâm làm bại tướng. Giặc vẫn đắp lũy đất, đêm bắn pháo hiệu mong quân từ thành Đông Quan, Chí Linh đến cứu. Rõ ràng thiện chí của ta vẫn chưa đủ khuất phục được giặc, mà cần phải dùng thêm võ lực. Bình Định vương Lê Lợi biết được giặc chỉ giả vờ xin hòa, nhất quyết không cho hòa mà càng tăng cường bao vây. Quân ta canh phòng chặt chẽ ở thành Đông Quan, khiến Vương Thông hết đường ứng cứu đồng bọn. Quân giữ thành Chí Linh muốn đem quân lương xuất thành chu cấp cho Thôi Tụ, nhưng Trần Nguyên Hãn chặn ngang đường tiếp vận, cũng không làm được gì ngoài việc phó mặc cho viện binh tự sinh tự diệt. Ở biên thùy, các ải Pha Lũy, Chi Lăng, Mã Yên, Bàng Quan… cũng đều có quân Lam Sơn bịt kín, nội bất xuất ngoại bất nhập.

Đồng thời với các biện pháp củng cố việc bao vây địch ở mặt trận phía đông bắc, quân Lam Sơn cũng tiến hành các bước phá thế ghìm nhau với 5 vạn quân của Mộc Thạnh ở Vân Nam. Đây cũng là chỗ cuối cùng mà bọn Thôi Tụ, Hoàng Phúc hy vọng có thể giúp chúng lật ngược tình thế.

(còn nữa)

Quốc Huy/Một Thế Giới

Kháng Minh Truyền Kỳ ( Phần 3 ) – Kỳ 27 : Mở màn chiến dịch Diệt Viện, tướng Minh nối nhau tử trận

Kháng Minh Truyền Kỳ ( Phần 3 ) – Kỳ 27 : Mở màn chiến dịch Diệt Viện, tướng Minh nối nhau tử trận

Xem kỳ 26

Đầu tháng 10.1427, 10 vạn quân Minh dưới trướng Liễu Thăng ồ ạt vượt biên tiến vào địa giới nước ta. Ngày 8.10.1427, quân Minh đánh ải Pha Lũy. Trần Lựu là vị tướng đầu tiên của nghĩa quân Lam Sơn giao chiến với Liễu Thăng, mở màn chiến dịch Diệt Viện. Quân ta theo kế hoạch đã định trước, chỉ đánh cầm chừng rồi lần lượt rút bỏ ải Pha Lũy, thành Khâu Ôn để nuôi chí khinh nhờn của địch. Những trại nhỏ mà quân Lam Sơn dựng lên trước đó ở biên ải, cũng đều đánh chiếu lệ rồi rút đi cả. Liễu Thăng thắng dễ mấy trận, nhanh chóng có được thành Khâu Ôn làm chỗ đứng chân, quả nhiên sinh lòng coi thường quân Lam Sơn.

Vừa khi quân Minh tiến vào thành Khâu Ôn, thì thư “cầu hòa” của Nguyễn Trãi cũng được đưa đến. Liễu Thăng ngông cuồng không thèm đọc thư mà cho người chuyển thẳng lên vua Minh, rồi tiếp tục điều quân tiến lên. Đúng như tiên liệu của tướng lĩnh Lam Sơn rằng “Quân đi hàng năm trăm dặm mà chỉ vội nhằm lấy lợi thì viên thượng tướng tất phải kiệt quệ” (theo Cương Mục), quân Minh đang cần tiến gấp để kịp cứu viện cho các thành của chúng trong nội địa, nên các hành động của giặc rất gấp gáp, không có sự trù tính thận trọng. Khi quân Minh vào đất của ta, các tướng Lương Minh, Lý Khánh đều sinh bệnh. Điều đó cho thấy thật sự quân Minh đã phải trải qua những cuộc hành quân vất vả.

Trận Chi Lăng – Liễu Thăng cụt đầu:

Trước sự kiêu căng lộ ra cả nét mặt, lời nói của Liễu Thăng thì chính trong hàng ngũ tướng lĩnh quân Minh cũng sinh lo ngại. Bọn Lễ bộ lang trung Sử An, Chủ sự Trần Dung bàn với Thượng thư Lý Khánh:

“Xem lời lẽ, sắc mặt của chủ tướng [chỉ Liễu Thăng], có vẻ kiêu. Kiêu là điều tối kỵ của binh gia. Vả lại bọn giặc nguỵ trá, hoặc có thể làm ra vẻ yếu để dụ chúng ta. Huống tỷ thư dụ rõ ràng là phải phòng ngừa giặc đặt phục binh. Đây là phút an nguy, Ngài nên nói gấp.”

