Sai lầm khủng khiếp của CIA trong sự kiện Vịnh Con Lợn năm 1961

Sai lầm khủng khiếp của CIA trong sự kiện Vịnh Con Lợn năm 1961

Kịch bản lật đổ chính phủ Cuba của Mỹ là: dựng lên một lực lượng đối lập, tự xưng là Hội đồng Cách mạng Cuba (CRC). José Miró Cardona, cựu Thủ tướng Cuba thời độc tài Batisra được cử làm chủ tịch. Sau đó sẽ hỗ trợ phe đối lập này đổ bộ vào Cuba, kích động nổ loạn lật đổ chính quyền Fidel Castro. Cardona trên thực tế là tổng thống được chuẩn bị sẵn cho chính quyền Cuba hậu xâm lược. Lực lượng này, tự xưng là Lữ đoàn 2506, được Mỹ huấn luyện và trang bị cẩn thận tại các trung tâm quân sự ở Guatemala. Ngày 9 tháng 4 năm 1961, nhân sự, tàu bè, và máy bay của Lữ đoàn 2506 bắt đầu được chuyển từ Guatemala sang Puerto Cabezas, Nicaragua để chờ đổ bộ.

Vào khoảng 6 giờ sáng giờ Cuba ngày 15 tháng 4 năm 1961, tám máy bay ném bom Douglas B-26B Invader chia làm ba nhóm, đồng thời tấn công ba sân bay của Cuba, tại San Antonio de Los Baños và tại Ciudad Libertad (trước đó có tên là Campo Columbia), đều gần La Habana, cộng với Sân bay Quốc tế Antonio Maceo ở Santiago de Cuba. Những chiếc B-26 đã được CIA chuẩn bị trên danh nghĩa Lữ đoàn 2506, và được xóa đi mọi dấu hiệu của Mỹ, sơn lại dấu hiệu của FAR, tức lực lượng không quân cách mạng Cuba. Mỗi chiếc đều được trang bị bom, hỏa tiễn và súng máy. Chúng đã bay từ Puerto Cabezas ở Nicaragua, và được các phi công và hoa tiêu Cuba lưu vong tự gọi mình là “lực lượng không quân Giải phóng” (FAL). Mục đích của điệp vụ này (bí danh Chiến dịch Puma) là để phá hủy phần lớn hoặc tất cả máy bay vũ trang của không quân Cuba nhằm chuẩn bị cho cuộc đổ bộ chính.

Khoảng 90 phút sau, một chiếc B-26 cất cánh nhằm nghi binh bay gần Cuba nhưng hướng đến Florida ở phía bắc. Cũng như các nhóm ném bom, nó mang dấu hiệu giả của Quân cách mạng Cuba và cùng con số 933 như hai chiếc khác. Trước khi cất cánh, miếng bọc động cơ của một trong hai động cơ của máy bay được các nhân viên CIA tháo ra, xả đạn vào đó, rồi lắp lại để ngụy tạo rằng chiếc máy bay đã bị bắn đâu đó trên đường bay. Sau khi đã đạt được khoảng cách an toàn về phía Bắc Cuba, phi công làm hỏng động cơ có dấu đạn bắn sẵn, rồi báo cuộc gọi cấp cứu, yêu cầu được phép hạ cánh khẩn cấp xuống sân bay Quốc tế Miami. Phi công là Mario Zúñiga, trước thuộc không quân Cuba nhưng đã lưu vong, và sau khi hạ cánh ông ta khai mình là “Juan Garcia”, tuyên bố mình cùng ba đồng đội khác đã đào ngũ khỏi Quân đội Cuba.

Vào 10h30 sáng ngày 15/4 tại Liên Hiệp Quốc, Bộ trưởng Ngoại giao Cuba Raúl Roa đã buộc tội Mỹ đã tấn công không quân vào Cuba, và chiều hôm đó chính thức đệ trình bản kiến nghị lên Ủy ban Chính trị của Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc. Còn Fidel Castro thì trực tiếp bác bỏ chuyện các phi công Cuba bất mãn thực hiện vụ ném bom, ông thách thức Mỹ đưa những người này ra thẩm vấn tại Liên Hiệp Quốc.

Phản ứng lại, đại sứ Mỹ tại Liên Hiệp Quốc Adlai Stevenson hùng hồn tuyên bố: “Những cáo buộc này là hoàn toàn sai trái và tôi dứt khoát phủ nhận chúng”. Ngoại trưởng Mỹ Dean Rusk còn tỏ thái độ khinh thường cáo buộc của Cuba. Thông cáo báo chí từ Bộ Ngoại giao Mỹ phủi sạch mọi liên can với vụ ném bom. Người ta giữ các phi công “tị nạn” không cho gặp mặt giới truyền thông, vì sợ họ có thể lỡ miệng làm lộ ra điều gì đó. Và cuối cùng, để tăng tính chân thực, đại sứ Mỹ Adlai Stevenson (với vẻ mặt đầy tự tin) công bố bằng chứng bằng cách đưa ra trước Liên Hiệp Quốc bức ảnh Thông tấn xã Mỹ (UPI ) chụp chiếc B-26 có phù hiệu Cuba tại sân bay Miami.

Tuy nhiên, đây là một sai lầm khủng khiếp của CIA. Chính phủ Fidel Castro ngay lập tức nhận ra nó và mời phóng viên quốc tế đến nhà chứa máy bay của mình để chỉ cho họ. Cùng lúc ấy, tại sân bay Miami, tuy không thể phỏng vấn phi công Cuba nhưng giới truyền thông đã săm soi từng chi tiết chiếc B-26 “tị nạn” và phát hiện ra những lỗi ngớ ngẩn khiến màn bào chữa của các quan chức Mỹ trở thành một trò hề. Vài tiếng sau, những chứng cứ này đã lan khắp thế giới. Bị giới truyền thông vây kín, đại sứ Adlai Stevenson cùng ngoại trưởng Dean Rusk đành phải tuyên bố mình bị chính phủ lừa.

Vậy vấn đề ở đâu? CIA đã lấy những chiếc B-26 từ kho của không quân ra, sơn giả máy bay Cuba nhưng QUÊN mất kiểm tra lại phiên bản. Máy bay B-26 mà Mỹ viện trợ cho nhà độc tài Batista trước kia, sau bị chính quyền Fidel Castro tịch thu là loại B-26 hệ cũ, mũi máy bay làm bằng plexiglass (còn gọi thủy tinh hữu cơ hay mica cao cấp) với 1 súng máy cỡ nòng 12 ly 7.

Trong khi đó, chiếc B-26 giả mà Mỹ đem ra trưng bày ở sân bay Miami thuộc thế hệ sau (còn gọi là Douglas A-26 Invader), đã cải tiến và nâng cấp, có phần mũi liền với thân máy bay và trang bị tới 8 khẩu 12 ly 7.

Sự khác biệt này nhận ra rất rõ bằng mắt thường. Hơn nữa, khi lôi máy bay từ kho ra, các nhân viên CIA đã QUÊN mất việc tháo các nút bịt nòng súng máy (để bảo quản), QUÊN luôn việc mở ngăn chứa bom đã bị bụi và dầu mỡ phủ kín. Những lỗi đó bị phóng viên soi được, chụp hình lại và thế là toàn bộ thế giới đều biết màn kịch này được dàn dựng tồi đến thế nào.

Sự thất bại thảm hại của cuộc đổ bộ ở Vịnh Con Lợn sau đó đã khiến giám đốc và 2 phó giám đốc CIA phải từ chức, chính phủ Mỹ cũng phải trả 53 triệu USD để chuộc 1113 tù binh người Cuba lưu vong về.

Vua Lê Thánh Tông vi hành và chống tham nhũng như thế nào?

Vua Lê Thánh Tông vi hành và chống tham nhũng như thế nào?

Có những bậc minh quân thường cải trang vi hành trong dân để tìm hiểu thế sự. Nhờ đó mà họ biết được nhiều sự thật về cuộc sống của dân, về đạo đức, tài năng quan lại dưới quyền. Điều quan trọng nhất là nhân các cuộc vi hành, họ thấy được những những điều chưa thích ứng với đời sống xã hội trong đường lối trị nước, trị dân để có những sửa đổi, bổ sung, cách tân cần thiết nhằm làm cho chính sách cai trị của họ ngày được hoàn thiện hơn.

Học tập cách vi hành của các bậc vĩ nhân xưa, âu cũng là cách làm cần thiết để phục vụ sự nghiệp xây dựng nhả nước thật sự là nhà nước của dân, do dân và vì dân từ gốc đến ngọn.

Từ câu chuyện của vua Lê Thánh Tông…

Thuở ấy tại kinh thành Thăng Long có tên trộm rất nổi tiếng. Hắn có tài xuất qủy nhập thần. Hắn định trộm của ai thì nhà đó dù đã phòng bị, vẫn không thoát. Là tên trộm lành nghề nhưng hắn được đông đảo nhân dân yêu mến. Bởi hắn chuyên môn trộm của nhà giàu đem cho người nghèo. Nhân dân còn phong tuớc hiệu cho hắn là Quận Gió! Hắn đi về, tới lui nhanh như gió. Thoắt ẩn, thoắt hiện. Ở những nơi không ai ngờ, hắn ngang nhiên xuất hiện. Ở những chốn canh phòng cẩn mật, không ai có thể lọt qua, hắn vẫn luồn qua được.

Tiếng đồn về Quận Gió lọt đến tai vua Lê Thánh Tông (1460-1497). Nhà vua quyết định cải trang vi hành để tìm hiểu sự thật.

Đã cận giờ giao thừa. Có một người đàn ông trạc 20 tuổi, tìm đến nơi Quận Gió đang trú ngụ. Người đàn ông tự xưng là môn sinh trường Giám (1). Năm hết, tết đến, muốn về quê Thanh Hóa (2) cúng giỗ ông bà. Nhưng nhà nghèo không có tiền nên đến phiền Quận Gió giúp cho một ít làm lộ phí. Nghe xưng danh là Giám sinh, Quận Gió hồ hởi nói: – Giúp ai tôi cũng sẵn lòng. Giúp học trò nghèo thì tôi càng không tiếc sức. Nhưng tôi không có sẳn tiền. Tôi là một đạo chích (3). Vậy anh muốn tôi lấy của ai?

– Trộm của phú ông ở cửa Tây – người đàn ông nói.

– Không được! Phú ông ở cửa Tây giàu có là nhờ cày sâu, cuốc bẫm, lao động vất vả quanh năm suốt tháng trên các cánh đồng các làng Nghi Tàm, Võng Thị. Không nên lấy của ông ấy, Quận Gió đáp.

– Trộm của chủ cửa hiệu vàng bạc ở phố cửa Đông được không? – Người đàn ông ướm lời.

– Không được! Ông chủ cửa hiệu chế tác và bán đồ dùng vàng bạc phố cửa Đông là người ngay thẳng. Ông ta tích cóp được chút của ăn, của để là nhờ lăn lộn, khó nhọc trên thương trường. Không nên lấy của ông ấy. Thôi để tôi đến nhà lão quan coi kho bạc nhà vua ở phố cửa Bắc chôm cho ông vài nén bạc. Lão ấy có lắm vàng ròng, bạc nén trong nhà. Đó là những thứ không phải của hắn.

Vừa dứt lời, Quận Gió băng mình vào bầu trời đen mịt mùng như mực của đêm cuối năm. Chưa giập bã trầu (4) đã thấy Quận Gió trở về với hai nén bạc trong tay. Quận Gió nói: “Với hai nén bạc này, anh có đủ tiền làm lộ phí và còn để dùng vào việc sôi kinh, nấu sử. Mong rằng sau này anh đỗ đại khoa làm rạng danh công ơn sinh thành, dòng họ, tổ tiên”. Cầm hai nén bạc lên soi dưới ánh đèn dầu thấy đề bốn chữ: “Quốc khố chi bảo”. Không nghi ngờ gì nữa, đây là bạc trong kho của nhà nước.

Sáng mồng một Tết, nhà vua thiết đại triều. Khi tất cả các quan tề tựu đông đủ, vua đem câu chuyện vi hành đêm 30 Tết kể lại cho mọi người nghe. Hai nén bạc được chuyền tay cho tất cả các quan xem tận mắt. Viên quan coi kho cứng họng trước những chứng cứ không thể chối cãi. Hắn bị lột bỏ hết mọi tước vị. Gia sản bị tịch thu. Hắn bị lưu đày đi châu xa.

Vua Lê Thánh Tông chống tham nhũng như thế nào?

Câu chuyện vi hành đêm 30 Tết của nhà vua Lê Thánh Tông nhanh chóng truyền đi khắp vương quốc. Dân chúng khấp khởi mừng thầm. Vận nước rối bời dưới thời vua cha Lê Thái Tông và vua anh Lê Nhân Tông. Nay vua sáng đã xuất hiện. Bọn quan lại sâu mọt thì cả sợ.

Riêng đối với vua Lê Thánh Tông, chuyến vi hành gặp Quận Gió càng làm cho ông thêm lo lắng nhiều điều. Ông tại ngôi mới được hai năm. Trước mắt ông là trăm công nghìn việc quốc gia đại sự phức tạp, khó khăn nhiều bề. Tất cả đều đòi hỏi phải có cách xử lý nhanh chóng và có hiệu quả. Riêng đối với tệ tham nhũng là điều làm ông có nhiều trăn trở nhất. Dưới triều vua cha, vua anh, thế nước nghiêng lệch.

Theo ông, nguyên nhân chính là do nạn tham nhũng. Vào tháng 3 năm1463, nghĩa là chỉ 3 năm sau khi lên ngôi, trong một buổi chầu ông nói với các quan rằng: “Người quân tử là cội gốc để tiến lên trị bình, kẻ tiểu nhân là thềm bậc dẫn đến họa loạn. Ta và các ngươi đã thề với trời đất dùng người quân tử, bỏ kẻ tiểu nhân, ngày đêm chăm chăm không lơi. Các ngươi chớ có quên đấy !”. (5)

Đấu tranh phòng chống tham nhũng – căn bệnh kinh niên của quan lại, là cuộc đấu tranh rất khó nhọc. Đó là những kẻ tội đồ trăm đầu, nghìn tay. Chém đầu này, đầu khác lại mọc ra. Chặt tay này thì tay khác lại lòi ra. Trong các buổi thiết triều, ông thường răn dạy các quan lại phải luôn giữ liêm chính.

Có lần vua nói với Thượng thư bộ Hộ Nguyễn Cư Đạo rằng: “Ta khi còn ít tuổi làm bạn với nhà ngươi. Khi ta lên ngôi báu, ngươi làm quan kinh diên. Về mặt thần hạ, ngươi với ta là bạn tri kỷ, là bạn học thức. Về mặt vua tôi, ngươi với ta là duyên cá nước, là hội gió mây. Ngươi hãy hết lòng, gắng sức, gắng gỏi lo báo đền nợ nước, chí công vô tư để cho dứt hẳn tệ hối lộ”. (6).

Qua trải nghiệm, vua Lê Thánh Tông cho rằng chỉ giáo dục đạo đức thôi là không đủ. Từ sau buổi vi hành gặp Quận Gió, nhà vua ngày đêm suy nghĩ tìm cách diệt trừ quốc nạn tham nhũng. Trải qua một số năm tiếp theo, ở ông đã hình thành các chủ trương, chính sách, biện pháp phòng chống tham nhũng mang tính hệ thống. Các chủ trương, chính sách, biện pháp phòng chống tham nhũng của nhà vua đã được ghi lại trong Đại Việt Sử Ký toàn thư và cô động nhất, bao quát nhất là ở trong Bộ Luật Hồng Đức (BLHĐ).

Trong BLHĐ có những điều khá cụ thể về phòng ngừa tham nhũng như: “ Những vị đại thần và bách quan trong kinh thành, nhà cửa vườn tược chỉ được ba mẫu trở lại… Nếu người nào lạm chiếm quá phần đất đã định thì bị tội xuy, đánh 50 roi, biếm một tư; người có vườn ao rồi mà lại chiếm đất nơi khác, thì tội thêm một bậc. Nếu người nào có công được vua cấp thêm đất thì không kể”(điều 226) hoặc: “Cấm quan, lại lấy vợ người địa phương nơi mình trị nhậm; Cấm quan, lại mua ruộng vườn đất nhà nơi mình trị nhậm; Cấm quan, lại kết làm thông gia với người địa phương nơi mình trị nhậm; Cấm đưa quan, lại về trị nhậm tại quê hương bản quán” (điều 316).

Trong BLHĐ có khá nhiều điều quy định trừng trị nghiêm khắc quan, lại tham nhũng như: “Quan Ty làm trái pháp luật mà ăn hối lộ từ 1 quan đến 9 quan (7) thì xử tội biếm hay bãi chức, từ 10 đến 19 quan thì xử tội đồ hay lưu, từ 20 quan trở lên thì xử tội chém… (điều 138). Những tội như: “Quan, lại ỷ thế chiếm đoạt đất đai của lương dân” (điều 370); “Quan, lại lạm dụng chức quyền để chiếm đoạt ruộng đất công, nuôi nô tỳ quá hạn định” (điều 372); “Quan, lại vay mượn của dân hay cho dân vay để lấy lãi cao” (điều 638); “Quan phiên trấn sách nhiẽu dân” (điều 163); “Tôi tớ nhà Công Hầu ỷ thế chiếm ruộng đất, cưỡng bức con gái”(điều 336); “Quan, lại tự tiện xuống làng xã sách nhiễu nhân dân” (điều 632) … đều bị nghiêm trị. Như tại điều 639 có quy định: “Các quan Ty tự tiện lấy của cải, đồ vật của nhân dân dùng vào việc riêng thì xử như tội ăn hối lộ và bồi thường gấp đôi trả cho nhân dân”…

Chú thích: (1) Trường Giám: Cách gọi tắt trường Quốc Tử Giám, trường Đại học đầu tiên của nước Việt Nam. (2) Thanh Hóa là nơi phát tích của trièu đại hậu Lê. (3) Đạo chích là từ Hán, có nghĩa là ăn trộm. Quận Gió tự xưng là đạo chích để tránh nói thẳng mình là tên ăn trộm, còn gọi là kẻ ăn sương, theo cách nói dân dã. (4) Chưa giập bã trầu – cách nói mang tính hình tượng của người Việt xưa, có tục lệ hay ăn trầu cau, để diễn tả thời gian trôi qua rất nhanh. (5) Trích dẫn: “Đại Việt sử ký toàn thư” Quyển XII, Kỷ nhà Lê, NXBKHXH,H. 1993, tr.399. (6) Trích dẫn: “Đại Việt sử ký toàn thư”, Quyển XII, Kỷ nhà Lê, NXBKHXH,H. 1993, tr. 435. (7) Theo giá trị đương thời, 3 quan mua được một trâu cày.

Theo Luật sư Lê Đức Tiết

Bi kịch của triều đại có 9 vua bị giết trong sử Việt

Bi kịch của triều đại có 9 vua bị giết trong sử Việt

Nhà Hậu Lê (1428 – 1789) chia làm hai thời kỳ là Lê sơ (1428-1527) và Lê trung hưng (1533-1789). Với 27 triều vua và gần 4 thế kỷ tồn tại, đây là triều đại kéo dài nhất trong lịch sử Việt Nam. Do tồn tại trong một giai đoạn lịch sử đầy biến động mà đây cũng là triều đại nắm giữ “kỷ lục” về số vua bị giết hại…

Cái chết cay đắng của Lê Bang Cơ

Lê Nhân Tông, vị vua thứ ba của nhà Lê sơ tên thật là Lê Bang Cơ. Dù chỉ là con trai thứ ba, nhưng ông được vua cha Thái Tông phong làm Hoàng Thái tử vào năm 1441, khi mới vài tháng tuổi.

Thái hậu Nguyễn Thị Anh làm Nhiếp chính cho ông từ khi mới lên ngôi báu cho đến khi ông tự thân chấp chính vào năm 1452. Lên ngôi lúc còn nhỏ, Lê Nhân Tông tỏ ra là vị Hoàng đế anh minh, biết thương dân, sùng kính Nho giáo, xem trọng nghề nông và kính cẩn tông miếu. Ông không có thói đam mê tửu sắc, và biết tôn trọng những người có công đối với Vương triều.

Dưới triều Nhân Tông, nước Đại Việt thái bình thịnh trị, đời sống nhân dân ổn định, bờ cõi được bảo vệ và mở rộng.

Dù sáng suốt và nhân từ, nhưng vua Nhân Tông vẫn bị anh cả là Lê Nghi Dân oán hận và muốn đoạt ngôi vì ông chỉ là con thứ. Trong khi đó, Nhân Tông không đề phòng gì vì luôn coi Nghi Dân là anh ruột.

Một đêm cuối năm 1459, Nghi Dân cùng các thủ hạ đã bắc thang vào cung cấm giết vua Nhân Tông. Khi đó ông mới 18 tuổi. Cái chết của ông khiến cho quan lại “nuốt hận ngậm đau”, và thần dân “như mất cha mất mẹ”.

Quả báo dành cho Lê Nghi Dân

Lê Nghi Dân vốn được lập làm thái tử khi mới 3 tháng tuổi (năm 1440). Ông bị mất ngôi thái tử vào tay người em Bang Cơ của mình chỉ vì mẹ bị vua thất sủng. Sau khi giết Bang Cơ năm 1459, Lê Nghi Dân lên ngôi, đặt niên hiệu là Thiên Hưng.

Do bất mãn, tháng 5/1460, các tể tướng đại thần là Đỗ Bí, Lê Ngang, Lê Thụ, Lê Ê đã bí mật bàn việc lật đổ vua Thiên Hưng. Vụ việc đó bị lộ, tất cả những người mưu phản đều bị bắt giết.

Do vua thay đổi nhiều pháp chế của đời trước, dùng những người thân tín của mình vào triều nên các cựu thần ngày càng không bằng lòng. Tháng 6/1460, các đại thần Nguyễn Xí, Đinh Liệt, Lê Lăng, Lê Niệm… lại bàn nhau làm binh biến.

Sau một buổi chầu, Nguyễn Xí đã dẫn quân vào giữ chặt quân cấm binh, đóng các cửa thành và giết các bề tôi tin cẩn của vua Thiên Hưng. Hơn 100 người thuộc phe cánh của vua đã mất mạng.

Bản thân Lê Thiên Hưng bị bắt, phế truất làm Lệ Đức hầu và bị thắt cổ chết khi mới 22 tuổi, ở ngôi được một năm.

“Vua quỷ” Lê Uy Mục đền mạng

Năm 1505, Lê Uy Mục lên ngôi sau khi vua Lê Túc Tông mất sớm ở tuổi 17. Trong thời gian trị vì, vị vua này đã bị gọi là “vua quỷ” vì ăn chơi vô độ, ham rượu chè, gái đẹp, tàn bạo giết hại nhiều người vô tội. Quyền hành trong triều rơi vào tay họ ngoại của vua.

Điều này làm dấy lên sự phẫn nộ trong quan lại, dân chúng cũng như dòng dõi họ Lê. Giản Tu Công Lê Oanh (vua Lê Tương Dực sau này) đã được lập làm minh chủ nổi dậy chống lại Uy Mục.

Tháng 11/1509, Lê Oanh sai Cẩm Giang Vương Lê Sùng ở Tây Đô đưa quân về Đông Kinh (Hà Nội). Uy Mục có ưu thế hơn, đã bắt giết Lê Sùng và mẹ của Lê Oanh. Sau đó, Lê Oanh vào chiếm kinh thành bắt được và bức tử Lê Uy Mục.

Hận Uy Mục giết hại gia đình mình, Lê Oanh còn sai người dùng súng lớn, nhét xác Uy Mục vào miệng súng, cho nổ tan hết hài cốt, chỉ lấy ít tro tàn về chôn tại quê mẹ tại làng Phù Chẩn. “Quỷ vương” Lê Uy Mục ở ngôi được 4 năm, thọ 21 tuổi.

Sau “vua quỷ”, đến lượt “vua lợn” Lê Tương Dực

Lê Oanh sinh năm 1495, là cháu nội của vua Lê Thánh Tông. Dưới thời Lê Hiến Tông, ông được phong làm Giản Tu công. Sau khi giết Lê Uy Mục, Lê Oanh tự lập mình làm vua, lấy niên hiệu là Hồng Thuận, tức là vua Tương Dực Đế.

Đi theo vết xe đổ của Lê Uy Mục, Lê Tương Dực chơi bời xa xỉ truỵ lạc, bỏ bê việc nước. Dân chúng oán ghét và khinh bỉ Tương Dực, nên gọi ông là vua lợn. Triều chính trở nên hết sức rối ren, bên ngoài khắp nơi loạn lạc.

Dù tình hình căng thẳng nhưng Lê Tương Dực không đoái hoài. Nguyên Quận công Trịnh Duy Sản là người có công trạng, nhiều lần can ngăn không được mà còn bị vua cho người đánh bằng trượng. Sản bất mãn, mưu với thái sư Lê Quảng Độ và Trình Trí Sâm lập vua khác.

Mượn tiếng đi đánh giặc, mờ sáng một ngày tháng 5/1516 Trịnh Duy Sản đem binh vào cửa Bắc Thần giết “vua lợn”. Lê Tương Dực ở ngôi được 7 năm, hưởng thọ 21 tuổi.

Cuộc đời bão tố và cái chết của Lê Chiêu Tông

Lê Chiêu Tông (1506 – 1526), có tên húy là Lê Y, chắt của vua Lê Thánh Tông, là vị vua thứ 10 của nhà Lê sơ. Lúc mới 11 tuổi, ông được đại thần Trịnh Duy Sản và Lê Quảng Độ lập làm vua khi dấy quân lật đổ Lê Tương Dực.

Trong thời gian trị vì của Lê Chiêu Tông, triều đình bị thao túng bởi Trần Chân, con nuôi của Trịnh Duy Sản. Vua nghe lời gièm pha, sợ uy quyền của Trần Chân nên sai người dụ Chân vào triều rồi giết Chân cùng các thủ hạ thân tín.

Nhóm thủ hạ còn lại của Trần Chân phục thù, mang quân từ Sơn Tây đánh kinh thành, khiến vua phải tháo chạy. Với sự lãnh đạo của Mạc Đăng Dung, quân triều đình đánh bại những kẻ nổi loạn. Dung lần lượt được phong làm Minh quận công, rồi thái phó, quyền thế dần dần át cả vua.

Chiêu Tông không muốn bị Đăng Dung khống chế, bí mật bàn cùng các nội thần hạ bệ Đăng Dung. Nhưng kế hoạch bị đổ vỡ, Chiêu Tông phải trốn chạy. Sau đó Đăng Dung tuyên bố phế truất ông và lập em ông là Lê Xuân lên ngôi (Lê Cung Hoàng). Như vậy, trong nước lúc này có 2 vua là Chiêu Tông và Cung Hoàng.

Các tướng thân cận của Chiêu Tông đem quân giúp vua, khôi phục lại được thanh thế và đẩy lùi quân của mạc Đăng Dung. Nhưng do nội bộ bất hoà, nhiều tướng lại bỏ theo phe của kẻ tiếm quyền. Từ đó quân của Mặc Đăng Dung làm chủ tình hình.

Ngày 28/10/1525, Mạc Đăng Dung bắt được Chiêu Tông mang về Thăng Long giam lỏng. Đến tháng 12/1526, ông bị Đăng Dung sai người giết chết, thọ 24 tuổi, ở ngôi được 6 năm.

Lê Cung Hoàng chết trong tủi nhục

Vua Lê Cung Hoàng (1507 – 1427) có tên húy là Lê Xuân là vị vua cuối cùng của Thời Lê sơ. Ông là em ruột Lê Chiêu Tông, chắt của Lê Thánh Tông, được Mạc Đăng Dung lập lên để giữ danh chính khi Chiêu Tông trốn thoát vào năm 1522.

Sau khi Chiêu Tông bị giết, vai trò lá chắn của Cung Hoàng không còn. Đã đến lúc để Đăng Dung cướp ngôi nhà Lê.

Ngày 15/6/1527, Mạc Đăng Dung đem quân vào kinh, bắt vua nhường ngôi. Triều thần lúc đó hầu hết đã là người của Đăng Dung hoặc theo Đăng Dung, tự khởi thảo chiếu nhường ngôi cho vua.

Mạc Đăng Dung xưng hoàng đế, tức là Mạc Thái Tổ, lập ra nhà Mạc, lấy niên hiệu là Minh Đức.

Lê Cung Hoàng bị giáng xuống làm Cung Vương rồi giam cùng với Hoàng thái hậu ở cung Tây Nội. Vài tháng sau, Đăng Dung ép mẹ con Cung Hoàng phải tự tử. Lê Cung Hoàng ở ngôi được 5 năm, thọ 21 tuổi.

Cuộc trỗi dậy không thành của Lê Anh Tông

Lê Anh Tông (1532 – 1573), tên thật là Lê Duy Bang, là vị vua thứ ba của thời Lê trung hưng.

Trong thời kỳ này, quyền hành của các chúa Trịnh tăng lên rất nhiều. Năm 1570, Trịnh Kiểm chết, hai con là Trịnh Cối và Trịnh Tùng tranh giành quyền bính. Trịnh Cối thất bại phải sang hàng nhà Mạc.

Năm 1572, thấy quyền hành Trịnh Tùng lớn quá, Lê Cập Đệ bàn mưu với Lê Anh Tông mưu trừ khử Tùng để lấy lại quyền bính cho nhà Lê. Kế hoạch bị lộ, Cập Đệ bị đao phủ của Trịnh Tùng giết chết. Lê Anh Tông bỏ hành cung chạy trốn cùng 4 người con trai lớn ra Nghệ An.

Năm 1573, Trịnh Tùng đưa con trai thứ năm còn nhỏ tuổi của ông là Lê Duy Đàm lên ngôi vua và sai quân về Nghệ An bắt Anh Tông. Vua bị đưa về triều giám sát ngày đêm và bức chết. Khi đó ông 42 tuổi, ở ngôi được 17 năm.

Bi kịch của Lê Anh Tông lặp lại với cháu nội Lê Kính Tông

Lê Kính Tông (1588 – 1619), có tên húy là Lê Duy Tân, là vị vua thứ 5 của thời Lê trung hưng. Ông lên ngôi khi mới 11 tuổi.

Vào lúc này, chính quyền nhà Lê đã trở thành bù nhìn, mọi quyền hành thực sự nằm trong tay chúa Trịnh. Ông nội của Kính Tông là Lê Anh Tông (Duy Bang) đã bị Trịnh Tùng sát hại vì chống lại Trịnh Tùng.

Từ năm 1600, Trịnh Tùng đã cơ bản dẹp được nhà Mạc ở miền Bắc, mâu thuẫn mới nổi lên giữa họ Trịnh và họ Nguyễn khi Nguyễn Hoàng tự ý bỏ vào vùng Thuận – Quảng. Nhân cơ hội này, tàn dư nhà họ Mạc lại nổi lên.

Trong tình hình đó, vào năm 1619, Lê Kính Tông cùng Trịnh Xuân mưu giết chết Trịnh Tùng để giành lại địa vị. Nhưng kế hoạch thất baik, Trịnh Xuân bị tống vào ngục, còn nhà vua bị bức thắt cổ chết. Lê Kính Tông thọ 31 tuổi, ở ngôi 20 năm.

Lê Duy Phường sống oan khuất, chết cay đắng

Lê Duy Phường (1709 – 1735) là vị vua thứ 12 của thời Lê trung hưng. Là cháu ngoại chúa Trịnh Cương – người nắm thực quyền khi đó – ông đã có nhiều hậu thuẫn để lên ngôi vua năm 1729, khi 21 tuổi, với niên hiệu là Vĩnh Khánh.

Tháng 10/1729, Trịnh Cương mất, con là Trịnh Giang lên nối ngôi. Cũng như các đời trước, việc triều chính do Trịnh Giang định đoạt, vua Vĩnh Khánh không có thực quyền. Trịnh Giang còn muốn thay đổi ngôi vua do Trịnh Cương đã sắp đặt để ra oai với thần hạ.

Năm 1732, vua Vĩnh Khánh bị ép ra ở cung riêng. Tháng 8 năm đó, Trịnh Giang vu cho vua Vĩnh Khánh tư thông với vợ Trịnh Cương, rồi phế bỏ, lập con trưởng của Dụ Tông (anh cả của Duy Phường) là Lê Duy Tường lên ngôi, tức Lê Thuần Tông. Tháng 4/1735, Lê Thuần Tông mất, Trịnh Giang lập em Duy Phường là Lê Duy Thận làm vua, tức là Lê Ý Tông.

Duy Phường bị dời đến ở một ngôi nhà ở bên ngoài. Tháng 9/1735, Trịnh Giang sai người thắt cổ giết chết ông. Lê Duy Phường ở ngôi 3 năm , thọ 27 tuổi.

Theo KIẾN THỨC

Ngẫm lại “10 điều bi ai của của dân tộc” mà cụ Phan Châu Trinh viết cách đây 100 năm

Ngẫm lại “10 điều bi ai của của dân tộc” mà cụ Phan Châu Trinh viết cách đây 100 năm

Phan Chu Trinh (1872-1926) là người Việt Nam đầu tiên (và duy nhất cho đến nay) nhìn thấy trước cảnh “dịch chủ tái nô” (đổi chủ nhưng dân vẫn là nô lệ)… Để tránh điều này, Cụ đã chỉ ra con đường giành độc lập – tự do cho dân tộc là phải bắt đầu từ “khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh”.

Cụ chọn con đường dấn thân tranh đấu nhưng ôn hòa, bất bạo động, xuất phát từ 10 nhận xét chính xác về đặc điểm con người Việt Nam mà đối chiếu thực tế ngày nay vẫn còn nguyên vẹn.

Năm 1906, Phan Chu Trinh đi Nhật Bản trở về, sau đó ông viết Tỉnh quốc hồn ca I. Năm 1907, tác phẩm được phổ biến lần đầu tiên trong các trường kiểu mới ở Quảng Nam và trong trường Đông Kinh nghĩa thục ở Hà Nội, sau đó lan truyền ra nhiều nơi khác.

Bấy giờ, có một số nhà yêu nước cho rằng nhân dân Việt đang ở trong mê mộng: mộng khoa cử, mộng quan trường, mộng xôi thịt,…hoặc nói một cách tượng trưng là hồn nước đã mê, đã lạc…cho nên phải gọi dậy để đi theo con đường tự lập, tự cường… Vì lẽ đó, Tỉnh quốc hồn ca I và các tác phẩm đồng thời của các nhà chí sĩ khác, như Đề tỉnh quốc dân ca, Hải ngoại huyết thư, Á Tế Á ca, Chiêu hồn nước, Hợp quần doanh sinh thuyết, v.v…đã ra đời nhằm mục đích ấy.

Tỉnh quốc hồn ca I gồm 472 câu thơ song thất lục bát, xếp vào 12 đoạn. Trong đoạn đầu, sau khi nêu quá khứ vẻ vang oanh liệt của dân tộc Việt, tiếp đến là chỉ trích lỗi lầm của người trên kẻ dưới đã làm cho nước nhà lụn bại. Từ đó, tác giả đặt vấn đề: phải học tập theo người Âu, người Mỹ (nội dung của 11 đoạn sau). Theo giáo sư Nguyễn Huệ Chi, tác giả đã so sánh nhiều phương diện về dân khí dân trí của các nước văn minh trên thế giới với dân tình của nước Việt đại để như sau:

1. Trong khi người nước ngoài có chí cao, dám chết vì việc nghĩa, vì lợi dân ích nước; thì người nước mình tham sống sợ chết, chịu kiếp sống nhục nhã đoạ đày.
2. Trong khi người ta dẫu sang hay hèn, nam hay nữ ai cũng lo học lấy một nghề; thì người mình chỉ biết ngồi không ăn bám.
3. Trong khi họ có óc phiêu lưu mạo hiểm, dám đi khắp thế giới mở mang trí óc; thì ta suốt đời chỉ loanh quanh xó bếp, hú hí với vợ con.
4. Trong khi họ có tinh thần đùm bọc, thương yêu giúp đỡ lẫn nhau; thì ta lại chỉ quen thói giành giật, lừa đảo nhau vì chữ lợi.
5. Trong khi họ biết bỏ vốn lớn, giữ vững chữ tín trong kinh doanh làm cho tiền bạc lưu thông, đất nước ngày càng giàu có; thì ta quen thói bất nhân bất tín, cho vay cắt cổ, ăn quỵt vỗ nợ, để tiền bạc đất đai trở thành vô dụng.
6. Trong khi họ biết tiết kiệm tang lễ, cư xử hợp nghĩa với người chết; thì ta lo làm ma chay cho lớn, đến nỗi nhiều gia đình bán hết ruộng hết trâu.
7. Trong khi họ ra sức cải tiến phát minh, máy móc ngày càng tinh xảo; thì ta đầu óc thủ cựu, ếch ngồi đáy giếng, không có gan đua chen thực nghiệp.
8. Trong khi họ giỏi tổ chức công việc, sắp xếp giờ nghỉ giờ làm hợp lý, thì ta chỉ biết chơi bời, rượu chè cờ bạc, bỏ bê công việc.
9. Trong khi họ biết gắng gỏi tự lực tự cường, tin ở bản thân; thì ta chỉ mê tín nơi mồ mả, tướng số, việc gì cũng cầu trời khấn Phật.
10.Trong khi họ làm việc quan cốt ích nước lợi dân, đúng là “đầy tớ” của dân, được dân tín nhiệm; thì ta lo xoay xở chức quan để no ấm gia đình, vênh vang hoang phí, vơ vét áp bức dân chúng, v.v…

Có thể thấy 10 nhận xét chính xác về đặc điểm con người Việt Nam mà cụ Phan Chu Trinh nêu ra và đối chiếu thực tế ngày nay vẫn còn nguyên vẹn.

Nguồn gốc của “Xỏ lá”, “ba que”.

Nguồn gốc của “Xỏ lá”, “ba que”.

I. BA QUE

– Dấu vết xa xưa nhất của từ “ba que” xuất hiện trong bài “Phú tổ tôm” của Trần Văn Nghĩa, một người sống dưới thời Minh Mạng (1820-1840). Tác giả kể tên nhiều trò cờ bạc, trong đó có ba que :

” Lạt nước ốc trò chơi vô vị : tam cúc, đố mười, đấu lình, bẩy kiệu, thấy đâu là vẻ thanh tao ;
” Ngang càng cua lối ở bất bình : xa quay, chẵn lẻ, dồi mỏ, ba que, hết thẩy những tuồng thô suất.
(Phong Châu, Nguyễn Văn Phú, “Phú Việt Nam cổ và kim”, Văn Hóa, 1960, tr. 215).

– Thời Tự Đức, Trần Tấn (tức Cố Bang) nổi lên chống Pháp. Ông bị ốm và chết năm 1874. Có người làm bài Vè Cố Bang đánh Tây :

Lính Tây, triều mang súng,
Kèn thổi ” toét tò loe “,
Dưới cơn cờ ba que,
Quan Hồ Oai cưỡi ngựa
(Thơ văn yêu nước nửa sau thế kỉ 19, NXB Văn Học, 1970, tr. 406).

II. XỎ LÁ

– “Đại Nam quốc âm tự vị” của Huỳnh Tịnh Của (1895) đưa ra một trò chơi gian lận gọi là “Xỏ lá” và kết luận “Quân xỏ lá là quân điếm đàng, lận mạt.”

– Từ điển Génibrel (1898) gọi “thằng xỏ lá” là thằng mưu mẹo, lừa dối.

– Năm 1906, Nguyễn Khuyến bị loà mắt, bị Chu Mạnh Trinh chơi xỏ, tặng cho một chậu hoa trà, thứ hoa có sắc nhưng không có hương. Nguyễn Khuyến ” Tạ lại người cho hoa trà ” bằng bài thơ ” Sơn trà ” trong đó có câu :

Tầm thường tế vũ kinh xuyên diệp
Tiêu sắt thần phong oán lạc dà
(Mưa nhỏ những kinh phường xỏ lá
Gió to luống sợ lúc rơi dà)

Hai câu thơ ý nói : Những trận gió to làm cho đài hoa rụng, ai cũng có thể biết được ; còn những hạt mưa nhỏ làm cho lá thủng, ít ai có thể trông thấy được, nên lại nguy hiểm hơn. (Thơ văn Nguyễn Khuyến, Văn Học, 1971, tr. 138 và 408).

– Nhà thơ Tản Đà từng làm bài bài vạch mặt Sở Khanh, Bạc Hạnh, có câu

“Bộ xỏ lá trông đà lộn ruột,
Sức thơ đào nghĩ lại non gan.”

– “Trời đất ôi ! Ngờ đâu con người thế, mà xỏ lá ba que !… (Phạm Duy Tốn, Con người Sở Khanh, Nam Phong, 1919).

III. XỎ LÁ BA QUE

Năm 1914, Phan Kế Bính biên soạn sách “Việt Nam phong tục”. Trong chương bàn về tính tình người Việt, ông chia đàn bà và đàn ông nước ta thành các hạng người: hiền phụ, lệnh phụ, xuẩn phụ và quân tử, thường nhân, tiểu nhân. Tiểu nhân là bọn tính tình gian giảo, phản trắc, (…), ăn trộm ăn cướp, xỏ lá ba que, đàng điếm, hoang toàng v.v. Như vậy,  thành ngữ “Xỏ lá ba que” chính là do Phan Kế Bính khai sinh.

Ngày nay, thành ngữ “Xỏ lá ba que” hay “Ba que xỏ lá” thường được dùng để chỉ chung:

– Bọn vô lại chuyên đi lừa người khác để kiếm lời (Nguyễn Lân)

– Bọn xảo trá, đểu giả (Hoàng Phê),

– Tụi gian lận (tricheurs), bất lương (malhonnêtes), theo Gustave Hue

Nguyễn Lân có giải thích chi tiết : “Ba que xỏ lá là một trò chơi ăn tiền trong đó kẻ chủ trò nắm trong tay một cái lá có xỏ một cái que, đồng thời chìa ra hai que khác. Ai rút được que xỏ lá là được cuộc, còn rút que không lá thì phải trả tiền. Nhưng kẻ chủ trò vẫn mưu mẹo khiến người chơi bao giờ cũng thua. Vì thế người ta gọi nó là thằng ba que xỏ lá, hoặc thằng ba que, hoặc thằng xỏ lá”. (Nguyễn Lân, Từ điển thành ngữ và tục ngữ Việt Nam, Văn Hoá, 1989).

“Việt Nam tự điển” của Hội Khai Trí Tiến Đức (1931) định nghĩa:

– Ba que là một cuộc đánh tiền bằng ba cái que của bọn keo hèn bày ra đánh ở đường ở chợ. Nghĩa bóng chỉ những người dối trá điên đảo.

– Xỏ lá là trò làm ra để lừa người ta mà kiếm tiền. Thường nói tắt là “xỏ” để trỏ người gian giảo, lừa gạt, bợm bãi.

* Ngoài ra còn 1 hướng khác lý giải thành ngữ này theo nguồn gốc từ tiếng Pháp.

Trong quá trình  cai trị, thực dân Pháp đưa bộ bài Tây vào nước ta. Một số trò cờ bạc mới bắt đầu xuất hiện. Đặc biệt là trò Ba quân, có nơi gọi là Ba lá. “Ba lá là một cuộc đánh tiền, lấy ba quân bài tây đảo đi đảo lại, ai đặt tiền vào trúng quân ông lão thì được. Nghĩa bóng chỉ những đứa hèn hạ” ( Việt Nam tự điển, Khai Trí Tiến Đức). Cách chơi Ba quân hay Ba lá tương tự như trò Bonneteau của Pháp.

Ba quân hoàn toàn nhờ vào tài tráo bài của nhà cái và tài lừa phỉnh của cò mồi. Ba quân là cờ gian bạc lận của bọn đầu đường xó chợ. Ba quân hội đủ những tính xấu như gian lận, xảo trá, bất lương, đi lừa người khác để kiếm lời. Người xưa tránh không chửi “thằng ba quân” vì ba quân là quân đội của triều đình (Trung quân, Tả quân và Hữu quân). Ba quân được nói lái thành ba que. Tương tự như tụ tam nói trại thành tổ tôm, tam kết thành tam cúc…

Nói tóm lại, Ba que có khả năng cao gốc gác là trò cờ bạc Ba quân (bonneteau) của Pháp.

Lá cờ tam tài (ba màu xanh, trắng, đỏ) của Pháp bị gọi là cờ ba que. Cờ của bọn gian lận, tráo trở. Dùng trò cờ bạc của Pháp để chửi Pháp, các cụ xưa chơi chữ khá thâm.

Vào khoảng năm 1945, Huỳnh Thúc Kháng viết về Cuộc khởi nghĩa Duy Tân (1916), có đoạn :

– Thế mà trừ một số ít – rất ít – đã hấp thụ học thuyết mới, xem cái ngôi “bù nhìn” đó không có giá trị gì…..Thường xuyên xưa nay mối lợi khiến cho người ta mờ trí khôn (lợi linh trí hôn), bọn thực dân Pháp mà các tay chính trị “xỏ lá” tự phụ là cao xảo cũng không khỏi vấp phải chỗ lầm to, ấy là tấn kịch: Đày vua cha Thành Thái mà lập con là vua Duy Tân lên thay. (Vương Đình Quang, Thơ văn Huỳnh Thúc Kháng, NXB Văn Học, 1965, tr. 173).

Huỳnh Thúc Kháng dùng kí hiệu ngoặc kép ” ” để nhấn mạnh hai từ bù nhìn và xỏ lá. Bù nhìn là tiếng Pháp épouvantail được Việt hoá. Do đó, có thể suy đoán rằng xỏ lá có nhiều khả năng cũng như thế. Tra từ điển “Robert và Larousse” của Pháp gọi tụi đáng khinh (méprisable), đáng ghê tởm (répugnant) ; bất chính (déloyal), bọn bất lương, gian dối (malhonnête) là salaud (xa lô). Xỏ lá vừa có nghĩa vừa có âm của salaud. Kết luận là, thằng salaud sang thuộc địa kiếm chác, bị Việt hoá thành thằng xỏ lá.

Nguồn: http://mythuat.proboards.com

 

 

 

 

 

Cướp biển được nhà nước…..bảo trợ (phần 1)

Cướp biển được nhà nước…..bảo trợ (phần 1)

Kỷ nguyên “hải tặc hợp pháp” chính thức bắt đầu từ năm 1243. Khi đó vua Henry III của Anh đang phải tham chiến cùng lúc với Pháp và Tây Ban Nha, nên rơi vào cảnh ngân khố sạch trơn còn thuế má thì đã quá đủ để dân chúng nổi loạn (nếu định tăng thêm). Ông và các cận thần phải vắt óc nghĩ cách kiếm ra tiền, và ngẫu nhiên ai đó đã đề xuất cho các thuyền trưởng tàu tư nhân quyền cướp bóc tàu địch, rồi chia cho hoàng gia một phần của cải khi quay về. Chiếu chỉ của Henry III viết như sau: “Nay cho phép…..được quyền tấn công kẻ thù cả trên mặt biển lẫn trên đất liền, các khanh phải nộp cho trẫm một nửa chiến lợi phẩm thu được”. Thật là một công đôi việc: triều đình vừa có thu nhập vừa có thêm tàu chiến ngoài biên chế, còn các chủ tàu tha hồ cầm giấy phép đi cướp bóc mà không sợ pháp luật trừng phạt.

Sau khi cuộc chiến đó kết thúc, các đời vua và nữ hoàng Anh tiếp theo vẫn duy trì kiểu cấp phép này (có tên riêng là Letter of Marque -thư nhãn hiệu). Một số giấy phép có hiệu lực cả trong thời bình, chẳng hạn như một nhà buôn từng bị cướp biển tấn công, có thể xin giấy phép để cướp một con tàu của quốc gia bị nghi ngờ là nơi bọn cướp biển xuất phát. Các chủ tàu hoan nghênh nó do nhận thấy cơ hội làm giàu, còn vua chúa chẳng lo buồn khi có thêm cả một hạm đội tư nhân, được ràng buộc chặt chẽ với triều đình bằng lợi ích.

(Một giấy phép cướp bóc thế kỷ 15, ghi chi tiết về những gì được làm và không được làm.)

Những giấy phép loại này thường rất đa dạng, có thể là chiếu chỉ, văn bản ủy quyền, hay thậm chí là luật (năm 1812 quốc hội Mỹ ra luật riêng, cấp giấy phép đi bắt các tàu Anh). Nguồn cấp cũng phong phú: vua, tòa án (Anh), toàn quyền thuộc địa, thống đốc bang, quốc hội, tổng thống (Mỹ)……Đơn đăng ký phải ghi rõ: Tên, hình dáng, tải trọng cùng vũ khí trên tàu, tên và nơi ở của chủ sở hữu, số lượng thuyền viên dự kiến. Lúc đầu thì chính quyền thu 50% của cải cướp được khi về cảng, nhưng sau để tránh hiện tượng tẩu tán hàng hóa, người ta bắt chủ tàu mua trái phiếu bảo đảm với giá rất đắt. Hay nói cách khác, chính quyền thu tiền trước, cấp giấy phép sau; rồi chủ tàu mang nó đi cướp bóc, lời ăn lỗ chịu.

– Nội dung một giấy phép (thư nhãn hiệu – Letter of Marque) chủ yếu có 5 mục sau:

+ Tên người sở hữu, nguyên nhân mà anh ta được phép mang nhóm người vũ trang của mình ra ngoài biên giới quốc gia. 

+ Chỉ định quốc tịch của các mục tiêu sẽ bị tấn công.

+ Cho phép tịch thu hoặc tiêu huỷ nhân lực và vật lực của mục tiêu đó.

+ Mô tả hành động mà chủ tàu được phép tiến hành, chẳng hạn như phải tuân thủ các hiệp ước, luật quốc tế hay luật của quốc gia mà chủ tàu giữ quốc tịch.

+ Các hạn chế về thời gian, loại mục tiêu, khu vực, số lượng mục tiêu…..

Ngoài ra còn rất nhiều quy định phụ khác. Năm 1405, vua Anh cấp giấy phép bắt giữ “bất kỳ kẻ thù nào của nước Anh”. Năm 1411, giấy phép của Anh ghi rằng mọi tàu Pháp đều là mục tiêu tấn công, nhưng số hàng hóa cướp được bị giới hạn trong giá trị 5250 bảng. Năm 1543, do nhu cầu chiến tranh với Pháp và Scotland mà mọi công dân Anh đều được cấp giấy phép miễn phí. Năm 1695, một giấy phép đặc biệt được phát hành chỉ để bắt tên cướp biển William Kidd. Năm 1729, Tây Ban Nha cấp phép để bắt giữ mọi tàu buôn lậu.

(Một tàu lùng của Mỹ đang tấn công tàu Anh trong chiến tranh giành độc lập Mỹ)

Các cá nhân hay tàu biển thực hiện công việc này được gọi là Privateer (tàu lùng, tàu tư hay cướp biển hợp pháp). Khi thương mại hàng hải trở nên phổ biến vào thế kỷ 15-16, nhất là lúc các mỏ vàng bạc ở châu Mỹ bắt đầu khai thác quy mô lớn, cướp biển vùng Caribbean phát triển rất mạnh khiến cho mọi tàu buôn đều phải vũ trang. Nói đến đây thì chúng ta phải phân thành 2 loại: cướp biển và cướp biển hợp pháp, tức là các tàu lùng. Các Privateer (tàu lùng) này chỉ khác tàu cướp biển ở 2 điểm: nó treo quốc kỳ chứ không phải cờ hình đầu lâu xương chéo, và hoạt động theo giấy phép của chính phủ cấp. Trong chiến tranh, tàu lùng được coi là lực lượng tư nhân hỗ trợ hải quân. Tùy theo chính sách giữa các quốc gia châu Âu thời đó mà giấy phép của nước này có thể được nước kia công nhận hay không. Khi bị quốc gia thù địch bắt giữ, nếu giấy tờ được chấp nhận, thủy thủ đoàn tàu lùng sẽ được đối xử với tư cách tù binh; còn nếu không, họ bị xem như cướp biển, sẽ bị xét xử và treo cổ.

Như mọi nghề, cơ hội luôn đi kèm rủi ro. Một tàu lùng hoàn toàn có thể đánh mất tư cách hợp pháp của mình và bị xét xử như tàu cướp biển ngay cả trong thời bình, khi bị phát hiện vi phạm các quy định về thời gian, mục tiêu, địa điểm……Việc vi phạm đôi lúc lại do lỗi khách quan, do đó các chủ tàu thường phải rất thận trọng. Trường hợp dễ thấy nhất là giấy ghi cướp tàu trong chiến tranh, do liên lạc thời xưa rất hạn chế nên nhiều chủ tàu không biết rằng quốc gia của mình đã ký hiệp định đình chiến với nước ghi trong giấy phép, và vẫn tiến hành tấn công mục tiêu khi bắt gặp. Nếu chủ quan lúc về, ông ta và thủy thủ đoàn có thể bị tòa kết án cướp biển và treo cổ.

(Treo cổ cướp biển ở Anh)

Năm 1580, khi hạm đội của cướp biển Francis Drake trở lại Anh sau 3 năm đi vòng quanh thế giới, ông ta không dám cập cảng vì không biết ai đang làm vua hay nữ hoàng, và tình hình châu Âu có gì thay đổi không. Một thủy thủ bí mật lên bờ, tìm gặp vợ Drake và bạn cũ là thị trưởng thành phố Portsmouth để thăm dò tin tức. Sau khi chắc chắn nữ hoàng Elizabeth vẫn tại vị và nước Anh vẫn đang chiến tranh với Tây Ban Nha, Francis Drake mới thở phào và đưa tàu vào cảng.

Trong thời kỳ nội chiến, giấy phép phe này sẽ bị phe kia bác bỏ, dù cùng là một quốc gia phát hành. Ví dụ, một tòa án ở Anh đã từ chối thừa nhận tính hợp pháp của giấy tờ do ngụy vương James II cấp, và treo cổ thuyền trưởng cùng toàn bộ thủy thủ đoàn một tàu lùng. Trong thời kỳ Nội chiến Mỹ, phía Liên bang miền Bắc cũng không công nhận giấy phép của Liên minh miền Nam, và ban đầu kết án treo cổ thủy thủ đoàn bị bắt. Sau khi tổng thống Liên minh miền Nam Jefferson Davis nổi giận và dọa sẽ hành quyết số tù binh là sĩ quan tương ứng, phe miền Bắc mới chịu nhượng bộ và coi những người này là tù binh chiến tranh.

– Dịch và biên tập: Muitenbac777 –