Tổ chức Quốc gia Hồi giáo (Nation of Islam)

Tổ chức Quốc gia Hồi giáo (Nation of Islam)

Quốc gia Hồi giáo (Nation of Islam), viết tắt NOI, là phong trào tôn giáo-chính trị của người Mỹ gốc Phi, thành lập từ những năm đầu thập niên 30 của thế kỷ trước. Phong trào này theo thuyết chủ nghĩa da đen tối cao (black supremacism), cho rằng người da đen cao quý hơn tất cả các chủng tộc khác. Riêng dân da trắng bị xem là ác quỷ, có trái tim và linh hồn trống rỗng, màu da trắng bị diễn giải là hậu quả của “bệnh hủi và sự thấp kém di truyền”. Phong trào đã xây hơn 130 thánh đường ở 22 bang của Mỹ, có trường đại học để truyền bá giáo lý và 1 website với hàng triệu lượt truy cập. Số lượng thành viên phong trào khoảng 50.000 (ước tính tối đa năm 2007). Bản doanh đang đặt tại Đại thánh đường Maryam ở Chicago, bang Illinois. Lãnh đạo hiện nay là Louis Farrakhan, một nghệ sĩ vĩ cầm từng đạt giải thưởng quốc gia khi mới 14 tuổi.

NOI dạy các tín dồ rằng thế giới hiện nay được chia làm 3 loại người: 85% là những người “mù, câm, điếc” nên dễ phạm sai lầm và khó đi đúng hướng. 10% người giàu (được gọi bằng thuật ngữ riêng “những kẻ tạo ra nô lệ”) kiểm soát 85% kia bằng cách duy trì sự ngu dân, vận dụng khéo léo tôn giáo và các phương tiện truyền thông hiện đại. 5% còn lại là những “giáo viên ngay thẳng nhưng yếu kém”, số này biết về sự thật đó và luôn luôn đấu tranh để giúp “giải phóng trí óc” cho quần chúng nhân dân.

Hệ tư tưởng của NOI được con trai nhà sáng lập, Elijah Muhammad diễn giải chi tiết trong cuốn sách “Thông điệp cho người da đen ở Mỹ” (1965). Nền tảng tư tưởng chia làm hai phần; ” Người Hồi giáo muốn điều gì” (10 mục), “Người Hồi giáo tin tưởng điều gì” (12 mục). Theo đó, Elijah Muhammad cho rằng Mặt trăng đã từng là một phần của Trái Đất , và tuổi thọ Trái đất là hơn 76 nghìn tỷ năm trước thời kỳ Adam và Eva được ghi chép trong Kinh Thánh. Dân da đen ở Mỹ hiện tại là hậu duệ của bộ tộc Shabazz từ 66 nghìn tỷ năm trước, 12 bộ tộc da đen khác đã chết khi một vụ nổ lớn tách mặt trăng khỏi trái đất. Tất cả các chủng tộc khác đều bắt nguồn từ da đen, trừ da trắng – lai ghép từ ác quỷ và giống….chồn hôi bởi Yakub (tức nhân vật Jacob trong Kinh Thánh và Kinh Koran). Bộ tộc Shabazz sau đó đã di chuyển đến vùng thung lũng màu mỡ của sông Nile, và cuối cùng định cư tại địa điểm hiện nay là thánh địa Hồi giáo Mecca.

Bên trong Đại thánh đường của NOI.

Trong một cuộc phỏng vấn năm 1997, lãnh đạo NOI Louis Farrakhan cho biết ông ủng hộ việc ly khai khỏi Mỹ và thành lập một quốc gia của người da đen, nếu “chúng tôi không thể hòa hợp được sau 400 năm cống hiến mồ hôi và công sức cho nước Mỹ”. Khi được hỏi rằng liệu ông có đồng tình với lý thuyết coi người da trắng là 1 lũ “quỷ mắt xanh” hay không , Farrakhan trả lời:

“Trong Kinh thánh, trong “Sách Khải Huyền” đều nói về sự sụp đổ của Babylon. Thành Babylon sa ngã vì nó đã trở thành nơi ở của ma quỷ. Chúng tôi tin rằng nền văn minh Babylon cổ đại là biểu tượng cho một Babylon hiện đại, đó chính là nước Mỹ.”

Phong trào quốc gia Hồi giáo có hẳn một tổ chức bán quân sự riêng là FOI:

Malcolm X , một trong những người Mỹ gốc Phi nổi tiếng nhất trong lịch sử, một thời là lãnh đạo chủ chốt của NOI. Ông từng tuyên bố:

“Người da trắng nghĩ rằng mình kém cỏi hơn dân da đen. Bất cứ ai từng nghiên cứu di truyền học đều biết rằng màu trắng được coi là tính lặn và màu đen được coi là tính trội. Toàn bộ nền kinh tế của Mỹ đang dựa trên sự tối cao của màu trắng. Ngay cả các triết lý tôn giáo, về bản chất cũng đặt màu trắng lên đỉnh của nó. Một Chúa Giêsu da trắng, trinh nữ trắng, thiên thần cũng trắng nốt. Tất cả mọi thứ cùng một màu. Dĩ nhiên, ác quỷ thì phải màu đen.”

NOI Có quan hệ thân thiết với nhà lãnh đạo Libya Muammar Gaddafi, và nhận được tài trợ hàng triệu USD ngay từ thập niên 1970. Do bị Mỹ cấm vận, chính phủ Libya đã chuyển tiền qua Ngân hàng Tín dụng và Thương mại Quốc tế (BCCI) ở Canada đến một tổ chức tình báo ở Washington để làm trung gian cho NOI. Năm 1996, lãnh đạo NOI Farrakhan có chuyến công du đến Iran, Iraq và Libya, Ông được tiếp đón trọng thể và nhà lãnh đạo Gaddafi cam kết khoản viện trợ 1 tỉ USD để phát triển cộng đồng da đen và tăng cường quyền lực chính trị. Báo chí Iran trích dẫn 1 câu mà về sau Farrakhan phủ nhận, “Thiên Chúa sẽ huỷ diệt nước Mỹ bằng người Hồi giáo, Chúa sẽ không cho Nhật Bản hay châu Âu cái vinh dự hạ bệ nước Mỹ đó”. Khi biết tin, chính phủ Mỹ đã làm mọi cách để ngăn không cho NOI tiếp cận khoản tiền này. Năm 2011, Farrakhan bày tỏ sự đau buồn trước cái chết của nhà lãnh đạo Libya Muammar Gaddafi, và thường nhắc đến “anh trai tôi” khi trả lời phỏng vấn.

Phong trào Quốc gia Hồi giáo có một tạp chí riêng, tờ The Final Call, phát hành trung bình 900.000 bản/tuần hồi thập niên 1960, có thời kỳ ra đến 2,5 triệu bản/tuần. Nhiều bài viết được cho là cực đoan và có tư tưởng bài Mỹ. Giáo sĩ Harold Muhammad, người đứng đầu nhà thờ Hồi giáo thuộc NOI ở New Orleans, từng viết họ có đủ bằng chứng về việc AIDS là một bệnh nhân tạo được chính phủ Mỹ sử dụng để chống lại người da đen.

Võ sĩ quyền anh nổi tiếng Muhammad Ali cũng từng là thành viên NOI.

Muhammed Ali, heavyweight champion sits at Black Muslim meeting in Chicago February 26, 1967, as Elijah Muhammed, leader of the religious sect addresses some 10,000 members of his sect in Illinois. (AP Photo/Paul Cannon)

Dù giáo thuyết của NOI có thiên hướng Sunni, nhưng do tư tưởng cực đoan và một số khác biệt (họ cho rằng nhà sáng lập của mình, thạc sĩ W. Fard Muhammad là đấng Messiah của người Do thái và Mahdi của Hồi giáo) nên phong trào này không được công nhận là 1 nhánh của đạo Hồi.

– Muitenbac777 –

Phân biệt ba khái niệm Chiến Lược – Chiến Thuật – Chiến Dịch

Phân biệt ba khái niệm Chiến Lược – Chiến Thuật – Chiến Dịch

Chiến lược, Chiến thuật, Chiến dịch là ba khái niệm áp dụng rất phổ biến trong các lĩnh vực. Tuy nhiên có rất nhiều người thường xuyên lẫn lộn giữa chúng với nhau, thậm chí là những người viết lách chuyên nghiệp. Vậy các khái niệm này là gì và có khác biệt gì ?

Các định nghĩa :

Chiến Lược :

Chiến lược là một từ có nguồn gốc từ lĩnh vực quân sự, đó là phương cách để chiến thắng trong một cuộc chiến tranh. Có nhiều định nghĩa khác nhau nhưng có thể hiểu chiến lược là chương trình hành động, kế hoạch hành động được thiết kế để đạt được một mục tiêu cụ thể, là tổ hợp các mục tiêu dài hạn và các biện pháp, các cách thức, con đường đạt đến các mục tiêu đó. Trong quân sự, chiến lược khác với chiến thuật, chiến thuật đề cập đến việc tiến hành một trận đánh, trong khi chiến lược đề cập đến việc làm thế nào để liên kết các trận đánh với nhau. Nghĩa là cần phải phối hợp các trận đánh để đi đến mục tiêu quân sự cuối cùng.

Như vậy một chiến lược phải giải quyết tổng hợp các vấn đề sau :

-Xác định chính xác mục tiêu cần đạt.
– Xác định con đường, hay phương thức để đạt mục tiêu.
– Và định hướng phân bổ nguồn lực để đạt được mục tiêu lựa chọn.

Trong ba yếu tố này, cần chú ý, nguồn lực là có hạn và nhiệm vụ của chiến lược là tìm ra phương thức sử dụng các nguồn lực sao cho nó có thể đạt được mục tiêu một cách hiệu quả nhất. ( theo wikipedia )

Chiến Thuật :

Chiến thuật là phương pháp sử dụng để đạt mục đích cụ thể. Chiến thuật được dùng ban đầu với nghĩa là chiến thuật quân sự nhưng sau đó được sử dụng rộng rãi trong các lĩnh vực khác. Từ chiến thuật được sử dụng trong các lĩnh vực có áp dụng lý thuyết như kinh tế, thương mại, trò chơi, và các lĩnh vực thực hành khác như đàm phán, thể thao. ( theo wikipedia )

Chiến Dịch :

ĐN 1 : Toàn bộ nói chung các trận chiến đấu diễn ra trên một chiến trường và trong một thời gian, tiến hành theo kế hoạch và ý định thống nhất, nhằm thực hiện mục đích chiến lược nhất định. VD : Chiến dịch Điện Biên Phủ

ĐN 2 : Toàn bộ nói chung những việc làm tập trung và khẩn trương, tiến hành trong một thời gian nhất định, nhằm thực hiện một mục đích nhất định. VD : Phát động chiến dịch phòng bệnh mùa hè ; mở chiến dịch truy quét tội phạm trên toàn quốc. ( theo từ điển Soha )

Nếu là người không thường xuyên phải tiếp xúc với ba khái niệm thì có đọc định nghĩa cũng chưa chắc hiểu được. Và trong thực tế đôi khi ranh giới giữa chúng chỉ là tương đối. Có thể hiểu đại khái rằng chiến lược là một kế hoạch chung, có tầm bao quát lớn về không gian và thời gian. Để thực hiện kế hoạch chung đó, người ta sẽ áp dụng những chiến thuật cụ thể trong các phạm vi, thời gian cụ thể. Chiến dịch là khái niệm bao gồm các kế hoạch trong một quãng không gian tương đối rộng trong một quãng thời gian, với một mục tiêu cụ thể trong chuỗi các mục tiêu cần đạt được để thực hiện chiến lược.

Trong nghiên cứu lịch sử quân sự, ba khái niệm này thường xuyên được áp dụng để miêu tả các sự kiện, chuỗi sự kiện. Nếu như sử phương Tây khá chú trọng về nghiên cứu chiến thuật thì sử Á Đông thường xao nhãng, tập trung vào chiến dịch và chiến lược. Đối với những người muốn kiến thức lịch sử của mình có hệ thống và vận dụng được vào thực tế cuộc sống, hầu như không còn cách nào khác là phải nắm vững ba khái niệm đã nêu.

Một số ví dụ về Chiến lược :
– Việt Nam hóa chiến tranh
– Chia để trị
– Viễn giao cận công ( thân thiện với nước ở xa, đánh nước ở gần )
– Lấy công bù thủ
– Chống tiếp cận
– Phòng thủ, phản công, tấn công … ( trong bối cảnh một cuốc chiến )

Một số ví dụ về Chiến dịch :
– Chiến dịch Hồ Chí Minh. Mục tiêu : giải phóng hoàn toàn miền Nam trong năm 1975 -1976 ( trên thực tế đây cũng có thể xem là một Chiến lược )
– Chiến dịch Điện Biên Phủ. Mục tiêu : đánh bại các lực lượng chủ lực cơ động của Pháp, buộc địch phải chịu thua
– Chiến dịch Tây Nguyên. Mục tiêu : chiếm Tây Nguyên làm bàn đạp mở rộng tiến công toàn miền nam, tiêu hao sinh lực địch …

Một số ví dụ về Chiến thuật :
– Tiền pháo hậu xung
– “Nắm thắt lưng địch mà đánh”
– Trực thăng vận
– Thiết xa vận
– Phòng ngự, phản công, tấn công … ( trong một trận đánh )

Tổng hợp từ Diễn đàn LSVN

Lĩnh Ngoại Đại Đáp – Sử liệu nước Tống nói về Đại Việt thời Lý

Lĩnh Ngoại Đại Đáp – Sử liệu nước Tống nói về Đại Việt thời Lý

Người Giao Chỉ

Người nước Giao Chỉ mặc áo đen, nhuộm răng đen, búi tóc, đi chân trần, không kể quý tộc hay thấp hèn đều như thế. Người đứng đầu các thôn làng cũng đi chân trần, nhưng cài trâm vàng, trên là áo vàng, dưới là váy tía. Người còn lại thì trên là áo đen, cổ áo cuộn tròn trước cổ, bốn cái vạt áo giống cái vai gọi là bốn cái đỉnh; dưới là váy đen. Hoặc cài trâm sắt, hoặc đi giày da, tay cầm cái quạt lông hạc, đầu đội nón trôn ốc. Người nước này xăm thân như hình khắc của trống đồng. Quân sĩ khắc lên trán chữ “Thiên tử binh”. Người đàn bà thì da trắng trẻo, khác với đàn ông. Mặc váy đen, đàn ông thì mặc quấn. Lấy dầu thơm bôi lên tóc như bôi sơn, trùm khăn the đen, buộc quanh đỉnh đầu nhưng nhỏ, từ trán trở lên thì nếp gấp nhỏ như đường khâu, phía trên đến đỉnh. Thân mặc áo đen, cổ áo cuộn khúc lớn, có thêm áo cổ cuộn khúc nhỏ ở trên. Chân đi giày, bít tất, đi dạo giữa đường lớn, không khác người Trung Quốc, nhưng nhìn cái khăn là phân biệt được. Người nước này gửi thư từ, bao đựng như măng tre, bái lạy thong thả. Sứ giả đến, các quan văn võ đều mặc áo dài màu tía, buộc dây lưng màu đỏ vẽ hình tê giác, không có hình cá. Từ lúc cống voi về sau, Lí Bang Chính lại sai sứ đến Khâm Châu, mới có thêm hình cá vàng rất to lớn. Kiệu của người nước này như cái túi vải, khi sứ giả đến Khâm Châu thì ngồi kiệu mỏng, khi trời tạnh ráo đều dùng kiệu này.

Mực

Dung Châu có nhiều cây tùng lớn, người châu này làm ra mực. Một thoi mực tốt không đầy trăm quan tiền, rẻ nữa thì một cân mực chỉ có hai trăm quan tiền, thương nhân đề ra số tiền mua rồi bán mực. Mực của người Giao Chỉ tuy không đẹp lắm, cũng không đến nỗi xấu lắm. Người Giao Chỉ lấy mực và nghiên đều đeo ở vùng eo lưng.

Quạt lông

Người huyện Tĩnh Giang giỏi bắt chim, rồi vặt lông để làm quạt, các quạt phải đính lông, lấy lông để trương ra, lấy dây buộc vào cây trụ, đợi thịt khô gân cứng mới dùng được. Chim kinh là loài chim lớn, lấy lông của nó làm quạt, dài vài thước, màu đen, quạt nhiều gió, dũng sĩ thường dùng quạt này, có phần tráng lệ. Lông chim cò thì màu trắng muốt, nhẹ mà quạt gió nhỏ, sĩ phu thường dùng quạt này. Lấy keo bôi lên gân xương cho màu đỏ, cũng có phần đẹp. Người Giao Chỉ lại dùng lông chim hạc, lấy dây bện với lông, nhưng phân biệt với cán. Nói rằng đất Giao Chỉ có nhiều rắn, chim hạc lại ăn thịt rắn, rắn ngửi thấy mùi lông chim hạc thì tránh xa. Dùng chim hạc để đuổi rắn vậy.

Nón Man

Giao Chỉ có nón như mũ đâu mâu, nhưng đỉnh nhọn giống hình trôn ốc, gọi là nón trôn ốc. Lấy sợi tre nhỏ mà làm nên; tuy là khéo léo nhưng chỉ có người thấp hèn đội mà thôi.

Giày da

Chân người Giao Chỉ xỏ dày da, giống hình vẽ các vị La Hán đi giày. Lấy da làm đế, nhưng giữa có một cái trục nhỏ dài khoảng một tấc, phía trên có núm nhỏ để đem chân xỏ vào mà đi. Hoặc lấy tấm da màu đỏ đính vào giống hình chữ thập, lại đặt ba cái núm ở trên đế da để chân xỏ vào mà đi. Đều là giày mà người giàu có đi vậy. Đất này gần phương tây nên trang phục giống người phương tây.

Khăn vuông của người An Nam

Sứ giả của An Nam đến Khâm Châu, quan Thái thú dùng hát múa để đãi tiệc, cũng đem tặng các thợ hát múa, người ta đem cho một cái khăn vuông. Khăn vuông mịn như tấm lưới nhỏ nhưng trùm khăm thì dùng gấm. Người Giao Chỉ tự mặc áo khố, đều để khăn vuông kín mít bên trong người vậy. Không biết cái khăn vuông này của người An Nam dùng để làm gì. Ta nghe nói người Man lấy được vải đỏ của Trung Quốc, đều gỡ sợi tơ màu mà tự đan áo, có lẽ khăn vuông này cũng gỡ sợi tơ ấy ra mà làm thôi.

Đồng

Sách sử chép người Lạc Việt có nhiều đồng, bạc. “Giao Châu kí” viết: “Người Việt đúc đồng làm thuyền”. “Quảng Châu kí” viết: “Người Lí, Lão đúc trống đồng”. Nghe nói các nước Giao Chỉ và Chiêm Thành, chỗ vua ở đều lấy đồng làm ngói, chắc rằng phương nam có nhiều đồng. Ngày nay ở Ung Châu có đồng không nhiều mấy, và ngoài khê động miền Hữu Giang, có một động của người Man, là chỗ mà đồng sự sinh ra, đào đất mấy thước thì có quặng, cho nên người Man phần nhiều dùng đồ đồng. Từng có dâng đến triều đình, muốn cùng trao đổi, việc này ở các ti của bản lộ, nói là sinh ra nhiễu động ngoài biên giới, tấu xin bãi bỏ.


Gỗ tư lũy

Gỗ tư lũy mọc ở các châu động miền Lưỡng Giang, cứng, cho vào giữa nước, trăm năm không mục. Người châu động và người Giao Chỉ lấy làm cung tên, các đồ khiên, giáo, là tốt nhất thiên hạ.

Ăn trầu cau

Từ Phúc Kiến dưới Tứ Xuyên cùng các tỉnh Quảng Đông, Tây Lộ, đều có người ăn trầu cau. Khách đến thì không bày trà, chỉ lấy trầu cau làm lễ. Cách làm là cắt như cắt quả dưa, đem một ít vôi trộn với lá trầu, bọc cau mà nhai nhấm, trước thổ ra một ngụm nước màu đỏ, rồi mới nhai phần còn lại. Có ít người, vẻ mặt màu đỏ thẫm, cho nên thi nhân có câu là “say trầu cau”. Không dùng voi hến, chỉ dùng vôi đá; không dùng lá trầu, chỉ dùng lá trầu đằng, ở Quảng Châu lại có thêm các thuốc thơm như đinh hương, hoa quế, hoa tam lại, gọi là trầu cau thuốc thơm. Chỉ có người Quảng Châu dùng rất nhiều, không kể giàu, nghèo, già, trẻ, trai, gái, từ sớm đến tối, thà chẳng ăn cơm, nhai nhấm trầu cau. Người giàu thì dùng bạc làm bồn chứa, người nghèo thì dùng thiếc. Ngày thì lại gần bồn mà nhai, đêm thì đặt bồn ở bên gối, ngủ cũng nhai nhấm trầu cau . Bọn dân đem thượng lưu, hạ lưu, một ngày tiêu hơn trăm quan tiền vì mua trầu cau. Có người giễu cợt người Quảng Châu nói: “Miệng người đi trên đường như miệng con dê”. Ý nói nhai lá trầu, cả ngày cũng nhai, nhai cả quả cau vậy. Hễ gặp mặt nhau thì để hở răng đen môi đỏ; mấy người hẹn gặp thì làm đỏ cả vùng đất, thực đáng chán ghé. Khách như bọn sĩ phu, thường đem tráp theo mình, làm như cái thoi bạc, chia làm ba: một là chỗ đựng trầu, hau là chỗ đựng cạu, ba là chỗ đựng vôi. Sứ giả của Giao Chỉ cũng nhai nhấm trầu cau, người khác hỏi: “Sao lại nhai nhấm như vậy”? Đáp nói: “Để tránh chướng, trừ khí, tiêu thức ăn. Ăn lâu ngày thì một khắc cũng không thể không có nó, không ăn thì miệng lưỡi không có mùi vị, khí lại xú uế”. Từng bàn về nguyên nhân y thuật, nói: “Cau có thể giáng khí, cũng có thể háo khí. Phổi là chỗ của khí, ở trên màng ngực, lấy cuống hoa để ngăn xú uế trong bụng. Lâu ngày ăn cau, thì phổi không thể ngăn, cho nên khí xú uế bốc lên đến vùng má, thường muốn nhai nhấm trầu cau để giáng khí, nhưng không có ích vì chướng, chướng bệnh này lại phát nhiều nhiệt, cho nên không thể không ăn trầu cau vậy”.

Chợ buôn bán ở trại Vĩnh Bình – Ung Châu

Trại Vĩnh Bình thuộc miền Tả Giang – Ung Châu, giao tiếp với đất Giao Chỉ, cách một dòng suối. Phía bắc có trạm dịch Giao Chỉ, phía nam có đình Tuyên Hòa, làm thành chợ buôn bán. Chủ trại Vĩnh Bình quản lí việc buôn bán. Người Giao Chỉ hằng ngày đem thuốc thơm, tê, voi, vàng, bạc, muối, tiền trao đổi để lấy lụa mỏng, gấm, võng, vải của thương nhân Trung Quốc rồi đi. Những người đến trại Vĩnh Bình đều là người Giao Chỉ ở các thôn động, đi đường bộ mà đến. Hàng hóa mang theo đều nhỏ nhẹ, chỉ có muối là nặng nề. Nhưng muối chỉ có thể đổi lấy vải mà thôi. Lấy 25 cân làm một sọt, vải thì lấy vải nhỏ mà người huyện Vũ Duyên – Ung Châu làm ra. Người huyện này cũng thật thà, không gian dối như người Giao Chỉ ở châu Vĩnh An đến Khâm Châu. Như miền Tả Giang lại có sách Nam Giang, tiếp giáp với châu Tô Mậu của Giao Chỉ, lại ít trao đổi, thì viên Tuần phòng của sách Nam Giang trông coi việc buôn bán.


Chợ buôn bán Khâm Châu

Những dụng cụ sinh hoạt của Giao Chỉ đều trông mong ở Khâm Châu, thuyền chèo qua lại không dứt. Chợ buôn bán ở trạm dịch Giang Đông ngoài thành. Người Giao Chỉ lấy cá, ngọc trai đổi lấy gạo, vải, gọi là người Đản Giao Chỉ. Nhà buôn giàu có của nước nước này đến buôn bán, phải từ châu Vĩnh An gửi tờ trình đến Khâm Châu, gọi là Tiểu Cương. Nước này sai sứ giả đến Khâm Châu, nhân đó trao đổi buôn bán, gọi là Đại Cương. Vật mang theo để trao đổi là vàng bạc, tiền đồng, trầm hương, quang hương, thục hương, sinh hương, trân châu, ngà voi, sừng tê. Nhà buôn nhỏ của Trung Quốc bán các đồ giấy, bút, gạo, vải, hằng ngày trao đổi lặt vặt với người Giao Chỉ, cũng không kể đủ. Chỉ có nhà buôn giàu có của đất Thục đến Khâm Châu, ở Khâm Châu đổi lấy trầm hương rồi về đất Thục, mỗi năm qua lại một lần… Người Giao Chỉ vốn thật thà, người Trung Quốc lừa họ ở chỗ cao, thấp của cái cân đo. Sau đó đến ba lần đi sứ, làm rõ lại cân đo của chợ buôn bán. Năm gần đây người châu Vĩnh An rất gian dối, nhà buôn Trung Quốc lừa bọn kia đều lấy thuốc giả, bọn kia thì lấy vàng bạc pha trộn với đồng, đến nối không thể phân biệt được, hương liệu thì trộn với muối, khiến cho nước ngấm vào, hoặc nhét chì vào hương liệu, nhà buôn suy đọa vì cái cách này vậy.

Trống đồng

Trong tỉnh Quảng Tây có trống đồng, người cày ruộng từng lấy được. Hình dạng của nó: vòng tròn chính thì mặt bằng, eo cong, hình như rỏ, lại có cái đế lớn, mặt có năm con cóc, chia ra đứng ở trên, con cóc đều ngồi thỗn chân, một lớn một nhỏ cõng nhau. Các hình khắc xung quanh, vòng tròn thì có hoa văn tiền cũ, hoa văn vuông hình sợi đan chiếu, hoặc là hình người, hoặc là hình ngọc, hoặc người như Phật, như rừng ngọc, hoặc cong như nanh lợn, như tai hươi, đều thành thể thống nhất. Tổng hợp các hoa văn này, phần lớn là hình vẽ tinh tế, khéo léo, tỉ mỉ, có thể nói là hoàn hảo. Trống đồng lớn thì rộng bảy thước, nhỏ thì rộng ba thước, ở các nhà chùa tế thần, Phật đều có trống đồng, châu huyện dùng để đánh điểm canh giờ. Người Giao Chỉ từng mua riêng đem về, chôn giấu trong núi, không biết để làm gì. Xét “Quảng Châu kí” viết: “Người Lí, Lão đúc trống đồng, chỉ có trống cao lớn là quý, mặt trống rộng hơn một trượng”. Không biết đúc nên vào thời nào. Xét rằng, Mã Viện đánh Giao Chỉ, thu được trống đồng Lạc Việt, đúc thành ngựa. Có người nói trống đồng đúc ở thời trước khi xây Tây Kinh. Tuy không phải là vật tế lễ thời Tam Đại, nói rằng đúc vào thời Tam Đại thì có thể đúng vậy. Cũng có trống đồng nhỏ nhất, rộng khoảng hai thước, rất đáng yêu, trống này kẻ sĩ phu tìm kiếm được mà không cho tặng.

Giao Chỉ

“Lễ kí” viết: “Phương nam gọi là Man, Điêu Đề, Giao Chỉ, có người không ăn thức ăn nấu bằng lửa”. “Giao Châu kí” viết: “Người Giao Chỉ, xuất từ huyện Nam Định, xương chân không có đốt, thân có lông, nằm thì dựa vào mới ngồi dậy được”. Ta đến Khâm Châu, thấy đàn ông răng đen, đi chân trần, nhuộm đen quần áo, tai người, nhìn như quạ, gọi là chân không có đốt, thân có lông chăng? Có người nói người Đạo Châu thấp lùn, nay người Đạo Châu cao bảy thước, mà người huyện Cung Thành thuộc Chiêu Châu cách Đạo Châu một bờ ruộng, vùng này có một hai người lùn, trộm nghĩ người huyện Nam Định giống người huyện Cung Thành vậy. Nếu không phải, há có người mà chân không có đốt mà lại dựa vào nhau được sao? Vùng này bị khí chướng lệ, mới đặt tên ấy, nghĩ rằng phải như thế.

Chu Khứ Phi

Nguồn : Diễn đàn LSVN


Ba dòng nước xoáy

Bốn quận phía tây nam đảo Hải Nam có biển lớn gọi là Giao Chỉ dương. Tại biển có 3 dòng nước xoáy, nước phun lên chía thành 3 dòng; dòng thứ nhất chảy về phía nam dẫn đến biển thuộc các nước Phiên ; dòng thứ 2 chảy lên phía bắc qua vùng biển Quảng Đông, Phúc Kiến, Chiết Giang; dòng thứ 3 chảy vào nơi mù mịt không bờ gọi là Đông Đại Dương. Tàu thuyền đi về hướng nam phải qua ba dòng nước xoáy, nếu gặp một chút xíu gió thì vượt được,nếu vào chổ hiểm đó mà không có gió thuyền không ra được, ắt phải vỡ chìm trong ba dòng nước xoáy. Nghe truyền rằng biển lớn phía đông có Trường Sa Thạch Đường [ tức QĐ.Hoàng Sa ] rộng vạn dặm, nước thủy triều thi triển đẩy vào chốn cửu u. Trước kia đã có thuyền bị bão phía tây thổi, trôi dạt đến biển lớn phía đông này , nghe tiếng ba đào chấn nộ hung hãn, trong khoảng khắc gặp gió lớn thuận chiều nên may thoát được.

Nguồn : Hồ Bạch Thảo

“Tây Sơn Phục Quốc”

“Tây Sơn Phục Quốc”

Hồng Bảo là con trưởng của vua Thiệu Trị. Năm 1842 Hồng Bảo được tháp tùng vua Thiệu Trị Bắc tuần nhằm mục đích giúp Hồng Bảo có cơ hội hiểu rõ dân tình ở miền Bắc để sau này lên ngôi trị vì, trước khi vua Thiệu Trị mất, Hồng Bảo sinh hạ được Ưng Đạo, nhà vua rất mừng, cho tổ chức lễ Đại Khánh ngũ đại đồng đường.

Trong dịp này vua Thiệu Trị đã ẳm Ưng Đạo trình với Thuận Thiên Thái Hoàng Thái Hậu (vợ vua Gia Long). Việc ấy khiến Hồng Bảo thêm hy vọng sẽ được kế vị sau này Hồng Bảo nghĩ rằng thế nào mình cũng sẽ được lên ngôi nên sinh ra kiêu ngạo.

Nhân tết Nguyên đán, sứ Tàu vào chầu, vua Thiệu Trị bèn ra cho Hồng Bảo và Hồng Nhậm câu đối: – “Bắc sứ lai triều”.

Không cần suy nghĩ dài dòng. Hồng Bảo đối ngay: – “Tây sơn phục quốc”.

Câu đối rất chỉnh nhưng không ngờ làm cho vua Thiệu Trị nổi giận đùng đùng. Ông trợn mắt lớn tiếng rầy la Hồng Bảo: – “Tây sơn phục quốc thì còn gì nhà Nguyễn nữa để cho mày làm vua”.

Hồng Bảo cúi đầu nhận cái tội thiếu suy nghĩ chín chắn của mình. Nhưng chứng nào tật ấy. Trong những ngày Thiệu Trị đau yếu sắp từ giã cõi đời. Hồng Bảo vẫn luôn vắng mặt. Có hôm nhà vua cho người đi tìm thì thấy Hồng Bảo còn ngồi trong sòng bạc. Vì thế cuối cùng vua Thiệu Trị đã để di chúc lại cho các đại thần rằng: – “Trong các con ta, Hồng Bảo tuy lớn nhưng vì thứ xuất, ngu độn, ít học, chỉ ham vui chơi, không thể nối nghiệp lớn được. Hoàng tử thứ hai là Hồng Nhậm thông mẫn, ham học, rất giống ta, đáng nối ngôi vua”.

Hôm triều thần họp nhau ở điện Cần Chánh (1847) đọc di chiếu, Hồng Nhậm được nối ngôi, nghe thế Hồng Bảo phẫn uất thổ huyết hơn một đấu, nằm vật vả giữa điện đình. Lúc làm lễ đăng quang cho Hồng Nhậm (Tức vua Tự Đức) mấy người phải đỡ Hồng Bảo dậy, lúc ấy nghi lễ mới hoàn tất. Về sau Hồng Bảo tìm mọi cách liên lạc các cố đạo và người Tây phương giúp sức để “đảo chánh” Tự Đức, nhưng việc không thành, cuối cùng Hồng Bảo bị giết.

theo sách Truyện Cổ Cố Đô

Quốc hiệu Đại Nam

Quốc hiệu Đại Nam

Lãnh thổ nước ta trở nên cực đại vào thời kỳ trị vì của vua Minh Mạng. Khi ấy, Việt Nam chiếm gần hết lãnh thổ Campuchia, Lào. Vua Minh Mạng vì thế muốn đổi tên nước để thể hiện đất nước của mình to lớn hơn hẳn các triều đại cũ. Ngày 15/2/1838, vua Minh Mạng xuống chiếu đổi tên thành thành Đại Nam. Chiếu như sau :

“Dụ rằng : “Nước ta từ Thái tổ Gia dụ Hoàng đế [ chỉ Nguyễn Hoàng – TG ], gây nền ở cõi Nam, đến các vua, ngày thêm mở rộng, có cả đất của nước Việt Thường cho nên trong nước trước gọi là Đại Việt. Lịch chép cũng lấy 2 chữ ấy chép ở đầu, vốn không ví như nước Đại Việt theo dùng tên riêng của nước An Nam. Đến Hoàng khảo Thế tổ Cao hoàng đế [ chỉ vua Gia Long – TG ], ta có cả nước An Nam, còn lịch chép chỉ chép đơn giản 2 chữ Đại Việt. Về lẽ phải vốn là không hại gì, xưa nay vẫn làm, đã trải bao năm, thế mà có bọn quê mùa không biết, thấy lịch các triều nhà Trần, nhà Lê nước An Nam cũng có chữ Đại Việt, theo người nhận nhầm, sinh nghi ngờ bậy, liên quan đến quốc thể không phải là nhỏ.

Trẫm xét các đời trước, như đời Đường, Tống trở về trước, phần nhiều lấy nơi nổi lên làm vua, làm danh hiệu có cả thiên hạ, đến đời nhà Nguyên, nhà Minh, lại hiềm noi theo tên cũ, bèn lấy chữ hay làm quốc hiệu. Đến đời nhà Đại Thanh trước gọi là Mãn Châu, sau đổi lại làm Đại Thanh, đều nhân thời tuỳ tiện, việc theo lẽ phải mà ra. Nay bản triều có cả phương Nam, bờ cõi ngày càng rộng, một dải phía đông đến tận biển Nam, vòng qua biển Tây, phàm là người có tóc có răng, đều thuộc vào trong đồ bản, bãi biển xó rừng khắp nơi theo về cả, trước gọi là Việt Nam, nay gọi là Đại Nam, càng tỏ nghĩa lớn, mà chữ Việt cũng vẫn ở trong đó.

Kinh Thi có nói : “Nước nhà Chu dẫu cũ, mệnh vận đổi mới !” để cho đúng với tên và sự thực. Chuẩn cho từ nay trở đi, quốc hiệu phải gọi là nước Đại Nam, hết thảy giấy tờ xưng hô, phải chiểu theo đó tuân hành, gián hoặc có nói liền là nước Đại Việt Nam, về lẽ vẫn phải, quyết không được lại nói 2 chữ Đại Việt, còn hiệp kỷ lịch năm nay, trót đã ban hành, không phải thay đổi hết thảy, nhưng nên in lại 3.000 tờ nhãn lịch trình dâng, chờ ban cho các quan viên ở Kinh và tỉnh ngoài, cho rõ hiệu lớn, còn thì phải lấy năm Minh Mệnh thứ 20 làm bắt đầu đổi chép chữ Đại Nam ban hành, để chính tên hiệu và khắp các nơi xa gần”.”

Quốc hiệu Đại Nam được sử dụng trong 108 năm, kể từ năm 1838 đến năm 1945. Trong đó có 48 năm nước Đại Nam tồn tại độc lập, còn lại thì là thuộc địa của nước Pháp. Trong thời kỳ thuộc địa, một số văn bản, giấy tờ của triều đình Huế vẫn sử dụng quốc hiệu Đại Nam. Tuy nhiên, trong ngoại giao và nội chính đều gọi là An Nam, thuộc Liên bang Đông Dương. Năm 1945, Nhật đảo chính Pháp, dựng lên chính phủ bù nhìn Trần Trọng Kim. Ông Kim đổi tên nước thành Đế quốc Việt Nam, thuộc khối Thịnh vượng chung Đại Đông Á do Nhật Bản làm chủ trì. Trên thực tế, “Đế quốc Việt Nam” là thuộc địa của Nhật. Khi Đảng Cộng Sản Đông Dương giành lại độc lập cho đất nước từ tay phát xít Nhật đã đổi tên nước thành Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Thời kỳ quốc hiệu Đại Nam đánh dấu sự bành trướng mãnh liệt của dân tộc Kinh Việt và sự suy thoái cực độ của chế độ phong kiến nhà Nguyễn, dẫn đến mất nước vào tay thực dân Pháp. Âu cũng cùng dân tộc trải qua các bước thăng trầm dữ dội.

Sự ra đời của quy định bảo vệ quyền tác giả

Quy định bảo vệ quyền tác giả chỉ xuất hiện sau những giằng co bảo vệ độc quyền in ấn ở châu Âu thế kỷ XV – XVII

Châu Âu là nơi đầu tiên xuất hiện những quy định bảo vệ quyền tác giả đối với các phát minh khoa học kỹ thuật và sách vở. Cuối thế kỷ XV, ảnh hưởng của phong trào Phục Hưng tại châu Âu thúc đẩy thị trường sách phát triển rất nhanh, đặt ra nhu cầu bảo vệ nhà xuất bản và các cửa hiệu bán sách.

Thoạt tiên những nhà xuất bản còn rất nhỏ và hầu hết vốn liếng của họ đều đầu tư vào một đợt xuất bản quyển sách nào đó. Kỹ thuật bảo mật thời bấy giờ còn kém nên tình trạng sao chép bản thảo quyển sách rồi tung bản lậu này ra thị trường diễn ra thường xuyên, gây thiệt hại nghiêm trọng cho nhà xuất bản và hiệu sách. Nhà xuất bản tìm giải pháp bằng cách thỉnh cầu chính quyền cho phép họ được độc quyền xuất bản một hay một số ấn phẩm nào đó trong thời hạn nhất định. Ví dụ như thành phố Venice (Ý) cho phép một nhà xuất bản Đức độc quyền in ấn các lá thư của Cicero và Pliny trong 5 năm.

Trong số nhà xuất bản được độc quyền in ấn, công ty Stationers ở nước Anh được hưởng nhiều ưu đãi nhất vì giữ thế độc quyền in ấn đối với tất cả các sách xuất bản ở Anh suốt thế kỷ XVI – XVII. Bất kỳ ai muốn xuất bản sách phải đăng ký với Stationers. Công ty công nhận người đó là chủ sở hữu văn bản này và không ai được phép sửa đổi nó nếu không có sự đồng ý của tác giả. Quy định bảo vệ quyền tác giả bắt đầu từ đây.

Tuy nhiên nhà nước Anh lợi dụng vị trí độc quyền của công ty Stationers để kiểm duyệt toàn bộ ngành xuất bản. Rất nhiều người phản đối điều này, trong đó có John Locke. Ông lập luận rằng liệu có công bằng và ích lợi không nếu không được phép sửa đổi cho chính xác, hay bình luận về các văn bản thời La Mã và trước đó, vì các tác giả thời đấy đã qua đời rất lâu và không ai được phép thay đổi những văn bản do công ty Stationer tuyên bố độc quyền in ấn?

Trang đầu của đạo luật Anne – đạo luật nhằm khuyến khích học tập

Nhờ vận động của John Locke và những trí thức khác, nghị viện Anh quốc từ chối đề nghị gia hạn độc quyền của công ty Stationers năm 1710. Thay vào đó, nghị viện ban hành đạo luật về quyền tác giả đầu tiên trên thế giới: Đạo luật Anne hay còn gọi là Đạo luật khuyến khích học tập. Luật này cho phép tác giả được độc quyền in và tái bản tác phẩm của mình, xóa bỏ thế độc quyền xuất bản của công ty Stationers. Bất cứ ai xâm phạm quyền tác giả bằng cách in lậu hay phát hành sách in lậu đều bị xử phạt. Tiền bồi thường sẽ trả cho người giữ quyền tác giả và chính quyền. Thời hạn độc quyền của tác giả là 14 năm nếu xuất bản lần đầu sau ngày 10/4/1710, và 21 năm nếu xuất bản lần đầu sau ngày này.

Mặc dù có một số hạn chế như quy định mức giá tối đa của sách hay cấm nhập khẩu sách nước ngoài vào Anh (trừ sách tiếng Latin và Hy Lạp). Song nước Anh đã trở thành nước tiên phong trong cuộc đấu tranh bảo vệ quyền tác giả, một cuộc đấu tranh vẫn tiếp diễn đến ngày nay.

Trường Minh