Tạm ước Việt – Pháp (14/9/1946)

Tạm ước Việt – Pháp (14/9/1946)

Tháng 9/1946, chính phủ VNDCCH non trẻ tồn tại chưa đầy 1 năm nhưng mối họa thực dân đã trở lại. Pháp đã mang quân vào chiếm Nam Kỳ và lập ra chính phủ bù nhìn ở đó. Sau Hiệp ước Hoa-Pháp (tháng 2/1946), quân Pháp ra Bắc Kỳ thay thế quân Tưởng giải giáp phát xít Nhật. Chính phủ VNDCCH biết rõ nếu lâm vào chiến tranh với Pháp đó sẽ là một cuộc chiến bất cân xứng và kéo dài, cho nên trước tiên tìm cách đàm phán qua con đường ngoại giao. Nội dung đàm phán là thành lập một nhà nước Việt Nam độc lập thực sự bên trong khối Liên Hiệp Pháp. Thực ra Việt Minh không quá hi vọng vào một giải pháp ngoại giao, nhưng quá trình đàm phán là cần thiết để tìm sự công nhận của công luận quốc tế, và để có thêm thời gian chuẩn bị cho chiến tranh.

14232593_159618997817642_8635807176881292735_n

Ảnh: Phái đoàn sang Pháp dự hội nghị

Chủ tịch Hồ Chí Minh và bộ trưởng tài chính Phạm Văn Đồng dẫn đầu phái đoàn sang Paris đàm phán về quy chế độc lập cho Việt Nam trong khuôn khổ Liên Hiệp Pháp. 2 bên đồng ý Việt Nam có thể có chính phủ, nghị viện, quân đội và tài chính riêng. Tuy nhiên về mặt chính danh và ngoại giao thì Pháp không muốn Việt Nam được tự chủ, mà phải nằm trong Liên bang Đông Dương.

Người Pháp cũng tìm cách chia cắt Việt Nam bằng cách quy định rằng Nam Kỳ quốc (thể chế mà Pháp vừa mới dựng lên ở miền Nam) và Việt Nam là 2 thực thể khác nhau cùng nằm trong Liên bang Đông Dương. Phái đoàn Việt Nam phản đối kịch liệt dự định này. Để xoa dịu đoàn Việt Nam, phía Pháp hứa sẽ thực hiện trưng cầu dân ý ở Nam Kỳ về việc thống nhất đất nước. Tuy nhiên khi phía Việt Nam đòi thời hạn cụ thể thì phía Pháp im lặng. Bộ trưởng Phạm Văn Đồng bỏ về nước. Đến ngày 13/9/1946, Hội nghị gần như đã thất bại.

ob-yi445_radosh_p_20130726135649

Ngày 14/9/1946 chủ tịch Hồ Chí Minh đến gặp riêng Ngoại trưởng Pháp và kí kết một bản tạm ước. Bản tạm ước này không nhắc gì đến những bất đồng quan trọng nhất, mà chỉ là thỏa thuận về ngừng bắn, hợp tác về tiền tệ, thuế quan.

Việc kí kết bản Tạm ước này là một cố gắng cá nhân của Hồ chủ tịch để kéo dài thời gian cho Việt Minh chuẩn bị kháng chiến. Chỉ 2 tháng sau khi bản Tạm ước được kí, chiến tranh Đông Dương mở màn.

– 7/9/1812: Trận Borodino

– 7/9/1812: Trận Borodino

 

Napoleon đã huy động 1 đạo quân viễn chinh chưa từng có trong lịch sử với 68,5 vạn người để đánh nước Nga. Nhưng lãnh thổ quá rộng lớn của Nga khiến cho con số này bị hao hụt dần do phải rải quân để bảo vệ tuyến đường tiếp tế. Khi đến gần làng Borodino thì trong tay Napoielon chỉ còn 13,5 vạn lính. Ở phía đối diện là 10 vạn quân Nga, 7000 lính Cossack và khoảng 1 vạn dân quân tổng động viên. Người Nga đã đào đắp công sự trước đó vài ngày trong một động thái quyết chiến, vì sau lưng họ là thành Moscow.

Trận Borodino đã diễn ra từ sáng đến tối với thương vong lớn của cả hai bên (trong 1 ngày có 7 vạn người chết và bị thương). Quân Nga kháng cự anh dũng chưa từng thấy, các sử gia Pháp thừa nhận rằng lính Nga sẵn sàng hy sinh đến người cuối cùng để tìm cách xoay chuyển tình thế (sư đoàn 24 của tướng Likhatrov tử trận toàn bộ, kể cả chỉ huy). Khi rút lui, quân Nga bị 400 khẩu pháo Pháp bắn đuổi theo nhưng các quan sát viên cho biết không một ai chạy trốn. Napoleon thắng trận này một cách vô cùng vất vả với thương vong 3,5 vạn người và 47 viên tướng. Về phía Nga, tuy thiệt hại nặng hơn (4,5 vạn) nhưng chủ lực vẫn được bảo toàn và nhất là sĩ khí họ không hề suy sụp như những đối thủ trước kia của Napoleon. Khi rút lui, Kutuzov đã để lại câu nói nổi tiếng “Mất Moscow nhưng không mất nước Nga”!

Đại quân Pháp tiến vào Moscow, nhưng đón tiếp họ chỉ là những người dân tự tay châm lửa đốt nhà mình, phần lớn cựu kinh đô nước Nga cháy rụi khiến Napoleon không còn chỗ trú ẩn và buộc phải ra lệnh rút về. Mùa đông ập đến sớm với giá rét bất thường khiến quân Pháp phải khốn đốn, trong khi đối thủ của họ đã quen với việc sống và tác chiến trong băng tuyết. 20 vạn người được xác định là chết không phải trong chiến đấu. Nước Nga với 41 triệu dân dư sức bổ sung lực lượng (lên đến 90 vạn lính và dân quân) đánh đuổi Napoleon chạy dài và từ đây sự nghiệp của hoàng đế Pháp bắt đầu xuống dốc.

Vào lúc cuối đời, Napoleon đã thừa nhận Borodino là trận kinh khủng nhất ông từng chứng kiến.

Chế độ cai trị của thực dân Pháp ở 3 miền

Chế độ cai trị của thực dân Pháp ở 3 miền

Có bạn nhắn tin hỏi về sự khác biệt trong chế độ cai trị của thực dân Pháp ở 3 miền. Thường thì ad không trả lời những câu hỏi mang tính “đối phó” với môn Sử trong lớp :v, tuy nhiên chủ đề này có vẻ ít người biết cho nên mình viết luôn thành một bài.

Pháp có được Nam Kỳ từ rất sớm, sau khi vua Tự Đức kí hòa ước Nhâm Tuất (1862) nhượng lại 3 tỉnh miền Đông, rồi Pháp chiếm nốt 3 tỉnh miền Tây vào năm 1867. Người Pháp thiết lập chế độ cai trị trực tiếp, các quận huyện đều do sĩ quan người Pháp đứng đầu.

Tận 28 năm sau, khi xảy ra chiến tranh Pháp-Thanh (1885) và trận Kinh thành Huế, thì Pháp mới thực sự kiểm soát Trung Kỳ và Bắc Kỳ. Pháp thiết lập chế độ bảo hộ, tức là nhà Nguyễn vẫn kiểm soát 2 xứ này trên danh nghĩa, các quan lại vẫn là người Việt và vẫn do nhà vua tuyển chọn, chỉ khác là nhà vua được quan Toàn quyền “cố vấn”. Vua Nguyễn cũng không trực tiếp điều hành Bắc Kỳ, mà giao lại công việc cho một đại diện của mình gọi là Kinh lược sứ.

Năm 1897, Pháp buộc vua Đồng Khánh phải bãi bỏ chức Kinh lược sứ. Kể từ đó vua Nguyễn không còn quyền hành gì ở Bắc Kỳ, các quan lại trên danh nghĩa vẫn thuộc về nhà Nguyễn nhưng do Toàn quyền Pháp trực tiếp lựa chọn.

Tóm lại:
– Nam Kỳ: Pháp cai trị trực tiếp
– Trung Kỳ: cai trị gián tiếp thông qua triều đình Nguyễn
– Bắc Kỳ: cai trị gián tiếp trên danh nghĩa, nhưng cai trị trực tiếp trên thực tế.

Pháp đổ bộ vào Đà Nẵng

Pháp đổ bộ vào Đà Nẵng

Đà Nẵng là nơi có hải cảng sâu và rộng, cắt đôi đất nước, lại khá gần kinh thành Huế. Hoàng đế Napoleon III cho rằng có thể dễ dàng đánh bại nhà Nguyễn, cho nên cử 3000 lính cùng 14 tàu chiến đổ bộ vào đây. Ngoài ra còn có 500 quân Tây Ban Nha hỗ trợ.

Ngày 1/9, tàu chiến Pháp bắn hàng trăm phát đạn vào bán đảo Sơn Trà, ngày 2/9 bắt đầu đổ bộ. Người Pháp bắn sập 2 đồn, chiếm được 2 đồn khác của quân nhà Nguyễn. Hữu quân Lê Đình Lý mang 2000 quân vào ứng cứu, nhưng bị tử thương trong một trận đánh ở xã Cẩm Lệ.

Trước tình hình đó, Nguyễn Tri Phương từ Nam Kỳ ra thống lĩnh quân phòng thủ. Ông thực hiện “vườn không nhà trống”, đắp lũy kéo dài, cô lập quân Pháp ngoài mé biển. Cách đánh của Nguyễn Tri Phương thụ động nhưng chu đáo, quân Pháp kẹt suốt 5 tháng không tiến được.

Tướng Pháp viết thư về chính quốc nói “Chính phủ bị đánh lừa về bản chất của cuộc đi đánh lấy Cochinchina; người ta trình bày rằng việc viễn chinh này chỉ là một việc dễ dàng thôi, nho nhỏ thôi; thực ra, nó không dễ, cũng không nhỏ…Người ta báo cáo rằng quân đội Việt không có gì, sự thật thì quân chính quy rất đông, còn dân quân…thì không đau ốm và không tàn tật…Trên bộ thì không hành quân lớn được, dù là chỉ hành quân ngăn ngắn mà thôi; binh lính không chịu đựng nổi…”

Sau thời gian dài bị cầm chân, quân Pháp quay lên tàu và tiến vào Gia Định. Mất thêm 4 năm chiến tranh nữa Pháp mới đánh thắng và buộc nhà Nguyễn nhượng lại 3 tỉnh miền Đông.