Sự ra đời của quy định bảo vệ quyền tác giả

Quy định bảo vệ quyền tác giả chỉ xuất hiện sau những giằng co bảo vệ độc quyền in ấn ở châu Âu thế kỷ XV – XVII

Châu Âu là nơi đầu tiên xuất hiện những quy định bảo vệ quyền tác giả đối với các phát minh khoa học kỹ thuật và sách vở. Cuối thế kỷ XV, ảnh hưởng của phong trào Phục Hưng tại châu Âu thúc đẩy thị trường sách phát triển rất nhanh, đặt ra nhu cầu bảo vệ nhà xuất bản và các cửa hiệu bán sách.

Thoạt tiên những nhà xuất bản còn rất nhỏ và hầu hết vốn liếng của họ đều đầu tư vào một đợt xuất bản quyển sách nào đó. Kỹ thuật bảo mật thời bấy giờ còn kém nên tình trạng sao chép bản thảo quyển sách rồi tung bản lậu này ra thị trường diễn ra thường xuyên, gây thiệt hại nghiêm trọng cho nhà xuất bản và hiệu sách. Nhà xuất bản tìm giải pháp bằng cách thỉnh cầu chính quyền cho phép họ được độc quyền xuất bản một hay một số ấn phẩm nào đó trong thời hạn nhất định. Ví dụ như thành phố Venice (Ý) cho phép một nhà xuất bản Đức độc quyền in ấn các lá thư của Cicero và Pliny trong 5 năm.

Trong số nhà xuất bản được độc quyền in ấn, công ty Stationers ở nước Anh được hưởng nhiều ưu đãi nhất vì giữ thế độc quyền in ấn đối với tất cả các sách xuất bản ở Anh suốt thế kỷ XVI – XVII. Bất kỳ ai muốn xuất bản sách phải đăng ký với Stationers. Công ty công nhận người đó là chủ sở hữu văn bản này và không ai được phép sửa đổi nó nếu không có sự đồng ý của tác giả. Quy định bảo vệ quyền tác giả bắt đầu từ đây.

Tuy nhiên nhà nước Anh lợi dụng vị trí độc quyền của công ty Stationers để kiểm duyệt toàn bộ ngành xuất bản. Rất nhiều người phản đối điều này, trong đó có John Locke. Ông lập luận rằng liệu có công bằng và ích lợi không nếu không được phép sửa đổi cho chính xác, hay bình luận về các văn bản thời La Mã và trước đó, vì các tác giả thời đấy đã qua đời rất lâu và không ai được phép thay đổi những văn bản do công ty Stationer tuyên bố độc quyền in ấn?

Trang đầu của đạo luật Anne – đạo luật nhằm khuyến khích học tập

Nhờ vận động của John Locke và những trí thức khác, nghị viện Anh quốc từ chối đề nghị gia hạn độc quyền của công ty Stationers năm 1710. Thay vào đó, nghị viện ban hành đạo luật về quyền tác giả đầu tiên trên thế giới: Đạo luật Anne hay còn gọi là Đạo luật khuyến khích học tập. Luật này cho phép tác giả được độc quyền in và tái bản tác phẩm của mình, xóa bỏ thế độc quyền xuất bản của công ty Stationers. Bất cứ ai xâm phạm quyền tác giả bằng cách in lậu hay phát hành sách in lậu đều bị xử phạt. Tiền bồi thường sẽ trả cho người giữ quyền tác giả và chính quyền. Thời hạn độc quyền của tác giả là 14 năm nếu xuất bản lần đầu sau ngày 10/4/1710, và 21 năm nếu xuất bản lần đầu sau ngày này.

Mặc dù có một số hạn chế như quy định mức giá tối đa của sách hay cấm nhập khẩu sách nước ngoài vào Anh (trừ sách tiếng Latin và Hy Lạp). Song nước Anh đã trở thành nước tiên phong trong cuộc đấu tranh bảo vệ quyền tác giả, một cuộc đấu tranh vẫn tiếp diễn đến ngày nay.

Trường Minh

Tiểu sử Thánh Nicholas – Ông già Noel

Tiểu sử Thánh Nicholas – Ông già Noel

Ông già Noel (có thể viết là Ông già Nô-en) là nhân vật đóng vai trò như là một nhân tố gắn liền với mùa Lễ Giáng Sinh, giống như cây thông Noel vậy. Hình ảnh tiêu biểu của các ông già Noel là một ông già mặc bộ đồ màu đỏ viền trắng với chòm râu trắng và hai hàng ria dài, bộ mặt hóm hỉnh, tiếng cười “hô hô hô”, tồn tại trong nhiều văn hoá, đặc biệt ở các nước phương Tây.

Trong tiếng Anh, Ông già Noel được gọi là Santa Claus (Thánh Nicolas), xuất phát từ truyền thuyết về một nhân vật có thật, sống ở thế kỷ thứ 4 tên là Nicolas.

Tiếng Pháp gọi là Le Père Noel (nghĩa là Ông cha Noel) vì liên hệ nhiều đến lễ Noel.

Còn trong tiếng Việt, do không hiểu rõ nguồn gốc, thấy hình ảnh cụ già râu tóc bạc phơ xuất hiện vào Noel thì gọi là Ông già Noel cho tiện. Nhiều khi còn được gọi là Ông già Tuyết.

Người ta (đặc biệt là trẻ em) cho rằng Ông già Noel sống và làm việc ở Bắc Cực, nhiều bộ phim nổi tiếng của Hollywood như The Polar Express lại càng củng cố niềm tin thơ ngây này. Các quốc gia ở Bắc Âu như: Đan Mạch, Thụy Điển, Na Uy, Iceland đều tự nhận rằng, xưởng chế tạo đồ chơi của ông già Noel nằm ở quốc gia họ. Tuy nhiên, Phần Lan lại một mực cho rằng nhà ở thực sự của ông già Noel là tại Greenland nhưng cũng nhận ông già Noel về phần mình.

I. Thánh Nicholas là ai ?

Câu chuyện thật sự về ông già Noel bắt nguồn với Nicholas, một người sinh ra khoảng thế kỉ thứ 3 ở một ngôi làng tại Patara, vào thời điểm đó là một phần của Hy Lạp còn ngày nay là 1 tỉnh vùng ven biển Tây Nam của Thổ Nhĩ Kì.

Ông sinh ra trọng một gia đình giàu có. Cha mẹ của ông, những người đã nuôi dạy ông trở thành một người Thiên Chúa giáo sùng đạo, đã chết vì dịch bệnh khi ông vẫn con nhỏ. Đi theo lời dạy của Jesus, “Bán những gì mình có mà cho người nghèo”, Nicholas sử dụng toàn bộ tài sản thừa kế được để giúp đỡ người nghèo, người bệnh và người đau khổ. Ông đã giành cả đời minh để phục vụ Chúa và được mọi người bầu lên làm Giám Mục thành Myra khi ông vẫn còn trẻ (Dưới 50 tuổi)

Đức Giám Mục Nicholas nhanh chóng nổi tiếng khắp đất nước vì lòng hảo tâm của mình, vì sự quan tâm của ông với trẻ em và những người thủy thủ.

Dưới sự cai trị của hoàng đế La Mã Diocletian, kẻ bắt bớ tàn nhẫn những người Kitô hữu. Giám mục Nicholas chịu bách hại vì đức tin của mình. Ông bị tra tấn, bị đày đi và bỏ tù. Một thời gian sau, khi hoàng đế Constantine lên ngôi và cải quốc giáo sang Thiên Chúa Giáo, hoàng đế cho xóa bỏ mọi hình phạt và cáo trạng đối với các tù nhân tôn giáo. Nicholas trở về đảm nhiệm chức giám mục.

Vào năm 325, dưới lời hiệu triệu của hoàng đế Constantine, Nicholas cùng hầu hết giám mục trên thế giới quy tụ về dự Công Đồng Nicae. Tại đây ông cùng mọi người tranh luận về các lý luận thần học cũng như chỉnh đốn kinh sách, sau đó mọi người cùng kí vào cam kết tại Công Đồng Nicae.

1 năm sau, Nicholas qua đời tại Myra và được chôn trong thánh đường của giáo phận. Nơi chôn của ông, sau này người ta tìm thấy 1 thứ chất lỏng thơm trong quan tài kín bằng đá. Nó trở thành một trong các thánh tích đặc biệt nhất với tên gọi Manna of Saint Nicholas, theo tương truyền nó có khả năng chữa lành bệnh, điều này khiến sự sùng kính thánh Nicholas càng ngày càng lớn hơn. Ngày chết của thánh Nicholas, ngày 6-12 hằng năm là ngày lễ mở đầu Noel tại các nước Châu Âu.

Còn ở Việt Nam, do không hiểu rõ nguồn gốc, thấy hình ảnh cụ già râu tóc bạc phơ xuất hiện vào Noel thì gọi là Ông già Noel cho tiện. Nhiều khi còn được gọi là Ông già Tuyết.

Người ta (đặc biệt là trẻ em) cho rằng Ông già Noel sống và làm việc ở Bắc Cực, nhiều bộ phim nổi tiếng của Hollywood như The Polar Express lại càng củng cố niềm tin thơ ngây này. Các quốc gia ở Bắc Âu như: Đan Mạch, Thụy Điển, Na Uy, Iceland đều tự nhận rằng, xưởng chế tạo đồ chơi của ông già Noel nằm ở quốc gia họ. Tuy nhiên, Phần Lan lại một mực cho rằng nhà ở thực sự của ông già Noel là tại Greenland nhưng cũng nhận ông già Noel về phần mình.

Người Pháp thân mật gọi Ngài là “Le Père Noel” (ông cha Noel) vì ngài liên hệ nhiều đến lễ Noel, nhất là với trẻ em, đến nỗi sau khi Ngài qua đời đã lâu rồi, mà hình ảnh Ngài còn được lưu truyền cho hậu thế, đầu tiên là ở Châu Âu, rồi tới toàn thế giới qua bóng dáng một cụ già đẹp lão, râu tóc bạc phơ, mặc áo choàng đỏ, đội mũ chóp đỏ, lưng vác một giỏ lớn đây đồ chơi, bánh kẹo.

Người ta còn bày đặt để thi vị hóa, để mua vui cho trẻ em, bằng cách “bắt ông cha Noel đêm 24-12 phải chui qua lò sưởi vào phòng ngủ của các em, bỏ đồ chơi, bánh kẹo vào những chiếc giày các em để bên lò sưởi, hay bỏ vào những chiếc vớ (biết tất) mà các em treo ở chân giường”. Đúng ra là cha mẹ các em bỏ vào đó để khuyên dụ các em phải ngoan thì “Cha Noel” mới cho quà! Một kiểu giáo dục!

Song tới Việt Nam, bà con không hiểu rõ nguồn gốc, thấy hình cụ già râu tóc bạc phơ, gọi là Ông già cho tiện.

II. Các câu chuyện về thánh Nicholas

Cậu Nicolas, con trai duy nhất một gia đình qúy tộc giàu có ở Bắc Âu, từ nhỏ đã sống rất nhân hậu, đạo đức, quyết định đi tu, nhưng gia đình neo đơn, cậu phải ở lại nhà để phụng dưỡng cha mẹ già.

Một hôm đi ngang qua một gia đình lối xóm, Nicolas nghe thấy tiếng đàn bà con gái khóc. Cậu ngạc nhiên vì không hề nghe nói có ai đau ốm trong gia đình này? Tới gần, Nicolas nghe thấy cô con gái lớn, gia đình chỉ có hai con gái, vừa khóc vừa than thở rằng: vị hôn phu của cô không chịu làm đám cưới vì gia đình cô nghèo không có của hồi môn (số tiền cô dâu mang theo về nhà chồng). Nicolas lẳng lặng về nhà lấy một túi tiền vàng (thời xưa chưa có tiền giấy) đem sang. Cậu ném “choang” một tiếng vào cánh cửa đóng, rồi nấp sau bụi cây chờ xem kết quả.

Người cha gia đình ra mở cửa:

– Ai gọi cửa đó? Không có ai sao? Ồ túi tiền vàng của ai liệng vào đây? Lạy Chúa, ai liệng tiền vào nhà tôi thế này? Của ai đây?……

Không có ai lên tiếng. Ông đem túi tiền vào nhà mừng rỡ nói:

– Thôi đừng khóc nữa, Chúa ban cho rồi đây!

