Những tội ác của Nhà nước Congo Tự do (1885-1908)

Những tội ác của Nhà nước Congo Tự do (1885-1908)

Một người đàn ông Congo đang nhìn vào bàn tay và chân bị cắt đứt của con gái năm tuổi, bị giết chết và ăn thịt bởi nhân viên của Công ty Congo ABIR thuộc Bỉ. Lý do đơn giản là ông ta đã không nộp đủ thuế cao su. Người da trắng đã thuê những chiến binh của các bộ lạc ăn thịt người vùng thượng Congo làm dân quân, và họ sẵn sàng ăn thịt những kẻ chống đối để răn đe.

Nhà nước Congo Tự do là một quốc gia lớn ở Trung Phi, liên kết cá nhân với vương quốc Bỉ (tức có chung vua nhưng dùng luật pháp tiêng và xác định biên giới cụ thể cho mỗi nước). Cho đến giữa thế kỷ 19, Congo là trung tâm của khu vực Châu Phi còn giữ được độc lập, vì thực dân châu Âu ít khi tiến sâu vào lục địa mà chỉ tập trung khai thác vùng giáp biển. Nguyên nhân là do sự chống đối dữ dội của dân địa phương, những khu rừng nhiệt đới bao la với vô vàn đầm lầy, và sự hành hạ của bệnh sốt rét cũng như các bệnh khó chữa khác như bệnh “ngủ”. Theo tính toán của giới tư bản thì việc đầu tư khu vực này là quá tốn kém. Tuy nhiên năm 1876, vua Leopold II của Bỉ tổ chức một hội nghị địa lý hoành tráng tại thủ đô Brussels, ông ta mời những nhà thám hiểm nổi tiếng, nhà hảo tâm và thành viên của các hiệp hội địa lý tham gia vào “công tác nhân đạo” của người châu Âu ở vùng trung tâm châu Phi. Mục đích được đề ra “văn minh hóa” người dân bản địa. Tại hội nghị này, Leopold đã vẽ ra cái gọi là “Hiệp hội Châu Phi quốc tế” và được bầu làm chủ tịch.

(Vua Leopold II của Bỉ)

Nhà thám hiểm nổi tiếng Henry Morton Stanley được thuê để khám phá Congo trong 5 năm, từ đó người Bỉ bắt đầu xây dựng đường sá, vẽ bản đồ giúp tàu hơi nước vào sâu trong nội địa và lập các trạm đóng quân. Trong quá trình này, Stanley đã ký nhiều hiệp ước với các tù trưởng địa phương và lãnh đạo bản xứ. Lóa mắt trước những món quà đẹp đẽ, rất ít người trong số lãnh đạo đó đủ thông thái để hiểu được mình đã ký kết cái gì, và về cơ bản thì những văn bản này đã chuyển giao cho vua Bỉ Leopold II hầu như tất cả chủ quyền khu vực. Christian de Bonchamps, một nhà thám hiểm người Pháp đi theo đoàn, đã viết trong nhật ký: “Những hiệp ước với các bạo chúa Phi châu nhỏ bé này, gồm bốn trang giấy mà họ không hiểu một từ nào”.

Leopold II đề ra một chiến dịch tuyên truyền và vận động hành lang khắp châu Âu, tuyên bố “Hiệp hội Châu Phi quốc tế” chỉ hành động vì lợi ích của dân bản xứ, không duy trì chế dộ nô lệ ở đây, và miễn thuế hàng nhập khẩu trong 20 năm cho mọi quốc gia . Kế hoạch này hoàn toàn thành công. Vào tháng 11 năm 1884, thủ tướng Đức Otto von Bismarck triệu tập một hội nghị 14 quốc gia để phân chia dứt điểm châu Phi. Khoảng 2.344.000 km vuông lãnh thổ Congo đã được trao cho vua Leopold II của Bỉ như tài sản cá nhân, để rồi từ đó ông ta lập ra Nhà nước Congo Tự do. Nó tồn tại như một vùng đệm giữa các thuộc địa của Pháp, Đức, Anh, Bồ Đào Nha; và nhanh chóng được quốc tế công nhận chủ quyền cũng như giữ vị thế trung lập.

(Cờ và huy hiệu Nhà nước Congo Tự do)

Ngay sau khi nắm toàn bộ quyền kiểm soát Congo, Leopold II vứt luôn cái mặt nạ từ thiện và tiến hành khai thác thuộc địa thông qua lãnh đạo địa phương. Tuy nhiên lúc đầu việc buôn bán ngà voi không đem lại lợi nhuận như kỳ vọng và chính quyền thường xuyên phải trả những khoản nợ lớn. Đến năm 1890 thì nhu cầu cao su thế giới bùng nổ, Nhà nước Congo Tự do tăng cường tối đa bóc lột bằng cách cưỡng bức dân Congo đi lấy mủ cao su mọc hoang để xuất khẩu sang châu Âu và châu Mỹ.

Theo một đạo luật ban hành và có hiệu lực trong năm 1891, trừ những phần đất mà trên đó có nhà ở hay ruộng vườn, toàn bộ đất đai Congo đều thuộc Nhà nước Congo Tự do. Dân phải đóng thuế bằng cách vào rừng cạo mủ cao su trên những cây dây leo (khác với loại cây cao su thân gỗ Hevea brasiliensis được trồng khắp thế giới) đem đi nộp. Lúc đầu không có công nghệ khai thác, người cạo mủ phải bôi cao su lên da mình rồi bóc ra khi nó khô, cứ như vậy từng mảng một và việc này gây ra cảm giác rất đau đớn. Mãi đến đầu thế kỷ 20 mới có công nghệ hứng mủ bằng máng và chậu. Công ty Congo ABIR (Compagnie du Congo Belge ) được cấp phép khai thác cao su tự nhiên trong Nhà nước Congo Tự do. Công ty này thu được lợi nhuận rất lớn vào cuối thập niên 1890, bằng cách bán một kilôgam cao su ở châu Âu với giá 10 franc trong khi chi phí khai thác chỉ là 1,35 franc. Lợi nhuận này đạt được bằng một hình thức bóc lột nặng nề, tàn bạo và man rợ chưa từng thấy.

Các công ty tư nhân mua lại quyền khai thác trong một vùng và hầu như được sử dụng mọi biện pháp để tăng sản lượng cao su. Không tồn tại cái gọi là quyền lợi của người lao động ở đây, dù chỉ 1 chút; pháp luật thực tế là mớ giấy lộn và không có chút tác dụng nào hết. Người da trắng thuê dân da đen có địa vị (capitas) để tổ chức và quản lý lao động địa phương, hỗ trợ họ là quân đội thuộc địa (Forrce Publique), tuyển dụng từ nhiều nơi, do các sĩ quan da trắng chỉ huy.

