Vụ Mỹ bắn hạ máy bay chở khách Iran năm 1988 – Chỉ là sai lầm?

Vụ Mỹ bắn hạ máy bay chở khách Iran năm 1988 – Chỉ là sai lầm?

Năm 1988 thế giới phải chứng kiến một thảm kịch hàng không đau buồn khi chiếc máy bay thương mại của hãng hàng không Iran Air mang số hiệu 655 bị tàu tuần dương USS Vincennes của Mỹ bắn rơi, cướp đi mạng sống của 290 con người vô tội.

Sai lầm chết người

10 giờ 17 phút sáng ngày 3/7/1988 định mệnh, cơ trưởng Mohsen Rezaian cùng phi hành đoàn của chiếc Airbus A300B2 số hiệu 655 của hãng hàng không Iran Air được lệnh cất cánh từ sân bay Bandar Abbas (phía nam Iran) lên đường đi Dubai. Trong khoảng thời gian đó, Hải quân Mỹ đang thử nghiệm hệ thống chiến đấu AEGIS trên hạm tuần dương USS Vincennes gần eo biển Hormuz – nơi chuyến bay 655 sẽ bay ngang qua. Tàu ngầm USS Vincennes lưu đỗ tại vịnh Persian trong bối cảnh cuộc chiến tranh Iran – Iraq vẫn đang diễn ra, được triển khai nhằm bảo vệ tàu chở dầu của Kuwait cũng như hạn chế các hoạt động tàu ngầm của Iran. Hạm trưởng USS Vincennes lúc đó là Tướng William C. Rogers III.

Giống như phần lớn các máy bay hiện đại, chiếc Airbus của Iran Air được trang bị hệ thống phát sóng nhận dạng – một phiên bản nâng cấp hơn của hệ thống “nhận dạng, bạn hay thù” (IFF) được dùng trong Chiến tranh Thế giới thứ II.

Sau khi cất cánh khỏi đường bay số 21, chiếc Airbus A300B2 mã hiệu 655 được lệnh từ trạm kiểm soát không lưu Bandar Abbas yêu cầu bật hệ thống phát sóng nhận dạng và hướng về vịnh Persian.

Tín hiệu máy bay 655 xuất hiện trên radar của tàu tuần dương Vincennes vào lúc 10 giờ 17 phút và 10 giờ 19 phút. Theo các tài liệu điều tra sau này của chính phủ Mỹ, tàu Vincennes đã nhầm chiếc máy bay dân sự này sang thành một chiếc chiến đấu cơ. Giới chức lúc đó đã nhận dạng các thông số bay của chiếc A300B2 giống như một chiếc F – 14A của không quân Iran. Theo Đô đốc William Crowe, Tổng Tham mưu trưởng Liên quân Mỹ, hệ thống phát sóng nhận dạng của máy bay dân sự 655 đã phát ra một mã ở kênh quân sự “Chế độ 2”. Trong 3 phút tiếp theo, tàu Vincennes đã đưa ra tín hiệu cảnh báo ngược lại trên tần số báo động hàng không quân sự, và cũng đã nhiều lần cố liên lạc với phi hành đoàn chuyến bay 655 nhưng không có lời hồi đáp.

10 giờ 24 phút sáng, Tướng Rogers ra lệnh bắn hai tên lửa phòng không SM – 2ER vào chiếc máy bay nghi ngờ là chiến đấu cơ F – 14A kia. Chiếc máy bay chở 290 người bốc cháy và rơi xuống vịnh Persian., không một ai sống sót.

Ngay chiều hôm đó, trực thăng Iran và tàu cứu hộ đã khẩn trương đến khu vực máy bay rơi để tìm kiếm thi thể người gặp nạn. Chỉ cho đến tận tối muộn cùng ngày, binh sĩ hải quân và những người trên tàu Vincennes mới nhận ra sai lầm chết người của mình.

Cuộc chiến không hồi kết

Ngày 6/7/1988, Hiệp hội điều tra Hải quân do Chuẩn Đô đốc William M. Fogarty chỉ đạo bắt đầu tiến hành điều tra tại Bahrain. Các phiên điều trần chính thức diễn ra chỉ 1 tuần sau đó, và toàn bộ quá trình điều tra cũng như báo cáo gửi tới Hải quân được hoàn thành vào ngày 28/7. Bản báo cáo điều tra kết luận, việc khai hỏa tên lửa nhằm vào máy bay 655 của Iran là một quyết định hoàn toàn tỉnh táo của chỉ huy trưởng dựa trên hoàn cảnh nghi ngờ tàu chiến đang cận kề mối đe dọa lớn từ phía đối phương.