Thế rồi một tuần lễ sau, đám cưới cô chị được cử hành vui vẻ. Một thời gian sau, Nicolas cũng kín đáo giúp tiền gia đình này để đám cưới cô em được tốt đẹp. Nicolas còn giúp đỡ nhiều gia đình nghèo khó gặp hoạn nạn hay bệnh tật quanh vùng.

Sau khi cha mẹ đã qua đời, Nicolas vào chủng viện, rồi được thụ phong linh mục. Tài sản cha mẹ để lại, cha Nicolas dùng để cứu giúp những gia đình nghèo khó, bệnh tật, gặp hoạn nạn. Cha cũng đặc biệt lưu tâm tới những trẻ em nghèo. Nhất là vào dịp lễ Giáng Sinh, suốt trong thánag 12 mỗi năm, cha có thói quen đem bánh qùa, đồ chơi, tự tay phân phát cho trẻ em nghèo quanh vùng, cũng là để nhắc nhở mọi người là mùa Giáng Sinh đã tới. Từ đó, người ta gọi là Le Père Noel “ông Cha Noel”.

Sau này được tấn phong lên hàng Giám mục, và dù đã lớn tuổi, Ngài vẫn giữ thói quen thương yêu, giúp đỡ các trẻ em nghèo, hoặc gặp tai nạn.

Có một buổi sáng trời giá lạnh, Đức cha Nicolas bước vào một quán ăn nhỏ bên đường cách đô thị chừng 15km. Chủ quán nhận ra Đức giám mục liền chào Ngài. Đức cha hỏi: “Quán có gì ăn không?” Chủ quán thưa: “Dạ, có thịt, trứng và bánh mì, nhưng hết mất rượu vang. Xin Đức cha vui lòng ngồi nghỉ chờ con ít phút, con vào trong làng mua rượu”.

Chủ quán đi rồi, Đức cha Nicolas xuống bếp, mở nắp khạp thịt, vỗ vào hông khạp và gọi:

– Dậy đi, các con!

Thế là có ba bé trai lùng nhùng từ đống thịt tươi mới ướp muối, liền lại, sống lại và bước ra. Ngài chỉ chỗ cho ba đứa trẻ lấy quần áo mặc vào, rồi lên nhà trên ngồi vào bàn ăn chờ. Thì ra đó là ba bé trai nhà nghèo, chiều hôm trước đi mót lúa ngoài cánh đồng, bị đói lạnh, đã vào quán xin ăn, bị chủ quán giết chết, chặt ra bỏ vào khạp ướp muối để sẽ nấu món ăn bán cho khách. Thánh nhân biết được nên đã tới cứu các cháu.

Lát sau chủ quán về tới, giật mình trông thấy ba đứa bé anh đã giết chết, ngồi cạnh Đức giám mục. Anh sợ hãi qùy xuống trước mặt Ngài thú tội:

– Con nghèo quá nên đã làm bậy, xin Đức Cha tha tội cho con!

Ngài giải tội cho anh, lại còn cho anh một túi tiền để làm vốn và khuyên anh từ nay không được làm điều ác. Sau đó Ngài bảo anh dọn bánh mì, chiên trứng, bốn cha con ăn xong, Ngài dẫn ba đứa bé đi theo về trả lại cho gia đình và cấp dưỡng cho chúng được ăn học.

Những truyện về vị thánh giám mục này còn nhiều, nhưng điều chủ yếu muốn nói đến là Ngài rất gần gũi với lễ Giáng sinh, hay giúp đỡ dân nghèo, đặc biệt là bạn của các thiếu nhi. Dù khi còn ở gia đình, khi đã đi tu, khi làm linh mục hay khi đã thành giám mục, khi còn trẻ hay khi đã râu dài tóc bạc, mỗi mùa Giáng Sinh về Ngài Nicolas lại mang trên lưng một bao lớn bánh mì đầy ắp, đem tới từng nhà chia cho trẻ em nghèo để chúng mừng lễ Giáng sinh. Trẻ em Pháp reo lên: Le Père Noel est là!” (Cha Noel kia rồi!).

Pháp có bài ca “Petit Papa Noel”, còn Anh và Hoa Kỳ thì “Santa Claus is Coming to Town” (Thánh Nicolas đang tới đô thị) và “Mama Sita, I am looking for Santa Claus, It’s Christmas Day” (Má Sita ơi, con đang chờ Bố Nicolas, Lễ Giáng Sinh tới rồi).

Thánh Nicholas – Chuyện Chưa Kể –
Khi Ông già Noel nổi nóng !

Bên cạnh hàng nghìn câu chuyện về lòng nhân hậu của thánh Nicholas – ông già Noel , thứ mà ít ai có thể ngờ được đó là hình ảnh một vị thánh xưa giờ nổi tiếng vì sự cam chịu và tính nhân hậu thương người lại … nổi nóng và đánh người

Số là vào năm 325, khi vua Constantine triệu tập công đồng Nicae lần I , cũng là công đồng đầu tiên nhằm hợp nhất Giáo Hội. Hơn 300 giám mục từ khắp thế giới Kitô giáo đến dự để cùng tranh luận về bản chất của Ba Ngôi. Đó là câu hỏi thần học quan trọng nhất của thời kì.

Arius, một nhà thần học, người đã giảng dạy rằng Jesus không ngang hàng với Chúa Cha … Tại Công Đồng, Arius tiếp tục đưa ra các luận điệu đó và nhấn mạnh lời nói của mình như để buộc mọi người đều tin, các giám mục không tỏ thái độ gì nhưng vẫn chăm chú lắng nghe 1 cách tôn trọng.

Khi Arius ngày càng lấn tới hơn đến những phát ngôn mang tính báng bổ, như Jesus chỉ là 1 thứ gì đó thần thánh hơn do Chúa Cha tạo nên… giám mục Nicholas ngày càng bồn chồn hơn. Cuối cùng, Nicholas không thể giữ được bình tĩnh, ông đi băng qua gian phòng và đến trước Arius, và tát 1 cú thẳng mặt Arius. Thật không thể tin được là 1 giám mục lại không giữ được bình tĩnh và hành xử như thế ở một cuộc họp quan trọng lớn lao như vậy.

Họ đem Nicholas đến trước hoàng đế Constantine, hoàng đế nói rằng đó là hành động phi pháp khi tấn công một ai đó trước sự hiện diện của Hoàng đế, nhưng trong trường hợp này, các giám mục nên tự mình quyết định hình phạt thỏa đáng cho Nicholas

Các giám mục tước bỏ phẩm phục của giám mục của Nicholas, xích ông lại và đưa vào nhà ngục. Điều đó khiến Nicholas không thể tiếp tục dự Công Đồng. Khi Công Đồng kết thúc, thì số phận của Nicholas sẽ được định đoạt.

Nicholas trong ngục, cảm thấy nhục nhã vì những gì đã làm và cầu nguyện để xin được tha thứ. Truyện kể rằng Jesus và Đức Mẹ đã hiện ra và hỏi: “Tại sao con lại bị nhốt ở đây ? ” , Nicholas trả lời: “Vì tình yêu của con cho các ngài ” . Sau đó Jesus đưa 1 quyển Kinh Thánh cho Nicholas, còn Maria đưa cho Nicholas 1 dây phép Omophorion (1 phần của trang phục giám mục). Lúc này khi đã được bình an và thinh lặng, Nicholas đọc kinh thánh đến sáng.

Khi cai ngục đến vào buổi sáng, thấy dây xích nằm trên sàn nhà và Nicholas khoác dây phép giám mục, thinh lặng đọc sách thánh, người này truyền tin đến cho Hoàng đế. Khi Constantine nghe được, ông liền cho thả Nicholas và phục chức giám mục thành Myra cho ông.

Sau đó, Công Đồng Nicae cùng lên án lạc thuyết Arius và lập tuyên bố chung bằng Tín Điều Nicae ( Nicene Creed) , thứ mà cho đến ngày nay đa phần người Kito giáo vẫn đọc mỗi ngày Chúa Nhật.

Tranh vẽ Công Đồng Nicae, Hoàng Đế Constantine ngồi giữa, góc dưới bên trái là hình Nicholas tát Arius

Tổng hợp những danh nhân lịch sử chết vì ăn nhậu

Tổng hợp những danh nhân lịch sử chết vì ăn nhậu

Tổng hợp các danh nhân lịch sử chết vì ăn nhậu hoặc cái chết có liên quan đến ăn nhậu. Tất nhiên, ở đây có lẽ chỉ là một số ít. Ngoài ra còn nhiều người nữa chưa thống kê được hết. Bia rượu trước giờ là nguyên nhân nguy hiểm cho rất nhiều người. Kể cả người là anh hùng cái thế hay quyền uy vô hạn cũng có thể chết vì nó.

1. Tướng Cleitus Đen – Người cứu mạng vua Alexanderos Đại đế :

Cleitus the Black là người đã có quan hệ bạn bè thân thiết với vua Alexanderos từ thời niên thiếu, từng theo vua vào sinh ra tử nhiều phen, đóng góp rất lớn vào cuộc chinh phục Ba Tư. Cleitus đã cứu mạng của Alexanderos tại trận Granicus năm 334 TCN. Trong trận này, quân Ba Tư đã dàn trận sẵn bên bờ sông chờ quân Macedonia. Bất chấp tất cả, Alexanderos đích thân cùng đội kỵ binh vượt sông. Những binh sĩ tinh nhuệ nhất phía Ba Tư dồn về hướng Alexanderos, thống chế Ba Tư Spithridates đã đánh trúng Alexanderos một rìu làm cho Alexanderos ngã và bị thương ở đầu, choáng váng. Khi Spithridates ra đòn kết liễu thì bị Cleitus chặt đứt cánh tay và hạ sát luôn.

Sau tất cả những thành công trên chiến trường, vua Alexanderos đại đế tỏ ra tự mãn. Ông tôn sùng văn hóa Ba Tư, xao nhãng truyền thống Macedonia và tự cho mình tài giỏi hơn vua cha Philipos II. Trong một buổi tiệc rượu khoảng năm 328 TCN, khi Alexanderos đang khoe khoang về bản thân thì Cleitus châm vào rằng vua Alexanderos không xứng đáng là vua Macedonia ( tất nhiên là lúc này cả hai đều say mèm rồi ). Vua Alexanderos nổi xung lên và hai người cãi nhau dữ dội. Cuối cùng, Cleitus lĩnh trọn một mũi lao do Alexanderos phóng và ngẻo.

2. Hổ tướng Nam Cung Trường Vạn nước Tống :

Thời Xuân Thu, nước Tống có Nam Cung Trường Vạn nổi tiếng là người có sức khỏe địch muôn người nên được vua Tống Mẫn Công tin dùng, cho làm đại tướng. Nam Cung Trường Vạn và Tống Mẫn Công là người cùng trang lứa nên cũng là một đôi bạn thân.

Khi nước Tề và nước Lỗ có mâu thuẫn, nước Tống đã về phe của Tề, liên binh tiến đánh nước Lỗ. Liên quân Tề – Tống chia làm hai cánh mà tiến. Nam Cung Trường Vạn ỷ vào sức khỏe nên bày binh lộn xộn, bị công tử Yến nước Lỗ đánh úp. Quân Tống tan chạy hết, một mình Nam Cung Trường Vạn bị vây, trúng tên ngã ngựa và bị bắt làm tù binh.

Về sau, hai nước Lỗ và Tống lại hòa thuận nên vua Tống Mẫn Công xin Lỗ trả Nam Cung Trường Vạn. Vua Tống Mẫn Công cậy chỗ thân thiết nên không giữ lễ, nhiều lần trêu chọc Nam Cung Trường Vạn. Khi Trường Vạn về ra mắt, vua Tống Mẫn Công trêu đùa : “Ngày trước ngươi là tướng, ta rất mực kính yêu. Nhưng nay ngươi là tù binh nước Lỗ, ta không còn kính yêu nữa”. Nam Cung Trường Vạn hổ thẹn đỏ mặt, cáo lui.

