Những trận thua của quân Mỹ ở Việt Nam

Muitenbac777

Sinh bất phùng thời!
Tham gia
13/4/20
Bài viết
104
Đã được Thích
66
Điểm
25
Địa chỉ
Divine Great Việt Empire
Một trong những truyền thuyết được người Mỹ viết ra sau 1975 là "thắng tất cả các trận đánh nhưng thua cuộc chiến". Topic này lập nhằm bóc gỡ cái truyền thuyết đó.

Các bài viết trên page và sưu tập được (vui lòng ghi nguồn nếu copy từ nơi khác).

(Nếu ai gặp lỗi ảnh, nhấn F5 để load lại trang nhé!)
 
Chỉnh sửa lần cuối:

Muitenbac777

Sinh bất phùng thời!
Tham gia
13/4/20
Bài viết
104
Đã được Thích
66
Điểm
25
Địa chỉ
Divine Great Việt Empire
1588478171376.png

Sáng 5/2/1969, trung sĩ Tony Lee Griffith dẫn đầu đội biệt kích năm người của mình men theo đường mòn xuyên qua khu vực rừng rậm rạp giữa An Lộc và biên giới Campuchia. Họ phát hiện một đơn vị trinh sát "Việt Cộng" nên tách ra thành 2 nhóm để đối phó.

Tuy nhiên, đối phương cũng phát hiện ra đội của Griffith. Lợi dụng sương mù dày, một "Việt Cộng" lặng lẽ áp sát và ném một quả lựu đạn vào khoảng trống giữa 2 nhóm. Lựu đạn nổ gần vị trí hạ sĩ Richard E. Wilkie, nhưng anh này may mắn chỉ bị thương. Theo phản xạ, cả 2 nhóm biệt kích Mỹ quay súng bắn về hướng nổ, tức là xả đạn....vào nhau.
:v Kết quả: chỉ huy Tony Lee Griffith chết tại chỗ và cấp phó Davidson bị bắn gãy chân. Đây là trường hợp "hỏa lực thân thiện" tai hại nhất của biệt kích Mỹ ở Việt Nam.
 

Muitenbac777

Sinh bất phùng thời!
Tham gia
13/4/20
Bài viết
104
Đã được Thích
66
Điểm
25
Địa chỉ
Divine Great Việt Empire
1588478205844.png

CRIMSON TIDE - CHIẾN DỊCH GIẢI CỨU TÙ BINH THẤT BẠI CỦA MỸ

Tháng 9 năm 1966, một "Việt Cộng" 17 tuổi ở Sóc Trăng mang truyền đơn Chiêu Hồi ra hàng, khai với nhân viên tình báo Mỹ rằng mình trông thấy một tù binh người Mỹ da đen bị bắt trong căn cứ. Những chi tiết miêu tả phù hợp với một trung sĩ cố vấn cho đơn vị VNCH mất tích trước đó. Sau này, tình báo Mỹ xác định rằng người này có thể lại là đại úy không quân Carl E. Jackson, bị bắn rơi năm 1965. Một quyết định giải cứu được ban hành!

Trung Tâm Thâu Hồi Nhân Lực Hỗn Hợp (JPRC) là một phần trong đơn vị MACV-SOG ở Sài Gòn, biệt danh “Bright Light”, lên kế hoạch giải cứu. Trong vòng hai tuần lễ, máy bay RF-4 cố gắng chụp không ảnh trại giam giữ tù binh Mỹ, nhưng không thành công. Phải đến khi có chỉ điểm (người đầu hàng) đi kèm nhân viên JPRC trên một máy bay nhỏ ở tầm thấp, ảnh chụp trại tù binh mới có.

Kế hoạch hành quân rất đơn giản: không vận một trung đội lính đánh thuê người Nùng, cùng với cố vấn Mỹ dưới quyền chỉ huy của đại úy Frank Jaks đến một bãi đáp gần trại tù binh. Đơn vị tập họp lại, tấn công trại, cứu tù binh và rút lui. Máy bay cường kích A1 Skyraider đảm nhiệm việc hỗ trợ từ trên không.

Chiến dịch giải cứu đã trở thành một thảm họa:

- Do thời tiết xấu và trần mây thấp, các trực thăng đã bay lệch đường. Thay vì đáp xuống gần trại tù binh chỉ có 12 lính canh gác ở một vị trí rất hẻo lánh, 40 biệt kích người Nùng cùng cố vấn Mỹ được thả xuống cạnh trại của 2 tiểu đoàn quân Giải phóng thuộc trung đoàn 306.
:v

- A1 Skyraider không đến như dự tính mà là những chiếc F-100 Super Sabre. Loại máy bay này tốc độ nhanh hơn nên cắt bom thiếu chính xác vào đối phương, và vài quả bom thì rơi trúng cả trực thăng UH-1 lẫn lính Nùng cùng với cố vấn Mỹ dưới mặt đất.

Kết thúc chiến dịch, 11 lính biệt kích Nùng và 2 cố vấn Mỹ tử trận, 17 người khác được ghi nhận mất tích, 2 trực thăng UH-1 bị phá hủy. Báo cáo chính thức ghi "số binh sĩ thương vong do bom nhiều hơn vì đạn của địch". Cả trung đội coi như là bị tiêu diệt. Người tù binh trên thực tế là trung sĩ Edward Johnson, theo một báo cáo thì được "Việt Cộng" trả tự do vào năm 1970. Đại úy Carl Jackson vẫn mất tích đến tận ngày nay.

Nguồn: http://www.macvsog.cc/operation_crimson_tide.htm
 
  • Thích
Reactions: Hạo

Muitenbac777

Sinh bất phùng thời!
Tham gia
13/4/20
Bài viết
104
Đã được Thích
66
Điểm
25
Địa chỉ
Divine Great Việt Empire
1588478272293.png

Sài Gòn, trung úy William Richter, 25 tuổi kể lại trận phục kích của "Việt Cộng" với phóng viên New York Times:

"Đây là một cơn ác mộng. Họ để chúng tôi đi qua cửa sập, đóng sầm nó lại sau lưng, và để chúng tôi tận hưởng cái bẫy."

William Richter và đại úy Donald Van Eynde đều là Biệt kích và được đào tạo để thành các chuyên gia về chiến tranh du kích. Họ cùng với khoảng 200 lính biệt kích Việt Nam cộng hòa bị phục kích ở phía Bắc Sài Gòn hôm thứ Năm. 43 người chết tại chỗ. 21 người khác vẫn đang mất tích.

Đơn vị 200 người của họ đang di chuyển để hỗ trợ cho 1 ấp chiến lược bị tấn công vào sáng sớm. Cách ấp khoảng nửa dặm, đơn vị cứu viện bị trùm lên bởi hỏa lực "Việt Cộng".

