Kháng Minh Truyền Kỳ ( Phần 2 ) – Kỳ cuối : Kết thúc bi tráng của nhà Hậu Trần

Kháng Minh Truyền Kỳ ( Phần 2 ) – Kỳ cuối : Kết thúc bi tráng của nhà Hậu Trần

Trận chiến Sái Già có thể coi là trận chiến quy mô lớn cuối cùng mà quân Hậu Trần có thể làm được để chống quân Minh. Sau trận này, quan tướng Hậu Trần phải phân tán trong núi rừng tây Thuận Châu để trốn tránh sự truy lùng của giặc. Đến đầu năm 1414, quân Minh đã tràn ngập khắp đất Thuận Hóa, chia nhau lùng bắt Trùng Quang đế và quân tướng nhà Hậu Trần.

Bấy giờ vua tôi thất lạc, nhiều binh sĩ Hậu Trần không tìm được đội ngũ, mạnh ai nấy tìm chốn nương thân. Hai tướng Đặng Dung, Nguyễn Cảnh Dị cố tìm được nhau, đóng quân tại núi Côn Truyền để tập họp lại lực lượng. Trương Phụ dẫn quân chia đường tấn công vào núi. Đặng Dung cho tượng binh đi đầu, cùng các tướng sĩ từ trên núi đánh xuống. Quân Minh từ dưới núi bắn cung nỏ lên như mưa, tượng binh của quân ta phải chùn bước. Kế đó kỵ binh quân Minh đông như kiến đánh lên, quân Hậu Trần lại tan vỡ, nhiều tướng lĩnh tử trận. Đặng Dung và Nguyễn Cảnh Dị mở đường máu thoát khỏi vòng vây, bên mình chỉ còn hơn 700 quân bản bộ trung thành. Dung và Dị bàn nhau rút sang nước Tiêm La (Sukhotai – nay thuộc Thái Lan) để tránh tạm.

Nhưng chẳng mấy chốc truy binh của giặc đã đuổi theo kịp hai ông, tổ chức vây bắt. Hai tướng Hậu Trần cùng binh sĩ ra sức đánh giết giặc rất nhiều, nhưng rồi cũng sức cùng lực kiệt trước số lượng áp đảo hoàn toàn của quân Minh. Đặng Dung, Nguyễn Cảnh Dị đều sa lưới quân Minh. Khi giải đến doanh trại của Trương Phụ, Nguyễn Cảnh Dị lập tức mắng vào mặt Phụ : “Tao định giết mày, lại bị mày bắt”. Sau đó ông không ngớt lời chửi rủa thậm tệ. Trương Phụ tức giận không đợi giải về Nguyễn Cảnh Dị về nước Minh, mà giết ông ngay tại chỗ, lại moi gan ăn. Nguyễn Cảnh Dị là một trong những danh tướng hàng đầu của nhà Hậu Trần, đến lúc sa cơ, ông buông lời thoái mạ là cố ý muốn cho giặc giết mình ngay, không muốn sống trong sự giam cầm của giặc.

Về phần Nguyễn Súy sau khi từ mặt trận Sái Già rút quân về núi, lại rút về phía nam chạy sang hướng các nước Chiêm Thành, Chân Lạp. Ông cũng không thoát khỏi sự truy lùng của quân Minh. Tại châu Minh Linh bấy giờ thuộc quyền của nước Chiêm Thành, Nguyễn Súy sa lưới giặc. Vua Trùng Quang đế cùng đoàn tùy tùng chạy sang đất Ai Lao, giặc đuổi theo ráo riết, cuối cùng bắt được Trùng Quang tại sách Cập Môn (Khăm Muội, Lào ngày nay). Trương Phụ sai giải Trùng Quang đế, Nguyễn Súy, Đặng Dung cùng các tướng Hậu Trần khác về nước Minh xử trí. Trên thuyền sang Yên Kinh nước Minh, vua Trùng Quang đế nhảy xuống biển tự vẫn. Đặng Dung cũng nhảy theo vua cùng chết. Nguyễn Súy thì không chết theo vua ngay, mà tìm cách gạ gẫm viên quan áp giải chơi cờ với mình. Trong lúc đánh cờ, Súy lấy bàn cờ đập viên quan áp giải nước Minh một phát chết tươi, rồi mới nhảy xuống biển tự vẫn.

Nhà Hậu Trần bắt đầu từ vua Giản Định đế dựng cờ khởi nghĩa năm 1407 đến khi vua Trùng Quang bị giặc bắt đầu năm 1414, tổng cộng được 7 năm. Đây cũng là quãng thời gian mà người Việt từ vua đến dân chinh chiến không ngừng để mong đánh đuổi giặc Minh. Các bộ sử xưa coi nhà Hậu Trần là một triều đại nối tiếp sau nhà Hồ, cũng là vẫn công nhận sự tồn tại của nước Đại Việt sau khi giặc Minh đánh bại họ Hồ. Chỉ sau khi Trùng Quang đế thất bại mới tính vào kỷ thuộc Minh. Riêng các sách sử hiện đại lại chỉ coi nhà Hậu Trần là một  phong trào khởi nghĩa lớn, còn kỳ thuộc Minh tính từ khi nhà Hồ kháng chiến thất bại.

Cả hai trường phái nhìn nhận này điều đó lý lẽ riêng của mình. Công nhận nhà Hậu Trần là một triều đại phong kiến chính thức trong lịch sử Việt Nam là vì vua Hậu Trần thực sự là vua danh chính ngôn thuận được hầu hết nhân dân cả nước thời đó tin theo, và thực tế đã duy trì chủ quyền thường xuyên trên một vùng lãnh thổ rộng lớn từ Thanh Hóa trở vào, nhiều lúc kiểm soát cả những vùng lớn thuộc đồng bằng sông Hồng. Không công nhận nhà Hậu Trần là vì quân Hậu Trần chưa bao giờ chiếm được thành Đông Quan – thủ phủ của nước Đại Việt,  cũng như chưa hề đánh đổ được ách đô hộ mà quân Minh đã thiết lập từ sau cuộc chiến Minh – Đại Ngu (1406 – 1407).

Mặc dù quan điểm của giới sử các đời có khác biệt, nhưng hầu hết đều bày tỏ sự thương tiếc, nể phục ý chí của Trùng Quang đế và các tướng sĩ Hậu Trần. Vua tôi Trùng Quang nhà Hậu Trần không chấp nhận sự dày vò trong tay giặc mà chọn cho mình một cái chết trong danh dự. Điều này hoàn toàn khác với cha con nhà Hồ Quý Ly đã chấp nhận trông chờ vào sự xót thương của giặc. Tuy thất bại, nhưng thanh danh của Trùng Quang đế và các danh tướng Hậu Trần luôn mãi rực sáng với sử xanh, được nhiều thế hệ người Việt tôn thờ. Đặc biệt ngoài sự tôn kính và biết ơn, sử sách còn dành cho vua tôi Trùng Quang đế lòng thương cảm sâu sắc vì ý chí vượt qua nghịch cảnh của họ, vì một sự nghiệp khôi phục sơn hà.

Trong Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, Ngô Sĩ Liên đã có những dòng đầy thương tiếc khi bắt đầu chép đến thời kỳ vua Trùng Quang: “Vua gặp thời loạn lạc, gắng chí mưu việc khôi phục. Nhưng vì trời không giúp nhà Trần nữa, nuốt hận mà chết. Thương thay!”

Khi Ngô Sĩ Liên chép xong những dòng cuối cùng về nhà Hậu Trần, sử gia lại tiếp tục có những nhận xét đầy tiếc nối và cảm thông: “Trùng Quang Đế lấy quân một lữ để mưu khôi phục đất nước trong lúc loạn lạc lưu ly, ví như dùng một cây gỗ để chống giữ ngôi nhà lớn đã đổ, chả lẽ không biết rằng thế không thể cứu vãn được nữa hay sao? Nhưng hãy làm hết bổn phận nên làm, ngõ hầu có thể vãn hồi được thiên mệnh !Còn như khi bị giặc bắt đem về, giữ nghĩa không chịu nhục, cam lòng nhảy xuống biển mà chết để cùng mất với nước, thực đúng là “quốc quân chết vì xã tắc”. Các bề tôi của ngài như Cảnh Dị chửi giặc mong cho chúng giết ngay mình, Nguyễn Biểu kể tội ác của giặc rồi chết, đều là những người đáng ca ngợi cả.”

Khen ngợi chí khí của các bậc anh hùng nhà Hậu Trần rồi, Ngô Sĩ Liên cũng không quên chê trách những kẻ phản thần: “ … Chỉ có Hồ Ngạn Thần đi sứ làm nhục mệnh vua, đã bị giết rồi. Phan Liêu đem tình hình mạnh yếu trong nước đi báo cho giặc, tuy được thoát chết trong một thời, nhưng sau lại bị Thái Tổ Cao Hoàng Đế ta (tức vua Lê Thái Tổ Lê Lợi) giết chết. Than ôi, người làm tôi trung với nước tuy chết vì nghĩa không có tội gì, mà để lại tiếng thơm mãi mãi, còn bọn bất trung phản quốc, không khỏi tránh khỏi chết, lại còn để tiếng xấu ngàn năm, thực đúng như thế.”

Các sử gia thời kỳ phong kiến chịu ảnh hưởng nặng tư tưởng Thiên Thời, Thiên Mệnh nên khá nhất quán về nhận định cho rằng nhà Hậu Trần thất bại là do trời không giúp, hay nói cách khác là không gặp thời. Như sách Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục nhà Nguyễn có nhận xét ngắn gọn về trận Sái Già: “Trời nuông Trương Phụ”. Nói rằng nhà Hậu Trần thất bại do không gặp thời, không gặp may thì không hẳn sai, nhưng chưa đủ. Đó chỉ là nguyên nhân khách quan. Còn nguyên nhân chủ quan chúng ta cũng cần phải nhìn nhận. Cần biết rằng nền tảng sức mạnh của nhà Hậu Trần không đến từ các vua Giản Định hay Trùng Quang, mà đến từ những thế lực quân phiệt như Trần Triệu Cơ, Đặng Tất, Nguyễn Cảnh Chân… Chính vì vua không có lực lượng ban đầu mà hoàn toàn phải dựa vào các tướng lĩnh của mình nên chưa bao giờ quyền lực vua Hậu Trần được trọn vẹn, và cũng chính vì thế mà giữa vua tôi luôn có sự nghi kỵ lẫn nhau.

Đó là nguyên nhân sâu xa dẫn đến cái chết oan khuất của Đặng Tất, Nguyễn Cảnh Chân khi mà vua Giản Định muốn dùng thủ đoạn đen tối để tập trung quyền lực về mình, gạt bỏ mối lo từ hai vị tướng nhiều công lao nhưng đồng thời cũng là đối tượng mà nhà vua phải san sẻ quyền lực. Sang đến thời vua Trùng Quang, nhà vua đã chập nhận việc trao nhiều quyền lực cho các tướng còn tự mình đóng vai trò thủ lĩnh tinh thần, để giúp cho nội bộ được đoàn kết. Thế nhưng tình thế lúc này đã chuyển xấu, hoàn cảnh khách quan đã quá bất lợi cho việc đánh đuổi quân Minh.

Nhà Hậu Trần nổi lên chống Minh không chỉ có ý nghĩa về mặt cổ vũ tinh thần độc lập, tinh thần chiến đấu chống giặc ngoại xâm mà thực sự còn đóng vai trò thiết thực hơn thế rất nhiều. Với khoảng 7 năm ròng chiến đấu của tướng sĩ Hậu Trần, quân Minh đã không thể áp đặt được nền đô hộ lên đất nước ta. Vùng đất từ Thanh Hóa trở vào nam bấy giờ, một nước Đại Việt (dù không trọn vẹn) vẫn tồn tại. Ở đó, những giá trị văn minh người Việt đã được bảo tồn. Việc vấp phải sự kháng cự mạnh mẽ của quân dân ta dưới lá cờ đầu là nhà Hậu Trần khiến cho quân Minh bị hao tổn rất nhiều quân lực, tạo thuận lợi cho các phong trào khởi nghĩa về sau.

Ngoài ra, cuộc chiến đấu của nhà Hậu Trần đã làm chậm tiến trình đồng hóa của quân Minh, và đôi lúc buộc chúng phải có một số chính sách nhượng bộ nhất định trong cai trị. Không thể chỉ trông chờ vào quân viễn chinh và không thể diệt chủng người Việt, giặc Minh phải buộc lòng phải xây dựng một bộ máy ngụy quyền đồ sộ để cai trị, chấp nhận nới lỏng một số quyền tự trị đối với các thổ hào địa phương để làm dịu bớt sự chống đối.

Chính trong số các thổ hào này, một nhân vật kiệt xuất mới đã xuất hiện, chính là Lê Lợi – lãnh tụ của phong trào khởi nghĩa Lam Sơn vĩ đại. Trương Phụ và quân tướng nước Minh những tưởng rằng đánh dẹp được nhà Hậu Trần là xong việc, nhưng kỳ thực đó chỉ là thắng lợi tạm thời đối với chúng mà thôi. Kẻ gieo gió rồi sẽ gặp bão. Chẳng bao lâu sau, những phong trào khởi nghĩa mới của người Việt lại bùng lên mà không cần phải nhân danh một dòng họ nào nữa.

Quốc Huy/Một Thế Giới

Kháng Minh Truyền Kỳ ( Phần 2 ) – Kỳ 19 : Trận Sái Già, Trương Phụ hai lần hụt chết

Kháng Minh Truyền Kỳ ( Phần 2 ) – Kỳ 19 : Trận Sái Già, Trương Phụ hai lần hụt chết

Kỳ 18

Tháng 8.1413, Trương Phụ đem binh hùng tướng mạnh nước Minh vào đánh Hóa Châu (Thừa Thiên Huế ngày nay) nơi cùng trời cuối đất của nước Đại Việt thời bấy giờ, nơi là vua Trùng Quang đế đã cùng các tướng sĩ trung kiên của mình quyết tâm thủ hiểm mà chiến đấu đến cùng.

Quân Minh từ Nghệ An đi thuyền vượt biển đánh vào cửa biển Nhật Lệ, cửa ngõ tiến vào đất Hóa Châu. Quân Hậu Trần lúc này chỉ còn quân số ít hơn quân Minh gấp mấy lần, lại ít lương thảo, khí giới. Trước tình hình đó, quân ta áp dụng chiến lược kéo giãn thời gian, vừa đánh vừa lùi dần để mong có thể đưa quân Minh vào thế dằn do kéo dài, gây khó khăn cho tiếp tế của giặc và khiến chúng mệt mỏi. Các tướng Hậu Trần thiết lập một loạt phòng tuyến che chắn cho thành Hóa Châu gồm phòng tuyến cửa Nhật Lệ, phòng tuyến sông Trà Bát, sông Trà Kệ… Trương Phụ thúc thủy quân đánh mạnh, quân ta vừa đánh cầm chừng vừa lùi dần. Sau một thời gian giao chiến, quân Minh đã kéo đến trước thành Hóa Châu mà bày trận công thành. Quân Hậu Trần chỉ cầm cự một thời gian ngắn trước khi rút quân khỏi thành. Quân Minh nhanh chóng chiếm được thành Hóa Châu, nhưng quân Hậu Trần đã thoát hiểm trong cuộc vây ráp của giặc bằng một cuộc hành quân khéo léo. Vua Trùng Quang đế được các tướng hộ tống theo đường biển dong thuyền ngược lên phía bắc, đổ bộ vào đất Thuận Châu (Quảng Trị ngày nay) , dựa vào thế núi rừng để ém quân và nghe ngóng chờ đợi quân Minh sơ hở.

Tháng 10.1413, Trương Phụ đã chiếm được Hóa Châu nhưng vẫn chưa bắt được vua Trùng Quang như dự tính. Đến khi hay tin quân Hậu Trần đã xâm nhập trở lại đất Thuận Châu, bèn lập tức điều quân đi ngược ra phía bắc, tấn công Thuận Châu. Nhà Hậu Trần tuy thất thế vẫn kiên trì bàn định mưu kế hòng đảo ngược tình thế. Nắm được tin tức hành quân của quân Minh, Nguyễn Súy cầm quân thủy bộ lập phòng tuyến tại cảng sông Sái Già (Ái Tử, Triệu Phong, Quảng Trị ngày nay) để ngăn giặc. Đặng Dung thì ém quân mai phục ở gần đó chờ thời cơ.

Một ngày cuối thu, quân Minh hành quân đến vùng sông Sái Già, đụng trận với quân của Nguyễn Súy. Hai bên đối mặt đánh nhau từ sáng đến tối chưa phân thắng bại. Mệt mỏi vì các đợt hành quân và chiến đấu liên tục, Trương Phụ sai quân hạ trại nghỉ ngơi. Trương Phụ cùng thủy quân Minh quây thuyền lập thủy trại ngay giữa sông. Tướng Hoàng Trung dựng trại trên bờ cùng bộ binh. Trời về đêm không trăng, cách nhau trong gang tấc không rõ mặt. Doanh trại quân Minh đèn đuốc sáng rực khắp một vùng sông nước.

Nhận thấy thời cơ đã điểm, Đặng Dung âm thầm dẫn binh thuyền cùng tượng binh lợi dụng trời đêm đánh úp quân Minh. Nửa đêm thanh vắng, quân ta tắt hết đèn đuốc tiếp cận trại giặc rồi thình lình tấn công như vũ bão. Bầy voi chiến của nhà Hậu Trần như trên trời rơi xuống khiến cho quân Minh vô cùng hoảng loạn. Khối quân Minh đóng phía bờ sông chịu tổn thất nặng ngay từ đầu. Đoàn thủy quân của Đặng Dung bấy giờ không thuyền lớn, không súng đạn, chỉ trang bị nhẹ với thuyền con, gươm giáo mà chí khí ngút trời. Quân ta xả thân xông vào chém giết giặc, nhảy từ thuyền này sang thuyền khác, vừa đánh vừa phóng hỏa đốt thuyền bè của giặc. Quân Minh hoàn toàn bất ngờ và bị động với lối đánh tập kích xuất quỷ nhập thần của quân Hậu Trần. Nhiều tên chưa kịp sửa sang khiên giáp đã bị quân ta giết chết. Lúc này thuyền của giặc đang đậu san sát nhau và không sẵn sàng chiến đấu, lần lượt từng chiếc bị thiêu rụi bởi mồi lửa của quân ta. Chẳng mấy chốc, sông Sái Già đã sáng rực một biển lửa.

Các tướng Minh cố gắng điều động số quân còn lại để thiết lập lại trận địa phản kích. Quân ta cũng đã chuẩn bị tinh thần tử chiến vì đó là lợi khí duy nhất để giúp chiến thắng đội quân đông mạnh hơn nhiều, lại rất tình nhuệ. Lúc này chủ tướng Đặng Dung xuất hiện giữa trại quân Minh như một hung thần, tự mình cầm gươm xông pha giữa trận, tả xung hữu đột nhắm thẳng vào soái thuyền của Trương Phụ. Các tướng sĩ Hậu Trần nối bước theo sau, thế không ai chống nổi. Trương Phụ còn đang bận chỉ huy quân tướng của mình tổ chức phản kích thì Đặng Dung đã đánh đến thuyền của hắn. Đặng Dung nhảy sang thuyền của Trương Phụ, lần lượt hạ gục quân cận vệ và lùng giết Trương Phụ. Trời tối khiến cho vị hổ tướng nhà Hậu Trần không thể nhận rõ mặt Trương Phụ, để cho tên tướng già nhanh chân nhảy sang thuyền nhỏ chèo trốn. Quân Minh lúc này đang hoảng loạn, thấy chủ soái bỏ chạy cũng hè nhau chạy theo. Đặng Dung thừa thế thúc quân đuổi gấp.

Thế nhưng đúng lúc này thì trời chuyển rạng đông, quân Minh tưởng chừng đã bại trận lại gặp vận may. Trong ánh sáng ban ngày, đoàn quân của Đặng Dung hiện rõ ra quân số ít ỏi. Trương Phụ là một tướng lão luyện, đang tháo chạy trông lại thấy Đặng Dung quân ít, liền hô quân quay ngược trở lại đánh. Quân Minh có kỷ luật tốt nên theo lệnh chủ tướng đánh quật trở lại. Quân dưới trướng Đặng Dung chiến đấu trong đêm thì hăng hái nhưng không thể địch nổi số đông của giặc khi trời sáng, nhanh chóng để mất thế thượng phong và bị dồn ép vào đường nguy cấp.Đặng Dung dù dũng mãnh cũng không thể làm được việc quá sức mình, cùng quân sĩ rút chạy mỗi người một ngả.

Trận này quân Minh bị thiệt hại rất nặng nề, quân số bị hao tổn đến quá nửa. Thuyền bè, khí giới của giặc cũng bị đốt gần hết. Thế nhưng, dù chỉ còn non nửa quân lực nhưng quân Minh vẫn đông mạnh hơn quân Hậu Trần rất nhiều, nhất là khi quân của Đặng Dung cũng chịu thiệt hại không nhỏ trong trận chiến.

Nguyễn Súy đóng quân ở phòng tuyến lúc đêm thấy động nhưng ngờ vực không chịu đem quân đến hợp lực. Đến khi trời sáng thì quân Minh đã thoát hiểm, lại càng đánh lũy gấp rút. Nguyễn Súy tiếc mình đã lỡ thời cơ, bèn sai ba tráng sĩ làm thích khách đi ám sát Trương Phụ. Thích khách của Súy cả ba người đều lọt qua vòng canh giữ của quân Minh, vào đến tận thuyền của Trương Phụ. Nhưng tên tướng già đã kịp cảnh giác, thấy động liền hô cận vệ vây bắt. Hai thích khách bị bắt sống, một người lặn trốn được. Kế hoạch ám sát của Nguyễn Súy thất bại vào phút chót. Trương Phụ hụt chết, đem tướng Hoàng Trung ra chém vì tội canh phòng thiếu cẩn mật. Các tướng Minh đều tái mặt. Chẳng lâu sau đó, Nguyễn Súy không chống nổi phải rút bỏ Sái Già, từ đó quân Hậu Trần chỉ còn lẩn tránh trong rừng núi.

Chiến cuộc tại Sái Già là một minh chứng đanh thép về tài dùng binh của Đặng Dung và tinh thần chiến đấu của quân Hậu Trần. Nguyễn Súy tuy phán đoán kém, nhưng cũng đã dùng quân ít ỏi mà cầm chân được quân Minh, tạo thời cơ của Đặng Dung tập kích, có thể gọi là trí tướng. Quân ta chỉ thua trận vì tiềm lực vượt trội của giặc. Kỳ thực từ đầu đến cuối cuộc chiến giữa Trương Phụ và Đặng Dung, tên tướng nước Minh luôn nắm ưu thế về quân số cũng như lương thực, khí giới. Nhận xét về trận Sái Già, Ngô Sĩ Liên đã có những dòng rất hay trong Đại Việt Sử Ký Toàn Thư:

“Trận đánh ở Sái Già, Đặng Dung, Nguyễn Súy, đem tànquân trơ trọi chống lại bọn giặc mạnh, quân tướng đều tinh nhuệ. Dung nửa đêm đánh úp doanh trại giặc làm cho tướng giặc sợ hãi chạy trốn, đốt hết thuyền bè, khí giới của chúng, không phải người thực sự có tài làm tướng, thì có làm được như thế hay không? Thế nhưng cuối cùng vẫn bại vong, đó là do trời. Tuy thất bại, cũng vẫn vinh quang, vì sao vậy?

Bọn Dung vì nghĩa không thể cùng sống với giặc, phải tiêu diệt bọn chúng mới nghe, cho nên mới hết lòng, hết sức giúp đỡ Trùng Quang để mưu khôi phục. Trong khoảng 5 năm, kiên trì chiến đấu với giặc, dẫu có bất lợi, nhưng ý chí không núng, khí thế càng hăng, đến kiệt sức mơí chịu thôi. Lòng trung vì nước của người bề tôi, dẫu trăm đời sau vẫn còn tưởng thấy được!

Ngày xưa nước Lỗ đánh nhau với nước Tề ở đất Can Thì bị thất bại, thánh nhân không vì thua mà kiêng né, lại chép rõ để nêu niềm vinh quang chiến đấu với kẻ thù, chứ không bàn đến việc thành bại. Thế thì trận đánh ở Sái Già, quân Minh bị tan vỡ một nửa, quân ta đến khi sức kiệt mới chịu thua cũng vinh quang lắm thay!”.

Quốc Huy/Một Thế Giới

Kháng Minh Truyền Kỳ ( Phần 2 ) – Kỳ 18 : Trùng Quang đế tự mình làm tướng và chuyện Nguyễn Biểu đi sứ

Kháng Minh Truyền Kỳ ( Phần 2 ) – Kỳ 18 : Trùng Quang đế tự mình làm tướng và chuyện Nguyễn Biểu đi sứ

Kỳ 17

Cuối năm 1412, tình thế của nhà Hậu Trần đã như ngọn lửa dần tàn trước sức tấn công dồn dập của quân Minh. Vua Trùng Quang đế đã để mất các xứ Thanh Hóa, Nghệ An, Diễn Châu vốn là đất căn bản cung cấp nhiều nhân tài, vật lực cho cuộc kháng chiến. Hóa Châu tuy cũng là một hậu phương đã đóng góp rất đáng kể cho nhà Hậu Trần thưở ban đầu, nhưng bấy giờ lại quá nhỏ bé so với nhu cầu của một cuộc chiến quy mô lớn và dai dẳng.

Trương Phụ lúc này đang đắc thắng, đã ráo riết chuẩn bị mở cuộc tấn công quyết định vào đất Hóa Châu, một trận mà tận diệt quân Hậu Trần. Nhưng đang lúc chuẩn bị thì một lần nữa hắn lại phải nhận hung tin. Tại xứ Lạng Sơn, một cuộc khởi nghĩa lớn đã nổ ra dưới sự lãnh đạo của Nông Văn Lịch. Quân khởi nghĩa đã nắm quyền kiểm soát một địa bàn quan trọng nằm trên tuyến đường tiếp tế của quân Minh từ trong nước sang nước ta. Việc này rất hệ trọng đối với quân viễn chinh của Trương Phụ. Quân Minh tiến vào Nghệ An, đã là khá xa những nguồn tiếp tế chính. Một khi đem quân vào Hóa Châu, việc tiếp tế sẽ càng tốn kém, khó khăn hơn nữa và quân Minh cũng chẳng thể dễ dàng chiến thắng. Nguy cơ bị cầm chân và thiếu lương thực đang hiện hữu đối với đoàn quân của Trương Phụ.

Vì lẽ đó, Trương Phụ một lần nữa buộc phải dẫn quân quay trở về bắc để dập tắt những sự kháng cự. Mặc dù lúc này tại thành Đông Quan đã có quân của Hàn Quang đóng giữ để đàn áp phong trào khởi nghĩa ở đồng bằng sông Hồng và phụ cận, nhưng điều đó cũng chỉ đủ cho quân Minh đảm bảo trị an ở những nơi gần thành Đông Quan mà thôi. Quân dân ta vẫn tạo một sức ép rất lớn lên quân Minh đồn trú và các lực lượng ngụy quyền trên khắp lãnh thổ. Nông Văn Lịch với lối đánh xuất quỷ nhập thần, đã nhiều phen tập kích bắt giết nhiều quân Minh trên tuyến đường Lạng Sơn – Đông Quan.

Bấy giờ tên tay sai Mạc Thúy – người trước kia rất tích cực đón rước giặc Minh vào diệt nhà Hồ và giúp cho giặc đặt nền cai trị lên nước ta, đã được Minh triều phong cho chức Tham chính. Cuối năm 1412, Mạc Thúy theo lệnh giặc dẫn quân lên đánh Nông Văn Lịch. Nghĩa quân chiếm lấy chỗ hiểm mai phục chờ sẵn. Mạc Thúy đem quân tiến sâu vào núi, Nông Văn Lịch chỉ huy quân dùng cung tên tẩm thuốc độc chống trả mãnh liệt. Quân giặc bị thiệt hại nặng nề, Mạc Thúy trúng tên thuốc độc chết ngay tại trận. Tên đầu sỏ phản dân hại nước rốt cuộc đã phải đền tội, chẳng những vậy còn bị sử sách bêu tên, nhân dân nguyền rủa đến muôn đời.

Đã có lúc Nông Văn Lịch nổi lên như một nhân vật kiệt xuất nhất trong đám anh hùng hào kiệt các xứ phía bắc. Tiếc thay, vị thủ lĩnh này tuy có tài năng quân sự nhưng lại không đoan chính trong lối sống. Sách Đại Việt Sử Ký Toàn Thư chép rằng vì Nông Văn Lịch quan hệ bất chính với vợ của thuộc cấp, nên bị binh sĩ dưới quyền làm phản giết chết. Cuộc khởi nghĩa vì thế cũng rơi vào thoái trào.

Ngoài cuộc khởi nghĩa Nông Văn Lịch, còn có cuộc khởi nghĩa dưới sự lãnh đạo của Nguyễn Liễu ở Hà Nam cũng là phong trào khá lớn khiến cho quân Minh nhiều phen khốn đốn. Nguyễn Liễu nổi lên ở Lý Nhân (Hà Nam), sau mấy năm trời chiến đấu đã thu hút được một lực lượng lớn hoạt động ở khắp các vùng Lý Nhân, Lục Na (Bắc Giang), Vũ Lễ (Thái Nguyên)… tạo thành một thế vòng cung ngăn chặn đường đi lại của quân Minh từ Đông Quan tỏa đi các hướng. Quân Minh nhiều lần đánh dẹp không được bèn tìm cách mua chuộc. Tham nghị Nguyễn Huân vờ kết thông gia. Liễu không đề phòng, tự thân đi đến chỗ Nguyễn Huân và bị giặc bắt giết. Trong năm 1412 – 1413, vẫn còn những cuộc khởi nghĩa khác mà quân Minh chưa thể đàn áp nổi. Trong số đó có Lưu Phụng khởi nghĩa ở Quảng Oai, Giáp Giang ở Lạng Sơn, Phạm Khang ở Phù Lưu (thuộc Hà Nội ngày ngay), Trần Nguyên Hiến ở Tam Đái (Vĩnh Phú) …

Các cuộc khởi nghĩa ở đồng bằng sông Hồng và trung du phía bắc đã một lần nữa giúp giải tỏa áp lực cho nhà Hậu Trần. Lúc này, quân Hậu Trần đã bị hao tổn rất nhiều sau liên tiếp những trận chiến lớn nhỏ với quân Minh, lại bị thiếu thốn lương thực vì để mất đất đứng chân Thanh Nghệ. Tận dụng thời cơ Trương Phụ phải đem quân về bắc khai bảo vệ nguồn hậu cần, vua Trùng Quang cùng các tướng sĩ từ Hóa Châu đã đem quân trở lại đánh chiếm phần lớn Nghệ An, Diễn Châu một cách nhanh chóng. Biết rằng không thể ngồi yên một chỗ để chờ Trương Phụ đem quân trở lại đánh, Trùng Quang đế quyết định chủ động đem thủy quân tấn công ra bắc.

Đầu năm 1413, Trùng Quang đế cùng các tướng Nguyễn Súy, Nguyễn Cảnh Dị, Đặng Dung dẫn thủy quân vượt biển đánh vào Vân Đồn, Hải Đông để cướp phá lương thực của quân Minh ở trong các đồn trại và  đánh cướp các thuyền buôn của giặc bấy giờ đang chở thóc lúa từ nước ta về bán ở trong nước Minh. Cuộc hành quân này rất gian khổ, kéo dài từ tháng giêng đến tháng ba Âm lịch năm 1413, đã giúp cho quân Hậu Trần giải quyết được vấn đề lương thực. Thế nhưng tình cảnh bấy giờ chẳng mấy khả quan. Vua Trùng Quang đế chỉ còn lại ba bốn phần mười quân lực so với lúc cực thịnh của quân Hậu Trần.

Khoảng tháng 5.1413, Trương Phụ lại dẫn quân trở vào đánh Nghệ An. Vua Trùng Quang binh ít không địch nổi, lại phải bôn ba vào lại Hóa Châu thủ hiểm. Trương Phụ xét thực lực chưa thể tấn công ngay vào Hóa Châu, lại cho dừng quân chuẩn bị khí cụ, thuyền bè, lương thực. Trùng Quang đế vào Hóa Châu rồi, sai Nguyễn Biểu làm sứ giả đến doanh của Trương Phụ xin đem lễ vật sang Minh cầu phong. Việc này là kế hoãn binh của Trùng Quang đế, nhưng rõ là rất vụng về bởi Trương Phụ là tên tướng không thể nói chuyện bằng lý lẽ được. Nhận lệnh của vua, Nguyễn Biểu chẳng từ nan để đi vào tử địa. Biểu đem lễ vật đến Nghệ An, Trương Phụ đã dùng thủ đoạn man rợ để làm nhục chí sứ giả nhà Hậu Trần. Phụ sai quân lấy đầu người nấu làm cỗ tiệc để “thiết đãi” sứ giả. Ắt hẳn đó là đầu của tử sĩ hay người dân vô tội nào đó đã không may bị giặc dày vò. Nguyễn Biểu cố giữ khí thế, tỏ ra không sợ hãi, vừa ăn tiệc đầu người vừa làm thơ ứng khẩu, còn nói to: “Chẳng mấy khi được ăn cỗ đầu người bắc”. Câu đó ngầm nói lên lòng căm thù và không sợ hãi trước giặc mạnh.

Khi vào tiếp sứ, Nguyễn Biểu đem chuyện cầu phong ra bàn nhưng Trương Phụ đều bác bỏ. Thấy Nguyễn Biểu ứng đối trôi chảy, Phụ vừa phục tài vừa e ngại, nên giữ không cho Nguyễn Biểu ra về. Nguyễn Biểu không kìm được cơn giận dữ, mắng chửi Trương Phụ thậm tệ: “Trong bụng toan tính việc đánh chiếm nước người ta, ngoài mặt lại phô trương là quân nhân nghĩa, trước nói lập con cháu họ Trần, bây giờ lại đặt quận huyện, không những cướp bóc của cải, lại còn giết hại nhân dân, mày thật là thằng giặc bạo ngược” (theo Cương Mục).

Trương Phụ nghe xong nổi giận đùng đùng, sai lính đem Nguyễn Biểu đem trói dưới chân cầu Lam Kiều cho nước thủy triều dìm chết. Việc Nguyễn Biểu đi sứ là giai thoại khá nổi tiếng trong sử Việt. Người ta không trách Nguyễn Biểu không làm nên công trạng mà chỉ nể phục khí khái và thương tiếc cho số mệnh của ông. Trùng Quang đế lấy một Nho sĩ vào trại giặc lúc đang thất thế để mong đàm phán thật là hạ sách, phỏng có ích gì !? Nguyễn Biểu đi sứ, cố giữ tròn khí tiết, không sợ bị giặc giết. Thương thay!

Tháng 6.1413, Trương Phụ muốn đánh dẹp triệt để nhà Hậu Trần nhưng vẫn ngán ngại Hóa Châu hiểm trở và ở xa. Phụ hỏi Phan Liêu là con của Phan Quý Hữu về nội tình nhà Hậu Trần. Liêu đem hết chuyện tướng tá Hậu Trần ai hay ai dở, núi sông Hóa Châu chỗ nào hiểm chỗ nào bằng, binh lực mạnh yếu thế nào nói hết cho Trương Phụ biết. Bấy giờ Trương Phụ mới hạ quyết tâm đánh vào Hóa Châu, cho họp các tướng lại để bàn kế sách.

Mộc Thạnh nói : “Hóa Châu núi cao biển rộng, chưa dễ lấy được”.

Phụ nói:

“Tôi sống được cũng là vì Hóa Châu, có làm ma cũng là vì Hóa Châu. Hóa Châu mà chưa dẹp được, tôi còn mặt mũi nào trông thấy chúa thượng nữa !”.

Trương Phụ cố chết lo tròn đạo trung thần, mà không nghĩ đến họa phúc của muôn dân. Bàn định xong xuôi, quân Minh hăm hở tiến đánh Hóa Châu…

Quốc Huy/Một Thế Giới

Kháng Minh Truyền Kỳ ( Phần 2 ) – Kỳ 17 : Nước Minh thêm quân tiếp viện, vua Trùng Quang thất thế rút về nam

Kháng Minh Truyền Kỳ ( Phần 2 ) – Kỳ 17 : Nước Minh thêm quân tiếp viện, vua Trùng Quang thất thế rút về nam

Kỳ 16

Sau khi bại trận tại Mô Độ, nhà Hậu Trần đã mất đi một chốt chặn thủy quân nước Minh tiến xuống theo đường biển, cửa ngõ tiến vào Thanh Hóa cũng mở toang trước mắt quân Minh. Nhiều nơi ở phía bắc Thanh Hóa rơi vào tay giặc mà hầu như không có sự kháng cự nào đáng kể. Quân Hậu Trần tập trung về giữ Nghệ An là đất căn bản của nhà Hậu Trần lúc bấy giờ, nơi mà Trùng Quang đế đóng hành doanh.

Quân Minh tuy thắng trận nhưng cũng chưa dễ dàng tung ra đòn kết liễu. Để có được chiến thắng tại Mô Độ, giặc đã chịu những tổn thất không nhỏ về nhân mạng và thuyền bè. Đến khi tiến quân vào Thanh Hóa thì nhân dân rủ nhau trốn tránh, bất hợp tác, và kháng cự quyết liệt khiến quân Minh mất đi đáng kể nguồn hậu cần tại chỗ từ việc cướp bóc, trưng thu lương thực trong dân. Trong khi đó thì ở Nghệ An, quân Hậu Trần đã kịp tổ chức tuyến phòng thủ mới. Trước tình hình đó, Trương Phụ đã lệnh cho ngụy quan các xứ Tam Giang, Tuyên Hóa điều động ngụy quân, dân chúng đóng thêm chiến thuyền để bù đắp vào thiệt hại trước đó và tăng cường thêm sức mạnh thủy quân. Có lẽ sau trận chiến tại Mô Độ, Trương Phụ càng nhận thức rõ sự tinh nhuệ của thủy quân nhà Hậu Trần.

Chiến sự tại Đại Việt lúc này ưu thế đang nghiêng về quân Minh dưới sự chỉ huy của Trương Phụ, nhà Hậu Trần chỉ còn đủ sức giữ lấy phần đất từ Nghệ An trở vào nam. Thế nhưng quân Minh vẫn chưa đủ điều kiện để diệt được nhà Hậu Trần. Trương Phụ càng dẫn quân tiến sâu về phía nam, việc tiếp tế lương thực cho đạo quân đông đúc của hắn càng trở nên khó khăn. Thêm nữa, nguy cơ vùng Kinh lộ thừa lúc quân Minh đi đánh xa mà vùng lên vẫn luôn hiện hữu. Tình hình này khiến cho vua Minh là Chu Đệ nóng lòng. Vì vậy, hắn đã quyết định gửi thêm quân tiếp viện và nhiều quân lương để sớm kết thúc cuộc chiến, hoàn toàn khuất phục dân tộc Việt.

Đầu mùa thu 1412, tướng Minh là Hàn Quang, chức Hữu quân đô đốc đồng tri nhận lệnh vua Minh mang ấn “Chinh Nam tướng quân”, đem 1 vạn hộc lương và viện binh sang tăng cường cho Trương Phụ. Hàn Quang được phong chức Tổng binh, là chức quan mà Minh triều phong cho những tướng soái cầm quân đi đánh xa. Chức Tổng binh cũng là chức mà Trương Phụ trước đó đã được phong. Điều này cho thấy rằng những diễn biến chiến sự ở Đại Việt đã khiến cho vua Minh không hài lòng về Trương Phụ. Dù vậy, mọi diễn biến về sau cho thấy trên thực tế Trương Phụ vẫn là tướng soái chỉ huy chung nhất của quân Minh ở chiến trường Đại Việt.

Đồng thời với việc tăng cường quân tiếp viện và lương thực cho việc đàn áp, Chu Đệ tiếp tục dùng chính sách chiêu dụ. Vua Minh xuống chiếu “dạy dỗ” những ngụy quan và ru ngủ quân dân, kỳ lão nước ta :

“Trẫm vâng mệnh trời, thống trị thiên hạ, chỉ mong cho dân thiên hạ được yên ổn, Giao Chỉ ở xa tận ven biển, xưa là đất của Trung Quốc, nay đã lại như cũ, binh lính và dân chúng theo về giáo hóa đến nay đã mấy năm rồi, đã đặt mục, bá, thú, lệnh và quân, vệ, ty, chọn dùng những người trung lương, hiền năng để vỗ trị. Trẫm sớm khuya nghĩ đến, còn lo rằng đất xa dân đông, giáo hóa có chỗ không thấu tới, không được thấm ơn trạch yêu thương, nuôi nấng của nhà nước.

Nay bọn các ngươi đều là bề tôi trung lươmg, phải thể lòng kính trời thương dân của trẫm, hưng lợi trừ hại cho dân, thuận theo lòng yêu ghét của dân mà trừ bỏ mối gian tệ cho dân. Dạy dân cày ruộng, trồng dâu, khiến cho không trái thời vụ thì áo mặc, cơm ăn có chỗ trông cậy. Dạy dân bằng hiếu, để, trung, tín, khuyên dân điều lễ nghĩa, liêm sĩ, thì phong tục sẽ tốt lành. Khi tang ma, hoạn nạn thì thương xót giúp đỡ lẫn nhau. Lúc khốn cùng long đong thì chu cấp phù trì cho nhau. Người già phải dạy con trẻ, kẻ dưới phải kính bề trên, ai nấy phải thuận theo bản tính, không được làm trái với lễ. Chớ có làm trộm cướp, chớ có đi lừa dối, chớ múa may văn chương mà đùa với luật pháp, chớ theo ý riêng mà bỏ lẽ công, muốn cho dân chúng an cư lạc nhgiệp, mãi mãi là dân trời vô sự, để cùng vui thời thịnh trị thái bình, thì bọn các người phải thận trọng với chức vị của mình, làm tròn công việc của mình, theo được đức y thay trời nuôi dân của trẫm, để có thể sánh vai với những bậc thuần lương đời xưa, tên tuổi chiếu sáng sử xanh, thế chẳng tốt đẹp lắm sao !” (!?) (theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư)

Về mặt văn chương và ý tứ của vua Minh, có thể nói là một văn bản đầy lời lẽ tốt đẹp. Thế nhưng trên thực tế đây vẫn chỉ là một thủ đoạn chính trị quen thuộc. Và trước những hành động thực tế hoàn toàn trái ngược với những tờ chiếu dụ, cũng chẳng mấy người nước ta tin vào lời của vua Minh. Một số kẻ đã rắp tâm làm tay sai cho giặc thì chẳng qua để mưu cầu danh lợi. Một số khác, phải luồn cúi trước cửa quân nước Minh cũng chỉ để giữ thân cầu sống, tìm kiếm sự yên ổn chứ chẳng ai thiết tha gì với những lời rao giảng về nhân nghĩa giả trá của giặc.

Lại nói Hàn Quang khi đem quân tiến sang Đại Việt, đã đóng đại quân ở thành Đông Quan để giữ vững mặt sau cho Trương Phụ có thể dốc toàn lực tấn công nhà Hậu Trần. Được sự hậu thuẫn của quân tiếp viện ở tuyến sau, tháng 10.1412 Trương Phụ cất quân vào đánh Nghệ An, Diễn Châu. Đúng với bản chất giả trá tàn bạo, trong khi những văn bản chiêu an của vua Minh còn chưa ráo mực thì quân Minh dưới trướng Trương Phụ đi đến đâu là tàn sát, cướp bóc man rợ đến đó. Việc cướp giết của giặc vừa để trả thù nhân dân các xứ Thanh Nghệ đã đóng góp nhiều cho nhà Hậu Trần, vừa để khủng bố tinh thần quân dân cả nước.

Vua Trùng Quang nhận thấy lực lượng quá chênh lệch nên phải cùng các tướng bỏ Nghệ An, đem đại quân tiếp tục vượt biển lui về nam. Thiếu bảo Phan Quý Hữu cùng một số tướng lĩnh được giao nhiệm vụ lưu thủ Nghệ An để cầm chân Trương Phụ. Quân Minh tiến đánh Phan Quý Hữu ở sông Ác, huyện Thổ Hoàng, phủ Nghệ An (tức sông Ngàn Sâu, Hương Khê, Hà Tĩnh ngày nay). Phan Quý Hữu không đánh nổi quân Minh, rút lên núi Khả Lôi cố thủ. Trương Phụ đem quân bao vây núi. Phan Quý Hữu có quân tinh nhuệ trong tay nhưng không có lòng quyết chiến, sai con là Phan Liêu đến gặp Trương Phụ xin hàng. Phụ chấp thuận, cho Phan Quý Hữu làm Tri phủ Nghệ An, Phó sứ ty Án sát Giao Chỉ.

Trước đây, Phan Quý Hữu cùng Đặng Tất đều làm quan nhà Hồ, thế lực có thể gọi là tương đương nhau. Đến khi nhà Hồ sụp đổ, cả hai họ Đặng và họ Phan đều phải theo hàng quân Minh. Sau đó Đặng Tất phò vua Giản Định, chiêu hàng được Phan Quý Hữu về với nhà Hậu Trần. Quý Hữu tuy hàng Hậu Trần, cũng chỉ là làm tròn vai để mong được yên ổn. Vua Trùng Quang phong chức cao, chẳng qua vì nể nang thế lực Phan gia. Chính vì có lý lịch hay trở cờ như thế nên thật dễ hiểu với hành động đầu hàng của Phan Quý Hữu.

Vì nhà vua đã bỏ Nghệ An vào nam và tướng có quân đông mạnh nhất là Phan Quý Hữu đã hàng, nên các tướng quân còn lại của nhà Hậu Trần càng dễ dàng dao động. Một loạt tướng lĩnh theo gót Phan Quý Hữu đầu hàng Trương Phụ gồm có Trần Mẫn, Nguyễn Sĩ Cần, Trần Toàn Úc, Trần Toàn Mẫn, Trần Lập, Nguyễn Sảng, Nguyễn Yểm, Nguyễn Điệu… Điều này cho thấy tình cảnh bi đát của nhà Hậu Trần. Và nó cũng thể hiện được rằng nhà Hậu Trần được xây dựng từ những nền tảng không vững chắc. Các thế lực quân phiệt địa phương có sự tự trị rất cao. Một khi nhà vua không còn đủ sức để chế ngự, thì không có gì đảm bảo cho lòng trung thành của các đầu mục. Mất đi vùng đứng chân quan trọng là hai xứ Thanh – Nghệ, vua Trùng Quang đế chỉ còn lại các xứ phương nam là Tân Bình, Thuận Châu, Hóa Châu. Các nơi này xét về nhân lực, vật lực đều rất khiêm tốn không đủ sức để cho nhà Hậu Trần dựa vào mà tiếp tục cuộc chiến dai dẳng với quy mô khá lớn. Tuy nhiên bất chấp những điều đó, Trùng Quang đế cùng một số tướng lĩnh kiên cường và những chiến binh dũng cảm vẫn kiên quyết chiến đấu đến cùng với quân Minh. Nhà Hậu Trần vẫn chưa dừng lại hành trình viết lên những trang sử bi tráng của mình.

Quốc Huy/Một Thế Giới

Kháng Minh Truyền Kỳ ( Phần 2 ) – Kỳ 16 : Trận Mô Độ – Đặng Dung đơn độc tử chiến

Kháng Minh Truyền Kỳ ( Phần 2 ) – Kỳ 16 : Trận Mô Độ – Đặng Dung đơn độc tử chiến

Kỳ 15

Trận Mô Độ là một trong những trận đánh lớn nhất trong giai đoạn nhà Hậu Trần chống quân Minh. Vua Trùng Quang coi vùng Trường Yên như một tuyến phòng thủ từ xa để bảo vệ căn cứ địa, nên đã điều động những lực lượng ưu tú nhất mà mình có để chiến đấu tại vùng này. Về phần các tướng lĩnh Hậu Trần, việc lựa chọn quyết chiến tại vùng cửa biển, địa hình phức tạp giúp cho quân HậuTrần có thể hạn chế tối đa sở trường của giặc. Thế nhưng quân Minh là một đạo quân khá toàn diện về các binh chủng. Mặc dù kỵ bộ vẫn là sở trường của quân Minh cũng như các quân đội phương bắc, thủy quân của giặc cũng khá tinh nhuệ, và nhất là được trang bị các thuyền chiến tốt, có lợi thế về quân số so với quân ta.

1. Diễn biến trận Mô Độ:

Ngày 6.9.1412, sau những ngày dài vừa hành quân vừa quần nhau với quân Hậu Trần, quân Minh dưới sự chỉ huy của Trương Phụ, Mộc Thạnh, Phương Chính… tiến đến dọc sông Đáy, nhằm hướng cửa biển Thần Phù, thuộc Mô Độ, Yên Mô, Trường Yên để ra biển. Quân Hậu Trần với lực lượng gồm 400 chiến thuyền, dưới quyền chỉ huy của các tướng Đặng Dung, Nguyễn Cảnh Dị, Nguyễn Súy, Hồ Bối… đã bày sẵn thủy trận trên sông đón đánh. Nhác trông thấy thuyền của quân ta, Trương Phụ với lực lượng mạnh trong tay, không ngần ngại sai Đô chỉ huy Phương Chính dẫn đội thuyền tiên phong hàng trăm chiếc hùng hổ xáp lại, còn Phụ thì tiến sau với đội thuyền chủ lực. Kỵ binh quân Minh vốn vẫn hành quân ven bờ để hộ tống hạm đội chủ lực, nay không thể theo kịp vì địa hình địa vật phức tạp trên đường ra cửa biển. Dù vậy, Trương Phụ vẫn tự tin với hạm đội của mình.

Bấy giờ gió bắc đang thổi, thuyền giặc có lợi về hướng gió. Thời kỳ này, các chiến thuyền vẫn dùng buồm để tận dụng gió làm tăng tốc độ của thuyền bên cạnh các tay chèo. Quân Hậu Trần không vội giao tranh, mà cũng xuôi theo chiều gió chèo ngược ra hướng cửa biển. Hai đoàn thuyền lướt nhanh rượt đuổi nhau. Quân Hậu Trần vừa ra đến cửa biển thì theo kế sách tản ra thành ba đội. Trong thời khắc đó, phần lớn hạm đội quân Minh vẫn còn ở trong sông, không gian chật hẹp hơn nên không thể dàn trận hết được, mà đội hình các thuyền vẫn đang nối đuôi nhau thành những hàng dài. Đó là tính toán rất lợi hại của tướng lĩnh Hậu Trần. Lúc này, quân Hậu Trần đã hình thành thế trận lấy ít vây nhiều. Chỉ có như vậy, quân Hậu Trần mới có cơ hội đánh thắng quân Minh vượt trội hơn cả về trang bị lẫn quân số, lại đang ở thế thượng phong (từ trên gió đánh xuống).

Khi thế trận đã hình thành như dự kiến, Đặng Dung hạ lệnh toàn quân quay thuyền lại đánh. Thủy quân Hậu Trần rất tinh nhuệ, cùng quân Minh đánh nhau dữ dội. Khắp vùng biển vang rền tiếng súng từ hai phía. Cuộc đấu pháo giữa các thuyền xen lẫn với những màn giáp chiến. Thủy quân ta dùng câu liêm móc vào thuyền giặc, nhảy lên thuyền đánh xáp là cà. Gươm giáo tua tủa vang động khắp chiến trường. Nguyễn Súy đốc suất một nhánh quân chiếm lĩnh chỗ đất ven bờ, từ trên bộ bắn tên và đạn pháo hỗ trợ cho thủy quân ta diệt giặc. Quân ta khiến đội thuyền tiên phong của Phương Chính bị thiệt hại nặng nề. Trương Phụ phải tự mình lên tuyến đầu, đốc thúc quân lính liều chết mà xông lên. Quân Minh cũng chia làm ba mặt, cố sức đánh thốc ra biển. Thuyền giặc to lớn, nhân hướng gió thuận chèo nhanh đâm thẳng vào thuyền của quân ta, hễ chiếc trước chìm vỡ thì chiếc sau lại xông tới.

Bấy giờ bên quân Hậu Trần thì dựa vào địa lợi, bên quân Minh dựa nhờ vào thiên thời. Đồng bình chương sự Đặng Dung là vị tướng dũng mãnh nhất trong quân Hậu Trần, không quản gian lao cùng các binh sĩ chiến đấu với giặc ngay ở tuyến đầu, xông pha giữa trận, ai chống là chết. Thấy chủ tướng gan dạ như thế, nhuệ khí của quân Hậu Trần càng dâng cao, khiến cho quân Minh khốn đốn, trận thế bắt đầu rối loạn. Trương Phụ cũng chẳng phải dạng vừa, quyết không để Đặng Dung mặc sức tung hoành. Chủ tướng quân Minh thấy thế quân mình chùn xuống, cũng dẫn các cận vệ, thuộc tướng bên cạnh xông lên trước, mặt giáp mặt với cánh quân của Đặng Dung, hai bên đều liều chết đánh nhau bất phân thắng bại.

Trong khi cánh quân của Đặng Dung chiến đấu vô cùng dũng cảm thì bước ngoặc quyết định của trận chiến lại đến từ hướng khác. Các tướng Nguyễn Cảnh Dị, Nguyễn Súy, Hồ Bối cầm cự với quân Minh hồi lâu, bị giặc công kích dữ dội. Trương Phụ sai một cánh quân đổ bộ đi xuyên qua rừng nứa, nửa đêm đánh vào khối quân của Nguyễn Súy. Vì thiếu phòng bị, Nguyễn Súy không chống nổi, đơn phương hạ lệnh cho quân mình xuống thuyền rút lui khỏi trận. Đây là một quyết định làm thay đổi toàn bộ cục diện trận chiến. Nguyễn Cảnh Dị thấy cánh quân Nguyễn Súy rút, cũng cho quân rút theo. Vòng vây mà quân Hậu Trần đã dày công toan tính bỗng chốc bị thủng hai mảnh lớn. Thuyền quân Minh từ trong sông thừa thế tràn ra khắp mặt biển, hình thành thế bao vây ngược lại.

Bấy giờ đội thuyền dưới trướng phò mã Hồ Bối còn đang chiến đấu ở gần trong nội thủy, phút chốc bị thuyền quân Minh dày đặc vây quanh, che cả lối thoát ra biển. Thấy thế không thể thủ thắng nổi nữa, Hồ Bối nhanh trí lệnh cho quân mình bỏ thuyền lên bờ, rút lui theo đường rừng. Quân Minh không đuổi theo các hướng quân Hậu Trần rút lui mà dồn hết lực lượng nhắm vào khối quân của Đặng Dung mà đánh diệt. Đặng Dung cùng các chiến sĩ dưới trướng bị đồng đội bỏ rơi lại, đơn độc chiến đấu giữa muôn trùng vây quân Minh.

Giữa tình cảnh thập tử nhất sinh, Đặng Dung cùng thuộc hạ chỉ còn cách liều chết mở một con đường máu phá đột phá vòng vây, thoát ra biển để rút về phương nam theo đồng đội. May thay, vòng vây của quân Minh vẫn chưa thể khép kín ngay được mà vẫn còn những khoảng trống phía ngoài mặt biển. Đặng Dung cùng quân sĩ tả xung hữu đột, rốt cuộc cũng thoát được ra biển mà rút về nam. Trương Phụ đắc thắng thúc quân giương buồm đuổi theo truy kích sát rạt, dùng câu liêm móc các thuyền quân ta lại để đánh giết. Đặng Dung phải dùng thuyền nhẹ chèo nhanh để thoát. Quân sĩ dưới trướng Dung vốn đã mệt mỏi vì trận chiến, vừa xả thân đánh chặn cho chủ tướng vừa rút theo sau. Nhiều người ngã xuống dọc đường rút khỏi trận địa, tình cảnh vừa bi vừa hùng. Sau hồi truy đuổi, Trương Phụ hạ lệnh thu quân để tổ chức lại lực lượng trước khi tiếp tục cuộc tiến công vào Thanh Hóa, Nghệ An.

2. Kết quả và nhận định:

Trận này diễn ra từ sáng sớm ngày 6.9 đến tận trưa ngày 7.9.1412, đánh liên tục không ngừng nghỉ. Quân Hậu Trần bị thiệt hại hàng ngàn quân, nhiều thuyền bị đắm và bị giặc cướp. Minh Thực Lục chép rằng có hơn 1.000 quân và 75 tướng Hậu Trần bị bắt trong trận. Trong số đó có những tướng lĩnh cao cấp là Dực vệ Đại tướng quân Trần Lỗi, Long hổ Tướng quân Đặng Nhữ Hý, tướng Lê Mục, tướng Nguyễn Lâm… Về thiệt hại của quân Minh không có sách sử nào thống kê cụ thể, nhưng qua diễn biến gay cấn có lẽ cũng không dưới con số hàng ngàn. Một điều may mắn cho nhà Hậu Trần là phần nhiều quân ta vẫn thoát khỏi trận địa sau cuộc ác chiến, khiến cho kế hoạch đánh nhanh diệt gọn chủ lực nhà Hậu Trần của Trương Phụ không thực hiện được.

Trận Mô Độ có thể nói là một trận đánh mà quân Hậu Trần thể hiện cả những mặt ưu việt nhất cũng như những điểm yếu cố hữu của mình. Có thể thấy rằng, quân ta có tinh thần và kỷ luật rất cao, kỹ năng chiến đấu rất tốt. Đến cả sử nước Minh cũng phải công nhận “khí thế giặc rất tinh nhuệ”. Dù vậy, điểm yếu của quân Hậu Trần là họ không có một nền tảng cơ bản trong hiệp đồng tác chiến, thiếu các phương án dự phòng nên khi phối hợp với nhau trên chiến trường thì các tướng hành động không thống nhất. Trong khi người này đang quyết tử chiến, thì người kia lại muốn rút lui bảo toàn lực lượng. Khi lâm trận, các cánh quân cách nhau ngoài khoảng nghe thấy tiếng chiêng trống là hầu như mạnh tướng nào nấy đánh. Sâu xa hơn, quân đội Hậu Trần bấy giờ thiếu một vị tổng chỉ huy có uy tín vượt trội để điều hành toàn bộ các tướng quân khác. Trong sách sử thường ghi chép về quân của Trùng Quang khi đánh lớn thường được chỉ huy bởi ba bốn tướng soái. Nghe qua có vẻ đông đúc, nhưng kỳ thực là thiếu chỉ huy chung nhất. Các tướng chỉ huy như một hội đồng, có lợi khi thảo luận kế hoạch nhưng thiếu đi sự linh hoạt trong tác chiến. Điều này khác với thời mà Đặng Tất còn tại thế. Lúc đó, ông là người có uy tín để chỉ huy toàn bộ quân tướng, giống như Trần Hưng Đạo, Lý Thường Kiệt thưở trước. Quân Hậu Trần lúc đó muôn người như một, hành động nhất quán như tay chân trong cơ thể. Đó là điều mà quân Hậu Trần dưới thời vua Trùng Quang không có được.

Quân Minh sau khi thắng trận, tràn vào Thanh Hóa như thác lũ. Trương Phụ đi đến đâu là đánh giết tàn bạo. Quân Hậu Trần thì rút về Diễn Châu, Nghệ An sốc lại lực lượng, quyết tâm chiến đấu đến cùng với giặc dữ.

Quốc Huy/Một Thế Giới