‘Xé xác’ Rồng Xanh Hàn Quốc năm 1967 – Trận đánh oai hùng của đặc công Việt Nam

‘Xé xác’ Rồng Xanh Hàn Quốc năm 1967 – Trận đánh oai hùng của đặc công Việt Nam

Sau trận đánh hủy diệt khiến 420 binh lính Hàn Quốc thiệt mạng, 6 tên còn sống sót ở một đơn vị Rồng Xanh đã rút chốt lựu đạn tự tử tập thể, một số tự bắn vào chân để phản đối lệnh đi càn của chỉ huy.

Lính Rồng Xanh Hàn Quốc tại chiến tranh Việt Nam

Lính Rồng Xanh Hàn Quốc tại chiến tranh Việt Nam

Trước năm 1965 chính phủ Đại Hàn Dân Quốc đã gửi các đơn vị quân y và các võ sư sang tham gia vào các hoạt động giao lưu với chính phủ Việt Nam Cộng Hòa nhằm dọn đường cho việc tham gia chính thức vào chiến trường Việt Nam sau này. Từ năm 1965 trở đi lần lượt các đơn vị chiến đấu của Đại Hàn lần lượt cập bến quân cảng Đà Nẵng và chính thức tham chiến. Đó là Sư đoàn bộ binh Capital có cái tên rất kêu “Mãnh hổ” đóng quân ở Qui Nhơn, tiếp theo là sư đoàn bộ binh “Bạch Mã” đóng ở Phú Yên, Lữ đoàn thuỷ quân lục chiến “Rồng Xanh” đóng quân tại Quảng Ngãi, Hội An.

So với lực lượng giải phóng quân của ta thì quân Hàn Quốc được huấn luyện rất bài bản và được chọn lựa kỹ càng. Chúng rất thành thạo về các chiến thuật “phản” du kích, kỹ chiến thuật điêu luyện. Được huấn luyện đào tạo theo các giáo trình huấn luyện biệt kích của Mỹ, chúng rất gan lỳ và được đầu độc nặng nề về lòng căm thù chế độ Cộng sản. Ngoài ra ngay cả người Mỹ cũng phải kính nể về trình độ võ thuật của lính Hàn Quốc. Tiêu chuẩn của binh lính tham gia vào các đơn vị kể trên là phải có trình độ cao đăng môn Teakwon-do hoặc Happkido truyền thống của Đại Hàn.

Lính Hàn Quốc có thể độc lập tác chiến và tự tìm cách duy trì sự sống trong rừng sâu khi bị lạc đơn vị trong chiến đấu một thời gian tương đối lâu. Chúng nghiên cứu quy luật chiến đấu và hoạt động của du kích ta rất kỹ lưỡng và đối phó khá hiệu quả trong thời gian đầu. Chúng tổ chức các đợt càn quét lớn và rộng, đêm đêm chia quân đi phục kích các vị trí nghi ngờ với sự kiên trì và tính kỷ luật cao độ. Khi đi càn chúng luôn luôn đi đầu, trực thăng Mỹ và pháo binh yểm trợ trên đầu và bộ binh Mỹ ủng hộ vòng ngoài.

Quân Hàn Quốc hoạt động gần như là độc lập với quân VNCH và không tin tưởng vào đồng minh trong vấn đề tác chiến. Chúng sẵn sàng nổ súng tiêu diệt mà không cần bắn cảnh cáo khi có một dân vệ VNCH đi lạc đường vào khu vực mà chúng chiếm giữ.

Quân ta gặp khá nhiều khó khăn và tổn thất khi đối đầu với lính Hàn Quốc. Chúng rất lỳ lợm trong việc phục kích và khủng bố dân trong các vùng chiếm đóng với cách thức hết sức dã man.

Quân đội Hàn Quốc gây ra rất nhiều tội ác man rợ, trời không dung đất không tha như giết hại cùng một lúc 500 dân làng ở Tịnh Sơn Sơn Tịnh Quảng Ngãi với thành phần chủ yếu là người già trẻ em và phụ nữ để khủng bố răn đe mọi người không được ủng hộ du kích và trả thù cho những tên bị quân ta tiêu diệt…

Tư lệnh miền đã nhận được rất nhiều thư tố cáo và yêu cầu trừng trị lũ giặc đánh thuê man rợ của chi hội phụ nữ và dân trong vùng bị chúng chiếm đóng. Quân ta đã tập trung lại và thề tiêt diệt bọn Đại Hàn để trả thù cho các chiến sĩ và đồng bào hy sinh vơi khẩu hiệu viết bằng máu: “Xé xác Rồng Xanh, Phanh thây Mãnh Hổ! Máu phải trả bằng máu, quyết trả thù cho đồng bào Bình Sơn, Sơn Tịnh bị Nam Triều Tiên sát hại”.

