Kháng chiến chống Nguyên Mông lần 3 – Kỳ 2 : Hốt Tất Liệt quyết đánh Đại Việt, bất chấp nỗi khổ của thần dân

Kháng chiến chống Nguyên Mông lần 3 – Kỳ 2 : Hốt Tất Liệt quyết đánh Đại Việt, bất chấp nỗi khổ của thần dân

Nguyên Mông chuẩn bị xâm lược trong bối cảnh khó khăn hơn lần xâm lược trước. Ở các vùng phía nam nước Nguyên, việc lao dịch, bắt lính, vơ vét thuế má, lương thực đã khiến cho dân chúng nhiều nơi lâm vào cảnh khốn cùng, rủ nhau phất cờ khởi nghĩa. Quân đội nhà Nguyên hùng mạnh, tạm thời vẫn làm chủ tình hình nhưng việc này đã khiến cho quá trình chuẩn bị xâm lược Đại Việt gặp trở ngại lớn. Một số quan lại địa phương nước Nguyên còn có lòng thương dân, liên tiếp tâu trình xin Hốt Tất Liệt giãn tiến độ chuẩn bị. Khoảng tháng 7.1285, Tuyên úy ti Hồ Nam đã dâng sớ xin Hốt Tất Liệt hoãn binh:

“Luôn năm đánh Nhật Bản và dùng binh ở Chiêm Thành, trăm họ phục dịch vận chuyển rất vất vả cực nhọc, quân sĩ mắc phải chướng lệ chết rất nhiều. Dân chúng kêu than, tứ dân bỏ nghiệp. Người nghèo phải bỏ con để cầu sống, kẻ giàu phải bán sản nghiệp để ứng dịch. Nỗi khổ như bị treo ngược, mỗi ngày một tăng. Nay lại có việc đánh Giao Chỉ, điều động đến trăm vạn người (1), tiêu phí đến nghìn vàng, đó chẳng phải là việc để thương sĩ dân. Vả lại trong lúc cử động, lợi hại không phải chỉ là một. Lại thêm nữa, Giao Chỉ vẫn thường sai sứ dâng biểu xưng phiên thần. Nếu theo lời xin để phục hồi sức dân thì là kế hay nhất. Nếu không được thì nên nới phú thuế cho trăm họ, chứa lương thực, sắm giáp binh, đợi đến năm sau thiên thời địa lợi tất hơn chút nữa hãy cất quân cũng chưa muộn”.

Hành tỉnh Hồ Quảng là Tuyến Kha (Sanag) đem sớ vào triều còn nói thêm: “Tỉnh tôi trấn giữ hơn 70 sở, luôn năm chinh chiến, quân sĩ tinh nhuệ đều mệt nhọc ở ngoài, kẻ còn lại đều già yếu, mỗi thành ấp nhiều không quá hai trăm quân, trộm nghĩ rằng sợ kẻ gian dò xét được tình hình đó. Năm ngoái bình chương A Lý Hải Nha xuất chinh, thu 3 vạn thạch lương, dân còn kêu khổ. Nay lại thu gấp bội số đó, quan không có tích trữ, còn mua ở trong dân, trăm họ sẽ khốn khổ khôn xiết. Nên theo lời của tuyên úy ti, xin hoãn quân đánh phương Nam”.

Ngay trong triều đình trung ương nước Nguyên cũng có người không mong muốn việc khởi binh đánh Đại Việt. Lễ bộ thượng thư nước Nguyên là Lưu Tuyên tâu xin Hốt Tất Liệt nên đàm phán với Đại Việt, tránh nạn binh đao:

“Luôn năm đánh Nhật Bản, trăm họ sầu oán, quan phủ nhiễu nhương. Mùa xuân năm nay bãi binh, quân dân Giang Chiết reo mừng như sấm. An Nam là nước nhỏ, thần phục đã bao năm, tuế cống chưa từng sai hạn. Vì tướng ở biên sinh sự hưng binh, nên kẻ kia trốn tránh ra hải đảo, khiến cất đại quân đi mà không được công trạng gì, tướng sĩ lại bị thương tổn. Nay lại hạ lệnh đi đánh nữa, ai nghe thấy cũng lo sợ. Từ xưa dấy quân, tất phải theo thiên thời. Ở vùng trung nguyên đất bằng còn phải tránh giữa mùa hạ. Giao Quảng là đất viêm chướng, khí độc hại người còn hơn là binh đao. Nay định tháng 7 họp các đạo quân ở Tĩnh Giang đến An Nam tất nhiều người mắc bệnh chết, lúc cần cấp gặp giặc biết lấy gì ứng phó. Ở Giao Chỉ lại không có lương, đường thủy khó đi, không có xe ngựa, trâu bò chuyên chở thì không thể tránh được vận chuyển đường bộ. Một người phu gánh 5 đấu gạo, đi về ăn hết một nửa, còn quan quân được một nửa. Nếu có 10 vạn thạch lương, dùng 40 vạn người cũng chỉ có thể có lương cho quân 1, 2 tháng. Chuyên chở, đóng thuyền, phục dịch việc quân phải dùng đến 5, 60 vạn người. Quảng Tây, Hồ Nam điều động nhiều lần, dân ly tán nhiều, lệnh cho cung dịch cũng không thể làm được. Huống chi Hồ Quảng rất gần khe động, trộm cướp thường nhiều, vạn nhất kẻ gian dò được, chờ đại quân một khi đi khỏi, thừa lúc bỏ không mà gây biến. Tuy có quân mã lưu lại nhưng là người già yếu mệt nhọc, khó bề ứng biến. Sao không cùng người hiểu biết sự thể trong quan quân bên kia mà bàn bạc phương lược vạn toàn. Nếu không thì sẽ giẫm vào vết xe cũ”.

Những lời can gián của Lưu Tuyên rất thấu tình đạt lý. Không chỉ viên quan này nghĩ cho nhân dân hai nước, mà thực sự lợi ích của Nguyên triều cũng được y phân tích rất chính xác. Bấy giờ miền nam nước Nguyên dân tình đã quá cơ cực, những hào kiệt chỉ chực chờ cơ hội để nổi dậy. Việc trọng đại của nước Nguyên bấy giờ là tạo phúc cho dân, thu phục lòng dân để có được căn cơ vững chắc. Hòa bình với Đại Việt sẽ giúp cho đôi bên cùng thắng. Hốt Tất Liệt dù rất nóng lòng tiến hành nam chinh, vẫn không thể bất chấp tất cả. Mặc dù không có lòng trắc ẩn thương dân đi chăng nữa, thì vua Nguyên cũng không thể không xét đến những nguy cơ. Bởi vậy, Hốt Tất Liệt sau khi suy xét đã một lần nữa hạ lệnh tạm hoãn việc xuất quân. Gươm đã tuốt khỏi vỏ lại phải tạm cất đi.

