Trang 1/2 12 cuốicuối
kết quả từ 1 tới 10 trên 20

Ðề tài: Dư địa chí - Nguyễn Trãi

  1. #1
    Tham gia ngày
    30-10-2010
    Bài gởi
    84
    Thanks
    3
    Thanked 69 Times in 38 Posts

    Default Dư địa chí - Nguyễn Trãi

    DƯ ĐỊA CHÍ

    Tác giả: Nguyễn Trãi
    Lời tập chú: Nguyễn Thiên Túng
    Lời cẩn án: Nguyễn Thiên Tích
    Lời thông luận: Lý Tử Tấn
    Dịch giả: Phan Duy Tiếp
    Hiệu đính và chú thích: Hà Văn Tấn


    ****************

    I

    Năm thứ 2 niên hiệu Thiệu-bình (1435), đức giáo của nhà vua đã lan xa đến bốn chung quanh, các nước chư hầu đều đến triều cống. Hành khiển (hoặc Tế văn hầu) là Lê Trãi (1) bèn làm sách tiến lên vua (2) nói rằng: Nước ta mới mở, gồm có sông núi, phía đông giáp biển. phía Tây đến nước Thục, phía Nam đến Chiêm-thành, phía Bắc đến hồ Động-đình (3).

    Hành khiển là tên chức quan. Chức trọng của bản triều chỉ có tể tướng và hành khiển, Nguyễn Trãi là người xã Nhị-khê, huyện Thượng-phúc, được phong tước Tế văn hầu, tên hiệu là Ức Trai. Thục là tên nước, bây giờ là tỉnh Vân-nam. Chiêm-thành ngày xưa là nước Hồ-tôn (5). Động-đình (6) là tên hồ, ở về đất Sở (7), chu vi tám trăm dặm, trông ra bốn mặt, mênh mông không bờ, tưởng như mặt trời, mặt trăng mọc lặn đều ở trong hồ. Các sông ở vùng tỉnh Mân, tỉnh Quảng đều chảy tụ vào đấy (8). Trong hồ có hai quả núi: một núi gọi là Quân-sơn, núi ấy sản thứ hồng quất, thứ chè tước thiệt (9), thứ trúc đồi mồi. Ở đây có đền thờ Tương-quân (10) là con gái vua Nghiêu. Một núi gọi là Lộc-giác, nơi nhà cũ của Đào Chu (11).

    II

    Vua đầu tiên là Kinh-dương-vương, sinh ra có đức của bậc thánh nhân, được phong sang Việt-nam, làm tổ Bách-việt.
    Tổ tiên nước Việt ta tương truyền vua đầu tiên gọi là Kinh-dương, dòng dõi vua Viêm-đế. Vua cha là Đế-minh đi tuần thú đến miền Hải-nam, gặp con gái bà Vụ-tiên, lấy làm vợ, sinh ra con trai tên là Lộc Tục. Lộc Tục phong tư đoan chính, có thánh đức, vua Đế Minh yêu quý lạ thường, muốn lập nên nối ngôi. Lộc Tục cố nhường cho anh. Vua Đế Minh mới phong Lộc Tục sang nước Việt-nam. Ấy là Kinh-dương-vương.

    III

    Hùng Vương tiếp nối ngôi vua, dựng nước gọi là nước Văn-lang; chia trong nước làm 15 bộ (1): Giao-chỉ, Chu-diên, Vũ-ninh, Phúc-lộc, Việt-thường, Ninh-hải, Dương-tuyền, Lục-hải, Vũ-định, Hoài-hoan, Cửu-chân, Bình-văn, Tân-hưng, Cửu-đức.
    Hùng vương là con Lạc-long, cháu Kinh-dương. Nơi đóng đô gọi là Văn-lang. Truyền 18 đời đều gọi là Hùng-vương.

    IV

    Đến khi Hán đánh được Triệu, Vũ đế (1) đem đất chia làm các quận: Nam-hải, Thương-ngô, Uất-lâm, Hợp-phố, Giao-chỉ, Cửu-chân, Nhật-nam, Châu-nhai, Đạm-nhĩ.

    Vũ đế nhà Triệu tên là Đà dựng nước ở Phiên-ngung (bây giờ thuộc tỉnh Quảng-đông) (2). Truyền ngôi được 6 đời, đến Vệ-dương mới (3) mới mất nước. Khoảng niên hiệu Nguyên-thú (4) thời Tây-Hán, Vũ-đế (1) sai bọn Lộ Bác Đức đánh diệt Triệu. Nam-hải là quận cũ đời Tần, nay là tỉnh Quảng-đông. Thương-ngô, Uất-lâm là quận Quế-lâm (5) đời Tần. Hợp-phố (6) là thuộc Tượng-quận (7) đời Tần, Giao-chỉ (8), Cửu-chân (9), Nhật-nam (10) là thuộc Tượng-quận đời Tần. Châu-nhai (11), Đạm-nhĩ (12) (người châu Đạm-nhĩ, khi đẻ ra thì xăm ở da má lên đến vành tai vài đường, hình như ruột gà, lòng thòng xuống đến vai) (13) là châu Đạm, châu Quỳnh bây giờ (14), đều ở trong biển lớn. Sách Hoàn vũ ký (15) chép: Vĩnh-gia (16) là Đông-âu. Uất-lâm là Tây-âu. Sách Dư địa chí (17) chép: quận Giao-chỉ ở đời Chu là Lạc-Việt, ở đời Tần là Tây-âu. Sách Sách ẩn (18) chép: Nay người Châu-nhai, Đạm-nhĩ gọi là người Âu. Ấy là Âu-Việt.

    V

    Miền Ngũ-lĩnh (1) phụ thuộc vào Trung-quốc, trải qua đời Ngô (2), đời Tấn (3) đến đời Tùy (4), đời Đường (5) làm tiện nghi cho Trung-quốc.
    Đông Ngô là họ Tôn, Tấn là họ Tư-mã, [nhà Tấn có] Đông và Tây Tấn, Tùy là họ Dương, Đường là họ Lý. Khi nước ta nội thuộc, Bắc triều có đặt thái thú (6), thứ sử (7), đô đốc (8), tiết độ (9) để quản hạt.
    thay đổi nội dung bởi: oanhbao2008, 17-01-2012 lúc 23:15

  2. The Following 2 Users Say Thank You to oanhbao2008 For This Useful Post:

    katorea ran (16-01-2012),kieuphong (19-01-2012)

  3. #2
    Tham gia ngày
    30-10-2010
    Bài gởi
    84
    Thanks
    3
    Thanked 69 Times in 38 Posts

    Default

    VI

    Vua Tiền Ngô dẹp quân Hán, khôi phục nước nhà; đất đai thu được, phía bắc giáp Lưỡng Quảng, phía nam đến Địa-lý (1) tất cả là hai nghìn tám trăm dặm, phía đông tiếp với cửa biển ở Khâm-châu (2), phía tây giáp tỉnh Vân-nam, tất cả là một nghìn bảy trăm dặm.

