Nhà thiên văn học lỗi lạc ĐẶNG LỘ – Ông tổ của nền thiên văn Việt Nam

Nhà thiên văn học lỗi lạc ĐẶNG LỘ – Ông tổ của nền thiên văn Việt Nam

Trong lịch sử Việt Nam, tuy có rất nhiều danh nhân nhưng phần lớn là trong các lĩnh vực chính trị, quân sự và khoa học xã hội. Đặng Lộ xuất hiện trong sử Việt như một ngôi sao sáng về khoa học tự nhiên.

Nhà thiên văn học Đặng Lộ sống vào thế kỷ 14 dười triều nhà Trần. Ông quê ở làng Mạc Xá, huyện Chương Đức, lộ Ứng Thiên ( thuộc Chương Mỹ, Hà Nội ngày nay ). Đặng Lộ làm quan trải ba triều vua Trần Minh Tông, Trần Hiến Tông, Trần Dụ Tông.Thuở nhỏ Đặng Lộ có sở thích ngắm trăng sao và mặt trời, đến nổi bị đau mắt nặng vì ngắm mặt trời.

Lớn lên, Đặng Lộ được học ở Quốc tử giám và thi đậu Thái học sinh, được phong làm Liêm phòng sứ hai lộ Đại Hoàng, An Tiêm ( vùng Hà Nam, Nam Định ngày nay ). Sang thời Trần Hiến Tông, tài năng thiên văn của Đặng Lộ được vua và triều thần phát hiện nên ông được phong làm Hậu Nghi lang thái sử cục lệnh, đứng đầu đài Hậu Nghi, thuộc Khâm Thiên giám là cơ quan chuyên trách về thiên văn thời Trần.

Trong thời gian này, Đặng Lộ đã phát minh ra một loại máy dùng quan sát, đo đếm thiên tượng gọi là Lung Linh Nghi. Đây là phát minh quan trọng bậc nhất về lĩnh vực thiên văn của nước ta. Đại Việt Sử Ký Toàn Thư đánh giá : ” Lung linh nghi khảo nghiệm thiên tượng, không việc gì là không đúng”.

Với vốn kiến thức tích lũy và qua nghiên cứu từ Lung linh nghi, Đặng Lộ đã biên soạn một bộ lịch pháp mới gọi là Hiệp Kỷ Lịch và dâng lên vua Trần Hiến Tông. Bộ lịch này đã được dùng để thay thế Lịch Thụ Thời, là thứ lịch mà nước ta đã dùng dựa trên lịch của nhà Tống. Thời thượng cổ, nước ta vốn dĩ đã có lịch pháp cho riêng mình nhưng đã bị thất truyền. Sau thời Bắc thuộc, đành tạm dùng lịch của Trung Quốc. Tuy nhiên khí hậu nam bắc vốn khác biệt và bản thân lịch pháp Trung Quốc thời kỳ này cũng đã có nhiều bất cập nên dẫn đến lịch không khớp với chu kỳ thời tiết, gây khó khăn cho sản xuất nông nghiệp. Việc áp dụng lịch Hiệp kỷ, một thứ lịch mới chính xác hơn là bước tiến lớn về văn minh của Đại Việt, giúp cho sản xuất nông nghiệp được thuận lợi hơn. Công lao này của Đặng Lộ rất lớn.

Về sau, dựa vào các nghiên cứu này mà Trần Nguyên Đán viết sách Bách thế thông khảo, ghi rõ những sự kiện thiên văn trải dài nhiều thế kỷ đến tận thế kỷ 14. Đáng tiếc là thời nhà Hồ mất nước, các sách vở của Đặng Lộ và Trần Nguyên Đán đều bị giặc Minh cướp phá hoặc hủy hoại, công trình của họ bị thất truyền. Sang đến thời nhà Nguyễn, Khâm Thiên giám nhà Nguyễn mới soạn lại được Hiệp kỷ lịch, dựa trên sự tham khảo lịch pháp nhà Thanh.

