thang may mitsubishi lien doanh dao tao lai xe day lai xe hoc lai xe thi bang lai xe bao cao su dầu cắt gọt in băng rôn thu mua phe lieu thu mua phe lieu gia cao công ty thám tử uy tín nhất ho ca koi ho ca koi ngoai troi Cach mua the Mobifone Hướng dẫn mua thẻ zing du an green town
Nước Đại Nam đối diện với Pháp và Trung hoa- 1847 - 1885
Loading...
Trang 1/3 123 cuốicuối
kết quả từ 1 tới 10 trên 26

Ðề tài: Nước Đại Nam đối diện với Pháp và Trung hoa- 1847 - 1885

  1. #1
    Tham gia ngày
    19-02-2008
    Bài gởi
    414
    Thanks
    1,034
    Thanked 127 Times in 58 Posts

    Default Nước Đại Nam đối diện với Pháp và Trung hoa- 1847 - 1885

    bắt đầu nào- Nước Việt nam trước năm 1847: mấy đặc thù

    Việt Nam, hai đặc thù làm chúng ta phải chú ý nhất: tính năng động và tính dễ can dự vào các khu vực quan hệ quốc tế.Trong công trình phân tích này, chúng tôi xin mệnh danh cho những đặc thù đó là basso obstinato( trầm trầm mà cương quyết)một từ ngữ của nền âm nhạc cổ điển, vì chúng tôi xét rằng nhưng đặc thù ấy một cách tổng quát , có ý nghĩa hơn là một số nết đạc điểm khác, như tính bảo thủ hay tình trạng cô lập, cho đến nay vẫn được coi là những luận giải lịch sử thông dụng
    Tính năng động được biểu lộ, đặc biệt trong công cuộc Nam tiến và trong sự tự khẳng định nền độc lập của Việt Nam đối với Trung Hoa ở phương Bắc
    Còn phần khu vực quan hệ quốc tế mà Việt Nam có phần tham dự, thì có hai loại: loại thứ nhất là môi trường trực tiếp và áp đảo ở bán đảo Đông Dương và miền Nam Trung Hoa ; lại thứ hai là những mối quan hệ mờ nhạt hơn và thường là thứ yếu với " người khách" phương xa - như Aans Độ, Mã Lai,Xiêm, Hoa, Nhật.. rồi từ thế kỉ 16 là người Tây Dương
    1 Cuộc nam tiến
    Nước việt nam chiêm phần bờ biển phía Bắc của bán đảo Đông Dương. Phía Đong, phía Nam và phía Đông nam giáp biển vịnh Bắc bộ, biển Đông , Xiêm la. Phía Bắc giáp các tỉnh Vân nam , Quảng tây và Quảng đôngthuoocj Trung Hoa. Phía Tây có dải Trường sơn ngăn cách với Cao Miên , Ai lao
    Jean Chesnaux đã mô tả diện mạo đất nước Việt Nam hiện nay như sau
    .. đất nước Việt Nam xuất hiện như quá dãn dài trên 1600 km, kể từ ghềnh phía Bắc Cao Bằng tới mũi chót Cà Mau ở phía Nam ở hai đầu phình ra có châu thổ sông Hồng và châu thổ sông Cửu Long, nhưng khoảng giữa thì kéo dài và thu hẹp lai, như ở gần Huế, có nhưng vùng rộng chưa tới 40 km kể từ bờ biển tới biên giói Lào năm ngay bên sườn Trường sơn
    Tuy nhiên ,đừng quyên rằng hình dạng đất nước Việt Nam không phải bao giờ cũng thế , song đó là sản phẩm của lịch sử
    Cuộc nổi dậy và sự thắng trận trong một thời gian của anh em Tây Sơn(1776-1801) đã chấm dứt trên thực tế gần hai thế kỉ phân li của sứ sở.Nhưng chính Gia Long ( 1762-1820), hoàng đế dầu tiên của triều Nguyễn (1802_1820) đã thống nhất sơn hà cả về thực tế lẫn chính trị suốt từ biên thùy Hoa -việt
    tới vịnh Xiêm la. Như thế đất nước Việt Nam là một hình thể luôn chuyển động về phương Nam.
    Đến nay, cả nơi xuất phát lẫn nguồn gốc dân tộc " Việt" vẫn chưa được hoàn toàn sác định. Theo Nobuhiro Matsumoto, có lẽ dân tộc "Việt" khởi nguồn từ miền nam Trung Hoa và xuống dần phía Nam để định cư trong vung châu thổ Bắc Bộ vào khoảng năm 2000 trước tây lịch
    Là thuộc địa của Trung hoa tới thế kỉ 10,nước Việt nam sao khi lấy lại được độc lập, đã tự tạo cho mình một chế độ cai trị quân quyền dựa theo mẫu mực chính quyền Trung Hoa . Và tới thế kỉ 19 , nước này đã mở rộng về phương Nam làm thiệt thòi cho dân Chăm và dân Cao miên
    ngừơi Chăm chỉ còn là một dân tộc thiểu số trong nước Việt Nam hiện đại nhưng họ đã thành lập một vương quốc hùng mạnh từ cuối thế kỉ 2, mà trung tâm có một thời ở ngay trên lãnh vực tỉnh Quảng nam bây giờ, và mở rộng ảnh hưởng về phía Nam tới vịnh Cam Ranh, và phía Bắc qua dãy Trương sơn tới tận thung lũng sông Mê Kông.Ngay khi thâu hồi độc lập vào năm 966, Việt Nam liền phải đụng độ với nước Chăm Pa. Cuộc tranh chấp kéo dài suốt 5 thế kỉ , và tuy đã rút lui về phía Bình Định và Nha Trang , vương quốc Chăm Pa cũng bị Lê Thánh Tông ( 1460-1497), vua triều Hậu Lê , dứt khoát xóa bỏ vào năm 1471. Sau khi bại trận , dân Chăm còn sống sót , nhưng chỉ còn ở vị trí thiểu số và không còn vai trò chính trị gì nữa: theo từ ngữ của sử gia Maybon, ngừơi Việt Nam đã coi họ như " thân trâu ngựa"
    Sau khi thôn tính vương quốc Chăm, người Việt Nam tiếp tục đi vào phương Nam, tuy cuộc hành trình có bị sáo trộn bởi nhưng cuộc phân ly nội bộ vào nhưng thế kỉ 16 và 17. Do đó, quyền hành thực sự rơi vào tay hai nhà chúa: Trịnh ở Đàng ngoài và Nguyễn ở Đằng trong, còn hòang tộc nhà Hậu Lê vẫn được thừa nhân là chính thống nhưng chỉ để làm danh dự và bị Tây Sơn lật đổ vào cuối thế kỷ 18
    Tong khi đó , suốt thế kỉ 18 chúa Đằng trong đã lợi dụng nhưng biến loan và tranh chấp quyền kế vị luôn xâu xé vương quốc Cao Miên, mở rộng hoạt động về phía châu thổ sông Mê Kông
    Sau khi được phép của vua Cao Miên cho lập đồn thu thuế thương chính ( 1623), người Việt nam sáp nhập Prey-Kỏ( trước là Gia Định , sau là Sài Gòn)vào năm 1691. Họ tiến tới vinh Xiêm la vào đầu thế kỉ 19
    Trên thực địa, công cuộc thực dân diễn tiến ra sao
    - các chúa Nguyễn đã sử dụng phép đồn điền( lính nông dân) đã được thi hành bên Trung Hoa từ sư:từ thế kỉ thứ 2 trước công nguyên , nhà Tần đã gửi vào các xứ Việt( miền Hoa nam)một số thực dân làm nông nghiệp, khai hoang,lập gia đình; nhưng họ cũng có khả năng bảo vệ miền đất mới chống lại những chủ cũ muốn trở về;và đồng thời khi nào thuận tiện có thể mở rộng thêm vùng đất đã chiếm hữu, qua bên láng giêng yếu thế . Trong vùng đất đai đã lấy được của người Chăm và trong vùng sẽ chiếm cứ của người Miên , dân Việt nam cũng đều áp dung chính sách đó
    Người Việt nam cũng biết kêu gọi rộng rãi tới sức lao động của di dân. Vào những năm 1683, ba nghìn người trung thành với nhà Mình vượt biển tới Đà nẵng rồi vào lập nghiệp trong đồng bằng sông Mê Kông, từ vùng này , đặc biệt trong các tỉnh Mỹ tho và Biên hòa , họ đã tạo thành một trung tâm nông nghiệp và thương nghiệp lớn.Một người Hoa khác là Mạc cửu, tị dân từ Quảng đông , cũng đóng góp phần quan trong vào công cuộc khai thác đất đai xung quanh Hà tiên
    Người Hoa từng không chịu phục dân tộc Mãn Châu đã thiết lập một xã hội Hoa kiều tai Nam bộ, và chính họ đã tài trợ cho Nguyễn ánh thắng được Tây sơn vào cuối thế kỉ 18
    Người Việt nam lại lợi dụng được những cuộc tranh giành ngôi báo triền miên và cốt nhục phân ly của vương triều Cao miên, do đó như một tấn tuồng được diễn đi diễn lại nhiều lần cho tới lúc người Pháp đặt song nền thuộc địa, các ứng cử viên ngôi vua Cao miên chia làm hai phe, một phe dựa vào vua Xiêm , một phe nhờ cậy chúa Nguyễn; điều đó dẫn đến các vua chúa được cầu viện đã có dịp can thiệp trực tiếp vào nội tình Cao Miên và các chúa Nguyễn áp đặt được sự mở rộng lãnh thổ và quyền lực của mình , mà không có đề kháng gì đáng kể
    Cuộc Nam tiến , biểu hiện một tính năng động mạnh mẽ , vẫn tiếp tục dưới triều Minh Mạng(1791-1841),hoàng đế thứ 2 của nhà Nguyễn(1820-1841) tất nhiên gây thiệt thòi cho Cao Miên , do đó mà Việt nam có hình dạng lãnh thổ hầu như dứt khóat -ngoại trừ mấy thay đổi trong thời thuộc địa - được mô tả là " từ mũi Cà mau ở phía cực nam tới địa giới Trung Hoa trong vung thượng du Bẵc bộ
    2- ĐỘC LẬP VỚI TRUNG HOA
    Ở một chương sau, chúng tôi sẽ phân tích kỹ những mối quan hệ giữa triều đình Hếu và Trung hoa.Nay chỉ xin nêu 2 điều đáng chú ý có tính khái quát.
    Lịch sử của đất nước Việt nam cũng là lịch sử của sự khẳng định độc lập đối với Trung hoa. Trong thời bình, các vua Việt nam vẫn đều đặn gửi sứ bộ mang công phẩm sang Trung hoa để duy trì mối giao hảo với Thiên triều . Nhưng không nên quyên rằng , vì đất nước này là thuộc địa của Trung Hoa cho tới thế kỷ 10, lại nhiều lần bị xâm lăng và chiếm đóng bởi lân bang phía Bắc , luôn luôn uy hiếp nền độc lập quốc gia mình . Trong bối cảnh đó , tất cả những ai đã đúng lên chống trả và nhất là đã chiến thắng Trung hoa thì đều được tôn là anh hùng dân tộc, đối với cả những người xuất thân bình dân ; ví dụ như Trưng Trắc, Trưng nhị(40-43), Trần Quốc Tuấn (1285-1292), Lê Lợi(1418-1433), Quang Trung(1788-1792)
    Cùng ý nghĩa ấy , mỗi thành tựu về ngoại giao hay quân sự thâu lượm được mà thất lợi cho phía Trung Hoa đều tạo cho triều đình một uy tín vững chắc nơi dân chúng . Vì thế mà triều đại nhà Lê ( 1427_1789) do Lê Lợi khai sáng sau khi chấm dứt 10 năm nội thuộc (1407-1318) và ông được xem như một trong các vị anh hùng dân tộc lớn nhất- đã luôn thụ hưởng 1 uy tín lớn mặc dầu nhưng kẻ nối nghiệp Lê Lợi không phải nhưng vị vua tốt , và từ đầu thế kỉ 16 họ đã mất hết thực quyền
    Phần nhà Nguyễn thì không được thừa hưởng uy tín như thế, đặc biệt đối với dân Bắc Hà: vì triều đại này không khẳng định được quyền lực và tính chính thống của mình bằng cuộc chiến đấu chống lại cương quốc láng giềng;và vì các vua nhà Nguyễn không xuất hiện như những " nguyên thủ quốc gia-vương, mà chỉ xuất hiện như là hậu dụê của quý tộc địa phương-chúa" những vị này đã cai tri phía nam dưới triều đại nhà Lê . Lại cũng có nhiều kẻ muốn lên ngôi vua đã tự xưng , không biết đúng hay sai, là con cháu nhà Lê, nổi lên chống lại nhà Nguyễn , sự thể đó còn xảy ra mãi tới năm 1883 ở miền Bắc
    Tuy nhiên , nếu ta đặt tầm quan trọng quá đáng vào những mối quan hệ với Trung HOa , nhất là vào sự ảnh hưởng của Trung hoa, thì ta sẽ chỉ có một hình ảnh sai lầm và phiến diện về lịch sử Việt Nam, Xin đơn cử một thí dụ ở triều Nguyễn , vua sáng lập triều đại này ( Gia Long) đã áp dụng hình thức cai trị Trung hoa , và đã cho con cháu cùng quan lai một nền giáo dục chính truyền Trung hoa nghĩa là Khổng học.Nhưng , chế độ cai trị trung hoa đó phải được thích nghi vào một môi trường rất đặc biệt: quần chúng nhân dân không biết chữ Hán, hơn nữa, thần dân không phải hoàn toàn là người Việt,mà còn nhiều dân tộc thiểu số khác nữa , trong số này có những người Cao miên và Chăm , họ là những chủ cũ của các vùng phía nam
    Có lễ những thực tại xã hội - chính tri đó đã buộc triều đình Huế phải sửa đổi lại chế độ cai tri theo Trung hoa của mình . Và ta có thể tự hỏi phải chăng tính năng động ấy của dân tộc Việt nam vốn dĩ vẫn thể hiện lâu năm giữa hai cực Nam tiến và độc lập với Trung hoa - đã chẳng những bị khựng lại dưới triều Nguyễn bởi sự quá cứng nhắc khi đem hệ thống Trung hoa áp đặt vào thực tế
    3- NHƯNG ĐIỀU KIỆN KINH TẾ VÀ XÃ HỘI
    Suốt dòng lịch sử của mình , Việt nam luôn là một nước nông nghiệp.Việc trồng lúa bao giờ cũng là trung tâm của đời sống Việt Nam : ngoài sự kiện đời sống xếp đặt theo thời vụ đồng áng , việc trông lúa - chiếm 70% diện tích trồng trọt , có khi hơn nữa - đã cung cấp cho nông dân phần lương thực chính yếu và cho xứ sở có phương tiện bảo trì viên chức của mình , vì nhưng người này được trả lương một nửa bằng tiền mặt và một nửa bằng gạo
    Vì dân số Việt nam không ngừng tăng lên suốt thế kỉ nên phải khẩn trương đặt ra vấn đề lương thực và tìm những biên pháp đảm bảo lương thực ; chống lại ba thiên tai lớn - lũ lụt, hạn hán , và đủ loại côn trùng sau rầy tàn phá thóc lúa_ và tìm kiếm đất mới để trồng trọt- bằng thực địa ( tức công cuộc Nam tiến), khai hoang hay tát cạn các vung bưng chằm
    thay đổi nội dung bởi: rongdienro, 14-05-2011 lúc 11:30
    Ao do em di giua pho dong
    Hang cay nhu bong thap len hong Em di lua chay trong bao mat Anh hoa thanh tro em biet khong

  2. The Following 9 Users Say Thank You to rongdienro For This Useful Post:

    conemthudo (21-05-2011),hanvantung (02-06-2011),htm (11-05-2011),kieuphong (12-05-2011),mai_quoc_trung (02-08-2011),ndd1109 (15-12-2012),phithiengia (06-06-2011),ruby527 (12-05-2011),Tôn Ngộ Chữ (03-10-2012)

  3. #2
    Tham gia ngày
    19-02-2008
    Bài gởi
    414
    Thanks
    1,034
    Thanked 127 Times in 58 Posts