    Vua Tiền Ngô, họ là Ngô, tên là Quyền. Hán là nhà Nam Hán (3). Nha tướng là Kiều Công Tiện (4) làm việc thí nghịch; vua Hán là Lưu Cung muốn nhân loạn ấy mà đánh lấy nước ta, bèn phong cho Vạn vương là Hoằng Tháo làm Giao vương đem quân xuống miền Nam. Ngô vương từ Ái-châu (5) ra Bắc, đánh bại Hoằng Tháo ở sông Bạch-đằng (6), bắt sống được Hoằng Tháo. Lưỡng Quảng là Quảng-đông, Quảng-tây, Địa-lý là tên đạo, tức là Nam-giới (7) bây giờ.

    VII

    Phủ gồm có 50 phủ. Châu gồm có 41 châu. Huyện gồm có hơn 10 huyện. Nhân hộ gồm ba trăm mười vạn đinh. Nhà Lê chia thiên hạ làm 10 đạo. Hộ bộ đệ tiến số dân là năm trăm vạn sáu nghìn năm trăm đinh. Nhà Lý chia thiên hạ làm 24 lộ (1). Hành-khiển dâng số hộ là ba trăm ba mươi vạn một trăm đinh. Nhà Trần chia thiên hạ làm 12 xứ (2). Viện quan dâng sổ vàng thì hạng đại nam, trung nam (3) có bốn trăm chín mươi vạn đinh, hạng hoàng nam (4) có hai trăm mười vạn bốn nghìn ba trăm đinh.
    Bản triều thống nhất, chia thiên hạ làm 15 đạo (5) gồm có 56 phủ, 187 huyện, 54 châu, (…) hương, 9728 xã, 294 thôn, 59 phường, 119 châu (bãi), 116 trang, 534 động, 465 sách, 58 sở, 74 trại, 16 nguyên, 110 duềnh. Đinh số là bảy mươi vạn chín trăm bốn mươi suất.


    Ấy là mục lục số châu, huyện, hộ khẩu qua các triều đại. Sau khi Nhị Hồ (6) bị bắt, người Minh kê số lấy được có 48 phủ châu, 168 huyện (7), 3.169.500 hộ, 112 con voi, 420 con ngựa, 35.700 con trâu, 8.865 cái thuyền. Sauk hi [Lê] Thái-tổ đã bình định được Ngô (8), chuẩn định số đinh thì Sơn-nam có 140.000 suất, Hải-dương có 110.000 suất, Sơn-tây và Kinh-bắc đều có 100.000 suất, Thanh-hóa có 70.000 suất, Nghệ-an có 50.000 suất, An-bang và Thái-nguyên đều 20.000 suất, Tuyên và Hưng đều có 18.000 suất, Cao-bằng và Lạng-sơn đều có 11.200 suất, Thăng-hoa có 540 suất.
    Ngô thị nói: Năm mươi con trai của Lạc-long theo mẹ là Âu-cơ lên núi, người con trưởng được suy tôn làm Hùng vương, còn các con thứ chia nhau giữ các bộ, sách để quản trị, ấy là những động, sách, trang, phường bây giờ. Thái-tông, Thánh-tông nhà Lý đánh Chiêm, bắt được người Chiêm đem về chia cho ở các châu, ấp; các ấp ấy đều phỏng theo tên cũ của Chiêm, tức là các trại, sở bây giờ.

    Nguyễn thị nói: Xét trong khoảng trung diệp (9) 2 châu, 4 động, 5 huyện của An-quảng lệ thuộc về Khâm-châu, Hưng-hóa có 17 châu thì 7 châu lệ thuộc vào nội địa (10). Hai đạo Thuận và Quảng phân ra làm Nam hà. Từ niên hiệu Dương-hòa (1635-1643) về sau, chỉ còn có 13 đạo, 50 phủ, 166 huyện, 48 châu, 8.671 xã. Khoảng niên hiệu Long-đức (1732-1735), phủ chúa (11) vâng chiếu định số dân thì thực thụ là 311.670 suất, ở trong số đó chia ra các hạng viên nha, ngụ lộc cùng thợ thuyền và các người am hiểu văn tự, các người nộp diêm tiêu là 32.676 suất chỉ còn số thực nạp là 276.201 suất.
    thay đổi nội dung bởi: oanhbao2008, 16-01-2012 lúc 09:06

  4. The Following 2 Users Say Thank You to oanhbao2008 For This Useful Post:

    katorea ran (16-01-2012),kieuphong (19-01-2012)

  5. #3
    Tham gia ngày
    30-10-2010
    Bài gởi
    84
    Thanks
    3
    Thanked 69 Times in 38 Posts

    Default

    VIII

    [Nhà vua] bèn sai Dân bộ (1) biên vào chính thư. Hoàng đế phán rằng: danh hiệu quốc đô xưa nay thay đổi cùng núi sông, phong tục, nhân vật, tiên sinh nên kê lần lượt, chép rõ ràng để trẫm theo các điều đã nghe, đã viết.
    Dân bộ là Hộ bộ. Chính thư là sách hành chính lúc bấy giờ.

    IX

    Hầu (1) bèn tâu lên rằng: Kinh-dương-vương dựng nước gọi là Xích-quỷ. Hùng-vương gọi nước là Văn-lang đóng đô ở Phong-châu (2). Thục gọi nước là Âu-lạc đóng đô ở Phong-khê (3). Triệu gọi nước là Nam-việt, đóng đô ở Phiên-ngung. Trưng lại gọi là Hùng-lạc, đóng đô ở Mê-linh (4).
    Phong-châu là Bạch-hạc thuộc phủ Tam-đái bây giờ. Phong-khê là Cổ-loa thuộc phủ Đông-ngạn bây giờ. Phiên-ngung ở phía tây-nam châu trị Quảng-đông ba mươi dặm. Mê-linh và Hát-môn thuộc huyện Phúc-lộc bây giờ.

    X

    Tiền-Lý gọi nước là Vạn-xuân, đóng đô ở Long-biên (1). Triệu gọi nước là Việt-Triệu, đóng đô ở Chu-diên (2). Đào-lang gọi nước là Dã-năng (3). Hậu Lý đóng đô ở Ô-diên (4) rồi dời sang Phong-châu (5), Ngô gọi nước là Tiền-Ngô (6) đóng đô ở Loa thành.
    Long-biên là thành Thăng-long bây giờ. Chu-diên là huyện Yên-lãng thuộc Sơn-tây bây giờ (7), Dã-năng ở vào khoảng Tuy-viễn, Hoài-an bây giờ, chưa biết đích là chỗ nào. Ô-diên thì ngày xưa thuộc Từ-châu, bây giờ là huyện Từ-liêm (8). Loa-thành là thành An-dương-vương đắp.

