Cuộc vây hãm thành Jaffa (7-3-1799)

Cuộc vây hãm thành Jaffa (7-3-1799)

Sau khi chiếm được đất Ai Cập, Napoleon mất liên lạc với Pháp do hạm đội của đô đốc Paul Brueys đã bị hải quân Anh phát hiện và tiêu diệt ở vịnh Aboukir. Ông bèn đặt ra một bộ máy cai trị rất hiệu quả nhằm trưng thu lương thực và tiền bạc từ dân Ai Cập, còn mình dẫn quân tiến về Syria để giao chiến với một đạo binh Ottoman (đồng minh của Anh) đang hành quân xuống phía Nam.

Chiến dịch Syria cực kỳ gian khổ, đặc biệt vì thiếu nước. Đầu tháng 3 năm 1799, quân tiên phong Pháp đến thành Jaffa. Nơi đây là một trong những trung tâm thương mại lớn nhất Syria, cảng của nó đủ rộng để neo đậu cả một hạm đội. Thành được thiết kế theo lối Đông Tây kết hợp với tường cao, tháp pháo, nhưng không có hào nước bao quanh. Chỉ huy Jezzar Pasha có trong tay hơn 5000 lính và 50 khẩu pháo, tức là bằng phân nửa quân Pháp. Nếu bỏ qua nơi này, Napoleon sẽ bị đánh bọc sau lưng, bởi vậy ông quyết tâm chiếm nó bằng mọi giá.

Ngày 4 tháng 3, kỵ binh trinh sát của Murat khi thử áp sát tường thành, đã bị bắn cảnh cáo bởi một loạt đạn của 30 khẩu pháo. Sau vài ngày thu thập thông tin và đóng chốt ngăn các tuyến đường chính xung quanh Jaffa, Napoleon cử một sứ giả đến, đề nghị thành phố đầu hàng, nếu không tất cả sẽ bị tiêu diệt hết. Jezzar Pasha cho lính bắt giữ, tra tấn, thiến rồi chặt đầu người này, cắm cọc bêu trên tường thành. Giân chưa từng thấy, Napoleon lập tức ra lệnh tấn công.

Dù thành Jaffa khá kiên cố theo tiêu chuẩn Ottoman, nhưng nó đã gặp phải khắc tinh: Napoleon xuất thân từ tướng pháo binh và chiến công đầu tiên của ông là hạ thành Toulon. 7 giờ sáng ngày 7 tháng 3, pháo binh Pháp nã đạn vào các tháp canh, dập tắt hỏa lực Ottoman và bắn sập một mảng lớn tường thành. Đến 15 giờ thì bộ binh Pháp xung phong qua các lỗ hổng. Dù quân trong thành kháng cự rất kiên cường nhưng sự chênh lệch không đơn giản chỉ là vũ khí và quân số, các trung đoàn Pháp đã theo Napoloen chinh chiến suốt 3 năm nên cực kỳ tinh nhuệ. Tướng Louis André Bon trong lúc tấn công vào cổng phía Bắc vô tình phát hiện một đường hầm bí mật, có lẽ dùng để ra khỏi thành khi khẩn cấp. Sư đoàn của Bon đột nhập qua đường hầm này vào tận trung tâm thành phố rồi đánh tỏa ra, đẩy nhanh quá trình sụp đổ của người Ottoman. Chỉ huy Jezzar Pasha kịp chạy thoát cùng một nhúm thuộc hạ, còn cấp phó Abdallah Bey bị bắt và chém đầu. Napoleon ra lệnh đồ sát toàn bộ thành phố trong 2 ngày 2 đêm, chỉ vài trăm người được phép rời đi để báo tin cho những nơi khác rằng số phận như vậy sẽ đến nếu họ không chịu đầu hàng. Biện pháp này bị phản tác dụng, các thành phố còn lại của Syria đều liều chết chống cự đến cùng.

Sau khi kiểm soát được thành Jaffa với thương vong thấp (50 lính chết và khoảng 200 bị thương), Napoleon nhận tin báo vẫn còn 4.000 lính Thổ, phần lớn là người Albania, lui về kháng cự trong một vị trí kiên cố, lũy đắp bốn bề. Khi các sĩ quan Pháp đến doạ dẫm để buộc họ đầu hàng, họ đã trả lời rằng sẽ chỉ làm vậy nếu người ta hứa không giết họ, bằng không, họ sẽ chống cự đến giọt máu cuối cùng. Một sĩ quan Pháp khi đó đã tự ý hứa vượt quyền và tất cả hạ vũ khí đầu hàng. Quân Pháp nhốt những tù binh đó trong một nhà kho. Napoleon giận đến cực điểm, một phần vì sự lạm quyền của cấp dưới, một phần vì hậu quả mà nó mang lại. Ông cho rằng hứa tha chết cho những lính Thổ ấy là một sự điên rồ. “Chúng định bắt tôi làm gì bây giờ? Làm gì có lương thực để nuôi chúng? Làm gì có tàu để chở chúng về Ai Cập hay về Pháp? Chúng đã làm được gì cho tôi?”. Quả thực, quân Pháp không có tàu, cũng không đủ người để áp giải 4.000 lính tinh nhuệ ấy qua những vùng sa mạc mênh mông để quay về Ai Cập. Thoạt tiên Napoleon còn chưa quyết tâm thực hiện ý định khủng khiếp… Qua ba ngày suy nghĩ, do dự và ngần ngại, cuối cùng, ngày thứ tư, ông hạ lệnh xử tử toàn bộ 4.000 tù bình. Họ bị dẫn ra bờ biển và bị bắn đến người cuối cùng. Một sĩ quan Pháp khi đó đã nói: “Tôi mong rằng đừng ai cảm thấy những điều mà chúng tôi đã cảm thấy khi chứng kiến cuộc hành hình ấy”.

Tình hình Jaffa dưới sự chiếm đóng của Pháp được chép lại như sau: “Trong nhà, ngoài phố, trên mái nhà, trong hầm chứa, trong vườn rau, vườn cây ăn quả, đâu đâu cũng thấy xác dân chúng bị tàn sát đang rữa thối không ai thu dọn.”. Bệnh dịch hạch bùng nổ do vệ sinh kém, buộc Napoleon phải gấp rút rời thành phố ma này tiến đến Acre. Nơi đó sẽ là điểm xa nhất của phương Đông mà số mệnh cho phép ông đặt chân tới.

– Muitenbac777 –

Cuộc chiến chống liên minh Tống, Chiêm, Khmer – Kỳ 18 ( cuối ) : Ngoại giao đòi đất, Đại Việt trước những mối đe dọa mới

Cuộc chiến chống liên minh Tống, Chiêm, Khmer – Kỳ 18 ( cuối ) : Ngoại giao đòi đất, Đại Việt trước những mối đe dọa mới

Tống hứa trả đất nhưng cũng có kèm theo điều kiện, chính là trả tù binh và xử những “tội phạm chiến tranh”. Việc trao trả tù binh là thường tình sau chiến tranh. Nhưng những “tội phạm chiến tranh” mà Tống yêu cầu xét xử không ai khác chính là những người đã làm nên chiến thắng của Đại Việt, mà đứng đầu chính là Thái úy Lý Thường Kiệt. Đó có thể xem là một động thái ly gián của nước Tống. Tuy nhiên, cả về phía triều đình Đại Việt và Lý Thường Kiệt đều tin cậy lẫn nhau, và bác bỏ yêu sách vô lý này với lời lẽ khéo léo. Đại Việt chỉ chấp nhận trả tù binh, Tống cũng trả đất mà không đòi hỏi gì thêm. Ngoài mặt Tống luôn ra vẻ bề trên, nhưng rõ ràng không thể không ngán ngại Đại Việt. Vua Tống vẫn lo sợ Đại Việt tức giận sẽ xua quân tấn công. Trong năm 1078, Tống chính thức giao lại châu Quảng Nguyên cho Đại Việt. Khi tiếp sứ giả, Tống triều đối xử rất tử tế và sắp xếp tránh cho sứ giả Đại Việt và Chiêm Thành đụng mặt nhau. Bởi sợ rằng Đại Việt sẽ nghi ngờ Tống vẫn ngầm bàn mưu với nước Chiêm Thành.

Đại Việt hứa rằng sẽ trao trả tù binh chiến tranh cho Tống nhưng số tù binh bị bắt ở chiến dịch đánh phủ đầu Tống năm 1075 – 1076 đã bị chết nhiều, chỉ còn lại một số. Nguyên là Đại Việt thiếu nhân lực nên bắt số tù binh đi khai khẩn đất đai và sung quân, điều vào vùng Nghệ An để phòng thủ Chiêm Thành. Đàn ông trên 20 tuổi lớn tuổi bị thích vào trán chữ Đầu Nam Triều, thanh thiếu niên trên 15 tuổi bị thích chữ Thiên Tử Binh. Một số tù binh này đã tử trận trong chiến đấu. Một số khác thì chết do nhiều do bệnh tật, lao động quá sức và nhiều nguyên nhân khác. Lại có số ít đã bỏ trốn. Tù binh Tống là phụ nữ thì bị thích vào tay chữ Quan Khách, phải làm nô lệ cho nhà nước.

Trong năm 1079, Đại Việt gom các tù binh trao trả cho Tống chỉ được còn vài trăm người trong số hàng ngàn người bị bắt. Các tù binh bị nhốt trong những con thuyền bịt kín hết cửa sổ để cho không phân biệt được ngày đêm, không nhìn được cảnh vật. Dân Tống đã được trả về rồi, phía Tống còn đòi thêm nhưng Đại Việt báo rằng chỉ còn bấy nhiêu đó mà thôi. Tống trả Quảng Nguyên cho ta rồi nhưng lại cắt xén những chỗ hiểm yếu thuộc châu này mà sát nhập vào đất Tống. Đó là các động Vật Dương, Vật Ác. Phía Tống lấy cớ rằng đất đó là do tù trưởng dâng cho Tống nên không thể trả lại. Đại Việt vì việc này mà nhiều lần cử sứ giả sang đòi đất. Chúng ta thấy rằng, cuộc chiến ngoại giao để bảo toàn lãnh thổ không hề đơn giản. Chiến tranh kết thúc vào năm 1077, nhưng việc đòi đất của Đại Việt còn kéo dài gần một thập niên sau đó. Năm 1083, sứ bộ Đào Tông Nguyên lại sang đàm phán với sứ Tống ở trại Vĩnh Bình.

Sứ Tống đôi co mãi với sứ ta, không bằng lòng chuyển quốc thư lên vua Tống. Sứ giả Đại Việt bất bình bỏ về. Lý Nhân Tông sai kiểm binh đóng ở biên giới, uy hiếp Vật Dương, Vật Ác để gây thanh thế. Tống triều cũng thêm quân để phòng thủ, di dời những tù trưởng đã dâng đất Đại Việt cho Tống vào ở sâu trong nội địa nước Tống để bảo vệ. Tù trưởng Nùng Trí Hội, Nùng Tông Đán là những người đã phản bội Đại Việt mà dâng đất cho Tống. Những người này là tội nhân khiến Đại Việt rất bất bình nhưng lại được nước Tống hết sức che chở. Quan hệ hai nước lại trở nên căng thẳng. Tuy nhiên, triều đình Đại Việt dưới chủ trương mềm mỏng, giữ hòa bình để phát triển của Linh Nhân Hoàng thái hậu đã cố gắng dùng ngoại giao để thu xếp. Đến năm 1084, sứ bộ Đại Việt do trạng nguyên Lê Văn Thịnh dẫn đầu lại sang Tống đòi đất. Tống tổ chức hội nghị tại châu Vĩnh Bình. Quan tiếp sứ Tống là Thành Trạc trả lời rằng: “Những đất mà quân nhà vua đã đánh lấy thì đáng trả cho Giao Chỉ. Còn những đất mà các người coi giữ lại mang nộp để theo ta thì khó mà trả lại”.

Lê Văn Thịnh đối đáp: “Đất thì có chủ, các viên coi giữ mang nộp và trốn đi thì đất ấy thành vật ăn trộm của chủ. Việc chủ giao đất cho mà tự ý lấy trộm đã không tha thứ được thì kẻ ăn trộm hay người tàng trữ vật ăn trộm, pháp luật cũng không dung. Huống chi nay chúng lại mang đất ăn trộm để dâng thì chỉ làm nhơ bẩn sổ sách nhà vua”.

Trước thái độ cương quyết của Lê Văn Thịnh, Tống chấp nhận cắt thêm đất để giao cho ta. Sáu huyện Bảo Lạc, Luyện, Miêu, Đinh, Phóng, Can cùng với hai động Túc, Tang giao cho Đại Việt. Phía Tống muốn coi như lấy những vùng đất này để đổi lại Vật Dương, Vật Ác. Đây có thể coi là một thành công về ngoại giao của phái đoàn Lê Văn Thịnh. Tuy Đại Việt nhận những đất này, nhưng coi đây là đất đương nhiên Tống cần phải trả bởi trên thực tế đây là những đất nằm ngoài cửa ải của Tống mà họ hoàn toàn không có điều kiện để chiếm hữu thực địa. Sứ bộ Đại Việt vẫn tiếp tục đòi đất Vật Dương, Vật Ác. Công cuộc ngoại giao này dần trở nên vô vọng. Năm 1085, vua Tống Thần Tông mất. Vua kế vị là Tống Triết Tông lên ngôi, nhận được thư của vua Lý Nhân Tông đã trả lời rằng: “Trẫm đã xét kỹ lời biểu của Khanh xin cương thổ các động Vật Ác, Vật Dương. Đời Tiên đế, Khanh đã bày tỏ việc cương giới. Tiên đế đã giáng chiếu dụ, đầu đuôi rõ ràng. Đã đặc biệt theo lời Khanh cầu, mà cắt đất cho. Nay Trẫm đọc lời tâu, bất ngờ còn thấy Khanh bày tỏ kêu ca điều ấy. Trẫm vừa nối nghiệp, hành động phải theo mệnh trước. Nghị định trước đã rõ, nay khó lòng mà đổi được. Khanh phải trung thuận, nhất nhất phải tuân theo lời chiếu trước.”

Các lần cử sứ sang Tống đưa thư vào những năm 1085, 1086, 1087, 1088 đều không mang lại kết quả gì hơn. Trái lại, Tống còn tăng quân phòng thủ biên giới. Phía nước Tống cho rằng họ đã dứt nợ với Đại Việt vì đã “ban” cho Đại Việt những đất 6 huyện, 2 động để đổi lấy Vật Dương, Vật Ác rồi. Có vẻ như, triều đình Đại Việt cũng không muốn vì việc đòi những vùng đất nhỏ bé này mà khơi màu xung đột, chỉ chuyên tâm vào công cuộc gây dựng lại đất nước sau chiến tranh và dồn sức khôi phục lại thế mạnh ở phương nam. Vả lại, nước Tống bấy giờ đã không còn coi thường Đại Việt như xưa, thường xuyên đóng quân mạnh ở biên thùy Đại Việt để phòng thủ. Nếu như Đại Việt muốn dùng vũ lực hẳn sẽ phải có chiến tranh quy mô lớn.

Về sau này, thế lực nước Tống đi xuống thảm hại và bị nước Kim mới nổi ở phía bắc uy hiếp. Trong khi đó, Đại Việt dưới thời Lý Nhân Tông đã đến thời kỳ cực thịnh, binh hùng tướng mạnh, quốc lực dồi dào. Có vẻ như là thời cơ thuận lợi cho Đại Việt bắc tiến. Tuy nhiên, ở phương nam nước Chiêm Thành vẫn luôn thể hiện thái độ “sớm hòa, tối đánh” với Đại Việt. Họ cứ chực chờ cơ hội là đem quân cướp phá. Đặc biệt nghiêm trọng, thời bấy giờ đế chế Khmer (Chân Lạp) cũng phát triển đến mức cực thịnh dưới sự cai trị của vua Suryavarman II.

Lãnh thổ của đế chế Khmer bấy giờ rộng lớn gấp gần mười lần nước Đại Việt, tiếp giáp Đại Việt cả phía tây và phía tây nam. Khmer coi Đại Việt là miếng mồi ngon với tài nguyên và của cải dồi dào bậc nhất khu vực Đông Nam Á lục địa. Nước Đại Việt thời kỳ này dồn trọng tâm về phương nam để phòng bị vì nước Tống đã suy yếu mà Khmer lại nổi lên mạnh mẽ. Quả thực, về sau quân Khmer dưới sự chỉ huy của vua Suryavarman II đã tấn công xâm lược Đại Việt tận 6 lần. Công cuộc chống ngoại xâm của dân tộc ta lại tiếp diễn song song với tiến trình xây dựng đất nước.

Quốc Huy/Một Thế Giới

Cuộc chiến chống liên minh Tống, Chiêm, Khmer – Kỳ 17 : Tống – Việt nghị hòa và sự tan rã của một liên minh

Cuộc chiến chống liên minh Tống, Chiêm, Khmer – Kỳ 17 : Tống – Việt nghị hòa và sự tan rã của một liên minh

Sau khi đánh tan tác cụm quân của Triệu Tiết, diệt đến gần sáu phần mười tổng số quân giặc, Lý Thường Kiệt chủ động bàn hòa, mở một lối thoát cho quân Tống, cũng là một lối thoát cho hòa bình để đỡ tốn xương máu của cả hai bên. Bước đi hòa hoãn của Lý Thường Kiệt đã được tính toán rất kỹ. Lý Thường Kiệt bàn với các tướng sĩ: “dùng biện sĩ bàn hòa, không nhọc tướng sĩ, đỡ tốn xương máu mà bảo toàn được tôn miếu”. Sứ giả mang thư của triều đình nhà Lý gởi cho Quách Quỳ. Thư viết rằng: “… Xin hạ chiếu rút đại quân về, sẽ lập tức sai sứ sang tạ tội và triều cống …”. Rõ ràng bao nhiêu tâm huyết mà nước Tống đổ vào cuộc xâm lược đâu chỉ để đổi lấy việc cầu hòa suông như thế. Nhưng nay tình thế quá bi đát, việc cầu hòa của Đại Việt như chiếc phao cho Quách Quỳ bám víu, tránh khỏi thảm cảnh toàn quân bị diệt. Quách Quỳ chấp nhận giảng hòa, bàn với các tướng: “Ta không đạp đổ được sào huyệt giặc, bắt được Càn Đức để báo mệnh triều đình. Đó là ý trời ! Thôi ta đành liều một thân ta chịu tội với triều đình, để mong cứu hơn mười vạn nhân mạng”. (10 vạn nhân mạng mà Quỳ nói là tính cả quân và phu của Tống cho đến thời điểm này).

Triều đình Đại Việt mang biểu của vua Lý Nhân Tông giao cho Quách Quỳ để chuyển tới vua Tống. Quân hai nước định ngày để cho Tống rút quân. Thế nhưng Quách Quỳ sợ quân ta bội ước mà đánh nên đang đêm đốc thúc quân sĩ lui gấp, hàng ngũ rối loạn giày xéo lẫn nhau mà chạy. Tướng Tống là Đào Bật cùng đội thân binh nhận nhiệm vụ rút sau chặn hậu. Quân Đại Việt không truy kích, chỉ theo sau đường quân Tống rút mà chiếm lại đất đai. Quân Tống rút lui nhưng không về hẳn nước Tống mà lại đóng quân chiếm lấy các châu Quảng Nguyên, Quang Lang, Tô Mậu, Môn Châu, Tư Lang nằm gần biên giới toan chiếm cứ. Lý Thường Kiệt xua quân tiến chiếm lại các châu Quang Lang, Tô Mậu, Môn Châu, Tư Lang. Quân Tống rút về tập trung ở Quảng Nguyên. Triều đình Đại Việt chủ trương dùng biện pháp ngoại giao để điều đình đòi lại vùng Quảng Nguyên. Từ đây chiến tranh Tống – Việt đã kết thúc, nhưng cuộc đấu tranh ngoại giao đòi đất bắt đầu.

Sau khi đánh lui được quân Tống, Đại Việt đã giải tỏa được thế lưỡng đầu thọ địch. Liên quân Chiêm Thành – Chân Lạp thiếu đi sự phối hợp của quân Tống như rắn mất đầu. Ưu thế nghiêng hẳn về phía Đại Việt. Chính thế vậy mà ngay sau khi biết tin quân Tống rút lui, vua Harivarman IV cũng lui quân. Quân Chiêm Thành rút lui nhưng vẫn lưu lại chiếm giữ ba châu Minh Linh, Bố Chính, Lâm Bình. Vào khoảng cuối năm 1077 đến năm 1079, quân Đại Việt quay mũi giáo về phương nam để “hỏi tội” nước Chiêm Thành. Lý Thường Kiệt chính là người chỉ huy cuộc chinh phạt này. Quân Đại Việt chẳng những thu hồi lại nhanh chóng các vùng lãnh thổ mà Chiêm Thành thừa cơ chiếm đóng mà còn tiến chiếm kinh đô Vijaya. Vua Harivarman IV phải rút quân về vùng cao nguyên phía Tây để bảo toàn lực lượng và gởi thư cầu hòa. Lý Thường Kiệt nhân đó chấp nhận hòa đàm và rút lui. Bấy giờ, một cánh quân Khmer (Chân Lạp) gởi sang Chiêm Thành để tiếp viện cho quân Chiêm chống lại quân Đại Việt do hoàng thân Khmer Sri Nandanavarmadeva chỉ huy vẫn đang đóng quân tại địa khu Panduranga của Chiêm Thành. Nhận được tin Chiêm – Việt nghị hòa, Sri Nandanavarmadeva tức giận cho rằng vua Chiêm Thành đã phản bội đồng minh, bèn tung quân chiếm luôn Panduranga, chính thức trở mặt gây chiến với Chiêm Thành.

Như vậy là, sau khi thất bại trong việc liên minh sâu xé Đại Việt thì hai nước này quay sang đánh lẫn nhau. Một lần nữa, Lý Thường Kiệt lại phải đem quân vào Chiêm Thành nhưng khác với những lần trước, ông đem quân giúp đỡ nước Chiêm Thành chống lại quân Khmer theo lời thỉnh cầu của vua Harivarman IV. Có được sự giúp đỡ của Đại Việt, quân Chiêm Thành nhanh chóng đẩy lùi được quân Khmer khỏi bờ cõi, truy kích tận sang đất Khmer. Vua Harivarman IV tấn công kinh thành Angkor, giết chết vua Khmer Harshavarman III, đẩy Khmer vào thời kỳ loạn lạc. Từ đây, quan hệ Đại Việt – Chiêm Thành trở lại hòa thuận.

Về phía nước Tống, sau khi Quách Quỳ rút quân và gởi biểu “xin hàng” của vua Lý về triều đình (3.1077 ), vua Tống rất tức tối, ý muốn đánh liều dốc thêm quân lính tiếp viện để Quách Quỳ quay lại đánh tiếp, nhưng phân vân vì quốc lực đã hao tổn quá nhiều. Quần thần Tống triều biết vậy, hết sức dùng lời can gián vua Tống. Tể tướng đương nhiệm của Tống bấy giờ là Ngô Sung bấy giờ thay mặt quần thần dâng biểu “mừng công” lên vua Tống. Trong đó có ý chúc mừng vua Tống đã “dẹp yên An Nam, lấy được Quảng Nguyên”. Tống Thần Tông nhận thấy rằng tuy Tống chịu tổn thất nhưng phía Đại Việt đã biết giữ thể diện cho Tống, dâng biểu cầu hòa, bèn hạ lệnh bãi binh, chấp nhận nghị hòa.

Quân Tống đi mười phần thì về chưa được ba phần. Khi kiểm binh, trong số 10 vạn lính chiến đấu đã ra đi chỉ còn 23.400 lính trở về, ngựa chiến thì còn lại 3.174 con. Số dân phu 20 vạn trở về không được một nửa. Phí tổn chiến tranh được người Tống tính ra là 5.190.000 lạng vàng, một con số khủng khiếp. Mọi mục tiêu chiến lược của Tống đề ra trước chiến tranh như sung công của cải, biến Đại Việt thành quận huyện đều không thực hiện được. Nước Tống đã gần như cố gắng ở mức cao nhất để đổ dồn vào cuộc xâm lược Đại Việt nhưng vẫn thất bại. Vì vậy, không còn cách nào khả dĩ hơn là hòa đàm với Đại Việt. Vào khoảng tháng 3.1077, vua Tống gởi thư cho Đại Việt chấp nhận nghị hòa, yêu cầu Đại Việt phải trở lại triều cống và trao trả tù binh. Chiến tranh giữa hai nước chính thức kết thúc trên danh nghĩa.

Đại Việt giao phong với Tống cũng chịu tổn thất nhiều, thiệt hại cũng đến hàng vạn người. Những vùng khê động mà quân Tống đi qua đều xơ xác bởi sự giết chóc và vơ vét của quân giặc. Các thế lực trung thành với triều đình nhà Lý trước đây như họ Thân ở Động Giáp, họ Lưu ở Quảng Nguyên đều chịu tổn thất nặng nề. Tuy đã kết thúc chiến tranh nhưng đất đai Đại Việt bị nước Tống chiếm đóng một phần. Vậy nên chiến thắng của Đại Việt vẫn chưa trọn vẹn. Lý Thường Kiệt trong năm 1077 vẫn đóng quân ở biên giới, chiếm lại các vùng đất đã mất. Lần lượt các châu động trở về với Đại Việt bằng con đường vũ lực. Duy chỉ còn châu Quảng Nguyên là khó có thể dùng quân đánh chiếm bới quân Tống dồn về đây dựng lên những cứ điểm kiên cố. Lý Thường Kiệt đóng quân uy hiếp quân Tống ở châu Quảng Nguyên. Cùng với đó là chính sách đòi đất bằng ngoại giao của triều đình Đại Việt.

Đối với việc ngoại giao với nước Tống, triều đình ta luôn tỏ vẻ khiêm nhường, chấp nhận coi Tống là một nước lớn, mình là nước nhỏ. Nhưng thái độ với đất đai lãnh thổ, nước ta lại rất cương quyết. Mùa xuân năm 1078, sứ bộ Đại Việt do sứ thần Đào Tông Nguyên sang Tống điều đình đòi lại Quảng Nguyên và những tù binh bị Tống bắt. Đại Việt tặng Tống 5 con voi thuần, hứa trả lại các tù binh Tống đã bị bắt trong chiến tranh. Châu Quảng Nguyên trong mắt người Tống là một món lợi bởi ở đây bấy giờ có mỏ vàng. Tuy nhiên sau một thời gian chiếm đóng, nước Tống đã nhận ra việc chiếm giữ vùng này lại hại nhiều hơn lợi. Bởi vì đóng ít quân thì tất quân ta sẽ dễ dàng chiếm lại như các châu Quang Lang, Tô Mậu, Tư Lang mà đóng nhiều quân thì phí tổn lại cao. Châu Quảng Nguyên đối với dân khê động Đại Việt là đất lành, nhưng đối với dân Tống thì lại là đất dữ. Quân Tống đóng giữ tại đây không quen thổ nhưỡng, chết lần chết mòn, hết lớp này đến lớp khác thay thế.

Quân Tống hễ ai có lệnh gọi đi thú ở Quảng Nguyên thì từ biệt vợ con như là đi chết, lính Quảng Nguyên đào ngũ rất nhiều. Tống triều đã chán ngán đất Quảng Nguyên nhưng vẫn không thể vô cớ trả đất, vì sẽ mất thể diện thêm. Nay nhân việc Đại Việt cử sứ giả sang, vua Tống nhanh chóng nhận lời trả đất. Vua Tống nói với những quan lại còn luyến tiếc: “Vì Càn Đức đã phạm thuận, ta mới sai quân đi hỏi tội. Quách Quì đã không đánh lấy được kinh đô nó. Mà nay, Thuận Châu (tên mà Tống đặt cho Quảng Nguyên sau khi chiếm đóng) là đất lam chướng. Triều đình được đất ấy cũng chưa có lợi. Lẽ nào lại còn tự mình xua thú binh vào nơi nước độc. Một người bị chết, Trẫm còn thương xót huống chi mười người chết mất năm sáu”. Những người Tống không hiểu chuyện, vì tiếc nguồn lợi mỏ vàng ở Quảng Nguyên mà đi làm thơ mỉa mai triều đình Tống :

“Vì tham voi Giao Chỉ

Bỏ mất vàng Quảng Nguyên”.

Quốc Huy/Một Thế Giới

Cuộc chiến chống liên minh Tống, Chiêm, Khmer – Kỳ 16 : Quân Đại Việt vượt sông quyết chiến, kết thúc trận Như Nguyệt

Cuộc chiến chống liên minh Tống, Chiêm, Khmer – Kỳ 16 : Quân Đại Việt vượt sông quyết chiến, kết thúc trận Như Nguyệt

Từ khi Quách Quỳ đem quân Tống vượt biên ải, chỉ trong vòng 10 ngày đã tiến đến bờ bắc sông Phú Lương. Vua Tống Thần Tông ban đầu nghe tin báo về trong bụng lấy làm vui mừng, đích thân lấy bản đồ mà chỉ dẫn cho các quan lại Tống triều biết về đường tiến của quân Tống. Thế nhưng niềm vui của vua Tống là quá sớm và cũng nhanh chóng bị dập tắt. Kể từ khi quân Tống bị chặn lại ở bến Như Nguyệt, ngày này qua ngày khác tin tức báo về triều Tống là quân của Quách Quỳ vẫn chôn chân tại chỗ, tiến công đều bị thất bại và chịu tổn thất. Vua Tống rất nóng lòng, sai phát thẻ bài đặc biệt cho lính đưa thư để đi qua các dịch trạm không phải dừng, hàng ngày báo quân tin liên tục về triều đình.

Quách Quỳ biết rằng thế phòng thủ ở bờ nam Như Nguyệt rất vững chắc nên sau hai lần vượt sông thất bại, y nhất quyết án binh bất động. Quách Quỳ bàn với các thuộc hạ giả cách lơ là, nhử quân Đại Việt sang đánh. Nhưng kế này đã bị Lý Thường Kiệt biết thừa. Vì thế, thay vì tung quân đánh lớn, quân Đại Việt chỉ cho thủy quân xuôi dòng sông Phú Lương đánh nhử và quấy rối quân Tống. Lúc này thì quân Tống lại phải căng sức ra để tuần ra dọc sông, đặt máy bắn đá bắn các thuyền chiến Đại Việt và bắn sang bờ nam. Quân Đại Việt thấy vậy cũng án binh bất động, giữ kỹ chiến tuyến. Chiến cuộc cứ thế kéo dài gần hai tháng trời. Lúc này thì quân Tống không cần phải giả yếu, mà đã yếu thật. Tình trạng thiếu lương thực, thuốc men, không hợp thủy thổ đã làm suy sút tinh thần và và sức chiến đấu của quân Tống rất nhiều. Nắm được thời cơ đó nên vào cuối tháng 2.1077, Lý Thường Kiệt quyết định chủ động tấn công.

Mở màn cuộc tấn công, 400 chiến thuyền chở 2 vạn thủy quân Đại Việt dưới trướng của Hoằng Chân, Chiêu Văn từ căn cứ Vạn Xuân được lệnh xuất kích, tấn công quân Tống từ hướng đông. Đại doanh quân Tống lúc này có khoảng hơn 5 vạn quân. Cuộc tấn công của thủy quân Vạn Xuân là đòn nghi binh, theo kế dương đông kích tây mà Lý Thường Kiệt vạch ra. Tuy vậy cuộc tấn công này không chỉ là đòn hư, mà là một đòn tấn công thực sự mạnh mẽ. Thủy quân Đại Việt đổ bộ lên chân núi Nham Biền, đẩy lui 5.000 kỵ binh địch đóng tại đây.

Sau khi chiếm được núi Nham Biền, quân đổ bộ Đại Việt từ trên núi đánh xuống thật mạnh vào đại doanh của Quách Quỳ. Lớp lớp quân đổ bộ Đại Việt đánh tràn vào khu trung tâm căn cứ của Quách Quỳ, chọc thủng mấy hàng phòng thủ ngoại vi. Quách Quỳ đều toàn bộ các tướng kỵ binh còn lại tung vào trận. Kỵ binh Tống mang sang nước ta chừng 1 vạn, thì nay còn lại 7.000 quân kỵ đều tham chiến. Những tướng giỏi nhất của Tống là Yên Đạt, Tu Kỷ, Nhâm Khởi, Thế Cự, Vương Mãn, Lý Trường, Điền Chưng… đều ra sức chiến đấu.

Một trận giao tranh đẫm máu diễn ra, hai bên đều thương vong lớn. Một phần quân Tống từ hướng bản doanh của tướng Triệu Tiết và quân các cụm trung gian nằm giữa hai khối quân của Quách Quỳ, Triệu Tiết cũng được điều động sang tiếp viện. Trước sức mạnh của kỵ binh Tống, thủy quân Đại Việt vốn có khả năng đánh bộ yếu hơn, dần yếu thế. Nhận thấy cuộc tấn công đã gây nhiều thiệt hại và xáo trộn cho địch, hoàn thành nhiệm vụ nghi binh và tiêu hao, thủy quân Đại Việt rút lui. Quân Tống dùng máy bắn đá bắn với theo thuyền, làm cho quân ta thiệt hại rất nhiều. Hàng ngàn quân Đại Việt tử trận trong cuộc tấn công này, trong đó có cả hai hoàng thân Hoằng Chân, Chiêu Văn. Hoằng Chân, Chiêu Văn xuất hiện trong sử sách luôn luôn sóng đôi với nhau.

Hai vị này đều là con trai của vua Lý Thái Tông, em trai của vua Lý Thánh Tông và là chú ruột của vua Lý Nhân Tông thời bấy giờ. Hai ông dù địa vị hoàng thất mà không ngại xông pha đầu trận tuyến, xả thân vì đại cuộc, đến đây thì tử trận. Đội thân binh 500 người dưới trướng Hoằng Chân cảm khái trước sự hy sinh của chủ tướng, thà chết không chịu rời thuyền, chiến đấu đến cùng. Mặc cho thuyền bị quân Tống bắn chìm, tay cầm kim bài mà chết theo chủ tướng. Thủy quân đổ bộ Đại Việt còn lại hơn 1 vạn, giong thuyền rút lui an toàn.

Đòn tấn công của thủy quân Đại Việt tuy rất mạnh nhưng chỉ là đòn nghi binh. Trong lúc bố trí lực lượng của quân Tống bị xáo trộn do cuộc tấn công của thủy quân, lợi dụng trời tối Lý Thường Kiệt tung quân đánh đòn quyết định. Toàn bộ 4 vạn quân còn lại ở phòng tuyến Như Nguyệt do đích thân Lý Thường Kiệt chỉ huy chớp thời cơ đang đêm dùng thuyền vượt sông đánh thẳng vào doanh trại của tướng Triệu Tiết. Lực lượng tại doanh trại của Triệu Tiết lúc này còn khoảng trên 3 vạn quân nhưng sức chiến đấu đã suy giảm nhiều. Quân trong doanh Triệu Tiết đã yếu, quân ở các cụm trung gian gần đó lại đã điều sang tiếp viện cho đại doanh của Quách Quỳ nên gần như cụm quân của Triệu Tiết bị cô lập.

Quân Đại Việt hừng hực khí thế, thình lình tiến công khiến cho quân tướng trong doanh của Triệu Tiết vô cùng bất ngờ, trở tay không kịp. Quân Đại Việt dưới sự chỉ huy trực tiếp của Lý Thường Kiệt nhanh chóng làm chủ hoàn toàn trận địa, thả sức chém giết quân Tống. Hầu như toàn bộ quân trong doanh trại của Triệu Tiết bị tiêu diệt. Tiết cùng một số ít tàn quân chạy thục mạng về đại doanh của Quách Quỳ. Toàn cục trận chiến kép, quân Tống ở cả doanh trại Triệu Tiết và đại doanh của Quách Quỳ tổng số chết đến gần 5 vạn quân. Cộng với quân số đã hao hụt từ trước đó, Quách Quỳ còn trong tay không tới 4 vạn quân mà một số lớn là mệt mỏi ốm yếu. Về phía quân Đại Việt, trải qua giao chiến quân số ở toàn chiến tuyến Như Nguyệt vẫn còn hơn 5 vạn quân, lại hoàn toàn khỏe mạnh nhờ hậu cần đầy đủ.

Quân Đại Việt chiếm lĩnh doanh trại của Triệu Tiết, đối trận ngay tại bờ bắc Như Nguyệt với khối quân mệt mỏi của Quách Quỳ. Dưới sông thủy quân Đại Việt vẫn còn một lực lượng đáng kể dù cho mất đi hai vị hoàng thân Hoằng Chân, Chiêu Văn cùng hàng ngàn quân trong đợt tấn công vào đại doanh Quách Quỳ. Thế và lực hoàn toàn thuận lợi cho quân ta.

Lúc này, quân Đại Việt hoàn toàn có thể thừa thắng dứt điểm luôn số quân tướng còn lại của quân Tống. Nhưng rõ ràng là bấy giờ Đại Việt không chỉ phải đối phó với một kẻ thù. Từ phương nam, đầu năm 1077 liên quân Chiêm Thành – Chân Lạp do đích thân vua Harivarman IV của nước Chiêm Thành trực tiếp chỉ huy cũng đã bắt đầu tấn công Đại Việt. Hiện tại, sử liệu về mặt trận phía nam quá khiêm tốn để có thể miêu tả chi tiết. Nước Chiêm Thành, Chân Lạp thời này do những hạn chế về hệ thống nhà nước, hậu cần tương đối kém so với nước Tống nên thường khó mà huy động những lực lượng viễn chinh lớn.

Quân số của liên quân Chiêm Thành – Chân Lạp cộng lại ước chừng dao động từ 1 – 2 vạn quân, trong đó có 7.000 thủy quân Chiêm Thành. Liên quân Chiêm Thành – Chân Lạp đã tiến chiếm được các châu Minh Linh, Bố Chính, Lâm Bình. Binh lực Đại Việt ở đây khá mỏng nên chỉ trong thời gian ngắn đã không giữ nổi. Quân của hai nước Chiêm Thành – Chân Lạp tràn vào Nghệ An, Diễn Châu. Chiến sự tại những nơi này đã diễn ra khá gay gắt, tin tức chiến trường từ phía nam liên tục báo về triều đình nhà Lý. Quân Đại Việt tại vùng Diễn Châu, Nghệ An gồm có lộ quân (quân địa phương tại các châu, phủ) làm nòng cốt, dân quân (dân trong làng, xã sung quân), cùng với hàng ngàn tù binh Tống bị bắt trong chiến dịch phạt Tống 1076 bị ép sung quân.

Hiển nhiên với lực lượng như thế thì phía Đại Việt chỉ có thể giữ thế phòng thủ để kéo dài thời gian. Tại Chân Lạp, vua Harshavarman III lại chuẩn bị một đạo quân thứ hai gởi sang Chiêm Thành, dự tính sẽ theo đường biển tiếp viện cho liên quân đang tấn công Đại Việt. Chiến sự phía nam đòi hỏi Lý Thường Kiệt phải có một giải pháp vừa nhanh gọn với quân Tống, vừa phải bảo toàn được quân lực để bảo vệ đất nước.

Bấy giờ tuy quân Tống đã khốn quẫn, nhưng nếu bị tấn công rất có thể sẽ tử chiến đến cùng trong thế không còn đường lui. Như vậy sẽ khó tránh đổ máu lớn cho quân Đại Việt để giành phần thắng trọn vẹn. Lý Thường Kiệt hiểu rằng, Đại Việt so với Tống thời bấy giờ là một nước nhỏ hơn hàng chục lần, nếu chiến tranh liên miên ắt khó tránh được nhiều tang thương. Thêm nữa, mối đe dọa của Đại Việt không chỉ có một mình nước Tống. Chiêm Thành, Chân Lạp quốc lực cũng không đến nỗi quá thua kém Đại Việt, có thể thừa cơ đánh úp bất cứ lúc nào. Trước tình hình trên, Lý Thường Kiệt đã chủ động cho sứ giả sang trại của quân Tống để “xin hòa”.

Cuộc chiến chống liên minh Tống, Chiêm, Khmer – Kỳ 15 : Thân Cảnh Phúc dùng kỳ binh, quân Tống thiếu lương thực

Cuộc chiến chống liên minh Tống, Chiêm, Khmer – Kỳ 15 : Thân Cảnh Phúc dùng kỳ binh, quân Tống thiếu lương thực

Phò mã Thân Cảnh Phúc, biệt hiệu Phò mã áo chàm là tù trưởng động Giáp. Dòng dõi họ Thân nhiều đời hưởng tước lộc của triều đình nhà Lý, được phong làm tri châu Quang Lang. Ba đời dòng họ Thân đều là phò mã của triều Lý. Tù trưởng Thân Thừa Quý lấy công chúa con vua Lý Thái Tổ. Tù trưởng Thân Thiệu Thái con của Thân Thừa Quý lấy công chúa Bình Dương của vua Lý Thái Tông năm 1029. Tù trưởng Thân Cảnh Phúc, con trai Thân Thiệu Thái lấy công chúa Thiên Thành của vua Lý Thánh Tông năm 1066. Nhờ có mối quan hệ thông gia và họ hàng khăng khít như thế, phò mã Thân Cảnh Phúc một mực trung thành với triều đình Đại Việt. Khi quân Tống tràn sang vùng biên ải, hầu hết các tù trưởng vùng khê động phía bắc Đại Việt phải đầu hàng trước sức mạnh quân sự và sự dụ dỗ của Tống.

Thân Cảnh Phúc là số ít những người còn lại vẫn kiên trì chiến đấu. Thân Cảnh Phúc có trên 5.000 quân bản bộ, các đánh giá của nước Tống đều xếp Thân Cảnh Phúc, Lưu Kỷ, Tông Đản là ba nhân vật đáng gờm nhất trong số các tù trưởng khê động phía Đại Việt. Quân của Thân Cảnh Phúc đa phần là giáo binh miền sơn cước, thiện dụng cách chiến đấu nơi rừng núi, giỏi mai phục, đặt bẫy và chiến đấu ở đường hẹp. Các chiến binh này không hề thua kém quân của triều đình nhà Lý cũng như tinh tinh nước Tống về chất lượng. Họ thực sự rất thiện chiến, nhất là khi được chiến đấu trên chiến trường quen thuộc. Thân Cảnh Phúc còn được sự hỗ trợ của quân triều đình cùng đội tượng binh trong cuộc chiến giữ các cửa ải.

Đầu năm 1077, khi Thân Cảnh Phúc đặt phục binh ở ải Giáp Khẩu, bị Quách Quỳ đi đường vòng đánh bọc hậu nên buộc lòng phải lui quân. Quách Quỳ dự tính sẽ cố gắng đánh nhanh thắng nhanh, chiếm kinh đô Thăng Long và tiêu diệt quân đội triều đình sớm thì mọi đạo quân khác của Đại Việt tất sẽ phải đầu hàng hoặc là bị tiêu diệt dễ dàng. Nhưng trong thực tế, phòng tuyến Như Nguyệt quả là quá lợi hại. Quân Tống chôn chân một chỗ hàng tháng trời, hậu cần dần thiếu hụt và binh lính dần yếu sức do không hợp thủy thổ. Quân Thân Cảnh Phúc về đến động Giáp, một bộ phận quân chính quy triều đình phải rút về phía nam để hội quân cùng phòng thủ chiến tuyến Như Nguyệt. Thân Cảnh Phúc tổ chức sơ tán lực lượng vào rừng núi, chỉ còn những người già yếu ở lại thôn làng. Với quân bản bộ của mình, Thân Cảnh Phúc chia làm các toán quân nhỏ, rình rập theo dọc đường tiếp tế của quân Tống mà chờ đợi thời cơ. Khi có quân Tống hay dân phu đi riêng lẻ, lập tức bị phục binh của Thân Cảnh Phúc bắt giết.

Cách đánh này, ngày ngay chúng ta quen gọi là chiến tranh du kích, tức là loại hình chiến tranh dựa vào ẩn náu và phục kích bằng lực lượng nhỏ gọn, không có chiến tuyến rõ ràng. Tuy nhiên, để chính xác thì quân Thân Cảnh Phúc dùng gọi là kỳ binh. Về cách đánh, kỳ binh cũng giống như du kích thời hiện đại là lấy chiến thuật phục kích, ẩn náu làm căn bản. Kỳ binh cũng dùng các lực lượng nhỏ, đánh nhanh rút gọn. Điểm khác biệt căn bản giữa hai loại hình khiến ta phải phân biệt chính là kỳ binh tuy chia nhỏ nhưng vẫn có đội ngũ, có tổ chức theo kiểu quân đội thông thường. Du kích thì có thể ở lẫn trong dân vùng địch chiếm, có thể chiến đấu riêng lẻ và khi cần thiết mới tập họp thành đội ngũ. Kỳ binh của Thân Cảnh Phúc lấy núi rừng động Giáp làm căn cứ địa, hoạt động mạnh khắp vùng Lạng Châu. Vùng này nằm trên tuyến đường Thiên lý nối liền từ địa giới nước Tống thẳng tới Thăng Long.

Để vận chuyển lương thực, thuốc men, vũ khí thì dân phu của Tống nhất định phải đi qua. Chiến sự kéo dài và sự quấy rối của quân Thân Cảnh Phúc khiến cho quân Tống vô cùng khốn đốn. Sử nước Tống mô tả Thân Cảnh Phúc: “Quân Tống thừa thắng chiếm châu Quang Lang (Lạng Châu), viên Tri châu là con rể nhà vua, bèn trốn vào trong đám cỏ, thấy quân Tống thì ra giết chết hoặc bắt về xẻo thịt ăn. Người ta cho là vị Thiên thần”. Quân Tống phải cắt lính từ chiến tuyến bờ bắc Như Nguyệt ngược lên vùng Lạng Châu để đối phó với Thân Cảnh Phúc, bảo vệ tuyến hậu cần. Dân phu làm nhiệm vụ vận chuyển cũng phải căng mình ra chiến đấu cùng binh sĩ Tống.

Thân Cảnh Phúc thừa thế, càng tung quân hoạt động rộng khắp tới cả vùng Bắc Giang, uy hiếp cả mặt lưng khối đại quân của Quách Quỳ. Tại đây vùng Bắc Giang, ông gặp phải những lực lượng lớn của quân Tống, dẫn đến giao tranh ác liệt. Trong một trận chiến tại Lục Ngạn (Bắc Giang), Thân Cảnh Phúc chẳng may tử trận.

Phò mã áo chàm Thân Cảnh Phúc ngã xuống, nhưng cuộc chiến đấu của ông vẫn được tiếp tục bởi các lực lượng người dân tộc thiểu số châu mục. Thành quả cuộc chiến tiêu hao mà Thân Cảnh Phúc là người khởi đầu và lãnh đạo rất lớn. 20 vạn dân phu Tống chịu không nổi cực khổ, lại bị phục giết thường xuyên sau gần hai tháng trời đã chết đến quá nửa. Số dân phu còn lại vật vờ gồng mình làm việc quá sức, phần lớn cũng bị bệnh tật, ốm yếu. Hậu quả là đại quân của Quách Quỳ đóng ở bờ bắc bến Như Nguyệt bị cạn lương thảo. Từng xuất ăn của quân Tống bị cắt bớt trầm trọng, thuốc thang chữa bệnh thiếu thốn dẫn đến sức chiến đấu suy giảm mạnh. Quân Tống lúc kéo sang có 10 vạn, lúc hội quân ở bến Như Nguyệt còn hơn 9 vạn. Sau khi giao chiến với quân giữ phòng tuyến thì quân Tống hao hụt còn lại hơn 8 vạn. Tuy quân số còn đông như thế, nhưng số quân khỏe mạnh chỉ còn hơn một nửa. Số quân Tống còn lại bị bệnh tật hoặc suy nhược, hiệu quả chiến đấu kém đi nhiều. Thậm chí có những quân lính Tống chết vì bệnh tật đói khát. Sử sách nước Tống, cũng như các lời tâu trình của tướng lĩnh Tống về nước cũng phải thừa nhận tình cảnh bi đát mà quân Tống phải chịu. Nhưng họ không dám nói thẳng nguyên do mà nói tránh, đổ hết tại “nóng nực, lam chướng”.

Đó là cách mà sử sách các triều đại Trung Hoa vẫn dùng để lý giải cho các thất bại quân sự ở nước ngoài. Thực sự thì, quân Tống lâm vào tình cảnh khốn đốn nguyên do chính là vì thiếu lương thực và thuốc men, mà thiếu lương thực thuốc men là do dân phu bị chết mòn. Dân phu Tống là những dân phía nam nước Tống, quen với thủy thổ hơn là binh lính chiến đấu nhưng lại chết nhiều một phần cũng do lao lực, nhưng phần nhiều là do bị Thân Cảnh Phúc và các đội kỳ binh đánh giết. Chiến công này của Thân Cảnh Phúc và quân dân vùng biên thùy phía bắc góp phần quan trọng vào cuộc chiến. Nhờ vào đó, Thái úy Lý Thường Kiệt có đủ điều kiện để sớm tung ra những đòn kết liễu quân Tống, trước khi liên quân Chiêm Thành và quân Khmer kịp đánh tới từ phía nam.

( còn tiếp )

Quốc Huy/Một Thế Giới

Cuộc chiến chống liên minh Tống, Chiêm, Khmer – Kỳ 14 : Chiến tuyến Như Nguyệt trước sức tấn công của quân Tống

Cuộc chiến chống liên minh Tống, Chiêm, Khmer – Kỳ 14 : Chiến tuyến Như Nguyệt trước sức tấn công của quân Tống

Quách Quỳ không phải là nhân vật tầm thường mà là một danh tướng rất lão luyện. Chỉ với việc trong vòng 10 ngày vượt qua được các tuyến phòng thủ mạnh của Đại Việt ở biên giới, đi đường vòng vượt qua cửa ải Giáp Khẩu, khuất phục Lưu Kỷ, chiêu hàng một loạt các tù trưởng cũng chứng tỏ bản lĩnh của viên tướng này. Chẳng những thế, nhiều tướng sĩ dưới trướng trong đội quân xâm lược Đại Việt là tinh hoa của quân Tống. Bấy giờ, Quách Quỳ vượt ngàn dặm đến gần sát Thăng Long, thì gặp phải trước mặt là trùng trùng chiến lũy, sông lớn ngăn cách. Chiến tuyến Như Nguyệt như một tấm khiên vững chắc chặn ngang mũi giáo của quân địch, che chở cho trung châu Đại Việt.

Quân Tống chia quân lập trại ngay bờ bắc bến Như Nguyệt, tạo thành những cụm quân lớn liên hoàn. Có hai khối quân chính yếu là tổng trại của Quách Quỳ và trại của Triệu Tiết. Trại quân Tống bố trí theo hình tròn, rìa ngoài là quân canh giữ, bên trong là lực lượng tinh binh làm trù bị. Chính giữa đoạn đường nối hai trại của Quách Quỳ và Triệu Tiết là một cụm quân trung gian, và dọc theo đoạn đường giữa hai trại là hàng loạt các khối quân nhỏ nữa. Xung quanh mỗi trại, là các cụm quân làm vệ tinh.

Ban đầu, Quách Quỳ định chờ đợi thủy quân Tống tới để phối hợp vượt sông nhưng rất nhanh sau đó, kế hoạch đã được sắp xếp lại. Châu mục Hoàng Kim Mãn, trước là tri châu Môn phía Đại Việt, nay hàng Tống và làm hướng đạo đã chỉ điểm cho giặc một lối thuận tiện để bộ binh vượt sông. Tướng giặc Miêu Lý cùng thuộc hạ đến nơi quan sát sang bờ nam thấy vắng bóng quân Đại Việt, tâu với chủ tướng Quách Quỳ rằng : “Giặc đã trốn đi rồi. Xin cho quân qua sông”. Đầu tháng 2.1077, Quách Quỳ liền hạ lệnh cho quân lính nhân đêm tối gấp rút dùng gỗ bắc cầu phao vượt sông. Kỹ thuật bắc cầu phao gỗ là một trong những phát minh quân sự đắt giá của Tống thời bấy giờ. Đến sáng thì cầu phao bắt xong, đội tiên phong Tống do tướng Miêu Lý chỉ huy ào ào vượt sông, tiến sâu vào bờ phía nam, tướng Vương Tiến cầm quân chốt giữ ngay đầu cầu đón đại quân Tống tràn sang chi viện. Quân Tống quyết liệt đánh gấp vì ngại rằng thủy quân ta sẽ kịp kéo tới phá cầu.

Tưởng chừng như quân Tống đã xuyên thủng được phòng tuyến cuối cùng của Đại Việt, thì đến vùng Yên Phụ, tiên phong quân Tống gặp phục binh quân ta thình lình nổi lên đánh giết dữ dội. Các tốp quân Tống nối đuôi phía sau cũng bị quân Đại Việt tấn công tạt sườn. Đội hình quân Tống bị xé đứt thành từng đoạn, sang bao nhiêu bị giết bấy nhiêu nên phải rút chạy về bờ bắc. Quân tiên phong của Miêu Lý trở nên cô thế chống cự không nổi, bị vây kín bốn mặt. Miêu Lý cùng quân sĩ đạo tiên phong dưới trướng liều chết rút về hướng cầu phao thì cầu đã bị tướng Vương Tiến chặt đứt vì sợ quân Đại Việt tràn qua bờ bắc, chúng rơi vào cảnh tiến thoát lưỡng nan, bị giết đến quá nửa và bị đẩy xuống sông chết đuối. Số tàn quân còn lại một phần được bè của quân Tống bờ bắc chèo sang cứu về, số khác may mắn bơi về được bờ bắc. Tướng Miêu Lý thoát chết nhờ nhảy được lên thuyền nhỏ chèo về bờ bắc.

Đợt vượt sông đầu tiên thất bại thảm hại do mắc bẫy mai phục của Lý Thường Kiệt, Quách Quỳ lại muốn chờ đợi thủy quân tới phối hợp. Nhưng đợi mãi chẳng thấy bóng thủy quân Tống đâu, kể từ khi quân của Quách Quỳ tiến tới được bến Như Nguyệt 18.1.1077, quân Tống đã trải qua cả tháng trời dẫm chân tại chỗ. Quân Tống bấy giờ đã quá xa hậu phương, tải lương đi ngàn dặm, hậu cần dần trở nên thiếu thốn. Vì vậy, Quách Quỳ phải tính kế vượt sông lần thứ hai. Quân Tống điều động phu phen đốn gỗ kết thành những chiếc bè khổng lồ, mỗi chiếc chở được đến hơn 500 quân cùng đầy đủ vũ khí trang bị. Chuẩn bị xong, quân Tống ồ ạt vượt sông bằng bè. Các toán quân Tống đổ bộ lên bờ lập tức dùng hỏa khí đốt phá chông tre và chiến lũy phía Đại Việt, và dùng gươm đao chặt phá chiến lũy. Tuy nhiên những trò này chẳng ăn thua gì, quân Đại Việt bình tĩnh dựa vào chiến lũy mà phòng thủ vô cùng hiệu quả. Quân Tống sang bè nào thì bị giết sạch bè nấy, cứ thế lớp này đến lớp khác, thiệt hại đến gần vạn quân. Quách Quỳ đành phải ngậm ngùi hạ lệnh thu quân. Cuộc vượt sông lần thứ hai của quân Tống thất bại hoàn toàn.

Hai bên ghìm nhau ở đôi bờ sông. Đêm đêm, Lý Thường Kiệt ngầm sai người vào đền Trương Hống, Trương Hát ngâm vang bài thơ :

Nam quốc sơn hà nam đế cư

Tuyệt nhiên định phận tại thiên thư

Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm

Nhữ đẳng hành khan hủ bại hư

Giọng thơ đọc ngân vang rùng rợn như tiếng quỷ thần, khích lệ sĩ khí quân Đại Việt lên cao tột độ, và làm cho quân Tống nghi hoặc hoang mang. Đó là đòn tâm lý chiến mà Lý Thường Kiệt đã dùng để vừa nâng cao tinh thần quân ta, vừa uy hiếp tinh thần quân địch.

Quách Quỳ sau hai lần vượt sông thất bại, đành thôi không tổ chức vượt sông nữa. Quân Tống sai quân đốn gỗ, làm máy bắn đá bắn phá các chiến lũy và thuyền chiến Đại Việt đậu ở bờ nam. Quân Đại Việt cũng có máy bắn đá nhưng không bắn xa được tới bờ bắc. Tuy nhiên, việc dùng máy bắn đá bắn phá của quân Tống cũng không gây thiệt hại đáng kể cho quân Đại Việt do mật độ quá thưa thớt. Quách Quỳ hạ lệnh “ai bàn đánh sẽ chém”. Lý Thường Kiệt nhiều bận khiêu chiến nhưng quân Tống cũng không sang đánh. Thủy quân Đại Việt thi thoảng xuôi dòng sông đánh phá rồi lại rút đi. Có lúc thấy thủy quân Đại Việt từ Vạn Xuân xuôi dòng tiến tới, quân Tống lại tưởng là thủy quân phe mình. Đến khi lại gần chúng mới nhận ra là quân ta đến đánh. Thủy quân Đại Việt vừa tấn công vừa ra sức quát tháo mắng chửi để chọc tức, khích quân Tống sang sông.

Quân Tống chia quân giữ kỹ bờ, đặt máy bắn đá phòng thủ, thủy quân ta không làm gì được nhiều. Chiến sự Như Nguyệt cứ thế kéo dài chậm chạp, thủy quân mà Quách Quỳ trông ngóng mãi vẫn không thấy tới. Quân Tống không biết rằng cánh thủy quân của Dương Tùng Tiên đã hoàn toàn thất thế và vô vọng trước thủy quân của Lý Kế Nguyên. Càng ở lâu, điểm yếu về hậu cần và không hợp thủy thổ của quân Tống càng hiện ra rõ nét. Vùng bắc ngạn sông Cầu thời bấy giờ là vùng thưa thớt, quân Tống không thể cướp phá được lương thực mà phải phụ thuộc hoàn toàn vào sự vận chuyển của phu dịch. Dân phu ngoài việc vận chuyển lương thực cho quân lính thì lại phải mang theo số lương thực để nuôi sống chính bản thân mình. Vì vậy mà việc vận lương trở nên vô cùng khó khăn cho quân Tống.

Theo tính toán ban đầu khi chuẩn bị xâm lược, người Tống tính ra phải có 40 vạn dân phu. Tuy nhiên cố gắng lắm Tống chỉ điều động được 20 vạn phu. Nay số phu này phải gồng mình làm việc, bị chết dần do kiệt sức. Hễ có dân phu chết, thì số sống còn lại phải làm luôn việc của người đã chết nhằm đảm bảo hậu cần cho đại quân Tống. Trong hoàn cảnh đó, các đội quân của phò mã Thân Cảnh Phúc vốn chưa bị đánh tan lại hoạt động mạnh ở vùng hậu tuyến giặc, khoét sâu vào điểm yếu của chúng. Quân Tống đóng lâu ngày ở Như Nguyệt, sức chiến đấu cứ yếu dần.

Quốc Huy/Một Thế Giới