Mặc dù được quan Đại phu Cửu Mục khuyên can nên giữ lễ vua tôi, nhưng Tống Mẫn Công không nghe lời. Tống Mẫn Công sai Nam Cung Trường Vạn làm trò ném kích mua vui. Cung nhân nghe nói cũng muốn xem. Thế là khi rảnh rỗi Tống Mẫn Công lại sai Trường Vạn biểu diễn cho cung nhân của vua xem. Trường Vạn ném kích cao lên mấy trượng rồi chờ kích rơi xuống mà dùng tay bắt, lần nào cũng bắt trúng. Cung nhân ai nấy đều thán phục. Tống Mẫn Công thấy vậy sinh lòng ghen tức, sai bày bàn cờ đánh với Nam Cung Trường Vạn, ai thua thì uống một bát rượu phạt lớn.

Vốn Tống Mẫn Công giỏi đánh cờ, còn Nam Cung Trường Vạn là hạn võ biền nên thua liền năm lượt, uống hết năm bát rượu. Khi đã ngà ngà say Trường Vạn vẫn xin đánh tiếp. Vua Tống Mẫn Công mới nhân đó mà khích bát : “Tù nhân thì ắt phải thua. Dù đánh thêm mấy ván cũng chẳng thắng nổi.” Trường Vạn căm tức nín nhịn.

Vừa lúc ấy thì có thiệp của sứ giả nhà Chu báo tang Chu Trang Vương. Tống Mẫn Công nhận được thiệp bèn nói : “Thế là ta phải sai sứ đến triều Chu báo tang và chúc mừng vua mới”. Nam Cung Trường Vạn đang say rượu mới tâu : “Tôi nghe kinh đô nhà Chu đẹp lắm mà mắt chưa từng thấy, xin chúa công cho tôi đi sứ”.

Tống Mẫn Công nghe vậy vừa cười vừa nói : “Khi nào nước Tống không còn ai nữa thì mới sai tù nhân đi sứ”. Các cung nhân đều cười ầm lên. Nam Cung Trường Vạn bị trêu chọc hết lần này đến lần khác, lại đang say rượu nên không kìm nén nỗi nữa, giận dữ mặt đỏ bừng bừng. Trường Vạn lớn tiếng quát : “Hôn quân vô lễ. Ngươi phải biết tù nhân có thể giết người được”.

Tống Mẫn Công nghe xong cũng nổi giận nói : “A ! Thằng tù nhân ! Mày dám nói càn đến thế sao ?”. Nói xong, Tống Mẫn Công giật kích của Trường Vạn định đâm. Nam Cung Trường Vạn liền lấy bàn cờ phang liên tiếp vào đầu Tống Mẫn Công chết tươi. Cung nhân sợ hãi bỏ chạy tán loạn.

Nam Cung Trường Vạn cầm kích ra khỏi cung, đến cửa thì gặp đại phu Cửu Mục hỏi vua Tống Mẫn Công đâu. Trường Vạn đáp : “Hôn quân vô lễ, ta đã giết rồi. Chớ hỏi làm gì”. Cửu Mục còn tưởng Trường Vạn say rượu nói xàm nên cười hỏi : “Uống bao nhiêu rượu mà say đến thế ?”. Trường Vạn lại đáp : “Ta không say rượu, ta nói thật đấy”. Nói xong đưa tay be bét máu cho xem. Cửu Mục thất kinh mắng : “Đồ phản nghịch giết vua ! Tội ấy khó dung !”. Mắng rồi Cửu Mục lao vào đánh Trường Vạn, lại bị Nam Cung Trường Vạn đấm một phát vào đầu. Đầu Cửu Mục vỡ nát ra từng mảnh, răng gãy bắn ghim sâu vào cánh cửa. Thái tể Hoa Đốc hay tin dẫn quân đến bắt cũng bị Nam Cung Trường Vạn xáng một kích chết không kịp ngáp.

Nam Cung Trường Vạn sau khi một mình đồ sát cả vua lẫn đại phu, thái tể thì tôn công tử Du lên làm vua nước Tống. Quần thần nước Tống và các công tử khác của nước Tống đều nổi lên chống lại, liên kết với khắp các nước chư hầu để đánh Nam Cung Trường Vạn. Công tử Nghị Thuyết lãnh đạo ba quân đánh bại Nam Cung Trường Vạn, giết chết công tử Du. Nam Cung Trường Vạn một thân một mình đón mẹ chạy sang nước Trần lánh nạn, một người một chiến xa mở đường máu chạy dài từ nước Tống sang nước Trần, không ai địch nổi.

Sang đến nước Trần, Nam Cung Trường Vạn được dung nạp vì Trần và Tống vốn đối nghịch. Nhưng rồi công tử Nghị Thuyết, lúc này đã lên ngôi gọi là Tống Hoàn Công đem lễ vật đút lót xin giao người. Nước Trần đồng tình nhưng vẫn sợ sức của Nam Cung Trường Vạn không ai địch nổi. Vua Trần Tuyên Công mới theo kế công tử Kết nước Trần giả vờ trọng đãi Trường Vạn. Công tử Kết làm thân với Nam Cung Trường Vạn, rồi bày tiệc chuốc rượu say Trường Vạn. Xong rồi công tử Kết dùng da dê quấn người Nam Cung Trường Vạn, dùng gân trâu trói bên ngoài thật chắc đem gởi cho vua Tống Hoàn Công. Về đến gần kinh thành Tống thì Nam Cung Trường Vạn tỉnh rượu vùn vẫy rách cả da dê, binh sĩ Tống thấy vậy lấy gậy đập gẫy cả xương sống.

Tống Hoàn Công sai lóc thịt Nam Cung Trường Vạn làm mắm, chia cho các quan ăn.

Vậy là Nam Cung Trường Vạn có hai lần say rượu nổi tiếng. Lần thứ nhất ngà ngà say nên giết mỗi vua, đại phu và thái tể. Lần thứ hai say rượu hết biết trời trăng nên bị bắt giết :v Anh hùng một thời bỗng chốc trở thành phản tặc bị khắp các nước chư hầu truy sát. Cũng chỉ vì say rượu thiếu kìm chế mà ra !!!

3. Vua Attila of the Huns – Vua Hung Nô chết vì quá chén trong tiệc cưới

Người Hung Nô là một tộc người du mục sống ở vùng thảo nguyên Trung Á. Vào thế kỷ thứ 5, Hung Nô đã phân hóa thành Bắc Hung Nô và Nam Hung Nô. Vua Attila là Thiền vu của Bắc Hung Nô, hay còn gọi là Huns theo cách gọi của người Châu Âu. Dưới sự trị vì của Attila, người Hung Nô đã tạo được một liên minh bộ lạc du mục rộng lớn với các sắc dân Slav, Vandal, Goth … tổ chức một cuộc xâm lăng quy mô lớn vào đế chế Đông La Mã. Cuộc xâm lăng đã tàn phá đế chế lừng lẫy này trầm trọng. Vua Attila nổi lên như một bá chủ thực sự với lãnh thổ trải dài từ Á sang Âu, là nổi kinh hoàng của người La Mã.
Chinh chiến nhiều trận, nhưng vua Attila lại không chết trong chiến trận mà có một cái chết lãng nhách. Trong tiệc cưới vợ bé tên là Idico, tại thung lũng Tisza, Hungary vua Attila đã nhậu say bí tỉ và ngủ gục ngay tại bàn nhậu. Sau đó, vua bị chảy máu cam và chết ngạt trong chính máu của mình. Cái chết này đánh dấu sự tan rã nhanh chóng của liên minh du mục, còn người La Mã thì có thể thở phào sống yên ổn.

4. Tín Lăng Quân Vô Kỵ, công tử nước Ngụy – Lưỡng quốc tướng quân mà quân Tần khiếp sợ bậc nhất

Vô Kỵ người nước Ngụy, con út Ngụy Chiêu Vương, được phong là Tín Lăng Quân.

Tín Lăng Quân nổi danh khắp thất hùng với chiến công giải cứu hai nước Triệu và Ngụy khỏi các cuộc tấn công của quân Tần. Ban đầu Tín Lăng Quân là thần tử của nước Ngụy. Nhưng khi quân Tần vây nước Triệu đã giả chiếu của vua Ngụy để lấy binh phù thống lĩnh quân đội nước Ngụy. Sau đó ông dẫn quân Ngụy giải cứu cho nước Triệu, đánh quân Tần một trận tơi bời. Cứu xong nước Triệu, Tín Lăng Quân trả binh quyền lại cho vua Ngụy, ở hẳn nước Triệu. Một thời gian sau, nước Tần lại đem quân đánh nước Ngụy. Lúc này quân Ngụy liên tiếp thua trận, lại cho sứ sang Triệu cầu cứu Tín Lăng Quân. Ông bèn trở về nước Ngụy lĩnh ấn đại tướng, đánh lui quân Tần. Oai danh của Tín Lăng Quân lúc này vang dội đến nổi có thể hiệu triệu quân khắp các chư hầu chống Tần, đánh quân Tần đến tận ải Hàm Cốc. Quân Tần từ thế công trở thành thế thủ, không dám xuất quân đánh nước nào nữa. Người người mang binh pháp đến dâng, Tín Lăng Quân biên soạn lại thành bộ Ngụy Công tử binh pháp.

Sau vua Ngụy là An Ly Vương trúng kế ly gián của sứ giả Tần, ghen tỵ và nghi ngờ Tín Lăng Quân nên đã thay tướng. Tín Lăng Quân về vườn, chán nản thả sức ăn chơi hưởng lạc, uống rượu thì suốt đêm, xong lại chơi gái. Được bốn năm thì chết vì rượu. Sau khi Tín Lăng Quân chết, quân Tần lập tức phát binh đánh Ngụy, được 10 năm thì nước Ngụy diệt vong. Các chư hầu còn lại sau đó cũng lần lượt bị Tần thôn tính. Con người như Tín Lăng Quân, được coi như là lá chắn cuối cùng giúp các nước chư hầu cuối thời Chiến Quốc chống lại sự bành trướng của nước Tần, là anh hùng bậc nhất thời kỳ này. Rốt cuộc chết vì rượu và gái

5. Thi thánh Đỗ Phủ chết vì bội thực, kết cục buồn thảm của kiếp thi nhân.

Đỗ Phủ ( 708 – 766 ) là nhà thơ nổi tiếng của đế chế Đường ( Trung Quốc ). Ông được người Trung Hoa phong làm Thi Thánh, sánh ngang với Thi Tiên Lý Bạch, được coi là hai nhà thơ xuất sắc nhất lịch sử Trung Hoa.

Tuy nổi danh về văn học như thế, nhưng Đỗ Phủ lại có một cuộc sống lang bạt nghèo khổ. Cuộc đời ông tuy có đôi lần dấn thân vào quan lộ nhưng bị nhiều lý do nên ông chỉ được phong làm những việc bất đắc chí, danh phận thấp hèn. Chán nản, Đỗ Phủ rời chốn quan trường sống đời phiêu bạt trên một chiếc thuyền con rách nát. Số phận của ông gắn liền với những nhân dân đế chế Đường bị đày ải trong đói khổ và loạn lạc bởi cuộc chiến giữa các đội quân triều đình và các đội quân khởi loạn của An Lộc Sơn, Sử Tư Minh.

Năm 766, ông cùng gia đình lang bạt tới Lỗi Dương, Hồ Nam, gặp cảnh nước lụt đói kém.

Theo sách Cựu Đường Thư chép :

“Trong thời gian chạy loạn Phủ từng đi thuyền dạo chơi ở Nhạc Miếu, bị nước lớn ngăn cản, cả 1 tuần [ tuần xưa là 10 ngày ] không được ăn, quan Lệnh huyện Lỗi Dương biết được, bèn tự chèo thuyền đi đón Phủ về, cho ăn thịt bò uống rượu trắng, trong đêm [ ăn no ] thì chết ở Lỗi Dương, lúc 59 tuổi, bấy giờ là năm Vĩnh Thái thứ 2 “. ( dẫn theo Ẩn Sĩ – Diễn đàn LSVN )

Sách Minh Đường Tạp Lục chép kỹ hơn :

“Khi Đỗ Phủ lang bạt tới Lỗi Dương, Hồ Nam thì gặp phải lũ lớn, suốt 10 ngày liền không được ăn uống miếng nào. May sao, sau đó được quan huyện lệnh vùng đó phái thuyền tới cứu đồng thời tặng cho Đỗ Phủ một ít thịt bò và rượu trắng.