Các chiến sĩ ta và trận với quyết tâm cao cùng với vành khăn tang trắng quấn trên đầu để tưởng nhớ những đồng bào bị giặc sát hại. Và các hoạt động “Khai tử Rồng Xanh ” liên tục diễn ra.

Vào một ngày giữa năm 1966, như thường lệ lính Hàn Quốc lên trực thăng đi càn khá đông, chúng đổ bộ xuống một cánh đồng mà không biết đã có tiểu đoàn 48 quân giải phóng bố trí trận địa bao vây phục sẵn. Đợi bọn giặc vào thật gần cả tiểu đoàn đồng loạt nổ súng, địch bị bất ngờ chống cự yếu ớt và tháo chạy tìm đường thoát thân. Quyết không để kẻ thù chạy thoát quân ta nhất loạt xung phong truy kích tiêu diệt địch. Cuối trận đánh địch hầu như bị tiêu diệt toàn bộ, bỏ lại hơn 200 xác chết, chỉ có một số ít tháo chạy được.

Sau đó, nhiều đại đội Hàn Quốc bị tiêu diệt gọn trong các trận bao vây và phục kích của ta. Địch bắt đầu hoang mang và chùn tay hơn khi đi càn quét.

Tuy nhiên, tinh thần của chúng chỉ gục ngã hẳn sau một trận đánh lớn, trận đánh giáng một đòn mạnh vào quân đội Hàn Quốc rung động đến cả Seoul và làm Tổng thống Park Chung Hee phải điên đầu. Đó là trận tấn công một tiểu đoàn lính thuỷ đánh bộ của Lữ đoàn “Rồng Xanh” nổi tiếng tàn ác khát máu đóng đóng tại đồi tranh Quang Thạnh tỉnh Quảng Ngãi vào năm 1967.

Trận đánh này có ý nghĩa rất lớn, nó củng cố tinh thần cho quân giải phóng, làm hả lòng hả dạ đồng bào Quảng Ngãi nơi quân giặc đã gây ra nhiều tội ác tày trời. Làm tan rã ý chí chiến đấu và sự hung hăng của quân Hàn Quốc đánh thuê. Đặc biệt, trận này không phải là ta phục kích đánh lẻ tẻ mà đánh tiêu diệt xoá xổ một lực lượng cỡ tiểu đoàn trong một căn cứ phòng ngự vững chắc được kết cấu bởi một hệ thống các công sự phòng ngự kèm các lô-cốt cố thủ bao quanh bởi một hệ thống dây kẽm gai gài mìn nhiều tầng được giám sát bảo vệ bởi các tốp lính đi tuần và canh gác cẩn mật.

Diễn biến trận Quang Thạnh ngày 15/2/1967

Tư lệnh miền đã cân nhắc rất kỹ các kế hoạch tấn công vào cứ điểm đồi tranh Quang Thạnh. Mục tiêu của ta đề ra là phối hợp các tiểu đoàn chiến đấu vận động bí mật tiếp cận mục tiêu theo hình thức đặc công. Đến nơi tạo 4 cửa mở ở bốn góc bằng cách gài bộc phá để phá đồng loạt các hàng rào dây kẽm gai sau đó đồng loạt xung phong tiến vào tiêu diệt quân địch trong cứ điểm bằng AK, lựu đạn và súng phun lửa kết hợp với DKZ và B-40 ở bên ngoài. Yếu tố bất ngờ đóng vai trò chủ đạo và trận đánh phải sẽ diễn ra vào khoảng 10 giờ tối và phải kết thúc trước càng nhanh càng tốt trước khi trời sáng để đề phòng quân địch ở các căn cứ khác kéo đến tiếp viện và hạn chế hoả lực của phi pháo bắn tiếp cứu

Trận đánh bắt đầu đúng như kế hoạch, ta dùng 4 mũi tấn công bí mật tiếp cận từ các hướng, giữa các mũi tấn công luôn luôn đảm bảo liên lạc thông suốt với nhau và với ban chỉ huy trận đánh. Tuy nhiên do rải lộ tiêu không tốt mà một mũi tấn công bị lạc đường mất liên lạc và không đến vị trí tập kết được. Mặc dù chỉ còn ba mũi nhưng ta vẫn quyết định tấn công cứ điểm. Ta đã thành công trong việc bịt mắt bọn đi tuần và bọn gác bên ngoài. 3 mũi bí mật tiếp cận các cửa mở và đã đặt bộc phá xong, chỉ huy trận đánh ra lệnh đồng loạt phát hoả để mở các cửa.

Diễn biến trận Quang Thạnh ngày 15/2/1967

Diễn biến trận Quang Thạnh ngày 15/2/1967

Sau những tiếng nổ của bộc phá và DKZ, B-40 cùng lựu đạn. Quân ta nhất loạt xung phong đột phá qua các cửa mở dùng AK bắn xối xả vào các giao thông hào, các ụ phòng ngự có đặt trung liên, và các khu dã chiến cho lính ngủ nửa chìm nửa nổi. Bọn địch bị hoàn toàn bất ngờ , vòng ngoài nhanh chóng bị hoả lực của ta tiêu diệt. Số còn lại lùi vào bên trong vừa phản kích dữ dội vừa tìm cách tập trung lực lượng dựa vào các lô cốt phòng ngự. Nắm được ý đồ của địch, ta vừa tăng cường sức tiến công vừa bao vây chia cắt địch theo từng khu vực để tiêu diệt và gọi hàng.

Mặc dù sức tấn công của ta mạnh ở 3 mũi nhưng do thiếu một mũi tấn công thứ tư cho nên việc chia cắt cô lập địch thành các khu nhỏ để bao vây tiêu diệt triệt để trở nên khó khăn. Quân Hàn Quốc dựa vào các lô-cốt hầm ngầm điên cuồng chống cự bằng trung liên, nhất quyết không đầu hàng. Ta dùng súng phun lửa và lựu đạn tiêu diệt các ụ phòng ngự ngoan cố này.

Đến gần sáng, ta làm chủ phần lớn cứ điểm, căn cứ ngổn ngang xác địch. Do sơ hở, ta để một đại đội thuộc sư đoàn bộ binh Mãnh Hổ từ bên ngoài đánh vào tiếp cứu và chúng co cụm vào 2 lô-cốt kiên cố nhất ở trên cao, dùng hoả lực chống cự quyết liệt…

Lúc này phi pháo ở bên ngoài bắn vào dữ dội hơn. Do bên trong căn cứ lúc này chủ yếu là quân ta cho nên chỉ huy trận đánh ra lệnh giải quyết số thương binh tử sĩ và rút lui dần vì nếu kéo dài đến sáng sẽ không có lợi.

4 giờ sáng quân ta rút lui an toàn ra khỏi căn cứ đồi tranh Quang Thạnh.

Mặc dù không tiêu diệt được 100% quân số địch, không bắt được tù binh nhưng số mà ta tiêu diệt và loại khỏi vòng chiến đấu đủ để xoá sổ tiểu đoàn lính thuỷ đánh bộ của Lữ đoàn Rồng Xanh đóng tại đây. Trận này ta tiêu diệt tại chỗ 420 lính Hàn Quốc (chúng có khoảng 500 tên trong căn cứ).

Đây là một trận đánh lớn, có ý nghĩa cực kỳ quan trọng, đánh qụy Lữ đoàn thuỷ quân lục chiến Rồng Xanh, giáng một đòn chí tử vào đội quân đánh thuê tàn ác, củng cố tinh thần cho bộ đội khu Năm về khả năng đánh địch trong cứ điểm phòng ngự kiên cố. Âm vang của trận đánh lớn đến nỗi làm lình Hàn Quốc sống sót mất hết tinh thần. Sau trận đánh, sáu tên lính Park Chung Hee ở một đơn vị Rồng Xanh đã rút chốt lựu đạn tự tử tập thể, một số tự bắn vào chân để phản đối lệnh đi càn của chỉ huy.

Ở các nơi có bọn Đại Hàn đóng quân, một số đem súng tìm du kích để đầu hàng. Một số thông qua dân nhắn bộ đội giải phóng đừng có bắn chúng, đổi lại chúng sẽ chỉ đi càn lấy lệ

Sau chiến thắng này bà con ta hả lòng hả dạ và yên tâm bám đất ủng hộ du kích kiên quyết không vào các ấp chiến lược do địch cưỡng chế.