Mỗi khu vực, mỗi ngôi làng sẽ bị áp một mức thuế-tức hạn ngạch cao su phải giao nộp trong một khoảng thời gian nhất định, và hạn ngạch này thường cao đến mức phi lý. Nếu dân làng từ chối, họ sẽ bị binh lính đến đánh đập, bắt cóc để cưỡng ép thực hiện. Nhiều ngôi làng đã bị tiêu diệt chỉ vì chống đối hay không thể đáp ứng được hạn ngạch cao su quá lớn. Binh lính được yêu cầu chặt tay nạn nhân sau khi giết và mang về làm chứng (họ trang bị bằng súng đạn nhập khẩu châu Âu có giá đắt đỏ nên không được dùng săn bắn). Nếu một ngôi làng không nộp đủ cao su, sẽ có số tay bị chặt tương ứng với phần còn thiếu. Điều này đôi khi dẫn đến xung đột đẫm máu trong một địa phương, khi các làng tấn công lẫn nhau để lấy bàn tay đem nộp thay cao su. Sau này do nhu cầu nhân lực, binh lính chỉ bắt giam trưởng làng hay những nhân vật quan trọng để uy hiếp những người còn lại đi gom đủ cao su (hay tay người) còn thiếu. Thống kê tháng 7 năm 1902 có tổng cộng 44 nhà tù như vậy, với 3 đến 10 tù nhân chết mỗi ngày do điều kiện giam giữ khắc nghiệt (báo cáo của Sở bưu điện ở Bongandanga và Mompono).

(2 nhà truyền giáo châu Âu đứng cạnh lính thuộc địa, trên tay họ là bàn tay người vừa bị chặt)

Một mục sư người Đan Mạch đã ghi chép lại cảnh một ngôi làng bị xóa sổ vì dám chống đối mức thuế cao su: binh lính quấn lưới vào một nhóm 10 người, buộc đá và đẩy họ xuống sông. Phụ nữ bị hãm hiếp trước khi đóng đinh cùng con cái họ lên thập tự giá, đầu nam giới trong làng được cắm trên các cọc rào. Bàn tay bị chặt được thu thập và xếp đầy các giỏ. Một người lính nói với ông: “Đừng quá quan tâm đến điều này, họ sẽ giết chúng tôi nếu không mang cao su về. Tuy nhiên tay người có thể giúp giảm thời gian quân dịch, ủy viên hội đồng công ty đã hứa với tôi như vậy”.

Không phải mỗi bàn tay đều là một người chết, đôi khi binh lính rủ lòng thương và chỉ chặt tay nạn nhân đem về. Những bức ảnh chụp bàn tay người bị cắt đứt, đặt dưới chân sĩ quan châu Âu đã trở thành biểu tượng của Nhà nước Congo Tự do. Lính thuộc địa mang chúng đến các trạm thu thuế nộp thay cao su. Người ta lập nhóm đi tấn công bất kỳ ai họ gặp để chặt tay, thay vì vào rừng cạo mủ. Tay người đã trở thành một loại tiền tệ riêng ở Congo. Nếu một người lính nộp nhiều tay hơn đồng đội, anh ta sẽ được thưởng tiền và rút ngắn thời gian quân dịch.

Sự bóc lột và tàn bạo đó đã mang lại lợi nhuận khổng lồ cho Công ty Congo ABIR, và dĩ nhiên là Nhà nước Congo Tự do. Trong hai năm đầu tiên kể từ khi thành lập (1892-94) công ty này có tổng lợi nhuận là 131.340 franc, đến năm 1898 đã là 2.482.697 franc. Giá trị cổ phiếu ABIR đã tăng từ 1892 franc (năm 1892) lên 15.000 franc (năm 1903).

Theo thống kê trong 23 năm (1885-1908) vua Bỉ Leopold II cai trị Congo, ông ta đã tàn sát khoảng 10 triệu người châu Phi  (15-20% dân số) bằng cách ra lệnh chặt tay, thiến, dìm chết đuối, bỏ đói khi cưỡng bức lao động thu hoạch cao su. Phần mỉa mai của câu chuyện này là Leopold II đã phạm những tội ác trên khi thậm chí không đặt chân vào Congo. Dưới sự quản lý của Leopold II, Nhà nước Congo Tự do đã trở thành một trong những vụ xì căng đan quốc tế lớn nhất đầu thế kỷ 20. Sự tàn bạo của nó lên đến độ mà tiêu chuẩn thực dân cũng không thể nào chấp nhận được. Đa số nhà thám hiểm, truyền giáo, nhà văn, phóng viên……từng đến Congo đều quay về gia nhập phong trào phản đối chế độ Leopold (trong số này có nhà văn Mỹ Mark Twain và nhà văn Anh Conan Doyle – tác giả tiểu thuyết Sherlock Holmes). Cuối cùng, nước Anh phải công khai yêu cầu quốc tế xem xét lại Hiệp định Berlin 1885 do đã trao quá nhiều quyền hạn và lãnh thổ cho vua Bỉ.

Áp lực quốc tế mạnh mẽ đã buộc Nhà nước Congo Tự do phải giải thể và sát nhập thành một thuộc địa của Bỉ năm 1908. Nhờ luật pháp Bỉ được áp dụng mà sự tàn bạo trong vấn đề thu hoạch cao su đã giảm đi (thực tế là do cao su mọc hoang đã bị khai thác cạn kiệt, còn cây cao su thân gỗ mới trồng thì chưa đến tuổi thu hoạch), y tế và giáo dục cũng được cải thiện hơn. Tuy nhiên xã hội Congo vẫn là xã hội thuộc địa bị bóc lột kiểu thực dân với mức độ phân biệt chủng tộc cao. Ngày 30 tháng 6 năm 1960, nước Cộng hòa Congo tuyên bố độc lập.

Cho đến nay, Bỉ chưa từng đưa ra lời xin lỗi về giai đoạn Nhà nước Congo Tự do.

Câu chuyện về “anh hùng nhỏ tuổi nhất” của Hitler.

Câu chuyện về “anh hùng nhỏ tuổi nhất” của Hitler.

Trong khi hơn 76 vạn lính Đức và 2,5 triệu chiến sĩ Xô Viết giành giật nhau từng tấc đất quanh thủ đô Berlin, Hitler đã rời Boongke lần cuối cùng để lên mặt đất, trao huân chương cao quý nhất của Đức (Thập tự Sắt) cho một số thành viên tổ chức Hitler Youth -Thanh niên Hitler (gồm trẻ em từ 14 đến 18 tuổi). Được nhận huân chương còn có 19 thành viên của Jungvolk (tổ chức quân sự dành cho trẻ em Đức nhỏ hơn, từ 10 đến 14 tuổi).
 
Cậu bé đang được bắt tay là Alfred Czech, người nhỏ tuổi nhất nhận huân chương ngày hôm đó. Trong một cuộc phỏng vấn năm 2005, cụ ông Alfred Czech nhớ lại khoảng khắc sau khi được gắn huân chương “Führer bắt tay tôi, sau đó ông ta véo tai trái của tôi một cái và nói: Hãy giữ gìn nó!”.
 
Gia đình Alfred Czech ở làng Silau, Goldenau, được cắt cho Ba Lan sau khi thế chiến kết thúc. Trong 2 ngày, cậu bé 12 tuổi đó đã đưa được 12 lính Đức bị thương về tuyến sau, bất chấp đạn vãi như mưa ngược xung quanh. Vài ngày sau, một viên tướng xuất hiện và nói cậu được triệu tập đến Berlin. Alfred Czech lên máy bay và ngay khi bước chân xuống đường băng, cậu cảm nhận được sự rung chuyển của mặt đất, 11.000 khẩu pháo các cỡ của Hồng quân đang nã đạn vào Berlin.
 