Bày tỏ niềm thương tiếc trước các nạn nhân trong thảm kịch song chính phủ Mỹ khẳng định không nhận trách nhiệm cũng như xin lỗi về bất kỳ hành động sai trái nào gây nên vụ bắn rơi máy bay. Thậm chí thủy thủ đoàn có mặt trên tàu Vincennes còn được trao giải và nhận huân chương chiến công.

Hộp đen của chiếc máy bay A300B2 xấu số vẫn chưa được tìm thấy và các nhà điều tra vẫn không thể nào biết được chu trình bay của chiếc A300B2 lúc đó ra sao, cũng như liệu rằng phi hành đoàn có “phớt lờ” các tín hiệu cảnh báo của phía tàu ngầm Mỹ hay đơn giản là không hề nghe thấy. Tuy nhiên, trên tàu Vincennes vẫn còn hộp đen riêng, radar AN/SPY – 1 và hệ thống máy tính điều khiển vũ khí lắp đặt trên tàu.

Theo như kết luận báo cáo, Hải quân Mỹ cho rằng, họ đã nhầm chiếc A – 300 với máy bay chiến đấu F – 14 của Iran. Tuy nhiên, dữ liệu từ hệ thống chiến đấu Aegis cho thấy chiếc Airbus A300B2 đang lấy độ cao để bay lên chứ không giảm dần độ cao điển hình của một cuộc tấn công từ trên không. Tại các thiết bị thu dữ liệu cũng không hề có sự xuất hiện nào khác ngoài tín hiệu ở kênh dân sự “Chế độ 3, mã 6760” của chiếc Airbus 655, nhưng tàu Vincennes vẫn tiếp tục hiểu sai tín hiệu. Nhiều người nghi ngại rằng tàu Vincennes liên tục gửi cảnh báo qua tần số quân sự trong khi chiếc A300B2 lại không được thiết kế để nhận các tần số này, và khi tàu Vincennes phát tần số dân sự khẩn cấp thì có thể nó đã hướng sang một máy bay khác.

Theo ghi nhận của các đài điều khiển không lưu, máy bay A300B2 mã hiệu 655 còn liên lạc radio và sử dụng tần số dân sự chuẩn, thậm chí còn nói bằng tiếng Anh với nhân viên trạm kiểm soát Bandar Abbas chỉ vài giây trước khi bị tàu Vincennes bắn.

Một bản báo cáo điều tra của Các Tiểu Vương quốc Ả rập thống nhất (UAE) cho biết lúc bắn, tàu Vinccenes đang ở trong lãnh hải của Iran, chứ không phải ở cách 64 km về phía nam (nơi con tàu chính thức được lệnh lưu đỗ ở đó) như Chỉ huy trưởng Roger và chính phủ Mỹ tuyên bố. Hơn nữa chuyến bay 655 cũng ở trong tuyến đường bay thương mại, chứ không hề đi chệch hướng 6 km như trong báo cáo.

Hai phóng viên điều tra John Barry và Roger Charles của tờ Newsweek cho rằng chỉ huy trưởng Rogers đã hành động bất cẩn mà không có sự suy tính kỹ càng, cũng như buộc tội chính phủ Mỹ bao che cho hành động sai lầm từ phía quân mình.

Vào ngày 6/11/2003, Tòa án Công lý Quốc tế kết luận hành động của Hải quân Mỹ tại vịnh Persian trong năm 1988 là vi phạm pháp luật. Iran và gia đình các nạn nhân thiệt mạng trong chuyến bay 655 được nhận một khoản bồi thường trị giá 61,8 triệu USD.

Thảm kịch này đã làm mối quan hệ “cơm không lành canh chẳng ngọt” giữa Iran và Mỹ ngày một leo thang. Và chỉ khoảng 6 tháng sau khi xảy ra vụ tai nạn, ngày 21/12/1988, chuyến bay 103 của hãng hàng không Pan Am lịch trình vượt Đại Tây Dương từ sân bay London Heathrow (Anh) tới sân bay quốc tế John F. Kennedy (Mỹ) đã bị “thổi bay” khi đang thực hiện hành trình trên bầu trời Scotland do một thiết bị nổ plastic. 270 người từ 21 quốc gia, bao gồm 11 người ở mặt đất, thiệt mạng. Chính phủ Mỹ và Anh cáo buộc một tổ chức phiến quân Palestine được Iran hậu thuẫn, phải nhận trách nhiệm cho vụ tấn công trên và coi đây là hành động trả đũa nhằm vào Mỹ.