Sau khi đơn vị đi qua một đồn điền cao su và ở giữa một cánh đồng lúa rộng, thoáng với tầm nhìn khoảng 900 mét, Richter tin rằng họ đủ sức để đối phó bất kỳ cuộc tấn công nào. Anh ta đã không nghĩ đến việc gặp 1 tiểu đoàn địch.

Nằm rạp dưới một con mương nông, Trung úy Richter thấy quân Cộng sản rời khỏi hàng cây và tràn ngập sườn phải của mình. Khoảng 30 phút sau khi bị tấn công, chỉ còn 1/3 lính biệt kích là có thể chiến đấu. Họ quyết định đột phá qua hướng có vẻ là yếu nhất. Tuy nhiên khi ra đến đường nhỏ, đơn vị của Richter gặp một trung đội "Việt cộng" nấp trong các bụi cây và anh này bị đạn bắn xuyên cả hai chân.

Trong hoàn cảnh lạc đơn vị và bị truy đuổi, đại úy Donald Van Eynde đã giúp cầm máu rồi cõng Richter luồn rừng 5 tiếng đồng hồ để về được căn cứ ở Bình Mỹ.

https://www.nytimes.com/1964/05/17/archives/us-officer-describes-horror-of-ambush-and-jungle-escape.html
 
Chỉnh sửa lần cuối:

Muitenbac777

Sinh bất phùng thời!
Tham gia
13/4/20
Bài viết
104
Đã được Thích
66
Điểm
25
Địa chỉ
Divine Great Việt Empire
1588478328595.png
"Ngày này năm xưa"

- 12/4/1966: Trận Xã Cẩm Mỹ

Bắt đầu diễn ra từ ngày 29 tháng 3 năm 1966, chiến dịch Abilene là một loạt các cuộc tìm kiếm và tiêu diệt của Mỹ trên địa bàn tỉnh Phước Tuy, nhắm vào các trung đoàn 274 và 275 thuộc sư 5 quân Giải phóng. Quân số được huy động gồm sư đoàn 1 bộ binh Mỹ, một tiểu đoàn Úc và 1 trung đoán pháo binh New Zealand. Tuy nhiên, sau một thời gian đi lòng vòng, họ nhận thấy "Việt Cộng" đã chia nhỏ lực lượng và lách qua được vòng vây.

Thiếu tướng William E. DePuy (chỉ huy sư đoàn) sau đó đưa ra kế hoạch nhử một bộ phận "Việt Cộng" bằng cách sử dụng đại đội (mật danh Charlie) làm mồi. Khi đối phương đã bao vây đơn vị này, 2 đại đội còn lại (Alpha và Bravo) của tiểu đoàn 2, trung đoàn 16 sẽ bao vây ngược lại để tạo thế trong đánh ra, ngoài đánh vào. Mục tiêu là tiểu đoàn 8 quân Giải phóng, được xác định đang ẩn nấp ở đâu đó trong những khu rừng cao su quanh xã Cẩm Mỹ, cách Sài Gòn 42 dặm (68 km) về phía Đông.

Ngày 10 tháng 4, kế hoạch bắt đầu. Do thương vong, nghỉ phép và các lý do khác, đại đội nhử Charlie chỉ có quân số 134 lính. Sau một ngày dò tìm, đến 14h chiều ngày 11 thì Charlie thông báo đang chạm súng với đối phương, không phải đơn vị nhỏ mà là nguyên tiểu đoàn 8 "Việt Cộng" (hơn 400 người). Nhưng rồi các sĩ quan Mỹ nhanh chóng nhận ra tình hình không như họ tính: trong rừng, trực thăng không thể cất hay hạ cánh để chở quân, thậm chí không quan sát được mục tiêu để mà yểm trợ hỏa lực, 2 đại đội kia đã di chuyển quá xa Charlie và có vẻ đang lạc đường. Vòng vây siết dần lại quanh cái bẫy - giờ đã thành con mồi.

Bãi đáp trực thăng gần nhất cách đó 4 dặm, dù có chở quân cứu viện qua đó thì đến được nơi này cũng là cả vấn đề. Hy vọng duy nhất của đại đội Charlie là căn cứ pháo binh gần đấy. Loạt đạn đầu tiên bắn đến, trút chính xác vào trận địa....quân Mỹ khiến 2 người chết và 12 người khác bị thương. Tọa độ bắn pháo nhanh chóng được điều chỉnh sau một hồi chửi bới inh ỏi trên máy bộ đàm.

Trực thăng cứu hộ bay đến nhưng không hạ cánh được, đành phải lơ lửng trên ngọn cây, thả dây xuống để bên dưới móc vào cáng thương binh (đã cột chặt) kéo từ từ lên. Mỗi lần như vậy chỉ được 2 người. Khi quân Giải phóng di chuyển đại liên tới vị trí cứu thương này, 9 viên đạn quạt một chiếc trực thăng rơi xuống đất. Chỉ vài người sống sót. Thiếu úy Martin Kroah về sau kể lại: "Đội trưởng đội cứu hỏa của tôi cuộn tròn lại như một thai nhi, khóc nức nở, dù anh ta từng chiến đấu trong Thế chiến II và Triều Tiên".

Đêm đến, máy bay liên tục lượn quanh để thả pháo sáng, trong khi ở dưới đất lính Mỹ ném cả lựu đạn khói về phía đối phương để câu giờ. Pháo binh bắn yểm trợ suốt đêm xung quanh khu vực cố thủ cuối cùng, tần suất 5-6 phát mỗi phút. Tình hình cứ như vậy đến 7h sáng ngày 12 tháng 4 thì người Mỹ nhận thấy đối phương bắt đầu rút lui, một lúc sau thì 2 đại đội Alpha và Bravo xuất hiện, chậm tới 16 tiếng so với kế hoạch ban đầu.

Trong 134 lính của đại đội mồi nhử Charlie, 36 chết và 71 người khác bị thương. Thương vong phía quân Giải phóng (theo số liệu Mỹ) là 131 chết và bị thương (thực tế đếm được 41 xác).
 
  • Thích
Reactions: Hạo

Muitenbac777

Sinh bất phùng thời!
Tham gia
13/4/20
Bài viết
104
Đã được Thích
66
Điểm
25
Địa chỉ
Divine Great Việt Empire
1588478362127.png

CHIẾN DỊCH SPRING HIGH VÀ CÚ LỪA ĐAU ĐỚN!

Ngày 24/7/1965, trong giai đoạn đầu của chiến dịch ném bom miền Bắc, bốn máy bay Phantom F4 lớp C của không quân Mỹ tham gia đánh phá các kho đạn ở Điện Biên Phủ và ở phía Tây Hà Nội, với các máy bay F-105D hộ tống.

Giai đoạn này phòng không miền Bắc chưa có kinh nghiệm, nên đạn bắn trượt nhiều, phi đội phá hủy mục tiêu và bắt đầu vòng về. Bất chợt chỉ huy phi đội Victor Vizcarra (ảnh) nghe tiếng la thất thanh trên tần số liên lạc chung: "Cái quái gì thế?", và rồi im bặt.

Hôm sau, một báo cáo được đặt lên bàn làm việc Bộ trưởng quốc phòng Mỹ, Robert McNamara. Một chiếc F4 đã bị hạ bằng tên lửa SA-2 do Liên Xô viện trợ. Bắc Việt Nam gọi nó là SAM. Quả tên lửa bắn vào giữa đội hình còn khiến ba chiếc F4 khác hư hỏng, nhưng còn lết về được sân bay ở Thái Lan.

Ngay lập tức, chiến dịch Spring High được soạn thảo và triển khai với tốc độ chưa từng có. 48 chiếc F-105 chia thành 2 tốp, mỗi tốp 6 phi đội (4 chiếc/phi đội) sẽ tấn công từ 4 hướng vào hai trận địa SAM đã được xác định (định danh 06 và 07).

Sáng ngày 27 tháng 7, các phi đội F-105 xuất kích, mang theo bom chống tăng và bom napalm. Mỗi phi đội giữ khoảng cách 20 dặm với máy bay đằng trước để tránh mảnh vỡ văng ra nếu bị bắn trúng. Sau khi qua những rặng núi ở Lào, các phi đội hạ thấp độ cao còn 100 feet (30,4m) để tránh radar. Khi đến gần mục tiêu, đạn phòng không vãi lên như mưa ngược, các viên đạn 37mm nổ tung quanh máy bay nhìn giống những quả bóng golf khổng lồ.

Dù bị 130 khẩu súng phòng không các cỡ của Bắc Việt bắn vào, hai đợt không kích liên tiếp vẫn phá hủy được mục tiêu, với tổn thất 6 chiếc F-105 và 5 phi công thiệt mạng, đại úy Kile Berg kịp nhảy dù và bị bắt sống, phân nửa phi đội quay về trong tình trạng hỏng hóc ở nhiều mức độ. Với không quân Mỹ, cái giá này khá đắt nhưng miễn cưỡng chấp nhận được. Thế mà.....

Các phi công tham gia phi vụ đều khẳng định mục tiêu số 6 và 7 là........giả. Đại úy Redmond tỏ ra choáng váng và giận dữ: "Tất các tên lửa và bệ phóng của Bắc Việt ở đó chỉ là mô hình bằng tre được sơn đen. Họ biết chúng ta sẽ đến, đó là một cái bẫy".
:v

Nguồn: https://www.historynet.com/operation-spring-high-thuds-vs-sams.htm
 
  • Thích
Reactions: Hạo and Thanh TC

Muitenbac777

Sinh bất phùng thời!
Tham gia
13/4/20
Bài viết
104
Đã được Thích
66
Điểm
25
Địa chỉ
Divine Great Việt Empire
1588478515757.png

Sân bay Biên Hòa sau trận tập kích ngày 1/11/1964.

Nửa đêm, một khẩu đội súng cối (ước tính là 3 khẩu 81 mm) của quân Giải phóng đã bí mật đột nhập sân bay và bắn suốt 20 phút trước khi rút lui mà không bị một tổn thất nào.

Theo phi công hải quân Michael M. Myers, cuộc điều tra sau đó cho thấy đạn cối bắn ra từ....kho chứa bom trong sân bay, vốn được rào kín. Làm cách nào mà quân Giải phóng đưa được người, súng cối và đạn vào đó để bắn thì không ai biết. Nó cũng lý giải việc các máy bay Mỹ thả pháo sáng và bắn tan nát tất cả những vị trí khả nghi quanh sân bay mà chẳng thu được hiệu quả gì.

Tổn thất (chỉ tính máy bay):

- Năm máy bay ném bom kiêm trinh sát B-57
- Ba máy bay cường kích A-1H Skyraider
- Một trực thăng Kaman HH -43 và hai máy bay vận tải Douglas C-47 Dakota.

Mỹ mất 4 người còn VNCH mất 2 nhân viên. Trong số này có 2 lính Mỹ đang trong tiệc ăn mừng (hết thời hạn phục vụ) để sáng hôm sau lên đường về nhà.

 

Muitenbac777

Sinh bất phùng thời!
Tham gia
13/4/20
Bài viết
104
Đã được Thích
66
Điểm
25
Địa chỉ
Divine Great Việt Empire
1588478602462.png

"Ngày này năm xưa"

- 14/11/1965: Bắt đầu trận Ia Đrăng

Rặng núi Chu Prông trở thành nơi giao tranh lần đầu tiên giữa quân viễn chinh Mỹ (cõ VNCH hỗ trợ) và quân đội nhân dân Việt Nam.

Phía Mỹ kém hơn về quân số (1400 so với 1500-2500) nhưng có ưu thế tuyệt đối về hỏa lưc (100 máy bay trực thăng, 2 tiểu đoàn pháo bắn yểm trợ 6000 viên đạn mỗi ngày, hơn 5000 tấn bom từ B52 và các máy bay chiến đấu khác). Trong khi đó phía Việt Nam chỉ có vũ khí vác vai (súng cối và đại liên 12 ly 7).

Sau 4 ngày chiến đấu cực kỳ ác liệt, hai bên đều tuyên bố chiến thắng. Con số thương vong rất khác nhau, nhưng nếu tính trung bình mỗi bên công bố thì có thể tính gần đúng là 2 Việt đổi 1 Mỹ. 4 máy bay trực thăng bị hạ và 55 bị bắn hỏng (số liệu phía quân đội nhân dân Việt Nam là 59 máy bay bị bắn rơi).

Galloway, phóng viên hãng UPI có mặt tại chiến trường lúc đó, viết "Trận chiến này đã thuyết phục Hồ Chí Minh rằng ông có thể giành chiến thắng". Tướng Harold G. Moore, thời điểm đó mới đeo hàm đại tá, đã khóc sướt mướt trước các nhà báo tại Plây Cu: “Chưa bao giờ tôi thấy lính của tôi chết nhiều như lần này”. Về sau ông ta nói thêm: "lính nông dân Bắc Việt đã chịu đựng được những cơn bão lửa khủng khiếp từ một siêu cường, và ít nhất họ đã đánh hòa với Mỹ. Dưới góc nhìn của họ, một trận hòa trước đối thủ mạnh như vậy tương đương với chiến thắng".

Về phía quân đội nhân dân Việt Nam, sau trận đánh, Trung đoàn 66 đã được tặng thưởng một lúc 2 Huân chương Quân công hạng Nhất, vì theo lời Đại tướng Nguyễn Chí Thanh thì "do không có huân chương nào cao hơn, vì vậy tặng một lúc 2 huân chương để thưởng công cho thành tích tuyệt vời của Trung đoàn 66".
 
  • Thích
Reactions: Hạo

Muitenbac777

Sinh bất phùng thời!
Tham gia
13/4/20
Bài viết
104
Đã được Thích
66
Điểm
25
Địa chỉ
Divine Great Việt Empire
1588478724427.png
"Ngày này năm xưa"

- 17/10/1967: Trận Ông Thành

Là trận đánh diễn ra ở khu vực suối Ông Thành, Chơn Thành, Bình Dương, được coi là thất bại đẫm máu nhất của Mỹ trong chiến tranh Việt Nam.

Trung tá Allen chỉ huy 2 đại đội (khoảng 160 lính) tiến vào sục sạo khu vực của đối phương mà họ đã phát hiện mấy ngày trước (thực tế đây là khu vực đóng quân tạm thời của trung đoàn 1 quân Giải phóng, đang chờ Đoàn 83 đưa gạo đến tiếp tế). Tuy nhiên quân Giải phóng đã đoán được trận càn này nên bố trí phòng thủ với nhiều công sự cá nhân, hầm trú ẩn tránh bom, và cả những vọng gác bằng chính những cây cao rậm rạp. Hơn nữa theo quy luật, B52 đã ném bom đêm 16 thì chắc chắn trong ngày 17 sẽ có quân Mỹ càn vào.

2 đại đội Mỹ di chuyển trong vùng có cây cối rất rậm rạp, nên chỉ đi được 800m sau 2 giờ đồng hồ. Khoảng 10 giờ sáng thì họ lọt thỏm vào ổ phục kích hình chữ U. Hỏa lực bắn về phía quân Mỹ từ khắp mọi nơi, thậm chí từ trên những cây cao bắn xuống, nơi "Việt Cộng" ngụy trang và ẩn nấp. Người đầu tiên tử trận là Lynn Breeden, anh ta bị giết bởi 6 phát đạn, trung đội trưởng Johnson bị bắn nát người bởi gần 100 phát đạn.

Giao tranh rất gần có lúc chỉ trong khoảng 10-20m, vì thế có cả chiến thuật cảm tử: 1 "Việt Cộng" ôm một quả mìn Claymore xông thẳng vào nhóm lính Mỹ nơi đại úy George đang đứng và kích cho trái mìn nổ tung. George bị thương nặng và ngất đi, vài lính Mỹ chết và bị thương nằm rải rác xung quanh. Hỗ trợ pháo binh của Mỹ rất khó khăn vì khoảng cách hai bên quá gần nhau, nhưng cuối cùng nó đã giúp số còn lại rút lui. Trung tá Allen trong nhóm đi sau cùng và bị quật ngã bởi một loạt đạn súng 12 ly 7.

Trận chiến kéo dài hai giờ đồng hồ thực sự là một cơn ác mộng đối với người Mỹ. Toàn bộ 10 sĩ quan chỉ huy của hai đại đội đều chết hết (trung tá Allen còn là tiểu đoàn trưởng). Tổng cộng 64 binh lính và sĩ quan Mỹ thiệt mạng, 2 người mất tích, hầu hết số còn lại đều bị thương nặng. Chỉ còn một đại đội đang phòng thủ căn cứ lại mất hết chỉ huy, nên ngày hôm sau trực thăng đã được điều đến bốc số này đi, dưới hỏa lực pháo binh yểm trợ. Thực tế hành động đó là thừa, do lo ngại B52 ném bom dọn dẹp chiến trường nên trung đoàn 1 đã rút lui về biên giới Campuchia ngay sau trận đánh.

Tài liệu Mỹ ghi họ phải đối mặt với cả một trung đoàn, tức tỉ lệ 1 chọi 10. Tuy vậy, theo đại tá Võ Minh Triết trả lời phỏng vấn đài PBS năm 2005, tham gia trận đánh hôm đó chỉ có hai tiểu đoàn của trung đoàn 1 với quân số không đầy đủ, tổng cộng khoảng 600 người.

Báo chí Mỹ đưa tin đây là một chiến thắng lớn của quân đội, với hơn 100 "Việt Cộng" bị tiêu diệt. Để ghi nhận cái gọi là "hành động anh hùng" này, người ta trao cho những lính Mỹ sống sót 13 huân chương Sao Bạc, 2 huân chương Chữ Thập Ưu Tú và thậm chí truy tặng một huân chương Danh Dự. Cho đến năm 1991 chính phủ Mỹ mới giải mật hồ sơ về trận chiến, ghi rõ chỉ tìm thấy 22 xác "Việt Cộng" mà thôi.

(Bản đồ hướng di chuyển của 2 đại đội Mỹ và thế trận phục kích)
 
Chỉnh sửa lần cuối:
  • Thích
Reactions: Hạo

Muitenbac777

Sinh bất phùng thời!
Tham gia
13/4/20
Bài viết
104
Đã được Thích
66
Điểm
25
Địa chỉ
Divine Great Việt Empire
1588478759548.png

Chiến dịch Trâu diễn ra từ ngày 2-14/7/1967 phía Nam căn cứ Cồn Tiên, tỉnh Quảng Trị.

Sáng ngày 2/7, hai đại đội Alpha và Bravo của tiểu đoàn thủy quân lục chiến số 1 đang di chuyển trên quốc lộ 561, cạnh một khu chợ gần làng Gia Bình, thì bị phục kích từ ba mặt. Theo báo cáo, nguyên 2 tiểu đoàn thuộc trung đoàn 90 của sư 324B quân Giải phóng đã bày trận phục sẵn. Vị trí này mới bị truy quét vài ngày trước đó nhưng không có đụng độ, và đây chỉ là nhiệm vụ xác minh xem tình hình có gì thay đổi không.

Cuốn "The Vietnam War: An Intimate History" của sử gia Geoffrey C. Ward tiết lộ ở trang 216 rằng đại đội Bravo bị tàn sát chứ không phải thiệt hại khi chiến đấu. Hỏa lực từ súng bộ binh cũng như pháo cối ghì chặt các trung đội Mỹ tại chỗ, trước khi lính "Việt cộng" mang súng phun lửa ra đốt họ. Đại úy Coates, lính đeo điện đài đứng cạnh ông này, hai chỉ huy trung đội khác và người chỉ thị mục tiêu cho pháo binh, về sau được tìm thấy trong tình trạng cháy đen.

Đại đội Alpha quay sang tiếp cứu, nhưng khựng lại sau khi vấp phải 2 quả mìn Claymore cài rất khéo. Đại đội Bravo không bị xóa xổ nhờ pháo binh bắn chặn và yểm trợ trên không từ các tàu sân bay ngoài khơi. 4 xe tăng được điều đến giúp họ rút lui (đại đội Bravo chỉ còn 27 người có thể chiến đấu). Các tiểu đoàn quanh đó cũng được huy động đến khu vực, biến giao tranh hai bên thành cấp trung đoàn.

Chiến sự rất ác liệt (chủ yếu trong 3 ngày đầu) và chấm dứt ngày 14/7 khi quân Giải phóng rút lui, các đơn vị Mỹ truy đuổi chỉ còn gặp mìn cài và bắn chặn.

Mỹ mất 159 lính và sĩ quan, 845 người khác bị thương và 1 trường hợp mất tích. 2 máy bay ném bom bị tên lửa SAM bắn hạ, chỉ một phi công được giải cứu. Quân đội Mỹ tuyên bố chiến thắng khi gây thương vong cho đối phương tới 1.290 người, trong đó 513 là thiệt mạng. Con số này bị chính lính Mỹ bác bỏ, một cựu binh kể: "nếu chúng tôi gửi 15 cái xác đến Sở chỉ huy sư đoàn, nó sẽ được ghi vào báo cáo là 30 và khi đến Bộ chỉ huy ở Sài Gòn thì sẽ biến thành 60". Thực tế chỉ có 100 vũ khí các loại thu được sau giao tranh.
 
  • Thích
Reactions: Hạo

Muitenbac777

Sinh bất phùng thời!
Tham gia
13/4/20
Bài viết
104
Đã được Thích
66
Điểm
25
Địa chỉ
Divine Great Việt Empire
1588478859885.png

TRẬN AN NINH

Ngày 18/9/1965, các chỉ huy lữ đoàn 1, sư đoàn dù 101 đặt ra kế hoạch táo bạo: đổ bộ 2 tiểu đoàn vào khu vực nghi ngờ là có một đơn vị "Việt cộng" đang ẩn nấp để đánh úp.

Địa điểm được người Mỹ chọn là làng An Ninh, cách An Khê 30 km về phía Đông. 7h sáng, máy bay bắn phá dọn đường và các trực thăng đợt đầu tiên đổ quân xuống an toàn.

Đón tiếp họ là sự im lặng rợn người. Tiếng súng chỉ vang lên khi các trực thăng bay đi. 224 lính Mỹ cùng một đại đội Biệt động quân VNCH nhanh chóng nhận ra rằng mình vừa nhảy xuống khu vực huấn luyện của trung đoàn 2, sư đoàn 3 quân Giải phóng. Tệ hơn nữa là địa hình: bãi đáp nằm trong những cánh đồng lúa nhỏ được bao quanh bởi ba ngọn đồi đầy "Việt Cộng". Đối phương để họ đổ bộ yên ổn chỉ nhằm cất lưới nguyên mẻ mà thôi. Chỉ trong vài phút đầu, các sĩ quan chỉ huy đều bị bắn tỉa dọn sạch.

Đợt trực thăng thứ hai chở quân đến như kế hoạch, nhưng bị hỏa lực mặt đất bắn rát (mất 3 trực thăng) nên phải hạ cánh cách đó 2 km và lấy thêm quân (tiểu đoàn 327 và 2 trung đoàn kỵ binh số 9, 17) trước khi đến cứu viện. Đợt trực thăng thứ ba thì cơ bản là quay đầu bay về.

Vậy pháo binh và không quân ở đâu? Trong lúc lính Mỹ nằm úp mặt xuống ruộng với đạn bay vèo vèo qua đầu, tiểu đoàn pháo binh đang chiến đấu với tình trạng đường sá tệ hại, và máy bay chết dí trong căn cứ do xăng dầu bị phát hiện là nhiễm bẩn. Mãi 2 tiếng sau mới có trực thăng vũ trang cất cánh được, và đến buổi chiều trực thăng mới cẩu được pháo vào vị trí để bắn yểm trợ.

Pháo binh và không quân bắn phá suốt đêm để bảo vệ nhóm lính đổ bộ đợt đầu (tổng cộng 11.000 quả đạn pháo và 100 cuộc không kích chiến thuật). Một quả đạn lạc làm 2 lính Mỹ thiệt mạng. Sáng hôm sau, khi lực lượng cứu viện đến hiện trường, "Việt Cộng" đã biến mất.

Như thường lệ, tướng Westmoreland tuyên bố đây là chiến thắng vĩ đại của quân đội Mỹ với hơn 250 lính đối phương bị tiêu diệt (theo cách tính của Mỹ) trong khi chỉ mất có 16 người (số bị thương không tiết lộ nhưng rất lớn). Trong khi hai người có mặt ở làng An Ninh hôm đó là phóng viên chiến trường David Hackworth và thiếu tá Dyke, đều gọi đây là một thảm họa.

https://www.vhpa.org/KIA/panel/battle/65091821.HTM
http://www.virtualwall.org/units/anninh.htm
 
  • Thích
Reactions: Hạo

Muitenbac777

Sinh bất phùng thời!
Tham gia
13/4/20
Bài viết
104
Đã được Thích
66
Điểm
25
Địa chỉ
Divine Great Việt Empire
"Ngày này năm xưa"

- 7/2/1965: Trận tập kích sân bay Pleiku và trại cố vấn Mỹ

Sân bay Pleiku nằm về phía bắc đường 19, phía đông đường 14 và cách thị xã Pleiku 4km. Thị xã Pleiku là thủ phủ của tỉnh Gia Lai, một vị trí quan trọng của cả vùng Tây nguyên, nơi có Bộ Tư lệnh quân đoàn 2, vùng 2 chiến thuật VNCH. Sân bay Pleiku là sân bay trực thăng từ thời Pháp, được quân đội Mỹ nâng cấp thêm đường bay cho máy bay vận tải. Ở đây thường xuyên có một đại đội máy bay lên thẳng 20 chiếc, 2 đến 4 chiếc máy bay trinh sát.

Đầu năm 1965, một sân bay mới được xây cạnh sân bay cũ có đường băng cho máy bay vận tải 130 và máy bay ném bom Skraider (loại máy bay cánh quạt). Cả hai sân bay nối liền trên một diện rộng. Có thể xem là hai khu vực bay trên một sân bay. Ở sân bay mới và cũ, từ nhân viên phục vụ đến kĩ thuật, chỉ huy sân bay đều do người Mỹ đảm nhận. Do tính chất quan trọng đặc biệt của sân bay, gắn liền với sự sống còn của lực lượng trong thị xã, nên người Mỹ xây dựng ở đây một hệ thống phòng ngự từ xa gồm các ấp chiến lược vây quanh thị xã Pleiku và sân bay Pleiku. Bên ngoài đường băng có 3 lớp rào thép gai đan mắt cáo cao 3 mét, dưới đất có bãi mìn sát thương, mìn phát sáng. Đường tuần tra chạy vòng sân bay bên trong các hàng rào kẽm gai. Hệ thống đèn pha chiếu sáng suốt đêm. Thường khi từ một đến hai giờ sáng, sẽ có 2 trực thăng bay tuần tra thả trái sáng, soi cho sân bay và khu vực cố vấn.

Trại cố vấn (Camp Holloway), nơi ở của các sĩ quan cố vấn Mỹ thuộc vùng 2 chiến thuật nằm trong này và có thêm một lớp rào B40 cao 10 mét. Cổng vào trại thường xuyên đóng kín, chỉ mở khi có lệnh từ phòng điều hành. Tính cả cố vấn, phi công và lính Mỹ tại thời điểm đêm 6/2 thì tổng cộng hơn 400 người.

Lực lượng quân Giải phóng tấn công sân bay gồm: đại đội đặc công 30/409 chia thành hai mũi, hai trung đội, 4 khẩu cối 81mm và 70 viên đạn, một tiểu đội công binh, một tiểu đội đặc công của Gia Lai, một đại đội địa phương Gia Lai. Tổng quân số khoảng 300 người.

Đúng 23 giờ đêm ngày 6/2/1965, các phân đội triển khai khắc phục chướng ngại vật. Mũi sân bay vừa qua hết lớp rào thứ ba, bộ phận công binh do sơ suất kĩ thuật làm nổ một kíp điện. Nhưng quân cảnh Mỹ đã không phát hiện ra, vì ban đêm ở những đơn vị quanh sân bay thường có súng nổ lẻ tẻ. Các mũi tiếp tục vượt rào qua mặt lính tuần tra đột nhập thẳng vào sân bay. Khi vào đến nơi, chỉ huy mũi tấn công chính phát hiện thấy số máy bay Mỹ đậu nhiều hơn dự kiến. Khi ở ngoài phân công mỗi người đánh hai chiếc, nay đổi thành đánh ba chiếc. Kinh nghiệm đánh máy bay là phải nhắm vào phần đầu, nơi có hệ thống máy móc phức tạp thì mới phá hủy hoặc gây hư hại nặng nhất. Các hướng đột nhập triển khai chiếm lĩnh vị trí êm đẹp, không hề bị người Mỹ phát hiện. Chỉ huy trưởng Nguyễn Thành Tâm truyền lệnh: “Mũi ta thuận lợi, nhường các mũi đánh vào khu cố vấn nổ súng trước”.

Đúng 1 giờ 5 phút ngày 7/2/1965, một loạt súng AK nổ giòn phía khu cố vấn, tiếp theo là tiếng lựu đạn và bộc phá gầm lên. Máy bay bốc cháy sáng rực cả một góc trời. Những quả cối 81 mm rơi trúng khu vực phi công ở làm ngắt quãng tiếng còi báo động đang rú lên. Chỉ trong 3 phút mũi tấn công sân bay hoàn thành nhiệm vụ và rút êm, sau 5 phút thì khu cố vấn Mỹ cũng tan hoang do lựu đạn và bộc phá. Các đơn vị quân Giải phóng rời sân bay mà không có báo cáo thương vong nào. Bộ phận chặn hậu còn cẩn thận gài mìn trên đường rút lui, dù có hơi thừa vì lính Mỹ đã không đuổi theo. Trong cuốn "Việt Nam: Một lịch sử" (Karnow, Stanley - 1997), các nhà nghiên cứu Mỹ cho rằng đối phương bị mất 1 người.

Bản tin nhanh của hãng AFP ngày 7/2/1965 viết: “Trong lúc ở Biên Hòa các đồn điền cao su quanh sân bay cho phép “Việt Cộng” an toàn tiến sát mục tiêu, thì vùng quanh thị xã Pleiku là một vùng bằng phẳng trống trải, du kích không có một nơi ẩn nấp thiên nhiên nào. Vậy nhưng họ vẫn đến sát được vị trí mà không bị lộ”. Thiệt hại của quân Mỹ là 9 người chết, 126 người bị thương, 10 máy bay bị gạch tên và 15 máy bay khác bị phá hỏng.

Gần trưa ngày 7 tháng 2, McGeorge Bundy (cố vấn an ninh quốc gia Mỹ), Tổng chỉ huy Westmoreland và quốc trưởng VNCH Nguyễn Khánh đáp máy bay lên Pleiku thị sát. Trước cảnh sân bay hoang tàn còn đang bốc khói, Bundy lặng người còn Westmoreland chỉ có thể nói "Tệ quá!”. Hội đồng An ninh Quốc gia Mỹ họp khẩn, quyết định trả đũa bằng không quân. Flaming Dart - chiến dịch không kích đầu tiên nhằm vào Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, bắt đầu chỉ 12 tiếng sau trận tập kích này.

1588479012123.png
1588479025641.png
1588479035650.png
1588479045752.png
 
  • Thích
Reactions: Hạo

Muitenbac777

Sinh bất phùng thời!
Tham gia
13/4/20
Bài viết
104
Đã được Thích
66
Điểm
25
Địa chỉ
Divine Great Việt Empire
1588479309589.png

- 9/6/1965: Trận Đồng Xoài

Chi khu quân sự Đồng Xoài (còn gọi là quận Đôn Luân, thuộc tỉnh Phước Long) là chi khu quân sự được biên chế và trang bị khá mạnh, với 6 xe bọc thép, 2 pháo 105 mm, ít nhất 3 lớp rào kẽm gai xen kẽ bãi mìn, các liên đoàn biệt động quân, bộ binh VNCH và lính dù Mỹ đóng giữ cẩn thận, lại được các trận địa pháo ở Phú Giáo, Chơn Thành, Bình Long và Phước Long bắn yểm trợ nếu bị tấn công. Tuy vậy Bộ Chỉ huy Quân sự Miền, Quân ủy và Bộ Tư lệnh Miền vẫn quyết tâm đánh để mở rộng vùng giải phóng, dù lực lượng lẫn hỏa lực vẫn còn kém hơn đối phương (1500 so với 2000, không có xe tăng pháo lớn, chỉ có cối và súng không giật).

Do kế hoạch bị lộ nên trận đánh diễn ra sớm 70 phút (lúc 23h30 ngày 9/6), các trận địa pháo VNCH xung quanh bắn chi viện rất mãnh liệt nên hầu hết đường dây liên lạc đều đứt, bộ đội và du kích phải chạy bộ truyền tin trong hoàn cảnh đó nên thương vong ban đầu khá cao. Khi mở rào lại vướng phải hỏa lực áp chế mạnh và mìn cài nên một số đơn vị phải điều cả chính trị viên lên thay thế. Sau 3 đợt tấn công suốt đêm, đến 5 giờ sáng quân Giải phóng đã chiếm được phần lớn các mục tiêu trong chi khu Đồng Xoài, làm chủ hoàn toàn khu biệt động quân, bảo an và khu hành chính.

Đến 8 giờ, chỉ còn trụ sở chính là vẫn kháng cự. Lúc này Mỹ đã điều các máy bay của đoàn không vận 118 tại sân bay Biên Hòa bốc tiểu đoàn bộ binh 1 VNCH đến rừng cao su (cách Đồng Xoài 4 km về phía Bắc). Các tướng VNCH tin rằng dù đối phương có phát hiện ra thì cũng không thể chuyển quân tới kịp, nhưng tướng Lê Trọng Tấn đã đoán được vị trí chiến lược đó nên đặt trung đoàn 2 phục sẵn. Sau này người Mỹ than phiền rằng “Việt Cộng” đã quá khôn khi đợi các máy bay trực thăng vũ trang UH-1 đổ quân xong, bay đi hết rồi mới nổ súng. Chỉ trong 15 phút, tiểu đoàn bộ binh 1 VNCH bị đánh tan hoàn toàn (chỉ có hai nhóm chạy thoát được vào rừng, nhóm đầu tiên được tìm thấy với….7 người sống sót). Đến chiều thì trụ sở chi khu Đồng Xoài bị súng không giật bắn thành đống gạch vụn.

Trực thăng Mỹ tiếp tục đưa quân đến tăng viện nhằm chiếm lại chi khu. Liên đoàn biệt động quân 52 và tiểu đoàn dù 7 được tung vào trận nhưng đều gặp các đơn vị quân Giải phóng chờ sẵn. Thời tiết xấu khiến cho các đợt oanh tạc của máy bay Mỹ kém hiệu quả, và giúp bộ đội phục kích dễ dàng hơn. Tiểu đoàn dù số 7 của VNCH lúc đi có 470 lính, khi về chỉ còn 159 người. Sau khi đã đánh thiệt hại nặng đối thủ, quân Giải phóng rút ra khỏi trận địa chiều 11/6 khi máy bay Mỹ đến ném bom cháy vào khu vực.

Mỹ tuyên bố tiêu diệt 700 “Việt Cộng”, nhưng chỉ đếm được 126 xác. Phía quân Giải phóng cho biết trận này có 134 cán bộ, chiến sỹ hy sinh, 290 người bị thương. Thương vong của cả Mỹ lẫn VNCH là 856 người (có 33 lính Mỹ), dù trực thăng nào cũng trúng đạn nhưng Mỹ chỉ công nhận rơi 2 chiếc mà thôi.
 
  • Thích
Reactions: Hạo

Muitenbac777

Sinh bất phùng thời!
Tham gia
13/4/20
Bài viết
104
Đã được Thích
66
Điểm
25
Địa chỉ
Divine Great Việt Empire
TRẬN PHỤC KÍCH 1 vs 36.

15 giờ ngày 3/1/1968, đội hình 36 máy bay cường kích Mỹ đánh phá Hà Nội, dù chỉ còn lại một máy bay nhưng Bộ Tư lệnh vẫn cho phép Trung đoàn 921 được cất cánh. Đại đội phó phi công Hà Văn Chúc xung phong nhận nhiệm vụ xuất kích.

15 giờ 16 phút, phi công Hà Văn Chúc được lệnh cất cánh. Bay đến vùng trời Yên Châu, Sơn La ở độ cao 5.500 mét, Hà Văn Chúc phát hiện ba tốp máy bay địch, có hai tốp F-105 bay trước, tốp F-4 bay sau. Chưa kịp vào công kích, Hà Văn Chúc nhìn thấy tốp bốn chiếc F-4 lướt qua đầu.

Anh vòng lại bám phía sau, đưa máy bay lên độ cao 10.000 mét. Phát hiện bên phải có hai tốp F-105, anh xuống độ cao 5.000 mét. Nhưng chưa kịp bắn thì tốp F-105 đã vòng lại đón đầu. Anh lại phải vọt lên độ cao 9.000 mét. Nhìn bên trái thấy một tốp bốn chiếc F-105, Hà Văn Chúc lại bổ nhào xuống. Do động tác quá mạnh, không bám được mục tiêu anh lại phải kéo độ cao lên 9.000 mét.

Lần thứ tư mặc dù đồng hồ trên máy bay chỉ nhiên liệu còn 700 lít nhưng nhìn về phía Tam Đảo phát hiện 8 chiếc F-105, Hà Văn Chúc báo cáo Sở chỉ huy, xin tiếp tục công kích. Xuống độ cao 3.500 mét, bằng một quả tên lửa, anh ngắm thẳng chiếc máy bay ở giữa và rồi chiếc F-105 bốc cháy.

Máy bay bị bắn rơi do Đại tá James Ellis Bean điều khiển, thuộc Phi đoàn 469, Không đoàn 388 Korat của Mỹ đóng quân tại Thái Lan. J.E. Bean là Phó Không đoàn trưởng phụ trách tác chiến của Không đoàn 388. Hà Văn Chúc bật tăng lực toàn phần kéo lên độ cao 10.000m nhanh chóng thoát ly về hạ cánh an toàn. Ngay sau đó, bộ đội tên lửa bắn rơi thêm 2 chiếc F-105 nữa.

Trong trại giam, Đại tá J.E. Bean nói: “Do Mig thay đổi chiến thuật, nhiều cuộc oanh kích vào Hà Nội của chúng tôi bị bỏ dở. Các liên đội đều bị thiệt hại. Ngày 17/12/1967 có một cuộc họp tìm cách chống máy bay Mig. Ngày 3/1/1968, chúng tôi được lệnh đánh phía Bắc Hà Nội. Cứ 4 máy bay ném bom thì có 12 chiếc yểm hộ, riêng F-4D chuyên bay ở độ cao khác nhau để chống Mig-21 và Mig-17. Mới tới Tuyên Quang tôi đã thấy tiếng kêu hỗn loạn trong ra-đi-ô ‘có Mig’ và ngay sau đó tôi bị bắn rơi”.

Trong một trận không chiến vài tuần sau, máy bay của phi công Hà Văn Chúc trúng đạn, anh buộc phải nhảy dù và bị thương. Do vết thương quá nặng, ngày 19/1/1968, anh mất tại Quân y viện 108 khi mới tròn 30 tuổi. Hiện chiếc mũ phi công Hà Văn Chúc đội được trưng bày tại Bảo tàng phòng không - không quân bên cạnh sơ đồ trận đánh này.

Nguồn: Đồng Thái Long

1588479580792.png
1588479588415.png
1588479596130.png1588479600922.png
 
  • Thích
Reactions: Hạo

Muitenbac777

Sinh bất phùng thời!
Tham gia
13/4/20
Bài viết
104
Đã được Thích
66
Điểm
25
Địa chỉ
Divine Great Việt Empire
Ngày 23 tháng 8 năm 1967, 14h00 chiều!

Phi đội 40 máy bay F-4 và F-105 đang trên đường tấn công một mục tiêu ở Hà Nội. Trên chiếc F-4D, Charles R. Tyler (phi đội trưởng) và Ronald M. Sittner (sĩ quan điều khiển vũ khí) rất tự tin vì cuối tháng 5 và đầu tháng 6 đơn vị họ đã hạ được nhiều máy bay Mig. Không ai nghĩ Mig còn xuất hiện nữa.

Đột nhiên, Tyler nghe tiếng la hét trên tần số liên lạc của một phi công lái F-105D (Elmo Baker), rằng anh ta đã bị MiG-21 tấn công và sẽ bật ghế phóng. Khi Tyler xoay đầu tìm kiếm đối thủ bất ngờ đó, một vụ nổ khủng khiếp làm rung chuyển máy bay, và anh ta phải bật ghế phóng khi nhận thấy mình đang rơi.

Treo dưới dù, Tyler quan sát chiếc F-4D của chính mình bốc cháy khi lao xuống, nhưng không thấy dù của ai khác; Sittner đã chết ngay trong vụ nổ. Cả Tyler và Baker đều bị bắt giữ ngay khi xuống đất.

2 máy bay đã bị bắn hạ bởi tên lửa R-3S từ hai chiếc MiG-21PF của Trung đoàn tiêm kích 921, Quân đội nhân dân Việt Nam, do phi công Nguyễn Nhật Chiêu và Nguyễn Văn Cốc điều khiển. Thêm hai chiếc F-4D bị hạ trong ngày hôm đó, và Mig thì không xước sơn chiếc nào. Đây là một trong những ngày thành công nhất của Không quân nhân dân Việt Nam.

(Ảnh: Phi công Nguyễn Văn Cốc - người cuối cùng bên phải, ở giữa là phi công Phạm Thanh Ngân với thành tích 8 máy bay Mỹ)

Nguồn: acepilots.com/

1588479658774.png
 
  • Thích
Reactions: Hạo

Muitenbac777

Sinh bất phùng thời!
Tham gia
13/4/20
Bài viết
104
Đã được Thích
66
Điểm
25
Địa chỉ
Divine Great Việt Empire
Chiến dịch Bàn Tay sắt (Iron Hand) là chiến dịch của không quân và hải quân Mỹ trong suốt thời kỳ đánh phá miền Bắc. Chiến dịch này nhằm vào các hệ thống tên lửa phòng không và pháo cao xạ ngắm bắn bằng radar, và được cho là đạt được nhiều thành công nhưng cũng chịu lắm thất bại.

Ngày 13/8/1965, tổng cộng 76 phi vụ không kích được thực hiện từ tàu sân bay USS Coral Sea và USS Midway. Trên lý thuyết, tên lửa chống bức xạ Shrike (ARM) được sử dụng để bắn hạ các hệ thống SAM của miền Bắc. Khi phi công nhận được tín hiệu máy bay mình đang bị radar "khóa" và vị trí phát, sẽ ngay lập tức đưa máy bay vào "góc chết" của SAM rồi phóng tên lửa.

Tuy nhiên, ngày hôm đó, hải quân Mỹ mất 5 máy bay và 7 chiếc khác bị bắn hỏng, 2 phi công mất tích mà chẳng hạ được hệ thống SAM nào.

Lý do rất đơn giản: tên lửa Shrike chỉ bám theo radar SAM được khi nguồn phát là liên tục. Khi tắt radar thì loại tên lửa này lập tức bị "mù" dù đã phóng đi. Do đó, bộ đội tên lửa Việt Nam có chiến thuật bật-tắt: sau khi bắt bám được mục tiêu khoảng 5 giây thì tắt radar rồi mở lại. Dĩ nhiên cái giá để nắm được quy luật này không hề nhỏ, trước đó có những trận đánh SAM chưa kịp phóng đạn lên thì đã bị tên lửa Shrike bắn tới, kíp chiến đấu hy sinh hầu như toàn bộ.

1588479799274.png
 
  • Thích
Reactions: Hạo

Novacys

Dân thường
Tham gia
21/4/20
Bài viết
10
Đã được Thích
11
Điểm
0
Tôi nghĩ là bạn nên giới hạn những trận như thế nào thì được coi là "trận" đã. Trên thực tế trong chiến tranh chống Mỹ tồn tại rất nhiều các cấp độ xung đột khác nhau. Ở cấp Cuộc chiến, ở cấp chiến dịch, ở trận đánh cấp sư đoàn, ở trận đánh cấp trung đoàn, ở trận đánh cấp tiểu đoàn.
Còn cái lý luận thắng mọi trận đánh nhưng thua cuộc chiến tranh là lý luận biện hộ theo kiểu chiến thắnng pyrrhic/thắng thảm.
Thực tế các chiến dịch thật sự mà lính Mỹ đánh nhau với Việt Nam mà tôi kể được ngay là chiến dịch Linebacker II/Điện biên phủ trên không. B52 Mỹ bị bẻ gãy trên bầu trời Hà Nội, kế hoạch làm kiệt quệ sức đề kháng của nhân dân miền Bắc bị sụp đổ.
Còn nói về các mặt trận khác thì có thể kể đến các điệp viên huyền thoại như Phạm Xuân Ẩn, Lê Hữu Thúy, Vũ Ngọc Nhạ. Sự tồn tại của họ thôi cũng là chứng minh cho người Mỹ thua nhiều trận chiến hơn rồi.
 

Muitenbac777

Sinh bất phùng thời!
Tham gia
13/4/20
Bài viết
104
Đã được Thích
66
Điểm
25
Địa chỉ
Divine Great Việt Empire
Tôi nghĩ là bạn nên giới hạn những trận như thế nào thì được coi là "trận" đã. Trên thực tế trong chiến tranh chống Mỹ tồn tại rất nhiều các cấp độ xung đột khác nhau. Ở cấp Cuộc chiến, ở cấp chiến dịch, ở trận đánh cấp sư đoàn, ở trận đánh cấp trung đoàn, ở trận đánh cấp tiểu đoàn.
Còn cái lý luận thắng mọi trận đánh nhưng thua cuộc chiến tranh là lý luận biện hộ theo kiểu chiến thắnng pyrrhic/thắng thảm.
Thực tế các chiến dịch thật sự mà lính Mỹ đánh nhau với Việt Nam mà tôi kể được ngay là chiến dịch Linebacker II/Điện biên phủ trên không. B52 Mỹ bị bẻ gãy trên bầu trời Hà Nội, kế hoạch làm kiệt quệ sức đề kháng của nhân dân miền Bắc bị sụp đổ.
Còn nói về các mặt trận khác thì có thể kể đến các điệp viên huyền thoại như Phạm Xuân Ẩn, Lê Hữu Thúy, Vũ Ngọc Nhạ. Sự tồn tại của họ thôi cũng là chứng minh cho người Mỹ thua nhiều trận chiến hơn rồi.
Mình tính là có giao tranh, bất kể ở cấp độ nào mà người Mỹ thua thì đều tính, vì cái truyền thuyết "thắng mọi trận đánh" của họ cũng không nói rõ ràng mà.
 
Chỉnh sửa lần cuối:

Cuong Vu

Member
Tham gia
18/4/20
Bài viết
13
Đã được Thích
25
Điểm
10
Trận Khe Sánh hình như QĐNDVN cũng thắng vì Mỹ rút quân khỏi Khe Sanh trong khi quân Giải Phóng chiếm được. Đây là trận đánh trực diện với quy mô lớn, theo dạng conventional warfare.
 
  • Thích
Reactions: Muitenbac777