Nguồn : FB Văn Hóa Lịch Sử

Tạm ước Việt – Pháp (14/9/1946)

Tạm ước Việt – Pháp (14/9/1946)

Tháng 9/1946, chính phủ VNDCCH non trẻ tồn tại chưa đầy 1 năm nhưng mối họa thực dân đã trở lại. Pháp đã mang quân vào chiếm Nam Kỳ và lập ra chính phủ bù nhìn ở đó. Sau Hiệp ước Hoa-Pháp (tháng 2/1946), quân Pháp ra Bắc Kỳ thay thế quân Tưởng giải giáp phát xít Nhật. Chính phủ VNDCCH biết rõ nếu lâm vào chiến tranh với Pháp đó sẽ là một cuộc chiến bất cân xứng và kéo dài, cho nên trước tiên tìm cách đàm phán qua con đường ngoại giao. Nội dung đàm phán là thành lập một nhà nước Việt Nam độc lập thực sự bên trong khối Liên Hiệp Pháp. Thực ra Việt Minh không quá hi vọng vào một giải pháp ngoại giao, nhưng quá trình đàm phán là cần thiết để tìm sự công nhận của công luận quốc tế, và để có thêm thời gian chuẩn bị cho chiến tranh.

14232593_159618997817642_8635807176881292735_n

Ảnh: Phái đoàn sang Pháp dự hội nghị

Chủ tịch Hồ Chí Minh và bộ trưởng tài chính Phạm Văn Đồng dẫn đầu phái đoàn sang Paris đàm phán về quy chế độc lập cho Việt Nam trong khuôn khổ Liên Hiệp Pháp. 2 bên đồng ý Việt Nam có thể có chính phủ, nghị viện, quân đội và tài chính riêng. Tuy nhiên về mặt chính danh và ngoại giao thì Pháp không muốn Việt Nam được tự chủ, mà phải nằm trong Liên bang Đông Dương.

Người Pháp cũng tìm cách chia cắt Việt Nam bằng cách quy định rằng Nam Kỳ quốc (thể chế mà Pháp vừa mới dựng lên ở miền Nam) và Việt Nam là 2 thực thể khác nhau cùng nằm trong Liên bang Đông Dương. Phái đoàn Việt Nam phản đối kịch liệt dự định này. Để xoa dịu đoàn Việt Nam, phía Pháp hứa sẽ thực hiện trưng cầu dân ý ở Nam Kỳ về việc thống nhất đất nước. Tuy nhiên khi phía Việt Nam đòi thời hạn cụ thể thì phía Pháp im lặng. Bộ trưởng Phạm Văn Đồng bỏ về nước. Đến ngày 13/9/1946, Hội nghị gần như đã thất bại.

ob-yi445_radosh_p_20130726135649

Ngày 14/9/1946 chủ tịch Hồ Chí Minh đến gặp riêng Ngoại trưởng Pháp và kí kết một bản tạm ước. Bản tạm ước này không nhắc gì đến những bất đồng quan trọng nhất, mà chỉ là thỏa thuận về ngừng bắn, hợp tác về tiền tệ, thuế quan.

Việc kí kết bản Tạm ước này là một cố gắng cá nhân của Hồ chủ tịch để kéo dài thời gian cho Việt Minh chuẩn bị kháng chiến. Chỉ 2 tháng sau khi bản Tạm ước được kí, chiến tranh Đông Dương mở màn.

Chế độ cai trị của thực dân Pháp ở 3 miền

Chế độ cai trị của thực dân Pháp ở 3 miền

Có bạn nhắn tin hỏi về sự khác biệt trong chế độ cai trị của thực dân Pháp ở 3 miền. Thường thì ad không trả lời những câu hỏi mang tính “đối phó” với môn Sử trong lớp :v, tuy nhiên chủ đề này có vẻ ít người biết cho nên mình viết luôn thành một bài.