Nhưng Hốt Tất Liệt hẳn là không nghĩ giống như Lưu Tuyên. Tham vọng bành trướng và lòng hận thù của hắn vẫn còn đó. Khi mà khó khăn trong nước tạm thời dịu xuống, công cuộc chuẩn bị cho việc xâm lược Đại Việt lại được tiến hành mạnh mẽ. Việc chuẩn bị càng dời tiến độ, thì binh lực của đạo quân xâm lược càng to lớn hơn. Cuối năm 1286, ngựa chiến được cấp thêm cho Thoát Hoan. Chinh Giao Chỉ hành tỉnh được lập ra, giao cho A Bát Xích (Abaci) làm Hữu thừa. Tháng giêng năm 1287, Hốt Tất Liệt hạ lệnh điều động thêm quân lính. Gồm có 1.000 quân Tân Phụ (người Nam Tống cũ ), 7 vạn quân Mông Cổ và quân Hán (người nước Kim cũ), 6.000 quân Vân Nam (người nước Đại Lý cũ), 15.000 quân người Lê (đảo Hải Nam)… cùng với một số quân người Choang (người Âu Việt ở Quảng Tây). Số quân tăng thêm này cộng với những quân lính đã điều động từ trước và tàn quân của lần xâm lược trước chạy về, gộm chung toàn bộ đạo quân Nguyên xâm lược nước Đại Việt lần này theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư là 30 vạn quân. Một số tướng lĩnh cũng được tăng cường thêm dưới quyền Thoát Hoan là Ái Lỗ (Aruq), Tích Đô Nhi (Siktur), Trương Ngọc, Lưu Khuê …

Rút kinh nghiệm từ thất bại lần trước, quân Nguyên trang bị hai hạm thuyền lớn. Hạm đội tải lương dưới quyền của Trương Văn Hổ, chở theo 17 vạn thạch lương (có sách chép 70 vạn) để giúp đảm bảo hậu cần cho quân Nguyên, giảm bớt sự lệ thuộc vào việc tải lương đường bộ vốn rất khó khăn và tốn nhiều nhân lực. Hạm đội chiến đấu gồm có cả thảy hơn 600 chiến thuyền dưới quyền tổng chỉ huy của Ô Mã Nhi, với hàng vạn thủy quân tinh nhuệ nhất của nước Nguyên là những sắc quân người Lê đảo Hải Nam, quân Tân Phụ miền Giang Nam. Hạm đội của Ô Mã Nhi có nhiệm vụ đánh mở đường và hộ tống đoàn thuyền lương của Trương Văn Hổ, đồng thời sẽ là một lực lượng quan trọng để phá tan ưu thế thủy chiến của quân Đại Việt.

Cuối thu năm 1287, quân Nguyên đã tập kết thành ba khối quân. Khối đại quân do Thoát Hoan trực tiếp chỉ huy tập kết tại Quảng Tây. Khối quân ở Vân Nam dưới quyền tổng chỉ huy của Ái Lỗ là khối quân phối hợp. Khối thủy quân Nguyên dưới quyền của Ô Mã Nhi, Trương Văn Hổ tập kết ở Khâm Châu, sẵn sàng vượt biển tiến vào Đại Việt. Lần xâm lược này, quân Nguyên có tổng quân số ít hơn lần trước nhưng đặc biệt nguy hiểm là thủy quân của chúng được tăng cường mạnh mẽ hơn rõ rệt. Trong lần xâm lược trước, quân Nguyên cực mạnh về kỵ bộ nhưng cách điều quân của Đại Việt đã khiến cho nhiều lực lượng kỵ bộ của quân Nguyên trở thành “người thừa”. Trái lại, thủy quân tinh nhuệ là lực lượng mà quân Nguyên trong lần xâm lược năm 1285 rất cần nhưng lại thiếu thốn. Lần này, sức mạnh quân Nguyên cân đối hơn giữa thủy và bộ, lại chú trọng hậu cần hơn trước. Dù binh lực thủy bộ đều rất hùng hậu, Nguyên chủ Hốt Tất Liệt vẫn chưa hoàn toàn yên tâm. Gần sát ngày tiến quân, Hốt Tất Liệt ra chỉ dụ căn dặn các tướng : “Không được cho Giao Chỉ là nước nhỏ mà khinh thường”.

(1) : Tính cả quân chiến đấu và số người phu dịch, hậu cần.

(còn tiếp)

Quốc Huy/Một Thế Giới

Kháng chiến chống Nguyên Mông lần 3 – Kỳ 1 : Nguyên triều toan báo thù

Kháng chiến chống Nguyên Mông lần 3 – Kỳ 1 : Nguyên triều toan báo thù

Cuộc xâm lược Đại Việt năm 1285 thất bại đã khiến cho Nguyên Mông hao binh tổn tướng rất nhiều. Hàng chục vạn quân Nguyên, trong đó có nhiều tinh binh đã bỏ xác trên chiến trường Đại Việt. Ngay cả những danh tướng hàng đầu của nước Nguyên là Lý Hằng, Toa Đô cũng thiệt mạng trong tay quân dân Đại Việt. Quả là kết cuộc cay đắng cho cuộc viễn chinh mà Nguyên triều đã chuẩn bị rất kỹ lưỡng. Tuy nhiên, bất chấp thất bại tại chiến trường Đại Việt, đế chế Nguyên Mông vẫn đang ở trong thời kỳ sung mãn nhất dưới sự cai trị của Nguyên Thế Tổ Hốt Tất Liệt. Trong thời kỳ này, đế chế Nguyên Mông của Hốt Tất Liệt đã thừa hưởng những thành tựu văn minh tiên tiến nhất từ những đế chế cũ là Kim, Tống, Khwarem … Lãnh thổ Nguyên Mông rất rộng lớn bao gồm phần lớn lãnh thổ Trung Quốc, toàn bộ Mông Cổ, một phần miền nam nước Nga ngày nay. Vương quốc Cao Ly sau nhiều lần cố gắng chiến đấu bảo vệ nền độc lập, cuối cùng cũng phải chấp nhận trở thành nước phụ thuộc của Nguyên Mông. Đồng thời, ngoài đế quốc Nguyên Mông của Hốt Tất Liệt còn có các Hãn quốc của người Mông Cổ lập nên tại các vùng đông dân, giàu có ở khắp lục địa Á Âu tạo thành thế tựa lưng vào nhau giữa các Hãn quốc Mông Cổ. Vì vậy, Nguyên Mông hầu như không lo lắng đến việc bị xâm lược, càng tập trung vào mưu đồ bành trướng lãnh thổ.

Với khí thế đang lên, Nguyên chủ Hốt Tất Liệt không thể nuốt trôi nỗi nhục bại trận. Ngay từ khi mà cuộc chiến tranh đẫm máu vẫn chưa hoàn toàn kết thúc, một cuộc chiến tranh mới đã manh nha thành hình. Khi Thoát Hoan đang phải vất vả tìm đường tháo chạy khỏi Đại Việt, tin tức bại trận đã được tướng Đường Cổ Đái chạy trạm báo về triều đình Nguyên Mông. Ngày 9/7/1285, xa giá của hai vua Trần mới về lại Thăng Long thì ngày 21/8/1285 Khu mật viện nước Nguyên đã bàn việc nam chinh ngay trong năm 1285. Theo kế hoạch này, vào khoảng tháng 11/1285 quân Nguyên sẽ tổ chức tập kết tại Đàm Châu ( Hồ Nam ). Lực lượng bao gồm tàn quân mới bại trận ở Đại Việt chạy về, lại phái Áo Lỗ Xích điều động thêm quân Mông Cổ, các hành tỉnh Giang Hoài, Giang Tây, Kinh Hồ điều động thêm bộ binh người Hán ( miền bắc Trung Quốc ) và quân Tân phụ ( miền nam Trung Quốc ). Đạo quân mới sẽ vẫn nằm dưới quyền chỉ huy của Thoát Hoan và A Lý Hải Nha tiến đánh Đại Việt. Quần thần nước Nguyên muốn nhân lúc quân dân Đại Việt chưa lại sức sau quãng thời gian chiến đấu dài mà đánh bồi thêm một đòn mới. Tuy nhiên, quân ta dẫu có mệt mỏi nhưng vẫn còn khí thế mạnh mẽ của những người chiến thắng, còn chính quân Nguyên mới không đủ thời gian để phục hồi sức lực và tinh thần sau những tổn thất lớn.

Hốt Tất Liệt dùng binh muốn san bằng nước ta, rốt cuộc không thắng được lại đâm ra thù hận nước ta. Bụng dạ của tên quốc chủ nước Nguyên là như thế. Hốt Tất Liệt tuy rất nóng lòng “báo thù” nhưng vẫn phải cân nhắc việc chuẩn bị. Đường Cổ Đái, tên tướng vừa trải qua những kinh hoàng ở chiến trường Đại Việt thấu hiểu rõ quân tình của đám bại binh, đã tâu xin Hốt Tất Liệt cho quân tướng vừa trở về từ Đại Việt được nghỉ ngơi dưỡng sức. Hốt Tất Liệt sau khi cân nhắc đã chấp nhận cho quân sĩ nghỉ ngơi, dời lại tiến độ cuộc xâm lược đến sang năm để chuẩn bị chu đáo hơn. Đồng thời, Nguyên triều sai Hợp Tán Nhi Hải Nha ( Qasar Qaya ) đi sứ Đại Việt, muốn lấy cớ đặt lại chức Đạt Lỗ Hoa Xích ( chức quan đô hộ của Nguyên Mông ) để dò thám tình hình và kiếm cớ gây sự. Triều đình nhà Trần tiếp sứ rồi tiễn về, không cho Hợp Tán Nhi Hải Nha nhậm chức.

Sang năm 1286, để tập trung vào chiến trường Đại Việt, Nguyên triều đã quyết định bãi bỏ kế hoạch chuẩn bị đánh Nhật Bản vẫn đang tiến hành gấp rút. Trước đó, Nguyên Mông đã hai lần ôm hận trước Nhật Bản, lần nào cũng bị bão biển làm tan tác hạm đội. Quân Nhật Bản cũng chuẩn bị các thành trì phòng thủ rất kỹ lưỡng và có quân đội mạnh nên thừa cơ hội được “Thần Phong” giúp sức, tổ chức tiêu diệt quân Nguyên. Hai lần xâm lược Nhật Bản bất thành, trước sau quân Nguyên bị tổn thất đến hơn 12 vạn nhân mạng cùng một hạm thuyền khổng lồ. Đó cũng là những thất bại chua cay của đế chế Nguyên Mông cho tới thời điểm bấy giờ, nhưng vẫn không sánh được với thất bại to lớn ở Đại Việt khi mà hàng chục vạn quân Nguyên đã bỏ mạng, đồng thời cũng không thể mở một cửa ngõ bành trướng xuống Đông Nam Á như Nguyên triều kỳ vọng. Hốt Tất Liệt bàn với quần thần : “Nhật Bản chưa từng xâm lấn ta, nay Giao Chỉ xâm phạm biên giới, nên gác việc Nhật Bản, chuyên việc Giao Chỉ”. Việc xâm phạm biên giới mà Hốt Tất Liệt nói đến là chỉ việc quân ta truy kích Thoát Hoan đánh tràn qua châu Tư Minh của nước Nguyên. Thực ra đây chỉ là một cái cớ của Nguyên triều. Cái chính là chúng muốn nhanh chóng khai thông con đường bành trướng xuống phương nam, đồng thời trả mối thù bại trận.

Các đế chế Mông Cổ thập niên 90 thế kỷ 13

Bộ khung tướng lĩnh xâm lược được định xong trong tháng 3/1286. Thoát Hoan ( Toghan ) là thống soái đạo quân viễn chinh. Hầu hết các tướng chủ chốt là những tên đã quen thuộc với chiến trường Đại Việt. A Lý Hải Nha ( Ariq Qaya ) giữ chức Hành trung thư tỉnh Tả thừa tướng, đóng vai trò tham mưu chính cho Thoát Hoan. Các tướng chủ chốt là Áo Lỗ Xích ( Ayuruci ), Ô Mã Nhi ( Omar ), Phàn Tiếp, Diệp Hắc Mê Thất ( Yimis ), A Lý Quỹ Thuận ( Ariq Qusun ), Đường Cổ Đái ( Tanggutai ) … Sau A Lý Hải Nha bệnh chết nên Áo Lỗ Xích được chỉ định thay thế hắn phụ tá cho Thoát Hoan và chỉ huy luôn phần binh lực của A Lý Hải Nha. Lực lượng quân Nguyên được điều động từ khắp nơi trong nước Nguyên. Riêng các vùng phía nam nằm gần Đại Việt là Hồ Quảng, Chiết Giang, Giang Tây. Chiến thuyền được gấp rút đóng mới. Quân Nguyên hẹn nhau tập kết tại Ung Châu, Liêm Châu vào cuối thu để tiến sang Đại Việt. Từ hướng Vân Nam, Dã Tiên Thiết Mộc Nhi ( Asar Tamur ) bấy giờ giữ chức Vân Nam vương cùng Nạp Tốc Lạp Đinh cũng được lệnh điều binh sẵn sàng phối hợp với đại quân của Thoát Hoan.

Đám hàng thần được Hốt Tất Liệt dựng lên thành một triều đình bù nhìn để dễ bề dụ hàng quân dân nước ta. Trần Ích Tắc được vua Nguyên phong làm “An Nam Quốc Vương”, Trần Tú Hoãn làm “Phụ Nghĩa công”. Con trưởng Ích Tắc là Trần Bá Ý được phong “An phủ sứ lộ Đà Giang”, em họ Tú Hoãn là Lại Ích Khuy được làm “An phủ sứ lộ Nam Sách, Trần Văn Lộng được làm “Tuyên phủ sứ lộ Quy Hóa” … Cả đám bù nhìn sẽ đi theo quân Nguyên vào nước ta. Nguyên triều lại soạn một tờ “kể tội” vua Trần, dụ dỗ quân dân Đại Việt buôn giáo. Tờ chiếu như sau :

“Trước kia, vua nước các ngươi đã xưng thần, quy phục, hàng năm dâng cống, nhưng không thân vào chầu, nên khi chú y là Trần Di Ái sang chầu, ta uỷ cho trông coi việc nước An Nam thay y. Di Ái về nước thì bị giết. Đạt Lỗ Hoa Xích là Bột Nhan Thiếp Mộc Nhi sang thì không chịu nhận. Còn như quân ta đi đánh Chiêm Thành, lệnh phải giúp lương thì lại không chịu giúp. Vì thế, Trấn Nam vương Thoát Hoan, Hành tỉnh bình chương sự A Lý Hải Nha phải đem quân sang đánh. Trong khi giao chiến, hai bên đều giết hại lẫn nhau. Nay cận thần của nước các ngươi là bọn Trần Ich Tắc, Trần Tú Hoãn lo sợ nước bị sụp đổ, tuyệt diệt, tai hoạ đến kẻ vô tội nên thường xuyên bảo vua các ngươi vào chầu, nhưng rốt cuộc vẫn không được nghe theo. Bọn ấy đã tự đến quy phục. Ta thương bọn này có lòng trung hiếu, đã đặc cách phong Trần Ích Tắc làm An Nam quốc vương, Trần Tú Hoãn làm Phụ Nghĩa công, để phụng tự họ Trần. Lại sai Trấn Nam vương Thoát Hoan, Bình chương sự áo Lỗ Xích đem quân sang bình định nước các người. Những tội lỗi trước đây chỉ thuộc một mình y, quan và dân không liên quan. Khi chiếu thư tới, các ngươi nên trở về đồng ruộng yên ổn làm ăn. Vậy xuống chiếu để hiểu dụ”.

Văn ngôn trong tờ chiếu của Nguyên là một đòn tâm lý chiến đánh vào nhân tâm nước ta. Người Nguyên miệng nói toàn điều lễ nghĩa, nhưng quân Nguyên trước sau đi đến đâu là tàn sát, cướp bóc đến đó. Quân dân Đại Việt hơn ai hết hiểu rõ dã tâm của quân xâm lược. Chúng ta sẽ thấy được trong cuộc chiến rằng những chiếu thư dụ dỗ như thế này không đem lại nhiều hiệu quả. Nhà Trần bấy giờ căn cơ đã vững, nhân dân một lòng với triều đình. Một vài lời xảo ngôn của quân xâm lược đâu dễ gì lung lạc được.