Bấy giờ quân Minh đã tiến đến Ải Lưu (thuộc huyện Chi Lăng, Lạng Sơn ngày nay, nằm ở phía bắc ải Chi Lăng), quân Minh lại gặp đội quân của Trần Lựu đứng chặn đường như trêu ngươi. Lý Khánh dù đang bệnh nằm ở hậu quân, cũng phải cố gượng dậy đến chỗ Liễu Thăng mà can gián khẩn thiết. Thăng ậm ừ, nhưng vẫn kiêu căng bởi vì sự kích động của quân ta. Tại Ải Lưu, Trần Lựu cầm quân khinh kỵ giao tranh một lúc rồi lại rút lui. Liễu Thăng tức mình vì Trần Lựu cứ tháo lui nhưng rồi lại lảng vảng trước mặt, hắn bèn đích thân dẫn vài trăm kỵ binh thân tín quyết truy đuổi đến cùng. 10 vạn quân Minh cùng đội kỵ binh của Trần Lựu rượt đuổi một quãng đường từ Ải Lưu đến tận ải Chi Lăng.

Ải Chi Lăng là một thung lũng hẹp nằm giữa những dãy núi cao vút… Từ xưa ải Chi Lăng hầu như là con đường mà bất cứ đạo quân phương bắc nào cũng phải đi qua khi tiến đánh phương nam. Phía bắc ải là Quỷ Môn Quan, nơi mà cả người phương bắc lẫn người phương nam đều ái ngại khi đi qua. Có câu thơ của binh lính phương bắc rằng :

Quỷ Môn Quan, Quỷ Môn Quan

Thập nhân khứ, nhất nhân hoàn

Phía nam ải Chi Lăng là Ngõ Thề, nơi mà những đạo quân người Việt ở các triều đại cất lên những lời thề quyết tử rồi bước vào trận chiến với giặc xâm lăng. Phía tây ải là các núi đá vôi nằm cạnh dòng sông Thương. Phía đông là hai dãi núi Thái Hòa, Bảo Đài. Bên trong ải lại có năm ngọn núi Nà Sản, Mã Yên, Phượng Hoàng, Lỳ Lân, Hàm Quỷ chia cắt ải thành những con đường, thung lũng nhỏ. Nhiều nơi trong ải phải bắc cầu treo để đi qua những đầm lầy, thung lũng, khe suối.

Lại nói về việc Trần Lựu thực hiện nhiệm vụ đánh nhử địch đã hoàn thành rất xuất sắc. Sau một hồi truy đuổi gấp, đội hình quân Minh bị kéo giãn ra, đứt đoạn. Liễu Thăng cùng đám kỵ binh mải miết đuổi theo Trần Lựu tiến sâu vào ải Chi Lăng, bỏ xa phần lớn quân Minh ở phía sau. Đến núi Mã Yên, Liễu Thăng và hơn trăm quân kỵ vừa qua cầu treo thì lập tức quân Lam Sơn cho phá cầu. Lúc này thì tình thế coi như đã an bài đối với Liễu Thăng, khoảng 10 vạn quân Minh phía bên đây đầu cầu chỉ còn cách đứng nhìn chủ tướng của mình cùng hơn 100 kỵ binh bị hãm trong trận mà vô phương ứng cứu. Trong phút chốc, phục binh quân Lam Sơn bốn phía nổi lên vây chặt lấy Liễu Thăng, cùng với quân của Trần Lựu quay ngựa đánh dồn lại, nhanh chóng diệt gọn tiên phong của địch. Liễu Thăng bị mắc vào vũng lầy bên sườn núi, quân ta xáp lại dùng giáo đâm chết, rồi chặt lấy đầu hắn làm chiến lợi phẩm trước sự bàng hoàng, ngẩn ngơ và bất lực của quân tướng nước Minh hầu như vẫn còn nguyên vẹn bộ khung, quân số nhưng không thể làm gì ngoài việc đứng nhìn chủ soái của mình chết thảm. Bấy giờ là vào ngày 10.10.1427.

Lợi dụng lúc 10 vạn quân Minh chưa kịp định thần vì cái chết của chủ tướng, các tướng Lam Sơn là Lê Sát, Lưu Nhân Chú, Đinh Liệt, Lê Khắc Thụ… cùng đem 1 vạn quân gồm cả tượng binh, kỵ binh, bộ binh từ các ngã đường núi xông ra đánh thốc vào đội hình giặc. Quân Minh tiến sang lần này cũng không phải là một đạo quân dễ dàng buông xuôi. Mặc dù bị mất chủ tướng sớm và bị phục binh bốn bề vây đánh, bọn tướng lĩnh còn lại vẫn bình tĩnh điều quân, cố gắng ổn định lại hàng ngũ. Phó Tổng binh giặc là Lương Minh lên thay Liễu Thăng làm chủ tướng, chỉ huy quân tướng đi vòng qua núi Mã Yên, đánh mở đường tiếp tục tiến lên. Lê Sát cùng các tướng không đủ binh lực đánh chẹn đường, sau khi gây thiệt hại nặng ban đầu cho quân Minh thì vòng ra tuyến sau, bám sát theo đội hình hành quân của địch chờ thời cơ đánh phối hợp với các đạo quân khác. Quân Minh vượt qua ải Chi Lăng với thương vong hơn 1 vạn tên. Chiến cụ của chúng gồm súng lớn, đồ dùng công thành, tên đạn đều bị quân ta đốt sạch.

Lương Minh từ chối nghị hòa, vong mạng nơi Cần Trạm:

Bảo Định bá Lương Minh sau những giờ phút kinh hoàng ở ải Chi Lăng vẫn còn trong tay chừng 9 vạn tinh binh, hắn vẫn nuôi hy vọng tiến quân xuống đồng bằng. Lúc này, với mong muốn sớm lập lại hòa bình và tránh khỏi sự thù địch về sau của Minh triều, Lê Lợi sai Nguyễn Trãi gởi thư chiêu dụ Lương Minh ngay khi quân Minh vượt ải Chi Lăng. Thư viết:

“Tôi thường nghe, binh cốt để bảo vệ cho dân, không phải là để làm hại dân, dẹp yên để không phải giết, không phải là để giết nhiều người. Cho nên có câu rằng: “Binh là bắt đắc dĩ mới phải dùng”. Điều mà có thể thôi được hay không thể thôi được, không phải là bản tâm của thánh nhân. Nay các ông đem quân đi sâu vào cõi đất người chính là bị hãm vào thế trong miệng cọp, muốn tiến không được, muốn lui không hay. Còn ta thì nhân thế chẻ tre, sau khi chẻ được mấy đốt, cứ lọng lưỡi vào mà chẻ đi, thực không khó gì. Nhưng ta vẫn nghĩ đến nghĩa nước nhỏ thờ nước lớn, có mặt trời soi trên, không dám thiếu lòng thành kính. Cho nên nhiều lần gửi thư mà các ông vẫn không trả lời. Thế có phải là sự không may của một nước ta chăng? Thế là sự không may lớn cho cả nhân dân thiên hạ. Sao có thể thôi được mà không thôi hẳn.

Trước đây, các thành Tân Bình, Thuận Hóa, Diễn Châu, Nghệ An và Tiền, Hậu vệ, Thị Kiều, Xương Giang, Tam Giang đều đã mở cửa thành, cởi cùng ta hòa giải. Phàm hết thảy quan quân, đàn ông, đàn bà, lớn bé cộng mấy vạn người, ta đều thu nuôi tất cả, không xâm phạm một chút nào. Xin các ông lui ngay quân ra ngoài bờ cõi, ta tự dẹp mở lối về, cho các ông được thung dung đem quân về, ta sẽ đem các quan lại đàn ông, đàn bà nói trên kia trao tất cả ở ngoài bờ cõi. Như thế thì các ông có thể ngồi hưởng thành công mà Nam, Bắc từ nay vô sự, há chẳng hay ư? Nếu có thể thôi được mà không thôi, là do các ông không biết dập tắt lửa đi để cho nó tự cháy lên, không phải là tội của ta vậy. Thư nói không hết lời.”

Khác với nhiều thư từ trước kia, lần này có vẻ như Nguyễn Trãi đã nói với Lương Minh những lời rất thẳng thắn và thực lòng chứ không còn dùng những quyền mưu ẩn đằng sau câu chữ. Việc nghị hòa trên thế thắng đối với nước ta dù rằng không đem lại một chiến thắng trọn vẹn về mặt quân sự, nhưng sẽ là một chiến thắng về ngoại giao rất quan trọng. Việc giành được độc lập mà vẫn giữ được mối quan hệ tốt với nước Minh, một đế chế hùng mạnh nhất phương đông đương thời sẽ mở đường cho một nước Đại Việt mới gây dựng lại phát triển mạnh mẽ, không bị đe dọa bởi chiến tranh và chạy đua vũ trang. Đối với quân Minh, chúng dù vẫn còn lực, nhưng đã mất thế. Việc nghị hòa với quân Lam Sơn cũng là lối thoát khả dĩ nhất cho chúng. Thế nhưng Lương Minh vẫn quen thói cùng binh độc vũ, ngoan cố tiến quân.

