Cướp biển được nhà nước…..bảo trợ (phần 1)

Cướp biển được nhà nước…..bảo trợ (phần 1)

Kỷ nguyên “hải tặc hợp pháp” chính thức bắt đầu từ năm 1243. Khi đó vua Henry III của Anh đang phải tham chiến cùng lúc với Pháp và Tây Ban Nha, nên rơi vào cảnh ngân khố sạch trơn còn thuế má thì đã quá đủ để dân chúng nổi loạn (nếu định tăng thêm). Ông và các cận thần phải vắt óc nghĩ cách kiếm ra tiền, và ngẫu nhiên ai đó đã đề xuất cho các thuyền trưởng tàu tư nhân quyền cướp bóc tàu địch, rồi chia cho hoàng gia một phần của cải khi quay về. Chiếu chỉ của Henry III viết như sau: “Nay cho phép…..được quyền tấn công kẻ thù cả trên mặt biển lẫn trên đất liền, các khanh phải nộp cho trẫm một nửa chiến lợi phẩm thu được”. Thật là một công đôi việc: triều đình vừa có thu nhập vừa có thêm tàu chiến ngoài biên chế, còn các chủ tàu tha hồ cầm giấy phép đi cướp bóc mà không sợ pháp luật trừng phạt.

Sau khi cuộc chiến đó kết thúc, các đời vua và nữ hoàng Anh tiếp theo vẫn duy trì kiểu cấp phép này (có tên riêng là Letter of Marque -thư nhãn hiệu). Một số giấy phép có hiệu lực cả trong thời bình, chẳng hạn như một nhà buôn từng bị cướp biển tấn công, có thể xin giấy phép để cướp một con tàu của quốc gia bị nghi ngờ là nơi bọn cướp biển xuất phát. Các chủ tàu hoan nghênh nó do nhận thấy cơ hội làm giàu, còn vua chúa chẳng lo buồn khi có thêm cả một hạm đội tư nhân, được ràng buộc chặt chẽ với triều đình bằng lợi ích.

(Một giấy phép cướp bóc thế kỷ 15, ghi chi tiết về những gì được làm và không được làm.)

Những giấy phép loại này thường rất đa dạng, có thể là chiếu chỉ, văn bản ủy quyền, hay thậm chí là luật (năm 1812 quốc hội Mỹ ra luật riêng, cấp giấy phép đi bắt các tàu Anh). Nguồn cấp cũng phong phú: vua, tòa án (Anh), toàn quyền thuộc địa, thống đốc bang, quốc hội, tổng thống (Mỹ)……Đơn đăng ký phải ghi rõ: Tên, hình dáng, tải trọng cùng vũ khí trên tàu, tên và nơi ở của chủ sở hữu, số lượng thuyền viên dự kiến. Lúc đầu thì chính quyền thu 50% của cải cướp được khi về cảng, nhưng sau để tránh hiện tượng tẩu tán hàng hóa, người ta bắt chủ tàu mua trái phiếu bảo đảm với giá rất đắt. Hay nói cách khác, chính quyền thu tiền trước, cấp giấy phép sau; rồi chủ tàu mang nó đi cướp bóc, lời ăn lỗ chịu.

– Nội dung một giấy phép (thư nhãn hiệu – Letter of Marque) chủ yếu có 5 mục sau:

+ Tên người sở hữu, nguyên nhân mà anh ta được phép mang nhóm người vũ trang của mình ra ngoài biên giới quốc gia. 

+ Chỉ định quốc tịch của các mục tiêu sẽ bị tấn công.

+ Cho phép tịch thu hoặc tiêu huỷ nhân lực và vật lực của mục tiêu đó.

+ Mô tả hành động mà chủ tàu được phép tiến hành, chẳng hạn như phải tuân thủ các hiệp ước, luật quốc tế hay luật của quốc gia mà chủ tàu giữ quốc tịch.

+ Các hạn chế về thời gian, loại mục tiêu, khu vực, số lượng mục tiêu…..

Ngoài ra còn rất nhiều quy định phụ khác. Năm 1405, vua Anh cấp giấy phép bắt giữ “bất kỳ kẻ thù nào của nước Anh”. Năm 1411, giấy phép của Anh ghi rằng mọi tàu Pháp đều là mục tiêu tấn công, nhưng số hàng hóa cướp được bị giới hạn trong giá trị 5250 bảng. Năm 1543, do nhu cầu chiến tranh với Pháp và Scotland mà mọi công dân Anh đều được cấp giấy phép miễn phí. Năm 1695, một giấy phép đặc biệt được phát hành chỉ để bắt tên cướp biển William Kidd. Năm 1729, Tây Ban Nha cấp phép để bắt giữ mọi tàu buôn lậu.

(Một tàu lùng của Mỹ đang tấn công tàu Anh trong chiến tranh giành độc lập Mỹ)

Các cá nhân hay tàu biển thực hiện công việc này được gọi là Privateer (tàu lùng, tàu tư hay cướp biển hợp pháp). Khi thương mại hàng hải trở nên phổ biến vào thế kỷ 15-16, nhất là lúc các mỏ vàng bạc ở châu Mỹ bắt đầu khai thác quy mô lớn, cướp biển vùng Caribbean phát triển rất mạnh khiến cho mọi tàu buôn đều phải vũ trang. Nói đến đây thì chúng ta phải phân thành 2 loại: cướp biển và cướp biển hợp pháp, tức là các tàu lùng. Các Privateer (tàu lùng) này chỉ khác tàu cướp biển ở 2 điểm: nó treo quốc kỳ chứ không phải cờ hình đầu lâu xương chéo, và hoạt động theo giấy phép của chính phủ cấp. Trong chiến tranh, tàu lùng được coi là lực lượng tư nhân hỗ trợ hải quân. Tùy theo chính sách giữa các quốc gia châu Âu thời đó mà giấy phép của nước này có thể được nước kia công nhận hay không. Khi bị quốc gia thù địch bắt giữ, nếu giấy tờ được chấp nhận, thủy thủ đoàn tàu lùng sẽ được đối xử với tư cách tù binh; còn nếu không, họ bị xem như cướp biển, sẽ bị xét xử và treo cổ.

Như mọi nghề, cơ hội luôn đi kèm rủi ro. Một tàu lùng hoàn toàn có thể đánh mất tư cách hợp pháp của mình và bị xét xử như tàu cướp biển ngay cả trong thời bình, khi bị phát hiện vi phạm các quy định về thời gian, mục tiêu, địa điểm……Việc vi phạm đôi lúc lại do lỗi khách quan, do đó các chủ tàu thường phải rất thận trọng. Trường hợp dễ thấy nhất là giấy ghi cướp tàu trong chiến tranh, do liên lạc thời xưa rất hạn chế nên nhiều chủ tàu không biết rằng quốc gia của mình đã ký hiệp định đình chiến với nước ghi trong giấy phép, và vẫn tiến hành tấn công mục tiêu khi bắt gặp. Nếu chủ quan lúc về, ông ta và thủy thủ đoàn có thể bị tòa kết án cướp biển và treo cổ.

(Treo cổ cướp biển ở Anh)

Năm 1580, khi hạm đội của cướp biển Francis Drake trở lại Anh sau 3 năm đi vòng quanh thế giới, ông ta không dám cập cảng vì không biết ai đang làm vua hay nữ hoàng, và tình hình châu Âu có gì thay đổi không. Một thủy thủ bí mật lên bờ, tìm gặp vợ Drake và bạn cũ là thị trưởng thành phố Portsmouth để thăm dò tin tức. Sau khi chắc chắn nữ hoàng Elizabeth vẫn tại vị và nước Anh vẫn đang chiến tranh với Tây Ban Nha, Francis Drake mới thở phào và đưa tàu vào cảng.

Trong thời kỳ nội chiến, giấy phép phe này sẽ bị phe kia bác bỏ, dù cùng là một quốc gia phát hành. Ví dụ, một tòa án ở Anh đã từ chối thừa nhận tính hợp pháp của giấy tờ do ngụy vương James II cấp, và treo cổ thuyền trưởng cùng toàn bộ thủy thủ đoàn một tàu lùng. Trong thời kỳ Nội chiến Mỹ, phía Liên bang miền Bắc cũng không công nhận giấy phép của Liên minh miền Nam, và ban đầu kết án treo cổ thủy thủ đoàn bị bắt. Sau khi tổng thống Liên minh miền Nam Jefferson Davis nổi giận và dọa sẽ hành quyết số tù binh là sĩ quan tương ứng, phe miền Bắc mới chịu nhượng bộ và coi những người này là tù binh chiến tranh.

– Dịch và biên tập: Muitenbac777 –

Vụ Mỹ bắn hạ máy bay chở khách Iran năm 1988 – Chỉ là sai lầm?

Vụ Mỹ bắn hạ máy bay chở khách Iran năm 1988 – Chỉ là sai lầm?

Năm 1988 thế giới phải chứng kiến một thảm kịch hàng không đau buồn khi chiếc máy bay thương mại của hãng hàng không Iran Air mang số hiệu 655 bị tàu tuần dương USS Vincennes của Mỹ bắn rơi, cướp đi mạng sống của 290 con người vô tội.

Sai lầm chết người

10 giờ 17 phút sáng ngày 3/7/1988 định mệnh, cơ trưởng Mohsen Rezaian cùng phi hành đoàn của chiếc Airbus A300B2 số hiệu 655 của hãng hàng không Iran Air được lệnh cất cánh từ sân bay Bandar Abbas (phía nam Iran) lên đường đi Dubai. Trong khoảng thời gian đó, Hải quân Mỹ đang thử nghiệm hệ thống chiến đấu AEGIS trên hạm tuần dương USS Vincennes gần eo biển Hormuz – nơi chuyến bay 655 sẽ bay ngang qua. Tàu ngầm USS Vincennes lưu đỗ tại vịnh Persian trong bối cảnh cuộc chiến tranh Iran – Iraq vẫn đang diễn ra, được triển khai nhằm bảo vệ tàu chở dầu của Kuwait cũng như hạn chế các hoạt động tàu ngầm của Iran. Hạm trưởng USS Vincennes lúc đó là Tướng William C. Rogers III.

Giống như phần lớn các máy bay hiện đại, chiếc Airbus của Iran Air được trang bị hệ thống phát sóng nhận dạng – một phiên bản nâng cấp hơn của hệ thống “nhận dạng, bạn hay thù” (IFF) được dùng trong Chiến tranh Thế giới thứ II.

Sau khi cất cánh khỏi đường bay số 21, chiếc Airbus A300B2 mã hiệu 655 được lệnh từ trạm kiểm soát không lưu Bandar Abbas yêu cầu bật hệ thống phát sóng nhận dạng và hướng về vịnh Persian.

Tín hiệu máy bay 655 xuất hiện trên radar của tàu tuần dương Vincennes vào lúc 10 giờ 17 phút và 10 giờ 19 phút. Theo các tài liệu điều tra sau này của chính phủ Mỹ, tàu Vincennes đã nhầm chiếc máy bay dân sự này sang thành một chiếc chiến đấu cơ. Giới chức lúc đó đã nhận dạng các thông số bay của chiếc A300B2 giống như một chiếc F – 14A của không quân Iran. Theo Đô đốc William Crowe, Tổng Tham mưu trưởng Liên quân Mỹ, hệ thống phát sóng nhận dạng của máy bay dân sự 655 đã phát ra một mã ở kênh quân sự “Chế độ 2”. Trong 3 phút tiếp theo, tàu Vincennes đã đưa ra tín hiệu cảnh báo ngược lại trên tần số báo động hàng không quân sự, và cũng đã nhiều lần cố liên lạc với phi hành đoàn chuyến bay 655 nhưng không có lời hồi đáp.

10 giờ 24 phút sáng, Tướng Rogers ra lệnh bắn hai tên lửa phòng không SM – 2ER vào chiếc máy bay nghi ngờ là chiến đấu cơ F – 14A kia. Chiếc máy bay chở 290 người bốc cháy và rơi xuống vịnh Persian., không một ai sống sót.

Ngay chiều hôm đó, trực thăng Iran và tàu cứu hộ đã khẩn trương đến khu vực máy bay rơi để tìm kiếm thi thể người gặp nạn. Chỉ cho đến tận tối muộn cùng ngày, binh sĩ hải quân và những người trên tàu Vincennes mới nhận ra sai lầm chết người của mình.

Cuộc chiến không hồi kết

Ngày 6/7/1988, Hiệp hội điều tra Hải quân do Chuẩn Đô đốc William M. Fogarty chỉ đạo bắt đầu tiến hành điều tra tại Bahrain. Các phiên điều trần chính thức diễn ra chỉ 1 tuần sau đó, và toàn bộ quá trình điều tra cũng như báo cáo gửi tới Hải quân được hoàn thành vào ngày 28/7. Bản báo cáo điều tra kết luận, việc khai hỏa tên lửa nhằm vào máy bay 655 của Iran là một quyết định hoàn toàn tỉnh táo của chỉ huy trưởng dựa trên hoàn cảnh nghi ngờ tàu chiến đang cận kề mối đe dọa lớn từ phía đối phương.

Bày tỏ niềm thương tiếc trước các nạn nhân trong thảm kịch song chính phủ Mỹ khẳng định không nhận trách nhiệm cũng như xin lỗi về bất kỳ hành động sai trái nào gây nên vụ bắn rơi máy bay. Thậm chí thủy thủ đoàn có mặt trên tàu Vincennes còn được trao giải và nhận huân chương chiến công.

Hộp đen của chiếc máy bay A300B2 xấu số vẫn chưa được tìm thấy và các nhà điều tra vẫn không thể nào biết được chu trình bay của chiếc A300B2 lúc đó ra sao, cũng như liệu rằng phi hành đoàn có “phớt lờ” các tín hiệu cảnh báo của phía tàu ngầm Mỹ hay đơn giản là không hề nghe thấy. Tuy nhiên, trên tàu Vincennes vẫn còn hộp đen riêng, radar AN/SPY – 1 và hệ thống máy tính điều khiển vũ khí lắp đặt trên tàu.

Theo như kết luận báo cáo, Hải quân Mỹ cho rằng, họ đã nhầm chiếc A – 300 với máy bay chiến đấu F – 14 của Iran. Tuy nhiên, dữ liệu từ hệ thống chiến đấu Aegis cho thấy chiếc Airbus A300B2 đang lấy độ cao để bay lên chứ không giảm dần độ cao điển hình của một cuộc tấn công từ trên không. Tại các thiết bị thu dữ liệu cũng không hề có sự xuất hiện nào khác ngoài tín hiệu ở kênh dân sự “Chế độ 3, mã 6760” của chiếc Airbus 655, nhưng tàu Vincennes vẫn tiếp tục hiểu sai tín hiệu. Nhiều người nghi ngại rằng tàu Vincennes liên tục gửi cảnh báo qua tần số quân sự trong khi chiếc A300B2 lại không được thiết kế để nhận các tần số này, và khi tàu Vincennes phát tần số dân sự khẩn cấp thì có thể nó đã hướng sang một máy bay khác.

Theo ghi nhận của các đài điều khiển không lưu, máy bay A300B2 mã hiệu 655 còn liên lạc radio và sử dụng tần số dân sự chuẩn, thậm chí còn nói bằng tiếng Anh với nhân viên trạm kiểm soát Bandar Abbas chỉ vài giây trước khi bị tàu Vincennes bắn.

Một bản báo cáo điều tra của Các Tiểu Vương quốc Ả rập thống nhất (UAE) cho biết lúc bắn, tàu Vinccenes đang ở trong lãnh hải của Iran, chứ không phải ở cách 64 km về phía nam (nơi con tàu chính thức được lệnh lưu đỗ ở đó) như Chỉ huy trưởng Roger và chính phủ Mỹ tuyên bố. Hơn nữa chuyến bay 655 cũng ở trong tuyến đường bay thương mại, chứ không hề đi chệch hướng 6 km như trong báo cáo.

Hai phóng viên điều tra John Barry và Roger Charles của tờ Newsweek cho rằng chỉ huy trưởng Rogers đã hành động bất cẩn mà không có sự suy tính kỹ càng, cũng như buộc tội chính phủ Mỹ bao che cho hành động sai lầm từ phía quân mình.

Vào ngày 6/11/2003, Tòa án Công lý Quốc tế kết luận hành động của Hải quân Mỹ tại vịnh Persian trong năm 1988 là vi phạm pháp luật. Iran và gia đình các nạn nhân thiệt mạng trong chuyến bay 655 được nhận một khoản bồi thường trị giá 61,8 triệu USD.