Quốc Huy/Một Thế Giới

Kháng chiến chống Nguyên Mông lần 2 – Kỳ 22 ( kỳ cuối ) : Trận Tây Kết lần 2, sạch bóng quân thù

Kháng chiến chống Nguyên Mông lần 2 – Kỳ 22 ( kỳ cuối ) : Trận Tây Kết lần 2, sạch bóng quân thù

Trong lúc Thoát Hoan thua trận xiểng niểng, chạy dài từ Thăng Long về nước thì ở các hướng khác, quân Nguyên tiếp tục hứng chịu những đòn tấn công mạnh mẽ của quân dân Đại Việt.

1. Quân dân miền tây bắc truy kích giặc đến cùng:

Một bộ phận thứ yếu của quân Nguyên là cánh quân của Nạp Tốc Lạp Đinh vốn trước đây từ hướng Vân Nam tiến sang. Cánh quân này tuy ít nhưng khá mạnh, từng khiến Chiêu Văn vương Trần Nhật Duật phải lui quân. Khi quân ta tấn công Thoát Hoan ở Thăng Long thì Nạp Tốc Lạp Đinh còn bận đóng quân ở vùng phía tây Thăng Long để ngăn chặn các cuộc tấn công của quân dân vùng tây bắc dưới sự chỉ huy của các tù trưởng. Sau khi hay tin Thoát Hoan bại trận rút quân, Nạp Tốc Lạp Đinh cũng buộc phải lui binh. Do lúc này đường về Thăng Long đại quân ta đã hoàn toàn làm chủ, Nạp Tốc Lạp Đinh không còn con đường nào khác là phải rút quân theo ngã tây bắc về Vân Nam, con đường cũ mà chúng đã tiến sang. Trên đường quân giặc rút lui, tù trường Hà Đặc đã huy động quân dân bày trận tại núi Trĩ Sơn, Phù Ninh (thuộc Phú Thọ) đón đánh. Quân Hà Đặc ít và ô hợp hơn quân Nguyên của Nạp Tốc Nạp Đinh lại không có sự hiệp đồng với các cánh quân khác của triều đình đang bận diệt giặc ở vùng đồng bằng, vì vậy mà Hà Đặc dùng mưu để làm giảm nhuệ khí của địch.

Hà Đặc cho đục thân cây to bên đường mà ông đoán chắc rằng quân Nguyên sẽ đi ngang, sai người cắm những mũi tên cực lớn vào đó giả làm như là có người khổng lồ hay loại vũ khí cực mạnh nào đó bắn tên vào cây. Quân Nguyên trông thấy ngờ vực, không dám tiến lên mà cho dừng quân đóng lại Cự Đà quan sát. Hà Đặc lại sai người đem những hình nộm to lớn cầm cung tên, đến chiều tối dẫn ra dẫn vào trên núi. Quân Nguyên từ xa trông thấy, hết sức sợ hãi. Phô trương thanh thế xong rồi, Hà Đặc mới tung quân ra đánh. Quân dân dưới trướng Hà Đặc ai nấy đều hăng hái giết địch. Quân Nguyên đã khiếp vía từ trước, bị sức tấn công mạnh của quân ta thì nhanh chóng rút chạy về Vân Nam. Hà Đặc thừa thế truy kích không ngừng nghỉ. Đuổi đến A Lạp, Hà Đặc luôn đi tuyến đầu, đánh hăng quá nên bị tử trận. Quân Đại Việt ở đây mất chủ tướng, bất ngờ tình thế trở nên khó khăn, nhiều thân tín của Hà Đặc bị bắt.

Quân Nguyên dưới trướng Nạp Tốc Nạp Đinh vừa giết được chủ tướng của vùng tây bắc, tưởng đã tạm yên thân nên hạ trại nghỉ ngơi sau quãng đường dài giao tranh mệt nhọc. Em của Hà Đặc là Hà Chương nhân đêm tối trốn thoát khỏi trại giặc, trộm cả áo giáp và cờ xí của giặc chạy về với quân ta. Hà Chương lại chỉ huy quân dân gấp rút tiếp cận doanh trại quân Nguyên, quyết đánh một trận báo thù cho vị tù trưởng đã xả thân vì nước. Quân ta dùng áo giáp và cờ xí của giặc để cải trang đột nhập vào doanh trại, rồi nội ứng ngoại hợp đánh tan được giặc một trận lớn. Quân Nguyên chết rất nhiều, cắm đầu chạy về Vân Nam.

2. Trận Tây Kết lần 2, Toa Đô bỏ mạng:

Khối quân của Toa Đô vẫn còn một bộ phận khá đông đóng ở Trường Yên. Quân Nguyên ở đây hầu như đã đứng ngoài vòng chiến kể từ khi quân Đại Việt bắc tiến vì các hướng hành quân của quân ta đã chủ động bí mật chia làm hai cánh đi vòng tránh vùng kiểm soát của địch tại Trường Yên, một cánh đánh thẳng vào vùng Thiên Mạc, một cánh đánh vào Thiên Trường trong thời gian chớp nhoáng. Quân địch ở Trường Yên khi phát hiện ra quân ta thì chiến sự ở Thiên Mạc với trận Hàm Tử – Tây Kết đã định xong, vùng Thiên Trường cũng đã bị quân ta kiểm soát. Do đó mà các doanh của địch ở Trường Yên hoàn toàn bị cô lập, không thể hiệp đồng với các khối quân Nguyên khác.

Ngày 7.6.1285, vua Trần Nhân Tông cùng thượng hoàng Trần Thánh Tông đem binh thuyền đánh vào Trường Yên. Quân địch ở đây đói khát lâu dài, sức lực vốn đã vô cùng suy yếu. Quân ta với thế thắng, nhanh chóng làm chủ tình hình. Quân Đại Việt thả sức tàn sát quân Nguyên, chém đầu cắt tai giặc để dâng công nhiều không kể xiết. Hầu như toàn quân địch ở Trường Yên bị diệt gọn. Tạm thời dẹp yên được giặc trên phần lớn địa bàn vùng quê hương hoàng tộc Trần, ngày 19.6.1285 hai vua ghé về Long Hưng bái tế lăng mộ tổ tiên rồi tiếp tục hành trình chiến đấu.

Lại nói về Toa Đô, sau khi đại bại ở Hàm Tử quan thì chạy ra ven biển trốn tránh, đóng ở cửa biển Thiên Trường kiếm lương ăn và thu nhặt tàn quân. Vùng Thiên Trường là vùng mà Hưng Đạo vương không lâu trước đó đã đánh tan quân Nguyên và đi qua để tiến về Vạn Kiếp. Do binh lực của Đại Việt ở vùng này chỉ tập trung bố trí giữ các tuyến sông chính chứ không đủ binh lực giữ ngoài ven biển, nên Toa Đô có điều kiện đóng lại ở cửa biển để sốc lại đội ngũ. Tàn binh bại tướng của quân Nguyên ở các lộ đông nam đồng bằng sông Hồng tụ về với Toa Đô. Giữa tháng 6.1285, Toa Đô cùng Ô Mã Nhi dẫn quân liều lĩnh ngược sông Hồng, hy vọng sẽ có thể phối hợp với Thoát Hoan ở Thăng Long. Toa Đô không hề hay biết rằng, Thoát Hoan đã thua trận chạy dài về nước.

Hay tin Toa Đô ngược ra bắc, vua Trần Nhân Tông sai quân chuẩn bị trận địa ở bến Tây Kết, còn vua đóng quân ở bến Đại Mang Bộ vùng Thiên Mạc để tập kết binh lực. Quân Đại Việt thuộc khối quân của Hưng Đạo vương Trần Quốc lại chia thành các nhóm nhỏ tập kích tiêu hao quân trên đường Nguyên từ Thiên Trường đến Thiên Mạc để phối hợp với vua và thượng hoàng. Quân của Toa Đô cùng cực lâu ngày, nay lại tiếp tục bị hành xác. Tổng binh giặc là Trương Hiển không chịu nổi sự uy hiếp của quân ta, đã đơn phương dẫn quân đi trước đầu hàng, được vua Trần thu nhận.Ngày 24.6.1285, đoàn thuyền của Toa Đô tiến đến bến Tây Kết. Vua Trần điều động thủy quân chặn đánh. Quân của Toa Đô tinh thần và thể chất đều suy nhược, mà ta lại dùng quân no đánh quân đói nên đã nhanh chóng chiếm thế thượng phong. Toa Đô thất thế nhưng vẫn liều chết chống trả, rốt cuộc bị quân Đại Việt chém chết tại trận.

Quân Nguyên tan rã, chạy trốn trong vô vọng. Quân Đại Việt truy kích, chém giết địch nhiều không kể xiết,bắt sống đến hơn 5 vạn tù binh. Ô Mã Nhi cùng Lưu Khuê dùng thuyền con chèo đi trốn ra biển, may mắn thoát chết. Quân ta cắt đầu của Toa Đô dâng lên cho vua Trần Nhân Tông. Nhà vua cảm phục tài trí và tinh thần chiến đấu của Toa Đô, bất giác có lòng thương cảm, nói với quần thần: “Người làm tôi phải nên như thế”. Nói xong, vua cởi áo ngoài sai quan gói đầu Toa Đô đem chôn. Nhưng ngay sau đó, vua nghe trình báo lại những tội ác tày trời mà Toa Đô đã gây ra cho dân chúng. Vốn quân của Toa Đô là quân đói khát, trong quân lại có những kẻ xuất thân tù tội nên đi đến đâu đều thả sức cướp bóc, tàn phá, giết người không ghê tay. Trong các cánh quân Nguyên, quân của Toa Đô là tàn hại nhân dân dữ dội nhất. Vua nghe qua hết sức căm giận bèn sai quân lấy đầu Toa Đô tẩm dầu mà đốt đi để an ủi vong linh những nhân dân đã tử nạn trước gót xâm lăng.

3. Lưu danh sử sách:

Như vậy là sau quãng thời gian chừng nửa năm ròng chiến đấu dũng cảm, quân dân Đại Việt đã quét sạch hơn 50 vạn quân Nguyên Mông xâm lược khỏi bờ cõi, bảo vệ được nền độc lập của đất nước. Thắng lợi này có được là do nhiều nguyên nhân, nhưng trên hết là do từ vua đến dân trên dưới một lòng. Nhận xét về chiến thắng, sử gia các đời đã có những lời hay khác nhau.

Ngô Thì Sĩ khen ngợi chiến lược chung của vua tôi nhà Trần trong sách Việt Sử Tiêu Án rất xác đáng: “Mỗi lần có tin báo quân Nguyên sang cướp, thì tất là Vua thân hành ra ngoài trông coi quân, khi đi đông, đi tây, không đi nhất định đường nào, khi ở trên bộ, khi ở thủy không đóng nhất định ở đâu, đó không phải là rát, là vì Vua ở bên ngoài, thì dễ hiệu triệu thiên hạ. Cổ lệ lòng hăng hái của quân sĩ, chư tướng thì tiện việc tâu xin mệnh lệnh, tam quân thì vui lòng xông pha, lính tráng đều là quân của nước, của nhà giàu là của nước, có cơ hội nào thì cổ động quân sĩ xông vào trước, gặp tình thế không may thì tùy tiện mà chống giữ; khi tiến quân thì nhanh như chớp nhoáng, khi lui về thì như rồng rắn ẩn thân, giặc không biết đâu mà lường đạc được, nếu chỉ nấp giữ ở trong thành, thì địch coi đó là sào huyệt, chúng sẽ chặn đường không cho vận lương đến, và giữ viện binh không vào được, đến nỗi lương hết, lực cùng, chả nguy lắm sao. Có tin giặc đến mà Vua lập tức đi ra ngoài, đó là kỳ kế, liệu sức giặc và tính cách đánh của nhà Trần”.

Sách Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục của Quốc sử quán nhà Nguyễn thì nhấn mạnh ở việc trọng dụng người tài: “Lúc bấy giờ nhà Nguyên mới nổi lên, khí thế rất ngang ngược. Nhà Trần cũng may gặp lúc mới nổi lên, được các vua Thái Tông, Thánh Tông, Nhân Tông và tướng văn tướng võ phần nhiều người tài, mới có thể đánh bại được giặc, giữ được nước. Chứ nếu gặp người khác thì chưa biết thế nào”.

Tác giả nhận định : Bài học về nghệ thuật quân sự, rộng hơn là nghệ thuật giữ nước trong cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông lần 2 là rất lớn lao và quý báu. Ngoài việc đút kết được rất nhiều kinh nghiệm cho quân dân nhà Trần tiếp tục chiến đấu với đế chế Nguyên Mông những năm về sau, những kinh nghiệm về chuẩn bị và tiến hành chiến tranh vệ quốc trong cuộc chiến này còn được rất nhiều thế hệ sau của dân tộc Việt Nam vận dụng. Chính trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ ở thế kỷ 20, người Việt Nam đã áp dụng rất thành công các chiến lược, chiến thuật mà quân dân Đại Việt thời Trần đã dùng.

Mong rằng qua loạt bài này, mỗi độc giả sẽ có được những sự nhìn nhận riêng của mình về cuộc chiến, đồng thời rút ra được những bài học bổ ích và cùng nhau hun đúc tinh thần yêu nước.

Quốc Huy/Một Thế Giới

Kháng chiến chống Nguyên Mông lần 2 – Kỳ 21 : Chiếm lại kinh thành, truy kích quân địch

Kháng chiến chống Nguyên Mông lần 2 – Kỳ 21 : Chiếm lại kinh thành, truy kích quân địch

Chiến thắng Hàm Tử – Tây Kết đã làm rúng động toàn bộ hệ thống phòng thủ của quân Nguyên, khiến tinh thần của chúng hoang mang tột độ. Quân Nguyên bấy giờ ở tản mác tại Thiên Trường, Thiên Mạc, Trường Yên vẫn còn đông nhưng hầu như đã như cá nằm trên thớt, hoàn toàn mất phương hướng do bị cô lập với chỉ huy và hậu cần. Quân của Thoát Hoan đóng tại Thăng Long cũng đã khiếp vía và bị uy hiếp dữ dội do mất đi những lá chắn ở hạ lưu sông Hồng.

Toàn quân Đại Việt lại chia làm ba bộ phận. Khối quân thứ nhất cũng là khối quân mạnh nhất do Chiêu Minh vương Trần Quang Khải làm tổng chỉ huy, thừa thắng đánh thẳng vào khối quân của Thoát Hoan ở Thăng Long. Khối quân thứ hai do vua Trần Nhân Tông và thượng hoàng Trần Thánh Tông chỉ huy, chốt giữ các địa bàn vừa mới chiếm lại được và đem quân tiễu trừ giặc ở các vùng Thiên Mạc, Trường Yên, Thiên Trường. Khối quân thứ ba do Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn làm tổng chỉ huy từ Thiên Trường theo dòng sông Thái Bình – Lục Nam tiến chiếm lại Vạn Kiếp, chuẩn bị đón đánh quân Nguyên rút chạy hoặc phối hợp với quân của Trần Quang Khải hai mặt giáp công địch nếu cần. Hưng Đạo vương còn phái gia tướng Phạm Ngũ Lão dẫn tinh binh từ khối quân của mình sang chi viện cho Chiêu Minh vương để cùng hợp lực chiếm lại kinh thành.

1. Đại chiến bến Chương Dương, thu phục kinh thành :

Chiêu Minh vương Trần Quang Khải là vị tướng được giao trọng trách đánh chiếm lại kinh thành. Đối đầu với ông trong trận chiến sống còn lần này chính là Thoát Hoan, A Lý Hải Nha và những tướng lĩnh chủ chốt khác của đội quân xâm lược. Quân dưới trướng Thoát Hoan vẫn còn hàng chục vạn bất chấp những thất bại nặng nề liên tiếp. Các khối quân của Toa Đô, Giảo Kỳ, Ô Mã Nhi… rải rác ở các nơi trong nước dù bị đánh tan tác, bị cô lập thành từng mảnh nhưng vẫn chưa hoàn toàn bị diệt. Vì vậy, trận chiến thu phục kinh thành là một trận chiến lớn, vô cùng quan trọng và không hề dễ dàng.

Yêu cầu đặt ra cho quân ta là phải tiếp tục phát triển đà thắng lợi để đi đến chiến thắng chung cuộc, tuyệt đối không cho quân Nguyên có cơ hội tụ họp lại với nhau. Biết được điều đó, vua Trần và Hưng Đạo vương đã dành những lực lượng mạnh nhất gởi đến chi viện cho vị Thượng tướng. Các chiến tướng hàng đầu bấy giờ là Hoài Văn hầu Trần Quốc Toản, Phạm Ngũ Lão, Trung Thành vương… đều được ưu tiên cử đến chiến đấu dưới quyền của Chiêu Minh vương Trần Quang Khải. Triều đình lại gởi thông điệp cho các lộ kêu gọi nghĩa binh, dân binh cả nước đem quân đến hội, binh thế rất thịnh.

Trong số các đạo dân binh hùng mạnh, đáng kể nhất là quân của Trần Thông, Nguyễn Khả Lạp, Nguyễn Truyền… Trải qua nhiều tháng chiến đấu với quân giặc, những nông dân Đại Việt giờ đã trở thành những chiến binh thực thụ, cùng sát cánh với quân đội triều đình đánh lớn.

Chiêu Minh vương đem các quân dùng thuyền ngược sông Hồng vây đánh mạnh vào bến Chương Dương (thuộc Thường Tín, Hà Nội), lại ngầm cho quân đi vòng mai phục trên đường từ thành Thăng Long đến Chương Dương. Quân ta khí thế đang lên, đồn Chương Dương dù là một cứ điểm đông và mạnh của quân Nguyên cũng cơ hồ không chống cự được lâu. Nhận tin cấp báo, Thoát Hoan từ Thăng Long phái quân đi tiếp viện thì bị phục binh Đại Việt chặn đánh tan dọc đường. Đồn Chương Dương cô thế, trước sau đều bị quân ta vây đánh nên cũng bị hạ không lâu sau đó. Hàng vạn quân tại Chương Dương bị tiêu diệt. Chiêu Minh vương lại phái Trung Thành vương (khuyết danh) đem một cánh quân tấn công đồn ngoại vi của địch ở Giang Khẩu (Hàng Buồm, Hà Nội ngày nay), tướng Nguyên trấn giữ tại đây là Thiên hộ Mã Vinh chống không nổi phải rút chạy. Quân Nguyên rút hết vào trong thành Thăng Long cố thủ.

Chiêu Minh vương hạ lệnh cho toàn quân vây thành mấy vòng, thủy và lục quân cùng nhau phối hợp ngày đêm công phá thành. Quân Nguyên ở trong thành dùng cung tên, dựa vào thành cao hào sâu chống trả lại. Kỵ binh của quân Nguyên bị dồn ứ trong thành, ngựa chiến trở nên vô dụng trong một điều kiện chiến trường hoàn toàn khác biệt so với những gì chúng thường trải qua ở các quốc gia khác. Quân Nguyên chỉ có thể trông cậy vào bộ binh để thủ thành. Cả phía quân Đại Việt và quân Nguyên đều chịu nhiều tổn thất trong trận chiến giữa công và thủ thành này. Tuy nhiên quân ta không hề nao núng, hết lớp này đến lớp khác quyết xông lên hạ thành. Quân địch đã vào thế bị vây khốn, càng đánh càng mỏi mệt, tên đạn hết, lương thực cạn.

Khi tình thế quá bi đát, Thoát Hoan cho họp các tướng, bàn nhau rút quân về nước hòng bảo toàn lực lượng, chờ cơ hội về sau. Nhưng bấy giờ toàn cõi Đại Việt đã trở thành một cái bẫy lớn chờ đợi tiêu diệt quân Nguyên, quyết đánh cho địch không còn manh giáp chứ không cho phép chúng có cơ hội thực hiện một cuộc “rút lui chiến lược”.

2. Truy kích Thoát Hoan :

Thoát Hoan trong cơn nguy khốn, điều động hết binh mã phá vòng vây chạy về hướng bắc. Thoát ra được ngoài vòng vây của quân ta với thiệt hại lớn, quân Nguyên tụ lại ở Gia Lâm để rút lui. Lúc này thì tàn quân Nguyên dưới trướng của tướng Giảo Kỳ bại trận ở Hàm Tử quan mấy hôm trước vẫn chưa hay biết Thoát Hoan đã bại trận rút lui, kéo nhau về Thăng Long thì đụng độ quân ta, lại bị đánh một trận tơi tả. Giảo Kỳ cố gắng lắm mới chạy được đến Gia Lâm hội quân với Thoát Hoan.

    Lược đồ minh họa


Lược đồ toàn cuộc phản công và truy kích giặc Nguyên

Chiêu Minh vương cho quân vào chiếm lại kinh thành, mở tiệc khao quân. Lại lệnh cho Hoài Văn hầu Trần Quốc Toản thống lĩnh kỵ binh truy kích Thoát Hoan. Hưng Đạo vương cũng đã đợi sẵn quân địch từ trước, phái Hưng Ninh vương Trần Tung đem 2 vạn quân tấn công phối hợp. Quân Hoài Văn hầu từ hướng Thăng Long đánh lên, cùng Hưng Ninh vương từ hướng Vạn Kiếp đánh xuống, kẹp khối quân của Thoát Hoan vào giữa. Quân Nguyên chưa kịp hoàn hồn sau trận đánh ở Thăng Long đã bị hai mặt giáp công, lại nhanh chóng thua trận. Đến sông Như Nguyệt (sông Cầu), Hoài Văn hầu Trần Quốc Toản đã đuổi tới đánh khi quân Nguyên đang vượt sông bằng cầu phao. Đám bại binh lại phải chịu tổn thất lớn.

Đến sông Sách (sông Thương chảy qua Vạn Kiếp), quân Nguyên lại phải dừng quân bắc cầu phao qua sông. Nơi này là chỗ nhạy cảm, tất nhiên quân ta không bỏ qua. Hưng Đạo vương đã cho đặt phục binh trong rừng chờ đón giặc từ trước. Quân mai phục của Đại Việt ít hơn nhiều, chỉ dựa vào khí thế truy kích nên không đánh ngay vì sẽ ép địch vào thế cùng đường, tất chúng sẽ dựa vào sông tử chiến, sẽ gây cho ta những tổn thất không đáng có.

Chờ cho quân Nguyên bắt xong cầu phao, chuẩn bị vượt sông thì quân ta mới nhất tề xông ra đánh. Lúc này quân địch chỉ mong nhanh chóng thoát thân, không còn ý chí nào mà chiến đấu nữa, tranh nhau mà chạy. Quân ta thừa thế đánh giết. Hậu quân Nguyên dưới trướng tướng Đường Ngột Đải chưa qua sông kịp, bị kẹt bên bờ nam và bị quân ta tàn sát. Đường Ngột Đải đánh cố chết mới may mắn thoát được. Quân Nguyên sợ hãi tranh nhau vượt sông khiến cầu phao không chịu nổi nên bị gãy. Quân giặc bị rơi xuống sông chết đuối rất nhiều.

Thoát Hoan cùng đám bại binh qua được sông Sách thì thiệt hại đã quá nửa. Hắn phái Tả thừa Lý Hằng đi sau chặn hậu để cho mình cùng thuộc hạ có thể an toàn rút lui. Kỷ luật của quân Nguyên có thể gọi là khá cao nên vẫn chưa hoàn toàn tan rã. Đám thân binh luôn hết sức che chở cho chủ tướng Thoát Hoan chạy thoát. Chạy đến trại Vĩnh Bình, Hưng Vũ vương Trần Quốc Nghiễn đã cho quân mai phục sẵn chỗ hiểm, tên độc bắn ra như mưa. Tả thừa Lý Hằng trúng tên độc, bị thương nặng. Tỳ tướng của Lý Hằng là Lý Quán cùng quân tướng còn lại chừng 5 vạn quân, hộ tống Thoát Hoan cố chạy về phía châu Tư Minh, đất của nước Nguyên.

Quân Nguyên bắt được ống đồng trong dân, Thoát Hoan chui vào đó rồi cho quân lính đẩy đi dưới làn tên mũi đạn của quân ta. Khi đã vào địa phận châu Tư Minh rồi, đám bại binh vẫn chưa thoát nạn. Hưng Hiến vương Trần Quốc Uy cùng Hưng Vũ vương Trần Quốc Nghiễn thừa thắng đuổi tràn cả qua biên giới, đánh một trận nữa ngay tại châu Tư Minh, trong đất của nước Nguyên để triệt để tiêu diệt đạo quân xâm lược, cho quân giặc một trận nhớ đời. Lý Quán trúng tên bỏ mạng trong trận này, xác của Tả thừa Lý Hằng cũng lạnh do trúng độc. Chỉ còn lại rất ít quân tướng dưới trướng Thoát Hoan thoát chết chạy đến nơi an toàn nằm sâu trong lãnh thổ đế chế Nguyên Mông.

Song song với quãng thời gian mà hai khối quân của Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn, Chiêu Minh vương Trần Quang Khải chỉ huy đánh bại đại quân của Thoát Hoan, thu phục Thăng Long và truy kích giặc qua bên kia biên giới thì vua Trần Nhân Tông, Thượng hoàng Trần Thánh Tông cùng quân dân các nơi trên cả nước cũng bận rộn đánh quân Nguyên ở rải rác các nơi. Bấy giờ, không tính quân của Thoát Hoan ở Thăng Long bị đánh bật về bắc thì ở đồng bằng sông Hồng vẫn còn hàng vạn quân Nguyên. Lực lượng này sẽ không hề “vô hại” nếu như quân ta không có những biện pháp đánh dẹp thích hợp.

(còn tiếp)

Quốc Huy/Một Thế Giới

Kháng chiến chống Nguyên Mông lần 2 – Kỳ 20 : Chiến dịch phản công, Đại chiến Hàm Tử Quan

Kháng chiến chống Nguyên Mông lần 2 – Kỳ 20 : Chiến dịch phản công, Đại chiến Hàm Tử Quan

1. Thời cơ chỉ đến một lần:

Theo như lời của vua Trần Nhân Tông, trước tiên quân ta phải làm cho địch nhụt chí rồi từ đó đi đến thắng lợi hoàn toàn. Thế nào để “làm cho chúng nhụt chí”? Quân Nguyên đánh trận xa nhà lâu ngày, thiếu thốn cực khổ trăm bề, lại thêm dịch bệnh hoành hành, vốn sĩ khí đã xuống dốc lắm rồi. Nhưng để làm cho chúng hoàn toàn nhụt chí, trước sau quân ta vẫn phải đánh thắng chúng trong những trận chiến quy mô lớn. Có như thế thì niềm kiêu hãnh cuối cùng, cũng là hy vọng cuối cùng của đạo quân xâm lược mới sụp đổ. Khi đó, quân ta mới có thể thuận lợi tiến tới mục tiêu cuối cùng là đuổi sạch quân giặc về nước, đồng thời gây cho chúng nhiều thiệt hại nhất có thể.

Một vấn đề quan trọng khác, nếu để quân Nguyên có điều kiện chiếm đóng vùng trung tâm đồng bằng sông Hồng lâu dài thì chúng sẽ có thể vượt qua được khó khăn. Toa Đô khi ở Chiêm Thành, lúc quân Chiêm không gây được sức ép lớn hắn đã cho quân lập đồn điền tự túc lương thực, cầm cự được thời gian khá dài. Đối với đồng bằng sông Hồng màu mỡ, quân Nguyên cũng có thể làm như thế nếu như đại quân ta không hoạt động, để chúng dẹp yên được sự kháng cự của nhân dân trong vùng chiếm đóng và các đạo quân hoạt động phía sau hậu tuyến của chúng. Khi mà điều đó xảy ra, thì quân Đại Việt với tiềm lực của phần lãnh thổ còn lại sẽ khó bề đương đầu với quân xâm lược. Bởi vì đất đai, dân cư vùng Thanh Hóa trở vào nam thời bấy giờ không sánh được với vùng đồng bằng sông Hồng. Quả thực, Toa Đô đã có ý định đứng chân lâu dài để lật ngược tình thế. Khi rút về đóng ở Tây Kết, Toa Đô bàn kế hoạch bình định với các tướng, hẹn trong kỳ hạn ba năm sẽ san bằng nước ta.

Tóm lại, thời cơ thuận lợi để phản công khi quân Nguyên suy yếu sẽ trôi qua nếu quân dân Đại Việt không tận dụng được. Nhưng tất nhiên với tài trí của những nhân vật lớn trong một thời đại anh hùng, quân ta đã nắm bắt thời cơ và tận dụng triệt để.

2. Hưng Đạo vương đánh trận đầu trong cuộc phản công:

Cuối tháng 5.1285, quân Đại Việt ào ào tiến ra bắc, bắt đầu chiến dịch tổng phản công. Quân ta chia làm hai khối lớn. Về quân số cụ thể của hai khối quân trong cuộc phản công này, hiện vẫn không có sử liệu nào cho biết. Nhưng có thể chắc rằng tại các điểm nóng trên chiến trường, quân ta đã có quân số ngang ngửa hoặc áp đảo địch. Đó là do việc quân Nguyên đã bị phân tán và nhờ nghệ thuật hành quân của ta.

Khối quân phía đông do đích thân Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn đốc suất quân thủy vượt biển quay trở lại vùng Thiên Trường, Trường Yên, len lỏi vào các nhánh sông lớn nhằm đánh vào những bộ phận rệu rã nhất của tập đoàn quân dưới trướng Toa Đô. Mục đích là để giành lại vùng đất căn cơ của hoàng tộc Trần, tạo thế đứng chân cho toàn quân Đại Việt tiện bề tiến thủ. Từ Thiên Trường, quân Đại Việt có thể theo các con sông lớn tiến nhanh ra bắc bao vây quân Nguyên từ hướng đông, cắt đứt đường lui của địch khi chúng thua trận. Còn nếu gặp bất lợi trong chiến dịch, quân Đại Việt có thể lui về tiếp tục giữ Thiên Trường, Trường Yên.

Dưới trướng Hưng Đạo vương là các con trai của ngài gồm Hưng Vũ vương Trần Quốc Nghiễn, Hưng Nhượng vương Trần Quốc Tảng, Hưng Trí vương Trần Quốc Hiện, Hưng Hiển vương Trần Quốc Uy. Họ đều là những người tài tuấn. Ngoài ra, còn có các gia tướng Phạm Ngũ Lão, Yết Kiêu, Dã Tượng, Cao Mang, Đại Hành là những người luôn sát cánh với chủ công của mình từ đầu cuộc chiến.

Khối quân phía tây dưới quyền chỉ huy của Chiêu Minh vương Trần Quang Khải và vua Trần Nhân Tông, Thượng hoàng Trần Thánh Tông chia đường thủy bộ nhằm thẳng vào các đồn trại lớn dọc sông Hồng, nằm gần kinh thành Thăng Long. Mục tiêu của cánh quân này là cắt đứt liên lạc giữa Toa Đô và Thoát Hoan, rồi thừa thắng thu phục lại kinh thành Thăng Long. Trong khối quân này có nhiều vương hầu và tướng lĩnh chủ chốt của triều đình. Đầu tiên phải kể đến là Chiêu Văn vương Trần Nhật Duật. Kế đến là Hoài Văn hầu Trần Quốc Toản, Chiêu Thành vương Trần Thông, tướng Nguyễn Khoái (chỉ huy quân Thánh Dực) …

Mở màn cho chiến dịch là trận chiến tại đồn A Lỗ, một căn cứ trấn giữ chốt ngã ba sông Hồng và sông Luộc của quân Nguyên. Tướng trấn giữ đồn A Lỗ là vạn hộ Lưu Thế Anh với hơn 1 vạn quân trong tay. Binh thuyền của Hưng Đạo vương âm thầm hành quân tiếp cận căn cứ của quân Nguyên với tiến độ nhanh chóng. Khi quân Nguyên phát hiện ra đoàn quân của Hưng Đạo vương đang hùng hổ kéo tới thì đã muộn, các đồn trại khác không còn đủ thời gian để đến ứng cứu. Quân Đại Việt đông hơn gấp mấy lần, tấn công dữ dội vào đồn A Lỗ, nhanh chóng làm chủ tình hình. Vạn hộ Lưu Thế Anh cùng một ít tàn quân mở đường máu chạy về hướng Thăng Long.

Sau hai trận đánh mở đầu cuộc tổng phản công, Hưng Đạo vương đã chiếm lại được quyền làm chủ Thiên Trường một cách dễ dàng, cũng nhờ đó mà cô lập một lực lượng đáng kể quân Nguyên ở vùng Trường Yên. Đồng thời, quân Đại Việt còn mở thông các tuyến đường sông quan trọng ở phía đông đồng bằng sông Hồng.

3. Đại chiến Hàm Tử Quan:

Trong khi quân của Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn đánh thắng địch ở vùng Thiên Trường, thì khối quân phía tây dưới sự chỉ huy của hai vua Trần và Chiêu Minh vương Trần Quang Khải cũng tung hoành ở vùng Thiên Mạc, Khoái Châu. Quân Đại Việt tiến thẳng một mạch từ Thanh Hóa ra vùng trung tâm đồng bằng sông Hồng mà không gặp phải sự kháng cự nào đáng kể nhờ tài hành quân thần tốc và do quân Nguyên đã co cụm lại trên trục sông Hồng. Đến gần hai cứ điểm liền kề nhau là Hàm Tử – Tây Kết, quân Đại Việt tập kết lại, chuẩn bị tổ chức một trận quyết chiến lớn.

Vua Trần Nhân Tông rước Thượng hoàng Trần Thánh Tông từ hậu quân tới. Thượng hoàng đích thân làm tướng soái, cùng Chiêu Minh vương Trần Quang Khải dự trù kế sách, dàn trận chia quân cho các đại tướng. Chiêu Văn vương Trần Nhật Duật cùng một số tướng lĩnh dẫn 5 vạn quân đánh vào Hàm Tử quan. Các tướng Nguyễn Khoái, Hoài Văn hầu Trần Quốc Toản, Chiêu Thành vương (khuyết danh) chuẩn bị sẵn sàng đánh vào Tây Kết để phối hợp. Các hiệu cấm quân tinh nhuệ nhất đều được tung vào trận. Đó là những tinh hoa của toàn quân Đại Việt, là những mũi giáo sắc bén nhất mà vua Trần đã dành riêng cho những trận đại chiến mang tính chất sống còn.

Về phía quân Nguyên, binh lính đóng ở Hàm Tử – Tây Kết có quân của Toa Đô và cả quân của Thoát Hoan phái tới. Quân Nguyên nằm dưới sự chỉ huy của các tướng Toa Đô, Giảo Kỳ, Đường Ngột Đải, Ô Mã Nhi… Tại đây quân Nguyên bố trí nhiều thủy quân để trấn giữ. Hiển nhiên hai cụm cứ điểm này rất vững mạnh vì có quân đông tướng giỏi, có sự kết hợp giữa thủy và bộ. Hai cứ điểm nằm kề nhau khá tiện lợi cho việc ứng cứu hoặc rút lui. Tuy nhiên, nhuệ khí và thể chất quân Nguyên đã suy giảm nhiều, không thể so bì với lúc ban đầu mới tiến sang nữa.

Quân Đại Việt đem binh thuyền đánh vào Hàm Tử quan, nhanh chóng làm chủ tuyến sông và cho quân đổ bộ ồ ạt. Hai bên đánh nhau dữ dội. Toa Đô đang ở bến Tây Kết, thân điều động binh thuyền sang ứng cứu Hàm Tử. Quân Toa Đô cũng đổ bộ lên bờ, xông vào giáp chiến với quân ta. Lúc này, Chiêu Văn vương Trần Nhật Duật tung đội kỵ xạ người Tống của mình vào trận. Đội quân này dưới sự chỉ huy của Triệu Trung, gia tướng của Chiêu Văn vương. Triệu Trung và binh lính người Tống trước kia khi nước Tống bị diệt đã chạy sang quy phụ Đại Việt, được Chiêu Văn vương thu nhận. Chiêu Văn vương cho quân của Triệu Trung ăn mặc trang phục của quân Tống để đánh trận. Trước khi vào trận, Thượng hoàng Trần Thánh Tông đã cẩn thận dặn dò toàn quân: “Đấy là quân Thát của Chiêu Văn vương đấy, nên nhận cho kỹ chúng”(vì lúc này nước Tống không còn nên Thánh Tông gọi là quân Thát, chỉ người phương bắc).

Việc cho quân ăn mặc theo kiểu quân Tống là mưu cao của Chiêu Văn vương, vừa khích lệ tinh thần báo thù của bọn Triệu Trung, vừa có tác dụng uy hiếp tinh thần quân Nguyên. Hiệu quả của mưu kế này đã thành công vượt cả mong đợi. Quân Nguyên đang bị hãm trận, lại nhìn thấy trước mắt chúng một đoàn quân Tống thì vô cùng kinh hoàng, bảo nhau rằng lẽ nào nước Tống đã phục quốc và đem quân sang giúp Đại Việt. Do đó mà quân tâm của địch rối loạn. Triệu Trung rất dũng mãnh, lúc này ra sức giết địch để báo thù cho cố quốc. Chiêu Văn vương thừa thế tung quân đánh mạnh, quân Nguyên tan vỡ lớn.

Cùng với chiến sự diễn ra tại Hàm Tử, quân Đại Việt dưới sự chỉ huy của các tướng Hoài Văn hầu Trần Quốc Toản, tướng quân Nguyễn Khoái, Chiêu Thành vương Trần Thông cũng tấn công vào đồn Tây Kết vừa lúc Toa Đô đem quân sang cứu Hàm Tử.Các tướng Nguyên đang lo dồn về phía Hàm Tử, lại bị tấn công ở Tây Kết nên sớm núng thế. Quân Đại Việt thả sức chém giết. Các tướng Nguyên từ Hàm Tử – Tây Kết mạnh ai nấy bỏ chạy về phía đông, toan rút ra ven biển. Quân ta thu được chiến thắng quan trọng. Chiêu Văn vương Trần Nhật Duật được xếp công đầu trong trận này. Bấy giờ nhuệ khí quân Đại Việt dâng cao, tiếp tục nỗ lực để đi đến chiến thắng cuối cùng.

(còn tiếp)

Quốc Huy/Một Thế Giới