Trang 1/4 123 ... cuốicuối
kết quả từ 1 tới 10 trên 40

Ðề tài: Đình Làng Việt Nam!

  1. #1
    Tham gia ngày
    25-02-2008
    Nơi Cư Ngụ
    Hải Dương phố
    Bài gởi
    3243
    Thanks
    190
    Thanked 186 Times in 158 Posts

    Post Đình Làng Việt Nam!

    Điêu khắc đình làng



    Đình làng, nhất là đình làng ở miền Bắc, là kho tàng hết sức phong phú của điêu khắc Việt Nam trong lịch sử. Điêu khắc cũng tồn tại ở chùa, đền, các kiến trúc tôn giáo khác, nhưng không ở đâu nó được biểu hiện hết mình như ở Đình. Điêu khắc ở đình làng không những là nguồn tài liệu để nghiên cứu lịch sử Mỹ thuật Việt Nam, mà còn là nguồn tài liệu để nghiên cứu đời sống ngày thường cũng như tâm hồn của người nông dân Việt Nam.

    Nói điêu khắc đình làng cũng là nói đến nghệ thuật trang trí đình làng. Điêu khắc ở đây là điêu khắc trang trí. Người thợ làm đình chẳng những thành thạo trong việc dựng đình mà còn biết tô điểm cho ngôi đình thêm đẹp. Điêu khắc ở đây do đó gắn liền với kiến trúc. Hầu như trên các thành phần của kiến trúc đình làng đều được các nghệ nhân xưa dùng bàn tay điêu luyện của mình chạm khắc thành những hình mẫu có giá trị nghệ thuật cao, thu hút sự chú ý của mọi người lúc ghé thăm đình.

    Ngay những ngôi đình từ thế kỷ XVI cho đến thế kỷ XVIII, điêu khắc trang trí đình làng mang đậm tính chất nghệ thuật dân gian. Những nhà điêu khắc vô danh xuất thân từ nông dân đã đưa vào đình làng những hình ảnh gần gũi với cuộc sống thực, hay là cả với giấc mơ của họ, với một phong cách hết sức độc đáo và một tâm hồn hết sức sôi nổi. Khác với những kiến trúc tôn giáo khác, ngay ở những vị trí tôn nghiêm của đình làng, ta cũng có thể gặp hình tượng những đôi trai gái đùa ghẹo nhau hay đang tình tự... Từ thế kỷ XIX, điêu khắc đình làng hầu như không còn những cảnh sinh hoạt dân gian. Từ đây chỉ còn những hình trang trí hoa lá và phổ biến là hình tứ linh (long, ly, quy, phượng). Trong các đình thế kỷ XIX, thường có những bức cửa võng trước điện thờ được chạm trổ khá công phu.

    Ở các ngôi đình miền Trung, điêu khắc trang trí không phong phú như các ngôi đình miền Bắc. Có người đã tổng kết về trang trí trên gỗ ở các ngôi đình vùng Thừa Thiên - Huế : "Trong kết cấu gỗ của nội thất tùy quan niệm thẩm mỹ mà dân làng có thể chạm trổ chi tiết đầu rồng, đuôi rồng ở đầu đuôi kèo, chạm hoa và đường chỉ xuyên tâm ở thanh xà và đòn tay. Việc chạm trổ nhiều, thích ứng với các đình có kết cấu vừa phải, thanh tú. Chạm trổ ít, thích ứng với các đình có kết cấu gỗ to lớn, đồ sộ...". Đây cũng là tính chất trang trí nói chung của ngôi đình miền Trung. Nhưng nếu điêu khắc trang trí tên gỗ có giảm sút thì ngược lại, ở các ngôi đình miền Trung lại phát triển hình thức trang trí bằng cách đắp nổi vôi vữa và gắn các mảnh sành sứ lên phần ngoài của kiến trúc. Thường thì ở nóc mái và các đường gờ mái, người ta trang trí hình tứ linh. Ơở hai đầu hồi thường được trang trí hình dơi xòe cánh bằng sành sứ để cầu phúc. Đây là cách trang trí phổ biến đời Nguyễn.

    Đình miền Nam cũng có lối trang trí đắp nổi mặt ngoài gần giống đình miền Trung, nhưng điêu khắc trang trí trên gỗ thì cũng có điểm khác biệt. Phần lớn chạm khắc gỗ này đã có từ giữa thế kỷ XIX. Bốn cột đình thường được trang trí hình rồng, nên gọi là "long trụ". Nhiều nơi, long trụ chạm rời bên ngoài ốp vào, nhưng cũng có nơi long trụ được trổ một khối nguyên... Ngoài những cột long trụ đình Nam Bộ thường có các bao lam trước điện thờ, như cửa võng trong các đình miền Bắc, được chạm trổ rất tinh vi, đề tài thường là tứ linh, cá hóa long, rồng, hổ...

    Như vậy, điêu khắc trang trí, cùng với kiến trúc đã làm cho đình có những nét riêng trên chiều dài của đất nước.


    (- Theo Bộ VHTT -)
    Hidden Content Hãy làm việc hết mình, những điều tốt đẹp sẽ đến với bạn !Hidden Content
    Hidden Content Hidden Content
    Hidden Content
    Hidden Content Hidden Content
    Hidden Content Hidden Content

  2. The Following User Says Thank You to pt1506 For This Useful Post:

    HanBangCongChua (03-04-2009)

  3. #2
    Tham gia ngày
    25-02-2008
    Nơi Cư Ngụ
    Hải Dương phố
    Bài gởi
    3243
    Thanks
    190
    Thanked 186 Times in 158 Posts

    Post Một số ngôi đình Việt Nam

    I/ Ở Hà Tây:
    1. Đình Tây Đằng


    Đình Tây Đằng ở Kẻ Đằng, phủ Quảng Oai, tỉnh Sơn Tây cũ, nay là xã Tây Đằng, thị trấn Ba Vì, tỉnh Hà Tây.
    Đình Tây Đằng được khởi dựng từ năm nào, đến nay chưa khẳng định được, dựa theo phong cách kiến trúc và điêu khắc, ngôi đình này gần như bảo tồn khá nguyên vẹn phong cách thế kỷ XVI. Trên một đầu khung cột có dòng chữ "Quý Mùi niên tạo" (làm năm Quý Mùi), nên nhiều người phỏng đoán là đình dựng năm 1583.

    Đình có một ngôi nhà lớn hình chữ nhật và hai nhà tả mạc, hữu mạc ở hai bên phía trước đình.

    Đình gồm ba gian chính, hai gian chái với 48 cột lớn nhỏ : 8 hàng ngang và 6 hàng dọc, có hàng hiên bao quanh, không có tường che. Đình lợp ngói ta, các đầu đao đều uốn cong và gắn long, ly, quy, phượng bằng đất nung già. Đình dựng kiểu chồng rường. Ơở đình Tây Đằng, hầu như không có mảng trống nào trên gỗ là không có chạm khắc trang trí. Rồng uốn khúc có sừng và tai giống thú bốn chân, có dáng dấp rồng thời Trần. Hình chim phượng múa, cánh xòe cả hai bên, đầu to cổ mập, mỏ ngắn, đuôi ngắn; hình voi lồng hình hoa lá, gồm hoa cúc, xen với hoa phù dung. Nổi bật là hình chạm trổ miêu tả cảnh lao động vui chơi của người xưa trên các bức cốn và các ván nong : cảnh chặt củi, mẹ gánh con, bơi thuyền và cảnh làm trò trồng cây chuối, trai gái chải tóc cho nhau, cảnh chuốc rượu..., thật sống động, tinh tế... Đáng tiếc là các tượng này hiện nay đã hư hỏng, mất mát nhiều...

    Đình thờ thần núi Tản Viên - Sơn Tinh.



    2. Đình Hạ Hiệp

    Đình Hạ Hiệp, còn gọi là đình Liên Hiệp hoặc đình Kẻ Hiệp, ở thôn Hạ Hiệp, xã Liên Hiệp, huyện Phúc Thọ, tỉnh Hà Tây. Theo quốc lộ 11A từ Hà Nội đi Sơn Tây, đến km số 25 rẽ trái vào Hiệp Thuận, đi 2km đến xã Liên Hiệp rồi vào thôn Hạ Hiệp.
    Đình có kiến trúc hình chữ "đinh", mặt quay về hướng tây nam. Phía trước là hồ bán nguyệt, tiếp đến là tam quan, tả vu, hữu vu, tiền tế, đại đình và hậu cung.

    Tam quan gồm hai trụ lớn hình vuông, đỉnh trụ có tượng chim phượng gắn mảnh sứ.

    Tiền tế kiến trúc kiểu chồng diêm hai mái, gồm ba gian, hai chái, bốn hàng cột vuông, hai hàng giữa bằng gỗ, hai hàng bên bằng đá.

    Đại đình gồm ba gian, hai chái, có sáu hàng cột. Chân cột có những lỗ mộng của rầm sàn, nay không còn, nền được lát gạch Bát Tràng.

    Hai góc bờ mái tiền tế gắn tượng nghê, một con bằng đất nung có niên đại cuối thế kỷ XVII và một con bằng vữa có gắn mảnh sứ. Bờ dải gắn gạch hộp hoa chanh, bốn phía cũng có tượng nghê.

