Nguyên tắc suy đoán vô tội

Bạn từng nghe qua nguyên tắc suy đoán vô tội chưa?


  • Số lượng người bầu chọn
    4

Trường Minh

Dân thường
Tham gia
18/4/20
Bài viết
1
Đã được Thích
4
Điểm
0
Nhân vụ án Hồ Duy Hải, mình nghĩ nên có tý thảo luận về nguyên tắc suy đoán vô tội, một trong những nguyên tắc nền tảng của tư pháp hiện đại.
Một phiên tòa hình sự thực chất là quá trình tòa án nhận thức sự kiện phạm tội (chân lý) để áp dụng pháp luật hình sự. Quá trình này gồm luôn gồm ba yếu tố: chứng cứ, luật áp dụng, và áp dụng luật vào sự kiện phạm tội dựa vào chứng cứ đã thu thập được.

Trong phiên tòa hình sự nói riêng và trong tố tụng hình sự nói chung, xuất hiện một quan hệ bất bình đẳng trong đó một bên là nhà nước với đầy đủ nguồn lực đang tìm cách cáo buộc một cá nhân, một tập thể vi phạm các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ. Bên còn lại là cá nhân hay các cá nhân hoàn toàn yếu thế hơn.

Cũng trong tố tụng hình sự, có hai nguyên tắc căn bản chỉ đạo hoạt động tố tụng là nguyên tắc suy đoán có tội - tương ứng với hệ thống tố tụng thẩm vấn (Inquisitorial) và nguyên tắc suy đoán vô tội - hệ thống tố tụng tranh tụng (Adversarial).

Nguyên tắc suy đoán có tội có nguồn gốc tự nhiên và gần như phổ biến trên toàn thế giới, kể cả trước khi văn minh phương Tây tràn đến và thiết lập nền tư pháp theo kiểu Tây Âu (thời kỳ thực dân đến nay). Người bị cáo buộc nằm trong hoàn cảnh trên đe dưới búa, họ phải chứng minh mình không phạm tội bị cáo buộc.

Ngược lại, nguyên tắc suy đoán vô tội là sản phẩm của thời kỷ cận đại. Cội nguồn của nguyên tắc suy đoán vô tội có từ thời La Mã cổ đại khi người ta cho rằng trách nhiệm chứng minh thuộc về bên tố cáo và chỉ áp dụng trong tố tụng dân sự. Tư tưởng này chỉ thực sự trở thành nguyên tắc pháp luật khi Đại Cách mạng Pháp lên cao trào, ban bố bản Tuyên ngôn Dân quyền và Nhân quyền năm 1791: Cần phải có biện pháp hạn chế, chống lại sự chuyên quyền, độc đoán xâm phạm thô bạo quyền con người trong tố tụng hình sự từ phía nhà nước.

Suy đoán vô tội thể hiện ở một số phương diện nhưng nổi bật nhất là chứng minh và đối xử bị cáo.
Ở chỗ chứng minh, người ta đi đến vấn đề căn bản nhất của vụ án là nhận thức rõ sự thật vụ án (đi tìm chân lý). Ví dụ, anh B có mặt ở hiện trường vụ án và quần áo của y bị vấy máu nạn nhân, vậy anh B có phải hung thủ? Điều tra viên có thể sử dụng cách chứng minh trực tiếp (B là hung thủ vì có dấu vân tay trên hung khí, vì B có tư thù với nạn nhân, vì có người nhìn thấy B tiếp cận nạn nhân...), hoặc sử dụng cách chứng minh gián tiếp, tức là phản chứng (reductio ad absurdum-giảm thiểu đến độ vô lý). Với cách phản chứng, cơ quan tố tụng thay vì cố tìm cách buộc tội B sẽ giả sử B vô tội. Trong quá trình chứng minh, chừng nào chưa tìm ra được những chứng cứ loại trừ giả thiết ban đầu có nghĩa là B luôn không phạm tội.

Nguyên tắc chứng minh phản chứng nói điều ai cũng hiểu: Nếu một phát biểu nào đó xảy ra mà dẫn đến mâu thuẫn về logic, vì vậy phát biểu đó không được xảy ra.

Chứng minh trong tố tụng hình sự cũng khác với chứng minh trong toán học: bài toán có thể có 1 nghiệm, vô số nghiệm hoặc vô nghiệm. Còn trong tố tụng hình sự, bên tố tụng chỉ có thể say Yes - anh chị có tội hoặc say No: anh chị vô tội. Vì vậy không thể dừng ở sự lấp lửng giữa việc tìm được một số chứng cứ chứng tỏ anh B có liên quan đến vụ án, với việc kết tội anh B. Nói cách khác, trong tố tụng hình sự, nếu không chứng minh được “có” thì phải khẳng định là “không”.

Bên cạnh đó, phương diện đối xử với các bên, đặc biệt là bên bị cáo cũng là một phần trong nguyên tắc suy đoán vô tội. Nó bảo vệ cá nhân người bị buộc tội chống lại sự xâm hại quyền con người từ phía công quyền.

Thế nhưng sự "lấp lửng" vẫn tồn tại chừng nào chưa đạt đến mức đầy đủ của chứng cứ, hay nói khác đi, chứng minh thế nào là đủ?

Việc lượng hóa chứng minh (khác với định tính - "khách quan", "toàn diện") chưa được pháp điển hóa rõ ràng trong luật tố tụng hình sự nước ta. Lý luận về chứng cứ cũng như chứng minh trong tố tụng hình sự đưa khái niệm “nghi ngờ hợp lý" (resonable doubt). Nghi ngờ hợp lý là tiêu chuẩn chứng minh có tội và là một trong những khái niệm phức tạp nhất của tư pháp tranh tụng.

Theo nguyên lý này, kết luận buộc tội của cơ quan tiến hành tố tụng phải đảm bảo không còn sự "nghi ngờ hợp lý". Ngược lại, nếu kết luận đó vẫn còn nghi ngờ hợp lý thì quá trình chứng minh chưa đủ để kết tội. Nghi ngờ hợp lý đó chính là sự chưa đầy đủ về chứng cứ để buộc tội hoặc chưa rõ ràng về pháp luật. Nếu còn tồn tại các nghi ngờ hợp lý này, quá trình xác định sự thật của vụ án chưa thành công. Mặt khác, nếu đã tìm đủ mọi biện pháp trong giới hạn luật định mà không triệt tiêu được những nghi ngờ hợp lý trên thì một người luôn vô tội và quá trình xác định sự thật của vụ án cũng kết thúc: Sự thật ở đây là người bị buộc tội không thực hiện tội phạm.

Hệ thống tư pháp Xô viết một thời đã từ chối hoặc chỉ tiếp nhận nhác chừng nguyên tắc suy đoán vô tội, xem trọng việc tố tụng thẩm vấn. Tư pháp nước ta, một thời, cũng vì thế mà chậm chạp trong tiếp thu cái hay của nhân loại. Phải tới thời kỳ Đổi mới mà đặc biệt là sau năm 2003, hệ thống tư pháp nước ta mới chuyển mạnh mẽ sang công nhận nguyên tắc suy đoán vô tội là một trong những nền tảng chỉ đạo hoạt động tố tụng nước nhà.
 

Muitenbac777

Sinh bất phùng thời!
Tham gia
13/4/20
Bài viết
103
Đã được Thích
66
Điểm
25
Địa chỉ
Divine Great Việt Empire
Vấn đề là Tư pháp Việt Nam vẫn rất chậm cải cách, có cảm giác nhiều phần của mảng này cùng với kiểm duyệt vẫn ở thời kỳ 1975. Thời bình mà không thay đổi, nhẹ thì tụt hậu trì trệ, nặng hơn thì gây bất mãn.

1588988249638.png

Vụ này chứng cứ theo luật mới (suy đoán vô tội) thì không đủ, nhưng theo luật cũ (suy đoán có tội) thì thậm chí là thừa. Nhưng đã qua hết trình tự xử rồi, nên tòa không xử lại nữa.

Suốt từng đó năm, bị cáo chưa bao giờ nói mình vô tội, đơn nộp lên Chủ tịch nước cũng là xin giảm án chứ không phải kháng cáo.

Đáng đập là đám điều tra viên, max ăn hại để mất tất cả vật chứng.
 
  • Thích
Reactions: quansuvietnam

Novacys

Dân thường
Tham gia
21/4/20
Bài viết
10
Đã được Thích
11
Điểm
0
Là người hành nghề luật thì mình phải nói thẳng là pháp luật Việt Nam ngay trong hiến pháp đã áp dụng nguyên tắc suy đoán vô tội.
Còn thực tế áp dụng như thế nào không thể đổ lỗi cho pháp luật. Pháp luật có thể được viết chỉnh chu nhưng cơ quan thi hành pháp luật, cơ quan kiểm soát, cơ quan thanh tra buông lỏng quản lý thì tất nhiên nó được buông lỏng. Nhiều bác ngoài nghề cứ bảo luật Việt Nam không chặt, em xin nói thẳng luôn là quên đi nhé, pháp luật ở mình rất chặt chẽ, bất chấp việc nó có những điều chưa lường trước được, nhưng cơ bản là chặt, bởi vì hiếm có pháp luật nước nào được update với tốc độ thần thánh như pháp luật Việt Nam sửa liên tục, luật mới ban hành còn chưa có hiệu lực đã tính sửa rồi, thật ra điều này cũng do xã hội tiến nhanh quá, pháp luật muốn đảm bảo thì phải đuổi kịp.
 

Taro

Dân thường
Tham gia
18/4/20
Bài viết
10
Đã được Thích
3
Điểm
0
Theo nguyên tắc này thì bị cáo có quyền giữ im lặng trước tòa và buộc tòa án cũng như phía cơ quan điều tra phải chứng minh và cung cấp bằng chứng để chứng minh mình có tội, chứ không phải mình mới là người phải lên tiếng để chứng minh sự vô tội của bản thân, đúng không?

Hình như mình thấy rất ít vụ án nào mà bị cáo sử dụng quyền im lặng của mình thì phải?
 
  • Thích
Reactions: quansuvietnam

Novacys

Dân thường
Tham gia
21/4/20
Bài viết
10
Đã được Thích
11
Điểm
0
Theo nguyên tắc này thì bị cáo có quyền giữ im lặng trước tòa và buộc tòa án cũng như phía cơ quan điều tra phải chứng minh và cung cấp bằng chứng để chứng minh mình có tội, chứ không phải mình mới là người phải lên tiếng để chứng minh sự vô tội của bản thân, đúng không?

Hình như mình thấy rất ít vụ án nào mà bị cáo sử dụng quyền im lặng của mình thì phải?
Luật Tố tụng hình sự bạn nhé
Điều 13. Suy đoán vô tội

Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.

Khi không đủ và không thể làm sáng tỏ căn cứ để buộc tội, kết tội theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định thì cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải kết luận người bị buộc tội không có tội.

Điều 14. Không ai bị kết án hai lần vì một tội phạm


Không được khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử đối với người mà hành vi của họ đã có bản án của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, trừ trường hợp họ thực hiện hành vi nguy hiểm khác cho xã hội mà Bộ luật hình sự quy định là tội phạm.

Điều 15. Xác định sự thật của vụ án

Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Người bị buộc tội có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội.


Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải áp dụng các biện pháp hợp pháp để xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ, làm rõ chứng cứ xác định có tội và chứng cứ xác định vô tội, tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của người bị buộc tội.
Điều 16. Bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự

Người bị buộc tội có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa.

Cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm thông báo, giải thích và bảo đảm cho người bị buộc tội, bị hại, đương sự thực hiện đầy đủ quyền bào chữa, quyền và lợi ích hợp pháp của họ theo quy định của Bộ luật này.


Còn thực thi hành thì không phải rất ít bị cáo sử dụng quyền im lặng mà là ngược lại, phương án sử dụng quyền im lặng được áp dụng rất nhiều lần, điển hình bạn có thể đọc thêm vụ Hoàng Công Lương và hoa hậu Trương Hồ Phương Nga.