Những thành viên Hitler Youth và Jungvolk được giới thiệu với nhau, mặc trang phục đẹp và ăn một bữa no nê. Bên trong khu vườn Reich Chancellory, họ xếp hàng vào sáng hôm đó (20/4) đợi Führer đến. Một đội quay phim tuyên truyền của Đức đã lắp máy và chọn vị trí sẵn sàng. Hitler xuất hiện với cổ áo chưa gấp, râu mép màu xám và một bên tay trái áp sát vào người, nó bị co giật nên ông ta không thể tự mình gắn huân chương được. Một người phụ tá phải làm thay việc này. Khi đến lượt Alfred Czech, Hitler mở miệng “Vậy ra đây là người nhỏ tuổi nhất? Cậu không sợ gì khi cứu lính của ta à?”. Alfred Czech nhớ lại mình đã trả lời: “Không, thưa Führer!”.

Sau buổi lễ, họ được đi cùng với lãnh đạo Đức Quốc xã xuống boongke ngầm. Ở đó, cả nhóm được cho ăn trưa trong khi Hitler trao đổi với từng người về cảm nhận chiến tranh. Khi kết thúc, mỗi người đều được hỏi muốn trở về nhà hay ra mặt trận. Alfred Czech, như mọi thành viên khác, đã trả lời rằng: “Mặt trận, thưa Führer!” Tối hôm đó khi Hitler đã về phòng ngủ, tình nhân Eva Braun dẫn cả nhóm lên mặt đất để tổ chức một bữa tiệc mừng. Moi người uống champagne, nhồi nhét thức ăn trong tiếng máy hát vặn to, bài “Blood-red roses tell you of happiness”.
 

Rồi Alfred Czech được đưa đi huấn luyện quân sự cấp tốc, rất nhanh chóng cậu đã có thể sử dụng súng trường và súng chống tăng Panzerfaust. Trước khi ra trận, viên sĩ quan hỏi cậu có ước muốn gì không. Alfred Czech nói mình chỉ muốn sở hữu một cây đàn phong cầm và được trao nó vài giờ sau. Trên thực tế, ngay cả khi muốn về nhà, cậu nhóc 12 tuổi cũng không thể làm được điều đó. Vào thời điểm Alfred Czech được gắn huân chương thì vùng Goldenau đã bị Hồng quân đánh chiếm. Cậu ta không còn lựa chọn nào khác ngoài việc hành quân đến Freudenthal ở vùng Sudetenland để chiến đấu. Mọi lính Đức đều phải chào Alfred Czech khi nhìn thấy huân chương Thập Tự Sắt trên ngực cậu, tuy nhiên một số người sau đó đã khuyên cậu bé nên quay về, tất cả đều là thương binh hay lính kỳ cựu. Được nhồi nhét chủ nghĩa anh hùng cá nhân nên Alfred Czech bỏ qua tất cả những lời khuyên đó.

Những ngày cuối cùng của tháng 4, một viên đạn bắn xuyên phổi đã khiến Alfred Czech bị bắt làm tù binh. Cậu vẫn sống sót một cách kỳ diệu trong hai năm bị giam giữ ở Tiệp Khắc. Khi được trả tự do năm 1947, Alfred Czech trở về nhà và biết tin cha mình đã chết trong chiến tranh. Sự nổi tiếng đã gây hại cho cậu. Cảnh sát Ba Lan đến và buộc gia đình cậu hủy bức ảnh chụp cảnh nhận huân chương Thập Tự Sắt treo trên tường, tuy nhiên Alfred Czech không bị bắt giam mà chỉ bị thẩm vấn vài giờ, có lẽ do người ta nhận thấy khi đó cậu còn quá nhỏ tuổi để ý thức được mọi thứ. Alfred Czech di cư sang Tây Đức vào năm 1964, sau rất nhiều nỗ lực vì khi đó Ba Lan và Tây Đức đang thuộc 2 phe đối đầu nhau trong Chiến tranh Lạnh. Ông định cư ở vùng Rhineland và kiếm sống bằng nghề xây dựng. Năm 2005, Alfred Czech có 10 đứa con và hơn 20 đứa cháu.

Ông không còn giữ được huân chương Thập Tự Sắt, nó đã thất lạc khi Alfred Czech bị bắt làm tù binh. Tuy nhiên bức ảnh lịch sử thì vẫn còn, do tư liệu về “anh hùng nhỏ tuổi nhất của Hitler” đã được tìm thấy sau chiến tranh. Hiện bức ảnh được đóng khung treo trên phòng khách nhà Alfred Czech. Hồi tưởng lại cuộc đời mình hơn nửa thế kỷ trước, ông trầm ngâm: “Khi đó tôi còn bé, không suy nghĩ nhiều mà chỉ muốn làm được điều gì đó. Tôi không nghĩ việc gửi trẻ em ra mặt trận là sự điên rồ. Đấy là chiến tranh.”

– Dịch và biên tập: Muitenbac777:-

SỰ KIỆN MÃN CHÂU NĂM 1931

SỰ KIỆN MÃN CHÂU NĂM 1931

Sau chiến tranh Nga-Nhật, hiệp ước Portsmouth cho phép Nhật Bản thuê lại chi nhánh đường sắt Nam Mãn Châu. Tuyến đường sắt này tuy thuộc lãnh thổ Trung Quốc, nhưng gần như đã bị nhượng cho Nga do một hiệp ước bất bình đẳng từ năm 1896 quy định người Nga có hầu hết chủ quyền ở đây. Bởi vậy, lính Nhật được phép đóng quân dọc tuyến để đảm bảo an ninh đường sắt, đối mặt với các doanh trại biên phòng Trung Quốc ở khu vực đó.

Trong tiếng Nhật, Gekokujō ( 下克上) là một thuật ngữ dùng để chỉ hành vi vượt quyền của cấp dưới, hay còn gọi là “hạ khắc thượng”. Tuân theo tinh thần này và quan niệm rằng xung đột ở Mãn Châu sẽ tạo ra lợi ích tốt nhất cho Nhật Bản, một nhóm sĩ quan đã lên kế hoạch tạo sự cố để có cớ gây chiến với Trung Quốc.

Nhóm sĩ quan này gồm đại tá Seishirō Itagaki, trung tá Kanji Ishiwara , đại tá Kenji Doihara, thiếu tá Suemori Komoto và thiếu tá Takayoshi Tanaka. Họ bí mật đặt chất nổ trên đường sắt ở 1 vị trí hẻo lánh (đến nỗi nó không có tên trong bản đồ) cách doanh trại Trung Quốc chỉ 800m và kích nổ lúc 22h20 ngày 18/9/1931. Do tính toán sai lượng nổ, chỉ có 1,5m đường bị hư hỏng, không đủ để làm trật bánh một đoàn tàu từ Trường Xuân đi qua ngay sau đó. Mặc dù vậy, đây là cái cớ để ngày hôm sau nhóm sĩ quan này cho 2 đơn vị pháo binh bắn phá và chỉ huy khoảng 500 lính Nhật tấn công doanh trại Trung Quốc ở Phụng Thiên (nay là Thẩm Dương).

Dù có tới 7000 người (đông gấp 12 lần) nhưng lính Trung Quốc trang bị kém, huấn luyện tồi và tinh thần thấp, còn quân Nhật thời điểm đó đã đáp ứng phần lớn tiêu chuẩn quân sự châu Âu. Sau 1 ngày giao tranh, quân Trung Quốc bỏ doanh trại rút lui, để lại khoảng 500 xác chết. Phía Nhật chỉ có vài thương vong. Tướng Shigeru Honjō – tư lệnh đạo quân Quan Đông của Nhật sau khi biết tin, rất ngạc nhiên vì cấp dưới đã giao tranh mà không hề có sự cho phép của mình. Nhưng rồi báo cáo của trung tá Kanji Ishiwara đã thuyết phục được tướng Shigeru Honjō về sự “gây hấn” của đối phương, nguyên do là tuyến đường sắt bị “tấn công” có tầm quan trọng lớn về công nghiệp và kinh tế.

(“Bằng chứng” do người Nhật đưa ra là mũ, súng của lính Trung Quốc và 2 đoạn tà vẹt hỏng – tất cả đều được ngụy tạo)

Giận dữ vì sự “phá hoại”, tướng Shigeru Honjō bèn gọi thêm viện quân từ Hàn Quốc sang, ra lệnh đánh chiếm tất cả các thành phố và vị trí chiến lược tại Mãn Châu để trả đũa. Tướng Quốc dân đảng là Trương Học Lương, với sự đồng ý ngầm từ Tưởng Giới Thạch, liên tiếp rút quân mà không hề kháng cự. Lúc đó Trương đang dùng cố vấn Nhật trong một số lĩnh vực, và những người này chỉ việc tuồn tin về hướng tiến quân của Nhật để Trương ra lệnh thu dọn kho tàng rút lui mà thôi. Mặc dù có sự chống cự từ các nhánh quân địa phương ở Hắc Long Giang và Cát Lâm, nhưng diễn ra lẻ tẻ và không kéo dài được lâu. 5 tháng sau sự cố, đất Mãn Châu đã hoàn toàn nằm trong sự kiểm soát của Nhật Bản.

Việc rút lui của Trương Học Lương bị chỉ trích rất mạnh mẽ (báo chí gọi ông ta là “Tướng khuất phục”), dù lệnh không kháng cự này là từ chính phủ trung ương ban hành xuống. Ở vùng Đông Bắc lúc ấy, tư lệnh Trương Học Lương có trong tay 250.000 quân chính quy, một số xe tăng, 60 máy bay chiến đấu, 4000 súng máy và 4 tiểu đoàn pháo binh. Đối mặt với họ chỉ là 11.000 quân Nhật với trang bị nhẹ, vốn chỉ có nhiệm vụ duy trì an ninh đường sắt.

Năm 1932, chính quyền Quốc dân đảng có rất nhiều vấn đề nội bộ phải giải quyết. Trận lụt khủng khiếp ở sông Dương Tử năm 1931 đã khiến 200.000 người chết và 28.5 triệu người bị ảnh hưởng. Ba đợt bao vây tấn công cứ địa của Đảng Cộng sản Trung Quốc đều bị đẩy lui với tổn thất nặng nề. Ở Quảng Châu, Hồ Hán Dân thành lập chính phủ riêng đối lập với Tưởng. Do đang dồn các nguồn lực để khắc phục hậu quả lũ lụt và tổ chức đợt bao vây tấn công thứ tư, Tưởng Giới Thạch đã quyết định “buông” Mãn Châu để tránh phải sa vào một cuộc xung đột vũ trang với Nhật Bản. Dĩ nhiên điều này không được công khai. Trong hội nghị ngày 20 tháng 11 năm 1932, phe Quảng Châu công kích Tưởng dữ dội và đòi Tưởng từ chức vì để mất một vùng đất đai rộng lớn, giàu tài nguyên khoáng sản. Ngày 15 tháng 12, Tưởng từ chức chủ tịch và được thay thế bởi Tôn Khoa – con trai Tôn Trung Sơn.

Trung Hoa dân quốc đưa vụ việc ra khiếu nại tại Hội Quốc Liên từ ngày 19 tháng 9. Ngày 24 tháng 10, Hội Quốc Liên ra nghị quyết yêu cầu Nhật Bản rút quân về vị trí cũ, bắt đầu từ ngày 16 tháng 11. Nhật bác bỏ nghị quyết này và nhấn mạnh vào các cuộc đàm phán song phương với chính phủ Trung Quốc, vốn chậm chạp và chẳng mang lại kết quả gì.

(Đại diện Trung Quốc đưa vụ việc ra trình bày ở Hội Quốc Liên)

Ngày 7 tháng 1 năm 1932, Bộ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ Henry Stimson công bố Học thuyết Stimson, trong đó tuyên bố rằng Hoa Kỳ sẽ không công nhận bất kỳ chính phủ nào được thành lập nhờ các hành động quân sự của Nhật Bản tại Mãn Châu. Vào ngày 14 tháng 1 năm 1932, một ủy ban của Hội Quốc Liên, đứng đầu là bá tước Anh Victor Bulwer-Lytton xuống tàu biển đến Mãn Châu để điều tra. Tuy nhiên đến tháng 3, Nhật đã thành lập xong cái gọi là Mãn Châu Quốc, do hoàng đế bù nhìn Phổ Nghi làm lãnh đạo.

Bất chấp vị thế cao của Nhật Bản trong Hội Quốc Liên, báo cáo của Lytton tuyên bố Nhật Bản là thế lực xâm chiếm, Mãn Châu Quốc là “một nước do bộ tham mưu Nhật tạo ra”, yêu cầu hoàn trả Mãn Châu cho Trung Quốc, dù có khéo léo dung hòa lợi ích bằng việc từ chối khẳng định người Nhật là chủ mưu vụ đánh bom đường sắt. Trước khi báo cáo có thể được bỏ phiếu tại Đại hội đồng Hội Quốc Liên, chính phủ Nhật Bản tuyên bố ý định tiến xa hơn nữa vào lãnh thổ Trung Quốc. Báo cáo được Đại hội đồng thông qua với kết quả 42–1 vào năm 1933 (chỉ Nhật Bản bỏ phiếu trống), song thay vì rút binh sĩ khỏi Trung Quốc, Nhật Bản quyết định rời bỏ Hội Quốc Liên.

Sử gia người Anh Charles Mowat khi đó viết rằng ý tưởng về an ninh tập thể và pháp quyền đã bị đánh bại. Hội Quốc Liên không có lực lượng vũ trang riêng để buộc các nước thành viên thực thi nghị quyết của mình. Sau thế chiến I, các cường quốc đều không muốn dính líu vào một cuộc xung đột quân sự xa xôi. Cấm vận kinh tế cũng không hiệu quả, do Mỹ không phải thành viên Hội Quốc Liên nên Nhật có thể buôn bán trực tiếp với nước này qua ngả Thái Bình Dương. Người Nhật lập ra một chính phủ quân chủ lập hiến – trên danh nghĩa là chính phủ cai trị đất Mãn Châu, tuy nhiên các cố vấn Nhật (giữ vai trò thứ trưởng) là người quyết định mọi việc. Nhà nước bù nhìn Mãn Châu Quốc được các đồng minh của Nhật công nhận (28 quốc gia), trở thành bàn đạp quan trọng cho việc xâm chiếm lãnh thổ Trung Quốc về sau.

(Mãn Châu Quốc năm 1939)

 – Muitenbac777 –

Tổ chức Quốc gia Hồi giáo (Nation of Islam)

Tổ chức Quốc gia Hồi giáo (Nation of Islam)

Quốc gia Hồi giáo (Nation of Islam), viết tắt NOI, là phong trào tôn giáo-chính trị của người Mỹ gốc Phi, thành lập từ những năm đầu thập niên 30 của thế kỷ trước. Phong trào này theo thuyết chủ nghĩa da đen tối cao (black supremacism), cho rằng người da đen cao quý hơn tất cả các chủng tộc khác. Riêng dân da trắng bị xem là ác quỷ, có trái tim và linh hồn trống rỗng, màu da trắng bị diễn giải là hậu quả của “bệnh hủi và sự thấp kém di truyền”. Phong trào đã xây hơn 130 thánh đường ở 22 bang của Mỹ, có trường đại học để truyền bá giáo lý và 1 website với hàng triệu lượt truy cập. Số lượng thành viên phong trào khoảng 50.000 (ước tính tối đa năm 2007). Bản doanh đang đặt tại Đại thánh đường Maryam ở Chicago, bang Illinois. Lãnh đạo hiện nay là Louis Farrakhan, một nghệ sĩ vĩ cầm từng đạt giải thưởng quốc gia khi mới 14 tuổi.

NOI dạy các tín dồ rằng thế giới hiện nay được chia làm 3 loại người: 85% là những người “mù, câm, điếc” nên dễ phạm sai lầm và khó đi đúng hướng. 10% người giàu (được gọi bằng thuật ngữ riêng “những kẻ tạo ra nô lệ”) kiểm soát 85% kia bằng cách duy trì sự ngu dân, vận dụng khéo léo tôn giáo và các phương tiện truyền thông hiện đại. 5% còn lại là những “giáo viên ngay thẳng nhưng yếu kém”, số này biết về sự thật đó và luôn luôn đấu tranh để giúp “giải phóng trí óc” cho quần chúng nhân dân.

Hệ tư tưởng của NOI được con trai nhà sáng lập, Elijah Muhammad diễn giải chi tiết trong cuốn sách “Thông điệp cho người da đen ở Mỹ” (1965). Nền tảng tư tưởng chia làm hai phần; ” Người Hồi giáo muốn điều gì” (10 mục), “Người Hồi giáo tin tưởng điều gì” (12 mục). Theo đó, Elijah Muhammad cho rằng Mặt trăng đã từng là một phần của Trái Đất , và tuổi thọ Trái đất là hơn 76 nghìn tỷ năm trước thời kỳ Adam và Eva được ghi chép trong Kinh Thánh. Dân da đen ở Mỹ hiện tại là hậu duệ của bộ tộc Shabazz từ 66 nghìn tỷ năm trước, 12 bộ tộc da đen khác đã chết khi một vụ nổ lớn tách mặt trăng khỏi trái đất. Tất cả các chủng tộc khác đều bắt nguồn từ da đen, trừ da trắng – lai ghép từ ác quỷ và giống….chồn hôi bởi Yakub (tức nhân vật Jacob trong Kinh Thánh và Kinh Koran). Bộ tộc Shabazz sau đó đã di chuyển đến vùng thung lũng màu mỡ của sông Nile, và cuối cùng định cư tại địa điểm hiện nay là thánh địa Hồi giáo Mecca.

Bên trong Đại thánh đường của NOI.

Trong một cuộc phỏng vấn năm 1997, lãnh đạo NOI Louis Farrakhan cho biết ông ủng hộ việc ly khai khỏi Mỹ và thành lập một quốc gia của người da đen, nếu “chúng tôi không thể hòa hợp được sau 400 năm cống hiến mồ hôi và công sức cho nước Mỹ”. Khi được hỏi rằng liệu ông có đồng tình với lý thuyết coi người da trắng là 1 lũ “quỷ mắt xanh” hay không , Farrakhan trả lời:

“Trong Kinh thánh, trong “Sách Khải Huyền” đều nói về sự sụp đổ của Babylon. Thành Babylon sa ngã vì nó đã trở thành nơi ở của ma quỷ. Chúng tôi tin rằng nền văn minh Babylon cổ đại là biểu tượng cho một Babylon hiện đại, đó chính là nước Mỹ.”

Phong trào quốc gia Hồi giáo có hẳn một tổ chức bán quân sự riêng là FOI:

Malcolm X , một trong những người Mỹ gốc Phi nổi tiếng nhất trong lịch sử, một thời là lãnh đạo chủ chốt của NOI. Ông từng tuyên bố:

“Người da trắng nghĩ rằng mình kém cỏi hơn dân da đen. Bất cứ ai từng nghiên cứu di truyền học đều biết rằng màu trắng được coi là tính lặn và màu đen được coi là tính trội. Toàn bộ nền kinh tế của Mỹ đang dựa trên sự tối cao của màu trắng. Ngay cả các triết lý tôn giáo, về bản chất cũng đặt màu trắng lên đỉnh của nó. Một Chúa Giêsu da trắng, trinh nữ trắng, thiên thần cũng trắng nốt. Tất cả mọi thứ cùng một màu. Dĩ nhiên, ác quỷ thì phải màu đen.”

NOI Có quan hệ thân thiết với nhà lãnh đạo Libya Muammar Gaddafi, và nhận được tài trợ hàng triệu USD ngay từ thập niên 1970. Do bị Mỹ cấm vận, chính phủ Libya đã chuyển tiền qua Ngân hàng Tín dụng và Thương mại Quốc tế (BCCI) ở Canada đến một tổ chức tình báo ở Washington để làm trung gian cho NOI. Năm 1996, lãnh đạo NOI Farrakhan có chuyến công du đến Iran, Iraq và Libya, Ông được tiếp đón trọng thể và nhà lãnh đạo Gaddafi cam kết khoản viện trợ 1 tỉ USD để phát triển cộng đồng da đen và tăng cường quyền lực chính trị. Báo chí Iran trích dẫn 1 câu mà về sau Farrakhan phủ nhận, “Thiên Chúa sẽ huỷ diệt nước Mỹ bằng người Hồi giáo, Chúa sẽ không cho Nhật Bản hay châu Âu cái vinh dự hạ bệ nước Mỹ đó”. Khi biết tin, chính phủ Mỹ đã làm mọi cách để ngăn không cho NOI tiếp cận khoản tiền này. Năm 2011, Farrakhan bày tỏ sự đau buồn trước cái chết của nhà lãnh đạo Libya Muammar Gaddafi, và thường nhắc đến “anh trai tôi” khi trả lời phỏng vấn.

Phong trào Quốc gia Hồi giáo có một tạp chí riêng, tờ The Final Call, phát hành trung bình 900.000 bản/tuần hồi thập niên 1960, có thời kỳ ra đến 2,5 triệu bản/tuần. Nhiều bài viết được cho là cực đoan và có tư tưởng bài Mỹ. Giáo sĩ Harold Muhammad, người đứng đầu nhà thờ Hồi giáo thuộc NOI ở New Orleans, từng viết họ có đủ bằng chứng về việc AIDS là một bệnh nhân tạo được chính phủ Mỹ sử dụng để chống lại người da đen.

Võ sĩ quyền anh nổi tiếng Muhammad Ali cũng từng là thành viên NOI.

Muhammed Ali, heavyweight champion sits at Black Muslim meeting in Chicago February 26, 1967, as Elijah Muhammed, leader of the religious sect addresses some 10,000 members of his sect in Illinois. (AP Photo/Paul Cannon)

Dù giáo thuyết của NOI có thiên hướng Sunni, nhưng do tư tưởng cực đoan và một số khác biệt (họ cho rằng nhà sáng lập của mình, thạc sĩ W. Fard Muhammad là đấng Messiah của người Do thái và Mahdi của Hồi giáo) nên phong trào này không được công nhận là 1 nhánh của đạo Hồi.

– Muitenbac777 –

Phân biệt ba khái niệm Chiến Lược – Chiến Thuật – Chiến Dịch

Phân biệt ba khái niệm Chiến Lược – Chiến Thuật – Chiến Dịch

Chiến lược, Chiến thuật, Chiến dịch là ba khái niệm áp dụng rất phổ biến trong các lĩnh vực. Tuy nhiên có rất nhiều người thường xuyên lẫn lộn giữa chúng với nhau, thậm chí là những người viết lách chuyên nghiệp. Vậy các khái niệm này là gì và có khác biệt gì ?