Ngày 15.10.1427, quân Minh tiến đến Cầm Trạm (xã Hương Sơn, huyện Lạng Giang, Bắc Giang ngày nay). Tại đây, quân Lam Sơn đã dựng lên một thành lũy nhỏ chắn ngang đường tiến quân của giặc. Hơn ba vạn quân dưới quyền chỉ huy của các tướng Nguyễn Đình Lý, Lê Văn An đã đặt mai phục dày đặc bên đường từ trước. Kịp khi Lương Minh vừa kéo quân đến, phục binh nổi lên đánh phá, lại theo chiến thuật kinh điển của quân Lam Sơn là bẻ gãy tiền phong, nhắm thẳng vào chỗ Lương Minh mà đánh gấp. Đồng thời, các tướng Lê Sát, Lưu Nhân Chú, Đinh Liệt … trước đó vẫn bám theo sau quân Minh, được dịp cũng hết sức đánh thốc vào mặt sau. Quân Minh cũng ra sức chống trả mãnh liệt, chia thành vòng trận trong ngoài, chiến đấu trên một trận tuyến dài 5 km. Giặc đã tự đặt mình vào thế quyết tử, nên đánh nhau rất hăng. Tuy vậy, quân Lam Sơn vẫn chiếm thế thượng phong nhờ vào sự chuẩn bị kỹ lưỡng từ trước. Bảo Định bá Lương Minh đánh nhau ở vòng ngoài trận, bị trúng lao chết tươi. Quân Minh với các tướng lĩnh còn lại là Lý Khánh, Hoàng Phúc, Thôi Tụ vẫn can trường tiến binh vượt qua Cần Trạm, để lại xác của Lương Minh và hơn 1 vạn đồng đội chết trong trận.

(còn nữa)

Quốc Huy/Một Thế Giới

Kháng Minh Truyền Kỳ ( Phần 3 ) – Kỳ 26 : Bày binh bố trận, đón lõng viện binh nước Minh

Kháng Minh Truyền Kỳ ( Phần 3 ) – Kỳ 26 : Bày binh bố trận, đón lõng viện binh nước Minh

Xem kỳ 25

Theo chiến lược Vây thành diệt viện, sau các chiến thắng Khâu Ôn, Xương Giang, nghĩa quân Lam Sơn đã hoàn thành kế hoạch chặt đứt những “cầu nối” của quân Minh trên tuyến đường từ Quảng Tây đến Đông Quan. Những lực lượng cơ động đông mạnh của quân ta được rảnh tay, Bình Định vương bèn cho đều quân lên tăng cường cho hai tuyến biên giới tây bắc và đông bắc để chuẩn bị quyết chiến với quân cứu viện của Mộc Thạnh và Liễu Thăng. Khác với những cuộc chiến trước đó của dân tộc Việt khi đối đầu với các đạo quân phương bắc, lần này Lê Lợi và tướng lĩnh Lam Sơn lựa chọn chiến trường chính là ngay ở các cửa ải địa đầu, không cho chúng tiến xuống vùng đồng bằng. Sự lựa chọn này đến như một lẽ hiển nhiên, đến từ hoàn cảnh lúc bấy giờ.

Lý do tiên quyết là ở trong nội địa, quân Minh còn giữa được bốn thành Đông Quan, Tây Đô, Cổ Lộng, Chí Linh làm chỗ trú chân. Nếu để quân tiếp viện của giặc đánh được vào sâu, chúng sẽ giải vây được cho đồng bọn, hình thành thế trận trong đánh ra, ngoài đánh vào. Khi ấy diễn biến trận chiến sẽ trở nên rất khó lường. Lý do thứ hai cũng không kém phần quan trọng là bởi quân Lam Sơn không giống những đội quân mạnh truyền thống trước đây của người Việt. Nếu như các triều trước từ Ngô – Đinh – Tiền Lê – Lý – Trần – Hồ đều có thủy quân hùng mạnh, có thể tận dụng hệ thống sông ngòi chằng chịt làm lợi thế chiến đấu thì ngược lại, quân Lam Sơn khởi phát từ rừng núi Thanh Hóa, giỏi chiến đấu trên bộ, nơi địa hình rừng núi phức tạp.

Đầu tháng 10/1427, hai đạo quân Minh tiếp viện đã tiến sát biên giới. Ở hướng Vân Nam, Kiềm Quốc công nước Minh là Mộc Thạnh cùng các tướng Từ Hanh, Đàm Trung với 5 vạn quân, 1 vạn ngựa đã chỉnh tề đội ngũ, sửa soạn tiến đánh ải Lê Hoa (thuộc Lào Cai, giáp Vân Nam). Phía đông bắc thì tướng giặc là Chinh lỗ tướng quân Thái tử thái phó An Viễn hầu Liễu Thăng, Tham tướng Bảo Định bá Lương Minh, Đô đốc Thôi Tụ, Binh bộ thượng thư Lý Khánh, Công bộ thượng thư Hoàng Phúc, thổ quan Hữu bố chính sứ Nguyễn Đức Huân dẫn 10 vạn quân, 2 vạn ngựa chiến nhằm đánh ải Pha Lũy (nay thuộc Bằng Tường, Quảng Tây, Trung Quốc).

