Lịch sử hiện đại viết theo cổ văn!

Muitenbac777

Sinh bất phùng thời!
Tham gia
13/4/20
Bài viết
100
Đã được Thích
64
Điểm
25
Địa chỉ
Divine Great Việt Empire
Xét thấy chủ đề này được khá nhiều người ưa thích, nay lập thớt đăng lại những bài cũ (từng đưa lên Faceboof của Diễn đàn), và cả những bài mới.

Trường hợp không phải bạn tự viết, vui lòng ghi rõ nguồn và share cả link (nếu có).
 

Muitenbac777

Sinh bất phùng thời!
Tham gia
13/4/20
Bài viết
100
Đã được Thích
64
Điểm
25
Địa chỉ
Divine Great Việt Empire
"Phá Ngụy bố văn" (dựa theo Đại Việt sử ký toàn thư)
****
1111111111.jpg

Sách chép rằng Đại Việt ta vốn dòng dõi Thần Nông, từ đời Thành Vương cống chim trĩ trắng, dâng quy lịch đã ba ngàn năm có lẻ. Phong vật, giáo hóa không thẹn trời Nam, văn chương, đạo học dương danh bể Bắc. Nhưng đạo trời thay đổi, thế vận đổi dời, gặp năm Mậu Ngọ (1858) mắc nạn Hồng di. Từ đó gần trăm năm nước ta bị nội thuộc, mất quốc thống về đám rợ Tây Dương.

Đến năm Ất Dậu (1945), giặc Phú Lãng Sa và Oa cai trị tàn bạo, xảy ra nạn đói to khiến hai trăm vạn người chết ở Bắc Hà. Quốc phụ thừa cơ dấy nghĩa, đánh đuổi được quân rợ. Bản triều dựng lại tông miếu, xã tắc. Nhưng đảng giặc còn hung hăng , loạn Tây vẫn chưa dứt. Chúng học thói Kính Đường, lập Ngụy triều đối chọi quan quân; lại bắt chước Hồng Câu bên Tàu, lấy sông Bến Hải chia đôi thiên hạ, sau lại rước năm chục vạn quân Á Mỹ Lợi Gia cùng chư hầu vào phương Nam. Trăm họ lầm than, rường cột đảo lộn.

****
Mùa xuân năm Ất Mão (1975), nhận thấy ngoại bang đã bị đánh lui, Ngụy triều binh đông tướng nhiều nhưng không mạnh, Tứ Trụ sửa soạn binh giáp, đốc thúc lương thảo quyết đánh diệt gốc rễ đảng giặc, nối lại quốc thống. Trên là nối chí căm thù của tổ tông ông cha, dưới lo cứu nguy cho muôn vàn lưu dân điêu đứng. Tháng Ba, cao nguyên đại chiến, 8 vạn quân Ngụy chỉ còn vài doanh vứt bỏ khí giới chạy thoát. Thuận Hóa, cửa Hàn thay nhau tan vỡ, Tây Nguyên, Bình Định nối tiếp thu về. Cái thế sấm vang chớp giật, trúc trẻ tro bay thật không thể bỏ lỡ. Toàn quân được lệnh xốc tới, đánh thẳng đến thành Gia Định
****
Tháng Tư, Tiết chế lúc bấy giờ là Võ Nguyên Giáp, cho lập đàn sắm lễ, trai giới làm lễ tế trời đất cùng các đế vương, tiên hiền, chư thánh, linh thần thổ địa đất Việt. Khấn rằng:

"Thần họ Võ tên Giáp, gượng gánh trọng trách của nước nhà, cầm binh phù, vâng mệnh đánh loạn thần tặc tử, lấy lại sơn hà xã tắc. Nay đạo thấp ma cao, thiên hạ đại loạn, bách tính phải chịu lầm than đã gần 20 năm, người chính khí há lại chịu đội trời chung với chúng. Xin tiền nhân, chư thánh chứng giám".

Khấn xong, ngày hôm ấy, mây mù tan hết, thái dương chiếu rọi khắp nơi. Tiết chế cho là điềm lành, hội các tướng bàn việc tiến quân và cáo dụ rằng:

"Cái thế chẻ tre không thể bỏ lỡ. Huống chi, ta vâng mệnh đi đánh kẻ vô đạo, thống nhất Nam bắc. Các tướng nên răn cấm binh sĩ, nghiêm ngặt nhắc lại ước thúc, chấn chỉnh đội ngũ, hiệu lệnh rõ ràng. Quân đi đến đâu, không được mảy may xâm phạm của dân, không được cướp bóc dân lành, của cải không phải của giặc thì không được lấy bậy. Quân kỷ nghiêm minh thì giặc dễ phá".
****
Rồi phong Văn Tiến Dũng làm chánh tướng, lấy 25 vạn tinh binh chia 5 đạo vây mấy vòng quanh Gia Định. Lại sai nghĩa sĩ, ám vệ vào thành phủ dụ dân chúng, hẹn ngày treo cờ, kết hoa đón vận nhất thống. Binh mã Ngụy triều co cụm trong Gia Định ngót 25 vạn quân, khí giới trang bị, thiết xa, phi hạm nhiều vô kể. Nhưng sỹ khí thực không còn bao nhiêu, nháo nhác dắt nhau tìm chỗ trốn.

Ngày 25 tháng Tư, Ngụy vương Thiệu nhân đêm tối lên phi cơ bỏ chạy, bá quan phải lập vội người khác lên thay. Quân binh được điều ra giữ các cửa thành, nhưng sĩ tốt cũng như các quan văn võ, nửa đêm trèo thành đi trốn đến quá nửa.

Ngày 26, đại quân phát súng lệnh, dùng thần cơ bắn phá gần 1 canh giờ. Sau đó các tướng kéo cờ, đánh chiêng gióng trống. 5 đạo như hùm beo, trăm quân như hổ báo, người khoe mạnh, kẻ đua hùng, điểm xạ thành thạo, thi nhau bắn ngã sĩ tốt địch. Súng nổ liên hồi như sấm rền, đạn rơi như sao sa, cách mười dặm còn nhìn rõ. Trống chiêng dậy đất, cờ xí rợp trời, giáo mác như mây. Chư tướng phất cờ lệnh thúc đánh, chỉ tiến không lùi, toàn quân xông pha tên đạn, phá lũy leo thành mà vào.

Ngụy binh thế cá chậu chim lồng, sĩ tốt bỏ giáp quẳng gươm nháo nhác như ong vỡ tổ. Các tướng Ngụy, người cay đắng bỏ chạy như Đôn, Viên; kẻ hổ thẹn mà diệt thân như Hưng, Nam. Bấy giờ thuyền nặng, xe đông, phải ném cả khí cụ hòm xiểng xuống Đông hải để chừa chỗ, không còn phép binh gì. Có kẻ bám mạn thuyền, ôm càng phi cơ thoát thân. Lại thấy khắp bãi sông, quanh cửa biển tụ tập dồn ứ đến hàng vạn, cảnh khóc than xưa nay chưa từng thấy.

Tiết chế đã dụ từ trước, nhưng địch quân nhất thời hoảng loạn gây cảnh tang tóc thê lương. Thương bách tính bị ép xung quân, xót dân đen gặp nạn binh hỏa. Nên truyền lệnh quan quân thu đại pháo, mở sinh lộ cho Ngụy quân cùng quẫn, bách tính đi theo được chạy ra Đông hải.
****
Ngày Bính Ngọ, đại binh nhập thành giờ Thìn. Quan quân lấy thiết pháo xa húc đổ cửa chính dinh, ồ ạt kéo vào. Ngụy vương mới phong cùng bá quan cổ đeo lụa trắng, mình mặc áo tang, phủ phục chờ sẵn. Tiết chế lệnh thu hàng cả, sai niêm phong kho tàng, bảo vệ cung thất. Lại cho thu nhặt vũ khí, kiểm kê hàng binh.

Trai gái hò reo vui vận thái bình, phụ lão đều hân hoan đón ngày Bắc Nam nhất thống, sơn hà liền cõi.

(Chấp bút ngày Đinh Dậu, tháng Mậu Thìn, năm Kỷ Hợi, Cộng hòa năm thứ bảy mươi tư)

Nguồn: Văn Cao Nguyễn/Hội những người thích tìm hiểu Lịch Sử.
 

