Kháng Minh Truyền Kỳ ( Phần 3 ) – Kỳ 5 : Đánh bại 10 vạn quân của Lý Bân

Kháng Minh Truyền Kỳ ( Phần 3 ) – Kỳ 5 : Đánh bại 10 vạn quân của Lý Bân

Kỳ 4

Do vấp phải sự phản kháng của nhân dân cả nước ta, quân Minh đã có quãng thời gian vất vả, buộc phải tạm ngưng các chiến dịch quyết định để tiêu diệt cuộc khởi nghĩa Lam Sơn. Nhưng vẫn lượng quân thường trực đông đảo, chính quyền đô hộ lại một lần nữa giành lại được quyền kiểm soát toàn lãnh thổ. Phong trào khởi nghĩa bùng phát mạnh trong năm 1419 nhưng manh mún không có điểm tựa chung, dần đi đến chỗ tàn lụi. Cho đến nửa cuối năm 1420, Tổng binh Lý Bân vừa rảnh tay sau những cuộc hành quân đánh dẹp liên tục các cuộc khởi nghĩa, đã bắt đầu chiến dịch tấn công đội quân của Bình Định vương Lê Lợi.

Tháng 11.1420, Lý Bân sai Chỉ huy sứ Phương Chính đem quân tiến vào rừng núi tìm diệt quân Lam Sơn. Lúc này quân ta đã đông mạnh hơn hẳn thời gian đầu, nhân dân trong vùng đã chủ động cho con em mình vào rừng tìm đến chỗ Lê Lợi để xin gia nhập nghĩa quân. Ước chừng thời điểm này, quân Lam Sơn đã có số lượng lên đến hơn 1 vạn người. Tất nhiên là quân ta vẫn không thể so sánh với quân Minh về số lượng và trang bị, nên phải lựa chọn cách đánh thích hợp theo phương châm lấy ít địch nhiều, lấy yếu thắng mạnh. Lê Lợi cho quân mai phục ở bến Bổng Tân, thượng lưu sông Chu đợi giặc.

Phương Chính vẫn ỷ rằng quân mình đông mạnh, cứ men theo dọc sông Chu tiến quân, nhằm hướng căn cứ của quân Lam Sơn mà chúng mới do thám được tin tức. Ngày 30.11.1420, Phương Chính dẫn quân lọt vào đúng trận địa mai phục của quân ta. Lê Lợi chờ cho giặc tiến sâu vào giữa trận địa mai phục rồi mới phát lệnh tấn công. Quân mai phục từ bốn phía vùng dậy vây lấy giặc mà đánh giết. Quân Minh bị bất ngờ không kịp trở tay, phút chốc đã bị tổn thất nặng nề, số quân còn lại mặc dù còn đông nhưng nhanh chóng vỡ trận bỏ chạy tứ tán trước khí thế tấn công của nghĩa quân Lam Sơn. Quân ta toàn thắng, thu được hơn trăm con ngựa chiến.

Sau trận đại thắng, thanh thế nghĩa quân Lam Sơn rất lớn, nhân dân trong vùng nô nức đến tòng quân. Phương Chính thua trận lại rút về tuyến sau, đóng trại phòng thủ. Lê Lợi thắng được một trận quan trọng, nhưng biết rằng gian nan vẫn còn rất lớn. Ngài nói với các tướng : “Quân địch vừa mới thua trận, tất nhiên chúng để tâm đề phòng cẩn mật. Vậy ta không nên giao chiến”. Thế nhưng các tướng Lam Sơn vừa mới đại thắng, đem lòng khinh địch. Có người dẫn quân đến phá trại giặc, bị Phương Chính đánh bại, tổn thất nặng nề. Lê Lợi biết quân Minh vẫn còn rất đông, bèn dời quân đến Nang Ninh để tránh. Quân Minh lại mở đợt hành quân tiến đánh Nang Ninh, Lê Lợi dẫn quân tránh đến Mường Thôi (tây bắc Thanh Hóa, chưa rõ địa điểm cụ thể).

Lý Bân từ nhận thấy Phương Chính đánh không dứt điểm được, tự mình dẫn thêm quân đến tiếp viện. Lý Bân cùng Phương Chính dùng tên Cầm Lạn là phụ đạo Quỳ Châu (thuộc Nghệ An ngày nay) làm kẻ dẫn đường, từ hướng Quỳ Châu tiến đánh quân Lam Sơn, quân đông đến 10 vạn. Quân số lần này cho thấy được rằng quân Minh đánh giá nghĩa quân Lam Sơn rất cao và cũng rất quyết tâm tiêu diệt cuộc khởi nghĩa. Lý Bân dự định rằng dẫn quân tấn công từ hướng Quỳ Châu sẽ khiến quân ta bị bất ngờ, lại thêm số lượng áp đảo hoàn toàn sẽ đảm bảo chắc chắn một chiến thắng cho quân Minh. Nhưng nhờ vào tai mắt của nhân dân trong vùng, mọi đường đi nước bước của quân Minh đều được bộ chỉ huy nghĩa quân nắm được. Dựa vào đó, Lê Lợi xếp đặt thế trậnđón đánh giặc.

Khoảng vài trăm quân tinh nhuệ dưới sự chỉ huy của tướng Phạm Vấn, Lê Triệu chuẩn bị trận địa mai phục ở Bồ Mộng để đón lõng quân Minh. Quân chủ lực Lam Sơn thì chia làm nhiều hướng bố trí mai phục ở Bồ Thi Lang, nằm trên đường mà quân Minh phải đi qua để đến đại doanh của Lê Lợi đóng ở Mường Thôi. Khi giặc từ Quỳ Châu kéo đến, Lê Lợi sai hai tướng Lê Lý, Lê Hướng dẫn vài ngàn khinh binh ra đón đánh, rồi giả thua dụ địch vào trận địa mai phục ở Bồ Mộng. Quân Minh ban đầu chiếm được lợi thế, hăm hở đuổi theo quân của hai tướng Lê Lý, Lê Hướng.

Giặc đuổi đến Bồ Mộng, gặp phục binh quân ta nổi lên cùng số quân đang rút lui quay lại quyết trận sống mái với chúng. Bốn mãnh tướng Lam Sơn là Phạm Vấn, Lê Triệu, Lê Lý, Lê Hướng cùng các quân lấy ít đánh nhiều, bẻ gãy mũi tiên phong của giặc, chém được hơn ba trăm thủ cấp tại trận. Quân Minh núng thế, nhưng vẫn còn rất đông. Các tướng Minh cứ bất chấp tổn thất nhân mạng của binh lính mà tiến. Phạm Vấn cùng các tướng ít quân phải lui, mở đường cho quân Minh càng tiến sâu vào rừng núi.

Lý Bân, Phương Chính vượt qua được ải Bồ Mộng, cứ nhằm hướng đại doanh Lê Lợi hùng hổ tiến lên. Đến Bồ Thi Lang, lại trúng mai phục lớn. Lần này, quân giặc không còn đối mặt với vài trăm quân, mà là hàng vạn quân mai phục, dưới sự chỉ huy trực tiếp của Bình Định vương Lê Lợi. Giặc lấy tốc chiến làm lợi thế, cứ tiến gấp mà thiếu dò xét, trong khi quân tướng Lam Sơn đều lấy chiến thuật mai phục làm sở trường. Chờ cho phần đông quân Minh lọt vào trận địa đã chuẩn bị sẵn, Lê Lợi phát lệnh tấn công. Tên đạn như mưa trút vào quân Minh, kế đến là lớp lớp quân Lam Sơn từ các hướng xông thẳng vào chia cắt đội hình giặc mà giáp chiến.

Quân Minh ban đầu cố sức chống trả, nhưng trước tinh thần chiến đấu xả thân của quân ta, giặc nhanh chóng chịu tổn thất nặng đến hơn 3.000 quân, dẫn đến vỡ trận, quân tướng tranh nhau chạy dài. Lê Lợi thừa thắng thúc toàn quân đuổi gấp, không cho quân Minh có thời gian tái tổ chức lại lực lượng. Quân ta đuổi liên tục 3 ngày đêm không ngừng nghỉ, dọc đường chém giết quân Minh nhiều vô kể. Chủ tướng quân Minh là Lý Bân, Phương Chính hoảng hốt không đoái hoài đến sĩ tốt, mạnh ai nấy chạy thoát thân.

Đến sách Ba Lẫm, huyện Lỗi Giang (Vĩnh Lộc, Thanh Hóa ngày nay), Lê Lợi cho dừng quân nghỉ ngơi, sửa sang khí giới, chỉnh đốn lại hàng ngũ. Quân Minh tại các đồn vốn đóng quanh vùng rừng núi tây Thanh Hóa để kìm kẹp quân dân ta, nay trước thế mạnh của quân Lam Sơn đều phải bỏ đồn rút lui. Các tướng giặc là Tạ Phượng, Hoàng Thành dồn quân về đóng giữ trại Quan Du (thuộc huyện Quan Hóa, Thanh Hóa), che chắn cho thành Tây Đô bấy giờ là thủ phủ Thanh Hóa, cũng là một thành trì tối quan trọng trong hệ thống quân sự của giặc Minh tại vùng lãnh thổ phía nam Đại Việt.

Lê Lợi sai quân khiêu chiến, quân Minh cố thủ trong trại không ra đánh. Quân ta bèn chia quân làm nhiều toán, luân phiên nhau đánh phá trại Quan Du bất kể đêm ngày. Hễ toán quân này đánh giặc, thì các toán quân khác ở trong trại nghỉ ngơi dưỡng sức. Cứ thế ngày qua ngày, quân ta càng đánh càng hăng, mà giặc ở trại Quan Du thì luôn căng thẳng chống đỡ rất mệt mỏi. Thấy thế giặc đã mệt mỏi, Lê Lợi một mặt vẫn cho quân tấn công hướng chính diện, đồng thời sai hai tướng Lê Sát, Lê Hào cầm kỳ binh đánh úp vào trại giặc ở một hướng khác. Quân Minh thế đã suy, lại bị bất ngờ nên không thể chống nổi. Trại Quan Du vỡ, quân Lam Sơn tràn vào tàn sát quân Minh, chém giặc hơn 1 vạn tên, khí giới thu được rất nhiều.

Sau những trận đại thắng liên tiếp, oai danh của Bình Định vương Lê Lợi lừng lẫy khắp cả nước. Cuộc khởi nghĩa Lam Sơn bấy giờ vẫn chưa ra khỏi địa phương Thanh Hóa, nhưng sức hút của nó thực sự đã mang tính toàn quốc. Quân Minh từ sau trận Quan Du, thế ngày một suy. Còn nghĩa quân Lam Sơn càng đánh càng mạnh, nhân dân khắp nơi luôn chực chờ giúp sức cùng đoàn quân dưới trướng Lê Lợi giải phóng non sông.

(còn nữa)

Quốc Huy/Một Thế Giới

Kháng Minh Truyền Kỳ ( Phần 3 ) – Kỳ 4 : Dùng mưu lừa vua Ai Lao “viện trợ”, quân Lam Sơn vượt qua khó khăn

Kháng Minh Truyền Kỳ ( Phần 3 ) – Kỳ 4 : Dùng mưu lừa vua Ai Lao “viện trợ”, quân Lam Sơn vượt qua khó khăn

Kỳ 3

Xét về thân phận, Lê Lợi tuy xuất thân nhà giàu sang, quyền thế nhưng chức tước thấp, theo quan niệm phong kiến xưa là chưa đủ danh phận để hiệu triệu quần hùng như những quý tộc Trần là vua Giản Định, vua Trùng Quang. Để có được sức hút chính trị đủ lớn phục vụ cho sự nghiệp đánh đuổi giặc Minh, Bình Định vương Lê Lợi cùng nghĩa quân Lam Sơn chỉ còn cách chứng tỏ phẩm chất vượt trội của mình so với các cuộc khởi nghĩa còn lại. Họ đã làm được điều đó. Sự can trường, sự bền bỉ của nghĩa quân Lam Sơn trước sức tấn công mãnh liệt, dồn dập của quân Minh là điều mà chưa từng có một phong trào kháng Minh nào làm được trước đó.

Trong năm 1418, nghĩa quân Lam Sơn chỉ có vài ngàn người. Sau hai lần phải rút lên núi Chí Linh, binh lực lại suy giảm. Lê Lai cùng 500 tử sĩ đã đánh đổi sinh mạng cứu lấy cuộc khởi nghĩa, và sự hy sinh đó đã được tận dụng triệt để. Sau khi quân Minh rút về thành Tây Đô, Lê Lợi liền âm thầm dẫn quân về Lam Sơn, đắp thành tích lương, chiêu mộ thêm quân, gửi hịch cho các phong trào yêu nước khác trong nước cùng liên kết lại chống kẻ thù chung. Trong năm 1419, quân Lam Sơn tạm ngưng các kế hoạch chiến đấu, chỉ chuyên tâm lo việc gây dựng lực lượng. Được sự đồng lòng che chở của nhân dân, nghĩa quân lớn mạnh lên từng ngày.

Tháng 5.1419, quân Minh lại đánh hơi được việc quân Lam Sơn vẫn chưa tan rã. Tướng giặc là Phương Chính, Sư Hữu liền đem lực lượng đông đúc trở lại Lam Sơn, quyết tiêu diệt cuộc khởi nghĩa. Quân Lam Sơn lại phải rút lui khỏi căn cứ, Lê Lợi đem quân đến đóng ở Mường Thôi (biên giới Việt Lào ngày nay, ở tây bắc Thanh Hóa) tránh giặc. Quân Minh lần này không rút đi nữa, tướng Hoàng Thành, Chu Quảng đóng quân dựng đồn Khả Lam để kìm tỏa nhân dân, toan tách dân khỏi nghĩa quân Lam Sơn.

Lê Lợi ở Mường Thôi, dùng mưu sai Trịnh Khả, Lê Lôi đi sứ Ai Lao, đưa thư nói rằng: “Quốc gia tôi phụng tờ thông điệp của triều Đại Minh ban cho nhà vua. Vậy nhà vua hãy đem số lương thực đủ quân sĩ dùng trong 5 tháng, và khí giới cùng voi trận tới yết kiến, rồi nhận tờ điệp văn về thi hành, để khỏi phải bắt giải. Nếu không tuân mệnh, lập tức sai nước Xa Lý và Lão Qua hợp quân 6 nước tiến đánh”. Trước sự mưu trí của Trịnh Khả và Lê Lôi, vua Ai Lao tưởng thật, vội vãi đem quân nhu, lương thực, khí giới và voi chiến gửi cho Bình Định vương Lê Lợi.

Vậy là quân ta có được nguồn lực lớn trong lúc nguy khó nhờ mưu kế tài tình. Có được nguồn quân lương, khí giới dồi dào, thế quân Lam Sơn phấn chấn lên hẳn. Lê Lợi âm thầm dẫn quân về Lam Sơn, tập kích đồn Khả Lam. Quân Minh bị bất ngờ vì cuộc hành quân bí mật của quân ta, chết mất hai tướng là Vương Cục, Lương Hướng. Quân Lam Sơn sau khi gây cho địch một số thiệt hại liền nhanh chóng rút lui. Tướng giặc là Hoàng Thành muốn đem quân truy kích, nhưng ngại rừng thiêng nước độc, dâng thư lên cấp trên xin đợi đến mùa thu mới xuất quân. Chốn núi rừng tây Thanh Hóa là hiểm địa đối với quân Minh, nhưng lại là cái nôi che chở nghĩa quân Lam Sơn thời kỳ đầu. Lê Lợi lúc này giữ quan hệ tốt với Ai Lao, dựa vào rừng núi mà phát triển thực lực.

Trong khi quân Minh tại Thanh Hóa dù đã rất quyết tâm nhưng không tiêu diệt được quân Lam Sơn, thì trên khắp cả nước, quân Minh lại phải đương đầu với một làn sóng phản kháng mới. Tại Nghệ An tháng 7.1419, ngụy quan Phan Liêu nổi dậy chống lại người Minh. Trước đây, Phan Liêu cùng cha mình là Phan Quý Hữu vì muốn yên thân nên phản lại nhà Hậu Trần, nhận chức tước của giặc. Phan Liêu được quân Minh phong tước tri phủ Nghệ An. Thế nhưng sau mấy năm làm quan cho giặc, Liêu thường bị tướng Minh là Mã Kỳ hạch sách đồ cống phẩm, chèn ép đủ điều nên đã mật ước cùng ngụy quan Trần Đài làm binh biến, giết chết quan lại người Minh, dẫn quân đánh thành Nghĩa Liệt là nơi chủ lực quân Minh ở Nghệ An đóng giữ.

Tổng binh Lý Bân từ Đông Quan biết tin, tức tốc dẫn quân ứng cứu. Khi Bân đến Nghệ An, thành đã sắp vỡ, bèn sai ngụy quan Lộ Văn Luật làm tiên phong tiến đánh Liêu. Lộ Văn Luật sợ phải làm tiên phong nên bỏ cùng thuộc hạ bỏ trốn, chiếm lấy huyện Thạch Thất. Lý Bân phải tự mình dẫn quân đánh Phan Liêu, và đánh cả Lộ Văn Luật. Quân Minh mạnh vượt trội, lần lượt đánh bại cả Phan Liêu và Lộ Văn Luật dễ dàng. Liêu và Luật đều chạy sang Ai Lao nương nhờ. Mặc dù cuộc binh biến của Phan Liêu và Lộ Văn Luật là một sự kiện chống Minh nổi bật trong giai đoạn này, nhưng không xếp vào trong phong trào kháng Minh cứu nước mà chỉ được xem là một cuộc xung đột lợi ích giữa bọn tay sai và chính quyền đô hộ. Lộ Văn Luật sang Ai Lao, vẫn ghen ghét Bình Định vương Lê Lợi được hào kiệt mến mộ và được lòng vua Ai Lao nên thường dùng lời ly gián. Vua Ai Lao vì thế dần sinh lòng nghi ngại Lê Lợi, quan hệ giữa quân Lam Sơn và Ai Lao không còn tốt đẹp nữa.

Ngoài các cuộc binh biến ở Nghệ An, quân Minh còn phải vất vả đối phó với một loạt cuộc khởi nghĩa nổ ra trong thời gian gian ngắn. Quân khởi nghĩa xuất hiện dày đặc ở vùng đồng bằng sông Hồng. Trịnh Công Chứng và Lê Hành nổi lên ở Hạ Hồng, Phạm Thiện ở Tân Minh, Nguyễn Đặc ở Khoái Châu, Nguyễn Đa Cấu và Trần Nhuế ở Hoàng Giang… Lúc Lý Bân đem quân vào đánh Phan Liêu ở Nghệ An, các thủ lĩnh nghĩa quân đã chớp thời cơ, táo bạo hẹn nhau đem quân tiến đánh thành Đông Quan – thủ phủ của chính quyền đô hộ. Quân Minh ở đây còn rất ít ỏi, nhưng đã đóng chặt cửa thành, dựa vào thành lũy mà cố thủ. Lý Bân vừa dẹp xong Phan Liêu và Lộ Văn Luật lại phải quay trở về đánh giải vây cho Đông Quan. Quân khởi nghĩa không hạ được thành Đông Quan, khi Lý Bân kịp trở về cứu viện thì nhanh chóng bị quân Minh phản kích đánh tan.

Tại Lạng Sơn, có người nô lệ tên là Lê Ngạ xưng là cháu của Trần Duệ Tông, đổi tên là Trần Dương Cung, liên kết với thổ tù Bế Thuấn khởi binh chống Minh. Lê Ngạ xưng là Thiên Thượng hoàng đế, nhờ oai danh của nhà Trần mà chỉ trong độ hơn 1 tháng đã quy tụ được hàng vạn quân. Lê Ngạ đem quân đánh phá thành Xương Giang, rồi đánh Bình Than, thanh thế rất lớn. Bấy giờ có Trần Thiên Lại, trước là chủ nhân của Lê Ngạ, thấy gia nô cũ của mình mượn tiếng quý tộc khởi nghĩa thì sinh lòng bất phục, bèn tự xưng là Hưng Vận quốc thượng hầu, mộ binh đánh nhau cả với Lê Ngạ và quân Minh. Trần Thiên Lại rất tích cực viết hịch kể rõ xuất thân nô lệ của Lê Ngạ với mọi người, và chỉ trích việc Lê Ngạ giả danh quý tộc.

Những việc làm của Trần Thiên Lại đã khiến cho cuộc khởi nghĩa của Lê Ngạ tổn hại trầm trọng, thuộc hạ của Ngạ dần bỏ đi gần hết. Lý Bân đợi lúc Lê Ngạ và Trần Thiên Lại đánh nhau đuối sức rồi mới tung quân đánh, dẹp được cả hai. Đây là một sự kiện khá hy hữu trong lịch sử, trong khí thế chống quân Minh, Trần Thiên Lại chỉ vì việc cá nhân mà khởi binh đánh lại một phong trào kháng Minh.

Những cuộc khởi nghĩa liên tiếp diễn ra khiến cho Lý Bân phải vất vả đánh dẹp liên tục. Quân Minh vẫn tạm thời chiếm ưu thế trên các mặt trận nhờ luôn duy trì một lực lượng viễn chinh trên dưới 10 vạn quân và hàng vạn ngụy quân. Nhưng giặc không thể nào rảnh tay để triệt để giữ yên một vùng nào, chỉ giữ được trị an ở trong các thành trì lớn, các phủ huyện, đồn quân. Còn tại những nơi hẻo lánh, rừng núi, sự kiểm soát của quân Minh không ngăn được việc khai sinh các phong trào khởi nghĩa. Trong bối cảnh đó, quân Lam Sơn càng có thêm nhiều thời gian để củng cố lực lượng. Nghĩa quân Lam Sơn không đơn độc. Cuộc chiến của họ là cuộc chiến chung của cả dân tộc Việt.

(còn nữa)

Quốc Huy/Một Thế Giới

Kháng Minh Truyền Kỳ ( Phần 3 ) – Kỳ 3 : Buổi đầu gian khổ, Lê Lai cứu chúa

Kháng Minh Truyền Kỳ ( Phần 3 ) – Kỳ 3 : Buổi đầu gian khổ, Lê Lai cứu chúa

Kỳ 2

Buổi đầu dựng cờ khởi nghĩa, lực lượng dưới trướng Bình Định vương Lê Lợi rất ít ỏi so với quân Minh. Theo sách Nguyễn Trãi toàn tập thì tính hết quân số, nghĩa quân Lam Sơn chỉ độ hơn 2000 người. Trong đó, chỉ có lực lượng nòng cốt gồm 200 quân Thiết đột, 200 Nghĩa sĩ, 300 Dũng sĩ là được trang bị tương đối tốt và có trình độ chiến đấu. Số quân còn lại vẫn chỉ là nông dân cầm vũ khí mà thôi. Chẳng những lực lượng ít, quân Lam Sơn ban đầu còn thiếu thốn vũ khí, quân nhu, quân lương bởi vì thời gian chuẩn bị cho khởi nghĩa đã bị rút ngắn lại ngoài dự kiến.

Chỉ một vài ngày sau lễ xuất quân, nghĩa quân Lam Sơn đã bước vào một trận chiến không cân sức. Trong tháng 2/1418 (tháng Giêng năm Mậu Tuất Âm lịch), tướng Minh là Mã Kỳ đốc suất 45.000 quân Minh, hàng trăm ngựa chiến, có cả voi chiến đến đánh. Tương quan lực lượng chênh lệch cực lớn, nghĩa quân Lam Sơn phải chiến đấu với tỷ lệ 1 chọi trên 20 quân giặc. Bất chấp chêch lệch, Lê Lợi cùng 47 tướng văn, tướng võ chia nhau dẫn quân mai phục ở Lạc Thủy, đón đánh quân Minh. Mã Kỳ cậy quân đông gấp nhiều lần, nên chia quân thành nhiều hướng hòng một mẻ diệt gọn quân Lam Sơn.

Trung tuần tháng Giêng, một nhánh quân Minh lọt vào trận địa mai phục của quân ta, bị đánh phá dữ dội. Bản thân Lê Lợi là một hổ tướng võ nghệ rất giỏi, cùng quân tướng cố sức lăn xả giết địch. 3000 quân Minh bỏ thây trong một trận chớp nhoáng, quân Minh từ các hướng sau đó mới dồn lại tấn công. Liệu thế không chống nổi số đông, Lê Lợi cho quân rút lui sang Mường Một (huyện Lang Chánh, Thanh Hóa). Quân Minh đuổi theo, Lê Lợi phải rút lên núi Chí Linh (thuộc Lang Chánh) cố thủ, mang theo nhiều khí giới vừa cướp được để tự trang bị.

Núi Chí Linh là một ngọn núi hiểm trở dễ thủ khó công. Khắp vùng là rừng núi hoang vu, dân cư thưa thớt. Với việc lui quân về đây, quân Lam Sơn tạm thời thoát khỏi cuộc vây ráp quy mô lớn của giặc, nhưng lại chịu cảnh thiếu thốn lương thực. Quân Minh lùng lục không được, bèn lui quân. Quãng thời gian đó, Lê Lợi và quân tướng của mình phải chịu đói khát. Trong hơn 10 ngày đóng trên núi Chí Linh, nghĩa quân đã phải ăn phấn đá (gọi là Vũ dư lương) trộn mật ong để sống sót.

Quân Minh tạm thời rút đi có thể là vì thiếu lương thực cho một chiến dịch dài hạn. Và chúng đã nhanh chóng trở lại sau đó. Lê Lợi dẫn quân vừa dẫn quân quay về căn cứ địa Lam Sơn chưa lâu thì lại phải đối đầu với trận càng quét mới. Lần này, Mã Kỳ được sự chỉ điểm của tên hai Việt gian tên là Ái và Đỗ Phú, đem quân đánh úp vào hậu phương của quân ta, bắt cóc nhiều vợ con của tướng sĩ, cả gia quyến của Bình Định vương Lê Lợi gồm vợ và con gái cũng bị giặc bắt, chúng còn quật mả nhà họ Lê lấy hài cốt đem đi, rồi kêu gọi Lê Lợi và quân tướng ra đầu hàng.

Quân tướng Lam Sơn bị mất gia đình, nhiều người sinh nản chí không còn tâm trạng chiến đấu. Quân Minh lại đến đánh, quân Lam Sơn tan vỡ mỗi người chạy một ngả. Lê Lợi cùng các tướng Đinh Lễ, Nguyễn Xí, Phạm Vấn, Lê Bí, Lê Đạp lại phải chạy lên núi Chí Linh. Các quân lính của Bình Định vương sau đó mới lần lượt chạy theo. Quân Minh vây núi, ngót gần 3 tháng trời nghĩa quân Lam Sơn bị tuyệt lương, còn gian khổ hơn lần trước rút lên núi. Ban đầu, Lê Lợi dùng lời trung nghĩa khích lệ quân sĩ, tinh thần mọi người lại phấn chấn. Quân Minh dẫn quân đánh lên núi đều bị quân ta cơ động đánh lui được. Thế nhưng quân lương đã cạn, nghĩa quân dần đi đến chỗ chịu chết đói. Trong những ngày tháng đó, quân ta phải ăn cả măng tre, rễ cỏ để sống. Bao nhiêu voi ngựa trong quân cũng phải đem giết thịt nuôi quân. Không những vậy, bốn phía quân Minh bủa vây đánh phá. Tình thế khốn đốn được miêu tả trong Chí Linh Sơn Phú của Nguyễn Mộng Tuân:

“Chín phần tử, một phần sinh. Tuy ở chốn hiểm nghèo mà ngất trời khí thế

Bao nhiêu nghịch, bấy nhiêu thuận. Khéo tùy cơ lợi dụng, thực tột bậc anh hùng”

 

Đứng trước nguy cơ toàn quân bị diệt, Lê Lợi bất đắc dĩ phải tụ họp các tướng lại nói :

 

“Nay trận thế hiểm nguy, có ai dám bắt chước việc Kỷ Tín (tướng nhà Hán, chết thay cho Lưu Bang) thời xưa, thân khoác hòang bào mà chết thay ta không?”

Các tướng im lặng nhìn nhau. Chỉ có Lê Lai người thôn Đặng Tú khảng khái đáp lời: “Thần nay nguyện được tử trận thay cho chúa công. Ví như sau này giành được giang sơn thì xin nghĩ đến công lao của thần, khiến cho con cháu muôn đời được nhờ quốc ân, được vậy thần chết cũng nhắm mắt”.

Lê Lợi vô cùng cảm khái. Lê Lai tiếp lời: “Tình hình nguy khốn, nếu ngồi khư khư, quân thần chung mạng, bao công sức đây hãy còn gì. Nếu theo kế này, may ra có thể thoát được. Kẻ trung thần chết vì nước nào có tiếc gì?”

Lê Lợi vái trời khấn rằng: “Lê Lai có công đổi áo, nếu sau này khôi phục nghiệp xưa, nếu không nhớ đến công lao ấy, thì xin cho cung điện biến thành rừng núi, ấn triện biến thành cục đồng, gươm thần biến thành dao cùn”

Lê Lợi khấn xong, Lê Lai liền khoác áo báo của chúa, cùng 500 quân cảm tử và 2 thớt voi xông thẳng xuống núi khiêu chiến. Quân Minh xuất quân nghênh chiến, Lê Lai thân cưỡi ngựa xông thẳng vào trận giặc, hô to: “Ta là chúa Lam Sơn đây”. Quân Minh tưởng thật, dồn sức vây chặt lấy. Lê Lai cùng quân cảm tử giao chiến với giặc kịch liệt, khiến quân Minh phải mất khá nhiều lực lượng. Sau một hồi, giặc vây càng đông, Lê Lai đuối sức bị bắt và bị giặc phanh thây. Bấy giờ là vào ngày 29.4.1419. Giặc Minh tưởng rằng đã giết được Lê Lợi, nên nới lỏng vòng vây, rút khỏi Lam Sơn về thành Tây Đô. Lê Lợi bấy giờ mới thoát hiểm, bí mật gom quân trở về Lam Sơn gây dựng lại căn cứ địa.

Người anh hùng Lê Lai cùng đội quân cảm tử đã đem tính mạng của mình để tiếp tục thắp lên một tia hy vọng cho dân tộc. Sự hy sinh đó đáng được muôn đời sau trân trọng. Lê Lợi sau đó ngầm sai người tìm thi hài Lê Lai về Lam Sơn mai táng. Về sau, Lê Lợi lên ngôi đã truy phong Lê Lai hàm Thiếu úy, liệt vào hàng Nhất Đẳng Công Thần. Khi sắp mất, Lê Lợi còn căn dặn làm giỗ Lê Lai trước ngày giỗ của mình như là một cách thể hiện lòng biết ơn với vị trung thần đã quên mình cứu chúa, cũng là cứu cho cuộc khởi nghĩa không sớm bị tiêu diệt. Ngoài những sự truy tặng của triều đình nhà Hậu Lê, Lê Lai còn được thờ phụng rộng rãi trong dân gian. Các thế hệ người Việt vẫn mãi lưu truyền câu chuyện về ông.

(còn nữa)

Quốc Huy/Một Thế Giới

Kháng Minh Truyền Kỳ ( Phần 3 ) – Kỳ 2 : Lam Sơn tụ nghĩa

Kháng Minh Truyền Kỳ ( Phần 3 ) – Kỳ 2 : Lam Sơn tụ nghĩa

Kỳ 1

Phong trào khởi nghĩa Lam Sơn là một hiện tượng khá đặc biệt trong sử Việt. Tưởng chừng như sau cuộc quật khởi của nhà Hậu Trần thất bại, hiền tài nước Việt đã mất mát nhiều, nguyên khí không còn đủ để làm nên nghiệp lớn. Nhưng thật bất ngờ là chỉ sau đó một quãng thời gian không lâu (từ 1414 đến 1418), phong trào Lam Sơn lại nổi lên. Phong trào quy tụ hàng loạt những anh hùng tài ba lỗi lạc, cùng nhau làm nên những chiến công hiển hách phi thường. Thật đúng như lời trong Bình Ngô Đại Cáo của Nguyễn Trãi đã viết:

“Tuy mạnh yếu từng lúc khác nhau,

Song hào kiệt đời nào cũng có”

Tất nhiên trước hết phải kể đến là người anh hùng Lê Lợi, nhân vật khởi xướng cuộc khởi nghĩa. Lê Lợi là xuất thân trong một gia đình đại địa chủ lâu đời ở hương Lam Sơn, huyện Lương Giang, trấn Thanh Hóa (nay thuộc xã Xuân Lam, huyện Thọ Xuân, Thanh Hóa). Tổ tiên của họ Lê là Lê Hối dựng lên ở đất Lam Sơn, nhiều đời nối nhau làm hào trưởng một phương. Lê Hối sinh Lê Đinh, Lê Đinh sinh Lê Khoáng, Lê Khoáng sinh Lê Trừ và Lê Lợi. Lê Lợi là con trai thứ nhưng có tư chất thông tuệ khác thường nên được giao nối nghiệp nhà. Nhà họ Lê truyền đến đời Lê Lợi đã nức tiếng là nhà giàu có và uy tín trong vùng, gia nô có đến hàng ngàn người. Lê Lợi là người phóng khoáng nuôi chí lớn, thường bỏ tiền của giúp đỡ người cơ hàn, chiêu nạp những kẻ khốn cùng nên càng được lòng dân.

Miêu tả về Lê Lợi, các sách sử xưa thường nhuốm màu huyền thoại, ly kỳ. Sách Đại Việt Thông Sử của Lê Quý Đôn chép về việc ra đời của Lê Lợi và diện mạo của ngài như sau: “Hoàng đế sinh giờ tý ngày mồng 6 tháng 8 năm Ất sửu (1385), nhằm niên hiệu Xương phù thứ 9 nhà Trần, sanh tại làng Chủ sơn, huyện Lôi dương. Nguyên trước, xứ Du Sơn, thôn Như Áng Hậu thuộc làng này (Chủ Sơn), có một cây quế, dưới cây quế này có con hùm xám thường xuất hiện, nhưng nó hiền lành, vẫn thường thân cận với người mà chưa từng hại ai. Tự khi Hoàng đế ra đời, thì không thấy con hùm ấy đâu nữa. Người ta cho là một sự lạ! Ngày Hoàng đế sinh, thì trong nhà có hào quang đỏ chiếu sáng rực, và mùi thơm ngào ngạt khắp làng. Khi lớn tuổi, ngài thông minh dũng lược, độ lượng hơn người, vẻ người tươi đẹp hùng vĩ, mắt sáng mồm rộng, sống mũi cao, xương mi mắt gồ lên, bả vai bên tả có 7 nốt ruồi, bước đi như rồng như hổ, tiếng nói vang vang như tiếng chuông. Các bậc thức giả biết ngay là một người phi thường.”. Việc thần thánh hóa các vị vua là một hiện tượng không quá mới trong lịch sử. Nó là một cách thức để nhà vua và triều đình có được sự tôn sùng của nhân dân, giúp thuận lợi hơn trong việc cai trị.

Cuối đời Trần, Lê Lợi vừa chăm sóc việc nhà vừa giữ chức Phụ đạo Khả Lam. Sau nhà Hồ soán ngôi nhà Trần, rồi quân Minh xâm lược, ngài ở nhà đóng cửa đọc sách. Trước những biến động lớn của thời cuộc, Lê Lợi chọn cho mình một con đường riêng, không dự vào những phong trào khởi nghĩa đương thời vì ngài đánh giá rằng những phong trào này không có nhiều triển vọng thành công. Để cho người Minh không nghi ngờ, Lê Lợi tỏ ra là một địa chủ chỉ chuyên tâm lo việc đồng áng. Chẳng những vậy, Lê Lợi còn thường xuyên đi lại quà biếu với các quan tướng Minh triều để che mắt chúng.Quân Minh thấy Lê Lợi là người có thế lực trong vùng, muốn đem quan tước ra mua chuộc nhưng ngài đều tìm cách từ chối khéo, càng đút lót cho chúng nhiều để được tạm yên. Mặt khác, Lê Lợi chuyên tâm nghiên cứu sách lược, binh thư chờ cơ hội, ngầm kết giao với những người tài cao chí lớn, cùng nhau tính kế lâu dài. Lê Lợi từng nói với thân tín: “Bậc trượng phu sinh ở đời phải cứu nạn lớn, lập công to, lưu lại tiếng thơm ngàn năm sau, sao lại chịu hèn nhát để cho người sai khiến?” (theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư)

Những nhân vật quan trọng đầu tiên đến Lam Sơn có Trịnh Đồ, Trịnh Khả, Lê Thận, Lê Văn An, Lê Văn Linh, Bùi Khai Hưng, Nguyễn Truy, Lưu Nhân Chú, Trịnh Vô, Vũ Uy, Lê Liễu… Những người này cùng với các thân tín của nhà họ Lê là những hạt nhân đầu tiên đề ra các đường hướng ban đầu, chuẩn bị mọi thứ trước khi khởi binh. Trong thời gian tích tụ của cải và lực lượng một cách bí mật, trước hết Lê Lợi và các hạt nhân đầu tiên của phong trào đã được sự đồng lòng che chở của những người thuộc hạ của nhà họ Lê và nhân dân quang vùng Lam Sơn. Việc Lê Lợi chiêu hiền đãi sĩ tuy đã cố gắng che mắt chính quyền đô hộ, nhưng thực tế cũng không thể hoàn toàn bí mật. Danh tiếng của một phụ đạo đất Lam Sơn đang chiêu mộ hiền tài dần lan xa, nửa hư nửa thực. Nguyễn Trãi bấy giờ ở thành Đông Quan, quân Minh đã quản thúc lâu ngày sinh ra xao nhãng, nghe danh Lê Lợi đã trốn khỏi thành lặn lội đến Lam Sơn tìm minh chủ. Năm 1416, để nêu cao quyết tâm, Lê Lợi lập Hội thề Lũng Nhai lịch sử, chính thức khai sinh phong trào khởi nghĩa Lam Sơn:

“Bui ! [từ cổ dùng trong văn thề]

Năm đầu niên hiệu Thiên khánh là năm Bính-thân (1416), quá ngày sóc (mồng một) là ngày Kỉ Mão đến ngày 12 là ngày Canh dần, tại nước An Nam, lộ Khả Lam. Tôi là phụđạo Lê Lợi đứng đầu, với Lê Lai, Lê Thận, Lê Văn Linh, Lê Văn An, Trịnh Khả, Trương Lôi, Lê Liễu, Bùi Quốc Hưng, Lê Ninh, Lê Kiểm, Vũ Uy, Nguyễn Trãi, Lưu Nhân Chú, Trịnh Vô, Phạm Lôi, Lê Lý, Đinh Lan, Trương Chiến.

Chúng tôi kính cẩn đem lễ vật, sinh huyết mà thành khẩn dâng lời tâu, cáo cùng Vua Trời, Hậu Đất và các thần linh bậc thượng, trung, hạ, coi các cảnh đẹp sông núi tại các xứ ta. Chúng tôi cúi xin rộng rủ lòng thương, soi xét để chứng cho việc nầy. Rằng có bạn từ xa tới kết tình vui vẻ và rất tin nhau, cho nên phải làm lễ tâu cáo.

Nay ở nước tôi, tôi phụ đạo Lê Lợi đứng đầu với 18 người từ Lê Lai đến Trương Chiến, tuy sinh khác họ, quê quán xa cách nhưng kết nghĩa cùng nhau, xem nhau như cành liền chung một tổ. Tuy phần vinh hiển có khác nhau, nhưng nguyện đem tình đối xử với nhau như người không khác họ.

Ví bằng chúng tôi đây, Lê Lợi với 18 người từ Lê Lai đến Trương Chiến, có đều hiệp lực đồng tâm chống giữ địa phương để làng xóm được yên. Nếu chúng tôi sống chết cùng nhau không quên lời thề ước, thì chúng tôi cúi xin Trời, Đất và các vị Thần linh chứng giám cho, ban xuống trăm điều lành, cho từ thân đến nhà, dòng-dõi, con cháu đều được yên lành để đời đời hưởng lộc Trời.

Ví bằng Lê Lợi với 18 người từ Lê Lai đến Trương Chiến lại ra ý đổi đường, tìm sướng hiện thời, mập mờ xao lãng, không chịu đồng tâm, bỏ quên lời thề ước, thì chúng tôi cúi xin Trời, Đất và các vị Thần linh phát xuống trăm tai, cho từ thân đến nhà, dòng-dõi, con cháu đều chịu giết sạch, đúng với luật Trời.

Kính cẩn tâu trình!” (theo GS.Hoàng Xuân Hãn)

Lời thề Lũng Nhai đã liên kết những người anh hùng thành một khối thống nhất để cùng dựng nghiệp lớn. Tuy vậy, lúc này nghĩa quân Lam Sơn vẫn chỉ đang trong quá trình bí mật gây dựng lực lượng. Từ khắp nơi, anh hùng hào kiệt nghe tiếng càng theo về đông. Tiếng đồn xa thuận lợi cho việc chiêu mộ của Lê Lợi, nhưng cũng khiến quân Minh đánh hơi thấy điều bất thường. Trong một lần có tranh chấp về đất đai, Lê Lợi thắng kiện một người tên là Đỗ Phú. Người này ấm ức trong lòng, đem chuyện Lê Lợi bí mật gây dựng lực lượng cáo giác với giặc Minh. Tướng Minh trấn giữ vùng Thanh Hóa bấy giờ là Trần Trí, Sơn Thọ sai quân đến đánh, Lê Lợi lúc này quân chưa luyện, khí giới chưa chuẩn bị, phải chia nhau mỗi người chạy trốn một ngã. Quân Minh dẫn chó ngao truy lùng Lê Lợi, suýt đã bắt được nhưng Lê Lợi may mắn thoát nạn nhờ một con cáo trắng. Sách Lam Sơn Thực Lục thuật lại chuyện Lê Lợi thoát nạn rất ly kỳ:

“… Nhà vua cùng Lê Liễu chạy đến bên sông Khả Lam, bỗng thấy một người con gái nằm chết, mình còn mặc chiếc áo trắng, cùng đeo thoa vàng, xuyến vàng. Nhà-vua cùng Liễu ngửa mặt lên trời khấn rằng: “Tôi bị giặc Minh bức bách, xin phù hộ cho tôi thoát nạn này, ngày sau được Thiên hạ, xin lập làm miếu thờ, hễ có cỗ bàn, cúng nàng trước hết!”

Đắp mả chưa xong thì giặc xua chó ngao đến. Nhà-vua cùng Liễu chạy vào bộng cây đa! Giặc lấy mũi giáo nhọn đâm vào, trúng vào vế bên tả của Liễu, Liễu bốc cát cầm vuốt vào lưỡi giáo, cho khỏi có vết máu. Tự-nhiên bỗng thấy con cáo trắng chạy ra! Chó ngao liền đuổi cáo. Giặc không ngờ bèn kéo đi. Nhà vua mới được thoát …”

Đến khi quân Minh rút khỏi Lam Sơn, Lê Lợi lại cùng các bạn đồng chí của mình tụ họp trở lại, càng đem nhiều tiền của đút lót cho quan tướng Minh, giả cách nhu nhược để nuôi lòng tự cao của chúng. Quân Minh thấy Lê Lợi không có sức chống trả lại chủ động gởi phẩm vật, nên cũng xao lãng không bức bách mà thả sức quấy nhiễu nhân dân trong vùng, Lê Lợi tranh thủ thời gian, càng cố gắng xây dựng lực lượng, tích trữ lương thảo, rèn khí cụ…

Bấy giờ lại có tên ngụy quan Lương Nhữ Hốt tâu lên với giặc rằng: “Người chủ Lam Sơn chiêu nạp những kẽ vong mạng, và đãi ngộ sĩ tốt rất hậu, chí của người ấy không phải là nhỏ. Nếu không sớm tính đi, để cho con rồng có lúc gặp mây gặp mưa, thì khi ấy nó sẽ không còn là một con vật trong ao nữa đâu. Vậy xin trừ ngay đi, đừng để lưu tai vạ về sau này” (theo Đại Việt Thông Sử)

Tướng Minh tin lời, lại đem quân đến vây đánh. Biết được tin ấy, Lê Lợi quyết định phất cờ khởi binh sớm hơn dự định. Ngày 7.2.1418, đúng dịp Tết Nguyên Đán, Lê Lợi xưng Bình Định vương làm lễ tế cờ, truyền hịch cho khắp muôn dân cùng đánh đuổi giặc Minh. Với khí thế và quyết tâm cao độ, nghĩa quân Lam Sơn chính thức bước vào cuộc chiến gian lao.

(còn nữa)

Quốc Huy/Một Thế Giới

Kháng Minh Truyền Kỳ ( Phần 3 ) : Khởi nghĩa Lam Sơn – Kỳ 1 : Kỷ thuộc Minh sau khi nhà Hậu Trần sụp đổ

Kháng Minh Truyền Kỳ ( Phần 3 ) : Khởi nghĩa Lam Sơn – Kỳ 1 : Kỷ thuộc Minh sau khi nhà Hậu Trần sụp đổ

Năm 1414, nhà Hậu Trần diệt vong, một trong những chương đen tối nhất lịch sử Việt Nam đã mở ra. Những chính sách hủy diệt văn hóa, bóc lột tài nguyên, của cải, nhân lực vốn đã rất tàn bạo ngay từ khi quân Minh mới vào chiếm đóng nước ta, bấy giờ lại càng được giặc đẩy mạnh một cách tàn bạo hơn hòng gỡ gạc cho những tổn thất trong chiến tranh, và một phần cũng là để trả thù nhân dân ta đã tích cực hưởng ứng các cuộc khởi nghĩa.

Tất nhiên, quân Minh không thể nào chống lại tất cả người Việt, mà thực hiện chính sách chia để trị rất nham hiểm. Đối với các tầng lớp đại địa chủ, trí thức tinh hoa, những người thế gia, hào trưởng nếu chấp nhận quy phục quân đô hộ sẽ được đảm bảo sinh mạng, tài sản. Quan tướng nước Minh còn bỏ công chiêu dụ những người thuộc tầng lớp trên ra làm quan cho chúng để dễ bề kiểm soát và ru ngủ, khiến cho những người này vì danh lợi mà mất đi lòng ái quốc. Những ngụy quan có công lao giúp quân Minh đàn áp các phong trào khởi nghĩa được đối đãi rất hậu hĩnh bằng tiền tài, chức tước và ruộng đất. Nhưng có một điều chắc chắn là giặc Minh không cho đi nhiều hơn thứ chúng nhận lại từ dân tộc Việt, thậm chí quân giặc còn phải lấy đi gấp nhiều lần những lợi ích mà chúng đã ban phát.

Tất cả những gánh nặng được quân Minh triệt để đổ lên đầu những người bình dân, cũng là đại đa số người Việt. Ruộng đất của bình dân bị cướp không để cấp cho bọn tay sai làm bổng lộc. Kể từ năm 1414 trở đi, các sắc thuế ruộng lúa, ruộng dâu, thuế tơ lụa, thuế muối vốn đã rất nặng nề từ trước lại tăng dần đều từng năm. Giặc Minh siết chặt việc quản lý bằng sổ hộ tịch để theo đó mà thực hiện một chế độ lao dịch bắt buộc cực kỳ hà khắc. Bất cứ người dân nào từ 16 đến 60 tuổi đều nằm trong diện phải đi lao dịch không công cho giặc khi chúng cần. Chẳng những làm việc không được trả công, những người đi lao dịch lại toàn phải làm những công việc nặng nhọc và nguy hiểm như lên núi khai mỏ, săn voi lấy ngà, săn tê giác lấy sừng, lặn biển mò ngọc trai…

Những nông sản, lâm sản quý như hồ tiêu, trầm hương, đàn hương tất cả đều bị tận thu đem sang nước Minh. Giặc Minh thành lập một hệ thống đồn điền quy mô cực lớn để có thể cung cấp lương thực cho đạo quân chiếm đóng khổng lồ thường xuyên hiện diện trên nước ta, chực chờ bóp nát bất kỳ sự chống đối nào. Trong các đồn điền này, vẫn là những người dân phu lao dịch ngày ngày đổ mồ hôi và máu một cách tủi nhục, đau đớn. Ngoài dân lao dịch, người Minh còn sử dụng các ngụy binh để làm đồn điền. Ngụy binh vừa phải bán mạng, bán sức cho ngoại bang, vừa phải chịu sự khinh bỉ và nghi kỵ của quân tướng người nước Minh. Chỉ có những tên tay sai đầu sỏ, những kẻ chăn dắt là thực sự được hưởng lợi từ giặc ngoại bang.

Bên cạnh việc vơ vét, bóc lột thì việc hủy diệt văn minh, đồng hóa dân tộc cũng là một tội ác lớn mà giặc Minh đã gây ra. Chu Đệ từ khi xua quân xâm lược đã chủ tâm xóa bỏ văn minh Đại Việt bằng các biện pháp đập phá văn bia, đốt sách vở, hủy hoại công trình, di sản văn hóa, bắt nhân dân thay đổi phong tục tập quán… Đến khi nhà Hậu Trần nổi lên, việc phá hoại của quân Minh phần nào bị gián đoạn. Sau nhà Hậu Trần bị diệt, Chu Đệ lại ra chiếu chỉ đôn đốc Trương Phụ phải thi hành đầy đủ các biện pháp nhằm biến người Việt trở thành một sắc dân bị hòa tan vào trong khối Hán hóa. Mục đích cuối cùng của việc này, suy cho cùng là để người Việt về lâu dài không còn khát vọng độc lập, tự chủ nữa. Vua Minh đã hiểu ra sức mạnh đến từ cội nguồn văn hóa Việt và tìm cách tiêu diệt. Thế nhưng điều này không hề dễ dàng đối với quân giặc.

Ở nước Minh những năm này đang bước vào giai đoạn hùng mạnh nhất dựa vào chính sách cai trị cứng rắn và quân đội đông đảo, tinh nhuệ. Mặc dù ở phía bắc các bộ tộc Mông Cổ vẫn là mối đe dọa thường trực với nước Minh, nhưng Minh Thành Tổ Chu Đệ luôn dành lợi thế trong các cuộc chiến chống lại người Mông Cổ. Những hệ lụy từ các chính sách mang tính chất tạm bợ trước mắt của bạo chúa Chu Đệ chưa thực sự bộc lộ ra trong giai đoạn này. Về đối nội, cơ quan giám sát, thanh trừng nội bộ của vua Minh là Cẩm Y Vệ vẫn còn sợ oai của nhà vua mà chưa biến tướng thành một thế lực ngầm trong triều chính nước Minh.

Về đối ngoại, Chu Đệ vẫn triệt để dùng binh mà cư xử với láng giềng. Vì có quân đội mạnh, Chu Đệ vẫn kiểm soát được tình hình. Nhưng về lâu dài, đối ngoại thừa cương, thiếu nhu đã khiến nước Minh tự đặt mình vào thế lưỡng đầu thọ địch. Phía đông, các cướp biển đến từ Nhật Bản gọi là các Oa Khấu vẫn luôn cướp bóc, quấy nhiễu nước Minh.Phía bắc, bộ tộc Ngõa Lạt Mông Cổ sau khi nhận diện sự gian trá của Minh Thành Tổ đã từ đồng minh chuyển thành kẻ thù, cùng với đó là sự chống đối ngày càng tăng của các bộ tộc Mông Cổ khác nhằm vào nước Minh.

Bấy giờ tại nước ta, nhân dân không chịu nổi sự áp bức cũng lần lượt nổi lên. Những sự phản kháng trong giai đoạn từ sau khi nhà Hậu Trần mất (năm 1414) đến trước khởi nghĩa Lam Sơn (năm 1418) đa phần manh mún, tự phát không được biên chép rõ ràng trong sử sách. Tiêu biểu trong giai đoạn này là một cuộc khởi nghĩa tại Thanh Hóa dưới sự lãnh đạo của Nguyễn Chích.Từ năm 1413 Nguyễn Chích đã dựng cờ khởi nghĩa, xây dựng căn cứ Hoàng Nghiêu (thuộc huyện Đông Sơn, Thanh Hóa ngày nay) chống quân Minh.

Sau khi nhà Hậu Trần mất, quân của Nguyễn Chích đã kiểm soát được ba huyện Đông Sơn, Nông Cống, Ngọc Sơn (Triệu Sơn ngày nay), gây cho quân giặc nhiều thiệt hại. Quân Minh đem quân đến đánh, Nguyễn Chích thu quân vào núi Hoàng, núi Nghiêu cố thủ, giặc không đánh nổi. Ngụy quan Lương Nhữ Hốt theo lệnh giặc đến dụ hàng, Nguyễn Chích không theo, kiên quyết dựa vào núi rừng hiểm trở mà chiến đấu đến cùng với quân Minh. Khắp nơi nhiều hào kiệt, sĩ phu cũng ẩn dật nơi rừng núi, trông chờ một vị minh chủ nổi lên để cùng góp sức đánh đuổi giặc Minh.

(còn nữa)

Quốc Huy/Một Thế Giới

Kháng Minh Truyền Kỳ ( Phần 2 ) – Kỳ cuối : Kết thúc bi tráng của nhà Hậu Trần

Kháng Minh Truyền Kỳ ( Phần 2 ) – Kỳ cuối : Kết thúc bi tráng của nhà Hậu Trần

Trận chiến Sái Già có thể coi là trận chiến quy mô lớn cuối cùng mà quân Hậu Trần có thể làm được để chống quân Minh. Sau trận này, quan tướng Hậu Trần phải phân tán trong núi rừng tây Thuận Châu để trốn tránh sự truy lùng của giặc. Đến đầu năm 1414, quân Minh đã tràn ngập khắp đất Thuận Hóa, chia nhau lùng bắt Trùng Quang đế và quân tướng nhà Hậu Trần.

Bấy giờ vua tôi thất lạc, nhiều binh sĩ Hậu Trần không tìm được đội ngũ, mạnh ai nấy tìm chốn nương thân. Hai tướng Đặng Dung, Nguyễn Cảnh Dị cố tìm được nhau, đóng quân tại núi Côn Truyền để tập họp lại lực lượng. Trương Phụ dẫn quân chia đường tấn công vào núi. Đặng Dung cho tượng binh đi đầu, cùng các tướng sĩ từ trên núi đánh xuống. Quân Minh từ dưới núi bắn cung nỏ lên như mưa, tượng binh của quân ta phải chùn bước. Kế đó kỵ binh quân Minh đông như kiến đánh lên, quân Hậu Trần lại tan vỡ, nhiều tướng lĩnh tử trận. Đặng Dung và Nguyễn Cảnh Dị mở đường máu thoát khỏi vòng vây, bên mình chỉ còn hơn 700 quân bản bộ trung thành. Dung và Dị bàn nhau rút sang nước Tiêm La (Sukhotai – nay thuộc Thái Lan) để tránh tạm.

Nhưng chẳng mấy chốc truy binh của giặc đã đuổi theo kịp hai ông, tổ chức vây bắt. Hai tướng Hậu Trần cùng binh sĩ ra sức đánh giết giặc rất nhiều, nhưng rồi cũng sức cùng lực kiệt trước số lượng áp đảo hoàn toàn của quân Minh. Đặng Dung, Nguyễn Cảnh Dị đều sa lưới quân Minh. Khi giải đến doanh trại của Trương Phụ, Nguyễn Cảnh Dị lập tức mắng vào mặt Phụ : “Tao định giết mày, lại bị mày bắt”. Sau đó ông không ngớt lời chửi rủa thậm tệ. Trương Phụ tức giận không đợi giải về Nguyễn Cảnh Dị về nước Minh, mà giết ông ngay tại chỗ, lại moi gan ăn. Nguyễn Cảnh Dị là một trong những danh tướng hàng đầu của nhà Hậu Trần, đến lúc sa cơ, ông buông lời thoái mạ là cố ý muốn cho giặc giết mình ngay, không muốn sống trong sự giam cầm của giặc.

Về phần Nguyễn Súy sau khi từ mặt trận Sái Già rút quân về núi, lại rút về phía nam chạy sang hướng các nước Chiêm Thành, Chân Lạp. Ông cũng không thoát khỏi sự truy lùng của quân Minh. Tại châu Minh Linh bấy giờ thuộc quyền của nước Chiêm Thành, Nguyễn Súy sa lưới giặc. Vua Trùng Quang đế cùng đoàn tùy tùng chạy sang đất Ai Lao, giặc đuổi theo ráo riết, cuối cùng bắt được Trùng Quang tại sách Cập Môn (Khăm Muội, Lào ngày nay). Trương Phụ sai giải Trùng Quang đế, Nguyễn Súy, Đặng Dung cùng các tướng Hậu Trần khác về nước Minh xử trí. Trên thuyền sang Yên Kinh nước Minh, vua Trùng Quang đế nhảy xuống biển tự vẫn. Đặng Dung cũng nhảy theo vua cùng chết. Nguyễn Súy thì không chết theo vua ngay, mà tìm cách gạ gẫm viên quan áp giải chơi cờ với mình. Trong lúc đánh cờ, Súy lấy bàn cờ đập viên quan áp giải nước Minh một phát chết tươi, rồi mới nhảy xuống biển tự vẫn.

Nhà Hậu Trần bắt đầu từ vua Giản Định đế dựng cờ khởi nghĩa năm 1407 đến khi vua Trùng Quang bị giặc bắt đầu năm 1414, tổng cộng được 7 năm. Đây cũng là quãng thời gian mà người Việt từ vua đến dân chinh chiến không ngừng để mong đánh đuổi giặc Minh. Các bộ sử xưa coi nhà Hậu Trần là một triều đại nối tiếp sau nhà Hồ, cũng là vẫn công nhận sự tồn tại của nước Đại Việt sau khi giặc Minh đánh bại họ Hồ. Chỉ sau khi Trùng Quang đế thất bại mới tính vào kỷ thuộc Minh. Riêng các sách sử hiện đại lại chỉ coi nhà Hậu Trần là một  phong trào khởi nghĩa lớn, còn kỳ thuộc Minh tính từ khi nhà Hồ kháng chiến thất bại.

Cả hai trường phái nhìn nhận này điều đó lý lẽ riêng của mình. Công nhận nhà Hậu Trần là một triều đại phong kiến chính thức trong lịch sử Việt Nam là vì vua Hậu Trần thực sự là vua danh chính ngôn thuận được hầu hết nhân dân cả nước thời đó tin theo, và thực tế đã duy trì chủ quyền thường xuyên trên một vùng lãnh thổ rộng lớn từ Thanh Hóa trở vào, nhiều lúc kiểm soát cả những vùng lớn thuộc đồng bằng sông Hồng. Không công nhận nhà Hậu Trần là vì quân Hậu Trần chưa bao giờ chiếm được thành Đông Quan – thủ phủ của nước Đại Việt,  cũng như chưa hề đánh đổ được ách đô hộ mà quân Minh đã thiết lập từ sau cuộc chiến Minh – Đại Ngu (1406 – 1407).

Mặc dù quan điểm của giới sử các đời có khác biệt, nhưng hầu hết đều bày tỏ sự thương tiếc, nể phục ý chí của Trùng Quang đế và các tướng sĩ Hậu Trần. Vua tôi Trùng Quang nhà Hậu Trần không chấp nhận sự dày vò trong tay giặc mà chọn cho mình một cái chết trong danh dự. Điều này hoàn toàn khác với cha con nhà Hồ Quý Ly đã chấp nhận trông chờ vào sự xót thương của giặc. Tuy thất bại, nhưng thanh danh của Trùng Quang đế và các danh tướng Hậu Trần luôn mãi rực sáng với sử xanh, được nhiều thế hệ người Việt tôn thờ. Đặc biệt ngoài sự tôn kính và biết ơn, sử sách còn dành cho vua tôi Trùng Quang đế lòng thương cảm sâu sắc vì ý chí vượt qua nghịch cảnh của họ, vì một sự nghiệp khôi phục sơn hà.

Trong Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, Ngô Sĩ Liên đã có những dòng đầy thương tiếc khi bắt đầu chép đến thời kỳ vua Trùng Quang: “Vua gặp thời loạn lạc, gắng chí mưu việc khôi phục. Nhưng vì trời không giúp nhà Trần nữa, nuốt hận mà chết. Thương thay!”

Khi Ngô Sĩ Liên chép xong những dòng cuối cùng về nhà Hậu Trần, sử gia lại tiếp tục có những nhận xét đầy tiếc nối và cảm thông: “Trùng Quang Đế lấy quân một lữ để mưu khôi phục đất nước trong lúc loạn lạc lưu ly, ví như dùng một cây gỗ để chống giữ ngôi nhà lớn đã đổ, chả lẽ không biết rằng thế không thể cứu vãn được nữa hay sao? Nhưng hãy làm hết bổn phận nên làm, ngõ hầu có thể vãn hồi được thiên mệnh !Còn như khi bị giặc bắt đem về, giữ nghĩa không chịu nhục, cam lòng nhảy xuống biển mà chết để cùng mất với nước, thực đúng là “quốc quân chết vì xã tắc”. Các bề tôi của ngài như Cảnh Dị chửi giặc mong cho chúng giết ngay mình, Nguyễn Biểu kể tội ác của giặc rồi chết, đều là những người đáng ca ngợi cả.”

Khen ngợi chí khí của các bậc anh hùng nhà Hậu Trần rồi, Ngô Sĩ Liên cũng không quên chê trách những kẻ phản thần: “ … Chỉ có Hồ Ngạn Thần đi sứ làm nhục mệnh vua, đã bị giết rồi. Phan Liêu đem tình hình mạnh yếu trong nước đi báo cho giặc, tuy được thoát chết trong một thời, nhưng sau lại bị Thái Tổ Cao Hoàng Đế ta (tức vua Lê Thái Tổ Lê Lợi) giết chết. Than ôi, người làm tôi trung với nước tuy chết vì nghĩa không có tội gì, mà để lại tiếng thơm mãi mãi, còn bọn bất trung phản quốc, không khỏi tránh khỏi chết, lại còn để tiếng xấu ngàn năm, thực đúng như thế.”

Các sử gia thời kỳ phong kiến chịu ảnh hưởng nặng tư tưởng Thiên Thời, Thiên Mệnh nên khá nhất quán về nhận định cho rằng nhà Hậu Trần thất bại là do trời không giúp, hay nói cách khác là không gặp thời. Như sách Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục nhà Nguyễn có nhận xét ngắn gọn về trận Sái Già: “Trời nuông Trương Phụ”. Nói rằng nhà Hậu Trần thất bại do không gặp thời, không gặp may thì không hẳn sai, nhưng chưa đủ. Đó chỉ là nguyên nhân khách quan. Còn nguyên nhân chủ quan chúng ta cũng cần phải nhìn nhận. Cần biết rằng nền tảng sức mạnh của nhà Hậu Trần không đến từ các vua Giản Định hay Trùng Quang, mà đến từ những thế lực quân phiệt như Trần Triệu Cơ, Đặng Tất, Nguyễn Cảnh Chân… Chính vì vua không có lực lượng ban đầu mà hoàn toàn phải dựa vào các tướng lĩnh của mình nên chưa bao giờ quyền lực vua Hậu Trần được trọn vẹn, và cũng chính vì thế mà giữa vua tôi luôn có sự nghi kỵ lẫn nhau.

Đó là nguyên nhân sâu xa dẫn đến cái chết oan khuất của Đặng Tất, Nguyễn Cảnh Chân khi mà vua Giản Định muốn dùng thủ đoạn đen tối để tập trung quyền lực về mình, gạt bỏ mối lo từ hai vị tướng nhiều công lao nhưng đồng thời cũng là đối tượng mà nhà vua phải san sẻ quyền lực. Sang đến thời vua Trùng Quang, nhà vua đã chập nhận việc trao nhiều quyền lực cho các tướng còn tự mình đóng vai trò thủ lĩnh tinh thần, để giúp cho nội bộ được đoàn kết. Thế nhưng tình thế lúc này đã chuyển xấu, hoàn cảnh khách quan đã quá bất lợi cho việc đánh đuổi quân Minh.

Nhà Hậu Trần nổi lên chống Minh không chỉ có ý nghĩa về mặt cổ vũ tinh thần độc lập, tinh thần chiến đấu chống giặc ngoại xâm mà thực sự còn đóng vai trò thiết thực hơn thế rất nhiều. Với khoảng 7 năm ròng chiến đấu của tướng sĩ Hậu Trần, quân Minh đã không thể áp đặt được nền đô hộ lên đất nước ta. Vùng đất từ Thanh Hóa trở vào nam bấy giờ, một nước Đại Việt (dù không trọn vẹn) vẫn tồn tại. Ở đó, những giá trị văn minh người Việt đã được bảo tồn. Việc vấp phải sự kháng cự mạnh mẽ của quân dân ta dưới lá cờ đầu là nhà Hậu Trần khiến cho quân Minh bị hao tổn rất nhiều quân lực, tạo thuận lợi cho các phong trào khởi nghĩa về sau.

Ngoài ra, cuộc chiến đấu của nhà Hậu Trần đã làm chậm tiến trình đồng hóa của quân Minh, và đôi lúc buộc chúng phải có một số chính sách nhượng bộ nhất định trong cai trị. Không thể chỉ trông chờ vào quân viễn chinh và không thể diệt chủng người Việt, giặc Minh phải buộc lòng phải xây dựng một bộ máy ngụy quyền đồ sộ để cai trị, chấp nhận nới lỏng một số quyền tự trị đối với các thổ hào địa phương để làm dịu bớt sự chống đối.

Chính trong số các thổ hào này, một nhân vật kiệt xuất mới đã xuất hiện, chính là Lê Lợi – lãnh tụ của phong trào khởi nghĩa Lam Sơn vĩ đại. Trương Phụ và quân tướng nước Minh những tưởng rằng đánh dẹp được nhà Hậu Trần là xong việc, nhưng kỳ thực đó chỉ là thắng lợi tạm thời đối với chúng mà thôi. Kẻ gieo gió rồi sẽ gặp bão. Chẳng bao lâu sau, những phong trào khởi nghĩa mới của người Việt lại bùng lên mà không cần phải nhân danh một dòng họ nào nữa.

Quốc Huy/Một Thế Giới