    Default

    Chính trong châu thổ sông Hồng , dân số tập trung quan trọng hơn cả. Tất cả 15.000km2 của châu thổ dành chủ yếu cho việc thâm canh lúa , thu hoạch mỗi năm 2 vụ , muốn thế buộc phải làm chủ dòng nước sông Hồng . Tác giả Pierre Gourou viết: " công cuộc tri thủy ở chau thổ sông Hồng để trồng lúa phải tiến hành theo ba hướng : đắp đê để tránh lụt , tưới nước để đảm bảo có hai vụ mỗi năm , tháo nước để tránh úng do các trận mưa trong nhưng ô đã có đê bao quanh
    Những con đê đầu tiên đều do các cộng đồng nông thôn xây đắp , do đó mỗi làng khuôn cho mình 1 ô nhỏ .Sau đấy , hai bên bờ sông được đắp cao nhưng con đê lớn vì lợi ích chung , theo mâu mực bên Trung hoa, một mẫu mực từng đặt ra một khung quản trị hành chính , và đồng thời khẳng định việc kiểm soát nhà nước về công cuộc trị thủy sông ngòi . Các triều đại độc lập của Việt nam tiếp tục trông nom cẩn thận việc đê điều nhờ đó nông dân phát đạt và việc thu thuế dễ dàng .Vì thế , vị vua sáng lập nhà Nguyễn là Gia Long đã đặt ra một vụ đê điều ( gọi là Đê chính nha) phụ trách việc bảo trị và củng cố các thiết bị thủy lợi , đặc biệt trong châu thổ Bắc bộ
    Tuy nhiên , vẫn không tránh nổi thiên tai , bất kể ý trí và cố gắng của cả dân chúng lẫn chính quyền ; nguyên do vì thiếu hiểu biết sự vận hành của con sông- như độ dốc, lưu lượng, tốc đọ..., và vì kĩ thuật bồi đắp đê điều bang đất còn kém cỏi những con đê ấy rất yếu.Do đó , vào vụ gió mùa về mùa hạ ,khi sông hồng có những cơn lũ tàn bạo nâng mức lưu lượng lúc nứơc cạn là 700 mm3/s lên 30.000 m3/s thì thường có sự cố vỡ đê : hậu quả là ruộng nương bị úng ngập và tàn phá , mùa màng bị tiêu hủy , và nhân dân rơi vào cảnh đói ăn . Người ta tính ra cứ 3 năm lại có 1 lần thiên tai như vậy vào nửa đầu thế kỉ 19
    Ngoài lũ lụt , nạn hạn hán và sâu keo , trên thực tế, làm cho đất nước này năm nào cũng gặp khó khăn trầm trọng về lương thực .Nhưng nạn đói , thậm chí chết đói , thường xảy ra ở từng vùng và kinh niên,làm phát sinh các mối tệ hại các như trộm cướp hay bệnh thời khí , hoặc giá gạo tăng cao làm cho đời sống nông dân khó khăn càng thêm khốn quẫn
    Vấn đề lúa gạo-vì hậu quả kinh tế và xã hội của nó , và cũng vì lúc Tự Đức lên ngôi - đã nối kết với một tình hình khủng hoảng kinh tế xã hội từ trước , vì thế mà trở thành một vấn đề thiết yếu
    Tiện đây ,chúng tôi cũng xin nêu lên một khía cạnh khác -khía cạnh xã hội của quốc gia Việt nam: trong lòng quốc gia Việt nam, đồng sinh tồn một dân tộc tuyệt đại đa số là người :"Việt-Kinh"cùng nhiều sắc dân thiểu số khác.Theo nguyên tắc , người Việt cư ngụ trong các bình nguyên , còn trên miền núi và trong đồng bằn sông Cửu Long thì có các sắc dân ít người sinh sống .Khía cạnh " đa dân tộc" đó theo từ ngữ của tác giả P.R.Freray thì từ lâu bị coi thường , nhưng có tầm quan trọng hàng đầu trong chừng mực mà khía cạnh ấy can thiệp một cách chính yếu trong sự phát triển lịch sử của quốc gia dân tộc việt nam

    4- CÁC MỐI QUAN HỆ QUỐC TẾ


    Từ thế kỉ 16 , người Tây dương- Bồ đào nha , Tây ban nha .Hà lan, Anh, Pháp ,Đức - bắt đầu giao thiệp với Việt nam và có ảnh hưởng nặng nề đến lịch sử nước này .Nếu người Tây dương có sáng kiến tiếp xúc với người Việt nam thì chính người việt nam cũng đã lên tiếng kêu gọi người Tây dương viện trợ và ủng hộ mỗi khi có tranh chấp và nội chiến tương tàn, do đó , thương xảy ra một thứ quốc tế hóa những cuộc phân tranh trong nội bộ xã hội Việt nam .Thí dụ,cuộc tranh chấp giữa Tây sơn và Nguyễn ánh vào cuối thế kỉ 18 tới đầu thế kỉ 19 là một cuộc nội chiến đồng thời cũng là cuộc tranh chấp có tầm vóc quốc tế vì những ngừơi Xiêm la, Cao miên, Ai lao và Pháp .. có nhúng tay vô
    Từ thế kỉ 16, lịch sử Việt nam đã bị lôi cuốn vào dòng lịch sử rộng lớn của cả hoàn cầu .Vì thế , tuy không muốn phủ nhận tính cách quốc gia của Việt nam hay cả những xu hướng quá duy dân tộc của triều Nguyễn chúng tôi không chia sẻ lối khẳng định phiến diện của Lê thành khôi khi ông viết " dửng dưng với nhịp bứơc của các biến cố quốc tế dù cuộc chiến tranh nha phiến đã báo động ,triều đình Huế , vì khinh bỉ bọn bạch quỷ và nghi ngại những kĩ thuật của họ, vẫn cố giữ đất nước trong một tình trạng cô lập huy hoàng"
    Nói thế là quyên mất sự hoạt động và những cố gắng của vua Gia Long .Nếu đem so với Trung quốc, Triều tiên và Nhật bản cùng thời kì , nứơc Việt nam của Gia Long đã có nhiều kinh nghiệm cộng tác với người Tây , nhất là người Pháp ,và đã áp dụng nhiều kĩ thuật của Tây phương .Đã có nhiều nhân chứng về điêu ấy , như giáo sĩ thừa sai Lelabousse đã viết ngày 14-4-1800
    "những công binh xưởng và quân cảnh của ông ( Nguyễn ánh ) làm cho người nước ngoài phải ngưỡng mộ và hẳn sẽ làm cho khắp châu Âu phải ngợi khen nếu người Âu được chứng kiến tận mắt.Phía này , người ta nhìn thấy súng ống, đại pháo đủ cỡ, súng tác chiến , kệ súng, trái đan..., mà đa số thuộc hạng mẫu mới nhất .Phía kia là tàu thuyền vô số không kể xiết , chiến ham đủ cỡ mọi hình dáng với vẻ vững chắc như để áp đảo .Tất cả công trình đó của ông hoàng vừa năng động vừa tinh sảo , tất nhiên có sự hỗ trợ của sĩ quan Pháp , vì công nghệ của nước này kém xa chau Âu cả dặm
    Người kế vị Gia Long là Minh Mạng, đã cố cưỡng lại ảnh hưởng của châu Âu .Song ông vẫn giữ thái đọ cởi mở với bên ngoài:ông kiếm được những số Kinh báo ( công báo của triều đình Bắc kinh)qua trung gian là mấy thương nhân người Hoa;ông cũng thường gởi các phái bộ đi sắm đồ cần thiết cho triều đình Huế tại Tân gia ba,Ma ni hay Batavia.Ngoài ra người Âu và Mĩ còn tiếp tục lui tới thăm viếng Việt nam và điều đình xem sứ sở này có chịu mở cửa cho vào giao thương không.Sau nữa là lãnh thổ Việt vãn tiếp tục nhận người Hoa, người Miên và các thiểu số dân tộc cùng tôn giáo khác, những ngoài này còn tiếp xúc ít nhiều với ngoại bang.Như vậy,Việt nam thời đó đâu phải cô lập về mặt truyền thông và tri thức
    -5 VẤN ĐỀ CHÍNH THỐNG VÀ VẤN ĐỀ NGƯỜI CÔNG GIÁO
    Sau gần 20 năm chinh chiến chông Tây sơn,.Nguyễn ánh lên ngôi vào năm 1802.Có 3 lực lượng chính góp phần vào thành công đó : giám mục Bá đa lộc và các chí nguyên quân người Pháp ủng hộ về mặt quân sự;tầng lớp Hoa kiều hay Hoa thương ở Nam bộ yểm trợ ông về mặt tài lực;tầng lớp văn thân nâng đỡ về mặt chính trị.Bù lại ,phần thì Gia Long quyết định áp dụng chế độ cại trị của Trung Hoa để làm hài lòng tầng lớp văn thân ,phần thì ông để cho Hoa kiều được làm ăn tự do
    Vì thế triều Nguyễn mất đi sự kiểm soát các hoạt động kinh tế , để cho người Hoa thao túng hết
    Vì Gia Long áp dụng một chế độ cai trị như Trung hoa nên đã làm thất vọng và gây chống đối nơi người Pháp , chống đối này càng nặng nề đối với các vua nối nghiệp Gia Long ,đặc biệt vì chính sách của họ đối với người công giáo .Sau cùng như chúng tôi đã nói từ trước ,triều đại nhà Nguyễn không có được chút uy tín nào trước mắt nhân dân Bắc hà :vì đã ở lui vào miền nam, nên nhà nguyễn không được hiển danh qua những chiến trận chống xâm lăng Trung hoa như nhà Lê trước kia và còn sau cả Tây sơn nữa
    Cái hố chia rẽ giữa nhà vua với Tây phương , và nhà vua với nhân dân ngày càng bị đào sâu dưới thời Minh Mạng(1820-1841) đặc biệt từ năm 1833 , chính vì vào tháng 7 năm 1833 Lê văn Khôi ,con nuôi Lê văn Duyệt nổi lên ở nam bộ , cùng sự hợp tác của người công giáo , chống lại chính quyền quá tập trung quyền hành vào Minh Mạng, cuộc nổi dậy này thúc đẩy 1 cuộc nổi dậy khác ở Bắc bộ do Nông văn Vân , 1 lãnh tụ dân tộc thiểu số ( người việt nam ở bắc bộ cũng tham dự, song lại dụng cờ họ Lê)
    Kể từ đó , triều đình Huế và nhà vua cương quyết dựa hẳn vào văn thân, gạt người công giáo ra và từ chối ảnh hương Âu Tây, ngõ hầu củng cố chế độ quân quyền kiểu Trung Hoa và dựa vào nền Nho học nghiêm ngặt của các sĩ phu đã từ bao đời được đào tạo trong nhà trường Khổng tử
    Tuy nhiên không phải Minh Mạng cố thủ xây dựng một quốc gia mới , đặc biệt bằng mọi hình thức mới để hội nhập tằng lớp sĩ phu vào trong lòng dân tộc , mà nhà vua chỉ muốn tái tạo lại bằng cung cách nệ cổ,kể cả tranh đua về mặt văn hóa triều Mãn thanh tái tạo lại những định chế không còn thích hợp với thực tế xã hội của đất nước
    Những kẻ kế vị sau này đã phải trả giá rất đắt và Tự Đức phải gánh chịu hết những sai lầm của Minh Mạng

    HẾT chương 1
    thay đổi nội dung bởi: rongdienro, 15-05-2011 lúc 14:43
    Ao do em di giua pho dong
    Hang cay nhu bong thap len hong Em di lua chay trong bao mat Anh hoa thanh tro em biet khong

  4. The Following 9 Users Say Thank You to rongdienro For This Useful Post:

    conemthudo (21-05-2011),Ghyn (11-05-2011),hanvantung (02-06-2011),htm (11-05-2011),kieuphong (12-05-2011),ndd1109 (15-12-2012),nguoidemsao (11-05-2011),phithiengia (06-06-2011),SaitouHajime (04-06-2011)

  5. #3
    Tham gia ngày
    19-02-2008
    Bài gởi
    414
    Thanks
    1,034
    Thanked 127 Times in 58 Posts