Thảm kịch này đã làm mối quan hệ “cơm không lành canh chẳng ngọt” giữa Iran và Mỹ ngày một leo thang. Và chỉ khoảng 6 tháng sau khi xảy ra vụ tai nạn, ngày 21/12/1988, chuyến bay 103 của hãng hàng không Pan Am lịch trình vượt Đại Tây Dương từ sân bay London Heathrow (Anh) tới sân bay quốc tế John F. Kennedy (Mỹ) đã bị “thổi bay” khi đang thực hiện hành trình trên bầu trời Scotland do một thiết bị nổ plastic. 270 người từ 21 quốc gia, bao gồm 11 người ở mặt đất, thiệt mạng. Chính phủ Mỹ và Anh cáo buộc một tổ chức phiến quân Palestine được Iran hậu thuẫn, phải nhận trách nhiệm cho vụ tấn công trên và coi đây là hành động trả đũa nhằm vào Mỹ.

Theo BÁO TIN TỨC

Sự thật về viên gạch đặc biệt giúp Bác Hồ vượt qua mùa đông giá rét ở Paris

Sự thật về viên gạch đặc biệt giúp Bác Hồ vượt qua mùa đông giá rét ở Paris

Ít ai biết đến câu chuyện thú vị về loại gạch đặc biệt giúp Bác Hồ “chống lại cả mùa băng giá” trong thời gian Người ở Paris.

Rất nhiều người Việt Nam biết đến câu thơ "Một viên gạch hồng, Bác chống lại cả mùa băng giá" nói về giai đoạn Bác Hồ ở Paris trong bài thơ "Người đi tìm hình của nước" của nhà thơ Chế Lan Viên. Nhưng ít ai biết đến câu chuyện thú vị về loại gạch đặc biệt được nhắc đến trong bài thơ này.

Rất nhiều người Việt Nam biết đến câu thơ “Một viên gạch hồng, Bác chống lại cả mùa băng giá” nói về giai đoạn Bác Hồ ở Paris trong bài thơ “Người đi tìm hình của nước” của nhà thơ Chế Lan Viên. Nhưng ít ai biết đến câu chuyện thú vị về loại gạch đặc biệt được nhắc đến trong bài thơ này.

Trên thực tế, sưởi ấm bằng gạch là một cách sưởi ấm phổ biến ở Châu Âu từ nhiều thế kỷ trước. Khi đó, ở các thành phố lò sưởi là một vật dụng khá xa xỉ và chi phí sưởi ấm rất đắt, không phái gia đình nào cũng có lò sưởi, đặc biệt là với dân lao động...

Trên thực tế, sưởi ấm bằng gạch là một cách sưởi ấm phổ biến ở Châu Âu từ nhiều thế kỷ trước. Khi đó, ở các thành phố lò sưởi là một vật dụng khá xa xỉ và chi phí sưởi ấm rất đắt, không phái gia đình nào cũng có lò sưởi, đặc biệt là với dân lao động…

Để chống lại sự khắc nghiệt của mùa đông, những cư dân nghèo của châu Âu đã sử dụng một cách sưới ấm rẻ tiền, đó là nung nóng gạch, cuộn nó vào quần áo hoặc báo cũ rồi mang lên đặt ở phía chân hoặc dưới gầm giường để ngủ cho ấm.

Để chống lại sự khắc nghiệt của mùa đông, những cư dân nghèo của châu Âu đã sử dụng một cách sưới ấm rẻ tiền, đó là nung nóng gạch, cuộn nó vào quần áo hoặc báo cũ rồi mang lên đặt ở phía chân hoặc dưới gầm giường để ngủ cho ấm.

Để phục vụ nhu cầu này, đã xuất hiện một thị trường sản xuất gạch sưởi.

Để phục vụ nhu cầu này, đã xuất hiện một thị trường sản xuất gạch sưởi.

Vào giai đoạn Bác Hồ sống ở Châu Âu, loại gạch sưởi phổ biến nhất là loại Chauffeuse của Pháp. Ở Anh có một loại tương tự gọi mang nhãn hiệu Victoria. Chúng được thiết kế khá thẩm mỹ và tiện dụng.

Vào giai đoạn Bác Hồ sống ở Châu Âu, loại gạch sưởi phổ biến nhất là loại Chauffeuse của Pháp. Ở Anh có một loại tương tự gọi mang nhãn hiệu Victoria. Chúng được thiết kế khá thẩm mỹ và tiện dụng.