Sau hơn 10 ngày phải nhịn đói, thông thường phải ăn từ từ thì dạ dày mới có thể thích ứng kịp và mới có thể tiêu hóa được. Tuy nhiên, do quá đói, Đỗ Phủ đã ăn ngấu nghiến hết chỗ thịt bò được tặng. Thịt bò vốn không phải là thứ đồ ăn dễ tiêu hóa. Kết quả dạ dày của Đỗ Phủ không chịu đựng được, dẫn tới cái chết của Đỗ Phủ. Năm đó ông 59 tuổi”.

Cái chết của Đỗ Phủ là chết no hoặc trúng thực theo cách gọi dân gian. Theo Đông Y thì rất kỵ việc đói lâu no dồn. Đỗ Phủ cả cuộc đời khổ sở, không biết ăn được mấy bữa rượu thịt. Cuối cùng lại chết vì rượu thịt. Âu cũng là một chuyện đáng thương tâm !

6. Thi tiên Lý Bạch chết trong cô độc :

Kỳ trước đã nói về cái chết của Thi thánh Đỗ Phủ, chết vì thịt bò và rượu. Bây giờ lại nói về Thi tiên Lý Bạch, cũng chết vì rượu.

Lý Bạch ( 701 – 762 ) sống vào đời nhà Đường là nhà thơ nổi tiếng hàng đầu lịch sử Trung Hoa. Ông là tiến bối của Đỗ Phủ. Điều may mắn cho Lý Bạch là thời trai trẻ ông sống là lúc thịnh trị của đế chế Đường, đó là những năm đầu thời Đường Huyền Tông. Nhờ có tài năng xuất chúng, Lý Bạch đi đến đâu cũng được người đời mếm mộ và đón tiếp. Do đó, ông tha hồ ngao du khắp nơi, tay kiếm tay bầu rượu ngâm thơ và kết giao bạn bè.

Có thời gian Lý Bạch được tiến cử vào cung làm quan. Nhưng do tính cách nhậu nhẹt bê bối, không kiêng nể ai nên bị thất sủng. Ông bèn vác bầu rượu tiếp tục lang thang. Đến năm 755 thì loạn An Sử nổ ra, Lý Bạch không còn sống được cuộc sống như trước đây nữa mà phải sống ẩn dật nơi thâm sơn. Rồi sau vì kết giao với kẻ làm phản mà bị liên lụy, suýt thì bị chém nhưng được giải oan.

Trong một đêm trăng tròn tại sông Thái Trạch, huyện Đang Hồ, Lý Bạch ăn nhậu say xỉn rồi nhảy xuống nước mò trăng. Sau đó người ta lại phải xuống sông vớt xác ông. Có người nói ông tự tử, người nói ông bị tâm thần. Nhưng có điều chắc chắn là Lý Bạch chết trong lúc say xỉn.

theo FB Văn Hóa Lịch Sử

Bài báo năm 1975 lột tả sức mạnh bôi nhọ đối thủ của truyền thông Mỹ

Bài báo năm 1975 lột tả sức mạnh bôi nhọ đối thủ của truyền thông Mỹ

Sự kiện giải phóng Sài Gòn ngày 30/04/1975 là một mốc son quan trọng trong lịch sử Việt Nam. Trong những ngày cuối cùng của Sài Gòn đã phát sinh hai luồng ý nghĩ khá đối nghịch của dân cư Sài Gòn. Một đằng hân hoan, chờ đợi ngày đất nước thống nhất, kết thúc chiến tranh. Một đằng lo âu, sợ hãi về một cuộc tắm máu Sài Gòn của “Việt Cộng man rợ”. Đó là kết quả của sự tuyên truyền nhiều năm trời tại miền Nam. Không khí Sài Gòn trước, trong và sau giờ khắc giải phóng được miêu tả khá sinh động trong bài báo của nhà báo người Ý Tiziano Terzani. Bài báo nằm trong cuốn sách Thành Phố Hồ Chí Minh – Giờ Khắc Số 0 do nhà báo Tây Đức Borries Gallasch tổng hợp các phóng sự trong sự kiện 30/04/1975. Diễn đàn Lịch sử Việt Nam mời các bạn đọc qua để hiểu thêm về một hiện tượng lịch sử.

VÀ HÃY XEM, VIỆT CỘNG CŨNG LÀ CON NGƯỜI
Tiziano Terzani viết cho báo L’Expresso

Người đàn ông khóc nức nở. Ông cầm tờ giấy trên tay, mà nó có thể là giấy thông hành đi vào vùng an ninh hoặc sau đó mấy giờ nó trở thành cái chết của ông ta.

“Người cầm tờ giấy này là người phục vụ trung thành trong ngôi nhà tôi. Anh ta tin tưởng vào giá trị của thế giới tự do, và nếu anh ta rơi vào tay Cộng sản, chắc tính mạng anh ta sẽ gặp nguy hiểm. Xin quý ngài hãy dành cho anh ta mọi sự giúp đỡ có thể được”.

Bức thư do một thương gia Mỹ ký tên mà trước đó một tuần ông đã rời khỏi Sài Gòn, và ông trả công cho anh nấu bếp của mình bằng bức thư trên gửi đại sứ quán Hoa Kỳ.

Người đàn ông tội nghiệp không thể chuyển bức thư ngỏ nói trên. Đó là ngày 30-4. Chiếc máy bay trực thăng Mỹ cuối cùng đã cất cánh từ nóc tòa nhà màu trắng của đại sứ quán, trên máy bay là những lính thủy cuối cùng đã rút về hướng “Elipad” trong tư thế chuẩn bị chiến đấu. Họ với lưỡi lê tuốt trần đã đẩy lùi số đông hoảng loạn những người Việt Nam khiếp sợ. Khói bốc lên từ cửa sổ, những kẻ hôi của tràn vào tầng hai. Thảm bị xé ra, bàn ghế bị đập phá, tất cả những gì không đóng chặt bằng đinh, bằng con tán đều bị lấy đi từ văn phòng của đại sứ Martin.

“Hãy giết tôi đi! Hãy giết tôi đi!” người đầu bếp lầm bầm, đưa bàn tay run rẩy lên cổ như cầm một con dao.

Buổi tối, ông đi đến khách sạn và không tin tôi không phải người Mỹ. Ông ta như không muốn rời lấy tôi.
Hàng ngàn người Việt Nam khác đã nghĩ như ông, họ tin mọi hy vọng của mình đã tan vỡ, tính mạng của họ sẽ kết thúc trong bể máu. Người Mỹ đã gieo vào đầu óc họ hàng tháng trời về điều ấy. Và với hệ thống máy tính vô hồn, họ đã công bố lời nhận xét với kích cỡ khổng lồ rằng người dân sẽ bị sát hại trong trường hợp Cộng sản tiếp nhận chính quyền.

Không riêng cảnh sát, sĩ quan, binh lính chống Cộng sản sợ trả thù, mà cả viên chức, thư ký các công sở Mỹ, gái mãi dâm, những cô gái bar sống bằng đô la Mỹ, tài xế và liên lạc của các gia đình Mỹ – bất cứ ai, bằng cách này hay cách khác, đã gần người Mỹ – đều lo sợ bị tố giác lúc Thiệu rút lui, Việt Nam cộng hòa không còn tồn tại, Mỹ bắt đầu chương trình di tản. Có những người lúc đó bán hết tài sản để mong kiếm được một chỗ ngồi trong “con chim tự do” để bay sang đảo Guam.

Có tin đồn “mỗi người Mỹ được dắt theo 10 người Việt Nam”. Và bắt đầu tăng giá. Vé máy bay do đại sứ quán Mỹ bán ra, đã nhanh chóng leo thang lên 1.000 USD/vé. Chiếc vé thứ 25 đã đạt con số 3.000.

Những người Mỹ cuối cùng, những thương gia nhỏ ở tuổi trung niên, điển hình đối với các quán bar – trong chiếc quần tím, áo hoa và đôi giày cùng dây thắt lưng màu trắng, gương mặt sưng húp bởi nước chè Sài Gòn – họ tậu được một khối tài sản bằng cách họ bán vé cho những cô gái mãi dâm, cho những cô bán bar hoặc những thành viên gia đình giàu có không thể tìm được con đường nào khác để chạy ra nước ngoài.

Rất nhiều người loại này không bao giờ xuất hiện trở lại, bởi vì sau khi kiếm được cả đống tiền không thấy vết tích của những người Mỹ đâu cả. Một số người ( Mỹ ) khác thực tế đã dắt theo một số người, và có một người Mỹ bị bắt trong đại sứ quán bởi vì anh ta đang tìm cách kiếm thêm nhiều vé máy bay cho “gia đình” mình. Anh ta đã đi Guam đến 3 lần với nhóm người Việt Nam ( và đã trở lại Sài Gòn ) mà mỗi đầu người phải trả cho anh 2.000 USD ).

Một người Mỹ khác bỏ túi 6.000 USD từ chủ một cửa hàng dụng cụ thể thao để đưa tên người này vào danh sách điệp viên đặc biệt của CIA do anh tập hợp. Người đàn ông này thực ra chỉ có việc bán các cây tennis cho người Mỹ. Cuối cùng anh cũng thoát được., ra khỏi Việt Nam, cùng một túi bạc đô la và vàng. Có một chiếc xe chạy qua nhà anh, từ đó chạy tiếp đến một địa điểm bí mật khác, tại đây những điệp viên thực thụ được bốc lên máy bay trực thăng.

Đã từ lâu, người Mỹ đã thiết lập một kế hoạch di tản khẩn cấp nhưng thời gian biểu đã bị cuộc tiến công của Cộng sản phá hỏng. Họ cho rằng cho đến ngày 13/05 có thể bốc người di tản đi hết. Nhưng ngày 30/04 tất cả đã muộn màng, còn cả đống người quan trọng nhất của họ còn bị kẹt lại đây mà tương lai bị cuộc sống họ đang bị đe dọa thực sự.
Nhà số 7, đường Hồng Thập Tự, CIA đã thiết lập một đài phát thanh bí mật, làm như đó là cái loa của Việt Cộng, truyền bá những thông tin thất thiệt. Ví dụ như nói tướng Giáp đã chết năm 1972 và gần nhất là đưa tin có cuộc đảo chính ở Hà Nội và sự can thiệp của Trung Quốc vào Bắc Việt Nam. Trong số nhân viên của trung tâm CIA này, chỉ có một ít thư ký cùng với người Mỹ chuyển đi nơi khác, bởi vì những điệp viên quan trọng còn phải bảo đảm đài hoạt động đến phút cuối cùng không thể chạy kịp đến nhưng nơi mà máy bay cất cánh.

Khi tin mật hiệu “ mẹ muốn đón con về nhà “ được truyền đi qua làn sóng đài quân sự Mỹ vào ngày 29/04 mà một nhóm người Việt Nam và ngoại quốc được tuyển chọn chờ đợi từ lâu, thì trên nóc nhà tòa đại sứ có đông người đang chờ lên máy bay trực thăng, tại đây đã bị hàng trăm người Việt Nam khác vây chặt mà từ lâu họ đã biết đến kế hoạch này. Tại tòa nhà Liên hiệp Pháp, họ thu vé vào cổng mỗi người 1 đôla trước khi được bước lên cầu thang. Từ sân thượng khách sạn Caravelle người ta có thể nhìn thấy những ánh chớp tiếng nổ tại Tân Sơn Nhất và ánh đèn đỏ chớp tắt đột ngột, đường viền đen của những người nhảy lên máy bay.

Đêm ngày 29/04 và 30/04 thật đáng sợ. Chạy trốn đâu và như thế nào. Hàng ngàn người trong một Sài Gòn câm lặng cùng lúc bị ảm ảnh bởi một suy nghĩ như nhau. Thành phố trong thời gian dài đã biết sống dưới sự cai trị của những ông chủ khác nhau. Trong nhiều phương tiện nơi đây đã là một thành phố mãi dâm, làm nghề lau chùi giầy ủng cho binh lính, thậm chí bán vợ mình cho đội quân chiếm đóng. Một thành phố thực sự chưa bao giờ nếm trải chiến tranh, nhờ nó để sống và nỗi đau chiến tranh không hề đi qua họ. Thành phố này đang soi mình vào chặng cuối cùng. Sự kết thúc của một lối sống, của cách thức sống còn.

Nhiều năm trời, tuyên truyền của người Mỹ đã truyền bá hình ảnh “kẻ thù” khủng bố vô nhân tính. Những tranh áp phích mô tả sự ghê rợn từ cuộc sống dưới chế độ Cộng sản treo khắp nơi trong thành phố, và giờ đây những người Cộng sản – những Việt Cộng không thấy hình dáng, đang đứng trước ngưỡng cửa Sài Gòn. Những gia đình này cũng như ở khắp miền Nam Việt Nam, họ có những người thân, anh chị em, cha mẹ ở phía bên kia vĩ tuyến 17 hoặc ở trong vùng giải phóng. Nhưng những người này đã quên hay làm bộ quên rằng tất cả họ đều là người Việt Nam. Dù rằng sau năm 1954, tại Bắc Việt Nam đã xảy ra một chuyện gì đó, một chuyện huyền bí sợ hãi bị che đậy. Việt Nam khác là một thế giới xa cách, một phong cảnh trên mặt trăng. Đối với đa số người Sài Gòn, người Việt Cộng duy nhất mà họ có thể nghe thấy được chút gì, con người mà bộ máy tâm lý chiến của Thiệu giới thiệu trong dáng của một xác chết đã thối rữa nằm bên lề đường làng, hoặc người đại diện Việt Cộng “điển hình” trên những áp phích dán đầy đường. Đây là những con người đáng căm ghét, những người đã đốt nhà thờ, chùa chiền và sát hại dân thường.

Cả thế giới Sài Gòn nói về vị linh mục ở Ban Mê Thuộc hình như bị Việt Cộng chặt làm ba khúc sau khi giải phóng Tây Nguyên. Lúc bấy giờ không ai biết rằng về linh mục đã trở về thành phố còn nguyên vẹn sau đó mấy ngày.

“Tại đây sẽ còn nghiêm trọng hơn cả trăm lần so với ở Huế trong dịp Tết Mậu Thân 1968” , đó là lời nói thường xuyên của nhiều người. Chỉ một số người biết rằng đa số người thiệt mạng ở kinh đô cũ bị nghi ngờ do Cộng sản, thực sự là do bom đạn Mỹ giết chết, mà Việt Cộng đã chôn cất trong những cái mộ tập thể cùng với đồng đội đã hy sinh.

Theo ý kiến của người ta, ban chỉ huy hành quyết đi khắp thành phố để tìm cho ra những người là vật hy sinh của họ. Và có người còn cố tìm cho ra ý do để lo sợ mình sẽ bị phát hiện. Những người Công giáo miền Bắc chạy trốn Cộng sản di cư vào Nam năm 1954 lo sợ họ sẽ bị cưỡng bức đi bộ theo đường mòn Hồ Chí Minh trở ra Hà Nội.

Những cô gái trẻ tưởng rằng sẽ bị ép buộc lấy thương binh Việt Cộng. Một người thông dịch viên Việt Nam mà người ta nghĩ là tay chân của cảnh sát theo dõi hoạt động của phóng viên nước ngoài tin chắc anh ta sẽ không sống sót nổi khi Cộng sản tiếp quản thành phố. Sáng ngày 29/04, anh đổi tất cả số tiền tiết kiệm được, tổng cộng là 1,2 Piaster, thành 200 USD và trình một văn thư do cựu Tổng thống Hubert Humphrey ký tên. Bằng cách đó, anh đi qua được trạm gác binh lính hải quân tại đại sứ quán Mỹ và bước lên một máy bay trực thăng.

Nhiều người cũng làm theo cách đó, họ ấn vào tay lính thủy đánh bộ – được gọi là những người không bị mua chuộc – một nắm tiền đô la. Lý lẽ tuyên truyền của Mỹ về sự tắm máu đã để lại những dấu vết mạnh mẽ, ngay cả trong giới cac nhà báo ngoại quốc. Một số cho rằng thực tế đơn giản về màu da trắng đủ làm cho chúng ta gặp bao rắc rối, khó khăn. Tất nhiên một số có nhiều lý do để lo sợ về số phận của mình. Khi tôi tìm cách gải thích cho bạn đồng nghiệp người Anh của tôi rằng tôi có thể ở lại đây vì tôi không chia sẻ những lý do can thiệp của Mỹ, vì thế tôi không lo sợ và cũng không có ý nghĩ chạy đi. Anh ta ngạc nhiên nhìn và hỏi tôi : “Anh chưa bao giờ làm gì cho người Mỹ hay sao ? Anh chưa bao giờ chuyển tiếp thông tin cho họ hay sao ?”

Khi ánh bình minh ló dạng vào sáng 30/04 tại Sài Gòn, thành phố chìm ngập trong cơn hoảng loạn. Những đám mây đen khổng lồ từ từ bay qua mái nhà san sát như một cái bể, tiến thẳng ra biển, như có cơn dịch hạch quét sạch 3 triệu người dân ở đây. Những con chuột to đùng đang bò trên những đống rác nằm cạnh lề đường. Chỉ có mấy chiếc xe jeep với binh lính vũ trang hướng nóng súng vào những căn nhà đóng chặt cửa. Họ chạy trên những đại lộ vắng vẻ. Trong lúc đó rất nhiều dân thường Việt Nam co cụm lại, lo sợ những giờ khắc tiếp theo. Hàng trăm quân trinh sát Việt Cộng và cán bộ chính trị đã thâm nhập vào thành phố, ẩn náu từ ngày 27/04 để chuẩn bị hành động trong trường hợp khước từ đầu hàng.

Những giờ phút chậm chạp trôi qua càng làm cho người ta mất hết tinh thần. Trong những giờ phút quỷ quái này, một số lính bị Mỹ bỏ lại bắn vu vơ và hôi của trên đường phố, một số tự kết liễu mạng sống mình. Tôi cùng quan sát một anh cảnh sát gác trước tòa nhà hạ viện bị bỏ lại bước xuống bậc thềm sau khi nghe tướng Minh tuyên bố đầu hàng, đến trước bức tượng to lớn màu xám xịt mà Thiệu dành cho người “chiến sĩ vô danh”, trong tư thế nghiêng người, liền bắn một phát đạn vào đầu. Một người lính trên xe Honda đi qua lấy khẩu súng ngắn của người chết, một kẻ khác giật lấy đi chiếc đồng hồ của anh.

Mấy phút tiếp theo xuất hiện một chiếc xe jeep với lá cờ khổng lồ nửa xanh, nửa đỏ, ngôi sao vàng của Mặt trận Giải phóng trên đường Tự Do. Mấy tiếng đồng hồ sau đó, có những chiến sĩ du kích trẻ tuổi đứng gần đó mà ai cũng nghĩ là Việt Cộng, trong quân phục chiến khu – họ bị vây giữa một rừng người vui vẻ, náo nhiệt và tò mò, họ vuốt ve và đặt nhiều câu hỏi với các chiến sĩ. Họ đến từ 5 hướng khác nhau và đi theo sau đoàn xe tăng chiếm dinh tổng thống. Đa số họ đi bộ, đi trong cuộc hành quân dài với những dàn súng phóng lựu và rocket trên vai, lương khô và nồi niêu trên tay. Sau một giấy phút đầu tiên bất ngờ, không sao tin được, niềm vui phấn khởi đã tràn ngập dòng người chào đón những anh chàng vừa đến.

Buổi tối, các chiến sĩ giặt phơi quần áo trên hàng rào dinh của Thiệu trước kia. Những chiếc xe tăng – bụi đất đỏ còn bám đầy – cùng những khẩu pháo cao xạ đang nghỉ ngơ, còn mang những cành cây xanh ngụy trang trên mình, đứng trước những cây cao tại quảng trường trước nhà thờ Đức Bà. Hàng ngàn anh lính trẻ Việt Cộng ướt đẫm mồ hôi cắm trại tại trung tâm thành phố, nấu cơm canh trên những cái bếp tạm thời, lòng đầy niềm vui, làm như họ vẫn đang ở giữa rừng sâu.

Người đầu tiên mà tôi nhìn thấy đứng sau chiếc xe jeep với ngọn cờ ở phía trước vừa đi dọc con đường Tự Do. Tôi chạy về hướng dinh tổng thống, tại ngã tư Gia Long có hai chiếc xe vận tải Molotov có trang bị súng đại liên, chở đầy binh sĩ mặc quân phục màu xanh, đầu đội nón sắt, ngăn cấm không cho tôi đi. Tôi còn biết gì nữa, tôi nên làm gì, những hình như tôi đã vẫy chào, và họ cũng vẫy lại. Tôi còn nhớ những khuôn mặt cười rạng rơ đáng ngạc nhiên mà họ nhìn về phía tôi.

Tôi nhảy lên chiếc xe vận tải thứ hai, có ai đó bắt tay tôi và ra hiệu tôi nên cúi đầu vào trong. Tất cả đều còn rất trẻ với bảng tên màu trắng trên nón của họ có dán khẩu hiệu hàng ngày “Ăn một nửa, làm việc gấp đôi, để hoàn thành Chiến dịch Hồ Chí Minh!”.

Vừa đến trước Bộ Quốc phòng, họ nhảy xuống xe, và tôi cùng đi với họ. Ở giữa sân có một viên đại tá quân đội Việt Nam Cộng hòa đứng cạnh cột cờ, ông chĩa lên đầu mình khẩu súng ngắn trên tay phải. Trước khi ông tự sát, các chiến sĩ Giải phóng đã kịp giật khẩu súng khỏi tay ông ta ở giây phút cuối cùng. Không có một tiếng súng nào. Tôi đã nhìn thấy khẩu súng bị văng ra. Các chiến sĩ Giải phóng đã giữ chặt ông ấy lại trong lúc đó ngọn cờ đỏ – xanh ngôi sao vàng được kéo lên ngay trung tâm.

Ngay trước mặt nhà thờ Đức Bà, chiếc xe jeep của một viên chỉ huy cảnh sát của Thiệu đâm đầu vào gốc cây nổ tung. Những người ngồi trên xe đã chĩa súng ra. Trên cần ang-ten họ đã cột một cái áo trắng làm dấu hiệu đầu hàng. Ngồi hút thuốc, tâm trạng bối rối, họ chờ đợi bị bắt hay bị bắn.

Nhưng không ai để ý đến họ. Các chiến sĩ Giải phóng đi qua và mỉm cười. Lính Việt Nam cộng hòa vứt hết quân phục và chạy loanh quanh trong chiếc quần cụt trên người. Họ vẫy chào các xe tăng. Ngày đầu tiên và những ngày giải phóng tiếp theo không hề diễn ra một vụ hành quyết nào, không có gì chứng tỏ có hành động trả thù. Ngay trong ngày giải phóng nhiều gia đình người Sài Gòn đã có khách đến thăm, là những người thân, bạn bè cũ mà cả thời gian dài họ không có dịp gặp nhau.

Cha mẹ con cái bị thất lạc. Bạn tôi, anh Cao Giáo khi trở về nhà đã tìm thấy tại cửa nhà mình một mảnh giấy có ghi địa chỉ. Tại đây anh đã già đi, và bây giờ anh tìm lại được người em trai của mình mà từ 1954 anh không hề gặp mặt.
Một người thợ may kể lại sau đó mấy ngày tại Biên Hòa, khi quan sát Việt Cộng đi qua tiệm may của anh, bỗng dưng anh nhận ra người bác của mình.

Trong quán bar ở Long Thành, tôi gặp một binh sĩ Việt Nam Cộng hào dán một bức hình Hồ Chí Minh trên áo của mình. Đó là hình mà cha anh – một sĩ quan quân giải phóng vừa trở về cho anh.

Mỗi gia đình đều có một chuyện tương tự để kể cho nhau nghe. Ngay anh nấu bếp cho thương gia Mỹ, vào sáng 30/04 còn ngồi khóc sụt sùi và tuyệt vọng, mấy ngày sau đó đã tỏ ra yên lòng khi tôi có dịp gặp lại anh trên đường phố sau ngày giải phóng. Anh nhận được một bức thư của người anh trai – người đã tiến vào Đà Nẵng cùng quân Giải phóng.

Trong mấy tiếng đồng hồ, một rào cản của sự không hiểu biết và ngờ vực nhau dựng lên trong 30 năm trời giữa Bắc và Nam Việt Nam đã tan vỡ. Những Việt Cộng cho đến giờ không nói năng đã nhanh chóng trở thành con người mà ai cũng biết được : người con trai của bác láng giềng, là người anh trai của mình – một người Việt Nam như bao người khác. Và như vậy không dùng danh xưng Việt Cộng nữa. Nhà báo nước ngoài gọi chiến sĩ giải phóng là những người thanh niên nhỏ nhằn màu xanh. Những cô gái bar với giọng Mỹ bồi đã học được ở lính Mỹ tên gọi những chiến sĩ ấy một cách ngắn gọn : “Hồ Chí Minh”. Mỹ Linh, cô gái điều hành một quán nhạc discothec với hai, ba cô gái khêu gợi và hàng tháng trả 1.000 đồng Nam Việt Nam tiền bảo kể cho sĩ quan cảnh sát đã kể rằng : “Hồ Chí Minh không ưa nhạc Mỹ ; Hồ Chí Minh không ưa các cô gái ; nhưng chỉ ưa số 1”. Sau ngày giải phóng có một số lính giải phóng bước vào quán bar của cô. Cô mời họ uống bia miễn phí. Ngày hôm sau, Mỹ Linh kể : “Hồ Chí Minh trở lại và mang đến cho tôi 10 kg gạo”.
Từ vựng Việt Nam được phong phú thêm một từ mới, đó là “bộ đội”. Bộ đội đã trở thành một phần của hình ảnh Sài Gòn mới. Bộ đội trong bộ quân phục màu xanh lá cây, bộ đội hải quân trong bộ quân phục thủy thủ màu trắng và xanh nước biển của chiến hạm Potemkin, người ta gặp họ đi dạo khắp nơi trong thành phố. Họ đi từng đôi, tay nắm tay, đi xe bus, đi thăm các khu di tích trông không khác khách du lịch. Trong nhà hát, họ vỗ tay hoan hô một dàn nhạc Việt Cộng biểu diễn bản nhạc van-xơ của Strauss.

Hoặc họ đi dạo theo kiểu người Ấn Độ, đi trên đường phố Sài Gòn, họ tìm cách lần theo dấu vết những người sĩ quan và binh lính trước đây chưa chịu ra trình diện và giao nộp vũ khí, theo lời kêu gọi của chính quyền mới.
Bộ đội đi vào các biệt thự và căn hộ của những người đã chạy theo Mỹ. Bộ đội tiếp quản khách sạn Continental, nơi tôi đã lưu trú hai tháng ròng.

Trong nhận thức của người dân không còn tồn tại ý nghĩ về sự khủng bố xuất phát từ con ma Việt Cộng nữa. Người ta không sợ bộ đội khủng bố. Họ là những người thanh niên có kỷ luật, ngây thơ và mộc mạc của đất nước. Những kẻ đầu cơ bán cho họ những chiếc đồng hồ có 12 chữ số gắn chất dạ quang, hai lớp vỏ dày, và không có hiệu Pilot, đồng hồ chữ số 12 tiếng, chỉ ngày, thứ trong tuần, tự động – họ thét lên với giá trên trời, không lường nổi.

Thanh thiếu niên đường phố Sài Gòn mượn xe đạp của anh bộ đội, nói để chạy một vòng, và đã biến mất không hề thấy mặt họ nữa. Chỉ còn anh bộ đội đứng đó, anh mới nghĩ tới ý nghĩa của từ “ăn cắp”.

Một sự sợ hãi mới tràn ngập một giai cấp nhất định trong xã hội Sài Gòn. Nó liên quan đến tác phong sinh hoạt của anh bộ đội, một sự nhắc nhở thường xuyên về lối sống mới mà một thành phố gái mãi dâm như Sài Gòn còn phải học nhiều.

Bộ đội là biểu tượng của một giai cấp mới lên nắm chính quyền thông qua cuộc cách mạng. Hầu như đây là một giống người mới – về sinh lý. Trong 30 năm chiến đấu ở chiến khu, ho trở nên khác đi : Họ gầy gò, nhợt nhạt, thấp lùn, rắn chắc.

Sài Gòn dần dần đã trở lại như nó vẫn thế : là trung tâm của một xứ nông nghiệp. Màu sắc, biểu tượng, tập quán của chế độ cũ và lối sống cũ đã biến mất. Những quan niệm đạo đức mới hình thành thông qua sự hiện diện giản dị hàng ngày của anh bộ đội.

“Sài Gòn” ngày càng mất dạng, cứ mỗi ngày người ta học tập để trở thành “thành phố Hồ Chí Minh”.

( Dịch từ nguyên bản tiếng Anh, của Hubert Gaethe và Ingrid Reinke )

theo Thành phố Hồ Chí Minh – Giờ khắc số 0 ( Borries Gallasch ) – NXB

Bằng chứng sử liệu về âm mưu bán nước của Trần Ích Tắc

Bằng chứng sử liệu về âm mưu bán nước của Trần Ích Tắc

TRẦN ÍCH TẮC CÓ BÁN NƯỚC HAY KHÔNG ?

Câu hỏi này lẽ ra đã có lời giải đáp hiển nhiên từ hàng trăm năm nay. Đúng vậy, Trần Ích Tắc là một đại Việt gian, một tên bán nước đời đời bị nhân dân khinh miệt.

Thế nhưng dạo gần đây, với phong trào xét lại lịch sử rầm rộ thì một số cá nhân lại cho rằng Trần Ích Tắc không bán nước, mà thực ra đi làm gián điệp cho nhà Trần. Vì nếu lỡ như họ Trần thất bại thì Trần Ích Tắc vẫn làm An Nam Quốc Vương, coi như vẫn là người họ Trần nối ngôi vua nước Nam. Thuyết này cùng vài thuyết bào chữa khác nữa nghe thì “có vẻ có lý” nhưng nếu chúng ta xét lại những sử liệu gốc, sẽ nhận ra đây chỉ là những lý lẽ bịm bợm, chủ quan phản khoa học.

Ngay chính trong sách Đại Việt Sử Ký Toàn Thư đã chỉ ra rất rõ tội trạng của Trần Ích Tắc :

” Tháng 3/1285, Thượng vị Văn Chiêu hầu Lộng đầu hàng Thoát Hoan. Chiêu Quốc Vương Trần Ích Tắc và bọn Phạm Cự Địa, Lê Diễn, Trịnh Long đem gia thuộc đầu hàng quân Nguyên.

Trước kia, khi Ích Tắc chưa sinh. Thái Tông mộng thấy thần nhân ba mắt từ trên trời xuống nói với Thái Tông :
” Thần bị thượng đế quở trách, xin thác sinh là con vua, sau lại trở về phương Bắc”.

Đến khi Ích Tắc sinh, giữa trán có vài vết lờ mờ như hình con bắt, hình dáng giống hệt người trong mộng. Đến 15 tuổi, thông minh hơn người, làu thông kinh sử và các thuật, vẫn còn có ý tranh đoạt ngôi trưởng đích. Ích Tắc đã từng gửi thư riêng cho khách buôn ở Vân Đồn xin quân Nguyên xuống nam. Đến nay, người Nguyên vào cướp, Ích Tắc xin hàng chúng để mong được làm vua. Người Nguyên phong làm An Nam Quốc Vương. Sau khi quân Nguyên thất bại, Ích Tắc trong lòng hổ thẹn, chết ở đất Bắc.”

Như vậy là, không chỉ Trần Ích Tắc đầu hàng quân Nguyên khi chúng tràn sang xâm lược mà trước đó hắn đã “gửi thư riêng cho khách buôn ở Vân Đồn xin quân Nguyên xuống nam”. Hành động đó chính là cõng rắn cắn gà nhà không thể chối cãi. Những tài liệu xét lại tuy vẫn trích dẫn ĐVSKTT nhưng lại bỏ qua đoạn văn trọng yếu này vì nó nêu lên quá rõ tội trạng.

Thêm nữa, trong Đại Việt Sử Ký Toàn Thư cũng ghi nhận việc Trần Ích Tắc vu cáo cho Chiêu Văn vương Trần Nhật Duật rước giặc sang :

” Cuối niên hiệu Thiệu Bảo, ông [ Trần Nhật Duật ] giữ trại Thu Vật ở Tuyên Quang. Giặc hồ vừa xâm phạm bờ cõi, Chiêu Quốc tâu với vua rằng : “Chiêu Văn ở Tuyên Quang, chắc ở trên đó gọi giặc sang rồi !” “.

Chúng ta đều biết Chiêu Văn vương Trần Nhật Duật là một trong những tướng lĩnh tài giỏi nhất của vương triều Trần, đóng góp công lao rất lớn vào công cuộc kháng chiến với những chiến công Hàm Tử, Tây Kết, Chương Dương lẫy lừng. Thế nhưng Trần Ích Tắc lại vu cáo cho ông ở Tuyên Quang rước giặc sang. Hành động đó chính là để cắt đi vây cánh của vua Trần, chứng tỏ cái tâm không trong sáng của Ích Tắc. Hắn đã viết thư rước giặc sang rồi lại đổ tội cho chiến tướng chủ chốt của Đại Việt.

Qua những bằng chứng trên, thiết nghĩ cũng đủ để dập tắt một cái thuyết sai trầm trọng của phong trào xét lại lịch sử. Mong mọi người có thể dùng mà phản bác những luận điệu sai trái, trả lại cho lịch sử một cái nhìn nghiêm túc.

Nguồn : FB Văn Hóa Lịch Sử

Abraham – Ông tổ của các đạo Chúa

Abraham – Ông tổ của các đạo Chúa

Các đạo thờ Chúa gồm đạo Do Thái, đạo Kitô và đạo Hồi đều có chung một ông tổ là Abraham. Abraham là người Do Thái, sinh trưởng tại thành phố Ur thuộc đế quốc Babylon, (hiện nay thuộc phía nam Iraq, gần giáp Kuwait) vào thế kỷ 20 trước công nguyên.

Theo các nhà khảo cổ thì, hiện tại vùng Lưỡng Hà Châu (Mesopotamia) là vùng đồng bằng được cấu tạo bởi hai con sông lớn Tigris và Euphrate, giống người Sumerians đã lập nên một nền văn minh quan trọng của thế giới cổ. Họ là những người đầu tiên xây cất những thành phố lớn, thời cổ gọi là những quốc gia đô thị (city-states) như UR, ERECH, KISH, BABYLON vào khoảng 4000 năm trước Công Nguyên. Tại những thành phố này, người Sumerians đã phát minh ra chữ viết, bánh xe, kỹ thuật luyện kim, vườn treo, những tháp Babel (trong kinh thánh Do Thái) những điều luật thành văn, thơ văn và rất nhiều huyền thoại. Trong số những huyền thoại của Sumerians có chuyện vườn Địa Đàng của đạo Do Thái sau này (Garden of Eden).

Abraham - Ông tổ của các đạo Chúa

Abraham – Ông tổ của các đạo Chúa

Năm 2300 trước Công Nguyên, giống dân Semitic-Akkadians tức giống Do Thái-Ả Rập dưới sự lãnh đạo của vua Sargon đã chiếm toàn vùng Lưỡng Hà Châu. Hai nền văn hóa Semitic – Akkadian và Sumerians hòa đồng và phát triển trong 300 năm. Tới năm 2000 trước Công Nguyên, giống dân Armonites chinh phục các quốc gia đô thị trong vùng Lưỡng Hà Châu và lập nên đế quốc Babylon. Họ chọn đô thị Babylon làm thủ đô cho cả đế quốc. Babylon hiện nay là vùng sa mạc, cách Baghdad thủ đô Iraq khoảng 80 dặm về phía nam. Những người sống trong đế quốc Babylon tin tưởng thủ đô của họ là nơi linh thiêng, là cái cổng của thiên đàng. Babylon được xây dựng như hình ảnh của nước trời (an image of heaven). Mỗi một ngôi đền, mỗi một ngọn tháp hay một khu vườn treo (hanging gardens) là một bản sao của các lâu đài trên thiên đàng (a replica of celestial palace). Tại các đền thờ, các tu sĩ làm lễ và đọc sách Thánh Kinh mà họ gọi là Enuma Elish. Thánh kinh thường được viết dưới dạng thơ có nội dung ca tụng các vị thần đã chiến thắng sự hỗn mang trong vũ trụ (the victory of the gods over chaos). Trong số các vị thần đó có thần El mà tượng của “ngài” là một con bò đực mạ vàng (the gilded bull). Babylon là tiếng ghép lại từ hai chữ Bab và Ili, có nghĩa là Cái Cổng của Trời (Gate of God). “Tư tưởng cốt yếu của người Babylon là: không có vật gì tự nhiên mà có. Trước khi có thần thánh và con người, một vật tự hữu thiêng liêng đã có từ trước vô cùng” (There was no creation out of nothing. Before either the gods or human being existed, a substance which was itself devine had esixted from all eternity – A History of God p. 7). Đó là tư tưởng sơ khởi về một Thiên Chúa cho các đạo thuộc hệ thống Độc Thần Giáo sau này. Những quan niệm của người Babylon về thiên đàng, về thánh kinh, về đất thánh (Holy place) và về thần quyền (sacred power) là những yếu tố quan trọng làm nền móng cho cả 3 đạo Do Thái, Kitô và đạo Hồi.

Đế quốc Babylon được thành lập cách đây khoảng 4000 năm, nhưng trước đó có những thành phố khác trong đế quốc như thành phố Ur đã được xây cất từ năm 5500 TCN. Ur là một trong những thành phố cổ nhất thế giới vì tính tới nay thành phố này đã có 7500 tuổi! Thành phố Ur và toàn vùng Babylon đã bị hủy diệt do một trận lụt lớn gây ra vì sự đổi dòng của con sông Euphrate vào cuối thế kỷ thứ tư trước Công Nguyên, cả vùng này trở thành sa mạc vì thiếu nguồn nước. Các nhà khảo cổ gọi nền văn minh ở vùng này là “nền văn minh của dân Sumerian trước đế quốc Babylon” (the pre-Babylon Sumerian civilization). Chính tại thành phố Ur, các nhà khảo cổ đã tìm thấy những dấu vết về nhân vật Abraham (thực sự là những huyền thoại nói về Abraham) ông tổ chung của đạo Do Thái, đạo Kitô và đạo Hồi. Tại thành phố này, người Sumerians đã phát minh ra bánh xe, chữ viết, một giờ có 60 phút, vòng tròn có 360 độ. Thành phố này cũng đã phát sinh ra các bạo chúa (tyrans) và các cuộc tàn sát đẫm máu về tôn giáo. Nhiều bạo chúa tại thành phố này đã tự xưng là thần thánh từ trời xuống cai trị muôn dân bằng thần quyền (to rule by divine right). Dân Sumerians biết luyện kim để đúc lưỡi cầy khiến cho những cánh đồng của họ thêm màu mỡ và biết dẫn thủy nhập điền để tạo nên một nền nông nghiệp phồn thịnh. Tuy nhiên, họ cũng dùng luyện kim để đúc giáo mác và mũi tên đồng khiến cho những ruộng lúa xanh tươi của họ trở thành những cánh đồng máu (killing fields).

Giữa thế kỷ 19, các nhà khảo cổ Âu Châu đổ xô đến vùng Babylon khai quật tìm cổ vật. Họ đã mang về các nước Âu Châu không biết bao nhiêu di vật của nền văn minh rất lâu đời này: Những con bò đực mạ vàng (the gilded bulls), những phiến đá ghi chép các huyền thoại và các luật thời cổ. Có nhiều huyền thoại của dân Sumerians sau này đã đi vào kinh thánh của Do Thái. Các cổ vật tìm thấy ở Babylon đã mở toang cánh cửa bí mật của các đạo thờ Chúa* bằng những hiện vật cụ thể và các tài liệu lịch sử thành văn (written history). Các cổ vật này cũng là những tài liệu vô cùng quí giá cho nhiều ngành nghiên cứu khoa học. Năm 1917, nhân dịp quân Anh đánh chiếm Iraq, một đoàn khảo cổ người Anh do nhà khoa học Leonard Wooley dẫn đầu, đã đến phía nam Iraq, gần giáp Kowait, khai quật thành phố Ur chìm dưới lớp cát sa mạc. Giữa thập niên 60, nhiều đoàn khảo cứu khoa học của Mỹ đến vùng Babylon và Ur khai quật 25.000 địa điểm (identified sites) đã tìm thấy rất nhiều di vật của nền văn hóa cổ này. Họ đã giúp cho các nhà nghiên cứu hiểu thêm rất nhiều về nguồn gốc của các đạo thờ Chúa. Căn cứ vào các cổ vật và sử liệu khách quan, các nhà nghiên cứu đã xác định Babylon mới thực sự là nơi xuất phát đầu tiên của các đạo Thiên Chúa. Trước đó, mọi người đã lầm tưởng Jerusalem, thủ đô Do Thái, là thánh địa của các đạo này. Người Babylon quan niệm cuộc sống trên thế gian chỉ là tạm bợ, cuộc sống đời sau ở thiên đàng mới đích thực là hạnh phúc vĩnh cửu. Họ tin thế gian này sẽ bị tiêu hủy trong một lúc nào đó gọi là ngày tận thế. Sau ngày tận thế, nước trời sẽ được thiết lập ở thế gian. Hai ý niệm về thiên đàng và ngày tận thế luôn luôn quyện lại với nhau. Đó là những ý niệm xuyên suốt từ Babylon (Gate of God) qua Jerusalem và Vatican ngày nay.

Những tư tưởng đầu tiên của Abraham chưa hẳn là đã xác định có một Thiên Chúa Duy Nhất (The Only One God) mà ông ta chỉ có ý định chọn một vị thần mạnh nhất trong các vị thần của dân Sumerians để tôn thờ mà thôi. Vị thần mà Abraham chọn là thần El, một con bò đực mạ vàng. Hiện nay tại bào tàng viện Baghdad có trưng bày tượng bò đực mạ vàng của dân Sumerians thuộc thời đại đế quốc Babylon (3000 TCN). Khoảng năm 2000 TCN, Abraham được tôn lên làm vị lãnh đạo các tộc trưởng Do Thái trong đế quốc Babylon (the leader of all patriachs of Jews). Abraham dẫn dân Do Thái rời khỏi đế quốc Babylon về miền Đất Hứa là vùng Canaan, hiện nay được gọi là West Bank (tả ngạn phía Tây sông Jordan). Tại đây, Abraham đã kết hợp với các bộ lạc Do Thái khác với ý định thành lập một quốc gia cho các dân tộc Do Thái. Ông có nhiều vợ. Dân tộc Do Thái rất tự hào tự xưng là con cháu của Abraham (the children of Abraham) nhưng thuộc dòng Isaac, con trai của Abraham và bà vợ cả của Abraham là Sarah.

Các dân tộc Hồi Giáo Ả Rập cũng tự xưng là con cháu của Abraham, nhưng thuộc dòng Ismael, con trai của Abraham và bà vợ bé tên là Hagar. Sau khi sinh Isaac (có nghĩa là Tiếng Cuời) bà vợ cả Sarah thường hay ghen tương với bà vợ bé nên đã đòi Abraham phải ruồng bỏ Hagar và Ismael. Abraham cầu xin Chúa cho Ismael thì được Chúa hứa sẽ cho Ismael trở thành tổ phụ của một đại quốc gia sau này. Sau đó, Abraham đưa bà Hagar và con trai Ismael đến thung lũng Mecca. Tại đây có con suối thiêng Zamzam, hai mẹ con của Ismael được Thiên Chúa đích thân chăm sóc. Abraham thường hay đến thăm Ismel và hai cha con cùng xây nên đền Kabah là ngôi đền thờ Thiên Chúa đầu tiên trên thế giới. Ismael trở thành tổ phụ của các dân tộc Ả Rập. ( A History of God. p.154).

Những người theo đạo Kitô gốc Âu Mỹ hay Á Châu không có liên hệ huyết thống gì với Abraham, nhưng vì đạo Kitô cũng như đạo Hồi đều thoát thai từ đạo Do Thái nên những người theo đạo Kitô cũng coi Abraham như một vị thánh tổ phụ (Father). Trong sách kinh Nhựt Khóa của Tổng-giáo-phận Sài Gòn (trang 143-146) có “Kinh Cầu Cho Dân Nước Việt Nam Đặng Trở Lại Đạo Thánh” có đoạn như sau: “Lạy Chúa, thuở Chúa mới giáng sanh, Chúa đã kêu gọi ba vua phương Đông đến thờ lạy chúa. Chúa đã phán rằng: Ngày sau sẽ có nhiều kẻ bởi Đông Tây đến nghỉ ngơi cùng thánh Abraham trên nước thiên đàng. Nay nước Việt Nam cũng là một cõi Đông Phương đang còn nhiều kẻ tin vơ thờ quấy, chưa hề biết Đấng Chí Tôn. Xin Chúa hãy làm cho nó tìm đến cùng Chúa hầu ngày sau đặng nghỉ ngơi trên nước thiên đàng, chúc tụng không khen Chúa đời đời kiếp kiếp”.

Đối với đạo Hồi, Abraham là tiên tri thứ nhất, Moses là tiên tri thứ hai, kế đến là nhiều tiên tri Do Thái khác rồi mới đến Jesus. Mahomét (Ma-hô-mét) là tiên tri cuối cùng và lớn hơn hết của Thiên Chúa (The last and greatest prophet of God). Người Hồi Giáo không coi Jesus hay Mahomét là Thiên Chúa Hiện Thân (God Incarnate) mà chỉ coi những vị này là những con người bằng xương bằng thịt như chúng ta. Tuy nhiên họ tôn kính Mahomét là một vị đại thánh mà không một ai trên thế gian có thể sánh ngang với ngài về sự hiểu biết và quyền năng. Không một ai được Thiên Chúa mặc khải một cách hoàn hảo cho bằng Mahomét! (None is his equal either in knowledge or in authority. None has received or handed down so perfect a relevation).

Khác với Jesus, Mahomét không khoe khoang khoác lác mạo nhận là con Một (The Only Son Of God) hay con thứ củaThiên Chúa, không làm phép lạ để biểu diễn khả năng phù thủy bịp bợm, không lập ra các phép bí tích nhảm nhí và cũng không truyền chức cho ai độc quyền cai trị giáo hội và thế giới. Jesus dốt đặc cán mai nên không viết một chữ nào để lại cho hậu thế. Các lời Jesus nói đều do người khác gán cho. Mahomét là một thi sĩ đã viết kinh Coran trong 23 năm dưới dạng thi ca như David thuở xưa viết Psalm (Thánh Vịnh) ca ngợi Thiên Chúa. Nhưng ông ta khôn khéo không nhận mình là tác giả mà chỉ nhận mình là anh thư ký ghi chép lại các lời của Thiên Chúa do thiên thần Gabriel (Ga-bơ-ri-en) đọc cho ông ta viết mà thôi.

Trong kinh Coran, có đoạn Mahomét viết về thiên thần Gabriel như sau: “Khi tôi đang trên đường lên núi thì bỗng nghe có tiếng nói từ trời xuống ” Ôi Mahomet, con là vị tông đồ của Chúa, ta là Gabriel đây”. Tôi ngẩng đầu lên để xem ai đang nói. Tôi thấy Gabriel là một người đàn ông với những bàn chân chắn ngang chân trời” (When I was midway on the mountain, I heard a voice from heaven saying : “Oh! Muhammad ! You are the Apostle of God and I am Gabriel”. I raised my head toward heaven to see who was speaking and Gabriel in the form of a man with feet astride the horizon – A History of God p. 138) Trong niềm tin của đạo Hồi thì thiên thần Gabriel là Thánh Linh Thiên Chúa (The Spirit of God) mà Ki Tô Giáo gọi là Đức Chúa Thánh Thần (The Holy Spirit). Đạo Hồi là Đạo Thiên Chúa đúng nghĩa vì họ tin Thiên Chúa là Đấng chỉ có Một Ngôi Duy Nhất (The God of Islam is Unity God). Trái lại Ki Tô Giáo là đa thần giáo trá hình vì Thiên Chúa của Ki Tô Giáo là Thiên Chúa Ba Ngôi (The Christian God is Trinity God).

Về Abraham, trong Kinh Coran Mahomét viết như sau: “Thiên thần Gabriel nâng tôi lên cao trong không khí. Trước hết ngài đưa tôi đến viếng Jerusalem, sau đó ngài đưa tôi qua 6 tầng trời. Đến tầng trời thứ 7 tôi gặp Adam tổ phụ loài người, thánh Gioan Baotixita (giáo chủ Essenes kiêm thầy dạy giáo lý cho Jesus) Enoch, Aaron, Moises, Jesus và Abraham. Cuối cùng tôi được gặp Thiên Chúa (God / Allah) và nói chuyện trực tiếp với Ngài. Chúa phán “Ôi Mohamét! Ta đón tiếp con như một người bạn cũng như trước đây ta đã đón tiếp Abraham như một người bạn vậy. Ta nói chuyện với con mặt đối mặt cũng như trước đây ta nói chuyện mặt đối mặt với Moises vậy.” (Oh Muhammad! I take you as a friend, just as I took Abraham as a friend. I am speaking to you, just as I spoke face to face with Moises).

Tiếng Ả Rập KORAN có nghĩa là sự kể chuyện (Recitation). Những người Hồi Giáo coi kinh KORAN là những lời cuối cùng của Thiên Chúa dành cho loài người (Koran is the final words of God to mankind), là cuốn sách MẸ của mọi cuốn sách (The Mother of Books). Cũng như các đạo thờ Chúa khác, người Hồi Giáo tin Kinh Thánh của họ là chân lý tuyệt đối. Các kinh thánh ngoài đạo của họ đều là đồ giả mạo cần phải hủy diệt bằng bạo lực. Cũng như các tòa án dị giáo của Công Giáo La Mã chủ trương giết hết, đốt hết, phá hết tất cả những gì khác với giáo lý Công Giáo vậy.

Độc Thần Giáo, tức các đạo thờ Chúa (Monotheist religions /Abrahamic religions) bành trướng thế lực tôn giáo bằng chiến tranh máu lửa. Số tín đồ tăng lên theo nhịp độ phát triển của các chủ nghĩa đế quốc và thực dân cũ mới. Trải qua nhiều thế kỷ, ngày nay tổng số tín đồ của Độc Thần Giáo đã lên tới 3 tỷ 200 triệu trên tổng dân số nhân loại là 5 tỷ 804 triệu (The World Almanach and Books of Facts 1998). Hai tôn giáo lớn nhất của hệ thống Độc Thần Giáo hiện nay là Công Giáo La Mã với gần 1 tỷ tín đồ, kế đến là giáo phái Hồi Giáo Sunny với 936 triệu tín đồ. Các con số tín đồ đông đảo không nói lên giá trị của các tôn giáo này vì họ là những khối người khổng lồ luôn luôn dốc phần lớn sinh lực của họ để tìm cách tiêu diệt lẫn nhau và phá hoại hòa bình thế giới. Năm 383, triều đại con cháu của Constantine đã đổi tên Kitô Giáo thành Công Giáo (Cattolica) có nghĩa là tôn giáo toàn cầu (universal church). Danh từ “Công Giáo” nói lên ý đồ nham hiểm thâm độc của Đế quốc La Mã nhắm tới sự nô lệ hóa toàn cầu dưới chiêu bài tôn giáo. Vì vậy nếu hiểu Công Giáo chỉ đơn giản là quốc giáo “state religion” hoặc đạo công cộng “public religion” là chưa đánh giá đúng mức tim đen của đế quốc. Những danh từ phiên âm như đạo Gia tô hay đạo Ca Tô Rô Ma đều làm chúng ta quên đi ý đồ nham hiểm của đạo Công Giáo Vatican.

Với thời gian, do sự mâu thuẫn trong việc giải thích Kinh Thánh và tranh chấp quyền lợi vật chất giữa các giới lãnh đạo chóp bu, đạo Công Giáo đã bị phân hóa thành nhiều ngành (lines) :

1. Công Giáo La Mã còn được gọi là Giáo hội Tây Phương (Roman Catholics / Western Church) hiện có 981 triệu tín đồ (the main line of Christianity)

2. Công Giáo Đông Phương (Eastern Church) là Chính Thống Giáo (Greek Catholics or Orthodox) chính thức tách rời khỏi Công Giáo La Mã vào năm 876. Số tín đồ hiện nay khoảng 218 triệu, đa số tại nước Nga, Hy Lạp, Thổ Nhĩ Kỳ và Đông Âu (Bulgary, Serbia, Armenia)

3. Công Giáo Anh còn được gọi là Anh Giáo (British Catholics or Anglicanism) có khoảng 69 triệu tín đồ tại Anh, Úc, Tân Tây Lan, Canada và Mỹ. Chính thức tách rời khỏi Công Giáo La Mã năm 1539.

4. Các giáo phái Tin Lành : Danh xưng chính thức của Tín Đồ Tin Lành là “Những Kẻ Chống Công Giáo La Mã” (Protestants). Đạo Tin Lành là “Đạo Chống Công Giáo La Mã” (Protestantism). Việt Nam là nước duy nhất trên thế giới chẳng giống ai gọi họ là Tin Lành (Good News), nhưng thực tế chẳng có gì lành. Khoảng đầu thế kỷ 20, nhiều người Công Giáo Việt Nam gọi họ là những kẻ theo “Đạo Thệ Phản”. Sau này không thấy ai xử dụng danh từ “Đạo Thệ Phản” nữa, có lẽ vì danh từ này mang tính kỳ thị tôn giáo ( ? + ! . . . ).

Công Giáo La Mã, Chính Thống Giáo và Anh Giáo có thể được gọi chung là Công Giáo (Catholicism) vì các lý do sau đây:

1. Giáo lý của 3 tôn giáo này rất tương đồng

2. Cả 3 tôn giáo đều thờ ảnh tượng Chúa và các thánh. Bước chân vào giáo đường của 3 tôn giáo này ta rất khó phân biệt. Khác hẳn với các giáo phái “Tin Lành” tuyệt đối không thờ ảnh tượng. Họ chỉ xử dụng cây thánh giá trơn (không có tượng Chúa) làm biểu tượng mà thôi.

3. Cả 3 đạo Công Giáo này đều thờ Bà Maria và tin bà còn đồng trinh (virgin) sau khi sinh Chúa Jesus. Người theo đạo Tinh Lành tin Chúa Jesus là Thiên Chúa hóa thân nhưng không tin bà Maria đồng trinh vì ngoài Chúa ra, bà Maria còn sinh 3 trai và 3 gái với ông Joseph. Người Hồi Giáo cũng tin bà Maria đồng trinh nhưng phủ nhận bản tính Thiên Chúa của Jesus, họ chỉ coi Jesus là tiên tri đứng sau tiên tri Mahomét.

4. Ba đạo Công Giáo nói trên đều có giáo đô riêng. Công Giáo La Mã có giáo đô tại Vatican (một lãnh địa tự trị tách ra khỏi thủ đô La Mã của nước Ý). Giáo đô của Chính Thống Giáo đặt tại Constantinophe (nay là Istambul, Thổ Nhĩ Kỳ). Giáo đô Anh Giáo đặt tại Canterburry Anh quốc. Các giáo phái Tin Lành không có giáo đô.

5. Các đạo Công Giáo có hàng giáo phẩm được truyền chức để làm lễ (mass) biến bánh và rượu thành máu và thịt của Chúa Jesus. Hàng giáo phẩm Công Giáo La Mã và Công Giáo Hy Lạp (Chính Thống Giáo) đều là nam giới. Riêng Công Giáo Anh có nữ linh mục, cũng làm lễ như nam linh mục và có chồng con. Con số nữ linh mục Anh Giáo tại Anh, Úc, Canada và Mỹ hiện nay lên tới khoảng 2000 người.

Tất cả các người theo đạo Kitô (Christians) không thuộc 3 giáo hội Công Giáo nói trên đều được gọi chung là Tin Lành (protestants). Số tín đồ Tin Lành hiện nay lên tới 686 triệu. Các mục sư không làm lễ, chỉ giảng thánh kinh mà thôi.

Trong những thế kỷ trước, người Việt Nam gọi đạo Công Giáo La Mã là Đạo Da-Tô hay Gia Tô. Da-Tô là tiếng chữ Hán phiên âm chữ Jesus. Đạo Da-Tô có nghĩa là đạo thờ Jesus. Trong Kinh Cảm Tạ Cầu Hồn viết bằng Hán tự mà các giáo dân Bùi Chu Phát Diệm và Thái Bình ngày nay vẫn còn đọc trong các đám giỗ, có câu: “Thần Chúa Da-Tô thục tội thi ân chỉ đại” nghĩa là “Lạy Chúa Jê-Su chuộc tội và ban ơn rất lớn”.

ĐẠO HỒI

Đạo Hồi là đạo thứ ba trong hệ thống Nhất Thần Giáo. Thiên Chúa của đạo Hồi là Thiên Chúa của đạo Do Thái và đạo Kitô. Người Hồi Giáo cũng giống như Do Thái Giáo, phủ nhận ngôi thứ hai tức Jesus và ngôi thứ ba là Chúa Thánh Thần của đạo Kitô nên Thiên Chúa của Hồi Giáo và Do Thái Giáo là Thiên Chúa Duy Nhất (Unity God). Đạo Hồi chịu ảnh hưởng sâu đậm giáo lý của đạo Do Thái và đạo Kitô, do Mohammed sáng lập vào thế kỷ thứ 7. Đạo Hồi được truyền bá và phát triển phần lớn dựa vào bạo lực và chiến tranh. Đạo Công Giáo La Mã là một đế quốc tinh thần, luôn luôn bước song hành với các chủ nghĩa thực dân đế quốc. Đạo Hồi và Công Giáo La Mã là hai kẻ thù lớn nhất của hòa bình thế giới. Cả hai đạo này đều là con đẻ của Do Thái nhưng đều đã quay ngược lại tiêu diệt Do Thái đến gần tuyệt chủng. Hai đạo này được ví như hai cái boomeranges của Do Thái vậy!

Số tín đồ đạo Hồi hiện nay là 1 tỷ 128 triệu, đứng thứ nhì sau đạo Kitô (1 tỷ 955 triệu). Công Giáo La Mã là giáo phái có đông tín đồ nhất của đạo Kitô, Nó là con đẻ của chủ nghĩa đế quốc La Mã và cả chủ nghĩa thực dân cũ mới của Âu Châu. Ngày nay, các chủ nghĩa đế quốc và thực dân đã suy tàn, đạo Công Giáo tất nhiên phải gánh chịu những hệ lụy của các chủ nghĩa thực dân đế quốc mà suy tàn theo. Đó là một thực tế của tiến trình tiến hóa tất yếu của lịch sử.

Nói tóm lại, Thiên Chúa Giáo là một hệ thống gồm 3 tôn giáo chính yếu: Do Thái Giáo, Kitô Giáo và Hồi Giáo. Cả 3 tôn giáo này đều bắt nguồn từ đạo Do Thái Nguyên Thủy (Pre-Mosaic Judaism) của các tổ phụ lập quốc Do thái là Abraham, Isaac và Jacob. Đạo Do Thái Nguyên Thủy thờ Thiên Chúa mang tên Elohim với hình tượng của ngài là con bò vàng. Đạo thờ bò đã tồn tại trong hơn 8 thế kỷ đầu của lịch sử nước Do Thái. Các đạo thờ Thiên Chúa hiện nay chỉ là hậu thân của đạo Do Thái Nguyên Thủy. Nói đúng hơn, những đạo này chỉ là những biến dạng khác nhau của đạo thờ bò.

Theo Sachhiem