    Default

    CHƯƠNG 2
    NHỮNG NGƯỜI PHÁP ĐẾN VIỆT NAM:TỪ GIÁO SĨ ALEXANDRE DE RHODESS TỚI PAUL PHILASTRE
    Sự phối hợp giữa hoạt động của các giáo sĩ thừa sai với quyền lực nhà nước biểu hiện một trong các mô hình của công cuộc bành trướng Pháp ở Hải ngoại.Với cái giá phải trả biết bao gian khổ và hi sinh,các giáo sĩ đã đặt được chân vào một sứ sở chưa Kito hóa,đã đào tạo các tân tòng rồi dần dần đứng vững tại đây .Sau khi giai đoạn khởi thủy đó hoàn thành ,thủy quân Pháp xuất hiện : lợi dụng tối đa những người mới theo đạo ,lắm lấy cơ hội để hoặc chiếm lấy xứ sở đó làm thuộc địa bằng một giải pháp quân sự ,hoặc làm áp lực trên chính quyền bản xứ nhằm thiết lập một căn cứ quân sự hay buộc phải mở cửa cho nước ngoài vào buôn bán,hoặc nữa phải kí kết một hiệp định bảo đảm cho tự do tín ngưỡng của đạo Kito.Một quá trình diễn biến như vậy thật là đặc biệt, vì con số thương gia Pháp muốn tự khẳng định mình trên tầm mức quốc tế không nhiều ,điều ấy khác hẳn với, chẳng hạn như, nhưng mối quan tâm và tính năng động về thương mại của người Anh
    Trường hợp Việt nam cung cấp cho ta một trong những ví dụ điển hình nhất của sự phối hợp chặt chẽ giữa hoạt động của các giáo sĩ thừa sai với quyền lực nhà nước , đặc biệt trong thời gian triều đại Napole'on(1852-1870). Tuy nhiên ,lợi ích tôn giáo không luôn đồng nhất với lợi ích của nhà nước.Sau khi đế chế sụp đổ vào năm 1870 và cùng với thời gian trôi qua ,các mối quan hệ giữa giới giáo sĩ và với giới chính trị ngày càng lỏng lẻo , rồi đối lập nhau ngày càng sâu sắc , đặc biệt như vụ thế tục hóa ngành giáo dục
    Có lẽ khỏi cần phải trình bầy chi tiết về lịch sử hoạt động của Giáo hội tại Việt nam ; vì chúng ta đã có nhiều công trình nghiên cức về công cuộc Phúc âm hóa sứ sở này .Cũng thế chúng ta có thể tra cứu nhiều cuốn sách phân tích tỉ mỉ các cuộc điều đình giữa chính khách và thành viên của " Đảng thuộc địa", phe này bao gồm cả đại biểu Phòng thương mại, kí giả Công giáo , chuyên gia các sự vụ hằng hải ..., sau hết , người ta đã thảo luận dài dòng về những nguyên nhân của sự can thiệp và chiếm thuộc địa cua Pháp tại Việt nam ,các tác giả này chỉ nhấn mạnh vào các nguyên nhân kinh tế
    Phần chúng tôi , chúng toi muốn tập chung sự chú ý vào những người Pháp từng làm việc ở Việt nam qua đó , nhìn vào quá trình truyền thông tin tức từng thúc bách chính phủ Pháp phải can thiệp vào Việt nam chiếm nước này làm thuộc địa .Rút lai chúng tôi đưa ra mấy yếu tố để trả lời một câu hỏi đơn giản song quan trọng.Tai sao không phải là Anh, Hà lan , Bồ đào nha, Tây ba nha mà chỉ có mình nước Pháp " gắn bó"với Việt nam?Và mặt khác : tai sao không phải Phi luật tân, Triều tiên , Nhật bản ,Xiêm la mà chỉ có nước Việt nam bị Pháp " gắn bó"
    1- CÁC GIÁO SĨ THỪA SAI
    Trong công cuộc Phúc âm hóa đất nước Việt nam , có một tổ chức và 5 linh mục người Pháp giữ vai trò quan trọng
    Hội thừa sai Pari và các linh mục Alexandre de Rhodes,Francois Pallu, Pierre Pigneau de Be'haine,Fracois -Marie Pellerin và Paul Francois Puginier
    A- de Rhodes (1591-1660). Linh mục thuộc dòng Tên , là người Pháp đầu tiên đã giới thiệu đất nước Việt nam với đồng bào ông một cách có hệ thống và mạnh mẽ . Rất có khiếu về ngôn ngữ ,ông đã nói được tiến Việt sau khi vào Việt nam được 6 tháng, khi ấy là năm 1624 .Charles Maybon đã mô ta hoạt động và sự nghiệp của ông như sau
    ".. với hơn 7 năm ở Đàng ngoài và Đằng trong linh mục de Rhodes đã hiểu biết sâu sắc về tiến nói , phong tục tính nết của người An nam , cũng như về tài nguyên và lịch sử nước này . Ông đã viết nhiều sách được ấn hành trong khi lưu trú ở châu Âu , tạo thành một tổng hợp những ý niệm đầy đủ và chính sác nhất trong nhiều nắm mà chúng ta có thể hiểu biết về nước An nam .Sách kể lại chuyện của ông về những thành quả đức tin ở Đàng trong bằng tiếng Ý ,xuất bản tại La mã (1650) và Milan (1651) bằng tiêng Pháp tại Pari (1652)
    Ông phát hành tại Lyon cuốn lịch sử Đàng ngoài bằng tiếng La tinh (1652) và những bản tiếng Pháp được xuất bản ba lần từ 1651 tới 1656
    Ngoài những cuốn sách nhằm mục đích làm châu Âu hiểu biết về đất nước An nam , ông còn cho ấn hành tại La mã một cuốn sách giáo lý vừa bằng tiêng La tinh vừa bằng tiêng Nam ( quốc ngữ) cho người bản xứ dùng ;một số cuốn từ điển tiêng Việt-Bồ-La cho các giáo sĩ thừa sai sử dụng.Đó là nhưng cuốn sách đầu tiên mà trong đó cá mẫu tự La mã được dùng để phiên âm tiếng nói người Nam
    Công trình đó ảnh hưởng lớn ở cả Pháp và cả ở Việt nam, và A-R là người sáng chế ra phương pháp phiên âm tiêng Việt nam bằn các mâu tự La mã ( quốc ngữ) ,và nhờ vây xuất bản lần đầu tiên cuốn tự điển và một cuốn sách giáo lí bằng tiêng la tinh và tiếng Việt rất lợi ích cho việc truyền bá Phúc âm .Khi đã về châu Âu , A-R liền kêu gọi giáo hoàng và bạn hữu của ông thuộc dòng Tên tại Pari hãy thiết lập các vụ truyền giáo ở Viễn đông , vì ông đã nhìn thấy sự cần thiết phải lập 1 cơ quan có nhiệm vụ đào tạo nhiều linh mục ngay trong nước ấy ngõ hầu duy trì việc truyền đạo tại chỗ
    Dù ông không phải là người sáng lập hội dòng nhưng, ảnh hưởng và sức năng động của ông đã góp phần không nhỏ vào việc thành lập sau này một hội chuyên việc truyền giáo ở Pari
    Francois Pallu(F-P)(1626-1684).Hội thừa sai Pari được thành lập , trên danh nghĩa , vào năm 1658: ngày 17 tháng 8.Giáo hoang AleXandreVII đã cử ( F-P) và pierr de la Motte -Lambert (1637-1698) làm đại diện Tông tòa cho các xứ truyền giáo ở Trung hoa và các vùng lân cận .Tuy nhiên hội thừa sai chỉ thực sự hiện hữu từ khi thành lập 1 chủng viện vào năm 1664
    Các ông lên đường sang Viễn đông -Xiêm la ,Đàng ngoài ,Đàng trong để cố tổ chức tai đó những giáo phận đại diện Tông tòa và tiết lập hàng giáo sĩ vững chắc
    Ngoài nhưng công việc đã thực hiện tại á châu trong khuôn khổ của Hội mới lập,(F-P) còn lo việc,tại Pháp , hợp tác vói nhà nước hòng khuếch trương ảnh hưởng của Pháp tai Viễn đông
    Vì trong khoảng thế kỉ 17, sự tranh giành giữa các nước châu Âu khá quyết liệt; không những ở châu âu mà cả ở Á châu , nơi mà người Bồ dào nha, Tây ban nha , Hà lan, Anh , Pháp đối kháng nhau , đôi lúc đụng chạm đên việc chuyên chở người và hàng hóa mà nước khác từ chối không cho lên tầu của họ,Pallu đã gửi đến Collbert những bản ghi chú về dự án thiết lập công ty Đông Ấn thuộc Pháp ; do đấy mà Chassigneux đã có thể viết ; (F-P)là một giáo sĩ thừa sai vừa hành sử tôn giáo vừa làm việc thương mại vì sự vinh quang của nhà vua.Sự thực, hoàn cảnh buộc ông ta có thái độ ấy vì,ít nhất, hai lý do
    -"..Bồ đao nha sợ Pháp bắt trước theo sau họ tiến sâu vào Viễn đông để phỗng lấy những mảnh còn lại ở các thuộc địa của họ, để triệt tiêu phần ảnh hưởng rơi rớt của họ và làm tàn lui nền thương nghiệp của họ, vì thế Bồ đào nha kiên trì chống lại mọi hoạt động của hội thừa sai Pari qua trung gian các tu sĩ Dòng Tên người Bồ đao nha .Như vậy, chuyện Hội này phải cầu cứu chính quyền của họ để chống lại những mưu tính của người Bồ đào nha, và các kình địch Âu tây khác là hoàn toàn hợp lý
    Dẫu thừa sai chưa bị bách hại ở Việt nam nhưng những sinh hoạt tôn giáo của họ đã bị chính quyền coi là phạm pháp kể từ năm 1630, ở Đàng ngoài các chúa Trịnh cũng như ở Đàng trong của chúa Nguyễn.Trong nhưng điều kiện ấy, họ có thể vào sứ sở này bằng cách làm như thương nhân hay nhà bác vật- nhà toán học chẳng hạn.Những hàm hồ đó đã làm cho người Anh đương thời viết
    " tại đây , người Pháp có một ngôi nhà , nhưng chúng tôi không thể phân biệt đó là nhằm mục đích thương mai hay có mục đích truyền giáo "
    Rốt cuộc ,Pallu không thành công trong việc liên kết nhưng quyền lợi chính trị và thương mại của người khác vào sự phát triển của Hội của ông.Song dù sao ông cũng góp phần củng cố Hội,ở Pháp bằng bằng việc thành lập một chủng viện , và ở việt nam cùng với các bạn đồng nghiệp ông đã đặt được ba giáo khu đại diện cho Tông tòa là Đàng trong, Đông đang ngoài ,và Tây đàng ngoài
    -Giám mục Pigneau de be'haine(P-B)(1741-1799)
    Khoảng thế kỉ 18 đặc biệt suốt 50 năm đầu ,Hội thừa sai Pari phải đương đầu với nhiều khó khăn .Hội bị thiếu thốn về nhân lực và vật lực-như vào năm 1723hội chỉ có 4 giáo sĩ ở đàng ngoài và cũng không quá số đó ở đằng trong , trong khi sự chống đối về chính trị tại địa phương ngày càng gay go.Nếu tình hình Đàng trong tương đối thanh bình , thì ở Đàng ngoài thuộc quyền chúa Trịnh đã sảy ra nhiều vụ bách hại-vào những năm 1712,1721,1723,137,1745,1773.Charles Maybon đã giải thích lòng nhân từ tương đối mà triều đình Huế đã đối sử với các giáo sĩ thừa sai , và lòng nhân từ ấy sẽ chuẩn bị -từ xa-cuộc gặp gỡ lịch sử giữa Nguyễn ánh và giám mục Pigneau de be'haine vào năm 1776 hay 1777 như sau
    " cần lưu ý công cuộc Phúc âm hóa đạt được nhiều kết quả ở Đàng ngoài hơn Đàng trong , và có lẽ các nhà cầm quyền Đàng ngoài sợ rằng sự phát triển của một tôn giáo ngoại lai sẽ gợi cho thần dân của họ nhưng ước muốn đọc lập hoặc phá bỏ tâm tình phục tòng của dân chúng ; cũng có lẽ vì các giáo sĩ thừa sai ,ở ngoài nay nhiều hơn, đã tỏ ra thiếu khôn ngoan và thiếu kính trọng chính quyền(...0 nhưng có điều chắc chắn là các chúa Nguyễn đã thành công trong việc xin người Âu tây cứu viện , còn các chúa ở Đang ngoài đã thất bại trong việc yêu cầu giúp đỡ của người Bồ đào nha và người Hà lan .Ngoài ra , suốt thế kỉ 18 , người ta đã tìm thấy nhưng giáo sĩ Dòng Tên giữ các nhiệm vụ trọng yếu trong phủ chúa Nguyễn, giống như các bạn đồng sự của họ đã phụ trách trong triều đình nhà Thanh ở Bắc kinh,trong khi các chúa Trịnh chưa từng tỏ ra kiên trì nghĩ tới việc tìm kiếm trong số thừa sai những đại biểu của nền khoa học phương Tây
    Nhờ đoạn trích dẫn tên đây soi sáng , người ta thấy rõ là hành động của Nguyễn ánh ăn khớp sẵn với một đương lối chính sách từng thành hình là kêu gọi sự yểm trợ ơi Âu tây
    Do đó , sau khi tất cả các con chau nhà Nguyễn , trừ Nguyễn ánh , bị Tây sơn hạ sát , ông hoàng trẻ phải trốn chạy lưu vong và nay đến lượt ông cầu cứu người Âu tay hòng thâu hồi lại quyền bính .Sau khi lần lượt xin giúp đỡ với người Bồ đào nha ở Ma cao, người Tây ban nha ở Ma ní, người Hà lan ở Bâtvia và người Anh ở Calcutta đều vô hiệu quả , thì ông hoàng gặp gỡ Pigneau de Be'haine, giám mục Adran, đại diện của Tông tòa của giáo phận Đàng trong vào năm 1776 (hoặc 1777).Sự hòa hợp giữa 2 nhân vật liền trở lên hoàn hảo , và giám mục Be'haine đem hết sức mình ra giúp ông hoang
    Giám mục đem theo hoàng tử Cảnh , con cả của Nguyễn ánh ,sang Pari;và thay mặt Nguyễn ánh kí kết hiệp ước Versailles(1787), theo đó nước Pháp cam đoan gởi quân đội sang cứu trợ Nguyễn ánh với sự đền công là nhượng lại các đảo ở Đà nẵng và đảo Côn lôn cùng với việc mở cửa buôn bán dành riêng cho người Pháp .Tuy nhiên, cận thần của vua Louis XVI đã gửi cho Conway, thống đóc thành Pondiche'ry, những bản tường trình có nội dung mâu thuẫn với nhau đến nỗi việc đại diện Pháp này từ chối không cung cấp quân viện cho nhà truyền giáo
    P-Be'haine phải giải quyết bằng phương tiện riêng của mình để gom góp , tai đảo Pháp ( nay là Maurice) một đội quân tình nguyện ,trong dó có nhiều sĩ quan hải quân , những người sẽ trợ tá Nguyễn ánh một cách đắc lực ,giúp ông rứt khoát thay đổi cán cân lực lượng ,và sau cùng đánh bại Tây sơn , thống nhất xứ sở rồi lập ra triều đại mới vào năm 1802 .Giám mục P.Be'haine chết trước đó ít lâu lên không được dự phần vào cuộc khải hoàn nay
    Dẫu phải hành động đơn độc,bị chính phủ Pháp bỏ rơi,bị đồng sự trong hội thừa sai nghi kị,có người đã trách ông đã quyên đi bổn phận truyền giáo," chỉ chăm lo chiến trận,và cố vấn cho sĩ quan về nghệ thuật quân binh ,và can thiệp quá sâu vào chính trường Việt nam, song hành động của giám mục Adran đã có một tiếng vang rất lớn .Nhiều người Pháp tự hào vì đã tham dự vào sự nghiệp vẻ vang đó ,còn giáo sĩ thì gợi nhớ vai trò đã đóng để yêu sách chính phủ Pháp đòi triều đình Huế phải đảm bảo tự do cho đạo Công giáo.Sau cùng là các sĩ quan hải quân đã viên cớ ở những điều khoản "lợi cho Pháp"của hiệp ước Versailles để can thiệp vào Việt nam.Một khi đã thiết lập vững vàng , rốt cuộc triều đại Nguyễn phải lúng túng trong hành sử : có thể xây dựng một nhà nước trên những nguyên tắc khác với Nho giáo hay không ? phải dành cho người Công gáo Việt nam một vị trí nào đây?
    thay đổi nội dung bởi: rongdienro, 14-05-2011 lúc 13:05
    Ao do em di giua pho dong
    Hang cay nhu bong thap len hong Em di lua chay trong bao mat Anh hoa thanh tro em biet khong

  6. The Following 4 Users Say Thank You to rongdienro For This Useful Post:

    conemthudo (21-05-2011),hanvantung (02-06-2011),kieuphong (12-05-2011),phithiengia (06-06-2011)

  7. #4
    Tham gia ngày
    19-02-2008
    Bài gởi
    414
    Thanks
    1,034
    Thanked 127 Times in 58 Posts

    Default

    -HỘI THỪA SAI PARI VÀ ĐẤT NƯỚC VIỆT NAM
    Hội này đã mọc rễ sâu tai Việt nam nhờ biết bao nỗ lực cá nhân của các giáo sĩ thừa sai kiệt xuất mà chung tôi vừa kể qua . Hội thùa sai pari tiếp tục việc tổ chức khu vực truyền giáo này.Số giáo khu có đại diện tông tòa ngày càng tăng .Năm 1884, giáo khu Đàng trong chia ra giáo khu Tây đàng trong và giáo khu DÔNG ĐANG TRONG.nĂM 1846 .Giáo khu Đằng ngoài cung chia ra Tây đang ngoài và giáo khu nam đàng ngoài .Rồi năm 1848, giáo khu Đông đang ngoài chia ra giáo khu Đông Đàng ngoài và giáo khu Trung Đang ngoài,hai giáo khu này đặt dứoi thẩm quyền của các tu sĩ dong Đa minh Tây ban nha .Năm 1858, thành lập giáo khu Bắc Đàng trong và giáo khu Cam bốt , được tách ra từ giáo khu Tây Đàng trong.Như vây, năm 1850 , Việt nam chia ra tám giáo khu tông đó có sáu giáo khu được đặt dưới Hội thưa sai Pari
    Tai sao Hội đó lại có ý " thiên vị ngả về( từ ngữ của Maybon) Đông dương )? thât khó trả lời vì ý đò thì nhiều và rất phức tạp .Tuy nhiên, chúng ta thử trình bầy nơi đay nhưng mưu đồ chính yếu
    -Các giáo sĩ thừa sai Công giao Pháp nhập cuộc sau người Bồ đào nha, Tây ban nha vào việc Phúc âm hóa ở Á đông. Vào giữa thế kỉ 17 , người Bồ đào nha đã chiếm cứ Goa và Ma cao làm cơ sở hoạt đọng tôn giáo và chính trị ,còn người Tây ban nha đã chiếm đóng và giảng Tin mừng ở Phi luật tân.Đong dương khi ấy là một trong những vùng còn sót lại hầu như vẫn " NGUYÊN VẸN" đối với việc Phúc âm hóa dâng tặng cho cá giáo sĩ thừa sai Pháp
    Nhũng giáo sĩ thừa sai đầu tiên đến Việt nam đều có ấn tượng tốt đẹp với nhân dân Việt nam.Như giáo sĩ Cristoforo Borri thuộc dòng Tên , người Ý (1585-1632)tác giả Âu tây đầu tiên viết về đất nước và con người vViệt nam sau khi ghé thăm Đà nẵng vào năm 1618, kể lại như sau
    " .. họ người Đàng trong có thân hình vừa phải, nghĩa là không nhỏ như Nhật , không lớn như người Hoa ; ho lại vam vỡ rắn chắc hoen cả hai giống người ấy , đông thời họ hơn hẳn người Hoa về trí tuệ lẫn can trường...
    ...Và do bản tính , người Đàng trong dễ thương và lịch thiệp trong tiếp xúc với người Âu tây , dẫu họ có tự đánh giá cao về mình .Họ nghĩ rằng nếu nổi giận thì hạ thấp mình .Trong khi tất cả cá nước khác ở Phương đông xem người ÂU tây như những kẻ phàm tục ,ghê tởm họ, và mỗi khi lần đầu tiếp xúc thì những người ấy vội vàng lánh xa ta . Còn ở Đàng trong,hoàn toàn ngược lại họ lũ lượt đến chen vai thích cánh với ta, họ hỏi ta cả ngàn chuyện , mời ta về nhà ăn cơm ,nói tóm lại là họ vận dụng đủ mọi thứ bặt thiệp thân mật và nghi thức"
    Một bằng chứng khác ; bằng chứng của linh múc Le Royer, bề trên cá giao đoàn ở Đàng ngoài ,thành viên của Hội thừa sai pari ,đã viết trong một thưddeef ngày 10thang 6 nam 1700 :"dân chúng Đàng ngoài thông minh, lịch sự và thuần hậu .Đem họ về với chúa Kito không phải việc khó vì họ không gắn bó lắm với chùa chiền, cũng không trọng nể sư sai của cá tà thần lắm .Ngoài ra, phong tục của họ khá hồn nhiên và họ không có nhưng thói xấu xa đồi bại mà các dân tộc khác ở Phương đong thường mắc phải
    -Như chúng ta đã biết , suốt thế kỉ 17 chúa Trịnh ở Đàng ngoài và chúa Nguyễn ở Đàng trong đang kình chống nhau .Tuy nhiên các chúa Nguyễn tỏ ra cởi mở hơn đối với người Âu tây và như vậy tình hình xem ra thuận lợi cho các giáo sĩ thừa sai hon là ở mấy nứoc khác thuộc vung Viễn đông,như Nhật bản, Triều tiên
    Trong phạm vi tín ngưỡng, người Việt nam có thái độ hỗn hợp hòa đồng , thái độ ấy tỏ ra thuận lợi cho sự bành trướng đạo Kito.Nicole-Dominique Lê đã viết về đề tài này như sau;
    "Về những gì liên quân đến tôn giáo và triết lý ,người Việt nam không bảo lưu gì ở nguyên chất.Người ta có thể nói đó là một tình hình pha trộn ,xem kẽ .chông chất tôn giáo.đạo đức, triết lý và dị đoan.Tính hòa đồng đó , thái độ dễ dàng chấp nhận dễ dàng mọi thứ ấy sẽ giúp đạo Ki to phát triển và mở rộng ,trong khi ở các nước Viễn đông khác thì những cố gắng Phúc âm hóa của các thừa sai hầu như không có kết quả "
    Sự viện trợ về chính trị và quân sự mà giám muc Adran đem lại cho Nguyễn ánh rốt cuộc đã ảnh hưởng dứt khoát tới đường lối của hội thừa sai .Trước mắt các thành viên của hội này ,công cuộc Phúc âm hóa mà giám mục Adran cố thực hiện đã ị thất bại , vẫn được em như một thứ sản nghiệp kế thừa cần lấy lại và phát triển thêm
    -CÁC GIÁO SĨ THỪA SAI VÀ SỰ CAN THIỆP CỦA PHÁP
    Sau khi Gia Long mất năm 1820,thái đọ đói với thừa sai và người Công giáo đã thay đỏi .Vua kế vị là Minh Mạng , sau cái chết của Lê văn Duyệt, phó vương Nam kì và là người bảo tợ công khai cho Công giáo , vào năm 1832, đã bắt đầu trục suất cá thừa sai khỏi lảnh thổ mình .Năm sau cuộc nổi dậy của Lê văn Khôi , con nuôi Lê văn Duyệt, càng làm cho lập trường nhà vua thêm cứng rắn , và từ đó thừa sai cũng như giáo dân sẽ bị bác hai.
    Các thừa sai như Miche và Duclos liền kêu cứu chính phủ Pháp , lời kêu cứu ngày cagf khẩn thiết . Ban ghi chú không đề tên của một thừa sai hồi tháng 10 năm 1852 đã bày tor đúng nguyện vọng và lập luận của họ như sau
    ".. năm 1833 ,Minh Mạng đưa ra sắc chỉ bách hai đạo lần đầu .Vì thế ,từ năm đó đến nay , đã có bẩy thừa sai bị chặt đầu hay bị thắt cổ ; sáu vị khác bị cầm tù nhiều tháng trong ngục thất ở kinh kì với bản án tử hình;họ chỉ được giải thoát với sự can thiệp quảng đại của các sĩ qua chi huy Pháp .Mói gần sáu tháng nay máu của một người anh em chúng tôi đã trào ra dưới lưỡi gươm sắc (..) nếu chính phủ Pháp, trong mối quan tâm đáng khen của mình đối vói những công dân từng làm vẻ vang và vinh quang cho tổ quốc ngay ở những nơi tận cùng trái đất ,muốn giúp đỡ họ và những người công giáo mà họ coi sóc thì hãy dùng súc mạnh canh thiệp mà đòi hỏi nhưng nhượng bộ cho việc giảng đạo lẫn việc hành đạo , thì đây nên làm như thế này(..)
    " khoản 6(..).Tất nhiên , thưa sai Pháp khi tới sứ này để đổ mồ hôi cho việc tông đò, thì cũng không e sợ khi cần phải đổ cả máu của mình ra .Do đó, nếu họ muốn chính phủ Pháp can thiệp mạnh mẽ , chỉ vì sự thịnh vương của tôn giáo mà thôi , vì hâu như qua con người của họ mà nước Pháp bảo vệ được mottj trong nhưng quang vinh tinh tuyền nhất của mình , đó là công cuộc truyền giáo , sau cùng vì mối quan tâm ấy không để các giáo sĩ của mình ị sỉ vả mà vẫn vô can , và cung không thể để cho mọi sợi tóc trên đầu họ rơi xuống mà không thẳng tay trừng trị những kẻ bách hai liều lĩnh đó là nhưng kẻ không sợ nhục mạ hai tình cảm thân thiết nhất của nhưng quốc gia công giáo , tức là tôn giáo và tổ quốc?"
    Nhưng chính phủ Pháp tỏ vẻ làm ngơ-ít nhất là vẻ bề ngoài, vì Guizot đã nghĩ tới việc đặt nền mống tai Đông dương -và phải đọi tới thời kì Đệ nhi Đế chế thì tình hình mới thoát ra khỏi bế tắc
    Giám mục Pellerin, đại diện Tông tòa giáo phận Bắc đàng trong , đã giữ một vai tò chính yếu cạnh chính phủ Napole'on . Về Pháp (tháng 5-1857) ông đã đệ lên Napole'on III một bản trần tình đề ngày 21 tháng 5 năm 1857 bầy tỏ " ý muốn sâu sắc , nhất trí của cá giáo sĩ ở Việt nam , là hạ bệ vua Tự Đức hiện đang trị vig mà thay vào đó một ông vua theo đao Công giáo, hay ít nhất có thiện cảm với tôn giáo của người Pháp " . Rồi ông xin vua Pháp can thiệp tai Việt nam
    Nhưng lập luận và thái đọ của hội thừa sai Pari. Từ trước , đến khi ấy , các vị thừa sai tới Việt nam chỉ đe ' rao rảng đạo thuật và cứu rỗi linh hồn" mà không quan tâm đến các vấn đề chính trị .Mỗi khi bị bách hai," họ luôn vượt thắng bách hại bằng lòng kiên nhẫn và cái chết" , chứ không cần đến sự hỗ trợ của các chính phủ Âu tây.Ngay chính giám mục Pellerin cũng không bày tỏ tâm trạng đó vào năm 1848, nhân chuyệm nối ngôi của Thiêu Trị , ông viết cho các tín hữu của mình như sau:".. dù thế nào đi nữa , tôi biết là ông ( Hông Bảo) đã nhiều lần tìm cách lấy lại ngôi vua mà ông có quyền hưởng vì đã sinh ra trước , và ông muốn lôi kéo nhất là người công giáo vào phe bằng cách không những hứa hẹn cho họ tự do mà còn dùng ảnh hưởng đêr hỗ trợ việc cải giáo cho cả nước thao Phúc âm.Tôi không biết nhưng hứa hênj đó thành thực đến mức nào.Những người tân tòng đã nhiều lần tới tham khảo tôi về vấn đề này , tôi trả lời họ là chỉ nên cậy trông nơi Thiên chúa và Me nhân lành của chúng ta mà thôi, và tôi đã cấm họ không được dính bén chút gì vào các việc chính trị"
    thay đổi nội dung bởi: rongdienro, 11-05-2011 lúc 20:07
    Ao do em di giua pho dong
    Hang cay nhu bong thap len hong Em di lua chay trong bao mat Anh hoa thanh tro em biet khong

  8. The Following 4 Users Say Thank You to rongdienro For This Useful Post:

    conemthudo (21-05-2011),hanvantung (02-06-2011),kieuphong (12-05-2011),phithiengia (06-06-2011)

  9. #5
    Tham gia ngày
    19-02-2008
    Bài gởi
    414
    Thanks
    1,034
    Thanked 127 Times in 58 Posts

    Default

    Thế thì tại sao có sự chuyển hướng trong thái độ ấy ?Linh mục Louvet , thành viên của Hội thừa sai giải thích như sau:" Bởi vì hoàn cảnh đã hoàn toàn thay đổi, và vì người ta đã bỗng nhiên làm liên lụy đến chúng tôi , cả giáo sĩ lẫn giáo dân, bằng nhưng cuộc biểu dương vừa quảng đại vừa dại dột , rồi bỏ rơi chúng tôi vào một trạng huống mà giám mục Retord mô tả ngay khi ấy là trong nanh vuốt của hùm dữ, sau khi đã kích động cho hùm chống lại chúng tôi
    Qua đó, linh mục Louvet gợi lại việc phái bộ Montigny đã tới Đà nẵng năm 1857 để diễu võ dương oai rồi thảm bại rút lui để lại biết bao khó khăn cho thừa sai và tín hữu .Theo tác giả Louvet , phái bộ Montigny đã gây chuyển hướng trong tính cách của sự bách hại như sau
    ".. từ phạm vi tôn giáo chuyển sang phạm vi chính trị ; người công giáo không chỉ là kẻ theo tà đạo , tự tách mình ra khỏi đời sống công dân và gia đình do chối từ việc thờ cúng tổ tiên, mà còn là bạn bè của người ngoại quốc , là kể phản bội và phản nghịch , từng kêu gọi quân xâm lăng đến đất nước mình
    Sự thật Louvet chỉ nhắc lại một lập luận mà giam mục Pellerin đã quẳng diễn từ trước:" Điều đã đun đẩy Tự Đức ban ra nhưng sắc chỉ kinh hoang như vậy, chính là vì sợ người Công giáo sẽ giúp Pháp chống Việt nam để đòi hỏi những quyền lợi đã được ghi trong những hiệp ước xưa kia , hoặc được mạng lại từ danh dự của nước Pháp thông qua bản thân hạm trưởng Lapierre
    Một lập luận như vậy đánh dấu thật rõ ràng sự thay đổi trong não trạng của các thành viên Hội thừa sai Pari, vì lập luận ấy đã cho biết sự thật lịch sử trên thực địa.Vì tại Việt nam nơi tinh thần hòa đồng tôn giáo đã thấm sâu vào xã hôi , không có lý do gì , nhất là khi vẫn còn trật tự xã hội, lại đi bách hại đạo Công giáo với tính cách 1 tôn giáo.Đã từ lâu điều làm cho người ta e ngại là sự hiện diện và hoạt động của các thừa sai bị coi như những tác viên của Phương tây có nhiệm vụ phá hoại nền đạo đức và chính tị của tổ quốc " Các quan tỏ ra vô cùng sợ hãi những mưu kế chính trị của các linh mục , họ than phiền ,không biết đúng hay sai , về nhưng vụ mưu loan gán cho cá vị này"
    Nếu mức độ sự bách hại đạo ở Việt nam ngày càng nghiệt ngã sau vụ phái bộ Montigny, thì trên thực tế , bản chất của cuộc bách hai đó không có gì thay đỏi.Cái thay đổi chính là lập trường của các thừa sai đối với chính quyền nhà nước Pháp đang tỏ ra thiện cảm hơn đối với những yếu cầu của hàng giáo sĩ vốn là một trong những trụ cột của chế đọ.Qua đó , thừa sai thây được khả năng làm cho chính quyền đế quốc can thiệp.
    Ngoài ra , cũng không lên quyên rằng các thừa sai đó sinh ra sau cuộc cách mang Pháp , đều chịu ảnh hưởng của một tinh thần quốc gia chủ nghĩa rất thịnh hành kể từ đầu thế kỉ 19.Thật đáng chú ý đẻ ghi nhận là từ năm 1840 mới xuất hiên những từ ngữ như ' tôn giáo và tổ quốc"," người công dân",' con cái nước Pháp " và " đồng bào chúng ta"trong các bản tường trình của họ.Vào thế kỉ 17 , khi giám mục Pallu gửi thư cho Colbert ông còn nói tới " lợi ích của đức tin"và " vinh quang của nhà vua rất Công giáo", thật minh bạch là đối với ông , không có gì quan trọng bằng lợi ích tôn giáo .Nhưng phần các thừa sai thế kỉ 19 thì họ cùng chia sẻ một tâm tình chung vừa là môn đệ của Đức Kito vừa là công dân Pháp , và đối với họ lợi ích của nước Pháp sẽ đồng hóa với lọi ích của tôn giáo từ khi nhà nứơc áp dụng chính sách thuận lợi cho người Công giáo
    Thúc đẩy bởi nhưng yêu sách của giám mục Pellerin , của những người khác như giám mục Retod, đại diện Tông tòa giáo phận Tây đàng ngoài , của linh mục Libois đang làm quản lý hội thừa sai ở Hương cảng , của linh mục Húc thuộc dòng LAZARISTE từng giảng đạo tại Trung quốc , và cũng tỏ ra muốn làm hài lòng dư luận Công giao , vua Napole'on III đã chỉ thị cho Walewski, thượng thư ngoại giao , phải lập một đạo quân viễn chinh sang Việt nam .Ngày 16-07-1857, Ưalewski chủ tọa hội đồng thượng thư, có quyền thượng thư Tài chính tên là Achille Fould(1800-1867) đã nói tôi không biết Cochinchine ở đâu và cũng không biết đó là gì.
    Đang khi ấy , một hạm đội Pháp do đô đốc Rigault Genouilly chỉ huy đang trên đường sang Viễn đông, nhân việc xảy ra bên Trung Quốc .Chính phủ hoàng đế Pháp lợi dụng cơ hội đó gởi cho hạm trưởng ,ngày 25-11-1857 một loạt chỉ thị hết sức mơ hồ , hay đúng hơn , theo chính Walewski, rất " co giãn".Chính phủ Pháp chỉ đòi hỏi một điều minh bạch: chấm dứt bách hại và đảm bảo cho người công giáo ở Việt nam một chế độ khoan dung.Làm thế nào? Tới mức nào? trên những điểm ấy , chính phủ Pari vì hoàn toàn không biết trên thực tế ở Việt nam giống như ý kiến của Achille Fould kể trên , nên trút cho vị đô đốc bỗng được toàn quyền hành động tại chỗ ; từ đó, chính phủ trung ương luôn để cho viên chức địa phương điều khiển
    Rigault de Genouilly nhận được chỉ thị từ Pari vào tháng giêng năm 1858.Nhưng chỉ sau khi đã cùng người Anh can thiệp thành công vào chiến trường Trung quốc , ông mới cho quay mũi ham đội về Tourane( Đà nẵng),làn này thì cùng với người Tây ban nha , vào tháng 8 năm 1858
    Ngày 1 tháng 9 , R.de Genouilly hạ lệnh cho quân đội Tây ban nha và Pháp đánh phá đồn lũy Đà nẵng .Ông lấy được thành trì rất dễ dàng , sau khi quét được một lực lượng vờ như đối kháng .Ông chờ đợi binh đội Việt nam ra quân , vì các thừa sai cho ông biết sẽ có ít nhất mười ngàn quân nghênh chiến , nhưng đạo quân đó không xuất hiện.Ông cũng chờ đợi sẽ có đông đảo người Công giáo tị nạn dưới cờ Pháp , nhưng mãi tới ngày 3-9 mới có độc nhất một linh mục đên gặp đô đốc .Sau mấy tháng chiếm đóng , trong sự chờ đợi một cuộc nổi dậy của người công giáo,không hề có chuyện gì sảy ra.Trái lại, bệnh thời khí đã giết chết nhiều binh sĩ đồng minh.Ngày càng ngờ vực đối với nhưng lời nói và hứa hẹn của các thừa sai , đô đốc chi quay mũi hạm đội về phía Sài gòn vào tháng 2-1859, trái với ý kiến của giám mục Pellerin
    Thừa sai và tín hữu Việt nam , về phần mình thấy bối rối và thất vọng trước hành động của quân đội R.de Genouilly ; họ hi vọng trước hành động của quân đội R.de.Genouilly; họ hi vọng rằng quân đội Pháp sẽ ra tới Huế rồi thay hoàng đế đang trị vì bằng một "ông vua theo đạo công giáo dưới sự bảo vệ của nước Pháp"Hệ quả , sự can thiệp của Pháp và việc khơi mào gây hấn đã làm Tự Đức ban hành những biện pháp nghiêm khác hơn nữa đối với họ: từ năm 1858 đến 1862, mười đạo dụ bách hai đạo đã được công bố , sự thể đó làm cho linh mục Louvet có thể nhận xét về chiến dịch Pháp -Tây ban nha như sau;"Ông đã gây ra cuộc hành quân này để đảm bảo tự do tôn giáo cho đạo công giáo, nhưng rốt cuộc cuộc hành quân đã hủy diệt nhưng giáo đoàn tốt đẹp này .Chính vì thế kỉ chúng ta đã không được chuẩn bị cho nhưng cuộc hành quân lớn vì lý do tôn giáo như xưa kia từng làm vinh dự cho nước Pháp công giáo.Tính can trường của ngừơi lính chúng ta không hề thay đổi . nhưng tinh thần thì không còn như cũ ; đức tin của cha ông chúng ta không còn nữa đẻ hun đốt và yểm trợ họ.Thanh kiếm của thập tự quân, lưỡi gươm cua Charlemagne và của thánh Louis đã thành quá nặng trong tay con cái Voltaire.
    Mặc dầu bị bách hại khắc nghiệt, các thừa sai Tây ban nha và Pháp không rời bỏ xứ sở và không để bị bách hại một cách thụ đông.Ngược lại họ đã phản kháng và góp phần yểm trợ về quân sự và chính trị cho binh lính Pháp.Những người công giao tị nạn từ Bắc vào hợp thành hai đội quân dưới sự chỉ huy của R.de.Genouilly.Gia,s mục Retord gửi tới đô đốc mấy con chiên để làm hướng đạo cho quân đọi viễn chinh.Cung chính giam mục Retord đã khuyến khích Piere Lê duy Phụng cầm đầu phong tào nổi loạn chống Tự Đúc ,Phụng tự xưng là hậu duệ và kế thừa hợp pháp của nhà Lê,đông thời xuất hiện trước mắt các thừa sai như một người công giáo xuất sắc nhất Việt nam.Khoảng giữa năm 1861,ở ngoài Bắc,Phụng đã tập hợp được hai vạn quân, trong đó có nhiều người công giáo, và đã đạt được mấy trận thắng đáng kể.
    Được cấp báo từ nhưng cuộc tấn công uy hiếp của Phụng,triều đình Huế cảm thấy cần được rảnh tay ở Nam kì để có thể hướng toàn lực chống cuộc nổi loạn của mấy tỉnh ngoài Bắc, cuộc nổi loạn ngày càng nguy hiểm vì nó có nguy cơ làm khơi dậy lòng trung thành bền ỉ của dân Bắc hà đối với một triều đại quốc gia xưa kia của họ, mà nay bị các chúa ở Huế chiếm lấy .Do đó , chính quyền Tự Đức phải nhận cho đô đốc Bonard những nhượng bộ mà Pháp đòi hỏi , đặc biệt là sự tự do hành đạo công giáo , và nhượng cho Pháp ba tỉnh miền Đông Nam kì là Biên hòa ,Gia định ,Định tường và đảo Côn lôn.Hiệp ước Sài gòn kí kết ngày 5-6-1862
    Vậy là thừa sai và tín đồ công giáo có quyền biểu lộ niềm tin và quyền sinh sống , ít nhất là trên giấy tờ .Nhưng trên thực tế họ còn phải tái lập các tổ chức tôn giáo và cố câu kết với chính quyền. Về mặt này giám mục Paul-Francois Puginier(1835-1892) đã xuất hiện như một khuôn mặt then chốt.
    Trên bình diện tôn giao, nay họ cần khẩn trương xây dựng lai các giáo phận đại diện Tông tòa và củng cố sự hiện diện đạo Công giáo chủ yếu bằng hệ thông giáo dục
    Việc đào tạo giáo sĩ và số đông kẻ giảng Việt nam đã giữ một vai trò trọng yếu trong việc duy trì và đè kháng của công giáo trước các cuộc bách hại.giám mục Puginier ý thức được điều đó lên củng cố các tổ chức tại chỗ .Trong vùng giảng đạo của ông,nghĩa là trong giáo phận Tây đàng ngoài , mỗi linh mục phải nhận nuôi nấng một số trẻ thông minh có khả năng nhất chong trong các gia đình công giáo.Các em ấy bắt đầu từ mười hai hay mười tuổi giúp việc cha sứ ,đòng thời phải học chữ Nho và một ít chữ La tinh khoảng mười sáu hay mười tám tuổi họ được chọn tùy thao khả năng và hạnh kiểm , để được vào chủng viện hay vào trương dạy kẻ giảng, hoặc ở lại giúp việc các cha sở.Chế đọ này tạo cho các thừa sai một sự sự hỗ trợ rất hiệu quả , mỗi linh mục cọi họ đạo được sử dụng ít nhất ba thầy kẻ giảng ;một người giúp việc quản lí nhà;một giáo viên dạy và chăm sóc các em nhỏ trong nhà ;và một trợ tá giúp việc cai quản các cộng đòng tín hữu.
    thay đổi nội dung bởi: rongdienro, 12-05-2011 lúc 20:19
    Ao do em di giua pho dong
    Hang cay nhu bong thap len hong Em di lua chay trong bao mat Anh hoa thanh tro em biet khong

  10. The Following 3 Users Say Thank You to rongdienro For This Useful Post:

    conemthudo (21-05-2011),hanvantung (02-06-2011),phithiengia (06-06-2011)