Theo VNDEFENCE

Kháng chiến chống Nguyên Mông lần 2 – Kỳ 7 : Mưu lược người Chiêm Thành

Kháng chiến chống Nguyên Mông lần 2 – Kỳ 7 : Mưu lược người Chiêm Thành

Toa Đô sai sứ đi thăm bệnh vua Indravarman V, thực chất là đi do thám. Bảo Thoát Thốc Hoa cũng biết điều này nhưng không thể từ chối vì sẽ làm lộ kế hoạch hoãn binh, quân Nguyên sẽ tấn công ngay trong khi quân Chiêm Thành chưa hoàn toàn sẵn sàng. Để đối phó, Bảo Thoát Thốc Hoa ngầm kêu hai con tin về trước báo cáo với vua Chiêm bàn cách đối phó, không cho sứ Nguyên vào căn cứ, còn mình dẫn sứ Nguyên theo sau. Sứ giả của quân Nguyên cùng Bảo Thoát Thốc Hoa vừa đi vào núi 2 dặm đã bị quân canh ngăn lại. Bảo Thoát Thốc Hoa bấy giờ tỏ vẻ như bị vua Chiêm dối gạt và muốn trở giáo theo quân Nguyên, ông ta vờ nói với Lâm Tử Toàn: “Quốc chủ dùng dằng không chịu ra hàng, nay lại phao lời là muốn giết tôi, ông hãy về thưa với tỉnh quan rằng quốc chủ đến thì đến, không đến thì tôi sẽ bắt đem nộp”. Bọn Lâm Tử Toàn tưởng thật bèn quay về báo lại với Toa Đô, để cho Bảo Thoát Thốc Hoa trở về căn cứ quân Chiêm Thành. Vua Chiêm hạ lệnh giết một số kiều dân người Hoa, đề phòng những người này báo tin cho quân Nguyên.

Ngày 8.3.1283, Bảo Thoát Thốc Hoa lại đến trại Toa Đô tiếp tục nhiệm vụ. Ông ta dùng lời nói xấu vua Chiêm với Toa Đô, rồi vờ xin áo mũ của người Nguyên để đi chiêu dụ người Chiêm, bắt cha con vua Indravarman V. Toa Đô tưởng thật nên cũng thuận theo.

Ngày 15.3.1283, Bảo Thoát Thốc Hoa dẫn theo một số quan lại cao cấp của Chiêm Thành đến trại Toa Đô “xin hàng”. Bấy giờ trong trại Toa Đô có một người Hoa là Tăng Diên mấy ngày trước thoát khỏi sự giết hại của vua Chiêm, đã đến khai báo với Toa Đô việc vua Chiêm trữ binh, đắp thành, phát chiếu cần vương đến các châu quận. Toa Đô sai Tăng Diên ra đối chất với Bảo Thoát Thốc Hoa. Cuối cùng, bằng lý lẽ sắc bén, Bảo Thoát Thốc Hoa đã làm chủ được tình thế, khiến Toa Đô tin rằng quân Chiêm đã tan vỡ gần hết, không còn ý chí chống cự. Tăng Diên bị bắt trói.

Lấy được lòng tin của địch rồi, Bảo Thoát Thốc Hoa lại “hiến kế” cho Toa Đô, khuyên Toa Đô sai người dụ các châu quận ở Chiêm Thành hàng, còn ông ta sẽ dẫn Toa Đô “đi bắt quốc chủ, Bổ Đích và đánh thành”. Toa Đô nghe kế, một mặt sai Lâm Tử Toàn dẫn quân theo Bảo Thoát Thốc Hoa đi bắt vua Chiêm, mặt khác tự dẫn quân đóng ở tháp Bán Sơn làm hậu viện. Bảo Thoát Thốc Hoa dẫn quân của Lâm Tử Toàn đến Chà Bàn thì cưỡi voi tìm đường trốn vào núi, bỏ mặc quân Nguyên. Nhiệm vụ trá hàng, hoãn binh của Bảo Thoát Thốc Hoa đến đây kết thúc với thành công mỹ mãn.

Trong thời gian khoảng 1 tháng mà Bảo Thoát Thốc Hoa dùng mưu trí để kéo dài được, thái tử Harijit đã dựng xong một thành gỗ vững chắc ở núi Nha Hầu với nhiều lớp hầm hào, cạm bẫy vòng ngoài bố trí chờ đón quân Nguyên. Các châu quận của Chiêm Thành đem quân tới cứu viện, tổng số hơn 2 vạn người. Quân của các địa khu Indrapura, Amaravati thì đang trên đường tới hội quân. Nước Đại Việt cũng đem 2 vạn quân, 500 chiến thuyền lên đường sang tiếp viện cho Chiêm Thành (theo Nguyên sử).