Gạch dùng để sưởi ấm không phải loại gạch xây dựng bình thường mà là gạch chịu nhiệt (firebrick) - chính là loại gạch dùng để xây lò sưởi, chịu được nhiệt độ cao và có khả năng giữ nhiệt rất lâu.

Gạch dùng để sưởi ấm không phải loại gạch xây dựng bình thường mà là gạch chịu nhiệt (firebrick) – chính là loại gạch dùng để xây lò sưởi, chịu được nhiệt độ cao và có khả năng giữ nhiệt rất lâu.

Khi được nung đến khoảng 400 độ và bọc gói kỹ lưỡng, viên gạch sẽ giữ nhiệt được khoảng 5-7 tiếng đồng hồ, đủ cho một đêm.

Khi được nung đến khoảng 400 độ và bọc gói kỹ lưỡng, viên gạch sẽ giữ nhiệt được khoảng 5-7 tiếng đồng hồ, đủ cho một đêm.

Tại khác khu nhà trọ dành cho người lao động ở thành phố, mỗi sáng khi đi làm, người thuê nhà sẽ đưa cho chủ nhà một viên gạch sưởi. Khi đốt lò sưởi buổi tối, họ sẽ đặt viên gạch vào lò cho nóng.

Tại khác khu nhà trọ dành cho người lao động ở thành phố, mỗi sáng khi đi làm, người thuê nhà sẽ đưa cho chủ nhà một viên gạch sưởi. Khi đốt lò sưởi buổi tối, họ sẽ đặt viên gạch vào lò cho nóng.

Khi trở về nhà, trước khi ngủ những người thuê nhà sẽ lấy viên gạch bọc kỹ nó để sử dụng.

Khi trở về nhà, trước khi ngủ những người thuê nhà sẽ lấy viên gạch bọc kỹ nó để sử dụng.

Là một người cần lao, không có gì khó hiểu khi Bác Hồ sử dụng cách thức sưởi ấm bình dân này trong thời kỳ sinh sống ở châu Âu.

Là một người cần lao, không có gì khó hiểu khi Bác Hồ sử dụng cách thức sưởi ấm bình dân này trong thời kỳ sinh sống ở châu Âu.

Ngày nay, một viên gạch sưởi như vậy đang được trưng bày tại Bảo tàng Hồ Chí Minh ở Hà Nội như dấu ấn về một giai đoạn hoạt động cách mạng của Bác Hồ.

Ngày nay, một viên gạch sưởi như vậy đang được trưng bày tại Bảo tàng Hồ Chí Minh ở Hà Nội như dấu ấn về một giai đoạn hoạt động cách mạng của Bác Hồ.

Theo Kiến Thức

“Trong trại giam của Việt Cộng” – Phần 3

“Trong trại giam của Việt Cộng” – Phần 3

Xem phần 2

TRONG TRẠI GIAM VIỆT CỘNG – Klaus Liedke – Phần 3

Có ba câu hỏi cần được giải đáp :

1. Vì sao người Mỹ thua cuộc chiến tranh ở Việt Nam ?

Trước tất cả là sự tự lừa dối mình của người Mỹ. Rằng cuộc chiến này khác với việc tiến hành một cuộc chiến thực dân chống lại một phong trào giải phóng dân tộc, mà là bảo vệ “tự do phương Tây” chống lại “nô dịch Cộng sản”. Nhưng những nhà Cộng sản lãnh đạo phong trào giải phóng đã nhìn thấy một con đường đúng đắn trong việc kế thừa cuộc đấu tranh cả ngàn năm chống ách thống trị của Trung Quốc, Pháp và Nhật.

Chính Lyndon B.Johnson, trước khi leo thang chiến tranh đã cảnh tỉnh rằng “gửi lính Mỹ vào vùng đầm lầy bẩn thỉu ở Đông Dương để vĩnh viễn hóa chủ nghĩa thực dân và sự bóc lột của người da trắng tại châu Á”. Và chính Dwright D.Eisenhower là người chống lại việc thống nhất Việt Nam thông qua tổng tuyển cử tự do như trong hiệp định Giơnevơ đã thỏa thuận bởi vì, như sau này trong hồi ký ông ta đã viết : “hình như 80% dân chúng sẽ bầu ông Hồ Chí Minh làm người lãnh đạo mình”.

Sự can thiệp của Mỹ như vậy là một hành động xâm lược cổ điển, tương tự sự can thiệp của Liên Xô tại Tiệp Khắc và sự can thiệp của Hoa Kỳ tại Cộng hòa Dominic. Tất cả với một mục đích duy nhất : loại trừ lực lượng cách mạng dân tộc. “Cộng sản hay không Cộng sản, tư tưởng yêu nước là một sức mạnh mà không có một đẳng cấp nào đương đầu nổi” – tướng Marcel Bigeard, người đã chỉ huy đội quân lính nhảy dù của Pháp tại Điện Biên Phủ đã bình luận tại Paris, sau khi Sài Gòn thất thủ.

Người Mỹ đã đương đầu với chủ nghĩa yêu nước này bằng thứ gì ? Đó là những con người tham nhũng, trấn áp của một giuộc như Kỳ và Thiệu, những chính khách không có dân hậu thuẫn. Họ hô hào bảo vệ “tự do phương Tây” mà chưa hề thiết lập nó bao giờ. Họ cản ngăn cải cách xã hội mà CIA cho rằng rất cần thiết để tranh thủ “trái tim và khối óc” của người dân ở Việt Nam. Họ sáng chế ra chuồng cọp, và với “chiến dịch Phượng Hoàng” của họ được vạch ra ở Washington, họ đã thủ tiêu 20.000 người Nam Việt Nam bị nghi vấn có cảm tình với Việt Cộng.

Cuối cùng, trong tiến hành chiến tranh Việt Nam không những về mặt đạo lý, mà cả trong chiến thuật người Mỹ đã thất thế. Những nơi nào họ xuất hiện bằng những đội quân đông đảo, ở đó đối phương chiến đấu như người du kích, cơ động, lẫn tránh từ nơi phục kích. Ở đâu họ nhường chỗ cho pháo binh Nam Việt Nam hoạt động, thì ở đó đối phương hình thành những đơn vị chiến đấu thông thường và chiến thắng.

Người Mỹ nói về mặt quân sự họ “dè dặt”, họ có thể đánh thắng nếu người ta cho các nhà quân sự của họ được tự do hành động. Những con số sau đây nói lên điều ngược lại : năm 1954 khi ngoại trưởng Mỹ John Foster Dulles chào mời bom nguyên tử cho cuộc chiến cuối cùng với thủ tướng Pháp Bidault, thì người Mỹ đã chi cho cuộc chiến tranh thực dân Pháp 80% rồi. Trong những năm 60, thượng viện Mỹ hầu như thông qua tất cả các khoản tiền mà lầu Năm Góc đã yêu cầu cho việc tiến hành chiến tranh. Người Mỹ đã gửi 500.000 quân và 150 tỷ đô la cho cuộc chiến tranh, trong khi đó người đồng minh của Việt Cộng và Bắc Việt Nam – người Trung Quốc và người Nga không có gửi quân đội, chỉ chi 10 tỷ đô la.

Phải chăng là “dè dặt’, rằng Mỹ không ném bom Bắc Việt Nam để trở về “thời kỳ đồ đá” như một tướng của Hoa Kỳ đã đề nghị ? Phải chăng là “dè dặt”, rằng không có một thành phố nào ở Nam Việt Nam như Bến Tre, đồng bằng sông Mêkong, mà một sĩ quan Mỹ đã nói hồi tháng 2/1968 : “Chúng tôi hủy diệt nó để cứu lấy nó”. Thật đáng nghi vấn. Giả sử liệu người Mỹ thống nhất được đất nước này. Nhưng chắc chắn, không bao giờ họ giành được thắng lợi.

2. Người Mỹ rút ra được bài học nào từ Việt Nam ?

“Chúng tôi đã học được bài học Việt Nam”, tổng thống Ford đã tuyên bố sau khi đầu hàng. Nói thẳng ra, bài học nào ? Kissinger, người nhận giải thưởng Nobel, vẫn làm ngoại trưởng. Người thiết kế “chiến dịch Phượng Hoàng” ngày ngày là chef của CIA. Và khi vụ tai tiếng Mayaguez đưa tới thời cơ cho ông, thì tổng thống Ford bất ngờ tấn công, nói rằng để chứng minh cho thế giới thấy “tinh thần quân sự lành mạnh” của Mỹ sau thất bại ở Đông Dương không bị bẻ gãy. Hành động của Ford cố làm cho dân tộc mình quên đi sự nhục nhã hôm qua đã đem đến cho ông 15 điểm cộng trong biểu đồ uy tín của ông. “Hãy cứu lấy sinh mạng người Mỹ”, là sự ngụy biện đối với người Mỹ đủ dành cho những cuộc phiêu lưu quân sự đại chúng, hoang dã.

Tất nhiên đối với người Mỹ tin vào đức Chúa Trời và tổng thống của họ cũng không thể không nhận thức được rằng những nhà lãnh đạo chính trị và quân sự của họ ngay từ đầu đã lừa dối họ : Johnson, người không muốn để “các chàng trai Mỹ” chiến đấu thay cho “các chàng trai châu Á” và để trở thành kẻ giết hại trẻ con đâu. Nixon với cuộc chiến tranh bí mật của ông tại Campuchia và những lời hứa bí mật của ông với Thiệu ( nhưng cuối cùng đã không thực hiện ). Kissinger, người trước bầu cử 1972 đã nhìn thấy “hòa bình trong tầm tay” và sau bầu cử đã thừa nhận rằng ông ta nhầm lẫn. CIA, kẻ được cho là triệt phá được lực lượng đối phương. Bộ tổng tham mưu cứ mỗi mùa thu lại nêu lên triển vọng thắng lợi mới trong năm tiếp theo. Đối với người Mỹ, một mẫu của Orwell 1984 đã trở thành hiện thực một bộ nói sự thật chịu trách nhiệm về những lời nói dối của chính phủ.

Có một quan niệm khác mà người Mỹ không thể bỏ qua. Trước sự kiện Mỹ Lai, binh lính của họ là những người phân phát kẹo cho trẻ em, binh lính nước khác gây ra những vụ thảm sát. Bây giờ, lính Mỹ là những kẻ gây tội ác chiến tranh, những người lính xấu trong chương trình truyền hình về lịch sử chiến tranh. Sự tổn thương về vật lý trên chiến trường dẫn đến tổn thương về tâm lý tại quê nhà. Với trường hợp tội lỗi tại Đông Dương, nước Mỹ đã mất đi sự vô tội về chính trị toàn cầu trong nhận thức của công dân nước họ.

Và nếu nước Mỹ đã học được điều gì, thì đó có thể là nhận thức rằng Mỹ không phải là bậc thang văn minh cao nhất mà mỗi dân tộc phải vươn tới, rằng Nam Việt Nam khi nó sụp đổ có thể chỉ là xa lìa “con đường sống của Mỹ” mà thôi.

3. Tình hình ở Việt Nam sẽ tiếp tục như thế nào ?

Đê điều bị ném bom, đồng ruộng bị rải mìn, rừng xanh trụi lá, làng mạc và đô thị bị tàn phá đòi hỏi một công cuộc xây dựng lại đắt giá, lâu dài. Phải chăm sóc cho hàng triệu người thất nghiệp, đưa những người di tản trở về quê cũ. Năm 1960, chỉ có 15% dân số Nam Việt Nam sống trong các đô thị, những năm gần đây đã tăng lên 50%. Mùa màng bị đe dọa.

Thắng lợi của phong trào giải phóng không phải là sự bành trướng tự động không gian quyền lực của Liên Xô hay Trung QUốc. Nó có ý nghĩa không gì hơn là sự mở rộng của một nhà nước Cộng sản dân tộc xuất phát từ những động cơ dân tộc, và thậm chí còn muốn có sự viện trợ của Hoa Kỳ để độc lập hơn với Matxcơva và Bắc Kinh. Có thể người Việt Nam làm được điều đó, trong vòng 5 năm tổ chức lại miền Nam, “cải tạo lại”, để nó cùng với miền Bắc được lãnh đạo chặt chẽ có thể tiến đến tái thống nhất.

Dù có thể có gì xảy ra trong nội bộ những người Bắc Việt Nam và những người anh em cách mạng của họ ở miền Nam – những người đại diện Chính phủ Cách mạng lâm thời, nhưng dân tộc này đã là thống nhất. Một dân tộc 43 triệu dân có một trong những quân đội giỏi nhất thế giới. Và trước hết, đây là một cường quốc về đạo lý

( Hết )

Diễn đàn Lịch Sử Việt Nam đánh máy và hiệu đính từ sách THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – GIỜ KHẮC SỐ 0