Giải mật hồ sơ CIA về buôn lậu thuốc phiện ở Sài Gòn

Giải mật hồ sơ CIA về buôn lậu thuốc phiện ở Sài Gòn

Lào – Sài Gòn đã trở thành một trong những tuyến đường tốt nhất được lập ra để buôn thuốc phiện. Tháng 8/1967, một chiếc C-47 mang 2,5 tấn thuốc phiện và một ít vàng đã bị buộc phải hạ cánh ở Đà Lạt do lính Mỹ không xác định được lai lịch chuyến bay… Bất kể ai là ông chủ của số hàng trên, lịch trình thông thường sẽ là hạ cánh tại một nơi hẻo lánh trong Tân Sơn Nhất với sự bảo vệ của cảnh sát sân bay… Một phần đáng kể số thuốc phiện trên sẽ được bán trực tiếp cho các căn cứ quân sự Mỹ trên khắp miền Nam Việt Nam.

Thêm vào sự hấp dẫn cho mê lộ buôn thuốc phiện tại Việt Nam cuối những năm 50 đầu những năm 60 là Trần Lệ Xuân, bà Rồng của Sài Gòn. Bà Nhu ở vị trí gần như là điều phối toàn bộ quá trình buôn lậu thuốc phiện ở nội địa Việt Nam; nắm giữ quyền lực rất lớn cho đến khi lưu vong một cách xa hoa tại Paris. Bà từng đe dọa một nhà xuất bản Mỹ do có ý định chỉ đích danh bà buôn lậu thuốc phiện, từng đến tận Phong Savan để chỉ đạo. Họ vẫn xuất bản, nhưng không dám nêu tên bà Nhu do e ngại bị trả thù.

Việc Sài Gòn buôn lậu thuốc phiện không mới mẻ gì. Quay lại năm 1949 khi Pháp chỉ định cựu hoàng Bảo Đại làm quốc trưởng, Bảo Đại đã cho Bảy Viễn làm giám đốc cảnh sát đô thành, chức vụ thủ lĩnh của thế giới ngầm tại Sài Gòn – Chợ Lớn về cờ bạc và thuốc phiện. Nhưng quyền lực của Bảo Đại và Bảy Viễn đã sớm bị thay thế bởi Ngô Đình Nhu sau hiệp định Geneve. Đến cuối năm 1955, Nhu đã kiểm soát lực lượng cảnh sát mật, nhờ đó nắm được việc buôn lậu thuốc phiện và ma túy tại đô thành. Ngay khi Nhu đang củng cố quyền lực, một gương mặt ít được biết đến đã bước vào bộ máy quân sự của Diệm, sau nhiều năm đã cẩn trọng mở rộng được sự kiểm soát trong không quân, tiến tới kiểm soát chính phủ Nam Việt Nam cũng như là việc buôn lậu thuốc phiện và ma túy. Đó là Nguyễn Cao Kỳ, người mới trở về từ Algieria để lãnh trách nhiệm trên các máy bay vận tải C-47 của Nam Việt Nam.

Tại thời điểm nào Kỳ tham gia buôn lậu thuốc phiện cùng Nhu là chưa rõ, nhưng cuối những năm 50, Kỳ đã là gương mặt nổi bật trong giới tinh hoa Sài Gòn. Trong cuộc phỏng vấn với RAMSPART, cựu đại tá thủy quân lục chiến Wiliam Corson đã mô tả cuộc sống của Kỳ cuối những năm 50 rất thời thượng: “Là đại tá không lực, thường xuyên có những bữa tiệc cocktail sang trọng trên đỉnh khách sạn Caravelle tại Sài Gòn. Ông ta tổ chức những bữa ăn thịnh soạn, tuyệt vời – rất thú vị với mức lương chỉ khoảng 25 đến 30 USD một tháng, và không thấy có bất kỳ thu nhập nào khác”

Sự việc chỉ bắt đầu sáng tỏ vào mùa xuân năm 1968, khi thượng nghị sĩ Ernest Gruening tiết lộ rằng 4 năm trước đó, Kỳ được CIA thuê cho “Điệp vụ Haylift”, một chương trình đưa điệp viên miền Nam ra Bắc để phá hoại, như là làm nổ tung cầu, đường… Quan trọng hơn, Kỳ đã bị đuổi việc, nguồn của Gruening cho hay, vị bị bắt quả tang buôn lậu thuốc phiện từ Lào về Sài Gòn. Kỳ và đội bay của ông đã bị thay thế bằng phi công của không lực Trung Hoa Dân quốc.

Cả CIA, Lầu Năm góc và Bộ ngoại giao chưa ai từng phủ nhận rằng Kỳ từng làm cho “Điệp vụ Haylift”, hay phủ nhận việc Kỳ từng buôn lậu thuốc phiện về Sài Gòn. Nhưng Đại sứ quán ở Sài Gòn thì phủ nhận rằng Kỳ từng bị đuổi khỏi “bất kỳ vị trí nào của bất kỳ tổ chức nào của Chính phủ Mỹ vì buôn lậu thuốc phiện hay vì bất kỳ lý do nào khác”. Khi Kỳ nắm quyền lực vào tháng 2/1965, hầu hết các nhà quan sát đều cho rằng Kỳ đã thôi tham gia buôn lậu thuốc phiện (dù rằng “tất cả đều biết” bà Kỳ đã thay thế bà Nhu trở thành bà Rồng của Sài Gòn, cũng như làm ăn trực tiếp với hoàng thân Boun Oum tại Nam Lào về thuốc phiện).

Tuy nhiên, một sĩ quan Sài Gòn cấp cao từng được Kỳ đề nghị tham gia buôn lậu thuốc phiện nói Kỳ vẫn tiếp tục mang từ 2000 đến 3000 kg thuốc phiện từ Pleiku về Sài Gòn mùa xuân năm 1965 sau khi đã nắm quyền và sau khi “Điệp vụ Haylift” đã dừng lại. Những hoạt động này bao gồm cả những vụ lấy hàng từ Đắk Tô, Kon Tum và Pleiku. Sau đó, chẳng có dấu hiệu nào là Kỳ thay đổi phương thức vận chuyển. Đại tá Corson, người quay lại Việt Nam vào năm 1965, nhận thấy sự dính líu của Kỳ vào hoạt động buôn lậu đã trở nên quá thường xuyên, đến mức chẳng còn gì là mạo hiểm và cũng chẳng cần phải dùng đến mánh khóe nữa…

Muitenbac777 – Diễn đàn Lịch sử Việt Nam – Lược dịch từ Tài liệu CIA (Giải mật năm 2001)

Lịch sử do người thắng viết nên?

Lịch sử do người thắng viết nên?