Các định nghĩa :

Chiến Lược :

Chiến lược là một từ có nguồn gốc từ lĩnh vực quân sự, đó là phương cách để chiến thắng trong một cuộc chiến tranh. Có nhiều định nghĩa khác nhau nhưng có thể hiểu chiến lược là chương trình hành động, kế hoạch hành động được thiết kế để đạt được một mục tiêu cụ thể, là tổ hợp các mục tiêu dài hạn và các biện pháp, các cách thức, con đường đạt đến các mục tiêu đó. Trong quân sự, chiến lược khác với chiến thuật, chiến thuật đề cập đến việc tiến hành một trận đánh, trong khi chiến lược đề cập đến việc làm thế nào để liên kết các trận đánh với nhau. Nghĩa là cần phải phối hợp các trận đánh để đi đến mục tiêu quân sự cuối cùng.

Như vậy một chiến lược phải giải quyết tổng hợp các vấn đề sau :

-Xác định chính xác mục tiêu cần đạt.
– Xác định con đường, hay phương thức để đạt mục tiêu.
– Và định hướng phân bổ nguồn lực để đạt được mục tiêu lựa chọn.

Trong ba yếu tố này, cần chú ý, nguồn lực là có hạn và nhiệm vụ của chiến lược là tìm ra phương thức sử dụng các nguồn lực sao cho nó có thể đạt được mục tiêu một cách hiệu quả nhất. ( theo wikipedia )

Chiến Thuật :

Chiến thuật là phương pháp sử dụng để đạt mục đích cụ thể. Chiến thuật được dùng ban đầu với nghĩa là chiến thuật quân sự nhưng sau đó được sử dụng rộng rãi trong các lĩnh vực khác. Từ chiến thuật được sử dụng trong các lĩnh vực có áp dụng lý thuyết như kinh tế, thương mại, trò chơi, và các lĩnh vực thực hành khác như đàm phán, thể thao. ( theo wikipedia )

Chiến Dịch :

ĐN 1 : Toàn bộ nói chung các trận chiến đấu diễn ra trên một chiến trường và trong một thời gian, tiến hành theo kế hoạch và ý định thống nhất, nhằm thực hiện mục đích chiến lược nhất định. VD : Chiến dịch Điện Biên Phủ

ĐN 2 : Toàn bộ nói chung những việc làm tập trung và khẩn trương, tiến hành trong một thời gian nhất định, nhằm thực hiện một mục đích nhất định. VD : Phát động chiến dịch phòng bệnh mùa hè ; mở chiến dịch truy quét tội phạm trên toàn quốc. ( theo từ điển Soha )

Nếu là người không thường xuyên phải tiếp xúc với ba khái niệm thì có đọc định nghĩa cũng chưa chắc hiểu được. Và trong thực tế đôi khi ranh giới giữa chúng chỉ là tương đối. Có thể hiểu đại khái rằng chiến lược là một kế hoạch chung, có tầm bao quát lớn về không gian và thời gian. Để thực hiện kế hoạch chung đó, người ta sẽ áp dụng những chiến thuật cụ thể trong các phạm vi, thời gian cụ thể. Chiến dịch là khái niệm bao gồm các kế hoạch trong một quãng không gian tương đối rộng trong một quãng thời gian, với một mục tiêu cụ thể trong chuỗi các mục tiêu cần đạt được để thực hiện chiến lược.

Trong nghiên cứu lịch sử quân sự, ba khái niệm này thường xuyên được áp dụng để miêu tả các sự kiện, chuỗi sự kiện. Nếu như sử phương Tây khá chú trọng về nghiên cứu chiến thuật thì sử Á Đông thường xao nhãng, tập trung vào chiến dịch và chiến lược. Đối với những người muốn kiến thức lịch sử của mình có hệ thống và vận dụng được vào thực tế cuộc sống, hầu như không còn cách nào khác là phải nắm vững ba khái niệm đã nêu.

Một số ví dụ về Chiến lược :
– Việt Nam hóa chiến tranh
– Chia để trị
– Viễn giao cận công ( thân thiện với nước ở xa, đánh nước ở gần )
– Lấy công bù thủ
– Chống tiếp cận
– Phòng thủ, phản công, tấn công … ( trong bối cảnh một cuốc chiến )

Một số ví dụ về Chiến dịch :
– Chiến dịch Hồ Chí Minh. Mục tiêu : giải phóng hoàn toàn miền Nam trong năm 1975 -1976 ( trên thực tế đây cũng có thể xem là một Chiến lược )
– Chiến dịch Điện Biên Phủ. Mục tiêu : đánh bại các lực lượng chủ lực cơ động của Pháp, buộc địch phải chịu thua
– Chiến dịch Tây Nguyên. Mục tiêu : chiếm Tây Nguyên làm bàn đạp mở rộng tiến công toàn miền nam, tiêu hao sinh lực địch …

Một số ví dụ về Chiến thuật :
– Tiền pháo hậu xung
– “Nắm thắt lưng địch mà đánh”
– Trực thăng vận
– Thiết xa vận
– Phòng ngự, phản công, tấn công … ( trong một trận đánh )

Tổng hợp từ Diễn đàn LSVN

Lĩnh Ngoại Đại Đáp – Sử liệu nước Tống nói về Đại Việt thời Lý

Lĩnh Ngoại Đại Đáp – Sử liệu nước Tống nói về Đại Việt thời Lý

Người Giao Chỉ

Người nước Giao Chỉ mặc áo đen, nhuộm răng đen, búi tóc, đi chân trần, không kể quý tộc hay thấp hèn đều như thế. Người đứng đầu các thôn làng cũng đi chân trần, nhưng cài trâm vàng, trên là áo vàng, dưới là váy tía. Người còn lại thì trên là áo đen, cổ áo cuộn tròn trước cổ, bốn cái vạt áo giống cái vai gọi là bốn cái đỉnh; dưới là váy đen. Hoặc cài trâm sắt, hoặc đi giày da, tay cầm cái quạt lông hạc, đầu đội nón trôn ốc. Người nước này xăm thân như hình khắc của trống đồng. Quân sĩ khắc lên trán chữ “Thiên tử binh”. Người đàn bà thì da trắng trẻo, khác với đàn ông. Mặc váy đen, đàn ông thì mặc quấn. Lấy dầu thơm bôi lên tóc như bôi sơn, trùm khăn the đen, buộc quanh đỉnh đầu nhưng nhỏ, từ trán trở lên thì nếp gấp nhỏ như đường khâu, phía trên đến đỉnh. Thân mặc áo đen, cổ áo cuộn khúc lớn, có thêm áo cổ cuộn khúc nhỏ ở trên. Chân đi giày, bít tất, đi dạo giữa đường lớn, không khác người Trung Quốc, nhưng nhìn cái khăn là phân biệt được. Người nước này gửi thư từ, bao đựng như măng tre, bái lạy thong thả. Sứ giả đến, các quan văn võ đều mặc áo dài màu tía, buộc dây lưng màu đỏ vẽ hình tê giác, không có hình cá. Từ lúc cống voi về sau, Lí Bang Chính lại sai sứ đến Khâm Châu, mới có thêm hình cá vàng rất to lớn. Kiệu của người nước này như cái túi vải, khi sứ giả đến Khâm Châu thì ngồi kiệu mỏng, khi trời tạnh ráo đều dùng kiệu này.