Bảo Thoát Thốc Hoa về rồi, Toa Đô mới nhận ra mình bị mắc lừa, liền tổ chức tấn công. Quân Nguyên do tướng Trương Ngung chỉ huy tiến thẳng đến thành gỗ mới xây của quân Chiêm. Trên đường đi hiểm trở, quân Nguyên bị kháng cự dữ dội từ mọi hướng. Phía Chiêm Thành dùng bẫy đá, gỗ từ trên dốc cao thả xuống, rồi xua quân mai phục tấn công vào cả hai cánh và phía sau quân Nguyên. Lần này quân Nguyên đại bại, Trương Ngung mở đường máu cùng một số tàn binh chạy về doanh trại. Chịu tổn thất nặng nề và vô vọng trong việc tổ chức tấn công căn cứ vững chắc của người Chiêm Thành, Toa Đô buộc phải chuyển sang chiến lược mới.

Quân Nguyên từ Chà Bàn rút về ven biển Quy Nhơn, dựng lại thành gỗ để toan đồn trú lâu dài. Toa Đô tung quân đi cướp phá lương thực các nơi để tích trữ, chia quân phòng giữ và chờ đợi thêm quân tiếp viện từ Nguyên triều. Nhận thấy thế lực của quân Nguyên đã suy yếu, Chiêm Thành tổ chức tổng tấn công. Quân Chiêm Thành từ vùng núi kéo xuống kịch chiến với quân Nguyên một trận ở gần thành gỗ. Lần này, khả năng đánh dàn trận của quân Nguyên lại phát huy tốt, đánh bại được quân Chiêm Thành. Thái tử Harijit lại phải hạ lệnh rút lui về cố thủ trong núi. Toa Đô thắng trận nhưng lực lượng chịu tổn thất nặng, cũng đành cho đóng quân cố thủ trong thành gỗ chờ viện binh.

Quân Chiêm Thành không đủ sức tấn công quân Nguyên trong một trận chiến quyết định, chuyển sang chiến lược tiêu hao, phát động chiến tranh nhân dân. Quân dân Chiêm Thành chia làm nhiều toán nhỏ thường xuyên quấy rối, phục kích những toán quân Nguyên đi kiếm lương thực. Thế quân Chiêm Thành lại dần tăng lên, thế quân Nguyên ngày càng suy sụp.

Với quyết tâm thôn tính Chiêm Thành, Nguyên triều lại điều động quân tiếp viện cho Toa Đô. A Lý Hải Nha được phái làm Bình chương hành tỉnh Kinh Hồ – Chiêm Thành, yêu cầu Đại Việt cho chúng mượn đường đi đánh Chiêm Thành. Đại Việt liền từ chối. Nguyên triều phải lựa chọn tiếp viện bằng đường biển. Tuy nhiên, việc phu dịch, thuế má quá khổ sở đã vượt quá sức chịu đựng của dân chúng các vùng phía nam nước Nguyên mà chúng mới chiếm được từ Nam Tống không lâu. Các cuộc khởi nghĩa, nổi loạn đã làm gián đoạn kế hoạch tăng viện cho Toa Đô.

Quân Nguyên ở Chiêm Thành không chịu nổi đói khát, cực khổ dẫn tới lớp chết lớp đào ngũ. Toa Đô nhận thấy tình thế không thể tiếp tục đóng trú tại Quy Nhơn được nữa, bèn hạ lệnh cho quân lính bỏ thành đem binh thuyền men theo bờ biển tiến về phía bắc Chiêm Thành, vùng giáp giới với Đại Việt. Toa Đô đánh chiếm hồ Đại Lãng (thuộc địa khu Indrapura, tức Thừa Thiên-Huế ngày nay) làm chỗ trú quân. Y sai lính dựng thành bằng gỗ, tự làm đồn điền để tự túc, đồng thời nhiều phen cho người vượt biển đưa thư xin tiếp viện.

Trong khi đó, đến tận tháng 3.1284 Nguyên triều mới điều động được viện binh gồm 3 vạn quân và vài trăm thuyền, do A Tháp Hải (Ataqai) chỉ huy. Đội quân này không biết quân của Toa Đô đã kéo ra bắc nên cứ nhằm vùng gần quốc đô Chiêm Thành mà tiến. Binh thuyền của A Tháp Hải đến Quy Nhơn vào tháng 4.1284 thì mới biết là Toa Đô đã không còn ở đó. A Tháp Hải cùng đội viện binh bèn giong thuyền lên phía bắc tìm Toa Đô, dọc đường đi bị bão đánh tan tác gần hết. Tàn quân từ Chiêm Thành chạy về nước đều vô cùng chán ngán sóng gió phương nam nhưng lại bị triều đình điều động trở lại Chiêm Thành. Vì vậy, chúng trở nên bất tuân lệnh, rủ nhau làm thổ phỉ, làm loạn cả một vùng.

Bấy giờ ở Chiêm Thành, Toa Đô hoàn toàn hết hy vọng đánh chiếm đất đai, thành trì của quân Chiêm mà chỉ có khả năng phòng thủ, cố gắng tự nuôi quân. Phía bên kia chiến tuyến, vua và thái tử Chiêm Thành cũng không dám mạo hiểm tấn công quân Nguyên, mà sai sứ đến điều đình xin Toa Đô rút quân về nước. Toa Đô không đồng ý rút quân mà vẫn cố nấn ná chờ đợi tiếp viện. Toa Đô sai người mang thư về Nguyên triều xui cất quân đánh Đại Việt trước: “Giao Chỉ liền đất với các nước Chân Lạp, Chiêm Thành, Vân Nam, Xiêm, Miến, có thể lập tỉnh ngay trên đất ấy và đóng quân trấn giữ ở ba đạo Việt Lý (1), Trì Châu (2), Tỳ Lan (3), lấy lương hướng ở đấy cấp cho quân lính, tránh được việc khó nhọc chuyển vận bằng đường biển”.

Hốt Tất Liệt vốn đã có ý lăm le thôn tính Đại Việt từ lâu, nhưng trước vẫn nghĩ rằng có thể dễ dàng đánh chiếm Chiêm Thành trước để làm bàn đạp đánh tập hậu Đại Việt. Nay hắn cũng nhận thấy việc đánh Chiêm Thành gặp phải nhiều trở ngại do đường biển xa xôi, bèn thay đổi kế hoạch. Tháng 8.1284, Hốt Tất Liệt phong cho con trai thứ 9 của mình là Trấn Nam Vương Thoát Hoan làm nguyên soái, Bình chương A Lý Hải Nha làm phó tướng chuẩn bị việc đánh Đại Việt để thông đường trên bộ hòng dễ dàng tiến xuống phương nam và nhiều nước khác.

Cho đến đầu năm 1285, cuộc chiến Nguyên Mông – Đại Việt nổ ra. Toa Đô chia quân cho Diệp Hắc Mê Thất (Yigmis) đồn trú ở phía bắc Chiêm Thành, còn hắn dẫn phần nhiều hơn quân lính tiến vào lãnh thổ phía nam Đại Việt, tạo thành gọng kìm phối hợp với Thoát Hoan và Á Lý Hải Nha ở phía bắc. Vận mệnh của Chiêm Thành từ đây phụ thuộc vào cuộc chiến đấu của quân dân Đại Việt.

Quốc Huy/Một Thế Giới

(1) : Việt Lý tức vùng Quảng Trị ngày nay. Ý Toa Đô là chỉ vùng giáp ranh giữa Đại Việt và Chiêm Thành thời bấy giờ.

(2) Trì Châu (có sách ghi Triều Châu) là đất thuộc Quảng Đông, Trung Quốc.

(3) Tỳ Lan thuộc đảo Hải Nam, Trung Quốc.

– 7/9/1812: Trận Borodino

– 7/9/1812: Trận Borodino

 

Napoleon đã huy động 1 đạo quân viễn chinh chưa từng có trong lịch sử với 68,5 vạn người để đánh nước Nga. Nhưng lãnh thổ quá rộng lớn của Nga khiến cho con số này bị hao hụt dần do phải rải quân để bảo vệ tuyến đường tiếp tế. Khi đến gần làng Borodino thì trong tay Napoielon chỉ còn 13,5 vạn lính. Ở phía đối diện là 10 vạn quân Nga, 7000 lính Cossack và khoảng 1 vạn dân quân tổng động viên. Người Nga đã đào đắp công sự trước đó vài ngày trong một động thái quyết chiến, vì sau lưng họ là thành Moscow.

Trận Borodino đã diễn ra từ sáng đến tối với thương vong lớn của cả hai bên (trong 1 ngày có 7 vạn người chết và bị thương). Quân Nga kháng cự anh dũng chưa từng thấy, các sử gia Pháp thừa nhận rằng lính Nga sẵn sàng hy sinh đến người cuối cùng để tìm cách xoay chuyển tình thế (sư đoàn 24 của tướng Likhatrov tử trận toàn bộ, kể cả chỉ huy). Khi rút lui, quân Nga bị 400 khẩu pháo Pháp bắn đuổi theo nhưng các quan sát viên cho biết không một ai chạy trốn. Napoleon thắng trận này một cách vô cùng vất vả với thương vong 3,5 vạn người và 47 viên tướng. Về phía Nga, tuy thiệt hại nặng hơn (4,5 vạn) nhưng chủ lực vẫn được bảo toàn và nhất là sĩ khí họ không hề suy sụp như những đối thủ trước kia của Napoleon. Khi rút lui, Kutuzov đã để lại câu nói nổi tiếng “Mất Moscow nhưng không mất nước Nga”!

Đại quân Pháp tiến vào Moscow, nhưng đón tiếp họ chỉ là những người dân tự tay châm lửa đốt nhà mình, phần lớn cựu kinh đô nước Nga cháy rụi khiến Napoleon không còn chỗ trú ẩn và buộc phải ra lệnh rút về. Mùa đông ập đến sớm với giá rét bất thường khiến quân Pháp phải khốn đốn, trong khi đối thủ của họ đã quen với việc sống và tác chiến trong băng tuyết. 20 vạn người được xác định là chết không phải trong chiến đấu. Nước Nga với 41 triệu dân dư sức bổ sung lực lượng (lên đến 90 vạn lính và dân quân) đánh đuổi Napoleon chạy dài và từ đây sự nghiệp của hoàng đế Pháp bắt đầu xuống dốc.

Vào lúc cuối đời, Napoleon đã thừa nhận Borodino là trận kinh khủng nhất ông từng chứng kiến.

Pháp đổ bộ vào Đà Nẵng

Pháp đổ bộ vào Đà Nẵng

Đà Nẵng là nơi có hải cảng sâu và rộng, cắt đôi đất nước, lại khá gần kinh thành Huế. Hoàng đế Napoleon III cho rằng có thể dễ dàng đánh bại nhà Nguyễn, cho nên cử 3000 lính cùng 14 tàu chiến đổ bộ vào đây. Ngoài ra còn có 500 quân Tây Ban Nha hỗ trợ.

Ngày 1/9, tàu chiến Pháp bắn hàng trăm phát đạn vào bán đảo Sơn Trà, ngày 2/9 bắt đầu đổ bộ. Người Pháp bắn sập 2 đồn, chiếm được 2 đồn khác của quân nhà Nguyễn. Hữu quân Lê Đình Lý mang 2000 quân vào ứng cứu, nhưng bị tử thương trong một trận đánh ở xã Cẩm Lệ.

Trước tình hình đó, Nguyễn Tri Phương từ Nam Kỳ ra thống lĩnh quân phòng thủ. Ông thực hiện “vườn không nhà trống”, đắp lũy kéo dài, cô lập quân Pháp ngoài mé biển. Cách đánh của Nguyễn Tri Phương thụ động nhưng chu đáo, quân Pháp kẹt suốt 5 tháng không tiến được.

Tướng Pháp viết thư về chính quốc nói “Chính phủ bị đánh lừa về bản chất của cuộc đi đánh lấy Cochinchina; người ta trình bày rằng việc viễn chinh này chỉ là một việc dễ dàng thôi, nho nhỏ thôi; thực ra, nó không dễ, cũng không nhỏ…Người ta báo cáo rằng quân đội Việt không có gì, sự thật thì quân chính quy rất đông, còn dân quân…thì không đau ốm và không tàn tật…Trên bộ thì không hành quân lớn được, dù là chỉ hành quân ngăn ngắn mà thôi; binh lính không chịu đựng nổi…”

Sau thời gian dài bị cầm chân, quân Pháp quay lên tàu và tiến vào Gia Định. Mất thêm 4 năm chiến tranh nữa Pháp mới đánh thắng và buộc nhà Nguyễn nhượng lại 3 tỉnh miền Đông.

Kì 1: Thiết Mộc Chân thống nhất Mông Cổ

Kì 1: Thiết Mộc Chân thống nhất Mông Cổ

13558906_1453612751322913_2327542464863856837_o

Vào cuối thế kỷ 12, các bộ lạc du mục ở khu vực thảo nguyên Trung Á, phía bắc Trung Quốc bước vào giai đoạn hình thành một quốc gia thống nhất. Thời kỳ này người Mông Cổ có các liên minh bộ lạc lớn là Khiết Liệt, Mông Cổ, Nãi Man, Thát Đát … Do sự chia rẽ về lợi ích và chịu ảnh hưởng chính sách chia để trị của đế quốc Kim, các bộ lạc Mông Cổ vẫn thường xuyên đánh lẫn nhau.