Muitenbac777

Sinh bất phùng thời!
Tham gia
13/4/20
Bài viết
100
Đã được Thích
64
Điểm
25
Địa chỉ
Divine Great Việt Empire
2222222222222222222222.jpg

ĐẠI VIỆT THỰC LỤC (tự viết, xin ném đá nhẹ tay)

Đại Việt quốc, Kỷ Độc Lập, Dương lịch Hậu Công nguyên, đệ thiên cửu bách thất thập ngũ niên (1975), tức là Âm lịch Ất Mão niên.

Ở Thăng Long thành, nhà Cộng họp bá quan bàn tính sách lược thống nhất. Nhìn chung Á Mỹ Lợi Gia quốc đã lui binh được 2 năm, nhà Ngụy không còn năm mươi vạn quân ngoại bang trợ chiến, thực lực suy yếu nghiêm trọng. Tuy xét ra binh lực, khí giới vẫn kém quân Gia Định đến vài lần, nhưng tất thảy đều là quân nghiêm tướng giỏi, sĩ khí ngút trời. Lại có đại nguyên soái Võ Nguyên Giáp là bậc kỳ tài, dụng binh như thần, gần ba mươi năm đọ sức với bao mãnh tướng hùng binh của Phú Lang Sa lẫn Mỹ Lợi Gia, rốt cuộc khiến cho 2 đại quốc này phải hạ kỳ lui quân về nước. Quy kết lại: tất thắng là chuyện khả dĩ. Sử sách gọi đây là "Xuân tiết chi chiến."

Về nội tình Gia Định thành, binh lực có đến trăm vạn, khí giới vật tư vẫn đủ đánh liên tục ít nhất 3 tháng. Tuy nhiên sĩ khí binh tướng đều xuống thấp, do Á Mỹ Lợi Gia giảm thiểu cấp viện, năm đó chỉ còn 7 ức lượng. Trong triều, nhiếp chính vương Thiệu lên ngôi nhờ chính biến nên luôn nghi kỵ, thi thoảng lại điều quân không qua Binh bộ khiến tướng lĩnh chỉ biết ngửa mặt than trời. Do quá cậy nhờ vào thiết hạm đại pháo lẫn oanh tạc phi cơ của Á Mỹ Lợi Gia, thành thử khi đồng minh rút về thì uy lực quân nhà Ngụy đã hao đi quá nửa. Bởi thế nên chỉ mới sa kế nghi binh mà bại một trận ở trấn Buôn Mê Thuột, Thiệu đã ra lệnh lui về châu thổ, bỏ hẳn cả Trung bộ Sơn nguyên. Khốn nỗi thay Đệ nhị Quân đoàn gặp phục kích dọc đường, chỉ còn hai ba phần chạy thoát, bao nhiêu khí giới lương thảo đều mất hết cả.

Thiên hạ chấn động, Thăng Long thành lập tức phát lệnh cho đại binh Nam hạ, phất đại kỳ Giải phóng quân, cùng đồng minh Nam Việt Cộng hòa quốc tạo thế công khắp nơi. Do Tâm lý chiến Nha của nhà Ngụy nhiều năm tung lời đồn thổi rằng đối phương mười phần huyết tinh, khiến cho sĩ tốt chợt nghe đã nản lòng, trên dưới đều kinh hoàng táng đảm. Đến lúc hai quân giao chiến, thiên hạ thấy cảnh tướng thoát trước, lính chạy sau, dân thì dẫm đạp nhau mà tranh chỗ trên hải thuyền phi cơ. Bởi thế Cộng quân tiến như vũ bão, đánh đâu thắng đó, như quét lá khô, như đạp gỗ mục, không gì cản nổi. Chưa đầy hai tháng mà trăm vạn quân nhà Ngụy chỉ còn lại chừng ba bốn chục vạn rệu rã mà thôi.

Ngày hai mươi sáu tháng Tư, Văn Tiến Dũng tướng quân đem 25 vạn tinh binh, mấy chục chánh phó tướng chia làm 5 lộ vây đánh Gia Định, chỉ chừa đường thoát ra biển, đến ngày thứ tư thì nhập thành. Thiết giáp kỵ binh đạp tung cửa chính dinh, xông vào bắt sống nhiếp chính vương họ Dương vừa mới nhậm chức cùng hết thảy bá quan văn võ. Các lộ, trấn, phủ còn lại đều quy hàng. Nhà Ngụy vong từ đây.

Nhà Cộng dùng tên quốc phụ mà đặt lại cho Gia Định, từ đó sử chép là đô thành Hồ Chí Minh. Một năm sau, dân biểu các phương tề tựu, quyết định rằng thiên hạ từ nay lấy tên là Việt Nam Xã hội Chủ nghĩa Cộng hoà, lại chọn ra Hoàng Tinh Hồng Sắc Kỳ làm quốc kỳ, lấy Thăng Long làm kinh đô, hoàn tất cái đại nghiệp thống nhất Nam Bắc.

- Muitenbac777 - (Xin đa tạ huynh đệ Quốc Bảo đã giúp biên tập lại từ vựng)
 
  • Thích
Reactions: Evil Empire

Muitenbac777

Sinh bất phùng thời!
Tham gia
13/4/20
Bài viết
100
Đã được Thích
64
Điểm
25
Địa chỉ
Divine Great Việt Empire
3333333333333333.png

[Ngày này năm xưa]

- 21/2/1848: Cộng sản triết tổ Mã Khắc Tư và Văn tổ Ân Cách Tư viết hịch khởi nghĩa "Cộng sản đảng tuyên ngôn".

Bấy giờ thiên đạo thay đổi, nghề nông bị xem nhẹ mà nghề công thương được chú trọng. Những tưởng sản nghiệp phong phú, văn minh tiến bộ nhưng khốn thay thiên hạ còn lầm than, bách tích còn khổ ải với tư bản, đế quốc, thực dân bóc lột. Nhị tổ thấy thương trăm họ phải sống kiếp nô lệ, lao dịch, thuế khoá nặng nề bèn viết hịch khởi nghĩa lấy tên " Cộng sản đảng tuyên ngôn".

Hịch xuất thế, hành văn khúc chiết, lời lẽ tựa châu ngọc, thực xứng đáng là thiên cổ hùng văn; tiền vô cổ, hậu vô lai. Hịch phát ra, trăm họ hưởng ứng. Vẽ búa liềm làm lệnh, tô hồng sắc làm cờ. Thiên hạ chấn động.

Tiếc rằng nghiệp chưa thành mà nhị tổ sớm băng hà. Cao tổ Lê Nhĩ, Thánh tổ Tư Khắc Lâm nối nghiệp, dựng triều Liên Xô, cùng minh hữu tru phát xít, đấu tư bản, chia đôi thiên hạ. Đại Việt ta trước gặp hoạ Phú-Lãng-Sa gần trăm năm, quốc phụ nhờ có thuyết này làm nền mới lập lại quốc thống. Trước đả Phú-Lãng-Sa, Á-mỸ-Lợi-Gia; sau đồ Ngụy, chinh Miên, cự Hán, võ nghiệp có thể xưng tiểu bá, chấn động cả địa cầu vậy.

Tuy thiên hạ phiên vân phúc vũ đã gần 200 năm nhưng nghiệp xưa còn mới, hịch cũ còn vang. Đại nghiệp chưa thành nhưng đảng giặc cũng bớt hung hăng mà chúng sinh cũng đỡ khổ cực. Ngày công được giảm mà phúc lợi xã hội lại tăng. Đó không là công ơn Triết tổ, Văn tổ thì là gì nữa?

Nguồn: Văn Cao Nguyễn/Hội những người thích tìm hiểu Lịch Sử.
 

Muitenbac777

Sinh bất phùng thời!
Tham gia
13/4/20
Bài viết
100
Đã được Thích
64
Điểm
25
Địa chỉ
Divine Great Việt Empire
44444444444444.png
- 22/4/1870: Cộng sản Cao tổ Lệ Ninh ra đời

Lệ Ninh húy là Vu La Điềm, người Nga La Tư. Thuở ấy, tư sản bóc lột, đế quốc bành trướng, công nông khốn khổ, trăm họ lầm than. Người tuy con nhà trung nông, nhưng từ nhỏ tư chất thông tuệ, nhân từ độ lượng, hiểu thấu Mác học. Anh trai là A Lịch Sơn vì dấy nghĩa mưu sát Nga hoàng mà bị xử giảo. Lệ Ninh bị lưu đày tới miền Viễn Đông giá rét, rồi xuất ngoại hơn mười bảy năm.

Bấy giờ Đệ nhất thế chiến sắp kết thúc, Nga La Tư chiến trận bại, chính sự suy, quần chúng công nông bất mãn, khởi binh phế truất Nga hoàng. Lệ Ninh thấy thiên thời, địa lợi, nhân hòa đều đã đủ, bèn về nước phát động đại cách mạng vô sản, lấy búa liềm làm hiệu, tô sắc đỏ làm cờ. Nghĩa binh đánh vào Đông cung, lật đổ ngụy triều, kiến lập Xô Viết liên bang. Địa cầu chấn động, đế quốc kinh hãi. Sử sách gọi là "Thập nguyệt cách mệnh".

Năm đó nước ta còn bị Phú Lãng Sa đô hộ, Quốc phụ lặn lội nơi hải ngoại tìm đường cứu quốc, được tin ấy thì cả mừng, viết rằng "đây là con đường giải phóng chúng ta". Hai mươi tám năm sau, Quốc phụ cùng Đại nguyên soái phát động "Bát nguyệt cách mệnh", mở kỷ Độc Lập, chính là noi theo gương này mà thành.

Thời hậu chiến, Lệ Ninh còn thiết lập Tân chính, rất thành công; mà hơn nửa thế kỷ về sau, Đại Hán lẫn Đại Việt đều áp dụng để trở nên phú cường.

Ở Thăng Long có tượng đồng Lệ Ninh, cao tổng cộng 2 trượng, nặng bốn ngàn cân có lẻ. Ngày này hàng năm đều có bá quan đến viếng.

- Muitenbac777 - (Thanks Quốc Bảo đã giúp chỉnh sửa)
 

Muitenbac777

Sinh bất phùng thời!
Tham gia
13/4/20
Bài viết
100
Đã được Thích
64
Điểm
25
Địa chỉ
Divine Great Việt Empire
1588084364946.png

Mùa xuân năm Canh Tý, các nước lớn lỗi đạo trời, dịch bệnh đói kém, người chết gối lên nhau. Bản triều kính cẩn quỷ thần, cấm giữ nghiêm ngặt, trên dưới cùng một dạ, thương dân khoan hồng, nhưng mùa màng thất bát, Đăk Nông, Đăk Lăk giáp hạt thiếu ăn.

Ngày 22 tháng 3, Môn Hạ sảnh sai Bộ Hộ mở kho công, phát gấp gần 8 ngàn thạch gạo, kịp cứu lương dân, không được chậm trễ. Than ôi, nước nhỏ ở chân trời góc bể mà quỷ thần nương, xa nơi biên ải mà dân kính sợ, rường cột chắc chắn, hiên nóc vững vàng, chư hầu phải nể, nước lớn phải thẹn.

- Phần tử dân tộc cực hữu -
 
  • Thích
Reactions: Maxx_95

Muitenbac777

Sinh bất phùng thời!
Tham gia
13/4/20
Bài viết
100
Đã được Thích
64
Điểm
25
Địa chỉ
Divine Great Việt Empire
1588084491389.png

Nhiếp chính vương, nguyên soái Bắc Cao Ly là Kim Chính Ân viếng Lăng quốc phụ và Vô danh liệt sĩ đài, ngày Mậu Tuất, tháng Bính Dần, năm Kỷ Hợi (Công lịch 2019).

Xưa kia, lúc Cộng sản đảng phục hồi quốc thống, khởi Kỷ Độc Lập, có bố cáo tứ phương thiên hạ, trong bách quốc thì Bắc Cao Ly là đệ tam quốc cử sứ sang thông hiếu. Nay Kim nguyên soái ngự du Đại Việt, là gần tròn bảy mươi năm lưỡng quốc kết mối bang giao vậy.

Nguồn: Hội những người yêu thích lịch sử
 
  • Thích
Reactions: Maxx_95

Muitenbac777

Sinh bất phùng thời!
Tham gia
13/4/20
Bài viết
100
Đã được Thích
64
Điểm
25
Địa chỉ
Divine Great Việt Empire
1588093242030.png


7/5/1954: chiến thắng Điện Biên Phủ

Đại Việt dân chủ năm thứ chín, tức năm Giáp Ngọ (Công nguyên 1954), quân Phú Lang Sa đại bại ở miền Thượng Ai Lao, mất quyền kiểm soát 4 ngàn dặm vuông lãnh thổ và 30 vạn dân. Thống soái Phú Lang Sa là Na-va bèn điều phi cơ đổ quân xuống thung lũng chính vùng Tây Bắc, nhằm chặn đường tiếp vận sang Ai Lao đồng thời dụ đối phương vào để diệt. Tương kế tựu kế, đại binh Việt Minh kéo lên vây đánh, sử gọi là "Điện Biên chi chiến".

Tuy chỉ có hơn một vạn rưỡi, nhưng tinh binh Phú Lang Sa có khí giới hiện đại, hào sâu lũy chắc, lại rải chông sắt, chôn địa lôi khắp nơi. Trên không phi cơ bay thành đàn, dưới đất đại pháo chĩa nòng tua tủa, lắp sẵn đạn thấy động là bắn. Chủ tướng ở Điện Biên là Đờ-Cát, xuất thân binh gia mấy đời, hơn nữa từng qua sáu năm lãnh binh trong đệ nhị thế chiến.

Quân Việt Minh ước chừng 5-6 vạn, tuy nhiên đa phần là nông dân, khí giới cũng không tân tiến bằng. Đại pháo ít hơn, giáp xa, phi cơ không có cái nào. Bù lại sĩ khí cao ngất, ai ai cũng sẵn sàng quyết tử đánh đuổi ngoại bang. Thái úy Võ Nguyên Giáp vốn là một giáo thụ được phong tướng, tự đọc binh thư, tự kinh trận mạc mà thành tài.

Hai bên giao chiến suốt 2 tháng trời, đánh đến thiên băng địa liệt. Quân Việt đào hầm hào tránh hỏa lực, chậm rãi áp sát từng đồn lũy. Phi cơ các loại của Phú Lang Sa lần đầu gặp phải thiên không vệ pháo, rụng như ruồi. Tướng Giáp dùng chiến pháp độc môn: “Vây, lấn, tấn, phá, triệt, diệt” bóc bỏ từng lớp phòng ngự. Cuối cùng vào ngày Quý Hợi, tháng Kỷ Tị năm đó, các vệ chia ba hướng đánh thẳng vào đại bản doanh, bắt sống chủ tướng Đờ-Cát cùng binh mã Phú Lang Sa hơn một vạn người, thu toàn bộ khí giới, quân nhu. Sử chép trận này "lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu".

(Đa tạ bạn Quốc Bảo đã giúp biên tập từ vựng)
 

Muitenbac777

Sinh bất phùng thời!
Tham gia
13/4/20
Bài viết
100
Đã được Thích
64
Điểm
25
Địa chỉ
Divine Great Việt Empire
1589889061359.png

”Ngày này năm xưa”: 19/5/1890

Việt Nam xã hội chủ nghĩa cộng hòa Quốc phụ Hồ Chí Minh, vốn họ Nguyễn, danh là Sinh Cung, tự Tất Thành. Người xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, phủ Nghệ An. Án theo tộc phả Nguyễn thị, hoàng sơ tổ khảo của Quốc phụ là Nguyễn Bá Phụ thời Lê, đến đời thứ 11 là hoàng khảo Nguyễn Sinh Sắc, từng đỗ Phó bảng triều Nguyễn. Mẹ họ Hoàng, húy là Thị Loan. Sử sách không ghi lại ngày sinh rõ ràng, về sau hậu thế tạm lấy ngày Canh Tý, tháng Tân Tỵ, năm Canh Dần (1890 Công lịch) làm thánh tiết.

Trước kia đất Thanh Nghệ truyền nhau sấm ngôn thời Trình công rằng:

“Đụn Sơn phân giải
Bò Đái thất thanh
Thủy đáo Lam thành
Nam Đàn sinh thánh.”

Thiên hạ đều cho là ứng vào chí sĩ Phan Bội Châu, nhưng rồi Phan tiên sinh qua đời mà đại nghiệp chưa thành. Về sau mới ngộ ra là tiên đoán về Người.

Bấy giờ quốc thống nước ta mất về tay Phú Lang Sa, ba miền đói khổ, trăm họ lầm than. Người sinh trưởng nhà sĩ phu, vốn sẽ tiến thân đường giáo nghiệp, nhưng thấy đồng bào chịu ách cơ cực nên không cam tâm hưởng phận an nhàn. Năm Tân Hợi (1911 Công lịch), đăng danh hỏa đầu trên tàu viễn dương Phú Lang Sa, rời cảng Long Gia tỉnh Gia Định, xuất bôn hải ngoại. Người chu du thiên hạ, trông trời đất vận động, xem mây gió biến chuyển, đúc kết cái tinh hoa của tư bản, khắc ghi chỗ mạnh yếu của Tây Dương, chờ thời cơ để phục hưng vận nước.

Năm Kỷ Mùi (1919 Công lịch), thay mặt các chí sĩ yêu nước An Nam đưa thỉnh nguyện thư đến sứ bộ các cường quốc Tây Dương ở điện Viết Sai, yêu sách tự do, nhân quyền cho nhân dân bản quốc. Bấy giờ Người xưng là Nguyễn Ái Quốc. Tuy nhiên tư bản Tây Dương quen tính tham bạo, bỏ qua không màng đến. Đến khi hay tin "Thập Nguyệt cách mệnh" thành công ở nước Nga La Tư xa xôi, Người mới rơi lệ mà ghi lại rằng: “Thực là con đường giải phóng nước ta vậy.” Bèn lặn lội sang Nga La Tư khảo cứu Mác học, truyền thụ về nước. Năm Canh Ngọ (1930 Công lịch), Người triệu tập đại biểu cộng sản quốc nội đến Hương Cảng, hợp nhất thành Việt Nam cộng sản đảng, tức đảng chấp chính của bản triều hiện nay.

Bôn tẩu ba mươi năm, đến năm Tân Tỵ (1941 Công lịch), Người hồi hương, đóng doanh ở hang Cốc Bố, bản Pác Bó, tỉnh Cao Bằng. Bấy giờ Đệ nhị Thế chiến đương hồi khốc liệt, giặc Oa nhân lúc Phú Lang Sa bại trận mà đem binh chiếm cứ Đông Dương, nước ta chịu cảnh một cổ hai tròng. Người lại kiến lập Việt Nam độc lập đồng minh hội, cùng các anh tài hào kiệt mưu đánh đuổi ngoại bang. Năm sau, sang Trung Hoa công cán với tên Hồ Chí Minh, không may gặp lúc chính sự rối ren, Người bị Tưởng quân bắt giữ, cầm tù hơn một năm. Lúc ở trong lao ngục, Người tức cảnh mà sáng tác "Ngục trung nhật ký thi tập", đến nay vẫn còn vang danh chốn văn đàn.

Năm Ất Dậu (1945 Công lịch), nước ta đói lớn, ở Bắc phần xác chết nằm gối lên nhau ngót hai trăm vạn. Gặp lúc phát xít bại vong, giặc Oa suy sụp, thiên thời - địa lợi - nhân hòa đều đủ cả, Người bèn cùng đồng sự hiệu triệu đại chúng, phất Hoàng Tinh Hồng Sắc Kỳ khởi binh phục quốc, sử chép là "Bát Nguyệt cách mệnh". Ngoại khấu phủ phục. Nguyễn đế hay tin Hồ Chí Minh quê ở huyện Nam Đàn, nhớ lại sấm ngôn năm xưa mà kinh hãi, vội mang ngọc tỷ và bảo kiếm truyền quốc ra dâng nộp. Người lại tuyên cáo với quốc dân đồng bào, năm châu bốn bể, xóa sạch ách thực dân phong kiến, kiến lập nền dân chủ cộng hòa. Kỷ Độc Lập mới của nước Nam ta bắt đầu từ đấy.

Nhưng Phú Lang Sa không thỏa lòng tham, lại dấy can qua, lập phế đế Nguyễn triều làm Ngụy chúa, dựng cờ “quốc gia” làm giả hiệu. Người bèn học theo tiền nhân, cùng quân dân rút vào nơi núi non hiểm yếu, phát động trường kỳ kháng chiến, lấy yếu đánh mạnh, lấy ít địch nhiều. Trải chín năm trời, giặc Tây thế cùng kế tận, bèn chiếm cứ Điện Biên Phủ làm nơi quyết chiến. Người mệnh cho Thái úy Võ Nguyên Giáp (dân gian tôn xưng Đại nguyên soái) thống lĩnh đại quân chia đường vây đánh. Sách chép rằng trận này "súng lớn nhỏ bắn liên thanh không ngớt, hỏa đạn bay rợp thiên địa tựa sao sa, nhật nguyệt có khi không nhìn thấy". Hào lũy giặc lung lay mà sụp đổ, binh tướng giặc kinh sợ mà ra hàng. Ta bắt sống toàn quân, không mống nào thoát được. Phú Lang Sa phải cử sứ sang cầu hòa, hạ cờ rút quân về nước. Bấy giờ năm châu đều nghe danh, bốn bể đều chấn động.

Phú Lang Sa đã bại trận chạy về, Mĩ Lợi Gia lại hám lợi kéo đến. Giặc dùng kế "Bình mới rượu cũ", cải xưng Ngụy triều thành Cộng hòa. Năm chục vạn ngoại binh kéo đến, đem theo thiết xa phi pháo đến mấy vạn cỗ, lại mộ trăm vạn Ngụy binh đóng giữ các nơi hiểm yếu. Chúng nương theo tình thế bên Cao Ly, lấy sông Bến Hải mưu chia đôi thiên hạ. Quốc triều ta đã ổn định Bắc phương, bèn viện trợ minh hữu, dấy binh Nam bộ. Người đặt thống nhất là hàng đầu, coi độc lập là tiên quyết. Lại có các đại quốc Nga La Tư, Trung Hoa cùng các nước cộng sản bang trợ khí tài, vật lực, giúp ta trường kỳ kháng chiến.

Nhưng đại nghiệp chưa thành, thì ngày Canh Thìn, tháng Nhâm Thân, năm Kỷ Dậu (1969 Công lịch), Quốc phụ băng ở Thăng Long, thọ bảy mươi chín tuổi. Dân chúng trong nước hay tin, khóc than như mất cha mẹ; bằng hữu năm châu nghe chuyện, phúng điếu tỏ tình anh em. Thư chia buồn bốn phương gửi đến chất như núi trong văn khố, đếm sơ được hơn hai vạn hai ngàn bức. Ai Lao gần nên cử sứ thăm viếng, Cu Ba xa mà bảy ngày quốc tang. Táng tại lăng ở quận Ba Đình, Thăng Long. Một Vệ cấm quân chia bốn phía canh giữ nghiêm ngặt, chim bay không qua, nước chảy không lọt.

Năm Ất Mão (1975 Công lịch), thấy đại thế đã thành, Đại nguyên soái cùng bách quan bàn định việc nhất thống, hợp binh với minh hữu phương Nam được hai mươi lăm vạn binh mã, phất cờ gióng trống phát lệnh Nam chinh. Ngụy binh đông đến trăm vạn mà nghe uy thanh đã run rẩy, bại một trận đã vội cởi giáp trụ, quăng khí giới, dắt díu nhau tháo chạy ra Đông Hải, đương thời chê cười là "binh tôm tướng cá". Thiết kỵ binh giương Hoàng Tinh Hồng Thanh Kỳ đánh thẳng vào thành Gia Định, bắt sống hết thảy nhiếp chính cùng khanh tướng Ngụy triều.

Nước ta từ đấy lại quy về một mối. Triều đình họp Đại hội quốc dân, lấy tên Quốc phụ mà đặt cho Gia Định, đến nay vẫn gọi là Hồ Chí Minh đô thành. Lại họa dung nhan Người trên nội tệ, đúc hình thể thành tượng đài. Trăm họ tưởng nhớ công lao mà đặt ảnh thờ trong nhà, ba miền đều lập đền miếu lớn nhỏ, chùa chiền quanh năm cúng bái.

- Vy Miên + Muitenbac777 - (Vô cùng đa tạ đã giúp hoàn thành)
 
  • Thích
Reactions: Hạo