Câu nói này được gán cho nhiều danh nhân, từ Napoleon đến Winston Churchill, và dùng rất phổ biến như một quan điểm ngụy biện trong các cuộc tranh luận. Nói ngắn gọn là, phần nào của lịch sử mà họ thích thì sẽ giữ lại, còn không thì chỉ đơn giản là phủ định sự kiện đó đi bằng cách gán cho nó cái mác “lịch sử do kẻ thắng viết nên”.

I. SƠ KHAI

Vào thuở đầu của bình minh nhân loại, khi chữ viết còn sơ khai và công nghệ chưa phát triển, thì quả thực lịch sử chúng ta biết ngày nay được viết từ góc nhìn của những người chiến thắng. Nhưng sau đó, khi văn tự đã tương đối hoàn thiện, khi những phát minh về nan hoa (2000 năm TCN), vành bánh xe sắt (1000 năm TCN) thì giao thương liên vùng, liên khu vực đã phát triển mạnh và lịch sử bắt đầu được ghi chép từ những nguồn khác, chẳng hạn như sứ thần và thương nhân.

Tuy vậy, lịch sử chủ đạo thời kỳ này vẫn là của kẻ thắng. Các đế quốc trỗi dậy như La Mã ở phương Tây, như nhà Tần ở phương Đông đều xóa bỏ một cách có hệ thống những “lịch sử không chính thống”, mà vụ đốt sách của Tần Thủy Hoàng có thể xem là tiêu biểu. Lịch sử cũng do người thắng viết nên khi họ hủy diệt hoàn toàn phe thua trận nên không còn tư liệu gì của bên đó nữa, ví dụ như chiến tranh La Mã-Carthage.

II. KHÁCH QUAN

Khi xã hội văn minh dần lên thì chuyện “một tay che trời” càng lúc càng khó khăn. Ở Trung Quốc cổ đại đã có lệ vua không được can thiệp vào việc chép sử, không được xem những gì sử quan viết về chính mình. Sử gia Ngụy Trưng thời Đường có nguyên tắc “làm hiền thần chứ không làm trung thần”. Sử gia Livy của La Mã viết sách không chút kiêng dè nào hết, đây là đánh giá của Livy về vị hoàng đế mà chính ông từng phục vụ: “Khi Augustus  lên nắm quyền, một cuộc tắm máu lập tức diễn ra, 12 thành viên thường trực của hội đồng nguyên lão bị giết. Nói chung, người ta muốn làm gì chả được một khi đã nắm trong tay nền cộng hòa”.

Sử quan “nhà nước” đã như thế, các sử gia trong dân gian thì còn tự do hơn nữa. Một số người không chủ ý viết sử, nhưng những gì họ ghi chép vì mục đích thương mại, nhật ký, hồi ký, báo cáo……lại thành tư liệu lịch sử.

Các trường phái sử học trên thế giới trong khoảng 200 năm nay, kể cả sử học Marxist đều nhấn mạnh đến tính khách quan của tư liệu, của phương pháp tiếp cận. Dù có nhiều tranh cãi, các trường phái đều thống nhất rằng đối tượng nhận thức của sử học là một hiện thực đã diễn ra trong quá khứ một cách khách quan. Sự kiện lịch sử được xây dựng nên trước hết bởi những “chất liệu” bất biến. Các yếu tố thời gian, không gian, nội dung chỉ một lần xuất hiện và không lặp lại, đó là “phần cứng” của sự kiện. Các yếu tố này khiến cho bất kì một ý đồ nào muốn làm sai lệch nhận thức thì cũng khó có thể thực hiện.

III. GIỚI HẠN

Dù là do bên thắng hay thua viết, thì lịch sử (nhất là lịch sử hiện đại) cũng có những giới hạn hầu như không thể vượt qua được.

1. Sự kiện (Fact): Xã hội càng văn minh, lượng tri thức mà nhân loại tích lũy được càng nhiều thì càng khó để tạo ra và duy trì một sự kiện giả mà không bị phát hiện. Một vài ví dụ:

– “Sự hiến tặng của Constantine” ngày 30 tháng 3 năm 315 được duy trì trong suốt thời Trung Cổ như trụ cột của quyền lực chính trị và tôn giáo châu Âu. Năm 1441, một linh mục người Ý là Lorenzo Valla đã chứng minh một cách hết sức khoa học rằng tài liệu này là giả.

– Trận Clavijo ngày 23 tháng 5 năm 844 ở Tây Ban Nha được xem là một trong những chiến thắng quan trọng nhất lịch sử bán đảo này, là hư cấu dù được ghi chép tỉ mỉ. Năm 1812 huyền thoại về nó mới chính thức bị bác bỏ.

(Tất cả chỉ là tưởng tượng)

– Sự kiện Vịnh Bắc Bộ: Tàu Maddox của Mỹ bị tấn công khi đến gần bờ biển đến 8 hải lý (15 km) – như họ thừa nhận sau này, nhưng vẫn tuyên bố là hoạt động trong vùng biển quốc tế (12 hải lý tính từ bờ). Hai ngày sau, họ sáng tác ra một cuộc tấn công thứ hai để lấy cớ tiến hành đánh phá bằng không quân vào miền Bắc Việt Nam. Năm 2008, tài liệu giải mật chính thức của NSA mới xác nhận bản chất vụ việc.

(Vùng biển quốc tế?)

– Bằng chứng về “vũ khí hủy diệt hàng loạt” của Iraq năm 2003 bị nghi ngờ ngay khi công bố và vài năm sau thì chính người Mỹ đã thừa nhận là “thông tin tình báo sai lầm”.

2. Không gian: Chúng ta chỉ có thể thao túng lịch sử của bản thân, không thể thay đổi lịch sử của người khác. Không quốc gia nào có khả năng ra lệnh cho phần còn lại của thế giới phải ghi chép, sửa đổi lịch sử theo ý muốn, nhất là những phần viết về chính quốc gia đó.

3. Thời gian: Ở chế độ phong kiến, các vương triều chỉ tồn tại vài chục đến vài trăm năm. Ngày nay các chính phủ thậm chí có khi chỉ tồn tại vài tháng là đã bị thay thế. Và khi đó, các quan điểm về lịch sử có thể thay đổi tùy theo tư tưởng của những người lãnh đạo mới. Nếu tương thích với dòng chảy chung của lịch sử, nó sẽ được giữ lại, còn không thì về sau sớm muộn cũng sẽ bị thay thế. Theo thời gian, khoa học phát triển (nhất là khảo cổ học) cũng cung cấp những thông tin mới, góp phần phát hiện những thứ bị che giấu một cách vô tình hay cố ý.