Trước thềm trận chiến quyết định, Lê Lợi đã có lời nhận định: “Giặc vốn khinh ta, cho là ngưới nước ta nhút nhát, sợ oai giặc đã lâu, nay nghe tin đại quân sang, hẳn là ta rất hoảng sợ. Huống chi lấy mạnh nạt yếu, lấy nhiều lần ít đó là lẽ thường. Giặc không thể tính được hình thế được thua của người của mình, không thể hiểu được cơ vi qua lại của thời của vận. Vả lại, quân đi cứu nguy cấp phải lấy mau chóng làm quý, giặc nhất định phải hành quân gấp vội. Binh pháp có nói: Hành quân 500 dặm mà chỉ vội hám lợi thì sẽ què thượng tướng. Nay Liễu Thăng đến, đường sá xa xôi, quân lính tất mỏi mệt. Ta đem quân nhàn khỏe, đợi đánh quân mỏi mệt, nhất định sẽ thắng” (theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư)

Để nuôi thêm sự kiêu ngạo của giặc, Nguyễn Trãi nhân danh của vua bù nhìn Trần Cảo soạn thư cầu hòa gởi đến Liễu Thăng. Thư có đoạn viết:

“Nay tôi tủi phận là con cháu còn sót lại của vua Trần, ẩn náu ở đất Lão Qua đã hơn 10 năm nay. Người trong nước tôi khổ về chính sự khắc nghiệt của các quan lại triều đình [chỉ quan tướng nước Minh đô hộ]; nhớ lại ơn đức cũ của các vua Trần trước kia, mới cùng bàn nhau đánh đuổi bọn quan cai trị, ép tôi về nước. Khoảng tháng 11 năm ngoái, các quan quân đóng giữ ở các thành các xứ đều đã lục tục mở cửa, bỏ binh giáp, hòa giải cùng với chúng tôi. Tất cả các quan lại và quân dân trai gái gồm có hơn một vạn người, chúng tôi đều thu nuôi cả, không phạm đến mảy may.

Nay tôi lại nghe thấy, triều đình lại sai tướng quân đem đại quân đến bờ cõi nước tôi; không biết rõ đạo quân ấy là quân cứu viện chăng? Hay là quân đến đóng giữ chăng? Hay lại là quân đến làm việc lập lại họ Trần chăng? Các ông ví xét rõ sự tình thời thế, đóng đại quân lại rồi đem việc hào giải của tất cả các quan lại quân dân nói trên kia, làm tờ số tâu rõ công việc về triều đình, tôi cũng liền lập tức cho đúc người vàng, mang tờ biểu, tiến cống thổ sản địa phương.

Còn các bầy tôi trong triều may ra biết đem đường lối thẳng thắn can ngăn Vua [chỉ Tuyên Tông nước Minh] lại làm việc dấy kẻ bị diệt, nối lại dòng kẻ mất gốc mà tránh được việc phi lí dùng binh đến cùng, khoe khoang võ lực như đời Hán, Đường. Sai một vài đặc sứ dụ dỗ bằng lới nói êm ấm để tha tội cho nước An Nam. Làm như thế thì các ông có thể ngồi yên đó mà hưởng thành công. Mà nước lớn sẽ làm trọn được đạo “lạc thiên”; nước nhỏ cũng tỏ được hết lòng thành thực “úy thiên”. Như thế há chẳng tốt đẹp lắm ru!”(theo Quân Trung Từ Mệnh Tập)

Cùng với việc gởi thư vờ xin Liễu Thăng lui binh, quân ta cũng rút bỏ thành Khâu Ôn vừa chiếm được trước đó không lâu, vì thành này nằm ở vị trí quá xa các ải khác trong nội địa, bất lợi để thiết lập phòng thủ. Liễu Thăng dẫn quân tiến vào thành Khâu Ôn, càng đinh ninh là quân Lam Sơn nhát sợ, nóng lòng muốn lập công to.

Mặc dù xác định sẽ đánh giặc nơi địa đầu, nhưng Lê Lợi vẫn theo gương các đời trước cho nhân dân các xứ phía bắc làm kế thanh dã (tức Vườn không nhà trống). Lúa ngoài đồng được gặt sớm, lương thực đều được mang đi cất giấu, không để lại thứ gì mà quân giặc có thể tận dụng làm quân lương tại chỗ được. Trừ những người làm nhiệm vụ chiến đấu, thì nhân dân đều nhận lệnh sơ tán khỏi những nơi dự kiến sẽ trở thành chiến địa.Trong khi thường dân được lệnh lùi về các tuyến sau, thì những chiến binh dũng mãnh nhất tiến lên tuyến đầu. Các tướng Lê Sát, Trần Lựu, Lưu Nhân Chú, Đinh Liệt, Lê Lĩnh, Lê Thụ nhận trọng trách đem 1 vạn quân tinh nhuệ lên giữ ải Chi Lăng, là nơi dự kiến diễn ra trận đánh quan trọng đầu tiên trong chiến dịch đánh diệt 10 vạn quân của Liễu Thăng. Ở mặt trận tây bắc, các tướng Phạm Văn Xảo, Trịnh Khả, Lê Trung, Lê Khuyển cũng dẫn quân mạnh lên giữa ải Lê Hoa để cầm cự với 5 vạn quân của Mộc Thạnh.

Lê Lợi không chủ quan ở mặt trận nào khi mà cả hai hướng tây bắc, đông bắc đều có quân mạnh trấn giữ. Nhưng riêng đối với cánh quân của Mộc Thạnh, Bình Định vương nhận định rằng: “Mộc Thạnh tuổi đã già, từng trải việc đời đã nhiều, lại biết tiếng vua từ trước, nhất định còn đợi xem Liễu Thăng thành bại ra sao chứ không nhẹ dạ tiến quân”(theo ĐVSKTT). Do đó, ngài ngầm đem mật thư cho Trịnh Khả, Lê Khuyển lệnh không nên đem quân ứng chiến sớm, chỉ cần đặt mai phục để đợi.

Trọng tâm của chiến dịch vẫn được xác định nằm ở mặt trận phía đông bắc với mục tiêu là tiêu diệt cánh quân của Liễu Thăng. Phía sau đội quân của Lê Sát là hàng loạt các đạo quân hùng mạnh khác chực chờ tiếp ứng cho tuyến đầu. Cách ải Chi Lăng không xa, tướng Lê Lý đặt sẵn phục binh đón đánh quân Minh. Sau quân của Lê Lý là đại quân của Trần Nguyên Hãn đóng ở thành Xương Giang dài đến thành Chí Linh bao gồm cả quân thủy lẫn quân bộ, vừa là điểm tựa cho các quân ngoài biên ải, vừa giữ nhiệm vụ cô lập hoàn toàn quân Minh trong thành Chí Linh, không cho chúng có cơ hội xuất thành. Bản thân Bình Định vương Lê Lợi thì bấy giờ đóng ở dinh Bồ Đề (thuộc Gia Lâm, Hà Nội ngày nay), giữ các vệ quân Thiết đột tinh anh cùng các mãnh tướng Nguyễn Xí, Phạm Vấn, Lê Khôi làm lực lượng dự bị, tùy cơ lợi hại mà tung quân vào chiến trận để tiếp ứng cho các hướng quân hay góp sức đánh dứt điểm quân địch.

Một thế trận liên hoàn, nhiều tầng, nhiều lớp đã được bày ra để chờ đánh viện binh của giặc. Toàn bộ quân dân Việt đã tập trung ở mức cao nhất tinh thần và lực lượng, sẵn sàng bước vào trận chiến sinh tử quyết định vận mệnh toàn dân tộc.

(còn nữa)

Quốc Huy

Kháng Minh Truyền Kỳ ( Phần 3 ) – Kỳ 25 : Đại phá thành Xương Giang

Kháng Minh Truyền Kỳ ( Phần 3 ) – Kỳ 25 : Đại phá thành Xương Giang

Xem kỳ 24

Nói về tình hình thành Xương Giang, trước hết phải kể qua chính sách di dân của nước Minh. Bên cạnh việc bắt người Việt đưa sang nước Minh làm nô lệ, Minh triều còn cho người nước Minh sang ở trong các thành thị trên lãnh thổ Đại Việt. Đây là một trong những chính sách nhằm mục đích đồng hóa người Việt. Người nước Minh sang đất Việt ở trước tiên phải kể đến là vợ con, gia quyến của các binh lính, quan lại người Minh. Kế đến là giới thị dân, thương gia. Hiện chưa có con số thống kê, nhưng ước tính có đến hàng vạn người Minh đã sinh sống trên lãnh thổ nước ta, chủ yếu tại các thành lớn hoặc gần biên giới nước Minh như Đông Quan, Tam Giang, Tây Đô, Khâu Ôn… Thường dân người Minh bị bắt làm tù binh đông đúc đến mức Bình Định vương Lê Lợi phải hạ lệnh các xứ chia nhau chu cấp cho họ. Bốn xứ Thiên Trường, Kiến Xương, Lý Nhân, Tân Hưng phải chia nhau nuôi ăn 6.000 thường dân người Minh bị bắt. Điều này thể hiện thiện chí rất lớn của nghĩa quân Lam Sơn, ngay khi mà chiến tranh còn đang gay cấn.

Riêng tại thành Xương Giang, quân Minh chính quy vốn chỉ có vài ngàn, do các tướng Lý Nhậm, Kim Dận, Cố Phúc, Phùng Trí, Lưu Thuận, Lưu Tử Phụ chỉ huy. Các tướng Minh đã dùng lời và đe dọa vừa cổ vũ các dân chúng trong thành (chủ yếu là người Minh), cả nam lẫn nữ, già trẻ đều cùng tham gia thủ thành. Cùng với ưu thế vượt trội về hỏa lực, thêm thành cao, hào sâu, thành Xương Giang trở thành một con nhím vô cùng khó công phá. Xưa kia Lý Thường Kiệt đánh thành Ung Châu, quân tướng đều tinh nhuệ nhưng cũng phải đến hơn một tháng rưỡi mới hạ nổi, thiệt hại lên đến hơn một vạn quân. Ung Châu và Xương Giang đều có điểm chung là quân và dân đều tự đặt mình vào thế cùng mà đồng lòng tử thủ, và đều là thành trì kiên cố, vũ khí dồi dào. Riêng thành Xương Giang còn có ưu thế của thời đại, khi mà hỏa lực trên thành hoàn toàn vượt trội nghĩa quân Lam Sơn. Ngoài ra còn có một điểm bất lợi là quân lính mà Bình Định vương Lê Lợi dùng để đánh thành vốn không phải quân lính tinh nhuệ mà là tân binh mới tuyển ở các lộ Khoái Châu, Lạng Giang khi quân Lam Sơn tiến ra bắc.

Vì có nhiều điều bất lợi nên mặc dù các tướng Lê Sát, Lê Thụ, Nguyễn Đình Lý (tức Lê Lý), Lê Lĩnh, Lý Triện, Lê Hốt đều là tướng tài ba với hàng vạn quân trong tay nhưng đánh với giặc hàng mấy tháng trời vẫn không hạ nổi. Quân Lam Sơn cố gắng tiếp cận tường thành trước hết phải vượt qua hỏa lực của các loại súng đại bác, hỏa tiễn trên thành bắn xuống. Thành cao, quân ta trèo lên thì địch trên thành giương cờ hò hét, chống cự rất mãnh liệt. Đánh nhau ngày đêm, quân ta thiệt hại nhiều vẫn không hạ được thành.

Quân Lam Sơn phải chuyển sang kế hoạch lâu dài hơn. Lê Lợi điều động nhân dân các xứ tích cực rèn vũ khí, đúc súng lớn, tải lương thực tiếp tế cho đội quân đánh thành Xương Giang. Lê Sát cùng các tướng lại ở ngoài thành dựng thêm nhiều chiến cụ công thành, lại đắp núi đất, đặt súng bắn vào thành. Quân dân nước Minh trong thành thiệt hại nặng, nhưng vẫn quyết tâm chiến đấu. Nhân một đêm tối trời, Lý Nhậm dẫn cảm tử quân ra ngoài thành đánh phá, đốt các chiến cụ mà quân ta dày công chế tạo. Quân Lam Sơn bị bất ngờ nên để mất mát các chiến cụ quan trọng và để xổng mất quân địch. Mất đi các chiến cụ, việc công phá thành lại thêm cam go. Quân Lam Sơn dùng kế đào địa đạo vào trong thành. Bọn Lý Nhậm, Cố Phúc phát hiện được, cho đào hào cắt ngang địa đạo, ném đá xuống như mưa, quân ta lại bị thiệt hại. Suốt hơn sáu tháng trời, quân Lam Sơn vừa chế tạo lại chiến cụ công thành vừa đánh giằng co với địch.

Đến tháng 9.1427, mặc dù cục diện thành Xương Giang vẫn không ngã ngũ, tình hình trên cả nước lại có những biến chuyển tích cực. Vòng vây quanh thành Đông Quan đã được củng cố chặt chẽ như kế hoạch của Bình Định vương Lê Lợi. Các hậu phương được củng cố, hệ thống cai trị dần hoàn thiện, lực lượng quân Lam Sơn được bổ sung, quân lính được huấn luyện và trang bị tốt hơn. Thêm nhiều thành trì khác của quân Minh đã bị đánh hạ hoặc xếp giáo quy hàng. Thành Xương Giang càng trở nên trơ trọi. Tình hình mới cho xếp Lê Lợi có thêm nhiều lực lượng cơ động mạnh để tung vào các điểm nóng trên chiến trường. Thái úy Trần Nguyên Hãn được lên đem quân tăng cường cho mặt trận thành Xương Giang, hội binh với Lê Sát và các tướng lên đến 8 vạn quân, nhận nhiệm vụ bằng mọi giá phải sớm hạ được thành trước khi bọn Liễu Thăng, Mộc Thạnh tiến sang.

Đáp lại lòng tin tưởng của Bình Định vương, Trần Nguyên Hãn cùng các tướng đã dùng kế hợp nhiều phương pháp công phá thành. Các núi đất được tăng cường đắp lên quanh bốn mặt thành, từ đó súng đạn, cung nỏ của quân Lam Sơn bắn vào thành tới tấp. Trần Nguyên Hãn lại cho quân một lần nữa đào địa đạo xuyên vào trong thành, đồng thời tung quân với sự yểm trợ của tượng binh tràn lên tấn công khắp bốn mặt thành. Quân Minh nhiều tháng đánh nhau, lực lượng cũng đã hao hụt nhiều. Đến khi quân ta tổng tiến công như thế, chúng đã bị phân tán làm nhiều hướng, không còn phòng bị được kín kẽ. Quân Lam Sơn từ địa đạo chui lên, đánh tỏa ra, cùng với quân từ bên ngoài, toàn thành bị tắm máu. Bấy giờ là ngày 28.09.1427, thành Xương Giang bị hạ sau 6 tháng bị vây đánh. Bọn tướng Minh từ Lý Nhậm trở xuống đều tự sát. Quân Lam Sơn phóng hỏa đốt thành, bắt sống hết những người còn sống sót. Trần Nguyên Hãn đem hết những chiến lợi phẩm, ngọc lụa, con gái người Minh chia cho sĩ tốt làm quà khích lệ (theo Đại Việt sử ký toàn thư).

Chiến thắng Xương Giang có ý nghĩa lớn về chiến lược. Một điểm nóng đóng vai trò làm bàn đạp cho quân Minh từ trong nước đánh xuống đã bị tiêu diệt sau nhiều tháng khó nhọc. Xương Giang giờ đây lại trở thành một cứ điểm phòng ngự lợi hại của quân Lam Sơn, chắn ngang con đường tiến quân mà giặc dự kiến. Thắng trận không lâu thì thám binh cũng báo về, viện binh nước Minh dưới trướng Liễu Thăng, Mộc Thạnh sau nhiều tháng chuẩn bị, gom quân, hành quân đã tiến đến gần biên giới, chuẩn bị tập kết vượt biên tiến vào lãnh thổ nước ta.

Bấy giờ sau khi thành Xương Giang bị hạ thì trên nước ta chỉ còn bốn thành mà quân Minh còn chiếm giữ là Đông Quan, Chí Linh, Cổ Lộng, Tây Đô. Cả bốn thành đều bị vây chặt không thể cự quậy. Tại mặt trận Đông Quan, quân Lam Sơn lại vừa phá được thành phụ của giặc ở đê Vạn Xuân, từ chỗ ấy đắp lên một chiến lũy dọc đê, chỉ trong một đêm hoàn toàn cắt đứt đường ra thành chăn ngựa, cắt cỏ của quân Minh.Các tướng thấy quân trong thành đã khốn cùng mà viện binh giặc sắp sang, phần nhiều khuyên Bình Định vương đánh gấp để hạ thành Đông Quan, tiệt nguồn nội ứng của giặc. Lê Lợi đáp: “Đánh thành là hạ sách. Ta đánh thành bền vững hàng năm hàng tháng không hạ được, khi ấy quân ta sức mỏi chí nhụt, nếu viện binh của giặc lại đến thì trước mặt, sau lưng đều bị tấn công, đó là con đường nguy hiểm. Chi bằng nuôi sức quân, mài giũa tinh thần sắc bén, để đợi viện binh của giặc. Viện binh giặc bị phá thì thành giặc nhất định phải hàng. Như thế là nhất cử lưỡng tiện, là mưu chước vẹn toàn” ( Đại Việt Sử ký toàn thư).

Chư tướng nghe lời bàn, đều phục là cao luận. Rõ ràng các trận đánh thành Khâu Ôn, Xương Giang là minh chứng rõ nét cho sự khó khăn của việc công phá những thành trì quân Minh. Trong khi quân ta hoàn toàn có khả năng thực hiện chiến lược “Vây thành diệt viện”. Theo chiến lược chung, Lê Lợi tiếp tục thực hiện những bước chuẩn bị đón đánh viện binh giặc. Đồng thời, ngài vẫn không quên tiếp tục việc chiêu hiền đãi sĩ. Chiếu cầu hiền đã truyền xuống quân dân, lời lẽ rất khiêm nhường :

“Các thành đã phá được rồi, chỉ còn thành Đông Quan chưa hạ được. Ta vì thế mà nằm không yên chiếu, ăn không ngon miệng, sớm khuya suy nghĩ, khô héo ruột gan. Thế mà bên cạnh ta, vẫn chưa có được người giúp đỡ. Ta tuy là chủ tướng, nhưng xét lại bản thân mình một là già ốm, bất tài, hai là học thức nông cạn, ba là trách nhiệm nặng nề khó bề kham nổi, mà các đại thần như tả, hữu tướng quốc, thái phó, thái bảo vẫn chưa đặt, thái úy, đô nguyên soái vẫn còn khuyết, hành khiển và các quan, mười phần mới được một, hai phần. Cho nên, ta nhún mình thành thực khuyên bảo các hào kiệt cùng nhau dốc sức, cứu giúp muôn dân, chớ có mai danh ẩn tích, để thiên hạ phải lầm than mãi mãi. Nếu có ai khí tiết thanh cao như Tứ Hạo, lánh đời ẩn tích như Tử Phòng cũng hãy ra cứu nạn cho dân đã, đợi khi thành công, muốn thoả chí xưa thì lại trở về rừng núi, không hề cấm giữ”. (theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư)

(còn nữa)

Quốc Huy/Một Thế Giới