    XI

    Đinh gọi nước là Đại-Cồ-Việt, đóng đô ở Hoa-lư (1). Lý gọi nước là Đại-Việt đóng đô ở Thăng-long (2). Trần đến bản triều (3), quốc hiệu vẫn theo như Lý, mà cũng đóng đô ở đấy.
    Hoa-lư xưa là Đại-hoàng (4), bây giờ là phủ Trường-yên (5). Thăng-long ngày xưa là thành Đại-la. Khi nhà Lý thiên đô ra đấy có rồng vàng hiện ra ở phía tây thành ấy, nhân thế đổi tên làm Thăng-long. Trần lấy đấy làm Trung-kinh. Hồ thiên đô sang An-tôn (6) lấy Trung-kinh làm Đông-đô. Thái-tổ định thiên hạ đổi tên là Đông-kinh (7).

    XII

    Nước ta cống sính Bắc triều (Trung-quốc) có lúc gọi là Việt-thường (1), lúc gọi là Giao-chỉ, lúc gọi là An-nam.
    Hồng-bàng thị bắt đầu cống sính nhà Chu gọi là Việt-thường thị. Từ Đinh-tiên-hoàng đến Lý Anh-tông, cống sính nhà Tống thì tên nước là Giao-chỉ. Từ Anh-tông đến bây giờ, cống sính nhà Tống, nhà Nguyên, nhà Minh thì đều gọi tên nước là An-nam.

    XIII

    Những sách, chương của Thiên-vương (1), có lúc gọi là Việt-nam, Nam-việt, Giao-chỉ, An-nam, Nam-bình. Nay cũng gọi là Việt-nam.

    Sách là kim sách (sách vàng), chương là long chương (ấn rồng). Xét vua Đế Minh phong Kinh-dương làm Việt-nam-vương (2), Hán phong Triệu Đà làm Nam-việt-vương, Tống phong cho Đinh, Lê, Lý gọi là Giao-chỉ quận vương, rồi tiến phong Nam-bình vương; sau khi Nam-bình vương mất, lại tiến phong làm Nam-việt-vương. Đến thời Lý Anh-tông, đổi Giao-chỉ làm nước An-nam, phong cho vua làm An-nam quốc vương, ban cho ấn vàng quốc vương. Tên nước gọi là An-nam bắt đầu từ nhà Lý, nhà Trần trở về sau, đều theo tên ấy.
    thay đổi nội dung bởi: oanhbao2008, 17-01-2012 lúc 23:16

  6. The Following 2 Users Say Thank You to oanhbao2008 For This Useful Post:

    katorea ran (16-01-2012),kieuphong (19-01-2012)

  7. #4
    Tham gia ngày
    30-10-2010
    Bài gởi
    84
    Thanks
    3
    Thanked 69 Times in 38 Posts

    Default

    XIV

    Nay thần vâng thánh chỉ, đã nói về bang, sư lại xét thổ sản các nơi, để định việc cống phú.
    “Bang” là quốc hiệu, “Sư” như chữ sư ở Lạc sư (1)

    XV

    Thượng kinh
    Thượng-kinh là kinh đô của vua. Thời Ngô, quận-thú là Sĩ vương (1) đóng đô ở đấy. Thời Đường, đô-hộ là Cao-vương (2) đắp thành Đại-la ở đấy. Từ Lý đến nay, cũng đóng đô ở đấy. Có 1 phủ lộ, 2 thuộc huyện, 36 phường.
    Cẩn ánPhủ là Phụng-thiên (3), 2 huyện là Thọ-xương (4) (xưa gọi là Vĩnh-xương) và Quảng-đức (5), mỗi huyện đều có 18 phường.

    XVI

    Ở vùng này, đất thì vàng, mềm; ruộng thì vào hạng thượng trung (1). Phường Tàng-kiếm làm kiệu, áo giáp, đồ dải mâm, võng (2), gấm trừu và dù lọng. Phường Yên-thái làm giấy. Phường Thụy-chương và phường Nghi-tàm dệt vải nhỏ và lụa. Phường Hà-tân nung đá vôi. Phường Hàng-đào nhuộm điều. Phường Tả-nhất làm quạt. Tây-hồ có cá to. Phường Thịnh-quang có long nhãn. Phường Đường-nhân bán áo diệp y (3). Đồ tiến cống có gấm vóc, đồ thêu, các chất thơm, cùng ba loài kim (4)

    Đường-nhân là phố khách thương Quảng-đông, Quảng-tây. Diệp y là thứ áo người Trung-quốc mặc: áo trong thì tay áo, thân áo đều dài, áo ngoài thì tùy thứ tự mà quấn lên, trông tựa lá màu xanh biếc, Tây-hồ tức là hồ Dâm-đàm ngày xưa; nhà Lý, nhà Trần lập hành cung ở đấy để xem cá.

    XVII

    Biển (1) cùng Lục-đầu (2), Yên-tử (3) ở về Hải-dương (4)

    Biển là Biển Đông, Lục-đầu là tên sông, do sáu con sông hợp nguồn lại, nên gọi là “lục đầu”. Yên-tử là tên núi. Các vua nhà Trần thường xuất gia tu hành ở đấy (3). Hải-dương tức là bộ Dương-tuyền ngày xưa, đông và tây giáp Kinh-bắc và Yên-quảng, bắc và nam giáp Thái-nguyên và Sơn-nam. Ấy là trấn thứ nhất trong bốn kinh trấn và là đứng đầu phên dậu phía đông. Có 4 lộ phủ, 18 thuộc huyện, 1.377 làng xã.
    Cẩn ánPhủ Thượng-hồng (5) xưa là Hồng-châu, nay là Bình-giang, có 3 huyện, 210 xã: huyện Đường-hào (6) có 68 xã, 1 thôn; huyện Đường-an (7) có 59 xã; huyện Cẩm-giàng (8) có 83 xã. Phủ Hạ-hồng (9) (nay là Ninh-giang) có 4 huyện, 371 xã; huyện Gia-phúc (10) (nay là Gia-lộc) có 84 xã; huyện Thanh-miện (11) có 54 xã; huyện Tứ-kỳ (12) có 128 xã, 1 trang, 1 sở; huyện Vĩnh-lại (13) (xưa là Đồng-lại), có 105 xã, 5 trang. Phủ Nam-sách (14) có 4 huyện, 287 xã; huyện Thanh-lâm (15) có 78 xã, 1 sở, 1 trại; huyện Chí-linh (16) có 57 xã; huyện Thanh-hà (17) có 62 xã; huyện Tân-minh (18) có 92 xã, 12 trang. Phủ Kinh-môn (19) tục gọi là Thất-quận, có 7 huyện, 507 xã; huyện Kim-thành (20) xưa là (Trà-bái) có 71 xã; huyện Hiệp-sơn (21) có 62 xã; huyện Đông-triều (22) có 110 xã; huyện Thủy-đường (23) có 81 xã, 2 thôn; huyện An-dương (24) có 63 xã, huyện An-lão (25) có 59 xã, 2 trang; huyện Nghi-dương (26) (là Dương-kinh thời Mạc) có 61 xã, 12 sở.

    XVIII

    Ở vùng này đất thì trắng, mềm, hợp (nguyên văn là “nghi”) với việc trồng thuốc hút; ruộng thì vào hạng thượng thượng (1). Gỗ thì có tùng, bách, hòe, liễu. Nửa lộ sản dừa, cau. Ngải-môn (2) và Dương-áo (3) sản vật có nhiều thứ, Đường-hào (4) có cá đuối. Hai huyện An có gà chọi. Đồng-lại có cam đường. Núi Hoa-triều (5), núi Kinh-chủ (6) sản đá hoa. Ấp Mao-điền (7), ấp Bất-bế (8), ấp Hội-am (9) dệt vải nhỏ.

    “Nghi” (10) là sự thích hợp với thứ gì ở một đạo. Núi Yên-tử sản tùng, bách. Huyện Chí-linh sản hòe, liễu. Huyện Đồng-lại sản cam đường, cam tươi. Huyện Tứ-kỳ sản dừa hơn nơi khác. Ngải-môn thuộc huyện Đồng-lại. Dương-áo thuộc huyện Tiên-minh, là tên hai cửa biển. Đường-hào là tên sông. Cá đuối giống như loài quy giáp trùng, dao ở chân (11) có độc, có thể làm chết người, nên người bắt được cá ấy chặt chân nó vứt xuống sông. Hai huyện An là An-dương, An-lão. Hai huyện ấy sản giống gà chọi tục gọi là “kê ổ”. Hoa-triều thuộc huyện Đông-triều, Kinh-chủ thuộc huyện Hiệp-sơn, đá của hai núi ấy có vân như mây, có thể làm khánh. Ấp Mao-điền thuộc huyện Cẩm-giàng, ấp Hội-am, ấp Bất-bế đều thuộc huyện Đồng-lại nay là huyện Vĩnh-lại. Ba ấp ấy có vải nhỏ đẹp hơn lụa, đựng vào trong hộp tre để tiến cống.
    Lý thị nói (12): Đạo Hải-dương đất tốt, người hung hãn, Thái bình thì thuận tòng, thời loạn thì cường ngạnh, từ Đinh, Lý đến giờ vẫn thế; chức trấn-phủ ở đạo ấy không thể không kén chọn người.
    thay đổi nội dung bởi: oanhbao2008, 16-01-2012 lúc 12:41

  8. The Following User Says Thank You to oanhbao2008 For This Useful Post:

    kieuphong (19-01-2012)

  9. #5
    Tham gia ngày
    30-10-2010
    Bài gởi
    84
    Thanks
    3
    Thanked 69 Times in 38 Posts

    Default

    XIX

    Đà-dương (1), Tản-viên (2) ở về Sơn-tây (3).
    Đà-dương là tên sông, sông ấy phát nguyên tự Lô-hán (4) đến Trung-hà (5) thông với sông Thao (6) đến Bạch-hạc (7) hợp với sông Nhị-hà, Tản-viên là tên núi, núi có ba ngọn cao chót vót, hình như cái tán vì thế mới gọi là “Tản viên”. Núi ấy là núi tổ của nước ta đó. Sơn-tây tức là bộ Chu-diên (8), bộ Phúc-lộc (9) ngày xưa; đông và nam giáp Thượng-kinh, Sơn-nam, tây và bắc giáp Tuyên (9), Hưng (10). Đấy là trấn thứ hai trong bốn kinh trấn và là đứng đầu phên dậu phía tây. Có 6 lộ phủ, 24 thuộc huyện, 1.368 làng xã.
    Cẩn ánPhủ Quốc-oai (11) có 5 huyện, 251 xã: huyện Từ-liêm (12) có 83 xã, 9 thôn, 6 châu, 4 sở, 2 trại; huyện Đan-phượng (13) có 35 xã, 5 thôn, 7 châu (bãi); huyện Phúc-lộc (14) (Mê-linh ngày xưa) có 51 xã, 5 thôn, 5 châu, 1 sở; huyện Yên-sơn (15) có 42 xã, 2 thôn, 2 trang, 2 trại; huyện Thạch-thất (16) có 41 xã, 1 trang. Phủ Tam-đái (17) (Phong-châu ngày xưa) có 6 huyện, 444 xã: huyện Yên-lãng (18) (Chu-diên ngày xưa) có 63 xã, 6 châu (bãi), 1 sở, 3 trại; huyện Yên-lạc (19) có 100 xã, 2 thôn, 8 châu (bãi); huyện Bạch-hạc (20) (đất Phong-châu có cây chiên đàn, chim hạc trắng đậu ở trên cây, thế mới gọi là “Bạch hạc”) có 63 xã, 5 thôn, 2 châu; huyện Tiên-phong (21) có 50 xã; huyện Phù-khang (22) có 68 xã; huyện Lập-thạch (23) có 101 xã. Phủ Lâm-thao (24) có 4 huyện 230 xã: huyện Sơn-vi (25) có 63 xã, 1 thôn; huyện Thanh-ba (26) có 56 xã, 1 thôn, 1 trang, 1 châu (bãi); huyện Hoa-khê (27) có 55 xã, 1 thôn, 7 trang, 1 trại; huyện Hạ-hòa (28) có 56 xã, 1 châu (bãi), 6 trang. Phủ Đoan-hùng (29) có 5 huyện, 277 xã: huyện Đông-lan (30) có 70 xã, 3 trang; huyện Tây-lan (31) có 54 xã; huyện Sơn-dương (32) có 42 xã, 4 trang; huyện Dương-đạo (33) có 37 xã; huyện Tam-dương (34) có 72 xã, 1 trang. Phủ Đà-dương (35) có 2 huyện, 76 xã (là Đà-dương ngày xưa): huyện Tam-nông (36) có 40 xã; huyện Bất-bạt (37) có 36 xã, 3 thôn, 1 trang, 1 trại. Phủ Quảng-oai (38) có 2 huyện, 91 xã: huyện Mỹ-lương (39) có 45 xã, 4 thôn, 1 trại; huyện Minh-nghĩa (40) có 46 xã, 2 thôn, 2 châu.

    Nguyễn thị nói: Thượng lưu sông Đà có hai thác đá ở trên và ở dưới, thuyền bè đông tây đi đến bị nước dội xuống như đổ bình nước, thương nhân phần nhiều khổ về nỗi thuyền bè vướng vấp. Lại ở Việt-châu (41) có thứ quýt vàng, đến tháng chín thì vỏ đỏ đẹp. Mộc-châu (41) có cây dã lô, đến tháng 3 thì bắt đầu nẩy mầm mọc lá, khe suối ngấm lá các cây ấy rồi chảy ra sông Đà, thổ nhân ăn uống nước ấy thành ra bệnh báng. Ngày trước Vương Kiến người ở Kiến-xương (42) bị người Minh bắt vào làm việc ở sơn trường, cha Kiến làm bài thơ dặn bảo rằng: “Xuân mạt quất tiên minh, đông sơ lô diệp sinh, phụ tử hảo tương kiến, tảo vãn ngã môn đình” (tạm dịch: cuối xuân sắc quýt đẹp, đầu đông lá lô sinh, cha con cùng gặp mặt, sớm tối chốn môn đình) (43). Kiến theo lời cha dặn, nên người đi làm đều bị bệnh sốt rét ngã nước, chỉ một mình Kiến không việc gì. Cổ ngữ có câu: “Đà-giang chướng địa, giản lại bôn lư” (nghĩa là: miền Đà-giang là nơi lam chướng, chỗ khe thác phải thúc lừa chạy mau). Câu ấy thực đáng tin.

    Phụ lục – Thần núi Tản-viên (44) gọi là Trụ quốc đại vương, linh hiển có tiếng. Nhân-tông triều Lý sai thợ làm đền thờ ở trên ngọn núi thứ nhất, có lầu 20 tầng. Tĩnh vương (45) dẹp miền Tây muốn lên trên ấy, hốt nhiên mưa gió nổi dữ, tướng sĩ lạc đường không trèo lên được.

    Lý thị nói: Ở vùng Sơn-tây người thuần hậu, phong tục chất phác, tuy qua nhiễu loạn, chưa hề cường ngạnh bao giờ.

    XX

    Ở vùng này, đất thì trắng, mềm hợp với bãi trồng dâu; ruộng thì vào hạng thượng trung (1). Huyện Tiên-phong có lụa. Huyện Bất-bạt có dầu, rào chắn (2), gai, đay và đồ nhung liệu. Huyện Mỹ-lương có ngà voi, sừng tê. Huyện Tam-nông có chè tai mèo, sáp vàng, sáp trắng. Làng Nguyên-thán có vải nhỏ. Sông Hát-giang có cá anh vũ. Huyện Sơn-vi có trĩ trắng, sơn, tơ.

    Hát-giang (3) ở huyện Phúc-lộc. Tương truyền sông Hát phát nguyên từ Giang-hán (4), trong sông có cây chiên đàn (5) cao hơn 10 trượng, lâu năm cây già, rễ cây xuyên thông với sông Giang-hán, cá anh vũ đi theo đấy về phía nam. Các triều bắt cống cá ấy để cúng tế. Sáp có hai thứ vàng và trắng, thứ trắng dùng để trang điểm, thứ vàng dùng làm nến thắp.

  10. The Following User Says Thank You to oanhbao2008 For This Useful Post:

    kieuphong (19-01-2012)

  11. #6
    Tham gia ngày
    30-10-2010
    Bài gởi
    84
    Thanks
    3
    Thanked 69 Times in 38 Posts

    Default

    XXI

    Nông-kỳ, Đội (2), Điệp (3) ở về Sơn-nam (4).
    Nông-kỳ là tên sông, Đội, Điệp là tên hai núi, triều Lý làm cung ở hai núi ấy, để làm nơi tuần hạnh, triều hội. Sơn-nam là quận Giao-chỉ ngày xưa; đông và bắc thông với Hải-dương, Thượng-kinh, tây và nam thông với Sơn-tây, Thanh-hóa. Đấy là trấn thứ ba trong bốn kinh trấn và là đứng đầu phên dậu phía nam. Có 9 lộ phủ, 36 thuộc huyện, 2.059 làng xã.
    Cẩn ánPhủ Thường-tín (5) có 3 huyện, 224 xã: huyện Thanh-đàm (6) có 78 xã, 5 thôn, 3 sở; huyện Thượng-phúc (7) có 57 xã, 1 sở; huyện Phú-xuyên (8) (xưa là Phù-vân) có 76 sở, 1 trại. Phủ Ứng-thiên (9) (đời Lý làm Nam-kinh) có 4 huyện, 245 xã: huyện Thanh-oai (10) có 80 xã, 5 thôn, 2 trang; huyện Chương Đức (11) có 65 xã, 3 thôn, 3 trang, 1 sở; huyện Sơn-minh (12) có 55 xã; huyện Hoài-an (13) có 45 xã, 3 trang, 1 sở. Phủ Lý-nhân (14) (xưa là Lợi-nhân) có 5 huyện, 277 xã: huyện Nam-xương (15) có 83 xã, 1 sở, 3 trang, 1 trại; huyện Duy-tân (16) có 58 xã; huyện Thanh-liêm (17) có 60 xã, 2 sở, 2 trại; huyện Kim-bảng (18) có 49 xã, 1 thôn, 2 sở, 2 trang, 1 trại; huyện Bình-lục (19) có 27 xã, 7 thôn, 5 trang, 1 trại. Phủ Khoái-châu (20) có 5 huyện, 243 xã (Nguyễn Khoái đánh giặc Nguyên có công, Trần Nhân-tông cho một quận làm ấp thang mộc gọi là Khoái-lộ, bây giờ là Khoái-châu): huyện Đông-yên (21) có 75 xã; huyện Kim-động (22) (xưa là Đằng-châu) có 46 xã, 11 thôn; huyện Phù-dung (23) (xưa là Phù-hoa) có 43 xã; huyện Tiên-lữ (24) có 52 xã, 4 thôn, 1 trang; huyện Thiên-thi (25) có 31 xã, 8 thôn. Phủ Tân-hưng (26) có 4 huyện, 270 xã: huyện Ngự-thiên (27) có 51 xã; huyện Thanh-lan (28) có 43 xã; huyện Duyên-hà (29) có 42 xã; huyện Thần-khê (30) có 34 xã. Phủ Thái-bình (31) có 4 huyện, 187 xã: huyện Quỳnh-côi (32) có 42 xã, 1 thôn; huyện Phụ-dực (33) có 35 xã, 2 châu; huyện Đông-quan (34) có 50 xã, 1 trang; huyện Thụy-anh (35) có 60 xã, 1 thôn, 1 trang. Phủ Nghĩa-hưng (36) (xưa là Ứng-phong, triều Lý lập hành cung ở đấy để xem việc cấy cầy) có 4 huyện, 245 xã: huyện Thiện-bản (37) có 79 xã; huyện Đại-an (38) (xưa là Đại-ác, triều Lý đổi thành Đại-an) có 71 xã; huyện Vọng-doanh (39) có 49 xã; huyện Ý-yên (40) có 36 xã. Phủ Thiên-trường (41) (xưa là Tức-mặc, triều Trần đổi làm Thiên-trường) có 4 huyện, 317 xã; huyện Giao-thủy (42) có 79 xã, 33 trang; huyện Nam-chân (43) có 109 xã, 6 thôn; huyện Mỹ-lộc (44) có 51 xã; huyện Thượng-nguyên (45) (xưa là Thượng-hiền) có 78 xã, (…) thôn, 1 trại. Phủ Kiến-xương (46) có 3 huyện, 162 xã: huyện Thư-trì (47) có 59 xã; huyện Chân-định (48) có 65 xã; huyện Vũ-tiên (49) có 38 xã.

    XXII

    Ở vùng ấy, đất thì đỏ, dính, màu mỡ cùng sắc xanh đen (1); ruộng thì vào hạng thượng thượng (2). Cả lộ nhiều vải nhỏ, Thanh-oai có lụa là. Huyện Kim-bảng có the. Huyện Nam-chân, huyện Chân-định có thuốc hút. Huyện Giao-thủy, huyện Thụy-anh, huyện Đại-an có muối. Xã Hoàng-mai, xã Bình-vọng có rượu sen, rượu cúc. Xã Quang-liệt có quả vải. Xã Thịnh-liệt có cá rô. Xã Đông-thai có rượu nếp. Các thứ ấy đều dâng tiến để tế lễ bốn mùa.

    Hoàng-mai, Quang-liệt, Thịnh-liệt, Đông-thai đều thuộc huyện Thanh-trì, Bình-vọng thuộc huyện Thượng-phúc, Hoàng-mai, Bình-vọng có rượu hoa. Quang-liệt có vải ngon hơn vải Trung-quốc; các triều đại đều bắt tiến cống để cung việc tế tự tứ thời.
    Lý thị nói: Đất vùng Sơn-nam bằng phẳng, cao ráo, cấy lúa thích hợp, nhân công làm lụng hơn các lộ khác. Các triều phí dụng nuôi quân đều lính đều nhờ ở vùng ấy.

  12. The Following User Says Thank You to oanhbao2008 For This Useful Post:

    kieuphong (19-01-2012)

  13. #7
    Tham gia ngày
    30-10-2010
    Bài gởi
    84
    Thanks
    3
    Thanked 69 Times in 38 Posts

    Default

    XXIII

    Thiên-đức (1), Vệ-linh (2) ở về Kinh-bắc (3).
    Thiên-đức là tên sông, xưa là Bắc-giang, thời Lý nhấc lên làm phủ (1). Vệ-linh là tên khác của núi Vũ-sơn (2), Đổng thiên vương (3) bay lên trời là ở nơi đấy. Kinh-bắc xưa là bộ Vũ-ninh (4); tây và nam giáp Thượng-kinh, Sơn-nam, đông và bắc giáp Thái-nguyên, Hải-dương. Đấy là trấn thứ tư trong 4 kinh trấn và là đứng đầu phên dậu phía Bắc. Có 4 lộ phủ, 21 thuộc huyện, 1.147 làng xã.
    Cẩn án – Phủ Từ-sơn (5) có 6 huyện, 400 xã: huyện Tiên-du (6) (xưa là quận Vũ-ninh) có 52 xã; huyện Đông-ngạn (7) có 88 xã, 1 châu; huyện Vũ-giàng (8) có 82 xã, huyện Quế-dương (9) có 45 xã; huyện Yên-phong (10) có 52 xã; huyện Thanh-thủy (11) có 28 xã. Phủ Thuận-an (12) có 5 huyện, 322 xã: huyện Gia-lâm (13) có 68 xã, 2 sở, 3 trại; huyện Siêu-loại (14) có 61 xã, 1 thôn; huyện Văn-giang (15) (xưa là Tế-giang) có 52 xã; huyện Gia-định (16) có 86 xã, 1 sở; huyện Lang-tài (17) có 74 xã. Phủ Bắc-hà (18) có 4 huyện, 148 xã: huyện Hiệp-hòa (19) có 22 xã, 2 trại; huyện Yên-việt (20) có 34 xã; huyện Kim-hoa (21) có 50 xã; huyện Tiên-phúc (22) có 42 xã. Phủ Lạng-giang (23) có 6 huyện, 340 xã: huyện Yên-dũng (24) có 88 xã, 2 trại; huyện Phượng-nhãn (25) có 67 xã; huyện Bảo-lộc (26) có 65 xã; huyện Yên-thế (27) có 47 xã; huyện Lục-ngạn (28) có 52 xã; huyện Cổ-lũng (29) có 24 sách. (Sách Tứ trấn ký nói: Phủ thì nhất Tam-đái, nhì Khoái-châu; huyện thì nam (30) có huyện Chân (định), bắc (31) có huyện (Yên) Dũng), tây (32) có huyện (Yên) Lạc, đông (33) có huyện (Tứ) Kỳ. Đấy đều là những chỗ phì nhiêu nhất).

    Nguyễn Thư-hiên nói: Người Tống nói rằng biển nước ta sinh châu, núi nước ta sản vàng. Người Nguyên nói rằng nước ta một tấc đất là một tấc vàng. Người Minh nói rằng nước ta ở về cuối Trung-quốc, đất thiêng người giỏi. Người Thanh nói rằng Tản-viên đại vương đi từ biển lên núi, Phù-đổng thiên vương (34) cưỡi ngựa bay lên trời, Chử đồng tử gậy nón lên trời (35), Từ Đạo-hạnh in dấu vào đá để đầu thai (36); ấy là bốn vị bất tử (Tứ bất tử) của nước An-nam.

    XXIV

    Ở vùng ấy, đất thì trắng, mềm; ruộng thì vào hàng thượng thượng (1). Làng Bát-tràng (2) làm đồ bát chén, làng Huê-cầu (3) nhuộm thâm; huyện Hữu-lũng có mía; huyện Yên-thế có tên, nỏ và vôi.
    Bát-tràng thuộc huyện Gia-lâm, Huê-cầu thuộc huyện Văn-giang. Hai làng ấy cung ứng đồ cống Trung-quốc là 70 bộ bát đĩa, 200 tấm vải thâm. Tên tẩm thuốc của huyện Yên-thế dùng vào việc chống giặc Bắc. Vôi dùng vào việc tạo tác.
    Lý thị nói: Người vùng Kinh-bắc hay oán giận hung tợn, dầu thời thái bình cũng thường ngang ngạnh. Thần trước làm chức hành khiển ở đạo ấy, tâu bày việc nơi biên cảnh, có xin tăng quân số phòng thủ (4).

    Phụ lục – Tên nỏ của Yên-thế, bắn trúng chỗ nào thì máu chảy vọt ra, một chốc thì người chết; bắn trúng cầm thú cũng thế.

  14. The Following User Says Thank You to oanhbao2008 For This Useful Post:

    kieuphong (19-01-2012)

  15. #8
    Tham gia ngày
    30-10-2010
    Bài gởi
    84
    Thanks
    3
    Thanked 69 Times in 38 Posts