III. ĐA CHIỀU VÀ ĐẢO NGƯỢC

Không ít trường hợp lịch sử được tổng hợp từ cả 2 phía, chẳng hạn như Nội chiến Mỹ hay thế chiến I và II. Thậm chí do ưu thế lưu trữ và cung cấp thông tin, đã có những lần lịch sử viết nên bởi bên thua: trận Thermopylae, sự sụp đổ của Constantinople năm 1453……Ví dụ đặc biệt là chiến tranh Việt Nam, phần lớn các tài liệu lưu hành về cuộc chiến này trên thế giới hiện nay, là của người Mỹ chứ không phải người Việt.

Tóm lại, lịch sử được viết nên bởi kẻ thắng, người thua và tất cả những ai có khả năng lưu giữ nó (văn tự, truyền miệng hay như ngày nay là số hóa). Người thắng có ưu thế lớn trong việc kiểm soát mảng lịch sử phổ thông, nhưng vẫn phải chịu các giới hạn và luôn có nguy cơ bị chỉnh sửa nếu đi quá xa sự thực.

(Bài viết thể hiện quan điểm cá nhân tác giả – Muitenbac777 -)

Sai lầm khủng khiếp của CIA trong sự kiện Vịnh Con Lợn năm 1961

Sai lầm khủng khiếp của CIA trong sự kiện Vịnh Con Lợn năm 1961

Kịch bản lật đổ chính phủ Cuba của Mỹ là: dựng lên một lực lượng đối lập, tự xưng là Hội đồng Cách mạng Cuba (CRC). José Miró Cardona, cựu Thủ tướng Cuba thời độc tài Batisra được cử làm chủ tịch. Sau đó sẽ hỗ trợ phe đối lập này đổ bộ vào Cuba, kích động nổ loạn lật đổ chính quyền Fidel Castro. Cardona trên thực tế là tổng thống được chuẩn bị sẵn cho chính quyền Cuba hậu xâm lược. Lực lượng này, tự xưng là Lữ đoàn 2506, được Mỹ huấn luyện và trang bị cẩn thận tại các trung tâm quân sự ở Guatemala. Ngày 9 tháng 4 năm 1961, nhân sự, tàu bè, và máy bay của Lữ đoàn 2506 bắt đầu được chuyển từ Guatemala sang Puerto Cabezas, Nicaragua để chờ đổ bộ.

Vào khoảng 6 giờ sáng giờ Cuba ngày 15 tháng 4 năm 1961, tám máy bay ném bom Douglas B-26B Invader chia làm ba nhóm, đồng thời tấn công ba sân bay của Cuba, tại San Antonio de Los Baños và tại Ciudad Libertad (trước đó có tên là Campo Columbia), đều gần La Habana, cộng với Sân bay Quốc tế Antonio Maceo ở Santiago de Cuba. Những chiếc B-26 đã được CIA chuẩn bị trên danh nghĩa Lữ đoàn 2506, và được xóa đi mọi dấu hiệu của Mỹ, sơn lại dấu hiệu của FAR, tức lực lượng không quân cách mạng Cuba. Mỗi chiếc đều được trang bị bom, hỏa tiễn và súng máy. Chúng đã bay từ Puerto Cabezas ở Nicaragua, và được các phi công và hoa tiêu Cuba lưu vong tự gọi mình là “lực lượng không quân Giải phóng” (FAL). Mục đích của điệp vụ này (bí danh Chiến dịch Puma) là để phá hủy phần lớn hoặc tất cả máy bay vũ trang của không quân Cuba nhằm chuẩn bị cho cuộc đổ bộ chính.

Khoảng 90 phút sau, một chiếc B-26 cất cánh nhằm nghi binh bay gần Cuba nhưng hướng đến Florida ở phía bắc. Cũng như các nhóm ném bom, nó mang dấu hiệu giả của Quân cách mạng Cuba và cùng con số 933 như hai chiếc khác. Trước khi cất cánh, miếng bọc động cơ của một trong hai động cơ của máy bay được các nhân viên CIA tháo ra, xả đạn vào đó, rồi lắp lại để ngụy tạo rằng chiếc máy bay đã bị bắn đâu đó trên đường bay. Sau khi đã đạt được khoảng cách an toàn về phía Bắc Cuba, phi công làm hỏng động cơ có dấu đạn bắn sẵn, rồi báo cuộc gọi cấp cứu, yêu cầu được phép hạ cánh khẩn cấp xuống sân bay Quốc tế Miami. Phi công là Mario Zúñiga, trước thuộc không quân Cuba nhưng đã lưu vong, và sau khi hạ cánh ông ta khai mình là “Juan Garcia”, tuyên bố mình cùng ba đồng đội khác đã đào ngũ khỏi Quân đội Cuba.

Vào 10h30 sáng ngày 15/4 tại Liên Hiệp Quốc, Bộ trưởng Ngoại giao Cuba Raúl Roa đã buộc tội Mỹ đã tấn công không quân vào Cuba, và chiều hôm đó chính thức đệ trình bản kiến nghị lên Ủy ban Chính trị của Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc. Còn Fidel Castro thì trực tiếp bác bỏ chuyện các phi công Cuba bất mãn thực hiện vụ ném bom, ông thách thức Mỹ đưa những người này ra thẩm vấn tại Liên Hiệp Quốc.

Phản ứng lại, đại sứ Mỹ tại Liên Hiệp Quốc Adlai Stevenson hùng hồn tuyên bố: “Những cáo buộc này là hoàn toàn sai trái và tôi dứt khoát phủ nhận chúng”. Ngoại trưởng Mỹ Dean Rusk còn tỏ thái độ khinh thường cáo buộc của Cuba. Thông cáo báo chí từ Bộ Ngoại giao Mỹ phủi sạch mọi liên can với vụ ném bom. Người ta giữ các phi công “tị nạn” không cho gặp mặt giới truyền thông, vì sợ họ có thể lỡ miệng làm lộ ra điều gì đó. Và cuối cùng, để tăng tính chân thực, đại sứ Mỹ Adlai Stevenson (với vẻ mặt đầy tự tin) công bố bằng chứng bằng cách đưa ra trước Liên Hiệp Quốc bức ảnh Thông tấn xã Mỹ (UPI ) chụp chiếc B-26 có phù hiệu Cuba tại sân bay Miami.

Tuy nhiên, đây là một sai lầm khủng khiếp của CIA. Chính phủ Fidel Castro ngay lập tức nhận ra nó và mời phóng viên quốc tế đến nhà chứa máy bay của mình để chỉ cho họ. Cùng lúc ấy, tại sân bay Miami, tuy không thể phỏng vấn phi công Cuba nhưng giới truyền thông đã săm soi từng chi tiết chiếc B-26 “tị nạn” và phát hiện ra những lỗi ngớ ngẩn khiến màn bào chữa của các quan chức Mỹ trở thành một trò hề. Vài tiếng sau, những chứng cứ này đã lan khắp thế giới. Bị giới truyền thông vây kín, đại sứ Adlai Stevenson cùng ngoại trưởng Dean Rusk đành phải tuyên bố mình bị chính phủ lừa.

Vậy vấn đề ở đâu? CIA đã lấy những chiếc B-26 từ kho của không quân ra, sơn giả máy bay Cuba nhưng QUÊN mất kiểm tra lại phiên bản. Máy bay B-26 mà Mỹ viện trợ cho nhà độc tài Batista trước kia, sau bị chính quyền Fidel Castro tịch thu là loại B-26 hệ cũ, mũi máy bay làm bằng plexiglass (còn gọi thủy tinh hữu cơ hay mica cao cấp) với 1 súng máy cỡ nòng 12 ly 7.

Trong khi đó, chiếc B-26 giả mà Mỹ đem ra trưng bày ở sân bay Miami thuộc thế hệ sau (còn gọi là Douglas A-26 Invader), đã cải tiến và nâng cấp, có phần mũi liền với thân máy bay và trang bị tới 8 khẩu 12 ly 7.

Sự khác biệt này nhận ra rất rõ bằng mắt thường. Hơn nữa, khi lôi máy bay từ kho ra, các nhân viên CIA đã QUÊN mất việc tháo các nút bịt nòng súng máy (để bảo quản), QUÊN luôn việc mở ngăn chứa bom đã bị bụi và dầu mỡ phủ kín. Những lỗi đó bị phóng viên soi được, chụp hình lại và thế là toàn bộ thế giới đều biết màn kịch này được dàn dựng tồi đến thế nào.

Sự thất bại thảm hại của cuộc đổ bộ ở Vịnh Con Lợn sau đó đã khiến giám đốc và 2 phó giám đốc CIA phải từ chức, chính phủ Mỹ cũng phải trả 53 triệu USD để chuộc 1113 tù binh người Cuba lưu vong về.

Vua Lê Thánh Tông vi hành và chống tham nhũng như thế nào?

Vua Lê Thánh Tông vi hành và chống tham nhũng như thế nào?

Có những bậc minh quân thường cải trang vi hành trong dân để tìm hiểu thế sự. Nhờ đó mà họ biết được nhiều sự thật về cuộc sống của dân, về đạo đức, tài năng quan lại dưới quyền. Điều quan trọng nhất là nhân các cuộc vi hành, họ thấy được những những điều chưa thích ứng với đời sống xã hội trong đường lối trị nước, trị dân để có những sửa đổi, bổ sung, cách tân cần thiết nhằm làm cho chính sách cai trị của họ ngày được hoàn thiện hơn.

Học tập cách vi hành của các bậc vĩ nhân xưa, âu cũng là cách làm cần thiết để phục vụ sự nghiệp xây dựng nhả nước thật sự là nhà nước của dân, do dân và vì dân từ gốc đến ngọn.

Từ câu chuyện của vua Lê Thánh Tông…

Thuở ấy tại kinh thành Thăng Long có tên trộm rất nổi tiếng. Hắn có tài xuất qủy nhập thần. Hắn định trộm của ai thì nhà đó dù đã phòng bị, vẫn không thoát. Là tên trộm lành nghề nhưng hắn được đông đảo nhân dân yêu mến. Bởi hắn chuyên môn trộm của nhà giàu đem cho người nghèo. Nhân dân còn phong tuớc hiệu cho hắn là Quận Gió! Hắn đi về, tới lui nhanh như gió. Thoắt ẩn, thoắt hiện. Ở những nơi không ai ngờ, hắn ngang nhiên xuất hiện. Ở những chốn canh phòng cẩn mật, không ai có thể lọt qua, hắn vẫn luồn qua được.

Tiếng đồn về Quận Gió lọt đến tai vua Lê Thánh Tông (1460-1497). Nhà vua quyết định cải trang vi hành để tìm hiểu sự thật.

Đã cận giờ giao thừa. Có một người đàn ông trạc 20 tuổi, tìm đến nơi Quận Gió đang trú ngụ. Người đàn ông tự xưng là môn sinh trường Giám (1). Năm hết, tết đến, muốn về quê Thanh Hóa (2) cúng giỗ ông bà. Nhưng nhà nghèo không có tiền nên đến phiền Quận Gió giúp cho một ít làm lộ phí. Nghe xưng danh là Giám sinh, Quận Gió hồ hởi nói: – Giúp ai tôi cũng sẵn lòng. Giúp học trò nghèo thì tôi càng không tiếc sức. Nhưng tôi không có sẳn tiền. Tôi là một đạo chích (3). Vậy anh muốn tôi lấy của ai?

– Trộm của phú ông ở cửa Tây – người đàn ông nói.

– Không được! Phú ông ở cửa Tây giàu có là nhờ cày sâu, cuốc bẫm, lao động vất vả quanh năm suốt tháng trên các cánh đồng các làng Nghi Tàm, Võng Thị. Không nên lấy của ông ấy, Quận Gió đáp.

– Trộm của chủ cửa hiệu vàng bạc ở phố cửa Đông được không? – Người đàn ông ướm lời.

– Không được! Ông chủ cửa hiệu chế tác và bán đồ dùng vàng bạc phố cửa Đông là người ngay thẳng. Ông ta tích cóp được chút của ăn, của để là nhờ lăn lộn, khó nhọc trên thương trường. Không nên lấy của ông ấy. Thôi để tôi đến nhà lão quan coi kho bạc nhà vua ở phố cửa Bắc chôm cho ông vài nén bạc. Lão ấy có lắm vàng ròng, bạc nén trong nhà. Đó là những thứ không phải của hắn.

Vừa dứt lời, Quận Gió băng mình vào bầu trời đen mịt mùng như mực của đêm cuối năm. Chưa giập bã trầu (4) đã thấy Quận Gió trở về với hai nén bạc trong tay. Quận Gió nói: “Với hai nén bạc này, anh có đủ tiền làm lộ phí và còn để dùng vào việc sôi kinh, nấu sử. Mong rằng sau này anh đỗ đại khoa làm rạng danh công ơn sinh thành, dòng họ, tổ tiên”. Cầm hai nén bạc lên soi dưới ánh đèn dầu thấy đề bốn chữ: “Quốc khố chi bảo”. Không nghi ngờ gì nữa, đây là bạc trong kho của nhà nước.