Mực

Dung Châu có nhiều cây tùng lớn, người châu này làm ra mực. Một thoi mực tốt không đầy trăm quan tiền, rẻ nữa thì một cân mực chỉ có hai trăm quan tiền, thương nhân đề ra số tiền mua rồi bán mực. Mực của người Giao Chỉ tuy không đẹp lắm, cũng không đến nỗi xấu lắm. Người Giao Chỉ lấy mực và nghiên đều đeo ở vùng eo lưng.

Quạt lông

Người huyện Tĩnh Giang giỏi bắt chim, rồi vặt lông để làm quạt, các quạt phải đính lông, lấy lông để trương ra, lấy dây buộc vào cây trụ, đợi thịt khô gân cứng mới dùng được. Chim kinh là loài chim lớn, lấy lông của nó làm quạt, dài vài thước, màu đen, quạt nhiều gió, dũng sĩ thường dùng quạt này, có phần tráng lệ. Lông chim cò thì màu trắng muốt, nhẹ mà quạt gió nhỏ, sĩ phu thường dùng quạt này. Lấy keo bôi lên gân xương cho màu đỏ, cũng có phần đẹp. Người Giao Chỉ lại dùng lông chim hạc, lấy dây bện với lông, nhưng phân biệt với cán. Nói rằng đất Giao Chỉ có nhiều rắn, chim hạc lại ăn thịt rắn, rắn ngửi thấy mùi lông chim hạc thì tránh xa. Dùng chim hạc để đuổi rắn vậy.

Nón Man

Giao Chỉ có nón như mũ đâu mâu, nhưng đỉnh nhọn giống hình trôn ốc, gọi là nón trôn ốc. Lấy sợi tre nhỏ mà làm nên; tuy là khéo léo nhưng chỉ có người thấp hèn đội mà thôi.

Giày da

Chân người Giao Chỉ xỏ dày da, giống hình vẽ các vị La Hán đi giày. Lấy da làm đế, nhưng giữa có một cái trục nhỏ dài khoảng một tấc, phía trên có núm nhỏ để đem chân xỏ vào mà đi. Hoặc lấy tấm da màu đỏ đính vào giống hình chữ thập, lại đặt ba cái núm ở trên đế da để chân xỏ vào mà đi. Đều là giày mà người giàu có đi vậy. Đất này gần phương tây nên trang phục giống người phương tây.

Khăn vuông của người An Nam

Sứ giả của An Nam đến Khâm Châu, quan Thái thú dùng hát múa để đãi tiệc, cũng đem tặng các thợ hát múa, người ta đem cho một cái khăn vuông. Khăn vuông mịn như tấm lưới nhỏ nhưng trùm khăm thì dùng gấm. Người Giao Chỉ tự mặc áo khố, đều để khăn vuông kín mít bên trong người vậy. Không biết cái khăn vuông này của người An Nam dùng để làm gì. Ta nghe nói người Man lấy được vải đỏ của Trung Quốc, đều gỡ sợi tơ màu mà tự đan áo, có lẽ khăn vuông này cũng gỡ sợi tơ ấy ra mà làm thôi.

Đồng

Sách sử chép người Lạc Việt có nhiều đồng, bạc. “Giao Châu kí” viết: “Người Việt đúc đồng làm thuyền”. “Quảng Châu kí” viết: “Người Lí, Lão đúc trống đồng”. Nghe nói các nước Giao Chỉ và Chiêm Thành, chỗ vua ở đều lấy đồng làm ngói, chắc rằng phương nam có nhiều đồng. Ngày nay ở Ung Châu có đồng không nhiều mấy, và ngoài khê động miền Hữu Giang, có một động của người Man, là chỗ mà đồng sự sinh ra, đào đất mấy thước thì có quặng, cho nên người Man phần nhiều dùng đồ đồng. Từng có dâng đến triều đình, muốn cùng trao đổi, việc này ở các ti của bản lộ, nói là sinh ra nhiễu động ngoài biên giới, tấu xin bãi bỏ.


Gỗ tư lũy

Gỗ tư lũy mọc ở các châu động miền Lưỡng Giang, cứng, cho vào giữa nước, trăm năm không mục. Người châu động và người Giao Chỉ lấy làm cung tên, các đồ khiên, giáo, là tốt nhất thiên hạ.

Ăn trầu cau

Từ Phúc Kiến dưới Tứ Xuyên cùng các tỉnh Quảng Đông, Tây Lộ, đều có người ăn trầu cau. Khách đến thì không bày trà, chỉ lấy trầu cau làm lễ. Cách làm là cắt như cắt quả dưa, đem một ít vôi trộn với lá trầu, bọc cau mà nhai nhấm, trước thổ ra một ngụm nước màu đỏ, rồi mới nhai phần còn lại. Có ít người, vẻ mặt màu đỏ thẫm, cho nên thi nhân có câu là “say trầu cau”. Không dùng voi hến, chỉ dùng vôi đá; không dùng lá trầu, chỉ dùng lá trầu đằng, ở Quảng Châu lại có thêm các thuốc thơm như đinh hương, hoa quế, hoa tam lại, gọi là trầu cau thuốc thơm. Chỉ có người Quảng Châu dùng rất nhiều, không kể giàu, nghèo, già, trẻ, trai, gái, từ sớm đến tối, thà chẳng ăn cơm, nhai nhấm trầu cau. Người giàu thì dùng bạc làm bồn chứa, người nghèo thì dùng thiếc. Ngày thì lại gần bồn mà nhai, đêm thì đặt bồn ở bên gối, ngủ cũng nhai nhấm trầu cau . Bọn dân đem thượng lưu, hạ lưu, một ngày tiêu hơn trăm quan tiền vì mua trầu cau. Có người giễu cợt người Quảng Châu nói: “Miệng người đi trên đường như miệng con dê”. Ý nói nhai lá trầu, cả ngày cũng nhai, nhai cả quả cau vậy. Hễ gặp mặt nhau thì để hở răng đen môi đỏ; mấy người hẹn gặp thì làm đỏ cả vùng đất, thực đáng chán ghé. Khách như bọn sĩ phu, thường đem tráp theo mình, làm như cái thoi bạc, chia làm ba: một là chỗ đựng trầu, hau là chỗ đựng cạu, ba là chỗ đựng vôi. Sứ giả của Giao Chỉ cũng nhai nhấm trầu cau, người khác hỏi: “Sao lại nhai nhấm như vậy”? Đáp nói: “Để tránh chướng, trừ khí, tiêu thức ăn. Ăn lâu ngày thì một khắc cũng không thể không có nó, không ăn thì miệng lưỡi không có mùi vị, khí lại xú uế”. Từng bàn về nguyên nhân y thuật, nói: “Cau có thể giáng khí, cũng có thể háo khí. Phổi là chỗ của khí, ở trên màng ngực, lấy cuống hoa để ngăn xú uế trong bụng. Lâu ngày ăn cau, thì phổi không thể ngăn, cho nên khí xú uế bốc lên đến vùng má, thường muốn nhai nhấm trầu cau để giáng khí, nhưng không có ích vì chướng, chướng bệnh này lại phát nhiều nhiệt, cho nên không thể không ăn trầu cau vậy”.

Chợ buôn bán ở trại Vĩnh Bình – Ung Châu

Trại Vĩnh Bình thuộc miền Tả Giang – Ung Châu, giao tiếp với đất Giao Chỉ, cách một dòng suối. Phía bắc có trạm dịch Giao Chỉ, phía nam có đình Tuyên Hòa, làm thành chợ buôn bán. Chủ trại Vĩnh Bình quản lí việc buôn bán. Người Giao Chỉ hằng ngày đem thuốc thơm, tê, voi, vàng, bạc, muối, tiền trao đổi để lấy lụa mỏng, gấm, võng, vải của thương nhân Trung Quốc rồi đi. Những người đến trại Vĩnh Bình đều là người Giao Chỉ ở các thôn động, đi đường bộ mà đến. Hàng hóa mang theo đều nhỏ nhẹ, chỉ có muối là nặng nề. Nhưng muối chỉ có thể đổi lấy vải mà thôi. Lấy 25 cân làm một sọt, vải thì lấy vải nhỏ mà người huyện Vũ Duyên – Ung Châu làm ra. Người huyện này cũng thật thà, không gian dối như người Giao Chỉ ở châu Vĩnh An đến Khâm Châu. Như miền Tả Giang lại có sách Nam Giang, tiếp giáp với châu Tô Mậu của Giao Chỉ, lại ít trao đổi, thì viên Tuần phòng của sách Nam Giang trông coi việc buôn bán.


Chợ buôn bán Khâm Châu

Những dụng cụ sinh hoạt của Giao Chỉ đều trông mong ở Khâm Châu, thuyền chèo qua lại không dứt. Chợ buôn bán ở trạm dịch Giang Đông ngoài thành. Người Giao Chỉ lấy cá, ngọc trai đổi lấy gạo, vải, gọi là người Đản Giao Chỉ. Nhà buôn giàu có của nước nước này đến buôn bán, phải từ châu Vĩnh An gửi tờ trình đến Khâm Châu, gọi là Tiểu Cương. Nước này sai sứ giả đến Khâm Châu, nhân đó trao đổi buôn bán, gọi là Đại Cương. Vật mang theo để trao đổi là vàng bạc, tiền đồng, trầm hương, quang hương, thục hương, sinh hương, trân châu, ngà voi, sừng tê. Nhà buôn nhỏ của Trung Quốc bán các đồ giấy, bút, gạo, vải, hằng ngày trao đổi lặt vặt với người Giao Chỉ, cũng không kể đủ. Chỉ có nhà buôn giàu có của đất Thục đến Khâm Châu, ở Khâm Châu đổi lấy trầm hương rồi về đất Thục, mỗi năm qua lại một lần… Người Giao Chỉ vốn thật thà, người Trung Quốc lừa họ ở chỗ cao, thấp của cái cân đo. Sau đó đến ba lần đi sứ, làm rõ lại cân đo của chợ buôn bán. Năm gần đây người châu Vĩnh An rất gian dối, nhà buôn Trung Quốc lừa bọn kia đều lấy thuốc giả, bọn kia thì lấy vàng bạc pha trộn với đồng, đến nối không thể phân biệt được, hương liệu thì trộn với muối, khiến cho nước ngấm vào, hoặc nhét chì vào hương liệu, nhà buôn suy đọa vì cái cách này vậy.

Trống đồng

Trong tỉnh Quảng Tây có trống đồng, người cày ruộng từng lấy được. Hình dạng của nó: vòng tròn chính thì mặt bằng, eo cong, hình như rỏ, lại có cái đế lớn, mặt có năm con cóc, chia ra đứng ở trên, con cóc đều ngồi thỗn chân, một lớn một nhỏ cõng nhau. Các hình khắc xung quanh, vòng tròn thì có hoa văn tiền cũ, hoa văn vuông hình sợi đan chiếu, hoặc là hình người, hoặc là hình ngọc, hoặc người như Phật, như rừng ngọc, hoặc cong như nanh lợn, như tai hươi, đều thành thể thống nhất. Tổng hợp các hoa văn này, phần lớn là hình vẽ tinh tế, khéo léo, tỉ mỉ, có thể nói là hoàn hảo. Trống đồng lớn thì rộng bảy thước, nhỏ thì rộng ba thước, ở các nhà chùa tế thần, Phật đều có trống đồng, châu huyện dùng để đánh điểm canh giờ. Người Giao Chỉ từng mua riêng đem về, chôn giấu trong núi, không biết để làm gì. Xét “Quảng Châu kí” viết: “Người Lí, Lão đúc trống đồng, chỉ có trống cao lớn là quý, mặt trống rộng hơn một trượng”. Không biết đúc nên vào thời nào. Xét rằng, Mã Viện đánh Giao Chỉ, thu được trống đồng Lạc Việt, đúc thành ngựa. Có người nói trống đồng đúc ở thời trước khi xây Tây Kinh. Tuy không phải là vật tế lễ thời Tam Đại, nói rằng đúc vào thời Tam Đại thì có thể đúng vậy. Cũng có trống đồng nhỏ nhất, rộng khoảng hai thước, rất đáng yêu, trống này kẻ sĩ phu tìm kiếm được mà không cho tặng.

Giao Chỉ

“Lễ kí” viết: “Phương nam gọi là Man, Điêu Đề, Giao Chỉ, có người không ăn thức ăn nấu bằng lửa”. “Giao Châu kí” viết: “Người Giao Chỉ, xuất từ huyện Nam Định, xương chân không có đốt, thân có lông, nằm thì dựa vào mới ngồi dậy được”. Ta đến Khâm Châu, thấy đàn ông răng đen, đi chân trần, nhuộm đen quần áo, tai người, nhìn như quạ, gọi là chân không có đốt, thân có lông chăng? Có người nói người Đạo Châu thấp lùn, nay người Đạo Châu cao bảy thước, mà người huyện Cung Thành thuộc Chiêu Châu cách Đạo Châu một bờ ruộng, vùng này có một hai người lùn, trộm nghĩ người huyện Nam Định giống người huyện Cung Thành vậy. Nếu không phải, há có người mà chân không có đốt mà lại dựa vào nhau được sao? Vùng này bị khí chướng lệ, mới đặt tên ấy, nghĩ rằng phải như thế.

Chu Khứ Phi

Nguồn : Diễn đàn LSVN


Ba dòng nước xoáy

Bốn quận phía tây nam đảo Hải Nam có biển lớn gọi là Giao Chỉ dương. Tại biển có 3 dòng nước xoáy, nước phun lên chía thành 3 dòng; dòng thứ nhất chảy về phía nam dẫn đến biển thuộc các nước Phiên ; dòng thứ 2 chảy lên phía bắc qua vùng biển Quảng Đông, Phúc Kiến, Chiết Giang; dòng thứ 3 chảy vào nơi mù mịt không bờ gọi là Đông Đại Dương. Tàu thuyền đi về hướng nam phải qua ba dòng nước xoáy, nếu gặp một chút xíu gió thì vượt được,nếu vào chổ hiểm đó mà không có gió thuyền không ra được, ắt phải vỡ chìm trong ba dòng nước xoáy. Nghe truyền rằng biển lớn phía đông có Trường Sa Thạch Đường [ tức QĐ.Hoàng Sa ] rộng vạn dặm, nước thủy triều thi triển đẩy vào chốn cửu u. Trước kia đã có thuyền bị bão phía tây thổi, trôi dạt đến biển lớn phía đông này , nghe tiếng ba đào chấn nộ hung hãn, trong khoảng khắc gặp gió lớn thuận chiều nên may thoát được.

Nguồn : Hồ Bạch Thảo