    Default

    XXV

    Vân-cừ (1), Kim-tiêu (2), Phân-mao (3) ở về An-bang (4) (sau tránh húy đổi làm An-quảng).
    Vân-cừ là tên sông, tên khác của sông Bạch-đằng. Tiền Ngô vương bắt Hoằng Tháo, Hưng Đạo đại vương bắt Mã-nhi đều ở chỗ ấy. Phân-mao là tên núi. Kim-tiêu là cột đồng. Ở phía tây lộ phủ Hải-đông 300 dặm có dãy núi Phân-mao, ở nửa chừng dãy núi có cột đồng của Mã Viện dựng, lớn chừng 3 thước. Khoảng niên hiệu Nguyên-hòa (806-820) đời Đường, đô-hộ là Mã Thông (5) lại dựng cột đồng ở chỗ cũ đời Hán. An-bang xưa là bộ Ninh-hải; tây và nam tiếp với Hải-dương, đông và bắc giáp với Khâm-châu. Có 2 lộ phủ, 8 thuộc huyện, 6 châu, 302 làng xã, 44 trang. Đấy là phên dậu thứ hai ở phương đông vậy.
    Cẩn ánPhủ Hải-đông (6) có 3 huyện, 4 châu, 101 xã: huyện Hoa-phong (7) có 14 xã, 1 thôn; huyện Yên-hưng (8) có 25 xã, 1 thôn, 15 trang; châu Vân-đồn (9) (triều Lý là trang, thương nhân ngoại quốc ở đấy) có 10 trang, 1 phường; huyện Hoành-bồ (10) có 25 xã, 2 trang; châu Tân-an (11) có 16 xã, 1 thôn, 53 trang; châu Vạn-ninh (12) có 18 xã, 2 trang, 4 động; châu Vĩnh-an (13) có 3 xã. Phủ Dương-tuyền (14) có 5 huyện, 2 châu, 201 xã: huyện An-phố có 30 xã, (Minh mở đường thủy Vạn-ninh, Vĩnh-an, An-phố. Trương Phụ đặt đệ (quân thông tin liên lạc), thủy dịch (trạm đường thủy) thẳng đến Khâm-châu, lại đặt mã dịch (trạm chạy ngựa) từ Gia-lâm đến Hoành-châu(15)); huyện Hoành-cừ có 40 xã; huyện Vân-an có 68 xã; huyện Hoa-củ có 9 xã; huyện Yên-nhiêu có 6 xã; châu Như-tích có 67 xã, 4 động; châu Thiếp-lăng có 11 xã, 9 động.

    Lý thị nói: Vùng An-bang hiểm ác, gọi là viễn châu. Các triều đại đày người đến ở đấy.

    Phụ lục – An-quảng trước có 2 phủ, 8 huyện, 6 châu, 300 xã. Khi Mạc Đăng Dung cướp ngôi, nhà Lê sai quan là Trịnh Duy Liêu sang nhà Minh xin viện, Đăng Dung bèn đem bộ hạ đến Trấn-nam quan dâng biểu hàng, xin nội thuộc và nộp hai châu Như-tích và Thiếp-lăng lệ thuộc vào Khâm-châu. Đến đời thứ tư trung hưng, nguyên soái là Thanh-đô-vương giữ chính quyền trong nước, từ lâu ngầm sai sứ sang nhà Minh cầu phong, Minh phong cho làm Phó quốc-vương. Thanh-đô vương bèn đem dâng 5 huyện thuộc phủ Dương-tuyền. Nay tính đất còn lại chỉ có 1 phủ, 3 huyện, 4 châu, 101 xã. Đạo An-quảng bây giờ nhỏ hẹp, đáng tiếc thay! (16).
    XXVI

    Ở vùng ấy, đất thì đen, mềm; ruộng thì vào hàng hạ hạ (1). Bờ biển có trầm ngư cùng nhiều thứ. Ở Vạn-ninh và Vân-đồn, người Hợp-qua và người Trung-quốc đều tùy theo phương phục mà cống các thứ quý lạ (2).
    Trầm ngư là tên cây, mọc ở ven biển nước mặn, các loài cá lấy đuôi quẫy vào cây ấy, người vùng ấy lấy cây ấy về uống có thể trừ được lam chướng. Phương phục nghĩa là theo tục họ chứ không theo một lệ như nhau. Thời Lý, thuyền buôn các nước đến tụ tập trong vùng biển. Ở An-quảng, triều đình đặt ra hai châu Vân-đồn, Vạn-ninh sai tướng trấn phủ. Khách thương đến buôn bán, lớp này đến lớp khác, đem đồ dâng cống.

  16. #9
    Tham gia ngày
    30-10-2010
    Bài gởi
    84
    Thanks
    3
    Thanked 69 Times in 38 Posts

    Default

    XXVII

    Thao (1), Lịch (2) ở về Hưng-hóa (3).
    Thao là tên sông, Lịch là tên núi. Sông Thao là ngọn sông Hoàng-thủy (4) cũng 500 năm một lần nước trong. Hưng-hóa xưa là bộ Tân-hưng (5), ở thời Hán là Nam-trung. Mạnh Hoạch chống cự với Khổng Minh ở đấy (?) (6). Phía tây thông với Vân-nam, phía đông tiếp giáp Sơn-tây, phía bắc và phía nam tiếp giáp Tuyên, Nghệ (?) (7). Có 3 lộ phủ, 4 huyện, 17 châu, 31 làng xã, 155 động, 137 sách, 8 trang. Đấy là phên dậu thứ hai ở phương tây vậy.
    Cẩn ánPhủ Quy-hóa (8) có 3 huyện, 2 châu, 31 xã, 54 động: huyện Trấn-yên (9) có 27 xã, 7 trang, 2 động, 2 sách; huyện Yên-khâu (10) (cũng gọi là Yên-lập) có 2 xã, 1 trang, 1 động, 18 châu; huyện Văn-chấn (11) có 2 xã, 80 sách; châu Văn-bàn (12) có 40 động; châu Thủy-vĩ (13) có 11 động (tiếp với Vân-nam); Phủ Gia-hưng (14) (thời Hồ đổi làm Thiên-hưng, triều Lê lại theo tên cũ) có 1 huyện, 5 châu, 42 động: huyện Thanh-xuyên (15) có 1 thôn, 2 động, 34 sách; châu Phù-hoa (16) có 3 động; Mộc-châu (17) có 20 động, 3 sách; Việt-châu (18) có 3 động; Mai-châu (19) có 3 động; Thuận-châu (20) có 10 động. Phủ Yên-tây (21) có 10 châu, 30 động: Lai-châu (22) có 11 động; Luân-châu (23) có 10 động; châu Quỳnh-nhai (24) có 5 động; châu Chiêu-tấn (25) có 12 động; châu Cao-lăng có 4 động; Khiêm-châu có 3 động; châu Tuy-phụ có 3 động; châu Hoàng-nham có 4 động; châu Hợp-phì có 4 động; châu Lễ-toàn có 4 động. (Nguyễn thư-hiên nói: phủ Yên-tây (26) xưa là châu Ninh-viễn, sau đổi là Phục-lễ, bây giờ gọi là Yên-tây).
    XXVIII

    Ở vùng ấy, đất thì đỏ, dính, mầu mỡ; ruộng thì vào hạng thượng hạ (1). Gỗ thì dài, lớn. Sản nhung, quế, sa nhân, vải nhỏ sặc sỡ; ba loại kim, có thứ bạc mười thành, đồng, thiếc, chất dầu, quýt, hương liệu và mật ong cùng nhiều thứ. Châu Chiêu-tấn có chim anh vũ (chim vẹt) biết nói, tùy lúc tiến cống. Đại-lý (2), Lão-qua (3) có áo da. Đồ cống có lĩnh Tây-lăng, gấm vóc cùng thứ là sặc sỡ của Hồi-kê.

    Mai-châu là nơi sản ba loài kim và bạc mười thành, trong một ngày chỉ có giờ ngọ là lấy được, các thứ ấy so với ở các châu khác thì tốt hơn cả. Đại-lý, Lão-qua là tên nước, thuộc tỉnh Vân-nam, là đất nước Thục (4) ngày xưa. Hai nước ấy ở gần nước ta, thường đến triều cống. Hồi-kê là tên nước. Thời nhà Trần, Tống thường bị người Nguyên xâm lấn, người Tống có người đem 30 chiếc thuyền đến, phụ thuộc nước ta gọi là người nước Hồi-kê. Chim anh vũ biết nói là vật không mấy khi có được, hoặc khi nào người trong châu bắt được, thì mới đem cống.
    Lý thị nói: Tuyên, Hưng, Lạng, Thái, Cao-bằng là 5 lộ ở miền thượng du, hiểm trở đáng cậy, rắn rết ma quỷ thường làm tai quái cho người, thủy thổ độc dữ hay sinh bệnh tật cho người; thế mà nam tử phụ đạo vẫn không bỏ lễ phiên thần. Chính vì ở nơi rừng núi không thiếu vật gì mà thứ nhật dụng của dân gian chỉ thiếu có muối; không thế thì người Kinh-lộ không quen thủy thổ nơi ấy, há chẳng là điều trở ngại cho Trung-quốc (5) ư?

    Phụ lục – Thanh đô vương (Trịnh Tráng) sai sứ sang nhà Minh cầu phong, nhà Minh tùy tiện phong cho làm phó quốc vương. Đến lúc nhà Minh bị quân Thanh đánh thua, dời vể Long-châu, sai sứ sang đòi đất các châu thuộc đạo Hưng-hóa; Thanh đô vương xin nộp thuế 10 châu đạo Hưng-hóa, một nửa đất thuộc vào nội địa, Minh mới đặt làm huyện Kiến-thủy. Khi nhà Minh đã thua, nhà Thanh lại lấy đất ấy đến nay cũng không lấy lại được (6).

  17. The Following User Says Thank You to oanhbao2008 For This Useful Post:

    kieuphong (19-01-2012)

  18. #10
    Tham gia ngày
    30-10-2010
    Bài gởi
    84
    Thanks
    3
    Thanked 69 Times in 38 Posts

    Default

    XXIX

    Lê-hoa (1) cùng Lô (2) ở về Tuyên-quang (3).
    Lê-hoa là tên núi, nay gọi là Lê-hoa-quan. Khi [Lê] Thái-tổ khởi nghĩa, sai quan phòng ngự là Trần Ban sửa sang chỗ ấy. Sau chống cự chi binh của tướng Minh là Liễu Thăng ở đấy. Lô là tên sông lớn, phát nguyên tự Tam-giang (4) chạy đến Kiền-lộ (5) hợp với sông Thao, sông Đà. Tuyên-quang tức là đất Việt-tuấn (6) bộ Tân-hưng (7) ngày xưa; đông và bắc giáp Cao, Lạng, tây và nam giáp Sơn, Hưng. Có 1 lộ phủ, 1 thuộc huyện, 5 châu, 282 xã. Đấy là phên dậu thứ ba ở phương tây vậy.
    Cẩn ánPhủ Yên-bình (8) có 1 huyện, 5 châu, 282 xã; huyện Phúc-yên (9) có 73 xã; châu Thu-vật (10) có 55 xã; châu Lục-yên (11) có 40 xã; châu Đại-nam (12) có 34 xã; châu Vị-xuyên (13) có 60 xã; châu Bảo-lạc (14) có 20 xã.

    Lý thị nói: Châu Bảo-lạc ở Tuyên-quang xưa vốn là đất của nước ta, thời nội thuộc là đất của Trung-quốc. Đến triều Lý, Thần-tông (1067-1085) nhà Tống sợ nền cường thịnh của nước ta đã lấy Thuận-châu (16) trả lại ta, định lại bờ cõi lấy 6 huyện (17) Bảo-lạc ngoài ải cho ta (15). Phong tục lộ Tuyên đại để giống như người Trung-quốc, các triều đại đều cho là nơi hẻo lánh.
    Phụ lục - Ở Tuyên-quang có 4 đá thác gọi là đá “Trùng viên phu phụ” (thác vợ thác chồng) và đá “Tiên thiềm mẫu tử” (cóc mẹ cóc con). Có hai chỗ nước réo (hám thủy) gọi là “Hý tượng cảng” và “Tẩu mã cảng”. Đá đứng chéo nhau, đường sông sâu hiểm, sóng nổi cuồn cuộn, tiếng nước chảy réo nghe vang xa đến hơn nửa dặm; bè chở qua đấy, nếu chèo chống không khéo thì bị mắc vào trong hang đá. Khi Tĩnh vương (18) đi dẹp miền Tây, sai lính bắn bốn hòn đá ấy, đá đều đổ xuống sông. Vài ngày sau, đá “Tiên thiềm” lại nối đuôi nhau, đá “Trùng viên” lại đội nhau như cũ. Lính sợ lắm đem việc ấy nói với Tĩnh vương. Tĩnh vương sai giết bò làm lễ những đá ấy.
    XXX

    Ở vùng đất ấy, đất thì đen, màu mỡ; ruộng vào hạng hạ hạ (1). Thảo mộc dài to. Bảo-lạc sản vàng, bạc, sắt, thiếc. Lục-yên sản chì, đồng, diêm tiêu, mây. Phúc-yên sản vải thêu xanh và mật ong vàng. Thu-vật có trầm hương, nến hoa, diêm tiêu, dầu và răng voi là tốt. Long-vị (2) có thứ áo cỏ. Đồ tiến cống có tê ngưu và lừa.

    Người Thổ dệt vải vàng ánh, thêu xanh, trông rất đẹp. Mật ong vàng rất tinh khiết, vị rất ngọt, người Thổ dùng chữa chứng bụng giun. Nến hoa là thứ nến nấu với hoa, mùi rất thơm. Long-vị là tên châu, tức là nước Đại-nam bây giờ, ở vào khoảng giữa Quảng-tây của Minh và Bảo-lạc của ta (2). Phong tục họ cũng để tóc dài, búi ở trên đỉnh đầu, ăn mặc giống như người Lào. Thời Ngọa-triều (3), nước ấy thường vào cống, rồi sau sứ tín không đi lại nữa. Đến lúc Lê triều khởi nghĩa, thì lại quy thuận. Tê cũng là loài voi, sừng nó 60 năm lại mọc một lần. Lừa cũng là loài ngựa, quen mang kéo nặng, nhẹ thì không đi.

  19. The Following User Says Thank You to oanhbao2008 For This Useful Post:

    kieuphong (19-01-2012)

Trang 1/2 12 cuốicuối

Bookmarks

Quyền Sử Dụng Ở Diễn Ðàn

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •