Kháng chiến chống Nguyên Mông lần 3 – Kỳ 2 : Hốt Tất Liệt quyết đánh Đại Việt, bất chấp nỗi khổ của thần dân

Kháng chiến chống Nguyên Mông lần 3 – Kỳ 2 : Hốt Tất Liệt quyết đánh Đại Việt, bất chấp nỗi khổ của thần dân

Nguyên Mông chuẩn bị xâm lược trong bối cảnh khó khăn hơn lần xâm lược trước. Ở các vùng phía nam nước Nguyên, việc lao dịch, bắt lính, vơ vét thuế má, lương thực đã khiến cho dân chúng nhiều nơi lâm vào cảnh khốn cùng, rủ nhau phất cờ khởi nghĩa. Quân đội nhà Nguyên hùng mạnh, tạm thời vẫn làm chủ tình hình nhưng việc này đã khiến cho quá trình chuẩn bị xâm lược Đại Việt gặp trở ngại lớn. Một số quan lại địa phương nước Nguyên còn có lòng thương dân, liên tiếp tâu trình xin Hốt Tất Liệt giãn tiến độ chuẩn bị. Khoảng tháng 7.1285, Tuyên úy ti Hồ Nam đã dâng sớ xin Hốt Tất Liệt hoãn binh:

“Luôn năm đánh Nhật Bản và dùng binh ở Chiêm Thành, trăm họ phục dịch vận chuyển rất vất vả cực nhọc, quân sĩ mắc phải chướng lệ chết rất nhiều. Dân chúng kêu than, tứ dân bỏ nghiệp. Người nghèo phải bỏ con để cầu sống, kẻ giàu phải bán sản nghiệp để ứng dịch. Nỗi khổ như bị treo ngược, mỗi ngày một tăng. Nay lại có việc đánh Giao Chỉ, điều động đến trăm vạn người (1), tiêu phí đến nghìn vàng, đó chẳng phải là việc để thương sĩ dân. Vả lại trong lúc cử động, lợi hại không phải chỉ là một. Lại thêm nữa, Giao Chỉ vẫn thường sai sứ dâng biểu xưng phiên thần. Nếu theo lời xin để phục hồi sức dân thì là kế hay nhất. Nếu không được thì nên nới phú thuế cho trăm họ, chứa lương thực, sắm giáp binh, đợi đến năm sau thiên thời địa lợi tất hơn chút nữa hãy cất quân cũng chưa muộn”.

Hành tỉnh Hồ Quảng là Tuyến Kha (Sanag) đem sớ vào triều còn nói thêm: “Tỉnh tôi trấn giữ hơn 70 sở, luôn năm chinh chiến, quân sĩ tinh nhuệ đều mệt nhọc ở ngoài, kẻ còn lại đều già yếu, mỗi thành ấp nhiều không quá hai trăm quân, trộm nghĩ rằng sợ kẻ gian dò xét được tình hình đó. Năm ngoái bình chương A Lý Hải Nha xuất chinh, thu 3 vạn thạch lương, dân còn kêu khổ. Nay lại thu gấp bội số đó, quan không có tích trữ, còn mua ở trong dân, trăm họ sẽ khốn khổ khôn xiết. Nên theo lời của tuyên úy ti, xin hoãn quân đánh phương Nam”.

Ngay trong triều đình trung ương nước Nguyên cũng có người không mong muốn việc khởi binh đánh Đại Việt. Lễ bộ thượng thư nước Nguyên là Lưu Tuyên tâu xin Hốt Tất Liệt nên đàm phán với Đại Việt, tránh nạn binh đao:

“Luôn năm đánh Nhật Bản, trăm họ sầu oán, quan phủ nhiễu nhương. Mùa xuân năm nay bãi binh, quân dân Giang Chiết reo mừng như sấm. An Nam là nước nhỏ, thần phục đã bao năm, tuế cống chưa từng sai hạn. Vì tướng ở biên sinh sự hưng binh, nên kẻ kia trốn tránh ra hải đảo, khiến cất đại quân đi mà không được công trạng gì, tướng sĩ lại bị thương tổn. Nay lại hạ lệnh đi đánh nữa, ai nghe thấy cũng lo sợ. Từ xưa dấy quân, tất phải theo thiên thời. Ở vùng trung nguyên đất bằng còn phải tránh giữa mùa hạ. Giao Quảng là đất viêm chướng, khí độc hại người còn hơn là binh đao. Nay định tháng 7 họp các đạo quân ở Tĩnh Giang đến An Nam tất nhiều người mắc bệnh chết, lúc cần cấp gặp giặc biết lấy gì ứng phó. Ở Giao Chỉ lại không có lương, đường thủy khó đi, không có xe ngựa, trâu bò chuyên chở thì không thể tránh được vận chuyển đường bộ. Một người phu gánh 5 đấu gạo, đi về ăn hết một nửa, còn quan quân được một nửa. Nếu có 10 vạn thạch lương, dùng 40 vạn người cũng chỉ có thể có lương cho quân 1, 2 tháng. Chuyên chở, đóng thuyền, phục dịch việc quân phải dùng đến 5, 60 vạn người. Quảng Tây, Hồ Nam điều động nhiều lần, dân ly tán nhiều, lệnh cho cung dịch cũng không thể làm được. Huống chi Hồ Quảng rất gần khe động, trộm cướp thường nhiều, vạn nhất kẻ gian dò được, chờ đại quân một khi đi khỏi, thừa lúc bỏ không mà gây biến. Tuy có quân mã lưu lại nhưng là người già yếu mệt nhọc, khó bề ứng biến. Sao không cùng người hiểu biết sự thể trong quan quân bên kia mà bàn bạc phương lược vạn toàn. Nếu không thì sẽ giẫm vào vết xe cũ”.

Những lời can gián của Lưu Tuyên rất thấu tình đạt lý. Không chỉ viên quan này nghĩ cho nhân dân hai nước, mà thực sự lợi ích của Nguyên triều cũng được y phân tích rất chính xác. Bấy giờ miền nam nước Nguyên dân tình đã quá cơ cực, những hào kiệt chỉ chực chờ cơ hội để nổi dậy. Việc trọng đại của nước Nguyên bấy giờ là tạo phúc cho dân, thu phục lòng dân để có được căn cơ vững chắc. Hòa bình với Đại Việt sẽ giúp cho đôi bên cùng thắng. Hốt Tất Liệt dù rất nóng lòng tiến hành nam chinh, vẫn không thể bất chấp tất cả. Mặc dù không có lòng trắc ẩn thương dân đi chăng nữa, thì vua Nguyên cũng không thể không xét đến những nguy cơ. Bởi vậy, Hốt Tất Liệt sau khi suy xét đã một lần nữa hạ lệnh tạm hoãn việc xuất quân. Gươm đã tuốt khỏi vỏ lại phải tạm cất đi.

Nhưng Hốt Tất Liệt hẳn là không nghĩ giống như Lưu Tuyên. Tham vọng bành trướng và lòng hận thù của hắn vẫn còn đó. Khi mà khó khăn trong nước tạm thời dịu xuống, công cuộc chuẩn bị cho việc xâm lược Đại Việt lại được tiến hành mạnh mẽ. Việc chuẩn bị càng dời tiến độ, thì binh lực của đạo quân xâm lược càng to lớn hơn. Cuối năm 1286, ngựa chiến được cấp thêm cho Thoát Hoan. Chinh Giao Chỉ hành tỉnh được lập ra, giao cho A Bát Xích (Abaci) làm Hữu thừa. Tháng giêng năm 1287, Hốt Tất Liệt hạ lệnh điều động thêm quân lính. Gồm có 1.000 quân Tân Phụ (người Nam Tống cũ ), 7 vạn quân Mông Cổ và quân Hán (người nước Kim cũ), 6.000 quân Vân Nam (người nước Đại Lý cũ), 15.000 quân người Lê (đảo Hải Nam)… cùng với một số quân người Choang (người Âu Việt ở Quảng Tây). Số quân tăng thêm này cộng với những quân lính đã điều động từ trước và tàn quân của lần xâm lược trước chạy về, gộm chung toàn bộ đạo quân Nguyên xâm lược nước Đại Việt lần này theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư là 30 vạn quân. Một số tướng lĩnh cũng được tăng cường thêm dưới quyền Thoát Hoan là Ái Lỗ (Aruq), Tích Đô Nhi (Siktur), Trương Ngọc, Lưu Khuê …

Rút kinh nghiệm từ thất bại lần trước, quân Nguyên trang bị hai hạm thuyền lớn. Hạm đội tải lương dưới quyền của Trương Văn Hổ, chở theo 17 vạn thạch lương (có sách chép 70 vạn) để giúp đảm bảo hậu cần cho quân Nguyên, giảm bớt sự lệ thuộc vào việc tải lương đường bộ vốn rất khó khăn và tốn nhiều nhân lực. Hạm đội chiến đấu gồm có cả thảy hơn 600 chiến thuyền dưới quyền tổng chỉ huy của Ô Mã Nhi, với hàng vạn thủy quân tinh nhuệ nhất của nước Nguyên là những sắc quân người Lê đảo Hải Nam, quân Tân Phụ miền Giang Nam. Hạm đội của Ô Mã Nhi có nhiệm vụ đánh mở đường và hộ tống đoàn thuyền lương của Trương Văn Hổ, đồng thời sẽ là một lực lượng quan trọng để phá tan ưu thế thủy chiến của quân Đại Việt.

Cuối thu năm 1287, quân Nguyên đã tập kết thành ba khối quân. Khối đại quân do Thoát Hoan trực tiếp chỉ huy tập kết tại Quảng Tây. Khối quân ở Vân Nam dưới quyền tổng chỉ huy của Ái Lỗ là khối quân phối hợp. Khối thủy quân Nguyên dưới quyền của Ô Mã Nhi, Trương Văn Hổ tập kết ở Khâm Châu, sẵn sàng vượt biển tiến vào Đại Việt. Lần xâm lược này, quân Nguyên có tổng quân số ít hơn lần trước nhưng đặc biệt nguy hiểm là thủy quân của chúng được tăng cường mạnh mẽ hơn rõ rệt. Trong lần xâm lược trước, quân Nguyên cực mạnh về kỵ bộ nhưng cách điều quân của Đại Việt đã khiến cho nhiều lực lượng kỵ bộ của quân Nguyên trở thành “người thừa”. Trái lại, thủy quân tinh nhuệ là lực lượng mà quân Nguyên trong lần xâm lược năm 1285 rất cần nhưng lại thiếu thốn. Lần này, sức mạnh quân Nguyên cân đối hơn giữa thủy và bộ, lại chú trọng hậu cần hơn trước. Dù binh lực thủy bộ đều rất hùng hậu, Nguyên chủ Hốt Tất Liệt vẫn chưa hoàn toàn yên tâm. Gần sát ngày tiến quân, Hốt Tất Liệt ra chỉ dụ căn dặn các tướng : “Không được cho Giao Chỉ là nước nhỏ mà khinh thường”.

(1) : Tính cả quân chiến đấu và số người phu dịch, hậu cần.

(còn tiếp)

Quốc Huy/Một Thế Giới

Kháng chiến chống Nguyên Mông lần 3 – Kỳ 1 : Nguyên triều toan báo thù

Kháng chiến chống Nguyên Mông lần 3 – Kỳ 1 : Nguyên triều toan báo thù

Cuộc xâm lược Đại Việt năm 1285 thất bại đã khiến cho Nguyên Mông hao binh tổn tướng rất nhiều. Hàng chục vạn quân Nguyên, trong đó có nhiều tinh binh đã bỏ xác trên chiến trường Đại Việt. Ngay cả những danh tướng hàng đầu của nước Nguyên là Lý Hằng, Toa Đô cũng thiệt mạng trong tay quân dân Đại Việt. Quả là kết cuộc cay đắng cho cuộc viễn chinh mà Nguyên triều đã chuẩn bị rất kỹ lưỡng. Tuy nhiên, bất chấp thất bại tại chiến trường Đại Việt, đế chế Nguyên Mông vẫn đang ở trong thời kỳ sung mãn nhất dưới sự cai trị của Nguyên Thế Tổ Hốt Tất Liệt. Trong thời kỳ này, đế chế Nguyên Mông của Hốt Tất Liệt đã thừa hưởng những thành tựu văn minh tiên tiến nhất từ những đế chế cũ là Kim, Tống, Khwarem … Lãnh thổ Nguyên Mông rất rộng lớn bao gồm phần lớn lãnh thổ Trung Quốc, toàn bộ Mông Cổ, một phần miền nam nước Nga ngày nay. Vương quốc Cao Ly sau nhiều lần cố gắng chiến đấu bảo vệ nền độc lập, cuối cùng cũng phải chấp nhận trở thành nước phụ thuộc của Nguyên Mông. Đồng thời, ngoài đế quốc Nguyên Mông của Hốt Tất Liệt còn có các Hãn quốc của người Mông Cổ lập nên tại các vùng đông dân, giàu có ở khắp lục địa Á Âu tạo thành thế tựa lưng vào nhau giữa các Hãn quốc Mông Cổ. Vì vậy, Nguyên Mông hầu như không lo lắng đến việc bị xâm lược, càng tập trung vào mưu đồ bành trướng lãnh thổ.

Với khí thế đang lên, Nguyên chủ Hốt Tất Liệt không thể nuốt trôi nỗi nhục bại trận. Ngay từ khi mà cuộc chiến tranh đẫm máu vẫn chưa hoàn toàn kết thúc, một cuộc chiến tranh mới đã manh nha thành hình. Khi Thoát Hoan đang phải vất vả tìm đường tháo chạy khỏi Đại Việt, tin tức bại trận đã được tướng Đường Cổ Đái chạy trạm báo về triều đình Nguyên Mông. Ngày 9/7/1285, xa giá của hai vua Trần mới về lại Thăng Long thì ngày 21/8/1285 Khu mật viện nước Nguyên đã bàn việc nam chinh ngay trong năm 1285. Theo kế hoạch này, vào khoảng tháng 11/1285 quân Nguyên sẽ tổ chức tập kết tại Đàm Châu ( Hồ Nam ). Lực lượng bao gồm tàn quân mới bại trận ở Đại Việt chạy về, lại phái Áo Lỗ Xích điều động thêm quân Mông Cổ, các hành tỉnh Giang Hoài, Giang Tây, Kinh Hồ điều động thêm bộ binh người Hán ( miền bắc Trung Quốc ) và quân Tân phụ ( miền nam Trung Quốc ). Đạo quân mới sẽ vẫn nằm dưới quyền chỉ huy của Thoát Hoan và A Lý Hải Nha tiến đánh Đại Việt. Quần thần nước Nguyên muốn nhân lúc quân dân Đại Việt chưa lại sức sau quãng thời gian chiến đấu dài mà đánh bồi thêm một đòn mới. Tuy nhiên, quân ta dẫu có mệt mỏi nhưng vẫn còn khí thế mạnh mẽ của những người chiến thắng, còn chính quân Nguyên mới không đủ thời gian để phục hồi sức lực và tinh thần sau những tổn thất lớn.

Hốt Tất Liệt dùng binh muốn san bằng nước ta, rốt cuộc không thắng được lại đâm ra thù hận nước ta. Bụng dạ của tên quốc chủ nước Nguyên là như thế. Hốt Tất Liệt tuy rất nóng lòng “báo thù” nhưng vẫn phải cân nhắc việc chuẩn bị. Đường Cổ Đái, tên tướng vừa trải qua những kinh hoàng ở chiến trường Đại Việt thấu hiểu rõ quân tình của đám bại binh, đã tâu xin Hốt Tất Liệt cho quân tướng vừa trở về từ Đại Việt được nghỉ ngơi dưỡng sức. Hốt Tất Liệt sau khi cân nhắc đã chấp nhận cho quân sĩ nghỉ ngơi, dời lại tiến độ cuộc xâm lược đến sang năm để chuẩn bị chu đáo hơn. Đồng thời, Nguyên triều sai Hợp Tán Nhi Hải Nha ( Qasar Qaya ) đi sứ Đại Việt, muốn lấy cớ đặt lại chức Đạt Lỗ Hoa Xích ( chức quan đô hộ của Nguyên Mông ) để dò thám tình hình và kiếm cớ gây sự. Triều đình nhà Trần tiếp sứ rồi tiễn về, không cho Hợp Tán Nhi Hải Nha nhậm chức.

Sang năm 1286, để tập trung vào chiến trường Đại Việt, Nguyên triều đã quyết định bãi bỏ kế hoạch chuẩn bị đánh Nhật Bản vẫn đang tiến hành gấp rút. Trước đó, Nguyên Mông đã hai lần ôm hận trước Nhật Bản, lần nào cũng bị bão biển làm tan tác hạm đội. Quân Nhật Bản cũng chuẩn bị các thành trì phòng thủ rất kỹ lưỡng và có quân đội mạnh nên thừa cơ hội được “Thần Phong” giúp sức, tổ chức tiêu diệt quân Nguyên. Hai lần xâm lược Nhật Bản bất thành, trước sau quân Nguyên bị tổn thất đến hơn 12 vạn nhân mạng cùng một hạm thuyền khổng lồ. Đó cũng là những thất bại chua cay của đế chế Nguyên Mông cho tới thời điểm bấy giờ, nhưng vẫn không sánh được với thất bại to lớn ở Đại Việt khi mà hàng chục vạn quân Nguyên đã bỏ mạng, đồng thời cũng không thể mở một cửa ngõ bành trướng xuống Đông Nam Á như Nguyên triều kỳ vọng. Hốt Tất Liệt bàn với quần thần : “Nhật Bản chưa từng xâm lấn ta, nay Giao Chỉ xâm phạm biên giới, nên gác việc Nhật Bản, chuyên việc Giao Chỉ”. Việc xâm phạm biên giới mà Hốt Tất Liệt nói đến là chỉ việc quân ta truy kích Thoát Hoan đánh tràn qua châu Tư Minh của nước Nguyên. Thực ra đây chỉ là một cái cớ của Nguyên triều. Cái chính là chúng muốn nhanh chóng khai thông con đường bành trướng xuống phương nam, đồng thời trả mối thù bại trận.

Các đế chế Mông Cổ thập niên 90 thế kỷ 13

Bộ khung tướng lĩnh xâm lược được định xong trong tháng 3/1286. Thoát Hoan ( Toghan ) là thống soái đạo quân viễn chinh. Hầu hết các tướng chủ chốt là những tên đã quen thuộc với chiến trường Đại Việt. A Lý Hải Nha ( Ariq Qaya ) giữ chức Hành trung thư tỉnh Tả thừa tướng, đóng vai trò tham mưu chính cho Thoát Hoan. Các tướng chủ chốt là Áo Lỗ Xích ( Ayuruci ), Ô Mã Nhi ( Omar ), Phàn Tiếp, Diệp Hắc Mê Thất ( Yimis ), A Lý Quỹ Thuận ( Ariq Qusun ), Đường Cổ Đái ( Tanggutai ) … Sau A Lý Hải Nha bệnh chết nên Áo Lỗ Xích được chỉ định thay thế hắn phụ tá cho Thoát Hoan và chỉ huy luôn phần binh lực của A Lý Hải Nha. Lực lượng quân Nguyên được điều động từ khắp nơi trong nước Nguyên. Riêng các vùng phía nam nằm gần Đại Việt là Hồ Quảng, Chiết Giang, Giang Tây. Chiến thuyền được gấp rút đóng mới. Quân Nguyên hẹn nhau tập kết tại Ung Châu, Liêm Châu vào cuối thu để tiến sang Đại Việt. Từ hướng Vân Nam, Dã Tiên Thiết Mộc Nhi ( Asar Tamur ) bấy giờ giữ chức Vân Nam vương cùng Nạp Tốc Lạp Đinh cũng được lệnh điều binh sẵn sàng phối hợp với đại quân của Thoát Hoan.

Đám hàng thần được Hốt Tất Liệt dựng lên thành một triều đình bù nhìn để dễ bề dụ hàng quân dân nước ta. Trần Ích Tắc được vua Nguyên phong làm “An Nam Quốc Vương”, Trần Tú Hoãn làm “Phụ Nghĩa công”. Con trưởng Ích Tắc là Trần Bá Ý được phong “An phủ sứ lộ Đà Giang”, em họ Tú Hoãn là Lại Ích Khuy được làm “An phủ sứ lộ Nam Sách, Trần Văn Lộng được làm “Tuyên phủ sứ lộ Quy Hóa” … Cả đám bù nhìn sẽ đi theo quân Nguyên vào nước ta. Nguyên triều lại soạn một tờ “kể tội” vua Trần, dụ dỗ quân dân Đại Việt buôn giáo. Tờ chiếu như sau :

“Trước kia, vua nước các ngươi đã xưng thần, quy phục, hàng năm dâng cống, nhưng không thân vào chầu, nên khi chú y là Trần Di Ái sang chầu, ta uỷ cho trông coi việc nước An Nam thay y. Di Ái về nước thì bị giết. Đạt Lỗ Hoa Xích là Bột Nhan Thiếp Mộc Nhi sang thì không chịu nhận. Còn như quân ta đi đánh Chiêm Thành, lệnh phải giúp lương thì lại không chịu giúp. Vì thế, Trấn Nam vương Thoát Hoan, Hành tỉnh bình chương sự A Lý Hải Nha phải đem quân sang đánh. Trong khi giao chiến, hai bên đều giết hại lẫn nhau. Nay cận thần của nước các ngươi là bọn Trần Ich Tắc, Trần Tú Hoãn lo sợ nước bị sụp đổ, tuyệt diệt, tai hoạ đến kẻ vô tội nên thường xuyên bảo vua các ngươi vào chầu, nhưng rốt cuộc vẫn không được nghe theo. Bọn ấy đã tự đến quy phục. Ta thương bọn này có lòng trung hiếu, đã đặc cách phong Trần Ích Tắc làm An Nam quốc vương, Trần Tú Hoãn làm Phụ Nghĩa công, để phụng tự họ Trần. Lại sai Trấn Nam vương Thoát Hoan, Bình chương sự áo Lỗ Xích đem quân sang bình định nước các người. Những tội lỗi trước đây chỉ thuộc một mình y, quan và dân không liên quan. Khi chiếu thư tới, các ngươi nên trở về đồng ruộng yên ổn làm ăn. Vậy xuống chiếu để hiểu dụ”.

Văn ngôn trong tờ chiếu của Nguyên là một đòn tâm lý chiến đánh vào nhân tâm nước ta. Người Nguyên miệng nói toàn điều lễ nghĩa, nhưng quân Nguyên trước sau đi đến đâu là tàn sát, cướp bóc đến đó. Quân dân Đại Việt hơn ai hết hiểu rõ dã tâm của quân xâm lược. Chúng ta sẽ thấy được trong cuộc chiến rằng những chiếu thư dụ dỗ như thế này không đem lại nhiều hiệu quả. Nhà Trần bấy giờ căn cơ đã vững, nhân dân một lòng với triều đình. Một vài lời xảo ngôn của quân xâm lược đâu dễ gì lung lạc được.

Quốc Huy/Một Thế Giới

Bức Thư Cà Mau – Bút ký kinh điển về đời sống của người dân miền nam trước năm 1975

Bức Thư Cà Mau – Bút ký kinh điển về đời sống của người dân miền nam trước năm 1975

Nhà văn Anh Đức ( 1935 – 2014 ), tên thật là Bùi Đức Ái, quê quán ở Bình Hòa – Châu Thành – An Giang. Ông là một trong những cây bút hàng đầu của văn học miền nam trong kháng chiến chống Mỹ. Các tác phẩm kinh điển nổi tiếng của ông là truyện ngắn Biển Động, tiểu thuyết Hòn Đất, truyện ngắn Giấc Mơ Ông Lão Vườn Chim, bút ký Bức Thư Cà Mau … Tác phẩm Bức thư Cà Mau có giá trị lớn về văn học và lịch sử của Anh Đức, phản ánh một cách chân thực và rõ nét về cuộc chiến đấu của quân dân vùng Cà Mau trong kháng chiến chống Mỹ. Tác phẩm được viết dưới hình thức là một lá thư tâm sự với bạn làng văn là nhà văn Nguyễn Tuân. Qua đó, Anh Đức đã tường thuật lại những điều tai nghe mắt thấy của mình trong quãng thời gian sống và chiến đấu cùng quân dân Cà Mau. Giá trị của những mẫu than đước thời chiến tranh như thế nào ? Người Cà Mau đã chiến đấu với bọn ăn thịt người ra sao ? Cái cách người Cà Mau sẵn sàng sống và chết thản nhiên thế nào ? Quân đội Mỹ – VNCH đã sa lầy và bất lực thế nào ? Mời các bạn cùng đọc tác phẩm …

BỨC THƯ CÀ MAU – Tác giả : Anh Đức

Gởi anh Nguyễn Tuân

Anh mà nhận lá thư này của tôi được phát qua Đài phát thanh Giải phóng, chắc anh ngạc nhiên rồi thốt lên: “Lạ quá!”

Vâng, tôi đã đọc bài ký của anh trong một đêm tối trong rừng đước, dưới ánh sáng của ngọn nến trắng. Và biển ở gần sát đó cứ ầm ầm như có trận dông lớn đang đi tới. Biển của mũi đất mà anh đã ví như “ngón chân cái chưa khô bùn vạn dặm” ấy.

Anh Tuân ạ! Sau lúc đọc bài của anh, tôi đã đặt tờ báo Văn Nghệ số 12 năm 1963 đó lên ngực mà suy tưởng, mà ngẫm nghĩ, mà cảm động vô hồi. Bởi vì anh nói với nhân vật Lý, Trần, Lê của anh rằng: anh chưa hề đặt chân tới Cà Mau bao giờ. Nhờ địa lý và lịch sử, nhờ tiếp xúc với những anh như Lý, nhất là nhờ tình yêu của anh dành cho mũi Cà Mau mà anh viết lên những chữ nói về đất, về nước, về lò than, về cây đước, về những con người cầm súng đứng dậy ở đây. Anh cũng nói khá sát, khá đúng. Lâu nay tôi tưởng chẳng có anh nào ở miền Bắc hiểu nổi giá trị của một ca nước ngọt ngày nắng hạn ở nơi đây. Tôi cứ tưởng các anh chỉ có thể nghe nói tới cái địa danh Thới Bình, chớ không thể nào biết ở đó có một ngã ba sông. Với lại các anh thì làm sao biết được cái bầu trời ong ong tái tái chỉ có chốn cuối đất này mới có. Tôi cảm động chính là vì anh nói đến mọi thứ đó, những cái mà ở đây hầu như chúng tôi nghỉ tới nó hàng ngày, là mùi bùn bốc lên từ các bãi bồi, là vị muối trong hơi thở của các con kinh ăn ra biển cả, là vị ngọt cùa ca nước ngọt từ sông Hởu chở đến trong tháng nắng, là đất phân U Minh dày hai, ba thước, mùa khô thường cháy ruỗng bên dưới. Tôi cảm động hơn nữa là vì nhận ra sức mạnh của văn học với tình yêu không nén nổi, nó đã cất lên cái tiếng nói ứng nghiệm lạ thường. Anh Tuân! Anh đã nghe nói tới cái lò than Năm Căn và cũng đã hình dung ra làn khói thoát ra từ các lò than ấy. Xin báo thêm cho anh biết: Ngay bây giờ trong cuộc chiến đấu, các dãy nhà lò ở Năm Căn ngày đêm vẫn đỏ hồng củi đước. Muốn cho cây đước trở thành than, công việc đầu tiên là chuyển cây đước ở rừng về, rồi cưa thành khúc, rồi chất những khúc đước dài chừng non một thước đó vào lò. Lò than hình bán cầu, tợ như cái chén úp, có lỗ thông hơi. Người thợ lò than sẽ gầy lửa đốt suốt ngày đêm, rồi anh ta ngửi mùi coi là thân đã chín chưa. Công việc đại thể là như vậy. Nhưng chính trong những dãy lò ấy, con người thì thế nào? Phải nói là con người vừa đốt than vừa đánh giắc. Có lần tôi đã nhìn thấy một anh thợ đốt lò chiến đấu với khẩu súng tự tạo, lấy lò than của mình làm công sự. Sau khi cùng toàn đội đẩy lùi cuộc tàn, anh bị thương nặng từ trong lò bò ra, người anh bám đầy than đen, ngực anh đầm đìa những máu. Trước lúc chết, anh bảo vợ bồng đứa con gái nhỏ lại gần, anh kề miệng hôn đứa con mình lần cuối. Một vệt than in trên má của con anh, sau đó anh chết. Kỷ niệm cuối cùng của anh để lại trên đời là vất than trên má đứa bé. Những cái chết tương tự như vậy có rất nhiều. Hồi năm 1959 đen tối ở Cà Mau, có lần bọn Mỹ – Diệm đã từng sát hại nguyên một lò than người. Nói vậy để lúc nào anh đó dịp cầm lên trong tay một mẩu than Năm Căn, anh sẽ có một ý niệm về than đước sâu xa hơn. Một mẫu than đước mang trên mình có cái ý nghĩa lớn: lao động hòa bình và tính chiến đấu tự vệ vẻ vang.

Anh Tuân à! Ở mũi Cà Mau, ngày nào cũng có máu hòa vào các dòng kinh nước mặn, ngày nào cũng có đạn rốc két nổ phụp xuống rừng đước, ngày nào cũng có từng đống dây thép gai vây quanh các ấp chiến lược bị cuốn tung lên… ở ngoài đó các anh thường nghe tin về các cuộc đấu tranh trực diện với hàng bao lượt người rầm rộ tràn qua đồn bót, thị trấn tràn vô Cà Mau, nhưng anh vẫn chỉ nghe nói, chớ chưa thấy các cảnh các mẹ, các chị, các cô bơi xuồng ào ào ra Cà Mau đâu. Khí thế chính trị của ta là ở cái mái chèo vỗ sóng vỗ nước, ở rừng xuồng ghe lao mũi tới như tên bắn, ở sự ung dung tự tin của các bà mẹ ngồi trên xuồng đi đấu tranh vẫn điềm nhiên ngoáy trầu ăn, và các cô gái vừa bơi vừa sửa lại khăn đội đầu cho ngay ngắn. Có khi vật đấu tranh chở dưới xuồng là mấy quả đạn 105 ly của địch bắn vô xóm bị lép, có khi là những thi hài bà con bị chúng mổ bụng. Bà con cơm đùm cơm nắm lên đường từ khuya, nơi nào xa thì phải đi tờ chiều hôm trước để kịp đến Cà Mau lúc tan sương. Bình minh là cuộc đấu tranh bùng nổ. Kẻ địch có lần đã mò xuống xuồng để cướp thi hài, hầu phi tan tội ác của chúng. Tức thì lúc đó các đoàn thuyền vây bọc xung quanh chiếc thuyền chở thi hài khe khít lại hơn. Trên mặt sông dàn ra một trận thế vô cùng vững chắc. Mặt sông vang lên những khẩu hiệu đòi nhận đơn, đòi bồi thường tài sản, nhân mạng. Bọn địch nổ súng, lúc đầu chúng bắn dọa, là đạn bay trên cao, bà con cặp xuồng vô bờ đổ bộ lên, bọn địch hạ thấp mũi súng xuống. Súng nổ có người té sấp ở vệ sông. Thế là người ta nhảy từ trên xuồng xuống ôm xác người chết đưa lên đi tới. Cuộc đấu tranh giằng co nhiều khi tới xế chiều. Trong chợ xuất hiện nhiều người bán bánh đi lẫn vào đoàn người, đó là hình thức tiếp tế của bà con ở ngoài chợ. Bánh trái ăn khỏi trả tiền. Một khi cuộc xô xát xảy ra, bà con còn giả cách bưng từng rổ mía chặt khúc đem vô bán, đó là cách tranh bị gậy gộc cho bà con biểu tình khéo léo nhất. Mỗi người cầm lấy một khúc mía làm võ khí tùy thân đánh nhau với lính. Cuộc đấu tranh biến cả chợ thành một cái tổ ong vỡ náo động cả lên, cho kỳ tới lúc tỉnh trưởng bối rối nhận đơn chịu bồi thường mới thôi. Tôi đã nhìn thấy bà con đem về những khúc mía gãy giập sau cuộc xô xát. Đặc biệt có nhưng tấm áo lịch sử. Một lần nọ chúng vây bắt một số bà con ta trong cuộc biểu tình, chúng lấy nước sơn viết lên áo của bà con dòng chữ “Toàn dân tham gia diệt cộng”. Bà con vùng vẫy cưỡng lại, dòng chữ viết ép uổng ngoằn ngoèo chữ nào không ra chữ nào. Sau đó chúng thả bà con ra. Đi ngang phố bà con ghé vào hiệu nhuộm dùng nước thuốc để xóa hết các dòng chữ trái lòng trái dạ kia. Chuyện đấu tranh còn nhiều cái vui lắm, anh Tuân ạ. Giá có anh ở đây, các em, các chị sẽ kể cho anh nghe. Mà họ kể hồn nhiên lắm kia. Các chị vừa thoăn thoắt tay đan lưới, vừa kể vừa cười rúc rích. Câu chuyện đấu tranh nghe như chẳng có cái gì là nguy hiểm chết người cả. Nhưng có những chị vừa cười vừa nói hồn nhiên với ta đó có khi vào hôm sau ta không gặp lại họ nữa. Họ có thể ngã xuống ở hàng đầu cuộc đấu tranh. Họ có thể bị bắt giam, bị đánh bằng gậy sắt, bị quay điện, bị ghim kim vào đầu ngón tay v.v… ấy vậy mà ngày ngày họ vẫn vui cười. Tiếng hát tiếng hò của hộ vẫn thường vút lên trên các dòng kênh hoặc những cánh đồng đã cấy. Cuộc chiến đấu ở mũi đất xa xôi nầy được cái nó trẻ trung, nó tươi đầy. Với giặc thì căm thù xốc tới, với ta thì yêu thương trìu mến. Và vì khát vọng có được một cuộc sống như ở ngoài Bắc nên con người ta dám chết. Hàng ngày Cà Mau rấn lên bùn đất và trong cơn máu đổ. Vậy mà Cà Mau vẫn xanh rờn màu mạ cấy, vẫn sáng loáng những đồng lúa vun cao, vẫn cắm cọc hàn sông ngăn tàu và vẫn bố trí hầm chông giữa ruộng. Nhưng lúc nào bà con cũng lảo đảo vì bắn chìm mấy chiếc thuyền nhựa của bọn công an duyên hải, một lát sau đã đình huỳnh ngồi tại một trại đáy ăn tôm lụi, uống vài ly rượu anít nhãn hiệu “Rồng xanh” cho ấm. Chả là anh ta phải trầm mình dưới kênh về, vì tụi giặc còn lại nó xổ trung liên như mưa theo anh.

Bầu trời Cà Mau cũng vậy, chẳng phải lúc nào cũng ong ong tái tái đâu. Cũng tùy mùa. Sáu tháng nắng, sáu tháng mưa mà. Mùa mưa bầu trời như se lại, bất cứ lúc nào cũng có thể đổ ào xuống một trận mưa to. Các ánh đồng kể cả rừng đước, vẹt, kể cả rừng tràm xứ U Minh Thượng, U Minh Hạ đều nhứ dầm chân trong nước. Không phải lo cho cây lúa, lúa cứ luôn luôn vượt khỏi mặt nước mà sống. Hầm chông, hố chông trong ruộng tựa như được nước lụt che, thằng giặc chẳng biết đâu mà rờ. Trong mùa nước, thằng giặc Mỹ – Diệm đổ bộ từ trực thăng xuống bị sụp chông, máu cứ loang đỏ trên mặt nước, trên màu mạ cấy.

Anh Tuân ạ! Vừa rồi ở trong nầy tôi may mắn được đọc tập “Sông Đà” và một số bài lẻ từ kháng chiến của anh. Trên mạn sông Đà, nếu anh có dịp theo một chiếc thuyền than nào đó xuôi sông Quỳnh Nhai, hoặc giả anh bắt gặp mây Mèo trên các triều núi Tây Bắc thì nay nếu anh mà đến được Cà Mau, tôi tin rằng anh sẽ gặp nhiều cái gợi anh nghĩ đến rất nhiều thứ chất liệu dành cho ký sự. Anh sẽ gặp bà má Năm Căn ngày đêm mong mỏi được ra thăm Hồ Gươm, anh sẽ gặp ông già cao niên nhất ở Viên An chuyên sống nghề hạ bạc, nghề làm củi. Các ông già ấy thể nào cũng cầm giữ anh lại ở trại đáy, cho anh ăn cua biển gạch son hoặc tôm lóng lớn bằng ngón chân cái luộc dấm. Các ông lão không quên đãi anh một vài ly rượu nếp cội (ở đây thì gọi là rượu mắt mèo, và nó trong lắm, trong như mắt con mèo vậy). Anh cứ lưu lại ở đó chơi qua một đêm. Khi đôi mắt của những ông già đã hoe hoe đỏ, khi bếp củi phựt sáng, rơi vạc than hồng, là lúc các ông ấy sắp dẫn anh đi ngược lại cái thuở ban sơ đến đây lập nghiệp, sau khi dời các xứ xa khổ ải, họ đã tới đây dựng lên hàng lưới, hàng đáy ra sao, dựng lên những lò than nung nấu cây đước ở chốn nê địa như thế nào. Anh nên đến đấy lắm, để nhìn xem tàu lá dừa nước óng mượt bụm nước U Minh đỏ ngầu như rượu vang. Rồi đây sẽ không bao giờ trở lại với ta nữa những đêm đi theo xuồng một chuyến giao liên, mỗi lúc cô giao liên khuấy chèo là vẽ lên một dòng sáng rực trên con kinh nước mặn. Có lẽ sau này khó mà nghe lại những hồi mõ, hồi trống nổi lên trong một vùng tranh chấp. Anh cần đến đây để tham quan cái hàng rào vĩ đại của bà con làm bằng cây đước, cây vẹt, vây chặt lấy biệt khu Bình Hưng của lũ giặc Mỹ – Diệm – Tưởng. Và ngày chủ nhật, ở vùng ven Bình Hưng, nghe thấy tiếng chuông nhà thờ từ trong cái địa ngục ấy vọng ra. Con chiên đi lễ là lũ giặc lóp ngóp chui qua từ các hệ thống hầm ngầm, vọng gác. Có tên trước lúc đến nhà thờ mới vừa ăn xong gan người xào, có tên trước giờ xưng tội còn tranh thủ giội nước sôi vô chiếc lu nhốt người cho người chịu tội bóc tuột da ra mà lũ giặc gọi là “làm lông” để sau khi đi nhà thờ về là chúng bắt tay pha thịt nấu nướng. Những chuyện về bọn Nguyễn Lạc Hóa khiến tôi nhớ tên Đèo Văn Long trong bài Một chút tiểu sử và một bản lý lịch và bài Xòe của anh. Ở Tây Bắc, người con gái bị giết sau tối xòe đã là chuyện bi thảm rồi. Nhưng ở Bình Hưng ngày nay, chúng nó chẳng cằn xòe hát gì cả, chúng nó đi càn quét các vùng lân cận bắt con em chúng ta về lập nên nhà chứa cho lính. Tên lính nào vô nhà chứa mấy lần đều có ghi sổ, tới cuối thành tên Nguyễn Lạc Hóa sẽ khấu trừ vào số lương của họ. Chuyện Bình Hưng là cả một chuyện đau lòng, rùng rợn về con người. Bởi vì chúng nó cũng là con người. Bọn ăn thịt người tới mức độ đã biết ngon, biết chế biến ra cách xào nấu, biết lỗ tai người và bàn tay người là ngon nhất. Giành nhau một cái mật người, chúng có thể đâm nhau, bắn nhau, bởi vì một cái mật có thể bán 1.000 đồng, nghe nói nay đã lên tới 1.500 đồng, 1.800 đồng. ở Sài Gòn có một bọn thầu mua, chẳng sợ ế! Bọn Diệm thường gọi Bình Hưng là “Biệt khu Hải Yến bất khả xâm phạm”. Bọn Kennơđi tặng Bình Hưng tên “Ngôi sao của thế giới tự do”. Chỉ có bà con Cà Mau gọi Bình Hưng đúng với cái tên của nó, “Địa ngục Mỹ – Diệm – Tưởng”. Lũ giặc Bình Hưng trong cơn say chếnh choáng giữa bữa tiệc thịt người thường vỗ ngực nói rằng:

– Nếu Việt Cộng đánh được Bình Hưng thì Việt Cộng mới lấy được miền Nam.

Mới đây nghe tin lực lượng võ trang ta triệt hạ hai chi khu quân sự Đầm Dơi, Cái Nước, thì Bình Hưng bị pháo kích dữ dội, 80 tên giặc vừa chết vừa bị thương, bọn Bình Hưng đâm hoảng bảo nhau:

– Việt Cộng nó đã đánh Đầm Dơi, Cái Nước, thì ở đây nguy đến nơi!

Hẳn là như vậy rồi, sớm muộn rồi Bình Hưng củng bị tiêu diệt, lực lượng võ trang của ta đã báo trước cho Bình Hưng biết điều đó. Lực lượng ta lớn mạnh mau chóng thật, anh Tuân ạ. Chỉ huy trẻ trung, chiến sĩ trẻ măng, đôi mươi, có khi còn trẻ hơn nữa. Nhất là các chú trinh sát đặc công. Trong cuộc chiến đấu này, con em ta đã ra tiền tuyến trước tuổi. Đó là điều khiến tấm lòng các bà mẹ vừa kiêu hãng lại vừa xót xa. Một bà má ở U Minh vừa tiễn con trai 17 tuổi đi bộ đội, bảo tôi với giọng nghẹn ngào:

– Biết làm sao bây giờ? Má sợ con má nó chết lắm, nhưng má không thể giữ nó ở nhà với má được!

Bà mẹ U Minh nói như vậy, anh Tuân ạ. Về văn học, cái mâu thuẫn xâu xé trong cõi lòng bà mẹ miền Nam như vậy thì gọi là gì hở anh? Sự thật thì chẳng có bà mẹ nào muốn con mình chết cả, chẳng qua là vì lẽ sống ở đây đòi đổi lấy bằng máu, không thể kỳ kèo tiếng một tiếng hai với kẻ thù được. Trong trận tiêu diệt chi khu Cái Nước tôi có tham dự, chiến sĩ giải phóng quân ở nhà anh nào anh nấy coi hiền lành, cù mì củ mỷ lắm. Đóng quân trong xóm, các anh bị các cô trêu cứ đỏ mặt lên hết. Thế mà ở mặt trận thì họ khác hẳn, anh nào coi cũng dữ, cũng quyết liệt, họ hét, họ tuốt lê lao lên, họ dồn từng tên địch vào góc tường rồi xốc tới trói nghiến lấy. Trận tấn công Cái Nước hôm đó mau lẹ đến nỗi điện đài địch không kịp kêu cứu về Cà Mau. Theo dõi Rađiôphôni nghe thấy một cái đồn lân cận, là đồn Rau Dừa kêu về Cà Mau báo tin chi khu Cái Nước bị tấn công dữ dội. Bọn Cà Mau điện trả lời:

– Hiện thời mọi chi khu đều biến động, chỗ nào nấy lo không thể tiếp cứu được.

Chi khu Cái Nước vừa bị hạ thì xuồng của đồng bào dân công đã bơi ào ào xông ra chở tù binh, chở chiến lợi phẩm. Con rạch dẫn ra Cái Nước, xuồng ghe chật cứng như nêm. Bà con gặp bộ đội, câu hỏi đầu tiên là:

– Sao? anh em mình có sao không?

Một số tù binh nghe các câu hỏi như thế cúi gằm mặt xuống. Bởi suốt cuộc đời lính cho Mỹ – Diệm, họ không sao kiếm ra một câu hỏi như vậy. Tất nhiên một trận đánh diệt ngót 200 địch ở Cái Nước, ta hy sinh năm chiến sĩ thì không có gì đáng kể. Thế nhưng có cái gì rất xót lòng, anh Tuân ạ! Tôi có đến nơi tẩm liệm năm chiến sĩ ấy. Lúc đó lối chừng hai giờ khuya. Dưới ánh sáng của những ngọn nến trắng cỡ lớn, năm anh chiến sĩ nằm gần nhau, mặt anh nào cũng phủ lá cờ Mặt trận. Xung quanh là các má, các chị, người lo thay quần áo cho anh em, xé vải liệm. Một bà má ngồi bên nhẹ tay vén lá cờ nhìn mặt từng anh. Má lắc đầu, nước mắt lã chã. Má thương các anh quá. Tôi trông dáng bà má lúc ấy như đang tìm kiếm cái gì trên nét mặt của những đứa con mình. Có một anh chừng hai mươi tuổi chết rồi mà mắt cứ mở. Bà má vuốt mắt anh nhưng mí mắt anh vẫn không khép lại. Má đưa tay vuốt mặt lần nữa. Vừa vuốt má vừa thì thầm câu gì. Tôi nghe hình như má nói:

– Ngủ đi, ngủ đi con!

Cặp mắt anh chiến sĩ cuối cùng khép lại. Các má các chị lần lượt nâng con em mình đặt vào hòm. Tiếng khóc nấc lên giữa đêm sắp hầu tàn. Tôi cùng các má lội nước đưa các anh ấy ra nghĩa trang, và tôi giã từ những mộ phần mới đó ra đi trong đêm tối nhợt dần. Sáng ra rồi, tôi vẫn thấy ánh nến chập chờn, thấy đôi mắt của các chiến sĩ tiếc nuối nhìn cuộc sống, thấy các má các chị tới lui tất tưởi.

Đêm miền Nam là như vậy. Lứa tuổi trẻ ở miền Nam ngã xuống có anh chưa biết tình yêu là gì, chưa biết cái hơi thở ấm áp của một cô gái phả vào mặt mình, chưa hề cầm nắm một bàn tay khác lạ, nói chi đến chuyện hẹn hò nhau vào những chiều thứ bảy, nói chi đến chuyện dắt nhau đi dạo chơi trong công viên ngày chủ nhật. Sau những đêm như thế, khi ngày rạng, tôi thấy thiên nhiên cũng đổi khác. Nhìn sang rừng đước, tôi thấy dường như nó cắm sâu xuống lòng đất hơn, con rạch, vầng lá hình như cũng nhuộm thắm thêm cái màu sắc lãng mạn của cuộc chiến đấu.

Anh Tuân ơi,

Trong bài viết của anh, anh có nhắc tới những thằng Mỹ đem thân bón cho cây đước Cà Mau. Vào lúc tôi viết bức thư này cho anh, thì số tên lính Mỹ vùi thây dưới đất bãi bồi này tăng lên rất nhiều rồi. Trận gần đây nhất là trận Chà Là. 15 máy bay Mỹ bị bắn hạ. Một kỷ lục cao nhất về bắn hạ máy bay, có hàng chục phi công Mỹ chết theo máy bay của chúng. Có cả vợ quan lái tàu bay Mỹ đi vào vùng ta tìm kiếm thây chồng chết trận này. Mới đây, anh em đưa về chỗ chúng tôi một mớ tài liệu giấy tờ của hai tên Mỹ lái hai phi cơ phóng pháo bị du kích ta bắn rơi. Một trong hai tên phi công đó bị một viên đạn bắn xuyên qua cổ. Hai du kích bắn, một anh bắn khẩu Lơben, một anh bắn khẩu Garăng Mỹ. Tên phi công chết tốt. Chiếc máy bay cằm đầu xuống một cửa biển. Hai an du kích, anh nào cũng quả quyết là do chính khẩu súng của mình bắn hạ. Nhưng chẳng ai phân xử nổi. Tới chừng vớt xác tên Mỹ lên, thì vết đạn ở họng hắn lại chính là vết đạn Lơben. Loại súng này vốn là loại súng trường cổ lỗ của Tây, anh em gọi nó là “Quảng tầm sào”, vì nó dài lêu nghêu như cây sào. Anh du kích bắn Lơben khoái trá nhảy cỡn lên mà la:

– Thấy chưa? Thấy cây “Quảng tầm sào” của tôi chưa? Đừng có khi dễ nó mà!

Tên Mỹ xấu số đó là trung úy Uyliam Xtadi, còn tên thứ hai là trung úy Vôn Hăngri Nétxi cũng bị hạ cùng chiếc phi cơ phóng pháo B.26 tại xã Khánh Bình Đông. Cả mớ tài liệu gồm có thẻ quân nhân, thẻ ăn sáng, thẻ câu lạc bộ hàng không ở Nêvađa, bản đồ, sổ ghi số bom đạn mang theo bao nhiêu, đã ném bao nhiêu và một số ảnh của vợ con chúng. Chiếc thẻ quân nhân của Uyliam Xtadi do Bộ Quốc phòng Mỹ cấp có dán ảnh hắn. Tên này trạc ba mươi tuổi. Đầu hắn hớt cua, mày rậm và hai mắt hơi lộ, trắng dã. Đôi mắt của hắn lúc ngủ mà đã như nhìn về cõi chết. Bức ảnh của tên Hăngri Nétxi bị tróc nham nhở, có lẽ bị thấm nước ruộng Khánh Bình Đông nên tôi không nhận ra được dung mạo của hắn. Trong quyển sổ võ khí có trang ghi: bom napan đã ném 20 quả, đạn rốc két đã bắn 43 trái. Thế có nghĩa là ngày hôm ấy nhà cửa đồng bào đã cháy, các em bé và các bà mẹ đã chết, cây ăn quả ngã gục. Dòng chữ ghi một cách ngắn gọn, tàn nhẫn. Tội ác của chúng được cụ thể hóa bằng số liệu bom và đạn. Vì vậy cái chết của chúng chẳng có gì là quá đáng. Vật cuối cùng tôi chú ý hơn cả là mấy bức ảnh của vợ con chúng, mấy bức ảnh được bọc rất kỹ trong giấy nhựa. Bọn giết người cũng biết nâng niu hình ảnh vợ con chúng. Một bức ảnh chụp người thiếu nữ Mỹ độ hai mươi ba tuổi, mặc áo hở ngực, có đôi mắt sâu thẳm. Ở người thiếu nữ này vẫn có cái gì tươi trẻ như mọi cô gái khác trên trái đất. Cô đang lâm vào một số phận đáng thương. Tôi biết vậy, nhưng lòng sao cứ ngây ngấy nổi lên mối ác cảm. Người thiếu phụ thứ hai lớn tuổi hơn có vẻ là người đàn bà nội trợ, đang nửa ngồi nửa nằm trên ghế sôpha, miệng cười chúm chím. Bức ảnh cuối cùng khiến lòng tôi se lại. Ảnh chụp hai đứa bé, một trai, một gái. Đứa trai chừng năm tuổi, đứa gái chừng ba tuổi… Hai đứa nắm tay nhau đứng nhoẻn miệng cười trên bãi cỏ. Con của kẻ giết người cũng có nụ cười ngây thơ dễ thương như mọi đứa trẻ khác. Chúng ta đã mồ côi cha!

Tôi tự nghĩ rằng từ đây, nếu hai đứa trẻ ấy hỏi đến cha nó, thì liệu mẹ nó phải nói như thế nào? Chị ta có thể bảo thật với nó rằng: Cha chúng đã chết ở miền Nam Việt Nam không? Không, chắc người đàn bà ấy không đáp được câu hỏi của con mình. Tôi tính chị ta sẽ úp mặt vào lòng bàn tay mình mà nức nở, anh Tuân ạ. Và có lẽ đêm đó, người đàn bà đáng thương kia lại mường tượng tới mỏm Cà Mau xa lạ.

Anh Tuân! Mỏm đất đấy thì chúng ta biết rõ, nhất là tôi. Còn anh, anh cũng đi tới rồi đó, anh. Anh đi tới mũi Cà Mau với cây đèn đất lịch sử soi trên bản đồ địa lý, với trái tim nhịp đập theo sự kiện chạy ngày một khỏe của Cà Mau. Anh đến với mũi đất này như thế cũng quý hóa lắm rồi… Tính tới năm 1963 nầy, người dân Cà Mau đã trải qua ngót 20 năm đánh giặc rồi anh Tuân ạ. Nếu không cò thằng Mỹ, thì cuộc đời đã vui tươi sung túc bằng mấy. Nhưng từ nay bước vào cuộc kháng chiến gian khổ lâu dài, dân Cà Mau vẫn lạc quan theo đuổi đến cùng. Ngày ngày những con gió bão lớn nhứt thổi hắt vào mặt họ, nhưng tay cầm tay, họ đứng vững chân trên đất hệt như cây đước. Vấn đề là ở chỗ phải đứng chắc chắn như cái thế của cây đước. Ở Cà Mau đã lâu, tôi chưa hề gặp một cây đước nào bị dông gió thổi bật, cho dù là một trận dông lớn nhất sức gió cũng không thể nhổ bật được hàng trăm rễ đước cắm sâu xuống lòng đất. Vả chăng có cây đước nào đứng riêng lẻ đâu? Nó đứng cạnh nhau, che chở cho nhau. Chỗ đứng đầu sóng ngọn gió sản sinh ra loại cây khả dĩ có thể chống chọi được sóng gió. Con người sinh ra ở đây cũng như vậy. Theo tôi, họ là những người Việt Nam thống khổ nhất, bị áp bức giai cấp mà đi riết các chỗ hết đất hết trời. Tôi cả tin ở lời anh nói rằng: những người tới đất Cà Mau sớm nhất có thể là một anh lính thú, một cung nữ thất sủng, hoặc là những kẻ bất hạnh. Tôi xin bổ sung thêm là gần đây vào thời lịch sử nước ta bị chia cắt lần thứ hai, tại mũi đất cuối cùng này lại đến thêm những con người bất hạnh mới. Đó là những bà con miền Bắc trong cuộc di cư cưỡng ép cuối năm 1954. Sau khi trải qua không biết bao nhiêu cảnh khổ, họ đã trôi dạt tới đây. Bà con này bị Mỹ – Diệm tập trung trong các khu dinh điền. Nhờ lực lượng võ trang ta đánh vào và bà con tự phá ra chạy vô vùng giải phóng. bà con ấy đã định cư làm ăn, tham gia cách mạng. Bà con lại đi bộ đội, du kích. Có người được kết nạp vào Đảng Nhân dân cách mạng, được cử vào Mặt trận ở địa phương. Lá nào rụng về cội ấy. Người Cà Mau giúp đỡ, đùm bọc những người trước kia sống ở đồng bằng sông Nhị, sông Chu, hoặc ở những nơi đồng chiêm trắng nước tỉnh Hà Nam. Bà con miền Bắc này vẫn hay nhắc tới cái cổng xây, cái đình làng họ, cái giếng nước làng họ. Cho dù gặp con cá con tôm mập béo ở xứ đất màu mỡ, họ vẫn nhớ con cua con cáy. Tại Sào Lưới, một xóm nhỏ của Cà Mau nằm bên vịnh biển Thái Lan ầm ầm sóng vỗ, một hôm tôi đã nghe một ông cụ người quê Kẻ Sặt (Hải Dương) nói:

– Chiều chiều tôi nhìn những đám mây mà nhứ làng nhớ quê quá cậu ạ.

Tôi hỏi:

– Thưa cụ, cụ nói những đám mây kia?

Ông cụ gật đầu, đáp giọng như lạc đi:

– Phải, những đám mây đang trôi về quê tôi đấy, cậu ạ.

Chiều hôm đó, tôi mới vỡ lẽ ra ông cụ Kẻ Sặt có rất nhiều buổi chiều ngồi nhìn lên như thế. Ông cụ trông về phương Bắc… Mà thôi, tôi chẳng nói về ông già Kẻ Sặt ấy viết thư về cho những người thân thường bảo rằng “Ngày Bắc đêm Nam”.Cũng đều giống nhau cả, kẻ đàng trong nhớ ra đàng ngoài, kẻ đàng ngoài nhớ vọng vô trong. Thư này tôi viết cho anh đã dài, mà những điều muốn nói về Cà Mau thì lại càng dài hơn. Có lẻ tôi tạm ngừng ở đây chăng? Một dịp khác tôi sẽ lại viết tiếp cho anh. Giờ đây đêm đã khuya, mưa đang đổ lớn, biển động dữ dội. Dạo này, đêm Cà Mau, gió mưa cứ tầm tã, ở ngoài đó chắc đã lập đông rồi, phải không? Mặt nước Hồ Gươm mùa đông có đẹp không anh. Lát nữa trời sẽ rạng sáng. Dù chưa biết Hồ Gươm, tôi vẫn nhớ Hồ Gươm và đoàn rằng lúc ấy Hồ Gươm sẽ đẹp hơn cả mọi lúc, vì khi ấy Tháp Rùa sẽ hiện ra trong sương sớm như xuất hiện từ trong câu chuyện thần thoại của bản thân nó. Cây đước của bà má Năm Căn có ở đó không anh nhỉ? Chừng nào thì xuất hiện cây đước với vòm lá xanh rì của nó, chừng nào thì rễ đước bắt đầu bén đất Hồ Gươm?

Chừng nào? Cái câu hỏi ấy, mỗi người đều phải đặt lấy, định lấy. Ở tôi, ở anh, ở tất cả thảy chúng ta trên hai miền Nam Bắc. Tin rằng: Thời gian sẽ ủng hộ chúng ta. Để anh có thể vô thăm Cà Mau sớm hơn. Và tôi có thể ra viếng Tháp Rùa một thể cùng một chuyến với các bà mà Năm Căn, vai đeo bị bàng đựng những trái đước giống.

Chúc anh sức khỏe.

Cà Mau tháng 11 năm 1963.

Kháng chiến chống Nguyên Mông lần 2 – Kỳ 22 ( kỳ cuối ) : Trận Tây Kết lần 2, sạch bóng quân thù

Kháng chiến chống Nguyên Mông lần 2 – Kỳ 22 ( kỳ cuối ) : Trận Tây Kết lần 2, sạch bóng quân thù

Trong lúc Thoát Hoan thua trận xiểng niểng, chạy dài từ Thăng Long về nước thì ở các hướng khác, quân Nguyên tiếp tục hứng chịu những đòn tấn công mạnh mẽ của quân dân Đại Việt.

1. Quân dân miền tây bắc truy kích giặc đến cùng:

Một bộ phận thứ yếu của quân Nguyên là cánh quân của Nạp Tốc Lạp Đinh vốn trước đây từ hướng Vân Nam tiến sang. Cánh quân này tuy ít nhưng khá mạnh, từng khiến Chiêu Văn vương Trần Nhật Duật phải lui quân. Khi quân ta tấn công Thoát Hoan ở Thăng Long thì Nạp Tốc Lạp Đinh còn bận đóng quân ở vùng phía tây Thăng Long để ngăn chặn các cuộc tấn công của quân dân vùng tây bắc dưới sự chỉ huy của các tù trưởng. Sau khi hay tin Thoát Hoan bại trận rút quân, Nạp Tốc Lạp Đinh cũng buộc phải lui binh. Do lúc này đường về Thăng Long đại quân ta đã hoàn toàn làm chủ, Nạp Tốc Lạp Đinh không còn con đường nào khác là phải rút quân theo ngã tây bắc về Vân Nam, con đường cũ mà chúng đã tiến sang. Trên đường quân giặc rút lui, tù trường Hà Đặc đã huy động quân dân bày trận tại núi Trĩ Sơn, Phù Ninh (thuộc Phú Thọ) đón đánh. Quân Hà Đặc ít và ô hợp hơn quân Nguyên của Nạp Tốc Nạp Đinh lại không có sự hiệp đồng với các cánh quân khác của triều đình đang bận diệt giặc ở vùng đồng bằng, vì vậy mà Hà Đặc dùng mưu để làm giảm nhuệ khí của địch.

Hà Đặc cho đục thân cây to bên đường mà ông đoán chắc rằng quân Nguyên sẽ đi ngang, sai người cắm những mũi tên cực lớn vào đó giả làm như là có người khổng lồ hay loại vũ khí cực mạnh nào đó bắn tên vào cây. Quân Nguyên trông thấy ngờ vực, không dám tiến lên mà cho dừng quân đóng lại Cự Đà quan sát. Hà Đặc lại sai người đem những hình nộm to lớn cầm cung tên, đến chiều tối dẫn ra dẫn vào trên núi. Quân Nguyên từ xa trông thấy, hết sức sợ hãi. Phô trương thanh thế xong rồi, Hà Đặc mới tung quân ra đánh. Quân dân dưới trướng Hà Đặc ai nấy đều hăng hái giết địch. Quân Nguyên đã khiếp vía từ trước, bị sức tấn công mạnh của quân ta thì nhanh chóng rút chạy về Vân Nam. Hà Đặc thừa thế truy kích không ngừng nghỉ. Đuổi đến A Lạp, Hà Đặc luôn đi tuyến đầu, đánh hăng quá nên bị tử trận. Quân Đại Việt ở đây mất chủ tướng, bất ngờ tình thế trở nên khó khăn, nhiều thân tín của Hà Đặc bị bắt.

Quân Nguyên dưới trướng Nạp Tốc Nạp Đinh vừa giết được chủ tướng của vùng tây bắc, tưởng đã tạm yên thân nên hạ trại nghỉ ngơi sau quãng đường dài giao tranh mệt nhọc. Em của Hà Đặc là Hà Chương nhân đêm tối trốn thoát khỏi trại giặc, trộm cả áo giáp và cờ xí của giặc chạy về với quân ta. Hà Chương lại chỉ huy quân dân gấp rút tiếp cận doanh trại quân Nguyên, quyết đánh một trận báo thù cho vị tù trưởng đã xả thân vì nước. Quân ta dùng áo giáp và cờ xí của giặc để cải trang đột nhập vào doanh trại, rồi nội ứng ngoại hợp đánh tan được giặc một trận lớn. Quân Nguyên chết rất nhiều, cắm đầu chạy về Vân Nam.

2. Trận Tây Kết lần 2, Toa Đô bỏ mạng:

Khối quân của Toa Đô vẫn còn một bộ phận khá đông đóng ở Trường Yên. Quân Nguyên ở đây hầu như đã đứng ngoài vòng chiến kể từ khi quân Đại Việt bắc tiến vì các hướng hành quân của quân ta đã chủ động bí mật chia làm hai cánh đi vòng tránh vùng kiểm soát của địch tại Trường Yên, một cánh đánh thẳng vào vùng Thiên Mạc, một cánh đánh vào Thiên Trường trong thời gian chớp nhoáng. Quân địch ở Trường Yên khi phát hiện ra quân ta thì chiến sự ở Thiên Mạc với trận Hàm Tử – Tây Kết đã định xong, vùng Thiên Trường cũng đã bị quân ta kiểm soát. Do đó mà các doanh của địch ở Trường Yên hoàn toàn bị cô lập, không thể hiệp đồng với các khối quân Nguyên khác.

Ngày 7.6.1285, vua Trần Nhân Tông cùng thượng hoàng Trần Thánh Tông đem binh thuyền đánh vào Trường Yên. Quân địch ở đây đói khát lâu dài, sức lực vốn đã vô cùng suy yếu. Quân ta với thế thắng, nhanh chóng làm chủ tình hình. Quân Đại Việt thả sức tàn sát quân Nguyên, chém đầu cắt tai giặc để dâng công nhiều không kể xiết. Hầu như toàn quân địch ở Trường Yên bị diệt gọn. Tạm thời dẹp yên được giặc trên phần lớn địa bàn vùng quê hương hoàng tộc Trần, ngày 19.6.1285 hai vua ghé về Long Hưng bái tế lăng mộ tổ tiên rồi tiếp tục hành trình chiến đấu.

Lại nói về Toa Đô, sau khi đại bại ở Hàm Tử quan thì chạy ra ven biển trốn tránh, đóng ở cửa biển Thiên Trường kiếm lương ăn và thu nhặt tàn quân. Vùng Thiên Trường là vùng mà Hưng Đạo vương không lâu trước đó đã đánh tan quân Nguyên và đi qua để tiến về Vạn Kiếp. Do binh lực của Đại Việt ở vùng này chỉ tập trung bố trí giữ các tuyến sông chính chứ không đủ binh lực giữ ngoài ven biển, nên Toa Đô có điều kiện đóng lại ở cửa biển để sốc lại đội ngũ. Tàn binh bại tướng của quân Nguyên ở các lộ đông nam đồng bằng sông Hồng tụ về với Toa Đô. Giữa tháng 6.1285, Toa Đô cùng Ô Mã Nhi dẫn quân liều lĩnh ngược sông Hồng, hy vọng sẽ có thể phối hợp với Thoát Hoan ở Thăng Long. Toa Đô không hề hay biết rằng, Thoát Hoan đã thua trận chạy dài về nước.

Hay tin Toa Đô ngược ra bắc, vua Trần Nhân Tông sai quân chuẩn bị trận địa ở bến Tây Kết, còn vua đóng quân ở bến Đại Mang Bộ vùng Thiên Mạc để tập kết binh lực. Quân Đại Việt thuộc khối quân của Hưng Đạo vương Trần Quốc lại chia thành các nhóm nhỏ tập kích tiêu hao quân trên đường Nguyên từ Thiên Trường đến Thiên Mạc để phối hợp với vua và thượng hoàng. Quân của Toa Đô cùng cực lâu ngày, nay lại tiếp tục bị hành xác. Tổng binh giặc là Trương Hiển không chịu nổi sự uy hiếp của quân ta, đã đơn phương dẫn quân đi trước đầu hàng, được vua Trần thu nhận.Ngày 24.6.1285, đoàn thuyền của Toa Đô tiến đến bến Tây Kết. Vua Trần điều động thủy quân chặn đánh. Quân của Toa Đô tinh thần và thể chất đều suy nhược, mà ta lại dùng quân no đánh quân đói nên đã nhanh chóng chiếm thế thượng phong. Toa Đô thất thế nhưng vẫn liều chết chống trả, rốt cuộc bị quân Đại Việt chém chết tại trận.

Quân Nguyên tan rã, chạy trốn trong vô vọng. Quân Đại Việt truy kích, chém giết địch nhiều không kể xiết,bắt sống đến hơn 5 vạn tù binh. Ô Mã Nhi cùng Lưu Khuê dùng thuyền con chèo đi trốn ra biển, may mắn thoát chết. Quân ta cắt đầu của Toa Đô dâng lên cho vua Trần Nhân Tông. Nhà vua cảm phục tài trí và tinh thần chiến đấu của Toa Đô, bất giác có lòng thương cảm, nói với quần thần: “Người làm tôi phải nên như thế”. Nói xong, vua cởi áo ngoài sai quan gói đầu Toa Đô đem chôn. Nhưng ngay sau đó, vua nghe trình báo lại những tội ác tày trời mà Toa Đô đã gây ra cho dân chúng. Vốn quân của Toa Đô là quân đói khát, trong quân lại có những kẻ xuất thân tù tội nên đi đến đâu đều thả sức cướp bóc, tàn phá, giết người không ghê tay. Trong các cánh quân Nguyên, quân của Toa Đô là tàn hại nhân dân dữ dội nhất. Vua nghe qua hết sức căm giận bèn sai quân lấy đầu Toa Đô tẩm dầu mà đốt đi để an ủi vong linh những nhân dân đã tử nạn trước gót xâm lăng.

3. Lưu danh sử sách:

Như vậy là sau quãng thời gian chừng nửa năm ròng chiến đấu dũng cảm, quân dân Đại Việt đã quét sạch hơn 50 vạn quân Nguyên Mông xâm lược khỏi bờ cõi, bảo vệ được nền độc lập của đất nước. Thắng lợi này có được là do nhiều nguyên nhân, nhưng trên hết là do từ vua đến dân trên dưới một lòng. Nhận xét về chiến thắng, sử gia các đời đã có những lời hay khác nhau.

Ngô Thì Sĩ khen ngợi chiến lược chung của vua tôi nhà Trần trong sách Việt Sử Tiêu Án rất xác đáng: “Mỗi lần có tin báo quân Nguyên sang cướp, thì tất là Vua thân hành ra ngoài trông coi quân, khi đi đông, đi tây, không đi nhất định đường nào, khi ở trên bộ, khi ở thủy không đóng nhất định ở đâu, đó không phải là rát, là vì Vua ở bên ngoài, thì dễ hiệu triệu thiên hạ. Cổ lệ lòng hăng hái của quân sĩ, chư tướng thì tiện việc tâu xin mệnh lệnh, tam quân thì vui lòng xông pha, lính tráng đều là quân của nước, của nhà giàu là của nước, có cơ hội nào thì cổ động quân sĩ xông vào trước, gặp tình thế không may thì tùy tiện mà chống giữ; khi tiến quân thì nhanh như chớp nhoáng, khi lui về thì như rồng rắn ẩn thân, giặc không biết đâu mà lường đạc được, nếu chỉ nấp giữ ở trong thành, thì địch coi đó là sào huyệt, chúng sẽ chặn đường không cho vận lương đến, và giữ viện binh không vào được, đến nỗi lương hết, lực cùng, chả nguy lắm sao. Có tin giặc đến mà Vua lập tức đi ra ngoài, đó là kỳ kế, liệu sức giặc và tính cách đánh của nhà Trần”.

Sách Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục của Quốc sử quán nhà Nguyễn thì nhấn mạnh ở việc trọng dụng người tài: “Lúc bấy giờ nhà Nguyên mới nổi lên, khí thế rất ngang ngược. Nhà Trần cũng may gặp lúc mới nổi lên, được các vua Thái Tông, Thánh Tông, Nhân Tông và tướng văn tướng võ phần nhiều người tài, mới có thể đánh bại được giặc, giữ được nước. Chứ nếu gặp người khác thì chưa biết thế nào”.

Tác giả nhận định : Bài học về nghệ thuật quân sự, rộng hơn là nghệ thuật giữ nước trong cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông lần 2 là rất lớn lao và quý báu. Ngoài việc đút kết được rất nhiều kinh nghiệm cho quân dân nhà Trần tiếp tục chiến đấu với đế chế Nguyên Mông những năm về sau, những kinh nghiệm về chuẩn bị và tiến hành chiến tranh vệ quốc trong cuộc chiến này còn được rất nhiều thế hệ sau của dân tộc Việt Nam vận dụng. Chính trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ ở thế kỷ 20, người Việt Nam đã áp dụng rất thành công các chiến lược, chiến thuật mà quân dân Đại Việt thời Trần đã dùng.

Mong rằng qua loạt bài này, mỗi độc giả sẽ có được những sự nhìn nhận riêng của mình về cuộc chiến, đồng thời rút ra được những bài học bổ ích và cùng nhau hun đúc tinh thần yêu nước.

Quốc Huy/Một Thế Giới

Kháng chiến chống Nguyên Mông lần 2 – Kỳ 21 : Chiếm lại kinh thành, truy kích quân địch

Kháng chiến chống Nguyên Mông lần 2 – Kỳ 21 : Chiếm lại kinh thành, truy kích quân địch

Chiến thắng Hàm Tử – Tây Kết đã làm rúng động toàn bộ hệ thống phòng thủ của quân Nguyên, khiến tinh thần của chúng hoang mang tột độ. Quân Nguyên bấy giờ ở tản mác tại Thiên Trường, Thiên Mạc, Trường Yên vẫn còn đông nhưng hầu như đã như cá nằm trên thớt, hoàn toàn mất phương hướng do bị cô lập với chỉ huy và hậu cần. Quân của Thoát Hoan đóng tại Thăng Long cũng đã khiếp vía và bị uy hiếp dữ dội do mất đi những lá chắn ở hạ lưu sông Hồng.

Toàn quân Đại Việt lại chia làm ba bộ phận. Khối quân thứ nhất cũng là khối quân mạnh nhất do Chiêu Minh vương Trần Quang Khải làm tổng chỉ huy, thừa thắng đánh thẳng vào khối quân của Thoát Hoan ở Thăng Long. Khối quân thứ hai do vua Trần Nhân Tông và thượng hoàng Trần Thánh Tông chỉ huy, chốt giữ các địa bàn vừa mới chiếm lại được và đem quân tiễu trừ giặc ở các vùng Thiên Mạc, Trường Yên, Thiên Trường. Khối quân thứ ba do Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn làm tổng chỉ huy từ Thiên Trường theo dòng sông Thái Bình – Lục Nam tiến chiếm lại Vạn Kiếp, chuẩn bị đón đánh quân Nguyên rút chạy hoặc phối hợp với quân của Trần Quang Khải hai mặt giáp công địch nếu cần. Hưng Đạo vương còn phái gia tướng Phạm Ngũ Lão dẫn tinh binh từ khối quân của mình sang chi viện cho Chiêu Minh vương để cùng hợp lực chiếm lại kinh thành.

1. Đại chiến bến Chương Dương, thu phục kinh thành :

Chiêu Minh vương Trần Quang Khải là vị tướng được giao trọng trách đánh chiếm lại kinh thành. Đối đầu với ông trong trận chiến sống còn lần này chính là Thoát Hoan, A Lý Hải Nha và những tướng lĩnh chủ chốt khác của đội quân xâm lược. Quân dưới trướng Thoát Hoan vẫn còn hàng chục vạn bất chấp những thất bại nặng nề liên tiếp. Các khối quân của Toa Đô, Giảo Kỳ, Ô Mã Nhi… rải rác ở các nơi trong nước dù bị đánh tan tác, bị cô lập thành từng mảnh nhưng vẫn chưa hoàn toàn bị diệt. Vì vậy, trận chiến thu phục kinh thành là một trận chiến lớn, vô cùng quan trọng và không hề dễ dàng.

Yêu cầu đặt ra cho quân ta là phải tiếp tục phát triển đà thắng lợi để đi đến chiến thắng chung cuộc, tuyệt đối không cho quân Nguyên có cơ hội tụ họp lại với nhau. Biết được điều đó, vua Trần và Hưng Đạo vương đã dành những lực lượng mạnh nhất gởi đến chi viện cho vị Thượng tướng. Các chiến tướng hàng đầu bấy giờ là Hoài Văn hầu Trần Quốc Toản, Phạm Ngũ Lão, Trung Thành vương… đều được ưu tiên cử đến chiến đấu dưới quyền của Chiêu Minh vương Trần Quang Khải. Triều đình lại gởi thông điệp cho các lộ kêu gọi nghĩa binh, dân binh cả nước đem quân đến hội, binh thế rất thịnh.

Trong số các đạo dân binh hùng mạnh, đáng kể nhất là quân của Trần Thông, Nguyễn Khả Lạp, Nguyễn Truyền… Trải qua nhiều tháng chiến đấu với quân giặc, những nông dân Đại Việt giờ đã trở thành những chiến binh thực thụ, cùng sát cánh với quân đội triều đình đánh lớn.

Chiêu Minh vương đem các quân dùng thuyền ngược sông Hồng vây đánh mạnh vào bến Chương Dương (thuộc Thường Tín, Hà Nội), lại ngầm cho quân đi vòng mai phục trên đường từ thành Thăng Long đến Chương Dương. Quân ta khí thế đang lên, đồn Chương Dương dù là một cứ điểm đông và mạnh của quân Nguyên cũng cơ hồ không chống cự được lâu. Nhận tin cấp báo, Thoát Hoan từ Thăng Long phái quân đi tiếp viện thì bị phục binh Đại Việt chặn đánh tan dọc đường. Đồn Chương Dương cô thế, trước sau đều bị quân ta vây đánh nên cũng bị hạ không lâu sau đó. Hàng vạn quân tại Chương Dương bị tiêu diệt. Chiêu Minh vương lại phái Trung Thành vương (khuyết danh) đem một cánh quân tấn công đồn ngoại vi của địch ở Giang Khẩu (Hàng Buồm, Hà Nội ngày nay), tướng Nguyên trấn giữ tại đây là Thiên hộ Mã Vinh chống không nổi phải rút chạy. Quân Nguyên rút hết vào trong thành Thăng Long cố thủ.

Chiêu Minh vương hạ lệnh cho toàn quân vây thành mấy vòng, thủy và lục quân cùng nhau phối hợp ngày đêm công phá thành. Quân Nguyên ở trong thành dùng cung tên, dựa vào thành cao hào sâu chống trả lại. Kỵ binh của quân Nguyên bị dồn ứ trong thành, ngựa chiến trở nên vô dụng trong một điều kiện chiến trường hoàn toàn khác biệt so với những gì chúng thường trải qua ở các quốc gia khác. Quân Nguyên chỉ có thể trông cậy vào bộ binh để thủ thành. Cả phía quân Đại Việt và quân Nguyên đều chịu nhiều tổn thất trong trận chiến giữa công và thủ thành này. Tuy nhiên quân ta không hề nao núng, hết lớp này đến lớp khác quyết xông lên hạ thành. Quân địch đã vào thế bị vây khốn, càng đánh càng mỏi mệt, tên đạn hết, lương thực cạn.

Khi tình thế quá bi đát, Thoát Hoan cho họp các tướng, bàn nhau rút quân về nước hòng bảo toàn lực lượng, chờ cơ hội về sau. Nhưng bấy giờ toàn cõi Đại Việt đã trở thành một cái bẫy lớn chờ đợi tiêu diệt quân Nguyên, quyết đánh cho địch không còn manh giáp chứ không cho phép chúng có cơ hội thực hiện một cuộc “rút lui chiến lược”.

2. Truy kích Thoát Hoan :

Thoát Hoan trong cơn nguy khốn, điều động hết binh mã phá vòng vây chạy về hướng bắc. Thoát ra được ngoài vòng vây của quân ta với thiệt hại lớn, quân Nguyên tụ lại ở Gia Lâm để rút lui. Lúc này thì tàn quân Nguyên dưới trướng của tướng Giảo Kỳ bại trận ở Hàm Tử quan mấy hôm trước vẫn chưa hay biết Thoát Hoan đã bại trận rút lui, kéo nhau về Thăng Long thì đụng độ quân ta, lại bị đánh một trận tơi tả. Giảo Kỳ cố gắng lắm mới chạy được đến Gia Lâm hội quân với Thoát Hoan.

    Lược đồ minh họa


Lược đồ toàn cuộc phản công và truy kích giặc Nguyên

Chiêu Minh vương cho quân vào chiếm lại kinh thành, mở tiệc khao quân. Lại lệnh cho Hoài Văn hầu Trần Quốc Toản thống lĩnh kỵ binh truy kích Thoát Hoan. Hưng Đạo vương cũng đã đợi sẵn quân địch từ trước, phái Hưng Ninh vương Trần Tung đem 2 vạn quân tấn công phối hợp. Quân Hoài Văn hầu từ hướng Thăng Long đánh lên, cùng Hưng Ninh vương từ hướng Vạn Kiếp đánh xuống, kẹp khối quân của Thoát Hoan vào giữa. Quân Nguyên chưa kịp hoàn hồn sau trận đánh ở Thăng Long đã bị hai mặt giáp công, lại nhanh chóng thua trận. Đến sông Như Nguyệt (sông Cầu), Hoài Văn hầu Trần Quốc Toản đã đuổi tới đánh khi quân Nguyên đang vượt sông bằng cầu phao. Đám bại binh lại phải chịu tổn thất lớn.

Đến sông Sách (sông Thương chảy qua Vạn Kiếp), quân Nguyên lại phải dừng quân bắc cầu phao qua sông. Nơi này là chỗ nhạy cảm, tất nhiên quân ta không bỏ qua. Hưng Đạo vương đã cho đặt phục binh trong rừng chờ đón giặc từ trước. Quân mai phục của Đại Việt ít hơn nhiều, chỉ dựa vào khí thế truy kích nên không đánh ngay vì sẽ ép địch vào thế cùng đường, tất chúng sẽ dựa vào sông tử chiến, sẽ gây cho ta những tổn thất không đáng có.

Chờ cho quân Nguyên bắt xong cầu phao, chuẩn bị vượt sông thì quân ta mới nhất tề xông ra đánh. Lúc này quân địch chỉ mong nhanh chóng thoát thân, không còn ý chí nào mà chiến đấu nữa, tranh nhau mà chạy. Quân ta thừa thế đánh giết. Hậu quân Nguyên dưới trướng tướng Đường Ngột Đải chưa qua sông kịp, bị kẹt bên bờ nam và bị quân ta tàn sát. Đường Ngột Đải đánh cố chết mới may mắn thoát được. Quân Nguyên sợ hãi tranh nhau vượt sông khiến cầu phao không chịu nổi nên bị gãy. Quân giặc bị rơi xuống sông chết đuối rất nhiều.

Thoát Hoan cùng đám bại binh qua được sông Sách thì thiệt hại đã quá nửa. Hắn phái Tả thừa Lý Hằng đi sau chặn hậu để cho mình cùng thuộc hạ có thể an toàn rút lui. Kỷ luật của quân Nguyên có thể gọi là khá cao nên vẫn chưa hoàn toàn tan rã. Đám thân binh luôn hết sức che chở cho chủ tướng Thoát Hoan chạy thoát. Chạy đến trại Vĩnh Bình, Hưng Vũ vương Trần Quốc Nghiễn đã cho quân mai phục sẵn chỗ hiểm, tên độc bắn ra như mưa. Tả thừa Lý Hằng trúng tên độc, bị thương nặng. Tỳ tướng của Lý Hằng là Lý Quán cùng quân tướng còn lại chừng 5 vạn quân, hộ tống Thoát Hoan cố chạy về phía châu Tư Minh, đất của nước Nguyên.

Quân Nguyên bắt được ống đồng trong dân, Thoát Hoan chui vào đó rồi cho quân lính đẩy đi dưới làn tên mũi đạn của quân ta. Khi đã vào địa phận châu Tư Minh rồi, đám bại binh vẫn chưa thoát nạn. Hưng Hiến vương Trần Quốc Uy cùng Hưng Vũ vương Trần Quốc Nghiễn thừa thắng đuổi tràn cả qua biên giới, đánh một trận nữa ngay tại châu Tư Minh, trong đất của nước Nguyên để triệt để tiêu diệt đạo quân xâm lược, cho quân giặc một trận nhớ đời. Lý Quán trúng tên bỏ mạng trong trận này, xác của Tả thừa Lý Hằng cũng lạnh do trúng độc. Chỉ còn lại rất ít quân tướng dưới trướng Thoát Hoan thoát chết chạy đến nơi an toàn nằm sâu trong lãnh thổ đế chế Nguyên Mông.

Song song với quãng thời gian mà hai khối quân của Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn, Chiêu Minh vương Trần Quang Khải chỉ huy đánh bại đại quân của Thoát Hoan, thu phục Thăng Long và truy kích giặc qua bên kia biên giới thì vua Trần Nhân Tông, Thượng hoàng Trần Thánh Tông cùng quân dân các nơi trên cả nước cũng bận rộn đánh quân Nguyên ở rải rác các nơi. Bấy giờ, không tính quân của Thoát Hoan ở Thăng Long bị đánh bật về bắc thì ở đồng bằng sông Hồng vẫn còn hàng vạn quân Nguyên. Lực lượng này sẽ không hề “vô hại” nếu như quân ta không có những biện pháp đánh dẹp thích hợp.

(còn tiếp)

Quốc Huy/Một Thế Giới