Theo BÁO TIN TỨC

Vì sao Trung Quốc bị “cấm cửa” trên trạm vũ trụ quốc tế ISS?

Vì sao Trung Quốc bị “cấm cửa” trên trạm vũ trụ quốc tế ISS?

Trung Quốc hiện là một trong số ít các quốc gia có khả năng mang con người lên không gian, tuy nhiên Trung Quốc lại không được phép sử dụng chung trạm vũ trụ quốc tế ISS với Nga và Mỹ. Bạn có biết lý do tại sao

Trạm vũ trụ Quốc tế (International Space Station – ISS) là tổ hợp công trình nghiên cứu không gian, hợp tác giữa 5 cơ quan không gian lớn nhất thế giới bao gồm NASA (Mỹ), RKA (Nga), CSA (Canada), JAXA (Nhật Bản) và ESA (châu Âu).

Được xem là trạm vũ trụ quốc tế, nhưng các phi hành gia của Trung Quốc lại không được phép đặt chân lên ISS, mặc dù hiện tại Trung Quốc là một trong 3 quốc gia có khả năng mang con người lên không gian (bên cạnh Nga và Mỹ).

Sở dĩ có điều này bởi lẽ đó là một phần trong đạo luật được đưa ra vào năm 2011, cấm NASA sử dụng bất kỳ hình thức hợp tác nào trong các dự án về không gian với Trung Quốc. Luật này được đưa ra bởi Hạ nghị sĩ Frank Wolf, với những lo ngại về an ninh quốc gia, đặc biệt là tình trạng gián điệp công nghiệp của Trung Quốc.

Mặc dù Frank Wolf đã nghỉ hưu từ năm 2015 nhưng đến nay lệnh cấm vẫn có hiệu lực. Nhiều báo cáo của chính phủ Mỹ kể từ khi luật có hiệu lực đã tuyên bố hoạt động không gian của Trung Quốc là một mối đe dọa đến an ninh chính trị và quân sự của Mỹ.

Là trạm vũ trụ quốc tế nhưng các phi hành gia Trung Quốc bị “cấm cửa” tại ISS

Là trạm vũ trụ quốc tế nhưng các phi hành gia Trung Quốc bị “cấm cửa” tại ISS

Tuy nhiên, nhiều người đã đặt ra câu hỏi về ý nghĩa thực sự của luật cấm này, khi mà trước đó Mỹ cũng đã hợp tác cùng Liên Xô trong thời kỳ chiến tranh lạnh để phát triển các chương trình nghiên cứu không gian chung và đến nay cho dù Nga và Mỹ vẫn có những bất đồng nhưng vẫn tiếp tục hợp tác cùng nhau để xây dựng trạm không gian ISS.

Năm 2007, Thứ trưởng Bộ khoa học và Công nghệ Trung Quốc Li Xueyong tuyên bố Trung Quốc muốn được tham gia vào dự án xây dựng ISS. Đến năm 2010, Tổng giám đốc Cơ quan vũ trụ châu Âu (ESA) Jean-Jacque Dordain cho biết ESA đã sẵn sàng để kiến nghị với 4 đối tác xây dựng ISS khác để mời Trung Quốc hợp tác vào dự án này, nhưng ông cũng cho biết cần phải có một quyết định tập thể của tất cả các thành viên tham dự án. Trong khi Nga và châu Âu mở cửa với Trung Quốc để tham gia vào dự án ISS thì Mỹ vẫn giữ nguyên lập trường với việc “cấm cửa” Trung Quốc.

Chính phủ Trung Quốc đã nhiều lần khẳng định rằng giao lưu quốc tế và hợp tác trong lĩnh vực kỹ thuật hàng không vũ trụ trên cơ sở cùng có lợi và sử dụng vì mục đích hòa bình, phát triển chung, tuy nhiên dường như điều này vẫn chưa đủ để thuyết phục Quốc hội Mỹ bỏ qua luật cấm.

Các nhà khoa học Trung Quốc cũng đã nhiều lần chỉ trích lệnh cấm được Quốc hội Mỹ thông qua là “vô đạo đức”. Dù bị cấm hợp tác với Mỹ tuy nhiên Trung Quốc hiện đang hợp tác với Nga cũng như cơ quan không gian châu Âu (ESA) cho các dự án nghiên cứu không gian của mình.

Bản thân Trung Quốc cũng đang tự phát triển chương trình nghiên cứu không gian của riêng mình, trong đó phát triển trạm không gian Thiên Cung, được phóng lên vũ trụ từ tháng 9/2011.

Theo T.Thủy
Dân trí