    Trên xà nách của nhà tiền tế chạm trổ hoa lá, rồng, long mã. Ơở cốn nách trang trí long, ly, quy, phượng, văn cỏ cây, văn hình học. Tòa tiền tế có niên đại khoảng giữa thế kỷ XIX.

    Trên bờ nóc đại đình, hai đầu có hai con kìm bằng vữa ghép sứ.

    Đầu và thân bẩy, kẻ, cốn đều có chạm hình rồng. Cốn bẩy có chạm trổ cảnh đấu vật, cảnh những người đang nhảy múc, người uống rượu, người cưỡi ngựa, người dắt ngựa, người múa, người đánh trống, người bế con... Trên kẻ có hình người đi săn lợn và hổ, phần trên là hình rồng, cây cỏ, nghê chầu, cảnh đánh cờ, chọi trâu... Tiên nữ cưỡi rồng, đàn ông cưỡi nghê.

    Đình thờ thần thành hoàng là Hoàng Đạo, người đã có công giúp Hai Bà Trưng. Hội làng hằng năm vào ngày 12 tháng 3 âm lịch.





    3. Đình Quang Húc

    Đình Quang Húc, còn gọi là Đình Bôm (vì làng Quang Húc có tên là Kẻ Bôm), ở xã Đông Quang, huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây. Đình được xây dựng vào khoảng thế kỷ XVII - XVIII. Cách thủ đô Hà Nội khoảng 50km về phía tây bắc.
    Đình nằm trên một khu đất rộng trong khu cư trú của làng, theo hướng đông bắc, trước đình có hệ thống tường bao.

    Cổng tam quan ở phía trước đại đình, gồm các cột biểu và tường lửng xây bằng gạch. Đỉnh cột gắn hình bốn con chim chụm đuôi vào nhau. Dưới hình phượng là bốn đầu rồng hướng ra các cột. Thân rồng uốn lượn qua các trụ biểu. Bốn ô lồng phía dưới đắp nổi hình tứ linh (long, ly, quy, phượng), thân các con vật đều được gắn mảnh gốm sứ trắng vẽ lam. Đỉnh hai cột ngoài gắn tượng lân.

    Qua sân rộng chừng 5m là tòa đại đình, dài 24m, rộng 18m, độ cao từ nền đến diềm mái là 1,8m. Mái lợp ngói mũi hài, mũi ngói có hình hổ cách điệu. Bốn đầu đao cong vút, trên bờ có gắn hình lân đắp nổi hướng về nóc mái. Mỗi vì kèo có sáu hàng cột có chu vi 2,5m, kết cấu theo kiểu chồng rường giá chiêng và kẻ hiên. Bốn vì kèo đã tạo nên tòa đại đình năm gian (ba gian chính và hai gian chái). Nền đình không lát gạch, vì trước đây có hệ thống sàn gỗ, dấu vết là hệ thống mộng rầm trên thân cột. Các khoảng trống trên vì kèo đều bưng ván có chạm khắc hoa văn.

    Hậu cung được bố trí ở nửa sau gian giữa đại đình bằng ván sàn cao 1,8m so với mặt nền. Hai mặt bên cung ghép ván, mặt trước mở ba cửa, cánh cửa bức bàn. Trên là tấm ván lớn hình chữ nhật, được chạm trổ hình rồng, hổ phù, phượng, hoa, lá, trong các ô hình chữ nhật. Phần trên các cánh cửa chạm đôi rồng chầu mặt trời lửa, dưới là các hoa dây chạm thủng, dưới cùng là hình hoa bốn cánh. Các mảng chạm trên vì kèo là hình cây lá, rồng, tứ linh, long mã chầu hoa cúc, rồng ổ, nghê, hươu, chuột, voi, hổ, khỉ... Đầu kèo xó phía bên phải mái trước chạm hai đầu rồng chồng nhau.

    Trong đình còn có long ngai, hương án được chạm trổ tinh vi, sơn son thiếp vàng lộng lẫy.

    Đình thờ thành hoàng là Tản Viên Sơn thánh.





    4. Đình So, còn gọi là đình Sơn Lộ, ở thôn Cộng Hòa, xã Cộng Hòa, huyện Quốc Oai, tỉnh Hà Tây.
    Theo Sơn Tây địa chí của Phạm Xuân Độ thì đình So được dựng năm Dương Đức thứ 2 (1673) đời Lê Gia Tông. Đình So đã qua bốn lần tu sửa (vào các năm 1743, 1924, 1928 và 1953). Đình có kiến trúc kiểu "nội công ngoại quốc".

    Tam quan hai tầng, bốn mái, ba gian, trên bờ nóc gắn tượng "lưỡng long triều nguyệt", đầu đao bốn góc uốn cong, bên bệ đá trước tam quan có hai con rồng đá hóa mây kiểu đầu rồng đuôi tôm. Hai bên nhà tam quan có hai cổng ra vào tả mạc, hữu mạc.

    Hai bên đình có mười ba gian tả mạc và hữu mạc; phía trong là nhà tảo mạc, bên phải nhà tảo mạc là một ngôi nhà sáu gian để làm cỗ bàn khi có hội.

    Đình có bảy gian, hai chái, bốn mái rộng lợp ngói, bờ nóc gắn bằng hai hàng gạch hộp rỗng hoa chanh, bốn đầu đao gắn tượng nghê bằng đất nung. Có 32 cột gỗ lim lớn và 16 cột nhỏ, xếp thành sáu hàng dọc và tám hàng ngang, hiên có bờ tường thấp. Bốn đầu đao có bốn cột gạch vuông đỡ. Xung quanh không có tường, mà là các cánh cửa bức bàn có chấn song con tiện; có sàn bằng gỗ lim. Các vì kèo làm theo kiểu kết cấu giá chiêng, các đầu kẻ, đấu, đầu dư, ván nong đều chạm trổ hoa văn rồng, mây, ly, nghê, hoa, lá rất sống động. Cửa võng được chạm trổ tinh tế, sơn son thiếp vàng lộng lẫy, trên có đề bốn chữ Hán lớn "Vạn cổ anh linh" cùng nhiều câu đối viết bằng chữ Hán. Bộ đồ thờ còn lưu giữ đầy đủ.

    Phía trước tam quan có sân cỏ rộng và hồ lớn 3 hécta.

    Đình thờ ba anh em ông Cao Hiển Hồ, theo truyền thuyết, ba ông là vị tướng thời Đinh Tiên Hoàng đã tham gia đánh quân Ngô và Thập nhị sứ quân.






    5. Đình Chu Quyến, còn có tên là đình Chàng, ở làng Chu Quyến, xã Chu Minh, huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây.
    Đình lớn nhất xứ Đoài, có ba gian chính và hai gian phụ, dài 30m, bố cục hình chữ nhật. Có tám hàng cột dọc và sáu hàng cột ngang. Bốn cột cái ở gian giữa có chu vi 2m, kê trên bốn viên đá tảng vuông mỗi cạnh 1m. Bốn cột bên có bốn bức tượng gỗ, một người cưỡi hổ, một người cưỡi voi, một người cưỡi ngựa và một người cưỡi con công.

    Các vì kèo có cấu trúc theo lối chồng rường, thượng thu hạ cách. Mái lợp ngói ta, bờ nóc có gắn hai hàng gạch, trong đó có một hàng gạch hộp có hoa, các đầu đao uốn cong tạo nên dáng thanh thoát, không nặng nề, trên bờ đầu đao có gắn tượng rồng và dây cuốn. Không có tường vách, trong đình có sàn gỗ chia thành ba tầng cao thấp để phân ngôi thứ trong làng thời xưa.

    Gian chính giữa là gian thờ, có cửa võng chạm trổ tinh vi hình hoa, lá, rồng, phượng, trên có ván lát trần.

    Điêu khắc đình Chu Quyến gồm nhiều tượng tròn và hoạt cảnh kéo dài, tuy không lớn. Các tượng chim, phượng, người cưỡi báo cao từ 0,6m đến 0,9m, gắn trên các giá đỡ ở cột là các tác phẩm độc lập và hoàn thiện. Trên các xà cốn, ván nong, cửa võng, bàn thờ và tám cánh cửa đều có chạm trổ hoa văn rồng phượng chầu mặt nguyệt, rồng vờn châu ngọc, rồng và người, rồng và hổ, hình chim phượng mẹ và đàn phượng con quấn quýt bên nhau. Cảnh sinh hoạt của con người gồm có cảnh người dắt voi đứng hầu, người uống rượu, cảnh nộp gà cho quan trên, cảnh gảy đàn, hát múa chọi gà, xen kẽ với hình hoa, lá, mây... Chung quanh đình, xây tường thấp bằng mặt sàn, có trổ các ô hình chữ nhật đứng, đỡ hàng lan can bằng gỗ.

    Đình thờ Nhã Lang, con trai đầu của Lý Phật Tử và bà thứ phi Lã Thị Ngọc Thanh, mẹ của Nhã Lang.

    Chưa rõ niên đại xây dựng, đã qua nhiều lần trùng tu. Theo các chữ ghi trên xà có các niên đại sau : "Lý triều Nhân Tông nguyên niên tạo" (Năm thứ nhất đời Nhân Tông triều Lý dựng), "Bảo Đại thập niên trùng tu" (Trùng tu năm Bảo Đại thứ 10). Trên bia đá trong đình cũng ghi : "Ngày 18 tháng 3 năm Âởt Hợi, niên hiệu Bảo Đại thứ 10 (1935) trùng tu". Theo phong cách điêu khắc của đình, có thể đoán rằng đình được dựng vào thế kỷ XVII.