  11. #6
    Tham gia ngày
    19-02-2008
    Bài gởi
    414
    Thanks
    1,034
    Thanked 127 Times in 58 Posts

    Default

    Ngoài ra , các thừa sai còn dậy cho trẻ em giáo lý bằng chữ quốc ngũ, đó là thứ chư phiên âm theo mẫu tự Latinh ,chứ không dùng chữ Nho.Chữ quốc ngữ có hai điều lợi:một là bóc tách tâm trí người ta ra khỏi nền triết học Nho giáo ,hai là lối phiên âm này dễ học hơn chữ Nho.Do đó trong các nhà trường công giáo người ta day chữ Pháp, chữ Latinh và chữ quốc ngữ, đòng thời cũng dạy một ít chữ Nho cần thiết
    Linh mục Wibaux,bề trên địa phận Đàng trong thuộc hội thừa sai Pari, cho chúng ta biết thêm những chi tiết như sau:" Ngoài tiếng Pháp, người ta còn dậy thêm chữ Nho, một ít kiến thức toán pháp và giáo lí .Người ta thêm vào việc học đó một số môn thể dục để giải trí .Khi con trẻ hiểu biết đủ ngôn ngữ , sau đó người ta sẽ dậy thêm những kiến thức về lịch sử và địa lí ,học đo đạc và mấy khái niệm thưởng thức khác nữa .Thật rất lợi ích để đưa vào chương trình học là sự tập đọc, tập viết tiếng Nam bằng mẫu tự Latinh nên coi đó là đối tượng của nền học vấn .Đó là phương thức tốt nhất để xóa bỏ dần chữ Hán và chữ Nôm mà có lẽ việc sử dụng đã trở ngại lớn cho sự tiến bộ về trí tuệ trong sứ sở này.
    Nếu các linh mục hội thừa sai dành nhiều quan tâm cho ngành giáo dục con trẻ trong học đường của họ, chính vì họ nghĩ rằng lợi ích của việc truyền bá Phúc âm cũng đồng nhất với lợi ích của công cuộc thực dân.Đối với họ, trường học tạo thành phương tiện tốt nhất cho sự rao truyền đức tin công giáo mà cũng là để làm vững mạnh thêm nền móng thực dân.Chúng ta lại trích thêm ý kiến của Wibaux như sau " Ngoài ra không có phương tiện nào khác nhanh chóng và hữu hiệu hơn để tiếp xúc vào các giới bản xứ , công dân của nước Pháp .Tai đây con trẻ sẽ nhận được một nề giáo dục và học vấn về tôn giáo , những môn này không những ích lợi cho chính chúng mà còn cho tất cả nhưng ai sẽ được chịu ảnh hưởng tốt đẹp với cấp bậc và địa vị của chúng sau này.Việc thành lập các học đường như vậy là phương tiện tốt nhất cho công cuộc thực dân và cho việc truyền bá tôn giáo
    Giám mục Puginier cũng đồng ý với linh mục Wibaux và chấp nhận nó như một chiến lược hòng thay đổi hẳn cả một dân tộc :".. Như tôi vẫn thường nói , có hai điều đặc biệt làm công cụ tối hảo để thay đổi cả một dân tộc : đó là đức tin tôn giáo và ngôn ngữ.Nếu chính phủ Pháp hiểu biết lợi ích thực sự của mình , thì hãy ủng hộ việc rao rảng Tin mừng và dạy bảo ngôn ngữ của chúng ta ,tôi xin khẳng định là trước thời gian 20 năm, chẳng cần phải cưỡng bức ai , xứ sở này sẽ được Kito hóa và Pháp hóa .
    Vai trò chính trị của các thừa sai còn làm trung gian và môi giới giữa 2 chính phủ Việt và Pháp .Tuy nhiên, nhiệm vụ đó hầu như là độc quyền của giám mục Puginier.Ông đã lợi dụng việc phục vụ cho cả hai chính phủ để đảm bảo và nới rộng quyền lợi cho người công giáo ở trong xứ : như ông thường gởi cho soái phủ Sài gòn những bản kháng nghị của giáo dân bị văn thân và các quan lại địa phương làm khó khăn.Ngày 14-7-1873, ông còn đề nghị cả một dự thảo hiệp ước về tự do tôn giáo .Nhân vụ nổi dậy của văn thân hồi 1874 , ông đã tới Sài gòn vào tháng năm , với tư cách đại diện cho các thừa sai để yêu cầu trừng phạt những kẻ cầm đầu bách hại và bồi thường cho những giáo dân bị thiệt hai.
    Không chỉ luôn giữ quan hệ với các nhà đương cục Pháp ở Sài gòn, giám mục Puginier cũng là người đối thoại được biệt đãi của công sứ Pháp ở Huế và các lãnh sự Hà nội và Hải phòng ,kể từ năm 1875 .Chủ yếu tại Hà nội , ông được cả hai bên mời tới mỗi khi có người Pháp xuất hiện , như nhân vụ Dupuis năm 1872 và 1873, vụ Garnier 1873 Rivie`re năm 1882
    Vào năm 1872 ,Nguyễn tri Phương mời giám mục tới thành Hà nội yêu cầu ông thuyết phục Dupuis đừng cho tàu thuyền lên ngược dòng sông Hồng nữa .Sau đó ,Dupuis cũng tiếp xúc với giam mục Puginier để nhờ ông làm cho các quan hiểu là chính vì quyền lợi của họ mà nên mở của sông Hồng cho việc thương mại và giao lưu, vì đó là điều không thể tránh được, và vì nếu Pháp không thực hiện thì các nước Âu châu khác cũng sẽ làm thay, nhưng các quan chức Việt không nghe lời giám mục chuyển đạt.Tuy nhiên , để tránh nghi ngờ, ông đã từ chối không chịu làm khách tạm trú trên tàu thuyền của Dupuis
    Khi Dupuis dự tính ngược dòng sông Hồng lần thứ hai , hồi tháng 10 băn 1873, tuy nhiên lần này giám mục đã chối từ lời Nguyễn tri Phương yêu cầu ông can thiệp để Dupuis tử bỏ dự định ấy, ông đã trả lời vị thượng quan như sau"Đối với vụ Dupuis , tôi xin mạn phép lưu ý ngài là việc ngài yêu cầu thuộc phạm vi thương mại, chứ không phải phạm vi tôn giáo.Ông Dupuis tự cho là mình có quyền .Tông giáo không hề liên quan đến vụ này .Như vậy lần này giám mục Puginier đã giữ một lập trường có lợi cho Dupuis ,tất nhiên bằn cách rất thận trọng.Phải chẳng là để giúp đỡ và bảo vệ người đồng hương?Sự thất , một tư liệu chưa được công bố, tức bản tường trình ngày 5-1-1876 của Kergaradec, lãnh sự Pháp tại Hà nội , cho chúng ta biết những lí do thầm kín của tấm lòng tốt đó : giám mục Puginier là chủ nợ của Dupuis
    " thưa đô đốc, tôi xin kèm vào thư này những giấy tờ của giám mục Puginier gởi tôi khi ông ta được tin về việc phá sản của Dupuis đã được công bố tại Sài gòn .Theo nội dung những giấy tờ đó thì Dupuis còn nợ của giám mục tám ngàn quan , trong số đó có sáu ngàn quan phải được ưu tiên hoàn trả khi bán tàu , vì là tiền được nói rõ để nuôi thủy thủ đoàn"
    Vụ việc Garnier đặt cho các thừa sai những vấn đề khác còn phức tạp hơn nữa : vụ việc này không chỉ ở phạm vi thương mại mà còn thuộc phạm vi chính trị
    Phó đô đốc Dupre, thống đốc ở Sài gòn , yêu cầu các thừa sai ủng hộ Francis Garnier .Các thừa sai do dự:họ đồn rằng với 200 lính Garnier sẽ không thể làm gì vững chắc và đặt cho xứ này những nền móng của công cuộc bảo hộ của Pháp .Tuy nhiên cuối tháng 10 năm 1873,Garnier tới Bắc kì liền mời giám mục Puginier đến Hà nội để hội đàm -đồng thời phía các quan cũng mời giám mục tới giúp đỡ .Giám mục ra ngay Hà nội và tỏ bày sự dè dặt với Garnier như sau: ".. thưa ông chỉ huy, tôi luôn sung sướng được phục vụ ông với tất cả những gì trong quyền hạn của tôi, tất cả những gì không trái với lương tâm tôi; nhưng nếu tôi là người Pháp thì tôi cũng phải luôn nhớ mình là giám mục ở Bắc kì .Vậy xin ông đưng yêu cầu tôi làm những gì có thể tổn hại đến chính phủ An nam, tôi sẽ không làm gì vì tôi mắc nợ đối với tổ quốc đã chấp nhận tôi cũng như đối với tổ quốc đã sinh ra tôi"
    Ngày 20 tháng 11 , Garnier đánh chiếm thành Hà nội .Sau khi chiếm được Hà nôi, viên chỉ huy liền lo việc tổ chức lại nền hành chính và tìm người có khả năng trong số những kẻ có học và thân Pháp .Tất nhiên, viên chỉ huy xin giám mục Puginier chọn giùm trong số giáo dân ,nhưng giám mục đã đứng ở ngoài việc cắt cử nhân sự đó, chỉ sau khi Garnier yêu cầu ,nài nỉ ông mới cho tin tức về hai hay ba người thôi, Garnier cũng đã thành công trong việc lập một đội quân trợ tá đông tới 14.000 lính bản xứ .
    Trong một tháng ,Garnier và binh đội chiếm luôn năm tỉnh Hà nội,Hưng yên,Hải dương,Ninh bình và Nam định.Thế nhưng vào chủ nhật 21-12, sau khi dự lễ do giám mục cử hành , Garnier đã bị quân Cờ đen hạ sát.Tình thế đảo lộn tức khắc .Mất hết tinh thần và tuyệt vọng,sĩ quan và binh lính Pháp chỉ còn chờ để rút lui
    Trong khi đó, luôn nhờ có sự trung gian của giám mục Puginier , việc điều đình vẫn được tiến hành giữa khâm phái từ triều đình Huế tới và thiếu tá hải quân Esmez,đặc trách chính trị sự vụ.Philastre, trưởng thanh tra băn xứ sự vụ ở Nam kì thuộc Pháp được Duper gởi tới thu xếp mọi việc .Viên này tới Hà nội chiều ngày 2-1-1874 với mục đích rõ ràng: nối lại giao hảo với triều đình Huế và xóa bỏ hậu quả của hành động Garnier
    Giám mục nói thẳng cho Philastre biết là một cuộc rút lui túc tốc và vô điều kiện sẽ dẫn tới một thảm trạng kinh khủng , giáo dân được coi là thân Pháp sẽ là nạn nhân đầu tiên cùng tất cả những ai lương hay giáo, đã nhận phục vụ Pháp, và tin vào lời hứa của Garnier
    Philaster không nghe.Người ta lần lượt kí hai hiệp định rút quân:kí ngày 7 tháng giêng để rút khỏi Ninh bình và Nam định, kí ngày 6-2 để rút hoàn toàn khỏi Hà nội.Ngay sau khi người Pháp ra đi , các cuộc sát hại bắt đầu diễn ra trong khắp châu thổ Bắc kì.Tình thế kéo suốt mấy tháng cho đến khi triều đình Huế phải cử quân dội chính quy tới dẹp tan.Người ta gọi cuộc tàn sát năm 1874 này bằn cụm từ " loạn văn thân" ,vì những vai chính trong vụ việc này là những nhà Nho, đã mạnh mẽ phản ứng lại những kẻ đã thay thế họ, và những người được tùy tiện đặt ra để thay thế các quan
    Trong trường hợp như vậy sự trung gian của giám mục Puginier đúng là vô ích, như các thừa sai đã tiên đoán và lo sợ từ trước .Đương lối chính trị bất nhất của các nhà đương cục Pháp mà Louver đã mệnh danh là "chính sách tủn mủn từng gói nhỏ" ,đã gây ra những thiệt hai trầm trọng cho các giáo phận ở Bắc kì.Về điểm này ,giám mục Puginier đã viết như sau " ..Chính phủ Pháp đã nhập cuộc vào Bắc kì từng chút một vừa đủ gây cho đối phương lo ngại và đẩy họ phải kháng cự, nhưng không chịu kịp thời gởi tới những quân viện cần thiết để hành động cho mạnh mẽ
    Tuy nhiên, lịch sử sẽ lặp lại đúng như thế, chín năm sau .Ngày 2-4-1882, đai tá Rivi`ere cùng 500 quân tới Hà nội.Từ năm 1875, tình hình ở đây đã thay đổi : cảng Hải phòng đã mở , một lãnh sự Pháp được đặt ở nơi đây và cung cấp đều đặn tin tức chính xác ở bắc kì
    Rivi`ere, 54 tuổi , người tế nhị và dè dặt, sẽ giẫm đúng vào vết chân của Garnier trứơc đây .Lo ngại về thái độ hiển nhiên chống đối của các quan lại Việt, đại tá quyết định lấy thành Hà nội và gửi tối hậu thư cho tổng đốc Hà nội.Ngày 25 tháng 4, sau khi nhận được phúc đáp khước từ của tổng đốc ,Rivi`ere và 500 quân xông vào chiếm thành Hà nội.Louver viết; ".. thế là việc dễ dàng nhất đã làm xong ,nhưng nay còn lại là mọi thứ khó khăn, vì ở xứ sở này chiếm được là dễ ràng hơn bảo về chiến thắng rất nhiều "
    Giám mục Puginier vội vàng viết thư cho Rivi`ere ngay sau ngày Hà nội bị chiếm đóng ; ".. xin ông cho phép tôi yêu cầu hai điều; xin ông lưu tâm đến số phận của giáo dân trong các giáo phận nước An nam, nếu người ta đem thực hiện lời đe dọa làm hại họ, và xin ông hãy coi chừng những phản ứng sẽ đưa tới nhưng hậu quả rất tai hại.Đối với tôi, hình như đặc biệt tại Bắc kì , việc tiến lên phía trước dễ dàng hơn việc bảo vệ một vị trí đã chiếm đóng "
    Giám mục cũng chia sẽ ý kiến với Kergaradec , lãnh sự tai Hà nôi, về vấn đề thiết lập thực sự một nền bảo hộ của Pháp trên đất Bắc kì như sau: ".. Theo hoàn cảnh hiện tai,chính tôi cũng sác tín rằng chế độ bảo hộ là trạng thái ít khó khăn nhất , nó tránh được sự đổ máu , đòi hỏi ít kinh phí của chính quốc , gây ra ít đối kháng của chính phủ An nam hơn là cuộc chiếm đóng dứt khoát, và làm hài lòng dân chúng hơn cả.
    Nhưng nếu đặt nền bảo hộ , thì đó phải là một nền bảo hộ nghiêm túc và hữu hiệu, phải có những đảm bảo cụ thể , dựa trên những biện pháp khi cần ,có thể buộc người ta phải tôn trọng và thực thi.."
    Khá không ngoan ,Rivi`ere chưa triển khai rộng chiến tuyến của mình : y còn đợi lệnh của thông đóc Sài gòn và của chính phủ mẫu quốc, chính phủ này đang bận tâm về vụ Ai cập ( tháng 5 năm 1882) và muốn trì hoãn một chút .Do đó đại tá Rivi`ere trả lại thành cho các nhà đương cục Việt nam sau khi ra lệnh tước bỏ mọi thứ vũ khí phòng thủ , ngoại trừ điện Kính Thiên, nới đây vẫn để lại một đội binh tượng , tượng trưng chiếm đóng
    Suốt năm 1882 ấy, Rivi`ere không hề có ý định sử dụng giáo dân bản sứ " không bao giờ tôi khuyên giám mục Puginier nên liên lụy với chúng tôi, trước là ông sẽ gây rắc rối cho chúng tôi , sau là vì quyền lợi của chính ông, bởi vì chính phủ Cộng hòa (Pháp)thế nào rồi cũng bỏ rơi ông.
    Một trong những nỗi băn khoăn nhất mà người An nam có lẽ và có thể gây ra cho chúng tôi , là việc bách hại giáo dân.Chúng tôi sẽ không thể bảo vệ được họ , mà chúng tôi còn mặt mũi nào nếu không bảo vệ được họ.Cho nên tốt nhất là họ liên lụy đến chúng tôi càng ít càng tốt.."
    Hồi tháng 3 năm 1883 , sau khi được tiếp viện thêm quân Rivi`ere liền tấn công Hồng gai, nơi có nhiều mỏ than rồi Nam định, để đảm bảo đường giao thông ra biển.Chính khi ấy , bị bao vây bởi 30.000 địch quân Rivi`ere thấy cần phải khẩn trương có thêm hỗ trợ, nên đã quyết định sử dụng giáo dân làm phụ tá : " Ông đã làm được việc tốt là trao cho giám mục Puginier 50 khẩu súng cùng đạn dược .Giáo hội, có phẩm chất và kỉ cương tốt ,sẽ là người hỗ trợ tốt nhất cho ta, nếu cần , trong chiến tranh An nam.."
    Ngày 2 thang 4 , Rivi`ere biết là tình hình ngày thêm trầm trọng .Ông ta tuyên bố thiết quân luật ngày 17 tháng 4 và xin thêm quân viện với đô đốc Meyer, chỉ huy trưởng đoàn thủy quân ở Trung hoa.
    Ngày 10 tháng 5, Lưu vĩnh Phúc thách chiến với quân đội Pháp, và ngày 19 tháng 5 , sau một trận đánh nhỏ giữa Pháp và quân Cờ đen , Henri Rivi`ere mất mạng .
    Lần này , cái chết của Rivi`ere đã tác đọng mạnh vào dư luận dân chúng bên Pháp và tất cả đảng phái đều đoàn kết trong một tình cảm ái quốc bị tổn thương .Ngày 26 tháng 5,khoản kinh phí dành cho cuộc viễn chinh Bắc kì được toàn thể chấp nhận.Từ nay , chính phủ Pháp cương quyết xâm chiếm Bắc kì.
    Tuy nhiên , tại Bắc kì , trận thắng vừa qua đã nâng vao tinh thần của quân Cờ đen, điều này nghĩa là đối với các giáo dân , thì bách hại lại bộc phát: :".. cái chết của Rivi`ere liền gia tăng sự táo bạo của nhưng kẻ bách hại.Ngay ngày hôm sau , tức 20 thang 5.Lễ ba ngôi thiên chúa ,giáo sĩ Be'chet cùng với bẩy giáo dân bị trảm quyết trong tỉnh Nam định"
    Nhưng đến tháng 8, quân Pháp chiếm kinh đô Huế , thế là cả nước Việt nam phải chịu đặt dưới chế độ bảo hộ Pháp
    Chúng tôi đã xem sét kĩ hoạt động của các thừa sai , bởi vì chúng tôi tin là Hội thùa sai Pari và các giáo sĩ của hội này đã là những kẻ " dẫn đường" cho chính quyền Pháp tại Việt nam " "..Nếu không có thừa sai và giáo dân , giám mục Puginier đã viết , thì người Pháp sẽ chẳng khác nào con cua đã bị bẻ hết càng.Ví von như vậy tuy mộc mạc song không kém phần chính xác và mạnh mẽ .Thực tế nếu không có thừa sai và giao dân, người Pháp sẽ chỉ có địch thủ bao vây,họ sẽ chỉ nhận được những tin tức sai lầm được đưa tới với ác ý ,làm bại hoại tình thế của họ; như vậy họ sẽ bị đẩy vào cái thế không hoạt động được gì rồi nhanh chóng phải hứng chịu những thảm họa thực sự.Họ sẽ không giữ nổi vị trí nơi đây, và sẽ bị buộc phải rời bỏ sứ này, nơi mà quyền lợi cùng cả sự hiên diện của họ sẽ bị nguy hại.
    Các thừa sai vẫn luôn khẳng định là họ tới Việt nam theo thiên ý , được thúc giục bởi Thiên chúa ,Đấng còn muốn dùng họ để truyền bá Phúc âm của ngài (Puginier) ; và họ còn triệt đe cấm giáo dân không được đẩy mình vào hoạt đọng chính trị (Pellerin ) .Thế mà họ đã bất chấp điều đã khẳng định và họ không chỉ hành sử nguyên trong phạm vi tôn giáo
    thay đổi nội dung bởi: rongdienro, 15-05-2011 lúc 14:50
    Ao do em di giua pho dong
    Hang cay nhu bong thap len hong Em di lua chay trong bao mat Anh hoa thanh tro em biet khong

  12. The Following 4 Users Say Thank You to rongdienro For This Useful Post:

    conemthudo (21-05-2011),hanvantung (02-06-2011),kieuphong (12-05-2011),phithiengia (06-06-2011)

  13. #7
    Tham gia ngày
    19-02-2008
    Bài gởi
    414
    Thanks
    1,034
    Thanked 127 Times in 58 Posts

    Default

    Đặc biệt từ sau những năm 1884, các thừa sai đã chia sẻ ít nhiều với thái độ " hai tình cảm rất tha thiết của các nước theo Kito giáo : đó là tôn giáo và tổ quốc"
    Khi Louver : viết " tại các dân tộc bán khai , nơi mà những khái niệm về tôn giáo và tổ quốc lẫn với nhau , thì người công giáo và người Pháp là hai từ đồng nghĩa, nói thế dù có phật ý những ai muốn phân biệt rõ ràng ", người ta sẽ tự hỏi vậy trên thực tế , trong hành động , ai là người đã lẫn lộn tôn giáo với chính trị? Trong trường hợp Việt nam , chính là cá thừa sai vậy.
    -2. CÁC THƯƠNG NHÂN
    Khoảng thế kỉ 17 , tại Viễn đông chưa có thương nhân người Pháp , với danh sưng thương nhân , chúng ta hiểu là những người chỉ hoạt đong trong phạm vi tài chính và buôn bán .Suốt thế kỉ 18 , Hãng buôn Ấn độ của Pháp đã nhiều lần gởi tàu buôn sang Trung quốc và Đông dương.Joseph-Francois Dupuleix (1697-1763), tổng quản trị Hãng buôn Ấn độ , phái một nhân viên đại lí tên là Dumont vào năm 1748, Pierre Poivre vào năm 1749, và một đại diện chuyên chở tên là Rabec vào năm 1753, tới Đàng trong .Nhưng đây chưa phải là vấn đề thiết lập quan hệ thường xuyên vì hãng còn thiếu thương thuyền và tài chính .Ngoài ra, vì đại diện cho quyền lực , nên vệnh mệnh của hãng phải gắn bó vơiis tình hình biến chuyển tại Ấn độ , nơi đụng đầu giữa Pháp và Anh
    Sự thất bại của Passey , vào năm 1757 , đã giáng một đòn mạnh và những hoạt động của hãng, trong khi nước Pháp buộc phải chuyển đi nơi khác cũng tại Á châu ,tìm những địa điểm thuận tiện để xây dựng cơ sở làm nền móng cho căn cứ quân sự và thương nghiệp , ngõ hầu cân bằng với lợi điểm mà người Anh vừa chiếm được tại Ấn độ
    Đàng trong, được coi như có thể trở thành một căn cứ ,cả từ cuối thế kỉ 18 và trong nửa đầu thế kỉ 19,cá sĩ quan hải quân và thương nhân đã đề nghị nhiều dự án ,hoặc để xây dựng mottj thương điếm của Pháp tại Đàng trong , hoặc để phát triển hoạt động thương nghiệp tại Viễn đông.Không một dự án nào thành công,song một số thương nhân , như Rothe', Auguste Borel và Charles Ge'rand đã vào Việt nam để làm ăn .Đặc biệt là các chủ tàu chuyên chở ở Bordeaux đã chứng tỏ một tinh thần kinh doanh năng động : không cần sự yểm trợ trực tiếp của chính phủ, họ đã phái nhiều thương thuyền sang Đàng trong với tất cả phí tổn và rủi ro thuộc về họ .Không thành công lắm , vì gặp nhiều gió bão và sự cạnh tranh mạnh mẽ của người Hoa tại chỗ.
    Sự bế tắc này ở chính phủ thật dễ hiểu người ta nghĩ ở Đàng trong chỉ có đường để xuất khẩu , trong khi đường ở Antilles( Trung Mĩ) đã được độc quyền bán sang Pháp; như vậy chính phủ Pháp thấy không phải tìm mua ở đâu khác nữa
    Tai sao hoạt động thương mại của người Pháp tại Viễn đông lại yếu ớt đến thế ? Chúng tôi thấy có hai lí do chính.
    Lý do thứ nhất phải tìm ngay tại Việt nam .
    Từ đầu thế kỉ 18, vua chúa Việt nam luôn tỏ ra nghi ngờ người Âu tây và cũng ít cần đến võ khí Tây phương hơn thế kỉ trước , do đó mức yêu cầu của phía Việt nam cũng giảm đi nhiều.
    Ngoài ra , số mặt hàng xuất khẩu cũng hạn chế: ngoài đương cát, không được phép nhập vào Pháp , ngoài vàng, bạc ,đồng mà chính chính phủ Việt nam cấm suất khẩu , thì người ta không thấy có gì là nguồn lợi " vô tận " , như " gia vị tinh chế " mà người Hà lan đã làm giào vì mua được ở Java và các đảo Sonde 9 thuộc Nam dương) .Như vậy chỉ còn hồ tiêu , bông thô, quế ...
    Sau hết , việc thương mại tại Việt nam đều do nhà nước quy định .Không được tiếp xúc trực tiếp với người sản xuất .Việc thương lương luôn phải qua trung gian, hoặc các quan lại, hoặc các thương lái được chính quyền chấp nhận tai cửa khẩu . Nhưng người này hầu hết là người Hoa.Các thương nhân Âu tây không nắm trong tay phương tiện gì để tự vệ nhằm tránh khỏi phiền hà rắc rối từ nhưng viên quan và đòi hỏi của thương lái tham lam vô độ
    thay đổi nội dung bởi: rongdienro, 13-05-2011 lúc 19:46
    Ao do em di giua pho dong
    Hang cay nhu bong thap len hong Em di lua chay trong bao mat Anh hoa thanh tro em biet khong

  14. The Following 4 Users Say Thank You to rongdienro For This Useful Post:

    conemthudo (21-05-2011),hanvantung (02-06-2011),kieuphong (13-05-2011),phithiengia (06-06-2011)

  15. #8
    Tham gia ngày
    19-02-2008
    Bài gởi
    414
    Thanks
    1,034
    Thanked 127 Times in 58 Posts

    Default

    Còn lí do thứ hai bắt rễ ngay từ trong chính sách xã hội Pháp .Đúng như Stendhal đã chứng minh trong tiểu thuyết (Đỏ và Đen), tước cuộc cách mạng công nghiệp , nghĩa là trước nửa sau thế kỉ 19owr Pháp ," nhân tài" của Pháp bị thu hút hết vào các sự vụ nhà nứơc hoặc các sứ mệnh phục vụ giáo hội: đó là hai lĩnh vực được lựa chọn dành cho các thanh niên có hoài bão lớn .Có lẽ đó là lý do làm cho người Pháp không có sức cạnh tranh như nhưng thương nhân người Anh trong lĩnh vực thương mại.Hơn nữa , nhờ có diện tích rộng và đất đai phi nhiêu , nước Pháp có thể tự mãn được rồi .Vì thế không có một nhu cầu nào khẩn thiết thúc đẩy người Pháp , nếu không phải nhưng kẻ mạo hiểm sang Viễn đông làm ăn buôn bán .
    Cũng lên lưu ý rằng trước mắt người việt nam khi ấy , hầu như người Pháp lui tới nước họ không vì những lí do kinh tế .Vì thê , khi bá tước Klecskowski, bí thư tòa lãnh sự Pháp tai Trung hoa , tới Việt nam hồi 1857 làm đặc mệnh nhân vụ giám mục Diaz thì hai vị quan địa phương đã trả lời như sau:'.. Nước Pháp được biết đến là một nước nghĩa hiệp nhất thế giới . Người Anh phải chịu đói khát trong đảo quốc của họ , nên phải đi buôn bán khắp nơi .Nhưng đối với người Pháp thì sao ? Thương nghiệp đối với họ chỉ là việc giả vờ : họ đã quá giầu có ,buôn bán làm gì ; họ cũng quá tồi tệ rồi , khỏi phải truyền bá những lí thuyết sai lầm của họ và đầu đọc dân chúng tôi bằng những lỗi phạm tai hại của họ"
    Bằng những hành động và bằng vai trò đã đóng một tay như Jean Dupuis (1829-1912) cống hiến một mẫu mực khá đúng thế nào là một thương lái Pháp ở Viễn đông
    Dupuis tới Tung quốc vào năm 1859 với ý định làm giàu .Hắn học tiếng Hoa và lưu trú tại Hán khẩu bên bờ Thanh giang , nơi đây hắn thiết lập một kho chứa súng đạn kiểu Âu châu ,vì từ năm 1856 dân Hồi giáo nổi dậy quậy phá trong tỉnh Vân nam , nên các quan đầu tỉnh cần nhiều vũ khí để dẹp loạn và họ sẵn sàng trả giá đắt do chuyên trở khó khăn - Vân nam nằm trên núi , Nam và Đông giáp các nước Việt nam ,Ai lao và Miến điện
    Muốn ngược dòng sông Thanh giang , đi từ biển tới Vân nam , khi ấy , phải mất bảy mươi ngày, và để tìm một lối đỡ tốn thời gian hơn , Dupuis có ý định ra soát xem có thê chuyên trở qua sông Hồng hà , con sông nối từ Vân nam tới vịnh Bắc bộ . Năm 1868 , lần đầu tiên y thử xuôi sông Hồng từ Vân nam xuống , nhưng bọn thổ phỉ Trung hoa đã chặn lại giữa đường. Hai năm sau y thử lại lần thứ hai , chỉ một mình với tên đày tớ người Hoa, lần này thành công.Từ đó Dupuis tin rằng tàu thuyền nhẹ có thể di từ Hà nội tói Vân nam.Vì thế , y điều đình với chính quyền địa phương Vân nam, kể từ đầu năm 1871 , để được cung cấp vũ khí cho quân đọi chính quy của Vân nam
    Y trở về Pháp tháng giêng năm 1872 để mua khí cụ chiến tranh và xin chính phủ Pháp chấp nhận dự án được mở đường sông Hồng cho việc thương mại ,chính phủ đã tiếp y với sự dè dặt .Tuy nhiên, đô đốc Pothuau,bộ trưởng Hai quân , cũng cho ý một thư giới thiệu với đô đóc Dupre' , thống đốc Sài gòn
    Tại Sài gòn , theo đúng quy chỉ thị của bộ trưởng Hải quân ,Dupre' hứa với Dupuis sẽ gửi một chiến thuyền tới vịnh Bắc bộ giúp y dễ dàng đi vào sông Hồng, nhưng đồng thời cũng khuyên y phải trương cờ Hiệu Trung hoa trên tàu thuyền , đúng như khuyến cáo của bộ trưởng Hải quân khôn ngoan góp ý: ".. có thể có phiền hà nếu cờ hiệu của chúng ta che trở một hoạt đọng thuộc loại này".Nến biết rằng triều đình Huế vẫn cấm người Âu châu không được sử dụng đường sông Hồng hà.
    Dupuis mua được từ Hương cảng hai pháo hạm , một tàu chạy hơi nước và một thuyền buồm , trên tàu thuyền này y đã bốc xuống các loại vũ khí mua được ở Pháp -gồm có sáu hay bảy nghìn súng tay ,ba mươi đại pháo tác chiến và đạn dược .Ngày 9-11-1872 , y tới cửa sông Hồng cùng đoàn tàu,với 23 người Âu và 150 người Á .Quan đầu tỉnh Hải dương là Lê Tuấn từ chối không cho phép Dupuis ngược dòng sông và bảo phải đợi hồi âm của vua Tự Đức .Dupuis nấn ná chờ mười năm ngày rồi vội vã tiến thẳng lên Hà nội,nơi đay y nhờ sự trung gian của giám mục Puginier điều đình với Nguyễn tri Phương xin phép tiếp tục cuộc hành trình .Ngày 16-1-1863 mặc dù Nguyên tri Phương từ chối , y vẫn rời Hà nội đi Vân nam và đến nơi không gặp khó khăn gì (ngày 16 tháng 3) tại Vân nam , y đổi vũ khí lấy quặng mỏ ,đặc biệt là thiếc và các loại thổ sản khác .Ngày 29 tháng 3 , y trở lại Hà nội với tám chiếc thuyền đầy hàng hóa và 150 tên lính Hoa mà quan tỉnh Vân nam cho y sử dụng để bảo vệ an toàn cho chuyến đi.Ngày 30 -4-1873,Dupuis về tới Hà nội
    Đã chắc chắn về sự thông thuyền trên sông Hồng , Dupuis liền chuẩn bị ngay tại Hà nội chuyến đi thứ hai, lần này chở muối biển không có giấy phép lên các tỉnh miền núi bên Trung quốc là điều tuyệt đối cấm của triều đình Huế ; vì muối biển vùa được coi là sản phẩm chiến lược , vừa là hàng xuất khẩu chính của Bắc kì .Sự chống đối của các quan ở Hà nội đối với các hoạt động của Dupuis đã gia tăng , họ còn tỏ ra nghiêm khắc hơn là đối với chuyến đi trước của y.Trên thực tế, họ đã cương quyết ngăn chặn cuộc hành tình thứ hai này.Về phía Pháp ,Dupuis nhận đựơc sự yểm trợ khá kín đáo.Giám mục Puginier đã cho y vay trước 8000 quan .Phần đô đốc Dupre',vào tháng 7 năm 1873 ông cũng ứng trước cho y 30000 đồng bạc qua đại lí Sài gòn của Hiệp hội ngân hàng Hương cảng và Thượng hải. Tuy nhiên , thái độ rất chính trị và tùy thời của Dupre' trong mấy tháng sau này ,nhân vụ mệnh danh là " vụ Dupuis"đã tiết lộ cho chúng ta thấy lập trường của kẻ thừa hành chính sách ở địa phương của chính phủ Pháp đối với thương nhân, dù chính hắn cũng là người Pháp .
    Từ tháng 5 đến tháng 10 năm 1873 , tình hình giữa Dupuis và các nhà đương cục Hà nội vẫn chưa bớt căng thẳng .Triều đình Huế yêu cầu thống đốc Sài gòn hãy đuổi Dupuis ra khỏi Bắc kì .Dupre' liền nắm lấy cơ hội, sai Francis Garnier ra Hà nội để giải quyết " vụ Dupuis",đồng thời làm cho triều đình Tự Đức phải chấp nhận việc mở sông Hồng cho thương mại.
    Mặc dầu Dupuis là người đầu tiên ngược dòng sông Hồng và chứng minh con đường này có thể thông tàu thuyền được được , điều ấy không quan trọng gì trong mắt Dupre', ông vẫn coi Dupuis là một tay mạo hiểm : chỉ riêng sự kiện thành công của đoàn dò đường Dupuis là đáng kể, và phải được khẳng định,dù có làm thiệt thòi cho Dupuis nếu cần.Do đó, Dupre' đã chỉ thị cho Garnier những chỉ thị sau".. Ông sẽ đi Kẻ chợ tức Hà nội, theo yêu cầu của chính phủ An nam, chính phủ này xin tôi giúp đỡ để tống khu Dupuis ra khỏi thành phố này (...).Ông hãy có ép cho Dupuis ra đi nhanh chóng, vì sự có mặt hắn tại Hà nội là trái với hiệp ước , ngoại trừ việc đòi thi hành những yếu sách của hắn , nếu ông xét thấy những yêu sách ấy hợp với lẽ công bằng .
    " Sứ mạng của ông ông phải ngừng tại đó .Sự bất lực của chính phủ An nam đã biểu lộ như thế, đồng thời với việc , giao thông dễ dàng với Vân nam cũng đã rõ , thì chắc chắn những lộn xộn sẽ xảy ra do Dupuis hay do bất cứ một tay mạo hiểm nào khác .Vậy ông cứ nán lại Hà nội sau khi Dupuis đi khỏi và nên áp dụng nhằm ngăn chặn những việc mạo hiểm như vậy có thể tái diễn .
    " ích lợi lớn nhất là mở của sông tạm thời , càng nhanh càng tốt , cho tàu thuyền An nam, Pháp và Trung hoa , từ biển tới biên thùy Vân nam, với một múc thuế thương chính nhẹ ,thu tại Hà nội khi đi lên , tại một đồn biên giói khi đi xuống .Biện pháp này không nên để trì hoãn nữa "
    Garnier công phá thành Hà nội ngày 20 tháng 11, Dupuis đem quân của mình tháp tùng quân Garnie , thế là cuộc chiến không tuyên bó đã nổ ra tại Bắc kì .Khi ấy đô đốc Dupre' thấy Garnier đã tiến quá đà , liền ra lệnh cho hắn phải tuân theo chỉ thị đồng thời cũng che chở hắn:".. nếu ông tiến quá xa, đô đốc viết ngày 4-12-1873 , thì nên nói cho đối phương biết là ông rút quân theo mệnh lệnh của tôi và đây chỉ là sự chậm trễ mà ai cũng lên chịu đựng vì lợi ích của hòa bình.Tôi cũng thấy là cần phải loại Dupuis ra ngoài ,vì sự hiện diện của y chỉ thêm khiêu khích và thu oán với triều đình Huế ."
    Garnier đã chết vì những " dại dột" và cả những" lầm lỗi", thao ý kiến của Dupre'; Dupuis khánh kiệt ị các nhà đương cục Pháp bỏ rơi , nhưng một hiệp ước mới quy định định việc mỏe của sông Hồng cho thương mại ( điều khoản 11)đã được kí kết năm 1874 , thống đốc Sài gòn lấy làm hãnh diện về hiệp ước này với bộ trưởng Hải quân khi viết : " Cuộc mạo hiểm của Dupuis , mà tôi luôn cho là không đúng lúc quá sớm trong tình huống nước Pháp hiện tại , đã gây một tiếng vang trên khắp bốn biển . Nó gây sự chú ý của mọi người vào đất Bắc kì , và vấn đề mở của sứ này phải được đặt ra ngay từ đó , thậm chí không thể kéo dài việc giải quyết.Tất cả cố gắng của tôi là giải quyết vấn đề trong hòa bình , và qua sự can thiệp cảu riêng chúng ta , ngõ hầu giữ được ảnh hưởng Độc quyền trên Đại quốc An nam .
    ".. việc các sứ giả An nam mới đến Sài gòn gần đay , những than phiền của triều đình An nam đối với Dupuis và cả yêu cầu của tiều đình này xin tôi can thiệp, tất cả tạo cho tôi hy vọng đạt được cả hai mục đích trên (...) .
    "..nhưng dù đã mặc nhưng dại dột gì hay về sau đã sai phạm nhưng gì ,ông Garnier đã đền tội một cách thảm thương bằng cái chết bi ai của mình (..0
    " tôi tin rằng ông Garnier và các bạn chiến đấu can trường của ông đã đảm bảo thành công cho đường lối chính trị mà tôi deo đuổi"
    Vậy đó , cuộc mạo hiểm mà Dupuis đã ghi rõ nét nhưng mối dây liên lạc lạ lùng của sáng kiến thương mại Pháp phải lệ thuộc vào yêu sách chính trị : thương nhân Pháp không thể quan niệm hoạt động mà thiếu sự yểm tợ của chính quyền, trước hết là để giảm bớt sự rủi ro, còn chính quyền thì lợi dụng thương nhân để chiếm lấy lợi thế nào đó, hoặc bỏ rơi thương nhân một khi đạt được mục tiêu .
    Một cách tổng quát , chính phủ Pháp luôn tỏ ra ít có xu hướng khuyến khích các hãng chuyên lo xuất nhập khẩu giữa Pháp với Viễn đông ,được thiết lập trong các thành phố Á châu .Thí dụ như trong nhưng năm 1979 , người ta thấy tại Hương cảng các hãng Anh như -Jardine, Matheson và Công ty,Dent và Công ty, các hãng Mỹ nhu Ruselvaf Công ty, nhiều hãng Đức như Landstein, nhưng không có một hãng Pháp nào có tầm cỡ như các nhà buôn ngoại quốc đó.
    Ngay cả khi mở ra ba cửa khẩu tại Việt nam- Hà nội năm 1875, Hải phòng năm 1875, Quy nhoen năm 1876 -tàu buôn mang cờ Pháp cũng hầu như không bao giờ tới đậu .Lãnh sự Pháp tại Hải phòng , cảng quan trọng nhất Việt nam, đã than phiền về tình trạng ấy trong báo cáo viết ngày 28-9-1877 như sau: '.. Ngày nay không còn nghi ngờ gì Bắc kì là một sứ giàu có , hoàn toàn có thể nuôi dưỡng một nền thương nghiệp quan trọng , dù không có sự quá cảnh đi Vân nam.Điều tai hại là nên thương mại này hoàn toàn tuyệt đối nằm trong tay người Hoa , họ chỉ chừ cho người Âu nghề vận tải trên biển mà thôi; và việc chuyên trở đó lại là đọc quyền của các tàu ngoại quốc , mà đa số là tàu Anh hay tàu Đức . Từ đầu năm 1877 tới nay , mới chỉ có một chiếc tàu Pháp xuất hiện trong bến cảng.Năm 1876 , chúng tôi chỉ nhìn thấy hai tàu , mà con tàu thứ hai lại là tàu chuyên trở hàng hóa cho chính quyền Nam kì .Dù việc giao hoán phát triển thế nào đi nữa , có lẽ tình trạng này vẫn không thay đổi ;thương nghiệp vẫn nằm trong tay người Hoa , tàu ngoại quốc vẫn tiếp tục dịch vụ chuyên trở .Nếu sứ sở này được nghiên cứu kĩ, nếu triều đình Huế chấp nhận cho trưng nhượng đất đai, thì chỉ độc nhất nền kĩ nghệ hầm mỏ là có thể tạo việc làm cho hoạt động của Pháp và sẽ đem lại lợi ích đáng kể .Vì nhiều lí do , mong rằng trong nguyên tắc trưng nhượng đất đai đó sẽ có chỗ dành cho người quốc tịch chúng ta"
    Sau chuyến ngược dòng sông Hồng của Dupuis và hiệp ước Sài gon năm 1874 ,các thương gia Pháp mới lưu tâm tới Việt nam hơn, cũng nhân có tình hình mới trong nền kinh tế bên chính quốc . Đó là từ khi có bệnh tằm gai , một thứ bệnh làm hại con kén , giáng một đòn chí tử cho nghề tằm tơ của Pháp vào năm 1850, các hợp tác xã tơ tằm tỉnh Lyon rất cần đến tơ sợi của Viên đông , dù là tơ Trung quốc , Nhật bản hay Việt nam.
    Tuy nhiên , thương gia Pháp chưa bao giờ có một vị trí mạnh tại Viễn đông nói chung, ngay tại Việt nam cũng thế ,dù là nơi họ có nhiều thuận lợi nhất :sự hiện diện của các thừa sai , các lãnh sự Pháp ,. Họ không bao giờ biết cách và có thể cạnh tranh với người Hoa , dù tai Việt nam hay bên Trung hoa,người Hoa đều nắm độc quyền thương nghiệp , và cũng không cạnh tranh nổi với người Anh kể cả người Đức vì những người này đã nắm vững hết các của hở của thương nghiệp đường dài .
    Sự can thiệp vào nhưng năm đầu của công cuộc thuộc địa hầu như được thúc đẩy bởi những lí do chính trị hơn là những lí do kinh tế dù lí do nầy được nhấn mạnh trong các bài diễn văn.Vấn đề đó cần được nghiên cứu tỉ mỉ , sâu sắc và lâu dài ; những biến động của tư bản và việc kiểm soát tư bản , đặc biệt qua ngõ ngách của ngân hàng Đông dương , giữa chính quốc và các nhà cầm quyền ở Việt nam, giữa chính quốc và các xí nghiệp của Pháp, sẽ tạo thành những nguồn lợi phong phú, những mánh khóe giành giật và nhưng phương tiện làm áp lực để sẽ thay đổi lại mọt cách khá đặc thù những viễn tượng sau này
    thay đổi nội dung bởi: rongdienro, 14-05-2011 lúc 13:10
    Ao do em di giua pho dong
    Hang cay nhu bong thap len hong Em di lua chay trong bao mat Anh hoa thanh tro em biet khong

  16. The Following 4 Users Say Thank You to rongdienro For This Useful Post:

    conemthudo (21-05-2011),hanvantung (02-06-2011),kieuphong (13-05-2011),phithiengia (06-06-2011)

  17. #9
    Tham gia ngày
    19-02-2008
    Bài gởi
    414
    Thanks
    1,034
    Thanked 127 Times in 58 Posts

    Default

    -3. CÁC SĨ QUAN HẢI QUÂN
    Cũng như các thừa sai các sĩ quan hải quân đã đóng cai trò chủ yếu là xui dục và thừa hành trong giai đoạn can thiệp và thực dân của Pháp tại Việt nam.
    Họ ước mong chiếm được trong các biển gần Trung hoa , nơi mà Hải quân Pháp không có một chỗ nào kể từ thế kỉ 17, mặc dầu tàu thuyền họ thường xuyên qua lại vùng này , một khu vực có vị trí tương đương với vị trí Hải quân Anh và họ liền coi Việt nam là nơi thuận tiện để đặt căn cứ hành quân sang Trung hoa.
    Do đó, đối với mối quan tâm chính yếu của họ là hướng sang Trung hoa,và đứng trước thế thượng phong của Hải quân Anh , thì tham vọng của các sĩ quan đối với Việt nam vẫn còn khiêm tốn:có lẽ họ có thể bằng lòng chiếm một hòn đảo như Côn lôn hoặc một đảo nhỏ vô danh nào đó gần Đà nẵng. ý muốn cạnh tranh với người Anh , nhưng cũng là mặc cảm tự ti của Hải quân Pháp , vẫn tiếp tục ngay cả khi thành lập song thuộc địa ở Nam kì : hội đồng Phòng thủ thuộc địa đã xem xét mọi khía cạnh -kĩ thuật hằng hải , cách thức tiến công những biện pháp đẩy lùi xâm lăng .. để đề phòng trường hợp bị quân Anh đột kích .
    Sau khi ( Ấn Độ) thất trận ở Plassey vào năm 1757 , hiệp định Pari kí kết năm 1763 đã phân chia vùng ảnh hưởng giữa Anh và Pháp trên tiểu lục địa Ấn độ .Sau đó,vùng này hoàn toàn rơi vào ách thống trị của Anh , ngoại trừ một số thương điếm như Pondiche'ry,Chandernagor còn thuộc quyền Pháp
    Sau đó , cuộc đối đầu giữa hai nước chuyển sang miền Viễn đông .Vào năm 1777 , chỉ huy trưởng Chanderngor tên là Chevalier đã phái một chiếc tàu sang Đàng trong để thu thập tin tức .Khi chiếc tàu trở về ,Chevalier đã đề nghị với thống đốc Pondiche'ry , vào tháng 2 năm 1778 , nên gửi sang Đàng trong một đội quân gồm 150 người Âu và 200 lính người Ấn độ( đang phục vu trong quân đội Âu tây)để ủng hộ nhà vua chính thống chống lại Tây sơn. Ông ta viết thêm;".. Trong cơ hội hiện nay , chúng ta dễ dàng làm chủ Đàng trong và xây dựng tại đây một lực lượng hùng hậu .Nếu chúng ta bỏ rơi cơ hội , thì người Anh sẽ lợi dụng được sự yếu kém hoạt động và làm tê liệt chúng ta"
    Những đề nghị chuar Chavalier không gây được tiếng vang , vì nước Pháp đang ở vào cái thế sắp lâm chiến với Anh về vấn đề thuộc địa ở bên Mỹ ,và cũng ngay tại Ấn độ ; do áp lực rất nặng nề của Anh lên các thương điếm Pháp.
    Mấy năm su , chúng ta thấy bá tước Conway , chỉ huy trưởng Pondiche'ry , làm ngơ thế nào trước những yêu cầu của giám mục Adran , và cho là không nên đi vào cuộc mạo hiểm ở Việt nam
    Sau chiến trận dưới thòi Napole'on , bộ Hải quân lại lưu ý tới Việt nam.Công tước Richelieu ,giám đốc các thuộc địa rồi bộ trưởng Hải quân dưới thời Trung hưng ,đã cố tiếp xúc với triều đình Huế .Ông phái sang Việt nam chiến thuyền Cyb`ele do đại tá hải quân Kergariou chỉ huy .Tàu Cyb`ele rời cảng Brest vào tháng 5 năm 1817 và tới Đà nẵng vào tháng 12 cùng năm .Kergariou đã tiếp xúc với các ''quan"gốc Pháp còn đang phục vụ dưới tiều Gia Long , đó là Philippe Vannier (1762-1842, từng ở Việt nam từ 1789 đến 1824)và Jean-Baptiste Chaigneau( 1769-1832, ở Việt nam từ 1794 đến 1824 ), tuy nhiên Kergariou không được tiếp kiến Gia Long vì lí do nhà vua đang bệnh .Ông rời Việt nam vào tháng giêng năm 1818 mà chẳng thu lượm được gì đang kể .
    Dù tàu Cyb`ele không thành công , chính phủ Trung hưng tại Pháp lại phái một chiến hạm thứ hai sang Việt nam vào năm 1821 và chiến hạm thứ ba vào năm 1824 .Minh Mạng tuyệt đối từ chối không cho họ tới Huế và thế là 2 phái bộ và thế là hai phái bộ sau cũng thất bại
    Trong nhưng năm 1830, nhiều chiến thuyền Pháp đã cập bến Đà nẵng : quân hạm Favorite với 24 khẩu đại bác vào tới bến Đà nẵng vào tháng 12 năm 1830, nửa đường vòng quanh thế giới , chiến hạm Bonite tới năm 1836 và pháo ham Arte'mise cũng tới vào tháng 8 năm 1838 trên đường vòng quanh thế giới .
    Cứ thế cho tới năm 1840 , một vài tàu chiến Pháp đã cập bến Việt nam , song không lượm được tin tác nào khác ngoài những gì về địa lí bờ biển Việt nam .Đúng là khi ấy người Pháp chưa có ý định nhảy vào cuộc chiến đánh với triều đình Huế .
    Chính cuộc chiến tranh Nha phiến ( 1839-1842) đã làm cho chính phủ Pháp thay đổi thái độ . Theo kết quả của hiệp ước Nam kinh(1842) nước Anh chiếm đóng Hương cảng ,một căn cứ hoạt động cho thương nghiệp cà hải thuyền của họ trong vùng biển Trung hoa.Francois Guizot(1787_ 1874) , bộ trương ngoại giao ,cho rằng đến lượt Pháp cũng phải xuất hiện tại Viễn đông ,nên đã phái một hạm đội đi lại thường xuyên trong vùng biển này .Nhưng nước Pháp chưa có một điểm tựa nào cho chiến hạm và thương nghiệp của mình ,vì thế sĩ quan hải quân bắt đầu tìm kiếm một vị trí thuận lợi .Năm 1843,Guizot cử The'odore de Lagrene'91800-1862) làm đặc mệnh tới Trung hoa , để kết thúc một hiệp ước tương tự như hiệp ước đã kí giữa Anh và Trung hoa .
    Ngày 24 tháng 10 năm 1844, Lagrene' kí kết hiệp ước Hoàng phố , theo đó ngoài những điều khoản tương đương với hiệp ước Nam kinh , còn đảm bảo nới rộng việc tự do hành đạo Kito tại Trung hoa.
    Thags 10 năm 1843 ,Guizot gởi cho Lagrene' những chỉ thị mật nhưng minh bạch , liên quan đến sự cần thiết phải tìm cho được một căn cứ hoạt động trong vùng biển Trung hoa . Người ta đã đặc biệt đọc thấy : ".. Nhà vua .. đã quyết định từ nay một đoàn hải quân sẽ đậu lại giữa vùng biển Trung hoa và Nhật bản , với sứ mệnh là che trở và bảo vệ nếu cần , những quyền lợi chính trị và thương mại của ta.
    Nhưng hiện nay nước Pháp chưa có một điểm tựa nào trong vùng biển này để tàu thuyền đóng thường trực nơi đây có thể được tiếp tế lương thực , sửa chữa rò thủng , đưa lên bộ những kẻ đau yếu ;mà phải xin với thuộc địa Bồ đào Nha ở Ma cao hoặc Hải quân công xưởng ở Lucon cho đoàn Hải quân Pháp một điểm tựa , một điểm trú ẩn ,một điểm tiếp tế
    ' Đây là một sự thật không thể chấp nhận được .Thật không thích đáng với nước Pháp , vắng mặt trong phần thế giới rộng lớn nhường ấy , khi mà các nước Âu tây khác đã có sơ ngơi ở đây.Quốc kì Pháp cũng phải được tung bay trong vùng biển Trung hoa tại một địa điểm mà tàu thuyền của chúng ta phải được đảm bảo có nơi trú ẩn và các thứ cứu hộ khác.
    ".. Vậy , cũng như người Anh đã làm ở Hương cảng và như chính chúng ta đã làm ở Marquises, chúng ta phải xây dựng ở nơi đây một căn cứ cho Hải quan và một kho chứa cho thương nghiệp của ta.Cơ ngơi đó phải hội tụ đủ nhiều điều kiện chính như là : gần đế quốc Trung hoa ,một cảng rộng và kín để tàu thuyền của ta khỏi ngại bão táp thường luôn xảy ra và đáng sợ ở vùng biển này , một vị trí cô lập và dễ bảo vệ , một khí hậu tốt để binh lính nhanh chóng lấy lại sức khỏe khi bệnh hoạn do cái nóng của nhiệt đới gây ra; sau cùng là phải có những giếng nước vừa trong vừa nhiều để cung ứng cho tàu thuyền tới nhận tiếp tế thêm đồ uống .
    "Những khái niệm mà chúng ta có về các vùng Đông dương chưa nhiều và chính xác đủ để có thể , ngay từ bây giời ,xác định nên chiếm địa điểm nào để lập căn cứ mới tại đó .Vậy chưa thể cho ông Lagrene' những chỉ thị rõ ràng .Ta chỉ có thể chỉ cho ông vài căn cứ mà các nhà thám hiểm trước đây đã ghi dấu cho biết những nơi này có thể dùng làm căn cứ cho chính sách của Pháp hoặc tạo lập một trung tâm cho quyền thương mại của Pháp ở Đông dương"

    thứ bảy nghỉ đi chơi thôi ..
    thay đổi nội dung bởi: rongdienro, 15-05-2011 lúc 11:45
    Ao do em di giua pho dong
    Hang cay nhu bong thap len hong Em di lua chay trong bao mat Anh hoa thanh tro em biet khong

  18. The Following 3 Users Say Thank You to rongdienro For This Useful Post:

    conemthudo (21-05-2011),hanvantung (02-06-2011),phithiengia (06-06-2011)

  19. #10
    Tham gia ngày
    19-02-2008
    Bài gởi
    414
    Thanks
    1,034
    Thanked 127 Times in 58 Posts

    Default

    Trước hết các sĩ quan hải quân Pháp để ý đến đảo Soulou ở Phi luật tân , trên đường giữa Mindanao và Bỏne'o đó là đảo Basilan , thuộc quần đảo đó , được họ coi như một vị trí đáp ứng tốt nhất cho năm điều kiện mà Guizot đòi hỏi .Trung tá Hải quân The'ge`n Page (1897-1867) đã kí một hiệp ước thân hữu với tiểu vương Soulou : thỏa ước này định những điều kiện và giá tiền ( bằng bạc) nhượng đảo Basilan cho nước Pháp .Nhưng trong đó nói thỏa ước chỉ được thực thi sau khi chính phủ Pháp phê chuẩn , đó là điều thông thường .Khi ấy chính phủ Tây ban nha liền phản đối mưu tính của Pháp , viện cớ đảo Basilan phụ thuộc vào Mindanao tức phụ thuộc vào Manila, vậy thuộc chủ quyền của Tây ban nha . Để tránh cuộc tranh chấp với Tây ban nha , vào tháng 8 năm 1845 ,Guizot tránh không thừa nhận thỏa ước đã kí kết giữa nhà cầm quyền Soulou với sĩ quan Pháp
    Không liên hệ gì tới các mưu tính đang tiến hanh đối với đảo Basilaan, một số sĩ quan Pháp toan can thiệp vào Việt nam dù không có lệnh của chính phủ họ và chỉ viện cớ là để bảo vệ thừa sai Pháp đang là đối tượng chính của sự " bách hại"
    Bất chấp nhưng cấm đoán ban hành từ năm 1825,các thừa sai tiếp tục thâm nhập Việt nam , tính riêng trong năm 1841 , cuộc chiến tranh Nha phiến đã khơi dậy mối lo ngại của người Việt nam đối với người Âu tây ,năm thừa sai bị bắt và lên án tử hình .Tuy nhiên vua Thiêu trị e ngại sự can thiệp cảu người Pháp lên sứ sở mình ,đã không cho thi hành án lệnh trên.
    Khi được tin các thừa sai bị giam cầm , chiến thuyền He'roine với 30 khẩu đại bác đã tới Đà nẵng vào tháng 2 năm 1843 , và hạm trưởng Fe'lix Favin Le'vêque(1808-1868) tự ý đòi thả các giáo sĩ .Thiêu trị nhân nhượng và trao họ cho viên chỉ huy Pháp .Chiến hạm He'roine rời Đà nẵng ngày 16 tháng 3
    Đến lượt giám mục Dominique Le`vre (1810-1865) bị bất vào tháng 10 năm 1844 ,.Ngay khi đó , đô đốc Jean Ce'cille (1797_1873),chỉ huy trưởng Hải quân trong biển Trung hoa , liền phái chiến hạm Alcm`ene tới Đà nẵng vào tháng 5 năm 1845 và lần này Thiệu trị cũng cho thả tù nhân.Ông này lại cố xâm nhập vào Nam kì hồi tháng 5 năm 1846, đem theo 4 giáo sĩ nữa .Ông ta bị bắt và bị kết án tử hình .Nhưng lần này Thiệu trị gửi ông sang Tân gia ba và trao cho nhà đương cục Anh để tránh những đòi hỏi tái diễn của người Pháp .Tuy thế không cản được giám mục Le`fevre lại xâm nhập Việt nam lần thứ 3 ; khi vào được rồi ,ông lẩn tránh ở một trong những của sông Cửu long
    Không biết giám mục đã được Thiệu trị thả và gửi sang Tân gia ba , đô đóc Ce'cille vẫn phái sang Đà nẵng vào tháng 3 năm 1847 hai chiến hạm Victorieusu với 24 đại bác do trung tá hải quân (sau là thống đốc tại Sài gòn) Ch.Rigault de Genouilly chỉ huy , và chiến hạm Gloire với 54 khẩu đại bác do đại tá hải quân Augustin Lapierre(1795-1855)chỉ huy , chiếc Victorrieusu tới Đà nẵng vào ngày 17 tháng 3 , và chiếc Gloire ngày 23 tháng 3.Các sĩ quan và yêu cầu thả các vị giám mục , vừa yêu cầu kí một thỏa hiệp đảm bảo tự do tôn giáo cho đạo Kito
    Nổi giận vì thái độ do dự của triều đình Huế , hai chiến hạm pháo kích Đà nẵng ngày 15 tháng 4 và phá hủy 5 chiếc tàu Việt nam .Nhưng khi trận chiến vừa chấm dứt 2 chiến hạm vội vã rút lui không còn lo gì tới số phận giám mục Lef`evre nữa,
    Trận công phá đó đã ghi dấu bước đầu xung đột giữa Việt nam và Pháp và khai mào một đương lối ngoại giao mệnh danh là " ngoại giao pháo kích", cũng tương tự như chính sách " ngoại giao pháo hạm"( Gunboat diplomacy) mà người Anh ,Mỹ đã thi hành ở Viễn đông :những việc rất cụ thể là đam quân tới diễu võ giương oai ,yêu cầu kí kết một hiệp ước thân hữu và đe dọa lâm chiến ngay tức khắc nếu bị từ chối .Một " chính sách ngoại giao '' như thế chỉ có thể hữu hiệu với điều kiện các chiến hạm có đủ quân số và vũ khí -ít nhất là thể hiện bên ngoài -để khi cần , thắng nổi quân đội xứ ấy ,và vị chỉ huy phải quyết tâm hay vững tin có thể đi tới cùng đường .Cứ tình huống ấy , thì sáng kiến của Lapierre và Rigault de Genouilly vào năm 1847 cũng như cuộc tháo chạy của họ là một màn khoa trương không hơn không kém.
    Muốn nhập cuộc sâu hơn nữa và có đủ phương tiện cho " chính sách ngoại giao" của họ , các sĩ quan Hải quân phải chờ tới khi Napole'on III cầm quyền vào năm 1852 và cho dứt chiến ở Crime'e ( hiệp ước Pari năm 1856)
    Vua Napole'on III muốn cho ánh sáng văn minh Pháp lan tới Viễn đông , và cuộc chiến Crime'e kết thúc đã cho phép ông chuyển hạm đội từ Hắc hải sang vùng biển Trung hoa để tăng cường cho đoàn chiến hạm đã có mặt ở đây
    Tuy nhiên Napole'on III ,là người có thái độ hiếu hòa , nên trước hết ông tìm cách thân hữu để bình thường hóa quan hệ giữa Pháp và Việt nam .Đó là mục tiêu được trao cho phái bộ Montigny
    Tai hại thay phái bộ này vô tổ chức đến nỗi chỉ đạt tới kết quả ngược lại.Pháo hạm Catinat, chạy bằng guồng được trang bị 10 khẩu đại bác , đơn độc tới Đà nẵng vào ngày 16 tháng 9 năm 156, trong khi trưởng phái bộ Charle Lelieur de Ville -sur-Arce(1799-1858), chỉ huy trưởng tàu Catinat , cố chuyển một bức thư của Montigny cho các quan người Việt ,nhưng các vị này đã có lệnh không khi nào được nhận bất cứ điệp văn nào của người Âu tây .Trước sự phản đối của nặng nề của các quan, lại thêm phần nặng nề do những biến cố hồi năm 1847 ,Lelieur liền pháo kích các đồn trại ở Đà nẵng và cho một trung đội đổ bộ lên bờ ngày 19 thang 9 .Tàu Capricieuse, chiến hạm chạy bằng buồm , tới ngày 24 tháng 10 .Chỉ huy trưởng của hai chiến hạm gia tăng cố gắng tiếp xúc được với các quan và nhân đó xác định được các điều kiện trước khi Montigny tới và trước khi khai mạc các cuộc thương nghị .Triều đình Huế phê phán lối hành xử của người Pháp như sau:
    ".. Nếu người Pháp ngay thẳng và trung thực họ hãy nghe theo những nhà cầm quyền hợp pháp , và trong sự đị lại , họ hãy tôn trọng những tập quán trong xứ sở mà họ có mặt.Họ vi phạm những lề luật ấy để làm gì "
    Montigny xuất hiện ở Đà nẵng ngày 13 tháng 1 năm 1857,sau khi chiến ham Catinat đã rời bến sang Trung hoa theo lệnh của đô đốc Gue'rin.Vì thiếu phương tiện hữu hiệu ,Montigny thất bại trong việc kí kết thỏa hiệp , nên rút lui ngày 7 tháng 2
    Sự thất bại của phái bộ làm cho chính phủ Napole'on hạ quyết tâm can thiệp bằng quân lực.Rigault de Genouilly được cử làm tư lệnh quân đoàn chiến hạm trong vùng biển Trung hoa , bởi vì đã có kinh nghiệm lâu dài trong vùng biển này và những mối quan hệ tốt đẹp với giới thừa sai ;ông đã chiếm đóng Đà nẵng ngày 10 tháng 9 năm 1858.Như chúng đã biết, cuộc đối đầu giữa quân đội Pháp và Việt nam , ở Đà nẵng rồi Nam kì , kéo dài trên ba năm : cho tới khi kí kết hiệp ước Sai gòn ngày 5 tháng 6 năm 1862.
    Lần này chính sách ngoại giao bằng pháo hạm đã đi đến thành công .
    Từ địa vị người khơi mào rồi thành kẻ thực hiện các sĩ quan hải quân sau khi thắng trận , sẽ trở thành nhà cai trị của thuộc địa mới lập , tuyên truyền tích cực cho công cuộc can thiệp lớn hơn của Pháp vào Việt nam và Cao miên
    Ở đây chúng ta khỏi cần nghiên cứu giai đoạn hai của công cuộc đó -vì ở nơi khác đã được nghiên cứu kĩ ,chúng ta sẽ hài lòng với những nét phác thảo
    Thuộc địa mới ở rất xa chính quốc và lẻ loi đối với các thuộc địa khác của Pháp .Chiếm hữu bởi thủy binh và chỉ có thể liên lạc được bằng đường thủy , nên thuộc địa này được đặt dưới quyền của bộ Hải quân.Thống đốc Sài gòn ( một đô đốc từ 1861 tới 1879, rồi một thống đốc dân sự từ 1879)thực sự có toàn quyền ở Nam kì thuộc Pháp .Hơn nữa ,vì địa lí xa sôi cách trở nên chỉ ít người Pháp dân sự tới lập nghiệp .Được thành lập vì những lí do chính trị và quân sự-còn lí do kinh tế sẽ tới sau vì thiếu nhưng kẻ khai thác thuộc địa -khi khởi đầu , thuộc địa như lãnh địa riêng dành cho Hải quân,do sĩ quan hải quân quản trị và cho các sĩ quan đó một môi trường thăng tiến nhanh chóng.
    Là thiểu số tuyệt đối so với dân số Việt nam,người Pháp cũng không có những nhà hành chính kì cựu để có thể cai trị người Việt ,mà trước hết là có thể nói với họ bằng ngôn ngữ của họ do đó , ngay từ 1861, người ta đã lập ra Bản xứ sự vụ và lựa chọn tham biện cho Sự vụ đó trong số sĩ quan thuộc ngành Hải quân( y sĩ , cơ khí..)và trong số đó có cựu thừa sai được coi là có chuyên môn về ngôn ngữ Việt nam và Trung hoa .Nhà đương cục cung cấp cho các tham biện những điều kiện khá lý thú : lương bổng của họ gấp 3 lương bình thường của sĩ quan Hải quân ; họ được thăng chức khá nhanh nếu làm việc hiệu quả .Chế độ này thu hút được nhiều sĩ quan có thực tài, một số trở thành nhà ngoại giao , như P.Philastre, P.P.Rheinart và A.de.Kergaradec,hay trở thành nhà thám hiểm như Doudart de Lagre'e và F.Garnier.Hầu hết tham biện thuộc giới trẻ , từ 26 tới 43 tuổi .Là những tay kiến tạo chính của công cuộc bình định và khai thác Nam kì thuộc Pháp , nên hầu hết họ là những kẻ hung hăng theo đường lối can thiệp vào Việt nam
    Trong khi huy động lực lượng để tổ chức thuộc địa mới mẻ ,chính quyền Sài gòn cũng tung nhiều đoàn thám hiểm đi các nước xung quanh chưa được biết tới tường tận.Nổi danh nhất là phái bộ Doudart de Lagre'e-mang tên người cầm đầu ,khi ấy là đại diện nước Pháp tai Cao miên-có nhiệm vụ khám phá lưu vực sông Mê Kông ( với danh nghĩa phái đoàn đi qua Angkor)và đi ngược dòng xem có thể liệu mở đường đi vào Trung quốc không .Phái đoàn đi từ Sài gòn ngày 5-6-1866;Garnier là một trong những người khơi mào dự án cũng có mặt trong cuộc hành trình .Hai năm sau , phái đoàn trở về vào tháng 6 năm 1868; và nhận thấy sông Mê Kông không thể chuyên trở được kể từ phía Bắc Cao miên trở lên, trái lại sông Hồng thì chuyên trở được và có thể làm đường giao thông giữa Vân nam với Bắc kì .Điểm này giúp ta hiểu được thái độ của một người như Garnier trong vụ " Dupuis " và ý chí cương quyết của một số người Pháp muốn can thiệp chống Việt nam
    Sau hết, cũng lên biết rằng thống đóc ở Sài gòn giữ một vị tri trung tâm trong guồng mấy ấy ,vì được toàn quyền hành động lên bản thân thống đốc sẽ trực tiếp ấn định đường lối chính sách đem thi hành tại thuộc địa và đối với triều đình Huế .Trong số thống đốc nối tiếp nhau cầm quyền tới năm 1883 , có ba người nổi bật bằng tính cách mạnh mẽ và bằng đường lối can thiệp của họ: đó là Pierre de La Grandi`ere(1807-1876, thống đốc từ 1-5-1863 tới 5-5-1868), là người ra lệnh chiếm nốt ba tỉnh miền Tây Nam kì vào năm 1867); là Jules Dupre' (1813-1881,thống đốc từ 1-4-1871 đến 16-3 1874), người đã phái Francis Garnier ra Hà nội vào năm 1873 để giải quyết vụ Dupuis; là Charles Le Myre Vilers ( 1833-1918, dân sự, thống đốc từ 7-7-1879 đến 13-1-1883 ) người đã biệt phải Hẻni Rive`re ra Bắc kì năm 1882
    Tuy nhiên, chúng ta cũng nên điều chỉnh cho có mức độ trong nhận định về sự tự do hành động mà nhưng nhân vật ấy nắm giữ trong tay, đặc biệt là Dupre' và La Myre de Vilers đều bị kẹt giữa tình hình , một bên thiếu chỉ thị từ chính quốc và bên kia tính nôn nóng của các thừa hành dưới quyền .Quả thế , chính phủ bên chính quốc thay đổi hoài , tất nhiên ghế bộ trưởng Hải quân cũng thay đổi luôn, do đó thống đốc Sài gòn thật khó mà có được một lập trường kiên định và hành động không do dự .Ngược lại ,vì thiếu phương tiện nhạy bén để tiếp xúc với kẻ được gửi đi thực địa , cũng khó cho đô đốc kiểm soát họ mà thuộc hạ lại thường không thi hành đúng chỉ thị của ông
    thay đổi nội dung bởi: rongdienro, 15-05-2011 lúc 14:55
    Ao do em di giua pho dong
    Hang cay nhu bong thap len hong Em di lua chay trong bao mat Anh hoa thanh tro em biet khong

  20. The Following 3 Users Say Thank You to rongdienro For This Useful Post:

    conemthudo (21-05-2011),hanvantung (02-06-2011),phithiengia (06-06-2011)

Trang 1/3 123 cuốicuối

Bookmarks

Quyền Sử Dụng Ở Diễn Ðàn

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •