“Trong trại giam của Việt Cộng” – Phần 3

“Trong trại giam của Việt Cộng” – Phần 3

Xem phần 2

TRONG TRẠI GIAM VIỆT CỘNG – Klaus Liedke – Phần 3

Có ba câu hỏi cần được giải đáp :

1. Vì sao người Mỹ thua cuộc chiến tranh ở Việt Nam ?

Trước tất cả là sự tự lừa dối mình của người Mỹ. Rằng cuộc chiến này khác với việc tiến hành một cuộc chiến thực dân chống lại một phong trào giải phóng dân tộc, mà là bảo vệ “tự do phương Tây” chống lại “nô dịch Cộng sản”. Nhưng những nhà Cộng sản lãnh đạo phong trào giải phóng đã nhìn thấy một con đường đúng đắn trong việc kế thừa cuộc đấu tranh cả ngàn năm chống ách thống trị của Trung Quốc, Pháp và Nhật.

Chính Lyndon B.Johnson, trước khi leo thang chiến tranh đã cảnh tỉnh rằng “gửi lính Mỹ vào vùng đầm lầy bẩn thỉu ở Đông Dương để vĩnh viễn hóa chủ nghĩa thực dân và sự bóc lột của người da trắng tại châu Á”. Và chính Dwright D.Eisenhower là người chống lại việc thống nhất Việt Nam thông qua tổng tuyển cử tự do như trong hiệp định Giơnevơ đã thỏa thuận bởi vì, như sau này trong hồi ký ông ta đã viết : “hình như 80% dân chúng sẽ bầu ông Hồ Chí Minh làm người lãnh đạo mình”.

Sự can thiệp của Mỹ như vậy là một hành động xâm lược cổ điển, tương tự sự can thiệp của Liên Xô tại Tiệp Khắc và sự can thiệp của Hoa Kỳ tại Cộng hòa Dominic. Tất cả với một mục đích duy nhất : loại trừ lực lượng cách mạng dân tộc. “Cộng sản hay không Cộng sản, tư tưởng yêu nước là một sức mạnh mà không có một đẳng cấp nào đương đầu nổi” – tướng Marcel Bigeard, người đã chỉ huy đội quân lính nhảy dù của Pháp tại Điện Biên Phủ đã bình luận tại Paris, sau khi Sài Gòn thất thủ.

Người Mỹ đã đương đầu với chủ nghĩa yêu nước này bằng thứ gì ? Đó là những con người tham nhũng, trấn áp của một giuộc như Kỳ và Thiệu, những chính khách không có dân hậu thuẫn. Họ hô hào bảo vệ “tự do phương Tây” mà chưa hề thiết lập nó bao giờ. Họ cản ngăn cải cách xã hội mà CIA cho rằng rất cần thiết để tranh thủ “trái tim và khối óc” của người dân ở Việt Nam. Họ sáng chế ra chuồng cọp, và với “chiến dịch Phượng Hoàng” của họ được vạch ra ở Washington, họ đã thủ tiêu 20.000 người Nam Việt Nam bị nghi vấn có cảm tình với Việt Cộng.

Cuối cùng, trong tiến hành chiến tranh Việt Nam không những về mặt đạo lý, mà cả trong chiến thuật người Mỹ đã thất thế. Những nơi nào họ xuất hiện bằng những đội quân đông đảo, ở đó đối phương chiến đấu như người du kích, cơ động, lẫn tránh từ nơi phục kích. Ở đâu họ nhường chỗ cho pháo binh Nam Việt Nam hoạt động, thì ở đó đối phương hình thành những đơn vị chiến đấu thông thường và chiến thắng.

Người Mỹ nói về mặt quân sự họ “dè dặt”, họ có thể đánh thắng nếu người ta cho các nhà quân sự của họ được tự do hành động. Những con số sau đây nói lên điều ngược lại : năm 1954 khi ngoại trưởng Mỹ John Foster Dulles chào mời bom nguyên tử cho cuộc chiến cuối cùng với thủ tướng Pháp Bidault, thì người Mỹ đã chi cho cuộc chiến tranh thực dân Pháp 80% rồi. Trong những năm 60, thượng viện Mỹ hầu như thông qua tất cả các khoản tiền mà lầu Năm Góc đã yêu cầu cho việc tiến hành chiến tranh. Người Mỹ đã gửi 500.000 quân và 150 tỷ đô la cho cuộc chiến tranh, trong khi đó người đồng minh của Việt Cộng và Bắc Việt Nam – người Trung Quốc và người Nga không có gửi quân đội, chỉ chi 10 tỷ đô la.

Phải chăng là “dè dặt’, rằng Mỹ không ném bom Bắc Việt Nam để trở về “thời kỳ đồ đá” như một tướng của Hoa Kỳ đã đề nghị ? Phải chăng là “dè dặt”, rằng không có một thành phố nào ở Nam Việt Nam như Bến Tre, đồng bằng sông Mêkong, mà một sĩ quan Mỹ đã nói hồi tháng 2/1968 : “Chúng tôi hủy diệt nó để cứu lấy nó”. Thật đáng nghi vấn. Giả sử liệu người Mỹ thống nhất được đất nước này. Nhưng chắc chắn, không bao giờ họ giành được thắng lợi.

2. Người Mỹ rút ra được bài học nào từ Việt Nam ?

“Chúng tôi đã học được bài học Việt Nam”, tổng thống Ford đã tuyên bố sau khi đầu hàng. Nói thẳng ra, bài học nào ? Kissinger, người nhận giải thưởng Nobel, vẫn làm ngoại trưởng. Người thiết kế “chiến dịch Phượng Hoàng” ngày ngày là chef của CIA. Và khi vụ tai tiếng Mayaguez đưa tới thời cơ cho ông, thì tổng thống Ford bất ngờ tấn công, nói rằng để chứng minh cho thế giới thấy “tinh thần quân sự lành mạnh” của Mỹ sau thất bại ở Đông Dương không bị bẻ gãy. Hành động của Ford cố làm cho dân tộc mình quên đi sự nhục nhã hôm qua đã đem đến cho ông 15 điểm cộng trong biểu đồ uy tín của ông. “Hãy cứu lấy sinh mạng người Mỹ”, là sự ngụy biện đối với người Mỹ đủ dành cho những cuộc phiêu lưu quân sự đại chúng, hoang dã.

Tất nhiên đối với người Mỹ tin vào đức Chúa Trời và tổng thống của họ cũng không thể không nhận thức được rằng những nhà lãnh đạo chính trị và quân sự của họ ngay từ đầu đã lừa dối họ : Johnson, người không muốn để “các chàng trai Mỹ” chiến đấu thay cho “các chàng trai châu Á” và để trở thành kẻ giết hại trẻ con đâu. Nixon với cuộc chiến tranh bí mật của ông tại Campuchia và những lời hứa bí mật của ông với Thiệu ( nhưng cuối cùng đã không thực hiện ). Kissinger, người trước bầu cử 1972 đã nhìn thấy “hòa bình trong tầm tay” và sau bầu cử đã thừa nhận rằng ông ta nhầm lẫn. CIA, kẻ được cho là triệt phá được lực lượng đối phương. Bộ tổng tham mưu cứ mỗi mùa thu lại nêu lên triển vọng thắng lợi mới trong năm tiếp theo. Đối với người Mỹ, một mẫu của Orwell 1984 đã trở thành hiện thực một bộ nói sự thật chịu trách nhiệm về những lời nói dối của chính phủ.

Có một quan niệm khác mà người Mỹ không thể bỏ qua. Trước sự kiện Mỹ Lai, binh lính của họ là những người phân phát kẹo cho trẻ em, binh lính nước khác gây ra những vụ thảm sát. Bây giờ, lính Mỹ là những kẻ gây tội ác chiến tranh, những người lính xấu trong chương trình truyền hình về lịch sử chiến tranh. Sự tổn thương về vật lý trên chiến trường dẫn đến tổn thương về tâm lý tại quê nhà. Với trường hợp tội lỗi tại Đông Dương, nước Mỹ đã mất đi sự vô tội về chính trị toàn cầu trong nhận thức của công dân nước họ.

Và nếu nước Mỹ đã học được điều gì, thì đó có thể là nhận thức rằng Mỹ không phải là bậc thang văn minh cao nhất mà mỗi dân tộc phải vươn tới, rằng Nam Việt Nam khi nó sụp đổ có thể chỉ là xa lìa “con đường sống của Mỹ” mà thôi.

3. Tình hình ở Việt Nam sẽ tiếp tục như thế nào ?

Đê điều bị ném bom, đồng ruộng bị rải mìn, rừng xanh trụi lá, làng mạc và đô thị bị tàn phá đòi hỏi một công cuộc xây dựng lại đắt giá, lâu dài. Phải chăm sóc cho hàng triệu người thất nghiệp, đưa những người di tản trở về quê cũ. Năm 1960, chỉ có 15% dân số Nam Việt Nam sống trong các đô thị, những năm gần đây đã tăng lên 50%. Mùa màng bị đe dọa.

Thắng lợi của phong trào giải phóng không phải là sự bành trướng tự động không gian quyền lực của Liên Xô hay Trung QUốc. Nó có ý nghĩa không gì hơn là sự mở rộng của một nhà nước Cộng sản dân tộc xuất phát từ những động cơ dân tộc, và thậm chí còn muốn có sự viện trợ của Hoa Kỳ để độc lập hơn với Matxcơva và Bắc Kinh. Có thể người Việt Nam làm được điều đó, trong vòng 5 năm tổ chức lại miền Nam, “cải tạo lại”, để nó cùng với miền Bắc được lãnh đạo chặt chẽ có thể tiến đến tái thống nhất.

Dù có thể có gì xảy ra trong nội bộ những người Bắc Việt Nam và những người anh em cách mạng của họ ở miền Nam – những người đại diện Chính phủ Cách mạng lâm thời, nhưng dân tộc này đã là thống nhất. Một dân tộc 43 triệu dân có một trong những quân đội giỏi nhất thế giới. Và trước hết, đây là một cường quốc về đạo lý

( Hết )

Diễn đàn Lịch Sử Việt Nam đánh máy và hiệu đính từ sách THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – GIỜ KHẮC SỐ 0

“Trong trại giam của Việt Cộng” – Phần 2

“Trong trại giam của Việt Cộng” – Phần 2

Xem phần 1

TRONG TRẠI GIAM VIỆT CỘNG – Klaus Liedke ( Phần 2 )

Viên tư lệnh tạo điều kiện cho chúng tôi nói chuyện với hai người này. Họ muốn đi tiếp về Sài Gòn, từ hai tuần nay họ đã đi xa. Trong các cuộc tiếp xúc với nông dân và người thành thị, họ chưa bao giờ nghe đến hành động trả thù của Việt Cộng đối với dân thường hay là binh lính chính phủ. Những người du kích con can thiệp kịp thời, khi một đám đông người sau gỉai phóng Nha Trang định hành hình một tên cảnh sát mật Sài Gòn. Người đàn ông này sẽ phải ra trước một tòa án đặc biệt, các chiến sĩ du kích đã giải thích như vậy. Chỉ những kẻ cướp mới bị đưa ra xử áp mặt vào tường.

Sau đó, anh Sửu kể cho tôi nghe không có ai phải lo sợ dù trước đó là công chức hay binh lính làm việc cho chế độ cũ. Anh ta chỉ cần trình diện. Và những ai mong muốn, những ai đã tham dự lớp học, ai là trong sạch, người đó đều được tham gia làm việc trong hệ thống mới. “Chúng tôi không tiến hành chiến tranh xâm lược, mà tiến hành cuộc chiến tranh giải phóng”. Cuộc cách mạng không cho phép mình có nhiều kẻ thù thường trực. Con đường phục hồi đạo đức đang rộng mở đối với mọi người. Đó là quy luật.

Vào ngày đầu hàng, khi chúng tôi không muốn đồng thanh hoan hô, anh Sửu hỏi chúng tôi với vẻ nghi ngờ : “Vì sao các bạn không vui mừng ? Đây là bước ngoặc lịch sử, ách thống trị ngoại bang trên đất nước Việt Nam đã kết thúc. Trước hết là người Trung Quốc, sau đến người Pháp, và người Nhật, cuối cùng là người Mỹ. Chúng tôi đã thắng tất cả họ”. Chúng tôi giải thích cho anh ấy chúng tôi là nhà báo thích được cùng đoàn quân chiến đấu và cùng dân chúng chứng kiến giờ phút lịch sử này hơn là bị cầm giữ tại đây. Anh Sửu đến gặp chúng tôi với câu trả lời chuẩn mực : “Các bạn phải đợi lệnh của chính phủ”.

Ngày 1-5, cả buổi sáng những đoàn diễu hành kéo qua trước cửa sổ chúng tôi. Nhân dân Phan Thiết luyện tập diễu hành cho lễ mừng chiến thắng lần đầu tiên. Tập hô khẩu hiệu, theo khẩu lệnh chung. Mọi người vẫy cờ Việt Cộng. Sau khi thảo luận một hồi, viên tư lệnh cho phép chúng tôi chụp ảnh một trong những khối diễu hành đi qua. “Xin các bạn hãy chụp những tấm hình thật đẹp” – Ông nhắc nhở chúng tôi : “Và xin đừng bóp méo sự thật với cái máy ảnh của các bạn”. Ông chọn một đoàn quân, tập vẫy cờ nhiều lần và hô khẩu hiệu cách mạng. Và sau đó phóng viên nhiếp ảnh của báo Stern, anh Bollinger mới được phép bấm máy. Hình như mọi người, chị em phụ nữ, tài xế xích lô, học sinh đều rất thích thú, vui cười.

Điện thông thường hằng ngày chỉ có vài tiếng đồng hồ, nay có cả buổi chiều để phục vụ ngày lễ. Trời vừa chạng vạng, xe vận tải chạy vào trong sân, chở đầy những chuyên gia về hành chính từ Hà Nội vào Sài Gòn. Trong số họ có hai người nói tiếng Đức. Một người Nam Việt Nam 44 tuổi, theo sự phân công của Chính phủ Cách mạng đã học máy in thủ công tại Leipzig, về sau tham gia in truyền đơn trong những nhà in đặt trong rừng sâu của Việt Cộng. Anh kia 28 tuổi, người Bắc Việt Nam, học toán tại Đông Berlin và sẽ nhận một nhiệm vụ công tác tại Sài Gòn. Cả hai đều náo nức góp phần đưa cách mạng đến thành công. Nhưng anh học toán tỏ vẻ nghi ngại : “Người ở miền Nam có vẻ thực dụng. Nếu hàng nhập khẩu từ nước ngoài không còn nữa, điều gì sẽ xảy ra ? “.

Ngày tháng trôi qua, chúng tôi vẫn còn bị cầm giữ. 5 giờ sáng, ăn một dĩa cơm, trưa và tối có thêm mấy hạt đậu nành và thịt hộp làm sẵn. Đó là khẩu phần ăn bình thường của người du kích. Thỉnh thoảng Sửu mang đến cho chúng tôi một lon Coca Cola lấy từ tồn kho của một kios gần đó. Chúng tôi thanh toán “thức uống biểu trưng của đế quốc” như anh Sửu nói với vẻ khinh bỉ bằng tiền Sài Gòn vẫn còn được lưu hành bên cạnh đồng tiền Bắc Việt Nam trong vùng vừa giải phóng.

Những binh lính tới lui vào phòng để giúp chúng tôi giết thời gian có vẻ trẻ hơn, nhút nhát hơn và cũng ít hiếu chiến hơn những binh lính chính phủ Sài Gòn. Chúng tôi không nhìn thấy ai uống rượu bia như đã thấy ở đối phương của họ. Đây là những con em nông dân chân chất. Đối với nhiều người, chúng tôi là những người da trắng đầu tiên đối diện họ không phải kẻ thù. Một buổi chiều, Sửu giới thiệu với chúng tôi một nữ đồng đội : “Cô ấy là một cô gái dũng cảm” – anh nói : “Cô đã giết được nhiều lính Mỹ trong chiến đấu”. Cô gái 25 tuổi, xinh đẹp, ngón tay mân mê cây súng tiểu liên của mình, cười khúc khích vụt chạy khỏi chúng tôi. “Cô là tấm gương cho tất cả chúng tôi, là một người yêu nước thực sự”, Sửu khen và nói thêm, nửa đùa : “Các bạn hãy cẩn thận với cô ấy ! Các bạn trông giống người Mỹ lắm !”.

Cuối cùng, vào ngày thứ 10 bị quản chế, đã có quyết định của chính phủ. Chúng tôi được phép đi đến Sài Gòn. Vị tư lệnh đưa cho chúng tôi một bản thanh toán trên 9.500 Piaster, tròn 30 mác về chi phí và hậu cần trong những ngày qua và nói lời xin lỗi : “Mặt trận Giải phóng cũng không giàu có gì”. Sau đó, ông tiễn chúng tôi đi khỏi Phan Thiết. Ông chỉ cho chúng tôi những khu phố bị bom đạn tàn phá, những nhà giàu đã di tản và tài sản của họ đã bị sung vào công quỹ. Thành phố đã được dọn dẹp, các cửa hiệu đã mở cửa trở lại. Khắp nơi đều thấy hình ảnh Bác Hồ. Chiếc taxi đưa chúng tôi về Sài Gòn chở 7 người. Viên tư lệnh đề nghị chúng tôi cho vài anh chiến sĩ cùng đi theo, bởi vì những người giải phóng còn thiếu phương tiện vận chuyển. Chúng tôi cũng sẵn lòng và đưa các anh lính về tới dinh Tổng thống.

Trên quốc lộ 1, trước đó một tuần lễ hàng trăm ngàn người chạy về phía nam, bây giờ lại dồn lên phía bắc trở về quê mình. Lần đầu tiên từ 30 năm nay, các quốc lộ được phép chạy về đêm, không sợ bị tấn công.

Trên đồng ruộng cạnh đường có hàng trăm xe tăng và xe vận tải bị phá hủy nằm ngổn ngang mà người ta có thể làm ra những đôi dép Việt Cộng từ những chiếc lốp xe ấy. Thương nhân chào mới nước ngọt từ Bắc Kinh, thay cho Coca Cola. Những anh lính gác bảo vệ dinh mà chiếc hôm trước tiếp nhận hai anh du kích cùng đi xe với chúng tôi. Họ mời chúng tôi uống nước trà, vui đùa thích thú với những chiếc bật lửa và những cái kẹp cà vạt mạ vàng lấy từ kho tặng phẩm của cựu tổng thống có dòng chữ “Với những lời chúc mừng tốt đẹp nhất, Nguyễn Văn Thiệu”.

Sài Gòn khi chúng tôi rời khỏi lúc chế độ cũ còn tin vào cơ hội sống sót, và Sài Gòn hôm nay lúc chúng tôi quay trở lại khi những ông chủ mới mừng tuần lễ thứ hai sau giải phóng đã làm chúng tôi hết sức ngạc nhiên : Chúng tôi không thể hình dung thành phố Hồ Chí Minh lại bình thản, tự do và thân thiện đến như thế. Sự thay đổi chế độ sau một cuộc chiến tranh man rợ lại diễn ra hết sức văn minh thật hiếm thấy là vậy. Không hề có sân vận động để tập trung hàng vạn người chống chế độ. Không hề có chuyện đạo quân say chiến thắng truy tìm trả thù.

Có thể là, nhân dịp có hàng trăm nhà báo nước ngoài đang có mặt tại Sài Gòn, chế độ mới muốn chứng minh cho thế giới biết thiện chí của mình và vạch trần lý lẽ tuyên truyền quen thuộc của Mỹ về tắm máu là sự lừa bịp. Cũng có thể đơn giản là thiếu lực lượng giữ gìn trật tự, thiếu nhân sự. Lực lượng 120.000 cảnh sát Nam Việt Nam đã bị giải tán hoàn toàn. Các em học sinh phải điều khiển giao thông trên đường phố Sài Gòn. Công chức cũ tạm thời được lệnh trở lại công sở để hướng dẫn công việc cho những nhân viên hành chính mới.

Nhiều cái còn tồn tại. Bia 33 trên sân thượng khách sạn Continental, trẻ em ăn xin, gái điếm, thương gia Ấn Độ bán sách báo cuối đường Tự Do vẫn còn đổi đô la chợ đen. Và có nhiều cái mới : xử tử công khai những tên trộm cướp, tập thể dục buổi sáng theo từng khối, công chức không nhận tiền đút lót.

Giá những bộ bà ba đen – sắc phục chiến đấu của du kích tăng gấp đôi, tại chợ trời họ lại bị “cứa cổ”, họ không quen trả giá, khi họ mua đài bán dẫn Sony, túi xách PanAm, đồng hồ Thụy Sĩ mà nó chỉ chạy có mấy tiếng đồng hồ, vì trong ruột là máy đồng hồ đồ chơi trẻ em.

Nhiều người không tìm được chỗ để di tản, nay vui mừng vì ở lại. Tại một quán cafe, tôi gặp lại Lê Văn Danh làm phiên dịch cho người Mỹ trước kia. “Tôi rất mừng” – anh nói với tôi – “Người Mỹ không mang tôi đi theo. Không còn bị véo tai, lại có nhiều tự do”.

Rõ ràng có nhiều tự do. Trước khi các nhà báo phương Tây xuất cảnh ồ ạt, nhà cầm quyền đã siết chặt quy chế. Người ta bắt đầu đốt sách, phá hủy hết đĩa hát, xuống các chỉ dẫn về quần áo và nón, mũ đội đầu. Trước trụ sở hạ viện, trên bức tượng chiến sĩ đã bị giật đổ, có một người Nam Việt Nam đổ xăng và tự thiêu – một hình thức phản đối của đạo Phật. Người ta chính thức nói rằng người đàn ông này đã kết liễu đời mình do vui mừng về hòa bình.

Có thể đối với nhiều người trong chúng ta phản đối những đau đớn của họ còn dễ dàng hơn sống với chiến thắng của họ.

( còn tiếp )

Diễn đàn LSVN đánh máy và hiệu đính từ sách THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – GIỜ KHẮC SỐ O

“Trong trại giam của Việt Cộng” – Phần 1

“Trong trại giam của Việt Cộng” – Phần 1

Cuộc chiến tranh tại Việt Nam trong mắt của phương Tây là một cuộc chiến được truyền thông theo dõi sát chưa từng thấy. Công chúng được theo dõi từng trận đánh qua truyền hình, các nhà báo xuất hiện ở các tuyến để săn tin với mật độ dày đặc. Trong những ngày cao điểm của cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975, một nhóm nhà báo Đức từ Sài Gòn đã bạo gan dùng thuyền vượt chiến tuyến để từ vùng kiểm soát của quân đội Sài Gòn sang vùng kiểm soát của quân Giải Phóng hòng tìm kiếm những tin tức mới lạ, nóng bỏng nhất. Và họ đã bị bắt vì xâm nhập bất hợp pháp. Thế nhưng trong trại giam, nhà báo Klaus Liedke ( thuộc báo Stern ) vẫn có cơ hội để ghi nhận lại những diễn biến chiến sự từ góc nhìn của một … tù nhân. Nhân dịp kỷ niệm 42 năm ngày miền nam hoàn toàn giải phóng, đất nước hoàn toàn thống nhất, Diễn đàn Lịch Sử Việt Nam xin phép được đăng lại bài báo cho quý độc giả được hiểu rõ hơn về một giai đoạn lịch sử hào hùng của dân tộc :

TRONG TRẠI GIAM CỦA VIỆT CỘNG
Klaus Liedke

Khi giờ khắc số 0 đến, tôi ngồi trại giam. Không có chuồng cọp và tra tấn như ở trại giam của chính quyền cũ, mà là trại giam có một người du kích canh chừng, và nếu tôi hay bạn tôi Hans Bollinger – cùng ngồi với tôi – một trại giam của Việt Cộng tại thành phố biển Phan Thiết, cách Sài Gòn phía đông bắc 180 km.

Khi bị bắt, họ không tước mất chiếc đài bán dẫn của chúng tôi. “Các ông có thể nghe những gì các ông muốn”. Và khi nghe được tin chiến thắng do Đài phát thanh Giải Phóng phát đi, những người chiến thắng – những người hôm qua còn là lực lượng nổi dậy đã chạy vào phòng của chúng tôi, xúm lại quanh chiếc đài và hò reo sung sướng. Họ ôm chầm lấy nhau, mạnh dạn vỗ vai chúng tôi, kéo chúng tôi ra khỏi chiếc ghế như họ muốn mời chúng tôi nhảy điệu múa mừng chiến thắng.

“Phải chi Bác Hồ kính yêu còn sống để chứng kiến giờ phút này”, anh chiến sĩ tên Sửu được lệnh làm phiên dịch cho chúng tôi thốt lên – “Có ai nghĩ rằng mọi việc lại diễn ra nhanh như thế”. Nước mắt ràn rụa trên đôi mắt anh và tự hào, gần như bối rối gương cao chiếc huy hiệu Bác Hồ về phía chúng tôi : “Chúng tôi đã hoàn thành nhiệm vụ chiến đấu mà Bác đã giao”.

Bản tin về sự đầu hàng có tính lịch sử được các loa phóng thanh truyền đi khắp thành phố trong những ngày tiếp theo, sáng sáng đánh thức chúng tôi và tối tối đưa chúng tôi vào giấc ngủ ngon lành cho đến khi chúng tôi được thả ra.

Trước ngày thay đổi chính quyền, Sài Gòn sụp đổ đối với một số người, Sài Gòn giải phóng đối với những người khác, chúng tôi đã thay đổi trận tuyến. Vào thời gian Thiệu từ chức trong đó hình như có một khoảnh khắc dài có thể đàm phán. Với việc Thiệu ra đi, một trong những điều kiện tiên quyết của Việt Cộng cho giải pháp chính trị đã hoàn thành, trên chiến trường có được thời gian nghỉ xả hơi.

Tại thành phố có biết bao tin đồn đại. Đài của CIA đưa tin đảo chính ở Hà Nội, 3 sư đoàn quân Bắc Việt được lệnh quay trở ra bắc. Nhiều người cho rằng đình chiến đã được thỏa thuận từ lâu. Những người khác cũng như ở nước Đức ngày nào – tin vào một loại vũ khí thần kỳ mà tờ báo “12 giờ kém 5” có thể sử dụng. Trước đó mấy ngày không quân Nam Việt Nam bắt đầu ném bom, một loại bom khi nổ nó hút hết dưỡng khí trong chu vi mấy trăm mét, hủy diệt hết mọi sự sống.

Người kế tiếp Thiệu, ông Hương già yếu, đọc diễn văn trấn an. Tướng không quân Cao Kỳ, đã từng là thủ tướng một thời, hy vọng sẽ nhảy lên làm tổng tư lệnh lực lượng vũ trang, nói với tôi rằng nếu cần, ông muốn biến Sài Gòn là một Stalingrad : Ông sẽ di tản tất cả phụ nữ, trẻ em ra khỏi Sài Gòn, đưa họ đến đảo Phú Quốc và bảo vệ thành phố cho đến người lính cuối cùng. Mấy ngày trước đó, ông đã nghe 300 sĩ quan quân đội tuyên thệ trung thành cho đến chết.

Lời nói sáo rỗng này vô nghĩa trước sức mạnh vượt trội của 23 sư đoàn Bắc Việt và Việt Cộng đang đứng trước cửa ngõ Sài Gòn. Đánh chiếm thành phố hình như chỉ còn là thời gian tính từng tuần, thậm chí có thể là từng ngày. Chúng tôi quyết định tận dụng thời gian đi theo những câu chuyện rùng rợn, rằng quân nổi dậy trên đường hành quân đã làm thịt các con của các bà mẹ Nam Việt Nam và cha là người Mỹ, rằng họ lùa tất cả mọi người trong thành phố đưa đi hành quyết tập thể, rằng họ cưỡng hiếp các nữ tu Công giáo và tra tấn đến chết các nam Phật tử. Chúng tôi phải đi về hướng bắc, đặc biệt đi đến vùng Việt Cộng đã chiếm. Chúng tôi đi taxi 3 tiếng đồng hồ đến Vũng Tàu, tìm một ngư dân và đi đường biển tránh mặt trận.

Còn đường từ Sài Gòn đi Vũng Tàu hai bên đang đánh nhau nhưng cũng có thể đi được. Trong các trại tị nạn cạnh đường, hàng trăm ngàn người đầu hàng số phận. Họ không còn bỏ chạy hoảng loạn trước những cuộc ném bom của không quân chính phủ và pháo binh của Việt Cộng như hồi tháng 3 vừa qua, trong cuộc chạy quy mô lớn từ phía bắc. Trận chiến đã đuổi kịp họ. Và giờ đây, họ biết chạy đi đâu. Đây là trạm cuối cùng.

Tải cảng Vũng Tàu, chúng tôi đã mua nổi sợ hãi trước Việt Cộng của một ngư dân bằng 400.000 Piaster, tức gần 1.200 mác. “VC số 10”, anh ta nói như vậy cho đến khi giá được chấp nhận. “số 10” trong tiếng Anh nhà binh của người Việt Nam là số không tốt, “số 1” mới là tốt. Giữa hai số đó không có nghĩa là cả.

Chuyến đi trên biển của chúng tôi giữa hai trận tuyến trót lọt. Tại bờ biển, nơi chiến sự diễn ra, những cột khói hình nấm đang cuồn cuộn bốc cao lên trời. Dọc theo biển phía bên kia vùng ba hải lý, hàng không mẫu hạm của hạm đội 7 của Mỹ đang neo đậu. Không thấy tàu tuần tiễu của Nam Việt Nam ngăn chúng tôi lại. “Họ đang chuẩn bị tháo chạy”, ngư dân nói với chúng tôi. Khi chúng tôi đến được phía bắc, tới vùng kiểm soát của Việt Cộng, bỗng nhiên xuất hiện rất nhiều tàu thuyền treo cờ Việt Cộng trước mắt chúng tôi. Người ta cũng không ngăn chúng tôi lại. Chúng tôi về đến Phan Thiết vào buổi tối, nơi Việt Cộng chiếm được cách đây một tuần. Trước khi trời hừng sáng, ngư dân chèo thuyền đưa chúng tôi lên bờ, và ông ta cũng biến mất.

Những người đầu tiên nhìn thấy chúng tôi tại bãi biển, xúm lại quanh chúng tôi làm như chúng tôi là sinh vật từ một thế giới xa lạ nào khác. Không có ai mặc quân phục cả. Chúng tôi hỏi thăm người đại diện của Việt Cộng, không ai hiểu chúng tôi nói gì. Cuối cùng chúng tôi tự tìm đại diện Chính phủ Cách mạng lâm thời, gõ cửa một nhà có treo bức chân dung Hồ Chí Minh to lớn trước hành lang, phía dưới có tấm bản đồ khổ lớn chỉ các vùng giải phóng. Tất cả chính thức gây ấn tượng với chúng tôi. Một anh thanh niên xuất hiện, tay phải cầm súng tiểu liên kiểu Nga, băng đạn khoác trên vai, dọc thắt lưng là những quả lựu đạn. Giật mình khi thấy ánh mắt chúng tôi, anh ta đưa khẩu súng chìa ra song cửa quát lớn, làm như sự có mặt của chúng tôi là ma quỷ sáng sớm phải xua đuổi đi.

Tiếng hô lớn như tiếng báo động, một số người đàn ông trong bộ quân phục xanh Bắc Việt Nam từ trong nhà xông ra. Họ chăm chú nhìn vào chúng tôi, dáng vẻ nghi ngờ. Sau đó, họ mời chúng tôi vào nhà. Một người nói tiếng Pháp. Chúng tôi tự giới thiệu chúng tôi là nhà báo Đức đến từ Sài Gòn và muốn đưa tin về quân Giải Phóng và các vùng giải phóng. Người ta mời chúng tôi uống trà vị chát, và mời ăn những quả chuối bằng ngón tay. Một biên bản được hình thành. Sau nửa tiếng đồng hồ, trên một chiếc xe jeep chiến lợi phẩm của Mỹ, người ta đưa chúng tôi đến trụ sở chính của công an địa phương Việt Cộng. Trên chiếc xe vẫn còn sót lại là cờ bàn của Mỹ với dòng chữ “Ai can đảm, người đó thắng”.

Tại trụ sở chính có rào xung quanh – ngôi nhà cũ của tòa án trước đây, chúng tôi được viên tư lệnh và ba sĩ quan mang máy chụp ảnh Đông Đức nhãn hiệu “Praktica” trước ngực tiếp đón, hỏi han một lần nữa. Họ muốn biết chúng tôi đến từ nước Đức Bon hay nước Đức Berlin, chúng tôi có vũ khí không, liệu chúng tôi có phải làm gián điệp cho Mỹ không ?

Xe tăng quân Giải phóng được người dân chào đón

    Lúc chúng tôi nói rõ nguyện vọng muốn cùng quân Giải phóng hành quân tiến vào Sài Gòn khi ngày ấy đến, thì các sĩ quan đều nhìn chúng tôi hết sức ngạc nhiên. Sau một lúc suy nghĩ, một trong các sĩ quan giải thích cho chúng tôi :
    ” Điều gì khiến các anh đoán ngày ấy sẽ đến không xa ? Chúng tôi còn phải giải phóng nhiều vùng nữa, sự chống cự còn lớn”. Ở đây hình như không ai nghĩ đến sự sụp đổ nhanh chóng của Sài Gòn.

    Viên tư lệnh cuối cùng nói với chúng tôi : “Các anh dũng cảm đi đến đây. Nhưng các anh vào đây một cách bất hợp pháp. Từ giờ trở đi, các anh phải tuân thủ kỷ luật của Chính phủ Cách mạng lâm thời. Lời đề nghị của các anh sẽ được chính phủ chúng tôi xem xét”. Ông đưa chúng tôi qua một cái phòng 5x7m, trong đó có hai bàn làm việc và hai tủ đứng chứ không phải một xà lim bình thường trong nhà tù. Ông chỉ tay ra cái sân phía trước và nói không có gì ác ý : “Các anh được tự do đi lại trong khu vực này”.

    Một sự bắt giam chúng tôi – những người châu Âu thật hiếm thấy ! Người ta bàn tán về đôi mắt tròn của chúng tôi, câu chuyện lan nhanh như gió trong Việt Cộng địa phương này. Càng có nhiều chiến sĩ du kích xuất hiện trước cửa sổ phòng của chúng tôi và nheo mắt cười thân thiện nhìn vào bên trong phòng. Hầu như mỗi người đều mang khẩu súng tiểu liên AK, nòng súng chĩa xuống đất, mang dép lốt ô tô cũ. Quân phục của họ nhàu nát, đủ màu.

    Không có ai đeo cấp bậc, quân hàm cả. Không thấy ai đứng chào trước mặt sĩ quan mà có thể nhận ra nhờ có mang súng ngắn bên hông. Trong những ngày sống bên Việt Cộng, chúng tôi không nghe ai gọi thủ trưởng cả. QUan hệ giữa những người chiến đấu với nhau hiện ra trước mắt chúng tôi như trong gia đình. Một số mạnh dạn bước vào phòng chúng tôi và thông qua dấu hiệu bằng tay dạy chúng tôi một khóa học cấp tốc đúng quy định du kích. Người ta xếp chăn đắp như thế nào, giăng màn chống muỗi như thế nào cho đúng. Nhận biết qua cách cư xử của họ, chúng tôi tự biết phải cắt tóc mình phù hợp với sinh hoạt trong chiến khu, và không được quên buổi sáng và buổi tối ra giếng nước tắm rửa toàn thân. Một trong những người thăm chúng tôi đã xé một trang trong cuốn sách có tựa đề Cuốn sách cẩm nang xã hội kinh thánh Mỹ – nó là di sản của không lực Hoa Kỳ, rồi anh ta cuốn thành điếu thuốc lá để hút.

    Cuối cùng người ta giới thiệu anh Sửu, thông dịch viên với chúng tôi. Anh nói tiếng Anh giọng Mỹ. Anh học trong một trường học của Việt Cộng ở chiến khu và được phép nghe đài “tiếng nói Hoa Kỳ” trong những giờ giải lao giữa các trận chiến đấu. Tiếng nói của anh nghe rõ ràng : “Các bạn phải tuân theo mệnh lệnh của Chính phủ Cách mạng lâm thời. Nếu không, đầu các bạn rơi”.

    Buổi chiều ngày đầu tiên của chúng tôi trong tư thế bị quản chế, hai ngày trước khi Sài Gòn đầu hàng, bỗng nhiên chúng tôi nghe tiếng rầm rú của máy bay từ hướng Sài Gòn bay tới. Liền sau đó từ mặt đất các nòng súng vươn lên, nhả đạn liên hồi từ khắp các nóc nhà. Với những khẩu súng bình thường, người ta đã bắn đuổi theo máy bay. Những chiến sĩ phòng không khi phát hiện đã muộn : không phải phi công Nam Việt Nam định ném bom như những ngày trước đó, mà người đằng mình lái những chiếc máy bay ném bom A37 – chiến lợi phẩm của Mỹ, tấn công sân bay Tân Sơn Nhất. Máy bay bay ở tư thế thẳng đứng thoát được nguy hiểm từ mặt đất bắn lên. Trước đó, Việt Cộng chưa bao giờ sử dụng máy bay. “Chúng tôi không muốn làm nguy hại đến tính mạng của nhân dân”, viên tư lệnh giải thích cho chúng tôi. Sau đó, chúng tôi được biết cuộc tấn công đó là sự trả lời của Hà Nội đối với diễn văn nhậm chức của tổng thống Dương Văn Minh từ chối kêu gọi quân chính phủ bỏ súng xuống.

    Trưa hôm sau, người ta đã dẫn hai người đàn ông – người Nhật Yoshihiro và người Mỹ Earl Martin bước vào trụ sở chính. Họ ở tại Đà Nẵng, cách đây mấy trăm cây số về phía bắc, bị cuốn theo cuộc tiến quân của Cộng sản. Việt Cộng đã cấp cho họ giấy thông hành đi về phía nam bằng đường bộ hay xe bus, dọc đường họ phải trình với các địa phương. Hai ông là người làm công tác xã hội, theo sự ủy thác của tổ chức Công giáo Mỹ hướng dẫn nông dân Nam Việt Nam dò tìm bom mìn chưa nổ từ những nơi Mỹ ném bom và tránh xa chúng khi cày bừa trên đồng ruộng.

    ( còn tiếp )

    Diễn đàn LSVN đánh máy và hiệu đính từ sách THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – GIỜ KHẮC SỐ 0

Phân biệt ba khái niệm Chiến Lược – Chiến Thuật – Chiến Dịch

Phân biệt ba khái niệm Chiến Lược – Chiến Thuật – Chiến Dịch

Chiến lược, Chiến thuật, Chiến dịch là ba khái niệm áp dụng rất phổ biến trong các lĩnh vực. Tuy nhiên có rất nhiều người thường xuyên lẫn lộn giữa chúng với nhau, thậm chí là những người viết lách chuyên nghiệp. Vậy các khái niệm này là gì và có khác biệt gì ?

Các định nghĩa :

Chiến Lược :

Chiến lược là một từ có nguồn gốc từ lĩnh vực quân sự, đó là phương cách để chiến thắng trong một cuộc chiến tranh. Có nhiều định nghĩa khác nhau nhưng có thể hiểu chiến lược là chương trình hành động, kế hoạch hành động được thiết kế để đạt được một mục tiêu cụ thể, là tổ hợp các mục tiêu dài hạn và các biện pháp, các cách thức, con đường đạt đến các mục tiêu đó. Trong quân sự, chiến lược khác với chiến thuật, chiến thuật đề cập đến việc tiến hành một trận đánh, trong khi chiến lược đề cập đến việc làm thế nào để liên kết các trận đánh với nhau. Nghĩa là cần phải phối hợp các trận đánh để đi đến mục tiêu quân sự cuối cùng.

Như vậy một chiến lược phải giải quyết tổng hợp các vấn đề sau :

-Xác định chính xác mục tiêu cần đạt.
– Xác định con đường, hay phương thức để đạt mục tiêu.
– Và định hướng phân bổ nguồn lực để đạt được mục tiêu lựa chọn.

Trong ba yếu tố này, cần chú ý, nguồn lực là có hạn và nhiệm vụ của chiến lược là tìm ra phương thức sử dụng các nguồn lực sao cho nó có thể đạt được mục tiêu một cách hiệu quả nhất. ( theo wikipedia )

Chiến Thuật :

Chiến thuật là phương pháp sử dụng để đạt mục đích cụ thể. Chiến thuật được dùng ban đầu với nghĩa là chiến thuật quân sự nhưng sau đó được sử dụng rộng rãi trong các lĩnh vực khác. Từ chiến thuật được sử dụng trong các lĩnh vực có áp dụng lý thuyết như kinh tế, thương mại, trò chơi, và các lĩnh vực thực hành khác như đàm phán, thể thao. ( theo wikipedia )

Chiến Dịch :

ĐN 1 : Toàn bộ nói chung các trận chiến đấu diễn ra trên một chiến trường và trong một thời gian, tiến hành theo kế hoạch và ý định thống nhất, nhằm thực hiện mục đích chiến lược nhất định. VD : Chiến dịch Điện Biên Phủ

ĐN 2 : Toàn bộ nói chung những việc làm tập trung và khẩn trương, tiến hành trong một thời gian nhất định, nhằm thực hiện một mục đích nhất định. VD : Phát động chiến dịch phòng bệnh mùa hè ; mở chiến dịch truy quét tội phạm trên toàn quốc. ( theo từ điển Soha )

Nếu là người không thường xuyên phải tiếp xúc với ba khái niệm thì có đọc định nghĩa cũng chưa chắc hiểu được. Và trong thực tế đôi khi ranh giới giữa chúng chỉ là tương đối. Có thể hiểu đại khái rằng chiến lược là một kế hoạch chung, có tầm bao quát lớn về không gian và thời gian. Để thực hiện kế hoạch chung đó, người ta sẽ áp dụng những chiến thuật cụ thể trong các phạm vi, thời gian cụ thể. Chiến dịch là khái niệm bao gồm các kế hoạch trong một quãng không gian tương đối rộng trong một quãng thời gian, với một mục tiêu cụ thể trong chuỗi các mục tiêu cần đạt được để thực hiện chiến lược.

Trong nghiên cứu lịch sử quân sự, ba khái niệm này thường xuyên được áp dụng để miêu tả các sự kiện, chuỗi sự kiện. Nếu như sử phương Tây khá chú trọng về nghiên cứu chiến thuật thì sử Á Đông thường xao nhãng, tập trung vào chiến dịch và chiến lược. Đối với những người muốn kiến thức lịch sử của mình có hệ thống và vận dụng được vào thực tế cuộc sống, hầu như không còn cách nào khác là phải nắm vững ba khái niệm đã nêu.

Một số ví dụ về Chiến lược :
– Việt Nam hóa chiến tranh
– Chia để trị
– Viễn giao cận công ( thân thiện với nước ở xa, đánh nước ở gần )
– Lấy công bù thủ
– Chống tiếp cận
– Phòng thủ, phản công, tấn công … ( trong bối cảnh một cuốc chiến )

Một số ví dụ về Chiến dịch :
– Chiến dịch Hồ Chí Minh. Mục tiêu : giải phóng hoàn toàn miền Nam trong năm 1975 -1976 ( trên thực tế đây cũng có thể xem là một Chiến lược )
– Chiến dịch Điện Biên Phủ. Mục tiêu : đánh bại các lực lượng chủ lực cơ động của Pháp, buộc địch phải chịu thua
– Chiến dịch Tây Nguyên. Mục tiêu : chiếm Tây Nguyên làm bàn đạp mở rộng tiến công toàn miền nam, tiêu hao sinh lực địch …

Một số ví dụ về Chiến thuật :
– Tiền pháo hậu xung
– “Nắm thắt lưng địch mà đánh”
– Trực thăng vận
– Thiết xa vận
– Phòng ngự, phản công, tấn công … ( trong một trận đánh )

Tổng hợp từ Diễn đàn LSVN

Lĩnh Ngoại Đại Đáp – Sử liệu nước Tống nói về Đại Việt thời Lý

Lĩnh Ngoại Đại Đáp – Sử liệu nước Tống nói về Đại Việt thời Lý

Người Giao Chỉ

Người nước Giao Chỉ mặc áo đen, nhuộm răng đen, búi tóc, đi chân trần, không kể quý tộc hay thấp hèn đều như thế. Người đứng đầu các thôn làng cũng đi chân trần, nhưng cài trâm vàng, trên là áo vàng, dưới là váy tía. Người còn lại thì trên là áo đen, cổ áo cuộn tròn trước cổ, bốn cái vạt áo giống cái vai gọi là bốn cái đỉnh; dưới là váy đen. Hoặc cài trâm sắt, hoặc đi giày da, tay cầm cái quạt lông hạc, đầu đội nón trôn ốc. Người nước này xăm thân như hình khắc của trống đồng. Quân sĩ khắc lên trán chữ “Thiên tử binh”. Người đàn bà thì da trắng trẻo, khác với đàn ông. Mặc váy đen, đàn ông thì mặc quấn. Lấy dầu thơm bôi lên tóc như bôi sơn, trùm khăn the đen, buộc quanh đỉnh đầu nhưng nhỏ, từ trán trở lên thì nếp gấp nhỏ như đường khâu, phía trên đến đỉnh. Thân mặc áo đen, cổ áo cuộn khúc lớn, có thêm áo cổ cuộn khúc nhỏ ở trên. Chân đi giày, bít tất, đi dạo giữa đường lớn, không khác người Trung Quốc, nhưng nhìn cái khăn là phân biệt được. Người nước này gửi thư từ, bao đựng như măng tre, bái lạy thong thả. Sứ giả đến, các quan văn võ đều mặc áo dài màu tía, buộc dây lưng màu đỏ vẽ hình tê giác, không có hình cá. Từ lúc cống voi về sau, Lí Bang Chính lại sai sứ đến Khâm Châu, mới có thêm hình cá vàng rất to lớn. Kiệu của người nước này như cái túi vải, khi sứ giả đến Khâm Châu thì ngồi kiệu mỏng, khi trời tạnh ráo đều dùng kiệu này.

Mực

Dung Châu có nhiều cây tùng lớn, người châu này làm ra mực. Một thoi mực tốt không đầy trăm quan tiền, rẻ nữa thì một cân mực chỉ có hai trăm quan tiền, thương nhân đề ra số tiền mua rồi bán mực. Mực của người Giao Chỉ tuy không đẹp lắm, cũng không đến nỗi xấu lắm. Người Giao Chỉ lấy mực và nghiên đều đeo ở vùng eo lưng.

Quạt lông

Người huyện Tĩnh Giang giỏi bắt chim, rồi vặt lông để làm quạt, các quạt phải đính lông, lấy lông để trương ra, lấy dây buộc vào cây trụ, đợi thịt khô gân cứng mới dùng được. Chim kinh là loài chim lớn, lấy lông của nó làm quạt, dài vài thước, màu đen, quạt nhiều gió, dũng sĩ thường dùng quạt này, có phần tráng lệ. Lông chim cò thì màu trắng muốt, nhẹ mà quạt gió nhỏ, sĩ phu thường dùng quạt này. Lấy keo bôi lên gân xương cho màu đỏ, cũng có phần đẹp. Người Giao Chỉ lại dùng lông chim hạc, lấy dây bện với lông, nhưng phân biệt với cán. Nói rằng đất Giao Chỉ có nhiều rắn, chim hạc lại ăn thịt rắn, rắn ngửi thấy mùi lông chim hạc thì tránh xa. Dùng chim hạc để đuổi rắn vậy.

Nón Man

Giao Chỉ có nón như mũ đâu mâu, nhưng đỉnh nhọn giống hình trôn ốc, gọi là nón trôn ốc. Lấy sợi tre nhỏ mà làm nên; tuy là khéo léo nhưng chỉ có người thấp hèn đội mà thôi.

Giày da

Chân người Giao Chỉ xỏ dày da, giống hình vẽ các vị La Hán đi giày. Lấy da làm đế, nhưng giữa có một cái trục nhỏ dài khoảng một tấc, phía trên có núm nhỏ để đem chân xỏ vào mà đi. Hoặc lấy tấm da màu đỏ đính vào giống hình chữ thập, lại đặt ba cái núm ở trên đế da để chân xỏ vào mà đi. Đều là giày mà người giàu có đi vậy. Đất này gần phương tây nên trang phục giống người phương tây.

Khăn vuông của người An Nam

Sứ giả của An Nam đến Khâm Châu, quan Thái thú dùng hát múa để đãi tiệc, cũng đem tặng các thợ hát múa, người ta đem cho một cái khăn vuông. Khăn vuông mịn như tấm lưới nhỏ nhưng trùm khăm thì dùng gấm. Người Giao Chỉ tự mặc áo khố, đều để khăn vuông kín mít bên trong người vậy. Không biết cái khăn vuông này của người An Nam dùng để làm gì. Ta nghe nói người Man lấy được vải đỏ của Trung Quốc, đều gỡ sợi tơ màu mà tự đan áo, có lẽ khăn vuông này cũng gỡ sợi tơ ấy ra mà làm thôi.

Đồng

Sách sử chép người Lạc Việt có nhiều đồng, bạc. “Giao Châu kí” viết: “Người Việt đúc đồng làm thuyền”. “Quảng Châu kí” viết: “Người Lí, Lão đúc trống đồng”. Nghe nói các nước Giao Chỉ và Chiêm Thành, chỗ vua ở đều lấy đồng làm ngói, chắc rằng phương nam có nhiều đồng. Ngày nay ở Ung Châu có đồng không nhiều mấy, và ngoài khê động miền Hữu Giang, có một động của người Man, là chỗ mà đồng sự sinh ra, đào đất mấy thước thì có quặng, cho nên người Man phần nhiều dùng đồ đồng. Từng có dâng đến triều đình, muốn cùng trao đổi, việc này ở các ti của bản lộ, nói là sinh ra nhiễu động ngoài biên giới, tấu xin bãi bỏ.


Gỗ tư lũy

Gỗ tư lũy mọc ở các châu động miền Lưỡng Giang, cứng, cho vào giữa nước, trăm năm không mục. Người châu động và người Giao Chỉ lấy làm cung tên, các đồ khiên, giáo, là tốt nhất thiên hạ.

Ăn trầu cau

Từ Phúc Kiến dưới Tứ Xuyên cùng các tỉnh Quảng Đông, Tây Lộ, đều có người ăn trầu cau. Khách đến thì không bày trà, chỉ lấy trầu cau làm lễ. Cách làm là cắt như cắt quả dưa, đem một ít vôi trộn với lá trầu, bọc cau mà nhai nhấm, trước thổ ra một ngụm nước màu đỏ, rồi mới nhai phần còn lại. Có ít người, vẻ mặt màu đỏ thẫm, cho nên thi nhân có câu là “say trầu cau”. Không dùng voi hến, chỉ dùng vôi đá; không dùng lá trầu, chỉ dùng lá trầu đằng, ở Quảng Châu lại có thêm các thuốc thơm như đinh hương, hoa quế, hoa tam lại, gọi là trầu cau thuốc thơm. Chỉ có người Quảng Châu dùng rất nhiều, không kể giàu, nghèo, già, trẻ, trai, gái, từ sớm đến tối, thà chẳng ăn cơm, nhai nhấm trầu cau. Người giàu thì dùng bạc làm bồn chứa, người nghèo thì dùng thiếc. Ngày thì lại gần bồn mà nhai, đêm thì đặt bồn ở bên gối, ngủ cũng nhai nhấm trầu cau . Bọn dân đem thượng lưu, hạ lưu, một ngày tiêu hơn trăm quan tiền vì mua trầu cau. Có người giễu cợt người Quảng Châu nói: “Miệng người đi trên đường như miệng con dê”. Ý nói nhai lá trầu, cả ngày cũng nhai, nhai cả quả cau vậy. Hễ gặp mặt nhau thì để hở răng đen môi đỏ; mấy người hẹn gặp thì làm đỏ cả vùng đất, thực đáng chán ghé. Khách như bọn sĩ phu, thường đem tráp theo mình, làm như cái thoi bạc, chia làm ba: một là chỗ đựng trầu, hau là chỗ đựng cạu, ba là chỗ đựng vôi. Sứ giả của Giao Chỉ cũng nhai nhấm trầu cau, người khác hỏi: “Sao lại nhai nhấm như vậy”? Đáp nói: “Để tránh chướng, trừ khí, tiêu thức ăn. Ăn lâu ngày thì một khắc cũng không thể không có nó, không ăn thì miệng lưỡi không có mùi vị, khí lại xú uế”. Từng bàn về nguyên nhân y thuật, nói: “Cau có thể giáng khí, cũng có thể háo khí. Phổi là chỗ của khí, ở trên màng ngực, lấy cuống hoa để ngăn xú uế trong bụng. Lâu ngày ăn cau, thì phổi không thể ngăn, cho nên khí xú uế bốc lên đến vùng má, thường muốn nhai nhấm trầu cau để giáng khí, nhưng không có ích vì chướng, chướng bệnh này lại phát nhiều nhiệt, cho nên không thể không ăn trầu cau vậy”.

Chợ buôn bán ở trại Vĩnh Bình – Ung Châu

Trại Vĩnh Bình thuộc miền Tả Giang – Ung Châu, giao tiếp với đất Giao Chỉ, cách một dòng suối. Phía bắc có trạm dịch Giao Chỉ, phía nam có đình Tuyên Hòa, làm thành chợ buôn bán. Chủ trại Vĩnh Bình quản lí việc buôn bán. Người Giao Chỉ hằng ngày đem thuốc thơm, tê, voi, vàng, bạc, muối, tiền trao đổi để lấy lụa mỏng, gấm, võng, vải của thương nhân Trung Quốc rồi đi. Những người đến trại Vĩnh Bình đều là người Giao Chỉ ở các thôn động, đi đường bộ mà đến. Hàng hóa mang theo đều nhỏ nhẹ, chỉ có muối là nặng nề. Nhưng muối chỉ có thể đổi lấy vải mà thôi. Lấy 25 cân làm một sọt, vải thì lấy vải nhỏ mà người huyện Vũ Duyên – Ung Châu làm ra. Người huyện này cũng thật thà, không gian dối như người Giao Chỉ ở châu Vĩnh An đến Khâm Châu. Như miền Tả Giang lại có sách Nam Giang, tiếp giáp với châu Tô Mậu của Giao Chỉ, lại ít trao đổi, thì viên Tuần phòng của sách Nam Giang trông coi việc buôn bán.


Chợ buôn bán Khâm Châu

Những dụng cụ sinh hoạt của Giao Chỉ đều trông mong ở Khâm Châu, thuyền chèo qua lại không dứt. Chợ buôn bán ở trạm dịch Giang Đông ngoài thành. Người Giao Chỉ lấy cá, ngọc trai đổi lấy gạo, vải, gọi là người Đản Giao Chỉ. Nhà buôn giàu có của nước nước này đến buôn bán, phải từ châu Vĩnh An gửi tờ trình đến Khâm Châu, gọi là Tiểu Cương. Nước này sai sứ giả đến Khâm Châu, nhân đó trao đổi buôn bán, gọi là Đại Cương. Vật mang theo để trao đổi là vàng bạc, tiền đồng, trầm hương, quang hương, thục hương, sinh hương, trân châu, ngà voi, sừng tê. Nhà buôn nhỏ của Trung Quốc bán các đồ giấy, bút, gạo, vải, hằng ngày trao đổi lặt vặt với người Giao Chỉ, cũng không kể đủ. Chỉ có nhà buôn giàu có của đất Thục đến Khâm Châu, ở Khâm Châu đổi lấy trầm hương rồi về đất Thục, mỗi năm qua lại một lần… Người Giao Chỉ vốn thật thà, người Trung Quốc lừa họ ở chỗ cao, thấp của cái cân đo. Sau đó đến ba lần đi sứ, làm rõ lại cân đo của chợ buôn bán. Năm gần đây người châu Vĩnh An rất gian dối, nhà buôn Trung Quốc lừa bọn kia đều lấy thuốc giả, bọn kia thì lấy vàng bạc pha trộn với đồng, đến nối không thể phân biệt được, hương liệu thì trộn với muối, khiến cho nước ngấm vào, hoặc nhét chì vào hương liệu, nhà buôn suy đọa vì cái cách này vậy.

Trống đồng

Trong tỉnh Quảng Tây có trống đồng, người cày ruộng từng lấy được. Hình dạng của nó: vòng tròn chính thì mặt bằng, eo cong, hình như rỏ, lại có cái đế lớn, mặt có năm con cóc, chia ra đứng ở trên, con cóc đều ngồi thỗn chân, một lớn một nhỏ cõng nhau. Các hình khắc xung quanh, vòng tròn thì có hoa văn tiền cũ, hoa văn vuông hình sợi đan chiếu, hoặc là hình người, hoặc là hình ngọc, hoặc người như Phật, như rừng ngọc, hoặc cong như nanh lợn, như tai hươi, đều thành thể thống nhất. Tổng hợp các hoa văn này, phần lớn là hình vẽ tinh tế, khéo léo, tỉ mỉ, có thể nói là hoàn hảo. Trống đồng lớn thì rộng bảy thước, nhỏ thì rộng ba thước, ở các nhà chùa tế thần, Phật đều có trống đồng, châu huyện dùng để đánh điểm canh giờ. Người Giao Chỉ từng mua riêng đem về, chôn giấu trong núi, không biết để làm gì. Xét “Quảng Châu kí” viết: “Người Lí, Lão đúc trống đồng, chỉ có trống cao lớn là quý, mặt trống rộng hơn một trượng”. Không biết đúc nên vào thời nào. Xét rằng, Mã Viện đánh Giao Chỉ, thu được trống đồng Lạc Việt, đúc thành ngựa. Có người nói trống đồng đúc ở thời trước khi xây Tây Kinh. Tuy không phải là vật tế lễ thời Tam Đại, nói rằng đúc vào thời Tam Đại thì có thể đúng vậy. Cũng có trống đồng nhỏ nhất, rộng khoảng hai thước, rất đáng yêu, trống này kẻ sĩ phu tìm kiếm được mà không cho tặng.

Giao Chỉ

“Lễ kí” viết: “Phương nam gọi là Man, Điêu Đề, Giao Chỉ, có người không ăn thức ăn nấu bằng lửa”. “Giao Châu kí” viết: “Người Giao Chỉ, xuất từ huyện Nam Định, xương chân không có đốt, thân có lông, nằm thì dựa vào mới ngồi dậy được”. Ta đến Khâm Châu, thấy đàn ông răng đen, đi chân trần, nhuộm đen quần áo, tai người, nhìn như quạ, gọi là chân không có đốt, thân có lông chăng? Có người nói người Đạo Châu thấp lùn, nay người Đạo Châu cao bảy thước, mà người huyện Cung Thành thuộc Chiêu Châu cách Đạo Châu một bờ ruộng, vùng này có một hai người lùn, trộm nghĩ người huyện Nam Định giống người huyện Cung Thành vậy. Nếu không phải, há có người mà chân không có đốt mà lại dựa vào nhau được sao? Vùng này bị khí chướng lệ, mới đặt tên ấy, nghĩ rằng phải như thế.

Chu Khứ Phi

Nguồn : Diễn đàn LSVN


Ba dòng nước xoáy

Bốn quận phía tây nam đảo Hải Nam có biển lớn gọi là Giao Chỉ dương. Tại biển có 3 dòng nước xoáy, nước phun lên chía thành 3 dòng; dòng thứ nhất chảy về phía nam dẫn đến biển thuộc các nước Phiên ; dòng thứ 2 chảy lên phía bắc qua vùng biển Quảng Đông, Phúc Kiến, Chiết Giang; dòng thứ 3 chảy vào nơi mù mịt không bờ gọi là Đông Đại Dương. Tàu thuyền đi về hướng nam phải qua ba dòng nước xoáy, nếu gặp một chút xíu gió thì vượt được,nếu vào chổ hiểm đó mà không có gió thuyền không ra được, ắt phải vỡ chìm trong ba dòng nước xoáy. Nghe truyền rằng biển lớn phía đông có Trường Sa Thạch Đường [ tức QĐ.Hoàng Sa ] rộng vạn dặm, nước thủy triều thi triển đẩy vào chốn cửu u. Trước kia đã có thuyền bị bão phía tây thổi, trôi dạt đến biển lớn phía đông này , nghe tiếng ba đào chấn nộ hung hãn, trong khoảng khắc gặp gió lớn thuận chiều nên may thoát được.

Nguồn : Hồ Bạch Thảo