Pháp có được Nam Kỳ từ rất sớm, sau khi vua Tự Đức kí hòa ước Nhâm Tuất (1862) nhượng lại 3 tỉnh miền Đông, rồi Pháp chiếm nốt 3 tỉnh miền Tây vào năm 1867. Người Pháp thiết lập chế độ cai trị trực tiếp, các quận huyện đều do sĩ quan người Pháp đứng đầu.

Tận 28 năm sau, khi xảy ra chiến tranh Pháp-Thanh (1885) và trận Kinh thành Huế, thì Pháp mới thực sự kiểm soát Trung Kỳ và Bắc Kỳ. Pháp thiết lập chế độ bảo hộ, tức là nhà Nguyễn vẫn kiểm soát 2 xứ này trên danh nghĩa, các quan lại vẫn là người Việt và vẫn do nhà vua tuyển chọn, chỉ khác là nhà vua được quan Toàn quyền “cố vấn”. Vua Nguyễn cũng không trực tiếp điều hành Bắc Kỳ, mà giao lại công việc cho một đại diện của mình gọi là Kinh lược sứ.

Năm 1897, Pháp buộc vua Đồng Khánh phải bãi bỏ chức Kinh lược sứ. Kể từ đó vua Nguyễn không còn quyền hành gì ở Bắc Kỳ, các quan lại trên danh nghĩa vẫn thuộc về nhà Nguyễn nhưng do Toàn quyền Pháp trực tiếp lựa chọn.

Tóm lại:
– Nam Kỳ: Pháp cai trị trực tiếp
– Trung Kỳ: cai trị gián tiếp thông qua triều đình Nguyễn
– Bắc Kỳ: cai trị gián tiếp trên danh nghĩa, nhưng cai trị trực tiếp trên thực tế.

Pháp đổ bộ vào Đà Nẵng

Pháp đổ bộ vào Đà Nẵng

Đà Nẵng là nơi có hải cảng sâu và rộng, cắt đôi đất nước, lại khá gần kinh thành Huế. Hoàng đế Napoleon III cho rằng có thể dễ dàng đánh bại nhà Nguyễn, cho nên cử 3000 lính cùng 14 tàu chiến đổ bộ vào đây. Ngoài ra còn có 500 quân Tây Ban Nha hỗ trợ.

Ngày 1/9, tàu chiến Pháp bắn hàng trăm phát đạn vào bán đảo Sơn Trà, ngày 2/9 bắt đầu đổ bộ. Người Pháp bắn sập 2 đồn, chiếm được 2 đồn khác của quân nhà Nguyễn. Hữu quân Lê Đình Lý mang 2000 quân vào ứng cứu, nhưng bị tử thương trong một trận đánh ở xã Cẩm Lệ.

Trước tình hình đó, Nguyễn Tri Phương từ Nam Kỳ ra thống lĩnh quân phòng thủ. Ông thực hiện “vườn không nhà trống”, đắp lũy kéo dài, cô lập quân Pháp ngoài mé biển. Cách đánh của Nguyễn Tri Phương thụ động nhưng chu đáo, quân Pháp kẹt suốt 5 tháng không tiến được.

Tướng Pháp viết thư về chính quốc nói “Chính phủ bị đánh lừa về bản chất của cuộc đi đánh lấy Cochinchina; người ta trình bày rằng việc viễn chinh này chỉ là một việc dễ dàng thôi, nho nhỏ thôi; thực ra, nó không dễ, cũng không nhỏ…Người ta báo cáo rằng quân đội Việt không có gì, sự thật thì quân chính quy rất đông, còn dân quân…thì không đau ốm và không tàn tật…Trên bộ thì không hành quân lớn được, dù là chỉ hành quân ngăn ngắn mà thôi; binh lính không chịu đựng nổi…”

Sau thời gian dài bị cầm chân, quân Pháp quay lên tàu và tiến vào Gia Định. Mất thêm 4 năm chiến tranh nữa Pháp mới đánh thắng và buộc nhà Nguyễn nhượng lại 3 tỉnh miền Đông.