Bấy giờ, một nhân vật kiệt xuất của người Mông Cổ nổi lên, đó là Thiết Mộc Chân (Temujin), thuộc bộ lạc Khất Nhan. Người này từng bước lập nên một liên minh lớn, tung quân đánh dẹp các bộ lạc thù địch, thống nhất được Mông Cổ. Năm 1206, hội nghị các quý tộc Mông Cổ đã tôn xưng Thiết Mộc Chân làm Thành Cát Tư Hãn ( Genghis Khan ), nghĩa là Vua của thiên hạ. Từ đây, Mông Cổ liên tục có những chiến dịch xâm lược quy mô lớn trên khắp các hướng. Tiến độ bành trướng của đế quốc Mông Cổ là chưa từng thấy trong lịch sử. Ban đầu, Mông Cổ thu phục nhanh chóng các bộ tộc lân cận người Khiết Đan, Đột Quyết. Sau đó lần lượt các đế chế hùng mạnh hàng đầu xung quanh bị đánh bại.

Năm 1206 Thành Cát Tư Hãn dẫn quân xâm lược nước Tây Hạ. Đến năm 1227 thì Tây Hạ vong quốc.

Năm 1219 quốc gia bá chủ Trung Á là Hoa Thích Tử Mô (Khwarezm) có xung đột với Mông Cổ. Thành Cát Tư Hãn dẫn quân tàn phá nước này. Đến năm 1221 thì hầu hết lãnh thổ nước này đã bị Mông Cổ chiếm.

Năm 1211 Mông Cổ tấn công đế quốc Kim, quốc gia của người Nữ Chân lập nên đang thống trị vùng Hoa Bắc. Đến năm 1215 thì chiếm được Trung Đô nước Kim. Nước Kim liên tiếp phải dời đô trốn tránh. Mông Cổ kết liên minh với Nam Tống cùng hội quân diệt Kim. Đến năm 1234 thì nước Kim hoàn toàn bị Mông Cổ thôn tính.

Trong khoảng thời gian từ 1229 đến 1242, một nhánh quân Mông Cổ do cháu nội của Thành Cát Tư Hãn là Bạt Đô (Batu) chỉ huy tiến quân về hướng tây bắc, tàn phá Đông Âu và Trung Âu. Quân Mông Cổ chiếm thành Moscow, tiêu diệt nước Nga Kiev (Kiev Rus), đánh bại quân Ba Lan, Hungari, Áo… Cả Châu Âu kinh hoàng trước sức mạnh quân Mông Cổ. Ở Đức xuất hiện bài cầu nguyện “Chúa cứu vớt chúng con khỏi sự cuồng bạo của Tatar”.

Quân Mông Cổ thời kỳ này đa phần là những kỵ binh cực kỳ tinh nhuệ và tàn bạo. Người Mông Cổ vốn là dân du mục lớn lên trên lưng ngựa, từ nhỏ đã tập tành cưỡi ngựa bắn cung và các kỹ thuật chiến đấu trên ngựa. Những trang bị vượt trội của quân Mông Cổ là cung tên bắn xa và mạnh, áo giáp độn da thú nhẹ và bền chắc, loan đao và gươm, giáo … Mỗi người lính Mông Cổ được trang bị đến bốn ngựa thay phiên nhau. Ngựa Mông Cổ dai sức, chạy nhanh, thích nghi được nhiều điều kiện thời tiết là thứ lợi khí quan trọng của người Mông Cổ. Khi tấn công vào vùng Trung Đông, người Mông Cổ tiếp thu kỹ thuật hỏa pháo và máy bắn đá loại Trebuchet. Những vũ khí này dùng để công phá thành trì cực kỳ lợi hại. Sau những cuộc chiến với người Châu Âu, người Mông Cổ bắt đầu xây dựng những đội Thiết kỵ binh với trang bị áo giáp hạng nặng bằng kim loại cho cả người và ngựa. Chúng ta thấy rằng, quân đội Mông Cổ không chỉ thiện chiến và trang bị tốt, mà còn biết tích cực tiếp thu kỹ thuật quân sự của những nền văn minh khác. Ngoài việc tiếp thu kỹ thuật, đế quốc Mông Cổ còn biết tận dụng nhân lực của những quốc gia bị thôn tính để bổ sung quân số. Do đó quân đội của đế quốc Mông Cổ vừa có chất lượng vừa đảm bảo số lượng.