    6. Đình Yên Sở ở làng Yên Sở, xã Yên Sở, huyện Hoài Đức, tỉnh Hà Tây. Làng Yên Sở xưa gọi là làng Cổ Sở, còn có tên Nôm là làng Giá Lụa, vì vậy đình còn gọi là đình Giá. Người Yên Sở quen gọi là Quán Giá.
    Về niên đại xây dựng đình, Giáo sư Nguyễn Văn Huyên viết : "... Theo truyền thuyết, thì lần xây dựng đầu tiên vào thời gian Lý Thái Tổ nằm mộng (1010 - 1026), Trần Thái Tông (1225 - 1257) đã ra lệnh mở rộng ngôi đình. Những phần gia công khác được nêu trên tấm bia năm 1663. Ngoài ra, chúng tôi còn có thể biết một vài chỗ xây dựng lại gần đây hơn, trong một bản gia phả tìm được ở Yên Sở. Năm Cảnh Trị thứ 5 (1668), người ta xây những tòa nhà mới. Năm thứ 4 thời Dương Đức (1672 - 1673), xây hai hành lang và cổng tam quan. Năm Chính Hòa thứ 2 (1682), khắc những tấm bia mới, xây thêm cho đình các bậc đá và năm cửa của tam quan...".

    Năm 1947, di tích này đã bị quân Pháp đốt phá, chỉ còn hai tam quan, hai bức tường và hậu cung. Nhân dân địa phương đã tu tạo nhiều lần, lần cuối vào năm 1990 dựa theo các hình vẽ, ảnh... trong công trình nghiên cứu Góp phần nghiên cứu một vị thành hoàng Việt Nam : Lý Phục Man của Giáo sư Nguyễn Văn Huyên.

    Đình có ba cái sân với ba hàng cửa chính. Vách tường chia ranh giới các sân. Tường thứ hai ngăn sân thứ hai với sân chính được trang trí bằng những viên gạch đỏ chạm trổ. Tường phía đông có 23 viên gạch, gờ tường phía tây có 26 viên gạch. Tất cả các viên gạch đó đều dài 0,26m, bề rộng từ 0,23m đến 0,35m, trang trí phù điêu các hoa văn hình rồng, ngựa, voi, hươu, vượn, ly, quy, phượng, mặt trời... Đặc biệt có hoa văn miêu tả cảnh sinh hoạt của con người như người gánh củi, người chèo thuyền đánh cá, người chơi cờ, học trò ngồi nghe giảng bài, phụ nữ tắm ở ao sen... rất sinh động.

    Hai dãy hành lang dài gồm nhiều gian, với bốn hàng cột theo chiều dọc, kết cấu các vì kèo theo kiểu giá chiêng. Trên các đầu kèo, đấu, trụ, ở vì kèo giáp tường hồi có chạm khắc hình mây, chim phượng, hình hoa quả.

    Tại nhà bia, còn bảo tồn được năm tấm bia mang niên đại Vĩnh Tộ thứ 2 (1620), Cảnh Trị thứ 8 (1670), Bảo Thái thứ 9 (1728), Gia Long thứ 2 (1803) và Tự Đức thứ 8 (1855).

    Trong đình còn lưu giữ nhiều đồ tế tự. Gian chính trong đình có bức hoành phi đề "Vạn cổ thiên thành", có hai lọng, đồ bát bửu và hai con hạc đứng trên lưng rùa.

    Đình thờ Phạm Tu hay Lý Phục Man, người làng Cổ Sở, một tướng của Lý Nam Đế (541 - 548).

    Lễ hội hằng năm được tổ chức vào ngày mồng 10 tháng 3 âm lịch.
    Hidden Content Hãy làm việc hết mình, những điều tốt đẹp sẽ đến với bạn !Hidden Content
    Hidden Content Hidden Content
    Hidden Content
    Hidden Content Hidden Content
    Hidden Content Hidden Content

  4. The Following User Says Thank You to pt1506 For This Useful Post:

    HanBangCongChua (03-04-2009)

  5. #3
    Tham gia ngày
    25-02-2008
    Nơi Cư Ngụ
    Hải Dương phố
    Bài gởi
    3243
    Thanks
    190
    Thanked 186 Times in 158 Posts

    Post

    II/ Ở Bắc Giang:





    1. Đình Lỗ Hạnh ở thôn Lỗ, xã Đông Lỗ, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang. Đình được dựng vào thời Mạc, năm Sùng Khang thứ 11 (1576). Đình Lỗ Hạnh đã qua nhiều lần tu sửa vào các năm 1694, 1850, và năm 1910 xây thêm hậu cung bằng cách cắt mái giữa, tạo nên mặt bằng hình chữ "đinh" và hai dãy tả vu, hữu vu. Đây là ngôi đình có niên đại sớm nhất hiện biết.
    Đại đình có bố cục mặt bằng hình chữ nhật, gồm ba gian hai chái, dài 23,5m, rộng 12,5m. Vì kèo có bốn hàng cột chính và hai hàng cột hiên đỡ dưới các bẩy và kết cấu theo lối chồng rường. Cái vì nóc làm theo kiểu trụ đấu giá chiêng rất ngắn. Tấm bưng của rốn nhện vẫn còn nguyên. Trên câu đầu có xà gỗ áp sát như một rường chạy suốt. Trên các cột còn các lỗ mộng, vết tích để lắp rầm lát sàn gỗ.

    Các thanh rường, xà, ván nong, cốn, đều có chạm trổ tinh vi hình rồng, phượng, hoa lá, mây, thú, cá hóa rồng.

    Hình chim phượng chạm rất to, đuôi xòe và đứng lẫn trong các đám mây, hình hổ đang nằm, hình hươu đứng trong mây, hoặc cưỡi trên lưng là một tiên nữ đang đánh đàn. Ngoài ra còn có hoa văn mây lửa, hoa cúc, với nhiều bố cục sống động.

    Đặc biệt có hai cốn thuộc gian chái bên trái có dòng chữ ghi niên đại xây dựng đình có thể đọ là : "Sùng Khang thập nhất niên lục nguyệt thất nhật tạo" (Ngày mồng bảy, tháng sáu, niên hiệu Sùng Khang thứ 1 tạo dựng) và gian chái bên phải ghi : "Tuế thứ Bính Tý mạnh xuân tạo" (Tháng giêng năm Bính Tý tạo).

    Trong hậu cung có hai bức tranh sơn khổ 2,23m x 1m, vẽ bốn tố nữ đẹp đang đánh đàn.

    Đình thờ thành hoàng là Cao Sơn Đại vương, người có công giúp vua Hùng đánh giặc. Đình còn thờ Phượng Duy Công chúa (Bà Chúa Tiên), người đã dạy dân địa phương trồng bầu.




    2./ Đình Thổ Hà ở làng Thổ Hà, xã Vân Hà, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang.
    Làng Thổ Hà ở ven Sông Cầu, nổi tiếng cả nước với nghề làm đồ gốm. Khu vực đình ở giữa làng, trên khu đất diện tích khoảng 3.000m2, bên sông Cầu, trông ra bến Vạn.

    Đình dựng vào năm Chính Hòa thứ 13, đời Lê Hy Tông (1692). Bia "Thủy tạo đình miếu bi" dựng năm 1698 đã ghi lại chi tiết quá trình xây dựng đình.

    Trước nhà tiền tế có hai nhà tả vu và hữu vu. Nhà tiền tế gồm ba gian chính, hai gian phụ, kiến trúc đơn giản do mới được sửa chữa; phía sau là tòa bái đường bảy gian, ống muống và hậu cung ba gian, tạo nên kết cấu hình chữ "công" với diện tích 500m2.

    Tòa bái đường có năm gian chính, hai gian phụ bề thế, bốn mái rộng, lợp ngói mũi hài, bờ nóc và bờ dải gắn chồng lên nhau bằng gạch hộp rỗng, có hình hoa chanh và rồng xen kẽ chạy suốt, đầu bờ nóc uốn cong, gắn "rồng phục cuốn nước" và tượng nghê bằng đất nung già. Đình có tám hàng cột dọc, sáu hàng cột ngang bằng gỗ lim kê trên 48 tảng đá xanh, cột cái giữa phủ sơn màu đỏ, dày, vẽ rồng mây; bốn mặt bái đường bưng chấn song gỗ gối lên tường gạch xây thấp có trổ ô thủng hình chữ "ngũ" ( ), nền bái đường cao 0,5m, có ba bậc bó bằng đá tảng xanh. Bái đường xây theo kiểu chồng rường, giữa ba hàng xà kép thượng, trung, hạ, có ván nong, các kẻ hình cung hạ thấp dần theo mái. Các con chồng, đầu kẻ, xà, đầu dư, ván nong, đầu bẩy, kẻ... đều được chạm trổ rồng, phượng, lân, ly, hươu, ngựa, hổ, báo trong các tư thế sống động. Về đề tài con người, có hình các vũ nữ nở nang, cân đối, uyển chuyển trong các tư thế múa hoặc cưỡi trên mình các con rồng, phượng; hình tượng nam giới cũng trong tư thế múa, nhưng không cân đối.

    Bộ cửa võng được chạm trổ tinh vi, sơn son thiếp vàng lộng lẫy.





    3. Đình Phù Lão ở làng Phù Lão, xã Đào Mỹ, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang. Đình được xây dựng vào thế kỷ XVII, hậu cung mới được xây dựng lại và được trùng tu nhiều lần. Đình quay mặt về làng.
    Trước cửa đình có một ao rộng hình nửa bầu dục, sân đình rộng, bằng phẳng.

    Nhà tiền tế mới được xây dựng gồm ba gian nhỏ, phía sân sau tiền tế có một tấm bia bốn mặt, dựng năm Chính Hòa thứ 15 (1694), do tiến sĩ họ Hoàng soạn, nói về công lao đóng góp xây đình của bà Đào Thị Hiền.

    Đình có bốn tàu mái cao, rộng, mái được lợp bằng ngói mũi bài.

    Tòa đại đình gồm bảy gian, dài 23m, rộng 12m, với 8 vì kèo 6 hàng cột, 48 cột. Các vì kèo kết cấu theo lối chồng rường giá chiêng, kết hợp kẻ moi ở bốn góc. Bốn cột giữa có bốn bức cốn chạy dài gần cả gian tạo nên bốn mảng trang trí lớn.

    Bốn mặt đình còn dấu vết lát ván và có cửa bức bàn bao quanh; các gian đều có sàn. Trừ cột, rui và hoành, các cấu kiện kiến trúc gỗ khác như đầu dư, cốn, ván nong, kẻ, đấu trụ... đều được chạm trổ nhiều hình phản ánh các mặt sinh hoạt làng xã.

    Các bẩy đều trang trí hình rồng, nhưng bẩy ở gian giữa có chạm nhiều cảnh sinh hoạt dân gian, có những cảnh mà các nhà nghiên cứu chưa thể đoán ra được. Có cảnh múa hát của nam và nữ hoặc biểu diễn xiếc. Có hình người cưỡi rồng, hình người múa võ. Trên ván ở đầu bẩy, có chạm hình thiếu nữ không có xiêm y trên râu rồng, làn tóc dài uốn từ sau lên trước, cảnh trai gái tỏ tình, âu yếm, cảnh ổ rồng có rồng mẹ và các rồng con, thể hiện một cách chân thực sinh động.

    Đình thờ thành hoàng Cao Sơn - Quý Minh và hai vợ chồng người có công dựng đình.

    Lễ hội hằng năm vào ngày 14, 15 tháng 8 âm lịch.
    Hidden Content Hãy làm việc hết mình, những điều tốt đẹp sẽ đến với bạn !Hidden Content
    Hidden Content Hidden Content
    Hidden Content
    Hidden Content Hidden Content
    Hidden Content Hidden Content

  6. The Following User Says Thank You to pt1506 For This Useful Post:

    HanBangCongChua (03-04-2009)

  7. #4
    Tham gia ngày
    25-02-2008
    Nơi Cư Ngụ
    Hải Dương phố
    Bài gởi
    3243
    Thanks
    190
    Thanked 186 Times in 158 Posts

    Post


    III/ Ở Bắc Ninh:

    1. Đình Phù Lưu nằm trong cụm di tích làng Phù Lưu, gồm đình, đền, chùa, trên trục đường chính của làng Phù Lưu, xã Tân Hồng, huyện Tiên Sơn, tỉnh Bắc Ninh.
    Đình có diện tích 426,7m2, được xây dựng vào cuối thế kỷ XVI; đến cuối thế kỷ XVIII, đình được mở rộng và tu sửa lại.

    Đình có cấu trúc kiểu chữ "đinh". Đại đình gồm bảy gian, hai chái, hai dĩ. Gian giữa rộng 4m, sáu gian bên mỗi gian rộng 3,65m, hai gian chái mỗi gian rộng 1,5m, hai dĩ mỗi dĩ rộng 1,1m.

    Kết cấu gồm sáu vì gồm 70 cột lớn nhỏ.

    Mái lợp ngói mũi hài, bờ dải gắn gạch hộp hoa chanh, bốn đầu đao uốn cong thanh thoát.

    Hầu hết các đầu dư, cốn, ván nong, cửa võng... đều được chạm trổ. Đặc biệt, trên ván nong chạm nổi hình rồng chầu mặt nguyệt, trên lưng có hình tiên nữ cánh phượng, hình người đánh đàn, hình tiên nữ ngồi trên đầu nghê ở trụ cốn, hình đoàn người đang đua thuyền, cảnh đấu vật trong ngày hội. Các mảng chạm khắc đều có niên đại khoảng thế kỷ XVII.

    Bức cửa võng chạm đôi rồng chầu mặt nguyệt, dưới có năm chữ Hán : "Thánh cung vạn vạn tuế". Hai riềm ở hai cột cũng là đôi rồng, đầu chúc xuống dưới. Phần dưới cũng là đôi rồng chầu mặt nguyệt, có xen hoa lá và chim muông.

    Đình thờ Đức Thánh Tam Giang tức Trương Hống, Trương Hát. Đình còn thờ ông Lê Trần Cổ, người khởi dựng đình.





    2. Đình Diềm, còn gọi là đình Viêm Xá, ở làng Viêm Xá, có tên Nôm là làng Diềm, xã Hòa Long, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh. Cách thị xã Bắc Ninh khoảng 4km.
    Đình Diềm nằm ngay ở đầu làng, mặt nhìn ra đường cái quan, được xây dựng vào năm Nhâm Thân, niên hiệu Chính Hòa thứ 2 đời Lê Hy Tông (1692). Đã được trùng tu nhiều lần.

    Đình kiến trúc theo kiểu chữ công ( ), gồm tòa đại bái năm gian (trước vốn có bảy gian, vết tích là thềm đá bó hè dài 24,7m), ngang dọc mỗi chiều sáu hàng cột, dài 17,5m, rộng 14,9m, chuôi vồ và hậu cung dài 6,8m, rộng 9,4m.

    Gian giữa lát đá xanh, các gian khác còn dấu vết sàn cao 0,7m là những lỗ mộng lắp rầm. Hậu cung còn sàn.

    Tòa đại đình có mái lợp ngói ta. Bờ nóc đắp hai hàng gạch, trên có gắn hình đôi rồng uốn khúc chầu mặt trời lửa. Rồng có thân dài, uốn khúc thấp dần ra hai đầu nóc, bờ đầu đao có gắn tượng nghê quay về phía nóc đình.

    Bốn cột cái cao có chu vi 2,24m. Bốn đầu dư đỡ hai câu đầu có chạm hình rồng, các kết cấu khung gỗ khác không trang trí.

    Trong tòa đại đình, nổi bật nhất là tấm cửa võng lớn, thiết kế theo kiểu hình hộp lồng vào nhau, chạm trổ tỉ mỉ, sinh động với nhiều tầng, nhiều lớp hoa văn rồng, phượng, voi, ngựa, chim, thú, hoa, lá, mây... Đặc biệt trên tấm cửa võng chạm nổi khá nhiều hình thiếu nữ, có những thiếu nữ đang cưỡi rồng trong nhiều tư thế khác nhau với những khuôn mặt trái xoan, cổ cao, miệng cười tươi..., tay vén tóc, tay vin cành tre rất sinh động, tất cả đều được sơn son thiếp vàng rực rỡ.

    Nhang án đặt trước cửa cấm cũng được chạm trổ hình thiếu nữ cưỡi rồng đang múa quạt.

    Trong đình còn đôi phỗng gỗ (thường gọi là phỗng Chàm) mặc váy, cởi trần, bụng lồi, ngực lép, khuôn mặt dài...

    Đình thờ Trương Hống, Trương Hát, là tướng đã có công đánh quân xâm lược Trần Bá Tiên nhà Lương.

    Lễ hội hàng năm được tổ chức vào tháng giêng âm lịch.



    3. Đình Đình Bảng ở làng Đình Bảng, xã Đình Bảng, huyện Tiên Sơn, tỉnh Bắc Ninh.
    Đình do ông Nguyễn Thạc Lượng, trấn thủ Thanh Hóa, khi cáo quan về làng đứng ra tạo dựng, khởi công từ năm Bính Thìn, niên hiệu Vĩnh Hựu đời vua Lê Yý Tông (1736), sau hàng chục năm mới hoàn thành (có tài liệu ghi là từ 1700 - 1736).

    Đình hình chữ "công", khi người ta làm thêm gian nối hậu cung với tòa bái đường (đại đình).

    Tòa bái đường dài 20m, rộng 14m, gồm bảy gian chính, hai gian phụ, trên nền cao có bậc thềm bó đá tảng xanh, từ nền lên tới bờ nóc cao 8m. Bốn mái đình lợp ngói mũi hài lớn, vươn ra trùm lên hè, che mưa gió. Mái rộng chiếm hai phần ba chiều cao, nhưng trông vẫn thanh thoát vì các đầu đao uốn cong. Đỡ bộ mái là sáu hàng cột ngang và mười hàng cột dọc, đường kính cột lớn 0,65m, cột nhỏ 0,55m, bằng gỗ lim kê trên các tảng đá xanh, và bộ khung bằng gỗ lim được chạm trổ tinh vi như rồng, phượng, tùng, mai, trúc, bầu rượu, thanh gươm. Rồng chiếm một số lượng lớn, khoảng hơn 500 hình.