Sáng mồng một Tết, nhà vua thiết đại triều. Khi tất cả các quan tề tựu đông đủ, vua đem câu chuyện vi hành đêm 30 Tết kể lại cho mọi người nghe. Hai nén bạc được chuyền tay cho tất cả các quan xem tận mắt. Viên quan coi kho cứng họng trước những chứng cứ không thể chối cãi. Hắn bị lột bỏ hết mọi tước vị. Gia sản bị tịch thu. Hắn bị lưu đày đi châu xa.

Vua Lê Thánh Tông chống tham nhũng như thế nào?

Câu chuyện vi hành đêm 30 Tết của nhà vua Lê Thánh Tông nhanh chóng truyền đi khắp vương quốc. Dân chúng khấp khởi mừng thầm. Vận nước rối bời dưới thời vua cha Lê Thái Tông và vua anh Lê Nhân Tông. Nay vua sáng đã xuất hiện. Bọn quan lại sâu mọt thì cả sợ.

Riêng đối với vua Lê Thánh Tông, chuyến vi hành gặp Quận Gió càng làm cho ông thêm lo lắng nhiều điều. Ông tại ngôi mới được hai năm. Trước mắt ông là trăm công nghìn việc quốc gia đại sự phức tạp, khó khăn nhiều bề. Tất cả đều đòi hỏi phải có cách xử lý nhanh chóng và có hiệu quả. Riêng đối với tệ tham nhũng là điều làm ông có nhiều trăn trở nhất. Dưới triều vua cha, vua anh, thế nước nghiêng lệch.

Theo ông, nguyên nhân chính là do nạn tham nhũng. Vào tháng 3 năm1463, nghĩa là chỉ 3 năm sau khi lên ngôi, trong một buổi chầu ông nói với các quan rằng: “Người quân tử là cội gốc để tiến lên trị bình, kẻ tiểu nhân là thềm bậc dẫn đến họa loạn. Ta và các ngươi đã thề với trời đất dùng người quân tử, bỏ kẻ tiểu nhân, ngày đêm chăm chăm không lơi. Các ngươi chớ có quên đấy !”. (5)

Đấu tranh phòng chống tham nhũng – căn bệnh kinh niên của quan lại, là cuộc đấu tranh rất khó nhọc. Đó là những kẻ tội đồ trăm đầu, nghìn tay. Chém đầu này, đầu khác lại mọc ra. Chặt tay này thì tay khác lại lòi ra. Trong các buổi thiết triều, ông thường răn dạy các quan lại phải luôn giữ liêm chính.

Có lần vua nói với Thượng thư bộ Hộ Nguyễn Cư Đạo rằng: “Ta khi còn ít tuổi làm bạn với nhà ngươi. Khi ta lên ngôi báu, ngươi làm quan kinh diên. Về mặt thần hạ, ngươi với ta là bạn tri kỷ, là bạn học thức. Về mặt vua tôi, ngươi với ta là duyên cá nước, là hội gió mây. Ngươi hãy hết lòng, gắng sức, gắng gỏi lo báo đền nợ nước, chí công vô tư để cho dứt hẳn tệ hối lộ”. (6).

Qua trải nghiệm, vua Lê Thánh Tông cho rằng chỉ giáo dục đạo đức thôi là không đủ. Từ sau buổi vi hành gặp Quận Gió, nhà vua ngày đêm suy nghĩ tìm cách diệt trừ quốc nạn tham nhũng. Trải qua một số năm tiếp theo, ở ông đã hình thành các chủ trương, chính sách, biện pháp phòng chống tham nhũng mang tính hệ thống. Các chủ trương, chính sách, biện pháp phòng chống tham nhũng của nhà vua đã được ghi lại trong Đại Việt Sử Ký toàn thư và cô động nhất, bao quát nhất là ở trong Bộ Luật Hồng Đức (BLHĐ).

Trong BLHĐ có những điều khá cụ thể về phòng ngừa tham nhũng như: “ Những vị đại thần và bách quan trong kinh thành, nhà cửa vườn tược chỉ được ba mẫu trở lại… Nếu người nào lạm chiếm quá phần đất đã định thì bị tội xuy, đánh 50 roi, biếm một tư; người có vườn ao rồi mà lại chiếm đất nơi khác, thì tội thêm một bậc. Nếu người nào có công được vua cấp thêm đất thì không kể”(điều 226) hoặc: “Cấm quan, lại lấy vợ người địa phương nơi mình trị nhậm; Cấm quan, lại mua ruộng vườn đất nhà nơi mình trị nhậm; Cấm quan, lại kết làm thông gia với người địa phương nơi mình trị nhậm; Cấm đưa quan, lại về trị nhậm tại quê hương bản quán” (điều 316).

Trong BLHĐ có khá nhiều điều quy định trừng trị nghiêm khắc quan, lại tham nhũng như: “Quan Ty làm trái pháp luật mà ăn hối lộ từ 1 quan đến 9 quan (7) thì xử tội biếm hay bãi chức, từ 10 đến 19 quan thì xử tội đồ hay lưu, từ 20 quan trở lên thì xử tội chém… (điều 138). Những tội như: “Quan, lại ỷ thế chiếm đoạt đất đai của lương dân” (điều 370); “Quan, lại lạm dụng chức quyền để chiếm đoạt ruộng đất công, nuôi nô tỳ quá hạn định” (điều 372); “Quan, lại vay mượn của dân hay cho dân vay để lấy lãi cao” (điều 638); “Quan phiên trấn sách nhiẽu dân” (điều 163); “Tôi tớ nhà Công Hầu ỷ thế chiếm ruộng đất, cưỡng bức con gái”(điều 336); “Quan, lại tự tiện xuống làng xã sách nhiễu nhân dân” (điều 632) … đều bị nghiêm trị. Như tại điều 639 có quy định: “Các quan Ty tự tiện lấy của cải, đồ vật của nhân dân dùng vào việc riêng thì xử như tội ăn hối lộ và bồi thường gấp đôi trả cho nhân dân”…

Chú thích: (1) Trường Giám: Cách gọi tắt trường Quốc Tử Giám, trường Đại học đầu tiên của nước Việt Nam. (2) Thanh Hóa là nơi phát tích của trièu đại hậu Lê. (3) Đạo chích là từ Hán, có nghĩa là ăn trộm. Quận Gió tự xưng là đạo chích để tránh nói thẳng mình là tên ăn trộm, còn gọi là kẻ ăn sương, theo cách nói dân dã. (4) Chưa giập bã trầu – cách nói mang tính hình tượng của người Việt xưa, có tục lệ hay ăn trầu cau, để diễn tả thời gian trôi qua rất nhanh. (5) Trích dẫn: “Đại Việt sử ký toàn thư” Quyển XII, Kỷ nhà Lê, NXBKHXH,H. 1993, tr.399. (6) Trích dẫn: “Đại Việt sử ký toàn thư”, Quyển XII, Kỷ nhà Lê, NXBKHXH,H. 1993, tr. 435. (7) Theo giá trị đương thời, 3 quan mua được một trâu cày.

Theo Luật sư Lê Đức Tiết

Bi kịch của triều đại có 9 vua bị giết trong sử Việt

Bi kịch của triều đại có 9 vua bị giết trong sử Việt

Nhà Hậu Lê (1428 – 1789) chia làm hai thời kỳ là Lê sơ (1428-1527) và Lê trung hưng (1533-1789). Với 27 triều vua và gần 4 thế kỷ tồn tại, đây là triều đại kéo dài nhất trong lịch sử Việt Nam. Do tồn tại trong một giai đoạn lịch sử đầy biến động mà đây cũng là triều đại nắm giữ “kỷ lục” về số vua bị giết hại…

Cái chết cay đắng của Lê Bang Cơ

Lê Nhân Tông, vị vua thứ ba của nhà Lê sơ tên thật là Lê Bang Cơ. Dù chỉ là con trai thứ ba, nhưng ông được vua cha Thái Tông phong làm Hoàng Thái tử vào năm 1441, khi mới vài tháng tuổi.

Thái hậu Nguyễn Thị Anh làm Nhiếp chính cho ông từ khi mới lên ngôi báu cho đến khi ông tự thân chấp chính vào năm 1452. Lên ngôi lúc còn nhỏ, Lê Nhân Tông tỏ ra là vị Hoàng đế anh minh, biết thương dân, sùng kính Nho giáo, xem trọng nghề nông và kính cẩn tông miếu. Ông không có thói đam mê tửu sắc, và biết tôn trọng những người có công đối với Vương triều.

Dưới triều Nhân Tông, nước Đại Việt thái bình thịnh trị, đời sống nhân dân ổn định, bờ cõi được bảo vệ và mở rộng.

Dù sáng suốt và nhân từ, nhưng vua Nhân Tông vẫn bị anh cả là Lê Nghi Dân oán hận và muốn đoạt ngôi vì ông chỉ là con thứ. Trong khi đó, Nhân Tông không đề phòng gì vì luôn coi Nghi Dân là anh ruột.

Một đêm cuối năm 1459, Nghi Dân cùng các thủ hạ đã bắc thang vào cung cấm giết vua Nhân Tông. Khi đó ông mới 18 tuổi. Cái chết của ông khiến cho quan lại “nuốt hận ngậm đau”, và thần dân “như mất cha mất mẹ”.

Quả báo dành cho Lê Nghi Dân

Lê Nghi Dân vốn được lập làm thái tử khi mới 3 tháng tuổi (năm 1440). Ông bị mất ngôi thái tử vào tay người em Bang Cơ của mình chỉ vì mẹ bị vua thất sủng. Sau khi giết Bang Cơ năm 1459, Lê Nghi Dân lên ngôi, đặt niên hiệu là Thiên Hưng.

Do bất mãn, tháng 5/1460, các tể tướng đại thần là Đỗ Bí, Lê Ngang, Lê Thụ, Lê Ê đã bí mật bàn việc lật đổ vua Thiên Hưng. Vụ việc đó bị lộ, tất cả những người mưu phản đều bị bắt giết.

Do vua thay đổi nhiều pháp chế của đời trước, dùng những người thân tín của mình vào triều nên các cựu thần ngày càng không bằng lòng. Tháng 6/1460, các đại thần Nguyễn Xí, Đinh Liệt, Lê Lăng, Lê Niệm… lại bàn nhau làm binh biến.

Sau một buổi chầu, Nguyễn Xí đã dẫn quân vào giữ chặt quân cấm binh, đóng các cửa thành và giết các bề tôi tin cẩn của vua Thiên Hưng. Hơn 100 người thuộc phe cánh của vua đã mất mạng.

Bản thân Lê Thiên Hưng bị bắt, phế truất làm Lệ Đức hầu và bị thắt cổ chết khi mới 22 tuổi, ở ngôi được một năm.

“Vua quỷ” Lê Uy Mục đền mạng

Năm 1505, Lê Uy Mục lên ngôi sau khi vua Lê Túc Tông mất sớm ở tuổi 17. Trong thời gian trị vì, vị vua này đã bị gọi là “vua quỷ” vì ăn chơi vô độ, ham rượu chè, gái đẹp, tàn bạo giết hại nhiều người vô tội. Quyền hành trong triều rơi vào tay họ ngoại của vua.

Điều này làm dấy lên sự phẫn nộ trong quan lại, dân chúng cũng như dòng dõi họ Lê. Giản Tu Công Lê Oanh (vua Lê Tương Dực sau này) đã được lập làm minh chủ nổi dậy chống lại Uy Mục.

Tháng 11/1509, Lê Oanh sai Cẩm Giang Vương Lê Sùng ở Tây Đô đưa quân về Đông Kinh (Hà Nội). Uy Mục có ưu thế hơn, đã bắt giết Lê Sùng và mẹ của Lê Oanh. Sau đó, Lê Oanh vào chiếm kinh thành bắt được và bức tử Lê Uy Mục.

Hận Uy Mục giết hại gia đình mình, Lê Oanh còn sai người dùng súng lớn, nhét xác Uy Mục vào miệng súng, cho nổ tan hết hài cốt, chỉ lấy ít tro tàn về chôn tại quê mẹ tại làng Phù Chẩn. “Quỷ vương” Lê Uy Mục ở ngôi được 4 năm, thọ 21 tuổi.

Sau “vua quỷ”, đến lượt “vua lợn” Lê Tương Dực

Lê Oanh sinh năm 1495, là cháu nội của vua Lê Thánh Tông. Dưới thời Lê Hiến Tông, ông được phong làm Giản Tu công. Sau khi giết Lê Uy Mục, Lê Oanh tự lập mình làm vua, lấy niên hiệu là Hồng Thuận, tức là vua Tương Dực Đế.

Đi theo vết xe đổ của Lê Uy Mục, Lê Tương Dực chơi bời xa xỉ truỵ lạc, bỏ bê việc nước. Dân chúng oán ghét và khinh bỉ Tương Dực, nên gọi ông là vua lợn. Triều chính trở nên hết sức rối ren, bên ngoài khắp nơi loạn lạc.

Dù tình hình căng thẳng nhưng Lê Tương Dực không đoái hoài. Nguyên Quận công Trịnh Duy Sản là người có công trạng, nhiều lần can ngăn không được mà còn bị vua cho người đánh bằng trượng. Sản bất mãn, mưu với thái sư Lê Quảng Độ và Trình Trí Sâm lập vua khác.

Mượn tiếng đi đánh giặc, mờ sáng một ngày tháng 5/1516 Trịnh Duy Sản đem binh vào cửa Bắc Thần giết “vua lợn”. Lê Tương Dực ở ngôi được 7 năm, hưởng thọ 21 tuổi.

Cuộc đời bão tố và cái chết của Lê Chiêu Tông

Lê Chiêu Tông (1506 – 1526), có tên húy là Lê Y, chắt của vua Lê Thánh Tông, là vị vua thứ 10 của nhà Lê sơ. Lúc mới 11 tuổi, ông được đại thần Trịnh Duy Sản và Lê Quảng Độ lập làm vua khi dấy quân lật đổ Lê Tương Dực.

Trong thời gian trị vì của Lê Chiêu Tông, triều đình bị thao túng bởi Trần Chân, con nuôi của Trịnh Duy Sản. Vua nghe lời gièm pha, sợ uy quyền của Trần Chân nên sai người dụ Chân vào triều rồi giết Chân cùng các thủ hạ thân tín.

Nhóm thủ hạ còn lại của Trần Chân phục thù, mang quân từ Sơn Tây đánh kinh thành, khiến vua phải tháo chạy. Với sự lãnh đạo của Mạc Đăng Dung, quân triều đình đánh bại những kẻ nổi loạn. Dung lần lượt được phong làm Minh quận công, rồi thái phó, quyền thế dần dần át cả vua.

Chiêu Tông không muốn bị Đăng Dung khống chế, bí mật bàn cùng các nội thần hạ bệ Đăng Dung. Nhưng kế hoạch bị đổ vỡ, Chiêu Tông phải trốn chạy. Sau đó Đăng Dung tuyên bố phế truất ông và lập em ông là Lê Xuân lên ngôi (Lê Cung Hoàng). Như vậy, trong nước lúc này có 2 vua là Chiêu Tông và Cung Hoàng.

Các tướng thân cận của Chiêu Tông đem quân giúp vua, khôi phục lại được thanh thế và đẩy lùi quân của mạc Đăng Dung. Nhưng do nội bộ bất hoà, nhiều tướng lại bỏ theo phe của kẻ tiếm quyền. Từ đó quân của Mặc Đăng Dung làm chủ tình hình.

Ngày 28/10/1525, Mạc Đăng Dung bắt được Chiêu Tông mang về Thăng Long giam lỏng. Đến tháng 12/1526, ông bị Đăng Dung sai người giết chết, thọ 24 tuổi, ở ngôi được 6 năm.

Lê Cung Hoàng chết trong tủi nhục

Vua Lê Cung Hoàng (1507 – 1427) có tên húy là Lê Xuân là vị vua cuối cùng của Thời Lê sơ. Ông là em ruột Lê Chiêu Tông, chắt của Lê Thánh Tông, được Mạc Đăng Dung lập lên để giữ danh chính khi Chiêu Tông trốn thoát vào năm 1522.

Sau khi Chiêu Tông bị giết, vai trò lá chắn của Cung Hoàng không còn. Đã đến lúc để Đăng Dung cướp ngôi nhà Lê.

Ngày 15/6/1527, Mạc Đăng Dung đem quân vào kinh, bắt vua nhường ngôi. Triều thần lúc đó hầu hết đã là người của Đăng Dung hoặc theo Đăng Dung, tự khởi thảo chiếu nhường ngôi cho vua.

Mạc Đăng Dung xưng hoàng đế, tức là Mạc Thái Tổ, lập ra nhà Mạc, lấy niên hiệu là Minh Đức.

Lê Cung Hoàng bị giáng xuống làm Cung Vương rồi giam cùng với Hoàng thái hậu ở cung Tây Nội. Vài tháng sau, Đăng Dung ép mẹ con Cung Hoàng phải tự tử. Lê Cung Hoàng ở ngôi được 5 năm, thọ 21 tuổi.

Cuộc trỗi dậy không thành của Lê Anh Tông

Lê Anh Tông (1532 – 1573), tên thật là Lê Duy Bang, là vị vua thứ ba của thời Lê trung hưng.

Trong thời kỳ này, quyền hành của các chúa Trịnh tăng lên rất nhiều. Năm 1570, Trịnh Kiểm chết, hai con là Trịnh Cối và Trịnh Tùng tranh giành quyền bính. Trịnh Cối thất bại phải sang hàng nhà Mạc.

Năm 1572, thấy quyền hành Trịnh Tùng lớn quá, Lê Cập Đệ bàn mưu với Lê Anh Tông mưu trừ khử Tùng để lấy lại quyền bính cho nhà Lê. Kế hoạch bị lộ, Cập Đệ bị đao phủ của Trịnh Tùng giết chết. Lê Anh Tông bỏ hành cung chạy trốn cùng 4 người con trai lớn ra Nghệ An.

Năm 1573, Trịnh Tùng đưa con trai thứ năm còn nhỏ tuổi của ông là Lê Duy Đàm lên ngôi vua và sai quân về Nghệ An bắt Anh Tông. Vua bị đưa về triều giám sát ngày đêm và bức chết. Khi đó ông 42 tuổi, ở ngôi được 17 năm.

Bi kịch của Lê Anh Tông lặp lại với cháu nội Lê Kính Tông

Lê Kính Tông (1588 – 1619), có tên húy là Lê Duy Tân, là vị vua thứ 5 của thời Lê trung hưng. Ông lên ngôi khi mới 11 tuổi.

Vào lúc này, chính quyền nhà Lê đã trở thành bù nhìn, mọi quyền hành thực sự nằm trong tay chúa Trịnh. Ông nội của Kính Tông là Lê Anh Tông (Duy Bang) đã bị Trịnh Tùng sát hại vì chống lại Trịnh Tùng.

Từ năm 1600, Trịnh Tùng đã cơ bản dẹp được nhà Mạc ở miền Bắc, mâu thuẫn mới nổi lên giữa họ Trịnh và họ Nguyễn khi Nguyễn Hoàng tự ý bỏ vào vùng Thuận – Quảng. Nhân cơ hội này, tàn dư nhà họ Mạc lại nổi lên.

Trong tình hình đó, vào năm 1619, Lê Kính Tông cùng Trịnh Xuân mưu giết chết Trịnh Tùng để giành lại địa vị. Nhưng kế hoạch thất baik, Trịnh Xuân bị tống vào ngục, còn nhà vua bị bức thắt cổ chết. Lê Kính Tông thọ 31 tuổi, ở ngôi 20 năm.

Lê Duy Phường sống oan khuất, chết cay đắng

Lê Duy Phường (1709 – 1735) là vị vua thứ 12 của thời Lê trung hưng. Là cháu ngoại chúa Trịnh Cương – người nắm thực quyền khi đó – ông đã có nhiều hậu thuẫn để lên ngôi vua năm 1729, khi 21 tuổi, với niên hiệu là Vĩnh Khánh.

Tháng 10/1729, Trịnh Cương mất, con là Trịnh Giang lên nối ngôi. Cũng như các đời trước, việc triều chính do Trịnh Giang định đoạt, vua Vĩnh Khánh không có thực quyền. Trịnh Giang còn muốn thay đổi ngôi vua do Trịnh Cương đã sắp đặt để ra oai với thần hạ.

Năm 1732, vua Vĩnh Khánh bị ép ra ở cung riêng. Tháng 8 năm đó, Trịnh Giang vu cho vua Vĩnh Khánh tư thông với vợ Trịnh Cương, rồi phế bỏ, lập con trưởng của Dụ Tông (anh cả của Duy Phường) là Lê Duy Tường lên ngôi, tức Lê Thuần Tông. Tháng 4/1735, Lê Thuần Tông mất, Trịnh Giang lập em Duy Phường là Lê Duy Thận làm vua, tức là Lê Ý Tông.

Duy Phường bị dời đến ở một ngôi nhà ở bên ngoài. Tháng 9/1735, Trịnh Giang sai người thắt cổ giết chết ông. Lê Duy Phường ở ngôi 3 năm , thọ 27 tuổi.

Theo KIẾN THỨC

Ngẫm lại “10 điều bi ai của của dân tộc” mà cụ Phan Châu Trinh viết cách đây 100 năm

Ngẫm lại “10 điều bi ai của của dân tộc” mà cụ Phan Châu Trinh viết cách đây 100 năm

Phan Chu Trinh (1872-1926) là người Việt Nam đầu tiên (và duy nhất cho đến nay) nhìn thấy trước cảnh “dịch chủ tái nô” (đổi chủ nhưng dân vẫn là nô lệ)… Để tránh điều này, Cụ đã chỉ ra con đường giành độc lập – tự do cho dân tộc là phải bắt đầu từ “khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh”.

Cụ chọn con đường dấn thân tranh đấu nhưng ôn hòa, bất bạo động, xuất phát từ 10 nhận xét chính xác về đặc điểm con người Việt Nam mà đối chiếu thực tế ngày nay vẫn còn nguyên vẹn.

Năm 1906, Phan Chu Trinh đi Nhật Bản trở về, sau đó ông viết Tỉnh quốc hồn ca I. Năm 1907, tác phẩm được phổ biến lần đầu tiên trong các trường kiểu mới ở Quảng Nam và trong trường Đông Kinh nghĩa thục ở Hà Nội, sau đó lan truyền ra nhiều nơi khác.

Bấy giờ, có một số nhà yêu nước cho rằng nhân dân Việt đang ở trong mê mộng: mộng khoa cử, mộng quan trường, mộng xôi thịt,…hoặc nói một cách tượng trưng là hồn nước đã mê, đã lạc…cho nên phải gọi dậy để đi theo con đường tự lập, tự cường… Vì lẽ đó, Tỉnh quốc hồn ca I và các tác phẩm đồng thời của các nhà chí sĩ khác, như Đề tỉnh quốc dân ca, Hải ngoại huyết thư, Á Tế Á ca, Chiêu hồn nước, Hợp quần doanh sinh thuyết, v.v…đã ra đời nhằm mục đích ấy.

Tỉnh quốc hồn ca I gồm 472 câu thơ song thất lục bát, xếp vào 12 đoạn. Trong đoạn đầu, sau khi nêu quá khứ vẻ vang oanh liệt của dân tộc Việt, tiếp đến là chỉ trích lỗi lầm của người trên kẻ dưới đã làm cho nước nhà lụn bại. Từ đó, tác giả đặt vấn đề: phải học tập theo người Âu, người Mỹ (nội dung của 11 đoạn sau). Theo giáo sư Nguyễn Huệ Chi, tác giả đã so sánh nhiều phương diện về dân khí dân trí của các nước văn minh trên thế giới với dân tình của nước Việt đại để như sau:

1. Trong khi người nước ngoài có chí cao, dám chết vì việc nghĩa, vì lợi dân ích nước; thì người nước mình tham sống sợ chết, chịu kiếp sống nhục nhã đoạ đày.
2. Trong khi người ta dẫu sang hay hèn, nam hay nữ ai cũng lo học lấy một nghề; thì người mình chỉ biết ngồi không ăn bám.
3. Trong khi họ có óc phiêu lưu mạo hiểm, dám đi khắp thế giới mở mang trí óc; thì ta suốt đời chỉ loanh quanh xó bếp, hú hí với vợ con.
4. Trong khi họ có tinh thần đùm bọc, thương yêu giúp đỡ lẫn nhau; thì ta lại chỉ quen thói giành giật, lừa đảo nhau vì chữ lợi.
5. Trong khi họ biết bỏ vốn lớn, giữ vững chữ tín trong kinh doanh làm cho tiền bạc lưu thông, đất nước ngày càng giàu có; thì ta quen thói bất nhân bất tín, cho vay cắt cổ, ăn quỵt vỗ nợ, để tiền bạc đất đai trở thành vô dụng.
6. Trong khi họ biết tiết kiệm tang lễ, cư xử hợp nghĩa với người chết; thì ta lo làm ma chay cho lớn, đến nỗi nhiều gia đình bán hết ruộng hết trâu.
7. Trong khi họ ra sức cải tiến phát minh, máy móc ngày càng tinh xảo; thì ta đầu óc thủ cựu, ếch ngồi đáy giếng, không có gan đua chen thực nghiệp.
8. Trong khi họ giỏi tổ chức công việc, sắp xếp giờ nghỉ giờ làm hợp lý, thì ta chỉ biết chơi bời, rượu chè cờ bạc, bỏ bê công việc.
9. Trong khi họ biết gắng gỏi tự lực tự cường, tin ở bản thân; thì ta chỉ mê tín nơi mồ mả, tướng số, việc gì cũng cầu trời khấn Phật.
10.Trong khi họ làm việc quan cốt ích nước lợi dân, đúng là “đầy tớ” của dân, được dân tín nhiệm; thì ta lo xoay xở chức quan để no ấm gia đình, vênh vang hoang phí, vơ vét áp bức dân chúng, v.v…

Có thể thấy 10 nhận xét chính xác về đặc điểm con người Việt Nam mà cụ Phan Chu Trinh nêu ra và đối chiếu thực tế ngày nay vẫn còn nguyên vẹn.