    Bốn mặt bái đường đều lắp khung lùa, cánh cửa bức bàn. Gian giữa bái đường lát gạch lá nem, các gian bên là sàn gỗ cao hơn nền gian giữa 0,70m.

    Bức cửa võng và tấm trần che ở gian giữa chạm trổ tinh vi với các hình chữ triện, chữ công, hoa lá, tứ linh, tứ quý, bát bửu, nổi bật là bức chạm nổi "Bát mã quần phi" trên ván nong, phía dưới bao lơn của hàng cột cái và cột con, với các dáng điệu rất sống động như : ngựa phi, ngựa nô giỡn, cọ lưng, liếm chân, gặm cỏ, uống nước..., mây bay, sóng lượn nhấp nhô..., những hình chim phượng, nghê, hươu...

    Đình thờ các vị thành hoàng : Cao Sơn Đại vương (thần Núi), Thủy Bá Đại vương (thần Nước) và Bách Lệ Đại vương (thần Đất) và thờ sáu vị có công lập lại làng vào thế kỷ XV.

    Lễ hội mở vào ngày 12 tháng 2 âm lịch hằng năm. Trong ngày hội có hát quan họ trên hồ, đánh cờ, đánh vật, đu bay, chọi gà... trước cửa đình.
    Hidden Content Hãy làm việc hết mình, những điều tốt đẹp sẽ đến với bạn !Hidden Content
    Hidden Content Hidden Content
    Hidden Content
    Hidden Content Hidden Content
    Hidden Content Hidden Content

  8. The Following User Says Thank You to pt1506 For This Useful Post:

    HanBangCongChua (03-04-2009)

  9. #5
    Tham gia ngày
    25-02-2008
    Nơi Cư Ngụ
    Hải Dương phố
    Bài gởi
    3243
    Thanks
    190
    Thanked 186 Times in 158 Posts

    Post IV/ Ở Vĩnh Phúc:

    IV/ Ở Vĩnh Phúc:




    1. Đình Hương Canh ở xã Tam Canh, huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc, nằm trong cụm đình Tam Canh (Hương Canh, Ngọc Canh, Tiên Canh), được xây dựng vào thế kỷ XVII - XVIII và đã qua nhiều lần trùng tu. Đình nằm cách quốc lộ 2 khoảng 100m, cách Hà Nội khoảng 60km.
    Đình kiến trúc theo kiểu chữ "vương", hướng tây chếch nam. Gồm nhà tiền tế ba gian hai chái; đại đình ba gian hai chái; nhà hậu (hậu cung) ba gian hoặc năm gian; ống muống thứ nhất, hai gian dọc nối liền tiền tế với đại đình; ống muống thứ hai, hai gian dọc nối đại đình với nhà hậu, tạo nên hình chữ "vương".

    Đại đình rộng 26m x 13,5m. Bộ khung có sáu hàng cột: 8 cột cái, 16 cột quân và 24 cột hiên. Cột cái cao 5,7m, chu vi 2,42m.

    Các dấu vết trên cột chứng tỏ trước kia đình có sàn và xung quanh có ván bưng, nay nền đình được lát gạch và có tường gạch xây bao.

    Nhà tiền tế có ba gian hai chái.

    Nhà hậu khok6ng còn.

    Bờ nóc xây gắn hàng gạch hoa chanh, đầu nóc có trang trí con kìm, miệng rồng ngậm đầu bờ nóc.

    Ván nong, cốn nách được chạm trổ các mảng hoa văn với nhiều đề tài phong phú như rồng - mây, cảnh đi săn, đấu võ, đấu vật, cảnh đua thuyền, cảnh tiên cưỡi rồng, cảnh người đứng múa, cảnh múa lân, đặc biệt có cảnh 8 tiên nữ.

    Cửa võng trang trí từ trên xuống dưới ngai thờ để lộ ba cửa tạo thành ba khám thờ, chạm trổ các hình hoa văn : hoa, lá, xen giữa hình rồng là hình người, hình tiên nữ, long mã, rồng cuốn, rồng chầu, trúc hóa long, nghê chầu...

    Đình thờ Ngô Quyền, Ngô Xương Ngập, Ngô Xương Văn và ba vị thần khác, gọi chung là "Lục vị đại vương".




    2. Đình Ngọc Canh ở làng Ngọc Canh, xã Tam Canh, huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc, nằm trong cụm đình Tam Canh (Hương Canh, Ngọc Canh, Tiên Canh), cách đường quốc lộ 2 khoảng 100m, cách Hà Nội khoảng 60km. Đình được xây cùng với nhóm đình Tam Canh vào thế kỷ XVII - XVIII, được trùng tu nhiều lần.
    Đình kiến trúc theo kiểu chữ "vương", hướng nam chếch tây. Gồm nhà tiền tế bốn gian hai chái; đại đình năm gian hai chái; nhà hậu năm gian; ống muống thứ nhất, hai gian dọc nối tiền tế với đại đình; ống muống thứ hai, ba gian dọc nối đại đình với nhà hậu.

    Nhà tiền tế rộng 20,15m x 7,1m.
    Đại đình rộng 24m x 15,57m.
    Nhà hậu rộng 10m x 7,3m.
    Tòa đại đình có sáu hàng cột : 8 cột cái, 16 cột quân và 24 cột hiên.

    Trên cột còn các dấu vết chứng tỏ trước đây đình có sàn và ván bưng xung quanh, nhưng nay đã thay bằng nền gạch và tường gạch.

    Nhà tiền tế có kiến trúc khác với đình Hương Canh, mái trước nhà tiền tế có làm thêm một tầng phụ ở gian giữa.

    Trong đình có nhiều mảng chạm khắc.

    Cốn và cốn nách chạm trổ hình rồng, phượng, cá chép, rùa, long mã ngậm ngọc.

    Cốn chạm phượng cặp túi thơ, rồng mẹ dạy rồng con vờn mây.

    Về đề tài sinh hoạt của con người, ta gặp những bức chạm cảnh đấu vật và người đứng xem, người uống rượu, người khiêng dê (dê bị trói bốn chân), phía sau là con chó, người cưỡi ngựa có bốn người theo hầu, hai người cầm kiếm, một người cầm sách, cảnh người chơi cờ và người đứng xem, cảnh hát chèo, người bơi thuyền và người ôm giữ cột buồm.

    Cửa võng chạm rồng mây, hoa lá, sơn son thiếp vàng lộng lẫy, có niên đại Nguyễn.

    Cũng như đình Hương Canh, đình Ngọc Canh cũng thờ Lục vị đại vương, gồm Ngô Quyền, Ngô Xương Ngập và Ngô Xương Văn và ba vị khác làm thành hoàng.




    3. Đình Thổ Tang ở xã Thái Học, huyện Vĩnh Tường (nay là huyện Vĩnh Lạc), tỉnh Vĩnh Phúc. Được xây dựng vào thế kỷ XVII.
    Đình Thổ Tang có bố cục kiểu chữ "đinh". Cửa hướng tây nam, từ nền tới nóc cao 7m. Cột cái có đường kính 0,8m, cao 5m. Đình dài 25,8m, rộng 14,2m, nền đình được bó vỉa bằng đá xanh, có sáu hàng cột, gồm năm gian.

    Đình có nhiều chạm khắc phong phú.

    Trên các đầu bẩy, ta gặp cảnh một người cưỡi ngựa, hai người gánh đồ, một con phượng; bốn người ngồi uống rượu quanh một mâm ngũ quả; con kỳ đà châu đầu vào con rồng...

    Trên các kẻ, có hình tám người có người cưỡi sư tử hoặc cầm con rắn, hình hai người khiêng một con cá chép, một người cưỡi rồng đang múa, cảnh dâng hoa quả gồm nhiều phụ nữ và một người đàn ông mặc áo thụng, đội mũ cánh chuồn, cảnh sinh hoạt mẹ cho con bú và nhiều người đùa giỡn, người nằm kẻ ngồi, người cưỡi ngựa, người nâng kiếm, v.v...

    Đáng chú ý là mảng chạm miêu tả cảnh đá cầu và cảnh bắn hổ rất sống động.
    Hidden Content Hãy làm việc hết mình, những điều tốt đẹp sẽ đến với bạn !Hidden Content
    Hidden Content Hidden Content
    Hidden Content
    Hidden Content Hidden Content
    Hidden Content Hidden Content

  10. The Following User Says Thank You to pt1506 For This Useful Post:

    HanBangCongChua (03-04-2009)

  11. #6
    Tham gia ngày
    25-02-2008
    Nơi Cư Ngụ
    Hải Dương phố
    Bài gởi
    3243
    Thanks
    190
    Thanked 186 Times in 158 Posts

    Post V/ Phú Thọ

    V/ Phú Thọ có:



    Đình Lâu Thượng, còn gọi là Đình Sủ, Kẻ Sủ, ở làng Lâu Thượng, xã Trưng Vương, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ. Đình nằm ở Xóm Mai, trung tâm làng, hướng tây nam, nhìn ra Ngã ba Hạc. Đình được dựng vào cuối thế kỷ XVII đầu thế kỷ XVIII, đã qua nhiều lần trùng tu.
    Đình có bố cục kiểu chữ "đinh", bốn mái to và rộng, gồm năm gian hai chái, dài 28m, rộng 22m.

    Cửa võng chạm trổ hình "long, ly, quy, phượng", với kỹ thuật chạm bong, chạm lộng nhiều tầng.

    Có bức chạm hình một cụ già mặc áo dài ở giữa, hai tay đặt trên gối, chân xếp chữ ngũ, ngồi trên một bệ chạm hình đầu sư tử mắt to, mũi ngắn, râu hình đao lửa.

    Trên các đầu dư, kẻ bẩy, cốn nách đều chạm các hình hoa, lá, và các con vật thần thoại.

    Đình thờ thành hoàng làng là Hai Bà Trưng và Bà Triệu.
    Hidden Content Hãy làm việc hết mình, những điều tốt đẹp sẽ đến với bạn !Hidden Content
    Hidden Content Hidden Content
    Hidden Content
    Hidden Content Hidden Content
    Hidden Content Hidden Content

  12. The Following User Says Thank You to pt1506 For This Useful Post:

    HaiTromDao (04-04-2009)

  13. #7
    Tham gia ngày
    25-02-2008
    Nơi Cư Ngụ
    Hải Dương phố
    Bài gởi
    3243
    Thanks
    190
    Thanked 186 Times in 158 Posts

    Post Vi/ ở Hn


    1.Đình Đông Ngạc, còn có tên nôm là đình Vẽ, ở sát bờ đê sông Hồng, rià làng Vẽ, xã Đông Ngạc, huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội, nằm ven đường 23 Hà Nội - Chèm.
    Đình Vẽ được dựng năm 1635, dưới triều vua Lê Thánh Tông, đã qua một số lần trùng tu.

    Ngoài cùng là hai cột trụ biểu và hai bức bình phong, đến hồ nước rộng trồng sen và thả cá.

    Nhà tam quan ngoại là một nếp nhà ga gian, có bốn hàng cột bằng gỗ, phiá trước bưng kín bằng gỗ, trên ván bưng ở hai bên khắc hai chữ "Thiện" và "Aỏc", giữa là cửa ra vào, nền lát gạch Bát Tràng, mái lợp ngói mũi hài, liền hai hồi tam quan xây hai cổng nhỏ, mái vòm, lợp ngói ống, nối tiếp với tường bao tạo nên một khu khép kín.

    Nhà tam quan nội một gian, cửa giữa lớn, hai cửa bên thấp và nhỏ bằng gỗ, mái lợp ngói mũi hài, cốn chạm trổ văn hoa lá, tường bao quanh nối liền với nhà tả mạc và hữu mạc, tạo nên kiểu kiến trúc nội chữ "đinh" ngoại chữ "quốc"

    Tả mạc và hữu mạc xây kiểu tường hồi bít đốc, mái lợp ngói mũi hài, hai đầu đốc mái gắn hình đuôi cá.

    Đầu đao uốn cong, cột gạch vuông, vì kèo kiểu thượng rường hạ kẻ. Nhà bên tả có sáu tấm bia. Gian giữa có tấm bia lớn đặt trên lưng rùa; bia dựng năm Vĩnh Thịnh thứ 5 (1710).

    Đại đình gồm hai tòa hình chữ "nhị", hai mái cùng chảy vào một máng nước.

    Toà ngoại bảy gian hai dĩ, gồm tám hàng cột kê trên chân tảng đá xanh. Mái lợp ngói mũi hài, hai đầu đốc mái gắn hai tượng nghê, khoảng gấp khúc bờ dải có gắn hình đầu nghê, bốn đầu đao cong vút gắn hình đầu rồng, đầu hướng về nóc.

    Toà nội có kết cấu kích thước: như toà ngoại.

    Hậu cung là một toà nhà chạy dọc về phiá sau chia làm hai nếp, ngoài là trung cung, trong là hậu cung.

    Trung cung nối với đại đình bằng hai dãy nhà cầu ở hai bên gọi là hành lang. Hậu cung là nhà ba gian, có bốn hàng cột. Trần nhà lát bằng các tấm gỗ dài. Vì kèo gian giữa được chạm trổ dày đặc. Bức cốn nách chạm trổ tồng chầu. Bốn đầu dư chạm trổ đầu rồng ngậm ngọc. Toà hậu cung có cung cấm một gian hai dĩ, có sàn gỗ cao, trên đặt long ngai bài vị thành hoàng làng.




    2. Đình Thanh Haõ ở số 10 Ngõ Gạch, phường Đồng Xuân, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội, trước đây đình thuộc thôn Thanh Hà, tổng Đồng Xuân, huyện Thọ Xương, phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Nội.

    Đình quay mặt về hướng đông. Cổng tam quan được xây sát hè phố, có ba cửa ra vào rộng hẹp khác nhau. Qua sân hẹp vào đến tiền bái. Toà tiền bái được làm theo kểu tường hồi bít đốc, gồm ba gian. Bộ vì kèo kết cấu kiểu chồng rường, con rường thứ hai được thay bằng hai con rường nhỏ đỡ đầu rường trên, mang dáng dấp của giá chiêng không trốn cột.

    Cửa bức bàn bao kín mặt cả ba gian. Hai gian bên, trước kia có sàn cao hơn mặt nền 0,50m, nay đã đổ đất cao để lát gạch hoa. Gian giữa thấp. Ba gian được ngăn cách bằng chấn song hình con tiện. Quá giang được chạm trổ hình rồng, hoa cúc, mây xoắn, tia chớp, lá cách điệu.

    Nối liền toà tiền bái với hậu cung là một phương đình, được dựng bằng bốn cột cái, hai bộ vì kèo, bốn mái, trên các con đường có chạm nổi hoa lá, dưới rường lắp ván kín, chạm nổi hình phượng vũ hàm thư. Lồng giữa các xà đai hai bên là bốn con lân lớn chạm theo kiểu nửa hình tròn.

    Toà hậu cung cũng làm theo kiểu bốn hàng chân. Bên trong hậu cung đặt khám thờ, có cửa võng được chạm trổ tinh xảo, sơn son thiếp vàng.

    Đình Thanh Hà có hơn 50 viên gạch trang trí thời Mạc và 9 tấm bia đá thời Nguyễn, trong đó quan trọng hơn cả là bia "Thanh Hà ngọc phả bi kyỏ" khắc lại một bia thời Lê và bia "Trùng tu Thanh Hà đình bi ký", ghi lại sự tích và lịch sử xây dựng.

    Đình thờ thần thành hoàng là Trần Lựu, tướng thời Trần.

    Lễ hội hằng năm vào ngày 4 tháng 4 và ngày 15 tháng 9 âm lịch là ngày sinh và ngày hoá của thành hoàng.



    3. Đình Kim Liên, còn gọi là đền Kim Liên hoặc đền Cao Sơn (Cao Sơn Đại vương thần từ), ở làng Kim Liên, phường Kim Liên, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội.

    Đình được xây dựng vào đầu thế kỷ XVI, trên một gò đất cao, cách La Thành khoảng 100m. Đình quay về hướng nam, gồm tam quan và đền thờ thần.

    Tam quan là một nếp nhà ba gian, xây kiểu tường hồi bít đốc, bốn góc tường hồi xây bốn trụ cao bằng nóc mái. Bốn vì kèo kết cấu kiểu chồng rường giá chiên, cột trốn. Các con rường được chạm trổ hình mây cuốn, hai câu đầu và hai bẩy của hai vì kèo giữa được trang trí phượng ngậm sách, long mã, rồng theo kỹ thuật chạm bong kên và chạm lộng.

    Đình có kết cấu hình chữ "đinh", gồm bái đường và hậu cung. Bái đường chỉ còn lại vết tích các hòn đá tảng kê chân cột to và dày. Hậu cung là một dãy nhà dọc ba gian xây gạch trần, mái lợp ngói ta, trong nhà xây vòm cuốn, gian ngoài cùng có bệ gạch cao, đặt hương án gỗ sơn son thiếp vàng. Hương án trang trí kín các đồ án hoa văn theo các ô hình chữ nhật bằng kỹ thuật chạm thủng, chạm nổi hình hổ phù, long mã tranh châu, tứ linh, tứ quý, bát bửu.

    Hậu cung thờ Cao Sơn Đại vương và hai vị nữ thần phối hưởng. Trong ban thờ, long ngai thờ thành hoàng Cao Sơn Đại vương có kích thước lớn, chạm khắc tinh vi, sơn son thiếp vàng lộng lẫy, bệ ngai hình vuông, gồm nhiều lớp được làm theo kiểu chân quỳ dạ cá, các lớp trên được chạm thủng hoa dây.

    Đình thờ Cao Sơn Đại vương, tương truyền Cao Sơn là một trong năm mươi người con của Lạc Long Quân và Âu Cơ đã theo cha lên núi, là vị thứ hai được thờ trong đền núi Tản Viên. Thần là người được coi là người đã ngầm giúp vua Lê Tương Dực dẹp loạn ở Đông Đô, nên năm 1509 được lập đền thờ ở Kim Liên gần Thăng Long, là một trong bốn trấn ở kinh đô Thăng Lon (bắc là Trấn Vũ, đông là Bạch Mã, tây là Linh Lang, nam là Cao Sơn).



    4. Đình Triều Khúc, Còn gọi là đình Đại Cổ Miếu, ở thôn Triều Khúc, xã Tân Triều, huyện Thanh Trì, Hà Nội. Cách trung tâm Hà Nội khoảng 10km về phiá tây nam.

    Đình gồm tam quan, phương đình, hai dãy nhà giải vũ, đại đình và hậu cung.

    Tam quan là một ngôi nhà gạch ba gian kiểu vì kèo.

    Sau tam quan là phương đình hai tầng, tám mái, mười sáu cột (bốn cột cái lớn và mười hai cột quân), các kẻ chạy từ cột cái tới nóc. Các đầu kẻ có chạm rồng và lá, đầu dư chạm hình đầu rồng thời Nguyễn, góc mái uốn cong, bờ dải đắp nổi hình rồng, phượng hướng về nóc mái.

    Qua sân là hai nhà giải vũ song song với phương đình.

    Đại đình là kiến trúc chính gồm năm gian lợp ngói ta, với 24 cột, bốn hàng dọc, sáu hàng ngang, ba mặt xây tường gạch. Chính giữa bờ nóc là hình mặt trời lửa. Các cánh cửa chính sơn son thiếp vàng. Kiến trúc theo lối chồng rường giá chiêng, hai đầu hồi chạm nổi hình mặt hổ. Đầu dư của vì kèo gian giữa chạm nổi hình đầu rồng, miệng ngậm viên ngọc. Trên các đầu bẩy đều trang trí hình rồng lá, rồng mây, phượng, long mã.. Các bức cốn trên các bộ vì, được chạm lộng các hình rồng cuốn nước, long, ly, quy, phượng, rồng mẹ, rồng con.

    Hệ thống y môn và cửa võng được chạm khắc tinh vi và sơn son thiếp vàng lộng lẫy.

    Hậu cung là một ngôi nhà ba gian nối với gian giữa đại đình tạo nên kiến trúc hình chữ "đinh", đây là nơi đặt long ngai bài vị, đồ thờ tự và mười một đạo sắc phong, sớm nhất là năm Cảnh Hưng thứ 44 (1784), muộn nhất là năm Khải Định thứ 9 (1924).

    Đình có niên đại khoảng cuối thời Lê đầu thời Nguyễn.

    Đình thờ Bố Cái Đại vương Phùng Hưng.



    5. Đình Cự Chính, còn gọi là đình Con Cóc (do trước kia trên hai trụ trước đình có gắn hai tượng cóc bằng sứ) ở thôn Cự Chính (tên Nôm là làng Mọc), xã Nhân Chính, quận Thanh Xuân, Hà Nội. Đình Cự Chính cách chùa Bồ Đề chừng vài chục mét.

    Đình Cự Chính xây dựng vào thời Lê và đã được tu sửa nhiều lần.

    Trước kia, tam quan đình lớn, nay sau khi tu sửa, đã thu hẹp lại.

    Đại đình năm gian hai chái, nối với hậu cung ba gian, tạo thành hình chữ "đinh".

    Đại đình lợp ngói ta, trên bờ nóc gắn tượng đôi rồng chầu mặt trời lửa. Hình rồng dài, độ uốn lượn lớn.

    Đầu hồi bên phải có một trụ gạch vuông, trên đỉnh đắp một tượng nghê quỳ hai chân trước, xung quanh đắp nhiều chữ Hán và các con vật linh thiêng. Các vì kèo được kết cấu kiểu chồng rường. Giữa đại đình đặt một hương án sơn son thiếp vàng. Phía sau có ba cửa vào hậu cung. Các vì kèo hậu cung cũng theo kiểu chồng rường. Trên nóc chạm hình dơi bay. Cửa chính hậu cung là cửa bức bàn có bốn cánh bằng nhau, sơn đỏ. Phần trên cánh cửa chạm thủng những hình dơi đang bay.

    Trong hậu cung có ba bệ thờ lớn, trên đặt ngai sơn son thiếp vàng.

    Ngoài sân đình có một cái giếng đá giống như giếng đá chùa Bút Tháp ở tỉnh Bắc Ninh. Thành giếng cách mặt đất 0,45m, miệng giếng rộng 0,6m được tạo bằng một khối đá xanh nguyên khối, thắt đáy và thắt miệng, trên có chạm hai lớp cánh sen, bao quanh. Giữa lớp cánh sen có chạm hoa văn (hoa sen kiểu bệ tượng Phật thời Lê). Bờ giếng được lát bằng sáu khối đá xanh, giếng sâu 8m, thành giếng được xếp các viên gạch vỡ và các viên đá xanh vòng tròn. Nước chỉ để dùng tắm cho Thánh vào những ngày lễ. Đây có thể là một khẩu giếng thời Lê, còn lại duy nhất ở Hà Nội.

    Đình thờ thành hoàng là Lã Đại Liêu, tướng của thần Tản Viên, có công giúp vua Hùng đánh giặc giữ nước.

    Lễ hội chính hằng năm vào ngày 12 tháng giêng và 18 tháng 10 âm lịch, theo truyền thuyết là ngày sinh và ngày mất của vị thành hoàng.

    Hội làng vào ngày 12 tháng 2 âm lịch.





    6. Đình Quảng Bá ở làng Quảng Bá, xã Quảng An, huyện Từ Liêm, nay là Cụm I, phường Quảng An, quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội.

    Trước đây đình được xây dựng trên gò Con Xà, cách ngôi đình hiện tại khoảng 1km về phiá tây nam, cách đường Hà Nội đi Chèm khoảng 1km. Đình được dựng lại vào năm Bính Tý, niên hiệu Bảo Đại thứ 11 (1936).

    Đình được dựng trên một khu đất cao trông ra Hồ Tây. Giếng đình được ngăn với Hồ Tây bằng một bờ gạch. Giếng hình vuông, bờ gạch xây ba cấp, hai bên có bậc gạch lên xuống.

    Hai bên sân đình là hai nhà giải vũ, mỗi nhà sáu gian đơn giản, là nơi hội họp của hàng giáp.

    Phần sân sát hiên đình được lát gạch Bát Tràng cỡ lớn. Trước hai gian phụ sát hiên đình có hai cột trụ gạch hình vuông, có hai đôi câu đối chữ Hán. Bẩy hiên chạm hình rồng cách điệu đơn giản.

    Đại đình có kiến trúc kiểu chữ "nhị", mái lợp ngói ta, bờ nóc thẳng, chính giữa có đắp hình đầu hổ đội mặt trời. Hai đầu đắp nổi văn mây cuốn và hình cá hoá rồng. Bờ dải chạy thẳng theo kiểu tường hồi bít đốc, có trang trí văn mây và tứ linh.

    Đại đình cao, rộng, thoáng gồm bảy gian, sáu hàng cột kê trên đá tảng. Sáu bộ vì kèo kết cấu kiểu giá chiêng, trang trí đơn giản văn mây, hoa lá cách điệu; các bức cốn được chạm trổ tinh vi với đề tài rồng, lân, phượng hàm thư, ruà..

    Dưới hoành phi là bộ cửa võng chạm trổ cửu long tranh châu.

    Hậu cung có ba gian chính, xây cao hơn đại đình, mái lợp ngói ta, giữa bờ nóc có bầu rượu và cá hoá rồng, hai gian phụ mới xây là nơi để đồ tế lễ. Vì kèo hậu cung đơn giản.

    Bệ gạch giữa là nơi đặt ngai thờ bố Cái Đại vương. Hai gian bên, mỗi bên đặt ba ngai trong các khám, thờ sáu vị thần.

    Đặc biệt có nhang án mang phong cách thế kỷ XVII-XVIII.

    Đình thờ thành hoàng là Bố Cái Đại vương Phùng Hưng.

    Lễ hội hằng năm được tổ chức vào ngày 12 tháng 2 và ngày 10 tháng 8 âm lịch.
    Hidden Content Hãy làm việc hết mình, những điều tốt đẹp sẽ đến với bạn !Hidden Content
    Hidden Content Hidden Content
    Hidden Content
    Hidden Content Hidden Content
    Hidden Content Hidden Content

  14. The Following User Says Thank You to pt1506 For This Useful Post:

    HanBangCongChua (03-04-2009)

  15. #8
    Tham gia ngày
    25-02-2008
    Nơi Cư Ngụ
    Hải Dương phố
    Bài gởi
    3243
    Thanks
    190
    Thanked 186 Times in 158 Posts

    Post VII/ Hải Phòng

    VII/ Hải Phòng:



    1. Đình Hàng Kênh, còn gọi là đình Nhân Thọ, ở quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng.

    Đình được dựng năm mậu Tuất, niên hiệu Vĩnh Thịnh thứ 14 (1719), theo kiểu chữ "công". Toà tiền tế cao 6,50m, dài 32m, rộng 13,20m, gồm năm gian chính, hai gian phụ, có 40 cột làm bằng gỗ lim. Mái lợp ngói ta, trên bờ nóc có hai hàng gạch, trong đó có một hàng là hình hoa chanh cách điệu. Chính giữa bờ nóc gắn đôi rồng chầu mặt trời lửa, đầu đao cong vút gắn những con rồng, con sấu, phượng xen kẽ. Hai đầu bờ nóc cũng gắn hai tượng rồng. Hai góc phiá trước xây tường gạch ngắn hình thước thợ đỡ đầu đao. Gian chính giữa nhà tiền tế có cửa ra vào nhỏ bằng một phần ba cửa giữa. Kẻ, bẩy, câu đầu, đấu, ván nong đều được chạm trổ tinh vi các hình rồng, phượng. Các gian bên cạnh hai hồi đều không xây tường, mà dùng chấn song dựng trên các xà ngang làm sàn. Ván nong xen giữa các xà đều chạm khắc hoa văn rồng mây rất tinh tế. Sàn đình lát bằng ván lim.

    Từ cửa vào, chia thành bảy lớp trang trí, mỗi lớp mang một vẻ riêng biệt với các mảng chạm khắc gỗ. Tất cả có 268 mảng chạm khắc với nhiều hoạ tiết hoa văn khác nhau, nhưng chủ đạo vẫn là hình rồng. 400 con rồng, mỗi con mỗi dáng mỗi vẻ, xoắn xuýt, tạo nên một bầy uốn lượn rất sống động. Trình độ của các nghệ nhân thật là khéo léo, nét chạm trổ thật tinh vi. Điều đáng lưu ý là đình đã do bốn hiệp thợ làm trong thời gian 13 tháng.

    Đình đã được tu sửa nhiều lần kéo dài hàng chục năm như đợt chuẩn bị sửa chữa từ năm Canh Tý đời Minh Mệnh (1841), mười năm sau (1850) mới khởi công tu sửa. Năm 1918, cũng được sửa chữa một số chỗ.

    Đình Hàng Kênh còn nhiều đồ tế khí như chuông, đỉnh đồng, khánh đồng, hạc, lục bình, bát hương bằng sứ, tượng, các hoành phi, câu đối, cửa võng, kiệu bát cống, voi ngựa bằng gỗ được chạm trổ tinh vi, sơn son thiếp vàng lộng lẫy với các hoa văn phong phú, sinh động. Ngoài ra, đình còn có bia ca tụồng trận Bạch Đằng của Ngô Quyền đánh Nam Hán. Đình có tượng Ngô Quyền và mô hình một loại thuyền chiến.

    Đình Hàng Kênh cũng như đình các làng Đông Khê, Phụng Pháp, Dư hàng, Nam Pháp ở Hải Phòng đều thờ anh hùng dân tộc Ngô Quyền. Cứ 5 năm một lần, thường vào trung tuần tháng 2 âm lịch, từng làng lại mở hội cúng tế, vui chơi để tưởng niệm Ngô Quyền.



    2. Đình Dư Hàng, nằm trên đất Dư Hàng Kênh, xã Dư Hàng Kênh, huyện An Hải, thành phố Hải Phòng.

    Vào cuối thế kỷ XIX, do số dân tăng nhanh, làng Hàng Kênh tách làm hai là Hàng Kênh và Dư Hàng.

    Đình Hàng Kênh nổi tiếng thuộc làng Hàng Kênh, còn làng Dư Hàng có chùa mà không có đình. Do đó, dân Dư Hàng đã đóng góp tiền của xây dựng nên ngôi đình hiện nay, trên cơ sở sao chép nguyên mẫu ngôi đình chung cũ (đình Hàng Kênh).

    Đình nằm trên khu đất cao phiá tây bắc của xã Dư Hàng Kênh. Đình được xây dựng toàn bằng gỗ lim.

    Đình Dư Hàng ra đời vào cuối thế kỷ XIX, nhưng mang dấu ấn nghệ thuật kiến trúc của thế kỷ XVIII và do người đời sau mô phỏng phong cách kiểu dáng của thời trước. Thật khó có thể phân biệt được phong cách kiến trúc của đình Dư Hàng và đình Hàng Kênh.

    Đình Dư Hàng cũng là nơi thờ Ngô Quyền. Đồ tế lễ trong đình còn lại ít: nhang án gỗ, sập gỗ, long đình, kiệu bát cống, kiệu phượng, tượng Ngô Quyền, đại tự, bát bửu, chấp kích.

    Lễ hội đình Dư Hàng cũng giống lễ hội các đình làng ở Hải Phòng tôn thờ anh hùng dân tộc Ngô Quyền làm thành hoàng làng .

    Hidden Content Hãy làm việc hết mình, những điều tốt đẹp sẽ đến với bạn !Hidden Content
    Hidden Content Hidden Content
    Hidden Content
    Hidden Content Hidden Content
    Hidden Content Hidden Content

  16. The Following User Says Thank You to pt1506 For This Useful Post:

    HaiTromDao (04-04-2009)

  17. #9
    Tham gia ngày
    25-02-2008
    Nơi Cư Ngụ
    Hải Dương phố
    Bài gởi
    3243
    Thanks
    190
    Thanked 186 Times in 158 Posts

    Post VIII/ Hải Dương có :



    Đình Mộ Trạch, còn gọi là đình làng Trăm Phượng hay đình làng Trám, thuộc xã Tân Hồng, huyện Cẩm Bình, tỉnh Hải Dương, ven Đường 194, cách thị xã Hải Dương 20km.

    Đình vốn ở xứ Tây Trù đầu thôn; vào khoảng giữa thế kỷ XVII, đình được dời đến chỗ dựng ngôi đình hiện nay.

    Đình quay hướng đông, kiểu chữ "đinh". Phiá trong là đình trong, có cửa đóng kín nối liền với hậu cung tạo thành kiểu kiến trúc hình chuôi vô. Hậu cung có mái chồng diêm, bờ nóc đắp tượng lưỡng long triều nguyệt, bốn đầu mái cong vút. Hai bên hậu cung là hai nhà giải vũ hình thước thợ. Giải vũ lợp ngói, sát tường xây nhiều bệ, mỗi bệ là một bàn thờ tổ tiên của một họ.

    Trước đình trong là đình ngoài lợp ngói, bờ nóc gắn hai hàng gạch, hai đầu bờ mái gắn hình dây cuốn.

    Trước đình có sân hình chữ nhật xây tường ba mặt. Trước sân có cột đồng trụ và hai cổng tả hữu.

    Cột kèo trong đình đều làm bằng gỗ lim. Xà, đầu dư, cốn, đấu, ván bưng, đều được chạm trổ các hình rồng phượng. Bức hoành phi "Thánh thọ vạn niêm" treo ở gian giữa. Hai gian kề bên xây sàn có nhiều bậc cao thấp để phân biệt ngôi thứ trong làng.

    Nhân dân làng Mộ Trạch Thuộc nhiều dòng họ như Vũ, Lê, Tạ, Nguyễn, Nhữ, Cao, Lương, Trương, Trịnh, Phạm, trong đó họ Vũ, họ Lê có số người đông hơn cả. Làng Mộ Trạch có truyền thống học hành, đỗ đạt, nên dân làng còn gọi là "Tổ Tiến sĩ" (Tiến sĩ sào).

    Hằng năm, ngày 8 tháng giêng âm lịch, dân làng vào đám, rước thành hoàng làng là Vũ Hồn, ông tổ họ Vũ, từ miếu theo đường "nghinh" vòng ra ngoài đồng rồi về làng tổ chức tế lễ, có hát chèo và nhiều cuộc vui.

    Vào đám xong, lại rước thành hoàng về miếu. Hậu cung đình chỉ đặt bàn thờ vọng.
    Hidden Content Hãy làm việc hết mình, những điều tốt đẹp sẽ đến với bạn !Hidden Content
    Hidden Content Hidden Content
    Hidden Content
    Hidden Content Hidden Content
    Hidden Content Hidden Content

  18. The Following User Says Thank You to pt1506 For This Useful Post:

    HaiTromDao (04-04-2009)

  19. #10
    Tham gia ngày
    25-02-2008
    Nơi Cư Ngụ
    Hải Dương phố
    Bài gởi
    3243
    Thanks
    190
    Thanked 186 Times in 158 Posts

    Post IX/ Hưng Yên có :

    IX/ Hưng Yên có :

    Đình Hiến nằm sát bên trái chùa Hiến, ở thôn Mậu Dương, xã Hồng Châu, thị xã Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên. Đình nằm ở phiá tây thị xã, từ bến xe trung tâm theo phố Lê Lợi, đi 1,5km đến Dốc Đá, sau đó rẽ trái 100m là tới đình.

    Ngôi đình có kiến trúc hình chữ "nhất", mặt đình quay hướng tây, gồm năm gian. Đình có hai hàng cột cái và hai hàng cột quân, nay hàng cột quân đã được thay bằng tường gạch. Đình dài 18,08m, rộng 8,29m. Cột cái cao 5,5m, đường kính 0,40m.

    Trước đây cửa làm theo kiểu bức bàn, phần trên là chấn song con tiện.

    Các bức cốn ở hai vì kèo được chạm trổ hình hoa lá, các đầu dư đều có các đầu rồng. Mỗi đầu bẩy đều có hoa văn khác nhau, trong đó có bốn vì được vào thời Lê, số còn lại được chạm vào thời Nguyễn.

    Đình thờ một viên quan thái giám nhà Tống, người đã sang Việt Nam tìm một bà phi của vua Tống nhưng đã bị chết ở đây. Hiện nay sau ngôi đình còn có ngôi mộ gạch, tương truyền là mộ của viên thái giám đó.
    Hidden Content Hãy làm việc hết mình, những điều tốt đẹp sẽ đến với bạn !Hidden Content
    Hidden Content Hidden Content
    Hidden Content
    Hidden Content Hidden Content
    Hidden Content Hidden Content

Trang 1/4 123 ... cuốicuối

Bookmarks

Quyền Sử Dụng Ở Diễn Ðàn

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •