Nguồn gốc của “Xỏ lá”, “ba que”.

Nguồn gốc của “Xỏ lá”, “ba que”.

I. BA QUE

– Dấu vết xa xưa nhất của từ “ba que” xuất hiện trong bài “Phú tổ tôm” của Trần Văn Nghĩa, một người sống dưới thời Minh Mạng (1820-1840). Tác giả kể tên nhiều trò cờ bạc, trong đó có ba que :

” Lạt nước ốc trò chơi vô vị : tam cúc, đố mười, đấu lình, bẩy kiệu, thấy đâu là vẻ thanh tao ;
” Ngang càng cua lối ở bất bình : xa quay, chẵn lẻ, dồi mỏ, ba que, hết thẩy những tuồng thô suất.
(Phong Châu, Nguyễn Văn Phú, “Phú Việt Nam cổ và kim”, Văn Hóa, 1960, tr. 215).

– Thời Tự Đức, Trần Tấn (tức Cố Bang) nổi lên chống Pháp. Ông bị ốm và chết năm 1874. Có người làm bài Vè Cố Bang đánh Tây :

Lính Tây, triều mang súng,
Kèn thổi ” toét tò loe “,
Dưới cơn cờ ba que,
Quan Hồ Oai cưỡi ngựa
(Thơ văn yêu nước nửa sau thế kỉ 19, NXB Văn Học, 1970, tr. 406).

II. XỎ LÁ

– “Đại Nam quốc âm tự vị” của Huỳnh Tịnh Của (1895) đưa ra một trò chơi gian lận gọi là “Xỏ lá” và kết luận “Quân xỏ lá là quân điếm đàng, lận mạt.”

– Từ điển Génibrel (1898) gọi “thằng xỏ lá” là thằng mưu mẹo, lừa dối.

– Năm 1906, Nguyễn Khuyến bị loà mắt, bị Chu Mạnh Trinh chơi xỏ, tặng cho một chậu hoa trà, thứ hoa có sắc nhưng không có hương. Nguyễn Khuyến ” Tạ lại người cho hoa trà ” bằng bài thơ ” Sơn trà ” trong đó có câu :

Tầm thường tế vũ kinh xuyên diệp
Tiêu sắt thần phong oán lạc dà
(Mưa nhỏ những kinh phường xỏ lá
Gió to luống sợ lúc rơi dà)

Hai câu thơ ý nói : Những trận gió to làm cho đài hoa rụng, ai cũng có thể biết được ; còn những hạt mưa nhỏ làm cho lá thủng, ít ai có thể trông thấy được, nên lại nguy hiểm hơn. (Thơ văn Nguyễn Khuyến, Văn Học, 1971, tr. 138 và 408).

– Nhà thơ Tản Đà từng làm bài bài vạch mặt Sở Khanh, Bạc Hạnh, có câu

“Bộ xỏ lá trông đà lộn ruột,
Sức thơ đào nghĩ lại non gan.”

– “Trời đất ôi ! Ngờ đâu con người thế, mà xỏ lá ba que !… (Phạm Duy Tốn, Con người Sở Khanh, Nam Phong, 1919).

III. XỎ LÁ BA QUE

Năm 1914, Phan Kế Bính biên soạn sách “Việt Nam phong tục”. Trong chương bàn về tính tình người Việt, ông chia đàn bà và đàn ông nước ta thành các hạng người: hiền phụ, lệnh phụ, xuẩn phụ và quân tử, thường nhân, tiểu nhân. Tiểu nhân là bọn tính tình gian giảo, phản trắc, (…), ăn trộm ăn cướp, xỏ lá ba que, đàng điếm, hoang toàng v.v. Như vậy,  thành ngữ “Xỏ lá ba que” chính là do Phan Kế Bính khai sinh.

Ngày nay, thành ngữ “Xỏ lá ba que” hay “Ba que xỏ lá” thường được dùng để chỉ chung:

– Bọn vô lại chuyên đi lừa người khác để kiếm lời (Nguyễn Lân)

– Bọn xảo trá, đểu giả (Hoàng Phê),

– Tụi gian lận (tricheurs), bất lương (malhonnêtes), theo Gustave Hue

Nguyễn Lân có giải thích chi tiết : “Ba que xỏ lá là một trò chơi ăn tiền trong đó kẻ chủ trò nắm trong tay một cái lá có xỏ một cái que, đồng thời chìa ra hai que khác. Ai rút được que xỏ lá là được cuộc, còn rút que không lá thì phải trả tiền. Nhưng kẻ chủ trò vẫn mưu mẹo khiến người chơi bao giờ cũng thua. Vì thế người ta gọi nó là thằng ba que xỏ lá, hoặc thằng ba que, hoặc thằng xỏ lá”. (Nguyễn Lân, Từ điển thành ngữ và tục ngữ Việt Nam, Văn Hoá, 1989).

“Việt Nam tự điển” của Hội Khai Trí Tiến Đức (1931) định nghĩa:

– Ba que là một cuộc đánh tiền bằng ba cái que của bọn keo hèn bày ra đánh ở đường ở chợ. Nghĩa bóng chỉ những người dối trá điên đảo.

– Xỏ lá là trò làm ra để lừa người ta mà kiếm tiền. Thường nói tắt là “xỏ” để trỏ người gian giảo, lừa gạt, bợm bãi.

* Ngoài ra còn 1 hướng khác lý giải thành ngữ này theo nguồn gốc từ tiếng Pháp.

Trong quá trình  cai trị, thực dân Pháp đưa bộ bài Tây vào nước ta. Một số trò cờ bạc mới bắt đầu xuất hiện. Đặc biệt là trò Ba quân, có nơi gọi là Ba lá. “Ba lá là một cuộc đánh tiền, lấy ba quân bài tây đảo đi đảo lại, ai đặt tiền vào trúng quân ông lão thì được. Nghĩa bóng chỉ những đứa hèn hạ” ( Việt Nam tự điển, Khai Trí Tiến Đức). Cách chơi Ba quân hay Ba lá tương tự như trò Bonneteau của Pháp.

Ba quân hoàn toàn nhờ vào tài tráo bài của nhà cái và tài lừa phỉnh của cò mồi. Ba quân là cờ gian bạc lận của bọn đầu đường xó chợ. Ba quân hội đủ những tính xấu như gian lận, xảo trá, bất lương, đi lừa người khác để kiếm lời. Người xưa tránh không chửi “thằng ba quân” vì ba quân là quân đội của triều đình (Trung quân, Tả quân và Hữu quân). Ba quân được nói lái thành ba que. Tương tự như tụ tam nói trại thành tổ tôm, tam kết thành tam cúc…

Nói tóm lại, Ba que có khả năng cao gốc gác là trò cờ bạc Ba quân (bonneteau) của Pháp.

Lá cờ tam tài (ba màu xanh, trắng, đỏ) của Pháp bị gọi là cờ ba que. Cờ của bọn gian lận, tráo trở. Dùng trò cờ bạc của Pháp để chửi Pháp, các cụ xưa chơi chữ khá thâm.

Vào khoảng năm 1945, Huỳnh Thúc Kháng viết về Cuộc khởi nghĩa Duy Tân (1916), có đoạn :

– Thế mà trừ một số ít – rất ít – đã hấp thụ học thuyết mới, xem cái ngôi “bù nhìn” đó không có giá trị gì…..Thường xuyên xưa nay mối lợi khiến cho người ta mờ trí khôn (lợi linh trí hôn), bọn thực dân Pháp mà các tay chính trị “xỏ lá” tự phụ là cao xảo cũng không khỏi vấp phải chỗ lầm to, ấy là tấn kịch: Đày vua cha Thành Thái mà lập con là vua Duy Tân lên thay. (Vương Đình Quang, Thơ văn Huỳnh Thúc Kháng, NXB Văn Học, 1965, tr. 173).

Huỳnh Thúc Kháng dùng kí hiệu ngoặc kép ” ” để nhấn mạnh hai từ bù nhìn và xỏ lá. Bù nhìn là tiếng Pháp épouvantail được Việt hoá. Do đó, có thể suy đoán rằng xỏ lá có nhiều khả năng cũng như thế. Tra từ điển “Robert và Larousse” của Pháp gọi tụi đáng khinh (méprisable), đáng ghê tởm (répugnant) ; bất chính (déloyal), bọn bất lương, gian dối (malhonnête) là salaud (xa lô). Xỏ lá vừa có nghĩa vừa có âm của salaud. Kết luận là, thằng salaud sang thuộc địa kiếm chác, bị Việt hoá thành thằng xỏ lá.

Nguồn: http://mythuat.proboards.com

 

 

 

 

 

Cướp biển được nhà nước…..bảo trợ (phần 1)

Cướp biển được nhà nước…..bảo trợ (phần 1)

Kỷ nguyên “hải tặc hợp pháp” chính thức bắt đầu từ năm 1243. Khi đó vua Henry III của Anh đang phải tham chiến cùng lúc với Pháp và Tây Ban Nha, nên rơi vào cảnh ngân khố sạch trơn còn thuế má thì đã quá đủ để dân chúng nổi loạn (nếu định tăng thêm). Ông và các cận thần phải vắt óc nghĩ cách kiếm ra tiền, và ngẫu nhiên ai đó đã đề xuất cho các thuyền trưởng tàu tư nhân quyền cướp bóc tàu địch, rồi chia cho hoàng gia một phần của cải khi quay về. Chiếu chỉ của Henry III viết như sau: “Nay cho phép…..được quyền tấn công kẻ thù cả trên mặt biển lẫn trên đất liền, các khanh phải nộp cho trẫm một nửa chiến lợi phẩm thu được”. Thật là một công đôi việc: triều đình vừa có thu nhập vừa có thêm tàu chiến ngoài biên chế, còn các chủ tàu tha hồ cầm giấy phép đi cướp bóc mà không sợ pháp luật trừng phạt.

Sau khi cuộc chiến đó kết thúc, các đời vua và nữ hoàng Anh tiếp theo vẫn duy trì kiểu cấp phép này (có tên riêng là Letter of Marque -thư nhãn hiệu). Một số giấy phép có hiệu lực cả trong thời bình, chẳng hạn như một nhà buôn từng bị cướp biển tấn công, có thể xin giấy phép để cướp một con tàu của quốc gia bị nghi ngờ là nơi bọn cướp biển xuất phát. Các chủ tàu hoan nghênh nó do nhận thấy cơ hội làm giàu, còn vua chúa chẳng lo buồn khi có thêm cả một hạm đội tư nhân, được ràng buộc chặt chẽ với triều đình bằng lợi ích.

(Một giấy phép cướp bóc thế kỷ 15, ghi chi tiết về những gì được làm và không được làm.)

Những giấy phép loại này thường rất đa dạng, có thể là chiếu chỉ, văn bản ủy quyền, hay thậm chí là luật (năm 1812 quốc hội Mỹ ra luật riêng, cấp giấy phép đi bắt các tàu Anh). Nguồn cấp cũng phong phú: vua, tòa án (Anh), toàn quyền thuộc địa, thống đốc bang, quốc hội, tổng thống (Mỹ)……Đơn đăng ký phải ghi rõ: Tên, hình dáng, tải trọng cùng vũ khí trên tàu, tên và nơi ở của chủ sở hữu, số lượng thuyền viên dự kiến. Lúc đầu thì chính quyền thu 50% của cải cướp được khi về cảng, nhưng sau để tránh hiện tượng tẩu tán hàng hóa, người ta bắt chủ tàu mua trái phiếu bảo đảm với giá rất đắt. Hay nói cách khác, chính quyền thu tiền trước, cấp giấy phép sau; rồi chủ tàu mang nó đi cướp bóc, lời ăn lỗ chịu.

– Nội dung một giấy phép (thư nhãn hiệu – Letter of Marque) chủ yếu có 5 mục sau:

+ Tên người sở hữu, nguyên nhân mà anh ta được phép mang nhóm người vũ trang của mình ra ngoài biên giới quốc gia. 

+ Chỉ định quốc tịch của các mục tiêu sẽ bị tấn công.

+ Cho phép tịch thu hoặc tiêu huỷ nhân lực và vật lực của mục tiêu đó.

+ Mô tả hành động mà chủ tàu được phép tiến hành, chẳng hạn như phải tuân thủ các hiệp ước, luật quốc tế hay luật của quốc gia mà chủ tàu giữ quốc tịch.

+ Các hạn chế về thời gian, loại mục tiêu, khu vực, số lượng mục tiêu…..

Ngoài ra còn rất nhiều quy định phụ khác. Năm 1405, vua Anh cấp giấy phép bắt giữ “bất kỳ kẻ thù nào của nước Anh”. Năm 1411, giấy phép của Anh ghi rằng mọi tàu Pháp đều là mục tiêu tấn công, nhưng số hàng hóa cướp được bị giới hạn trong giá trị 5250 bảng. Năm 1543, do nhu cầu chiến tranh với Pháp và Scotland mà mọi công dân Anh đều được cấp giấy phép miễn phí. Năm 1695, một giấy phép đặc biệt được phát hành chỉ để bắt tên cướp biển William Kidd. Năm 1729, Tây Ban Nha cấp phép để bắt giữ mọi tàu buôn lậu.

(Một tàu lùng của Mỹ đang tấn công tàu Anh trong chiến tranh giành độc lập Mỹ)

Các cá nhân hay tàu biển thực hiện công việc này được gọi là Privateer (tàu lùng, tàu tư hay cướp biển hợp pháp). Khi thương mại hàng hải trở nên phổ biến vào thế kỷ 15-16, nhất là lúc các mỏ vàng bạc ở châu Mỹ bắt đầu khai thác quy mô lớn, cướp biển vùng Caribbean phát triển rất mạnh khiến cho mọi tàu buôn đều phải vũ trang. Nói đến đây thì chúng ta phải phân thành 2 loại: cướp biển và cướp biển hợp pháp, tức là các tàu lùng. Các Privateer (tàu lùng) này chỉ khác tàu cướp biển ở 2 điểm: nó treo quốc kỳ chứ không phải cờ hình đầu lâu xương chéo, và hoạt động theo giấy phép của chính phủ cấp. Trong chiến tranh, tàu lùng được coi là lực lượng tư nhân hỗ trợ hải quân. Tùy theo chính sách giữa các quốc gia châu Âu thời đó mà giấy phép của nước này có thể được nước kia công nhận hay không. Khi bị quốc gia thù địch bắt giữ, nếu giấy tờ được chấp nhận, thủy thủ đoàn tàu lùng sẽ được đối xử với tư cách tù binh; còn nếu không, họ bị xem như cướp biển, sẽ bị xét xử và treo cổ.

Như mọi nghề, cơ hội luôn đi kèm rủi ro. Một tàu lùng hoàn toàn có thể đánh mất tư cách hợp pháp của mình và bị xét xử như tàu cướp biển ngay cả trong thời bình, khi bị phát hiện vi phạm các quy định về thời gian, mục tiêu, địa điểm……Việc vi phạm đôi lúc lại do lỗi khách quan, do đó các chủ tàu thường phải rất thận trọng. Trường hợp dễ thấy nhất là giấy ghi cướp tàu trong chiến tranh, do liên lạc thời xưa rất hạn chế nên nhiều chủ tàu không biết rằng quốc gia của mình đã ký hiệp định đình chiến với nước ghi trong giấy phép, và vẫn tiến hành tấn công mục tiêu khi bắt gặp. Nếu chủ quan lúc về, ông ta và thủy thủ đoàn có thể bị tòa kết án cướp biển và treo cổ.

(Treo cổ cướp biển ở Anh)

Năm 1580, khi hạm đội của cướp biển Francis Drake trở lại Anh sau 3 năm đi vòng quanh thế giới, ông ta không dám cập cảng vì không biết ai đang làm vua hay nữ hoàng, và tình hình châu Âu có gì thay đổi không. Một thủy thủ bí mật lên bờ, tìm gặp vợ Drake và bạn cũ là thị trưởng thành phố Portsmouth để thăm dò tin tức. Sau khi chắc chắn nữ hoàng Elizabeth vẫn tại vị và nước Anh vẫn đang chiến tranh với Tây Ban Nha, Francis Drake mới thở phào và đưa tàu vào cảng.

Trong thời kỳ nội chiến, giấy phép phe này sẽ bị phe kia bác bỏ, dù cùng là một quốc gia phát hành. Ví dụ, một tòa án ở Anh đã từ chối thừa nhận tính hợp pháp của giấy tờ do ngụy vương James II cấp, và treo cổ thuyền trưởng cùng toàn bộ thủy thủ đoàn một tàu lùng. Trong thời kỳ Nội chiến Mỹ, phía Liên bang miền Bắc cũng không công nhận giấy phép của Liên minh miền Nam, và ban đầu kết án treo cổ thủy thủ đoàn bị bắt. Sau khi tổng thống Liên minh miền Nam Jefferson Davis nổi giận và dọa sẽ hành quyết số tù binh là sĩ quan tương ứng, phe miền Bắc mới chịu nhượng bộ và coi những người này là tù binh chiến tranh.

– Dịch và biên tập: Muitenbac777 –

Những tội ác của Nhà nước Congo Tự do (1885-1908)

Những tội ác của Nhà nước Congo Tự do (1885-1908)

Một người đàn ông Congo đang nhìn vào bàn tay và chân bị cắt đứt của con gái năm tuổi, bị giết chết và ăn thịt bởi nhân viên của Công ty Congo ABIR thuộc Bỉ. Lý do đơn giản là ông ta đã không nộp đủ thuế cao su. Người da trắng đã thuê những chiến binh của các bộ lạc ăn thịt người vùng thượng Congo làm dân quân, và họ sẵn sàng ăn thịt những kẻ chống đối để răn đe.

Nhà nước Congo Tự do là một quốc gia lớn ở Trung Phi, liên kết cá nhân với vương quốc Bỉ (tức có chung vua nhưng dùng luật pháp tiêng và xác định biên giới cụ thể cho mỗi nước). Cho đến giữa thế kỷ 19, Congo là trung tâm của khu vực Châu Phi còn giữ được độc lập, vì thực dân châu Âu ít khi tiến sâu vào lục địa mà chỉ tập trung khai thác vùng giáp biển. Nguyên nhân là do sự chống đối dữ dội của dân địa phương, những khu rừng nhiệt đới bao la với vô vàn đầm lầy, và sự hành hạ của bệnh sốt rét cũng như các bệnh khó chữa khác như bệnh “ngủ”. Theo tính toán của giới tư bản thì việc đầu tư khu vực này là quá tốn kém. Tuy nhiên năm 1876, vua Leopold II của Bỉ tổ chức một hội nghị địa lý hoành tráng tại thủ đô Brussels, ông ta mời những nhà thám hiểm nổi tiếng, nhà hảo tâm và thành viên của các hiệp hội địa lý tham gia vào “công tác nhân đạo” của người châu Âu ở vùng trung tâm châu Phi. Mục đích được đề ra “văn minh hóa” người dân bản địa. Tại hội nghị này, Leopold đã vẽ ra cái gọi là “Hiệp hội Châu Phi quốc tế” và được bầu làm chủ tịch.

(Vua Leopold II của Bỉ)

Nhà thám hiểm nổi tiếng Henry Morton Stanley được thuê để khám phá Congo trong 5 năm, từ đó người Bỉ bắt đầu xây dựng đường sá, vẽ bản đồ giúp tàu hơi nước vào sâu trong nội địa và lập các trạm đóng quân. Trong quá trình này, Stanley đã ký nhiều hiệp ước với các tù trưởng địa phương và lãnh đạo bản xứ. Lóa mắt trước những món quà đẹp đẽ, rất ít người trong số lãnh đạo đó đủ thông thái để hiểu được mình đã ký kết cái gì, và về cơ bản thì những văn bản này đã chuyển giao cho vua Bỉ Leopold II hầu như tất cả chủ quyền khu vực. Christian de Bonchamps, một nhà thám hiểm người Pháp đi theo đoàn, đã viết trong nhật ký: “Những hiệp ước với các bạo chúa Phi châu nhỏ bé này, gồm bốn trang giấy mà họ không hiểu một từ nào”.

Leopold II đề ra một chiến dịch tuyên truyền và vận động hành lang khắp châu Âu, tuyên bố “Hiệp hội Châu Phi quốc tế” chỉ hành động vì lợi ích của dân bản xứ, không duy trì chế dộ nô lệ ở đây, và miễn thuế hàng nhập khẩu trong 20 năm cho mọi quốc gia . Kế hoạch này hoàn toàn thành công. Vào tháng 11 năm 1884, thủ tướng Đức Otto von Bismarck triệu tập một hội nghị 14 quốc gia để phân chia dứt điểm châu Phi. Khoảng 2.344.000 km vuông lãnh thổ Congo đã được trao cho vua Leopold II của Bỉ như tài sản cá nhân, để rồi từ đó ông ta lập ra Nhà nước Congo Tự do. Nó tồn tại như một vùng đệm giữa các thuộc địa của Pháp, Đức, Anh, Bồ Đào Nha; và nhanh chóng được quốc tế công nhận chủ quyền cũng như giữ vị thế trung lập.

(Cờ và huy hiệu Nhà nước Congo Tự do)

Ngay sau khi nắm toàn bộ quyền kiểm soát Congo, Leopold II vứt luôn cái mặt nạ từ thiện và tiến hành khai thác thuộc địa thông qua lãnh đạo địa phương. Tuy nhiên lúc đầu việc buôn bán ngà voi không đem lại lợi nhuận như kỳ vọng và chính quyền thường xuyên phải trả những khoản nợ lớn. Đến năm 1890 thì nhu cầu cao su thế giới bùng nổ, Nhà nước Congo Tự do tăng cường tối đa bóc lột bằng cách cưỡng bức dân Congo đi lấy mủ cao su mọc hoang để xuất khẩu sang châu Âu và châu Mỹ.

Theo một đạo luật ban hành và có hiệu lực trong năm 1891, trừ những phần đất mà trên đó có nhà ở hay ruộng vườn, toàn bộ đất đai Congo đều thuộc Nhà nước Congo Tự do. Dân phải đóng thuế bằng cách vào rừng cạo mủ cao su trên những cây dây leo (khác với loại cây cao su thân gỗ Hevea brasiliensis được trồng khắp thế giới) đem đi nộp. Lúc đầu không có công nghệ khai thác, người cạo mủ phải bôi cao su lên da mình rồi bóc ra khi nó khô, cứ như vậy từng mảng một và việc này gây ra cảm giác rất đau đớn. Mãi đến đầu thế kỷ 20 mới có công nghệ hứng mủ bằng máng và chậu. Công ty Congo ABIR (Compagnie du Congo Belge ) được cấp phép khai thác cao su tự nhiên trong Nhà nước Congo Tự do. Công ty này thu được lợi nhuận rất lớn vào cuối thập niên 1890, bằng cách bán một kilôgam cao su ở châu Âu với giá 10 franc trong khi chi phí khai thác chỉ là 1,35 franc. Lợi nhuận này đạt được bằng một hình thức bóc lột nặng nề, tàn bạo và man rợ chưa từng thấy.

Các công ty tư nhân mua lại quyền khai thác trong một vùng và hầu như được sử dụng mọi biện pháp để tăng sản lượng cao su. Không tồn tại cái gọi là quyền lợi của người lao động ở đây, dù chỉ 1 chút; pháp luật thực tế là mớ giấy lộn và không có chút tác dụng nào hết. Người da trắng thuê dân da đen có địa vị (capitas) để tổ chức và quản lý lao động địa phương, hỗ trợ họ là quân đội thuộc địa (Forrce Publique), tuyển dụng từ nhiều nơi, do các sĩ quan da trắng chỉ huy.

Mỗi khu vực, mỗi ngôi làng sẽ bị áp một mức thuế-tức hạn ngạch cao su phải giao nộp trong một khoảng thời gian nhất định, và hạn ngạch này thường cao đến mức phi lý. Nếu dân làng từ chối, họ sẽ bị binh lính đến đánh đập, bắt cóc để cưỡng ép thực hiện. Nhiều ngôi làng đã bị tiêu diệt chỉ vì chống đối hay không thể đáp ứng được hạn ngạch cao su quá lớn. Binh lính được yêu cầu chặt tay nạn nhân sau khi giết và mang về làm chứng (họ trang bị bằng súng đạn nhập khẩu châu Âu có giá đắt đỏ nên không được dùng săn bắn). Nếu một ngôi làng không nộp đủ cao su, sẽ có số tay bị chặt tương ứng với phần còn thiếu. Điều này đôi khi dẫn đến xung đột đẫm máu trong một địa phương, khi các làng tấn công lẫn nhau để lấy bàn tay đem nộp thay cao su. Sau này do nhu cầu nhân lực, binh lính chỉ bắt giam trưởng làng hay những nhân vật quan trọng để uy hiếp những người còn lại đi gom đủ cao su (hay tay người) còn thiếu. Thống kê tháng 7 năm 1902 có tổng cộng 44 nhà tù như vậy, với 3 đến 10 tù nhân chết mỗi ngày do điều kiện giam giữ khắc nghiệt (báo cáo của Sở bưu điện ở Bongandanga và Mompono).

(2 nhà truyền giáo châu Âu đứng cạnh lính thuộc địa, trên tay họ là bàn tay người vừa bị chặt)

Một mục sư người Đan Mạch đã ghi chép lại cảnh một ngôi làng bị xóa sổ vì dám chống đối mức thuế cao su: binh lính quấn lưới vào một nhóm 10 người, buộc đá và đẩy họ xuống sông. Phụ nữ bị hãm hiếp trước khi đóng đinh cùng con cái họ lên thập tự giá, đầu nam giới trong làng được cắm trên các cọc rào. Bàn tay bị chặt được thu thập và xếp đầy các giỏ. Một người lính nói với ông: “Đừng quá quan tâm đến điều này, họ sẽ giết chúng tôi nếu không mang cao su về. Tuy nhiên tay người có thể giúp giảm thời gian quân dịch, ủy viên hội đồng công ty đã hứa với tôi như vậy”.

Không phải mỗi bàn tay đều là một người chết, đôi khi binh lính rủ lòng thương và chỉ chặt tay nạn nhân đem về. Những bức ảnh chụp bàn tay người bị cắt đứt, đặt dưới chân sĩ quan châu Âu đã trở thành biểu tượng của Nhà nước Congo Tự do. Lính thuộc địa mang chúng đến các trạm thu thuế nộp thay cao su. Người ta lập nhóm đi tấn công bất kỳ ai họ gặp để chặt tay, thay vì vào rừng cạo mủ. Tay người đã trở thành một loại tiền tệ riêng ở Congo. Nếu một người lính nộp nhiều tay hơn đồng đội, anh ta sẽ được thưởng tiền và rút ngắn thời gian quân dịch.

Sự bóc lột và tàn bạo đó đã mang lại lợi nhuận khổng lồ cho Công ty Congo ABIR, và dĩ nhiên là Nhà nước Congo Tự do. Trong hai năm đầu tiên kể từ khi thành lập (1892-94) công ty này có tổng lợi nhuận là 131.340 franc, đến năm 1898 đã là 2.482.697 franc. Giá trị cổ phiếu ABIR đã tăng từ 1892 franc (năm 1892) lên 15.000 franc (năm 1903).

Theo thống kê trong 23 năm (1885-1908) vua Bỉ Leopold II cai trị Congo, ông ta đã tàn sát khoảng 10 triệu người châu Phi  (15-20% dân số) bằng cách ra lệnh chặt tay, thiến, dìm chết đuối, bỏ đói khi cưỡng bức lao động thu hoạch cao su. Phần mỉa mai của câu chuyện này là Leopold II đã phạm những tội ác trên khi thậm chí không đặt chân vào Congo. Dưới sự quản lý của Leopold II, Nhà nước Congo Tự do đã trở thành một trong những vụ xì căng đan quốc tế lớn nhất đầu thế kỷ 20. Sự tàn bạo của nó lên đến độ mà tiêu chuẩn thực dân cũng không thể nào chấp nhận được. Đa số nhà thám hiểm, truyền giáo, nhà văn, phóng viên……từng đến Congo đều quay về gia nhập phong trào phản đối chế độ Leopold (trong số này có nhà văn Mỹ Mark Twain và nhà văn Anh Conan Doyle – tác giả tiểu thuyết Sherlock Holmes). Cuối cùng, nước Anh phải công khai yêu cầu quốc tế xem xét lại Hiệp định Berlin 1885 do đã trao quá nhiều quyền hạn và lãnh thổ cho vua Bỉ.

Áp lực quốc tế mạnh mẽ đã buộc Nhà nước Congo Tự do phải giải thể và sát nhập thành một thuộc địa của Bỉ năm 1908. Nhờ luật pháp Bỉ được áp dụng mà sự tàn bạo trong vấn đề thu hoạch cao su đã giảm đi (thực tế là do cao su mọc hoang đã bị khai thác cạn kiệt, còn cây cao su thân gỗ mới trồng thì chưa đến tuổi thu hoạch), y tế và giáo dục cũng được cải thiện hơn. Tuy nhiên xã hội Congo vẫn là xã hội thuộc địa bị bóc lột kiểu thực dân với mức độ phân biệt chủng tộc cao. Ngày 30 tháng 6 năm 1960, nước Cộng hòa Congo tuyên bố độc lập.

Cho đến nay, Bỉ chưa từng đưa ra lời xin lỗi về giai đoạn Nhà nước Congo Tự do.

Câu chuyện về “anh hùng nhỏ tuổi nhất” của Hitler.

Câu chuyện về “anh hùng nhỏ tuổi nhất” của Hitler.

Trong khi hơn 76 vạn lính Đức và 2,5 triệu chiến sĩ Xô Viết giành giật nhau từng tấc đất quanh thủ đô Berlin, Hitler đã rời Boongke lần cuối cùng để lên mặt đất, trao huân chương cao quý nhất của Đức (Thập tự Sắt) cho một số thành viên tổ chức Hitler Youth -Thanh niên Hitler (gồm trẻ em từ 14 đến 18 tuổi). Được nhận huân chương còn có 19 thành viên của Jungvolk (tổ chức quân sự dành cho trẻ em Đức nhỏ hơn, từ 10 đến 14 tuổi).
 
Cậu bé đang được bắt tay là Alfred Czech, người nhỏ tuổi nhất nhận huân chương ngày hôm đó. Trong một cuộc phỏng vấn năm 2005, cụ ông Alfred Czech nhớ lại khoảng khắc sau khi được gắn huân chương “Führer bắt tay tôi, sau đó ông ta véo tai trái của tôi một cái và nói: Hãy giữ gìn nó!”.
 
Gia đình Alfred Czech ở làng Silau, Goldenau, được cắt cho Ba Lan sau khi thế chiến kết thúc. Trong 2 ngày, cậu bé 12 tuổi đó đã đưa được 12 lính Đức bị thương về tuyến sau, bất chấp đạn vãi như mưa ngược xung quanh. Vài ngày sau, một viên tướng xuất hiện và nói cậu được triệu tập đến Berlin. Alfred Czech lên máy bay và ngay khi bước chân xuống đường băng, cậu cảm nhận được sự rung chuyển của mặt đất, 11.000 khẩu pháo các cỡ của Hồng quân đang nã đạn vào Berlin.
 
Những thành viên Hitler Youth và Jungvolk được giới thiệu với nhau, mặc trang phục đẹp và ăn một bữa no nê. Bên trong khu vườn Reich Chancellory, họ xếp hàng vào sáng hôm đó (20/4) đợi Führer đến. Một đội quay phim tuyên truyền của Đức đã lắp máy và chọn vị trí sẵn sàng. Hitler xuất hiện với cổ áo chưa gấp, râu mép màu xám và một bên tay trái áp sát vào người, nó bị co giật nên ông ta không thể tự mình gắn huân chương được. Một người phụ tá phải làm thay việc này. Khi đến lượt Alfred Czech, Hitler mở miệng “Vậy ra đây là người nhỏ tuổi nhất? Cậu không sợ gì khi cứu lính của ta à?”. Alfred Czech nhớ lại mình đã trả lời: “Không, thưa Führer!”.

Sau buổi lễ, họ được đi cùng với lãnh đạo Đức Quốc xã xuống boongke ngầm. Ở đó, cả nhóm được cho ăn trưa trong khi Hitler trao đổi với từng người về cảm nhận chiến tranh. Khi kết thúc, mỗi người đều được hỏi muốn trở về nhà hay ra mặt trận. Alfred Czech, như mọi thành viên khác, đã trả lời rằng: “Mặt trận, thưa Führer!” Tối hôm đó khi Hitler đã về phòng ngủ, tình nhân Eva Braun dẫn cả nhóm lên mặt đất để tổ chức một bữa tiệc mừng. Moi người uống champagne, nhồi nhét thức ăn trong tiếng máy hát vặn to, bài “Blood-red roses tell you of happiness”.
 

Rồi Alfred Czech được đưa đi huấn luyện quân sự cấp tốc, rất nhanh chóng cậu đã có thể sử dụng súng trường và súng chống tăng Panzerfaust. Trước khi ra trận, viên sĩ quan hỏi cậu có ước muốn gì không. Alfred Czech nói mình chỉ muốn sở hữu một cây đàn phong cầm và được trao nó vài giờ sau. Trên thực tế, ngay cả khi muốn về nhà, cậu nhóc 12 tuổi cũng không thể làm được điều đó. Vào thời điểm Alfred Czech được gắn huân chương thì vùng Goldenau đã bị Hồng quân đánh chiếm. Cậu ta không còn lựa chọn nào khác ngoài việc hành quân đến Freudenthal ở vùng Sudetenland để chiến đấu. Mọi lính Đức đều phải chào Alfred Czech khi nhìn thấy huân chương Thập Tự Sắt trên ngực cậu, tuy nhiên một số người sau đó đã khuyên cậu bé nên quay về, tất cả đều là thương binh hay lính kỳ cựu. Được nhồi nhét chủ nghĩa anh hùng cá nhân nên Alfred Czech bỏ qua tất cả những lời khuyên đó.

Những ngày cuối cùng của tháng 4, một viên đạn bắn xuyên phổi đã khiến Alfred Czech bị bắt làm tù binh. Cậu vẫn sống sót một cách kỳ diệu trong hai năm bị giam giữ ở Tiệp Khắc. Khi được trả tự do năm 1947, Alfred Czech trở về nhà và biết tin cha mình đã chết trong chiến tranh. Sự nổi tiếng đã gây hại cho cậu. Cảnh sát Ba Lan đến và buộc gia đình cậu hủy bức ảnh chụp cảnh nhận huân chương Thập Tự Sắt treo trên tường, tuy nhiên Alfred Czech không bị bắt giam mà chỉ bị thẩm vấn vài giờ, có lẽ do người ta nhận thấy khi đó cậu còn quá nhỏ tuổi để ý thức được mọi thứ. Alfred Czech di cư sang Tây Đức vào năm 1964, sau rất nhiều nỗ lực vì khi đó Ba Lan và Tây Đức đang thuộc 2 phe đối đầu nhau trong Chiến tranh Lạnh. Ông định cư ở vùng Rhineland và kiếm sống bằng nghề xây dựng. Năm 2005, Alfred Czech có 10 đứa con và hơn 20 đứa cháu.

Ông không còn giữ được huân chương Thập Tự Sắt, nó đã thất lạc khi Alfred Czech bị bắt làm tù binh. Tuy nhiên bức ảnh lịch sử thì vẫn còn, do tư liệu về “anh hùng nhỏ tuổi nhất của Hitler” đã được tìm thấy sau chiến tranh. Hiện bức ảnh được đóng khung treo trên phòng khách nhà Alfred Czech. Hồi tưởng lại cuộc đời mình hơn nửa thế kỷ trước, ông trầm ngâm: “Khi đó tôi còn bé, không suy nghĩ nhiều mà chỉ muốn làm được điều gì đó. Tôi không nghĩ việc gửi trẻ em ra mặt trận là sự điên rồ. Đấy là chiến tranh.”

– Dịch và biên tập: Muitenbac777:-

SỰ KIỆN MÃN CHÂU NĂM 1931

SỰ KIỆN MÃN CHÂU NĂM 1931

Sau chiến tranh Nga-Nhật, hiệp ước Portsmouth cho phép Nhật Bản thuê lại chi nhánh đường sắt Nam Mãn Châu. Tuyến đường sắt này tuy thuộc lãnh thổ Trung Quốc, nhưng gần như đã bị nhượng cho Nga do một hiệp ước bất bình đẳng từ năm 1896 quy định người Nga có hầu hết chủ quyền ở đây. Bởi vậy, lính Nhật được phép đóng quân dọc tuyến để đảm bảo an ninh đường sắt, đối mặt với các doanh trại biên phòng Trung Quốc ở khu vực đó.

Trong tiếng Nhật, Gekokujō ( 下克上) là một thuật ngữ dùng để chỉ hành vi vượt quyền của cấp dưới, hay còn gọi là “hạ khắc thượng”. Tuân theo tinh thần này và quan niệm rằng xung đột ở Mãn Châu sẽ tạo ra lợi ích tốt nhất cho Nhật Bản, một nhóm sĩ quan đã lên kế hoạch tạo sự cố để có cớ gây chiến với Trung Quốc.

Nhóm sĩ quan này gồm đại tá Seishirō Itagaki, trung tá Kanji Ishiwara , đại tá Kenji Doihara, thiếu tá Suemori Komoto và thiếu tá Takayoshi Tanaka. Họ bí mật đặt chất nổ trên đường sắt ở 1 vị trí hẻo lánh (đến nỗi nó không có tên trong bản đồ) cách doanh trại Trung Quốc chỉ 800m và kích nổ lúc 22h20 ngày 18/9/1931. Do tính toán sai lượng nổ, chỉ có 1,5m đường bị hư hỏng, không đủ để làm trật bánh một đoàn tàu từ Trường Xuân đi qua ngay sau đó. Mặc dù vậy, đây là cái cớ để ngày hôm sau nhóm sĩ quan này cho 2 đơn vị pháo binh bắn phá và chỉ huy khoảng 500 lính Nhật tấn công doanh trại Trung Quốc ở Phụng Thiên (nay là Thẩm Dương).

Dù có tới 7000 người (đông gấp 12 lần) nhưng lính Trung Quốc trang bị kém, huấn luyện tồi và tinh thần thấp, còn quân Nhật thời điểm đó đã đáp ứng phần lớn tiêu chuẩn quân sự châu Âu. Sau 1 ngày giao tranh, quân Trung Quốc bỏ doanh trại rút lui, để lại khoảng 500 xác chết. Phía Nhật chỉ có vài thương vong. Tướng Shigeru Honjō – tư lệnh đạo quân Quan Đông của Nhật sau khi biết tin, rất ngạc nhiên vì cấp dưới đã giao tranh mà không hề có sự cho phép của mình. Nhưng rồi báo cáo của trung tá Kanji Ishiwara đã thuyết phục được tướng Shigeru Honjō về sự “gây hấn” của đối phương, nguyên do là tuyến đường sắt bị “tấn công” có tầm quan trọng lớn về công nghiệp và kinh tế.

(“Bằng chứng” do người Nhật đưa ra là mũ, súng của lính Trung Quốc và 2 đoạn tà vẹt hỏng – tất cả đều được ngụy tạo)

Giận dữ vì sự “phá hoại”, tướng Shigeru Honjō bèn gọi thêm viện quân từ Hàn Quốc sang, ra lệnh đánh chiếm tất cả các thành phố và vị trí chiến lược tại Mãn Châu để trả đũa. Tướng Quốc dân đảng là Trương Học Lương, với sự đồng ý ngầm từ Tưởng Giới Thạch, liên tiếp rút quân mà không hề kháng cự. Lúc đó Trương đang dùng cố vấn Nhật trong một số lĩnh vực, và những người này chỉ việc tuồn tin về hướng tiến quân của Nhật để Trương ra lệnh thu dọn kho tàng rút lui mà thôi. Mặc dù có sự chống cự từ các nhánh quân địa phương ở Hắc Long Giang và Cát Lâm, nhưng diễn ra lẻ tẻ và không kéo dài được lâu. 5 tháng sau sự cố, đất Mãn Châu đã hoàn toàn nằm trong sự kiểm soát của Nhật Bản.

Việc rút lui của Trương Học Lương bị chỉ trích rất mạnh mẽ (báo chí gọi ông ta là “Tướng khuất phục”), dù lệnh không kháng cự này là từ chính phủ trung ương ban hành xuống. Ở vùng Đông Bắc lúc ấy, tư lệnh Trương Học Lương có trong tay 250.000 quân chính quy, một số xe tăng, 60 máy bay chiến đấu, 4000 súng máy và 4 tiểu đoàn pháo binh. Đối mặt với họ chỉ là 11.000 quân Nhật với trang bị nhẹ, vốn chỉ có nhiệm vụ duy trì an ninh đường sắt.

Năm 1932, chính quyền Quốc dân đảng có rất nhiều vấn đề nội bộ phải giải quyết. Trận lụt khủng khiếp ở sông Dương Tử năm 1931 đã khiến 200.000 người chết và 28.5 triệu người bị ảnh hưởng. Ba đợt bao vây tấn công cứ địa của Đảng Cộng sản Trung Quốc đều bị đẩy lui với tổn thất nặng nề. Ở Quảng Châu, Hồ Hán Dân thành lập chính phủ riêng đối lập với Tưởng. Do đang dồn các nguồn lực để khắc phục hậu quả lũ lụt và tổ chức đợt bao vây tấn công thứ tư, Tưởng Giới Thạch đã quyết định “buông” Mãn Châu để tránh phải sa vào một cuộc xung đột vũ trang với Nhật Bản. Dĩ nhiên điều này không được công khai. Trong hội nghị ngày 20 tháng 11 năm 1932, phe Quảng Châu công kích Tưởng dữ dội và đòi Tưởng từ chức vì để mất một vùng đất đai rộng lớn, giàu tài nguyên khoáng sản. Ngày 15 tháng 12, Tưởng từ chức chủ tịch và được thay thế bởi Tôn Khoa – con trai Tôn Trung Sơn.

Trung Hoa dân quốc đưa vụ việc ra khiếu nại tại Hội Quốc Liên từ ngày 19 tháng 9. Ngày 24 tháng 10, Hội Quốc Liên ra nghị quyết yêu cầu Nhật Bản rút quân về vị trí cũ, bắt đầu từ ngày 16 tháng 11. Nhật bác bỏ nghị quyết này và nhấn mạnh vào các cuộc đàm phán song phương với chính phủ Trung Quốc, vốn chậm chạp và chẳng mang lại kết quả gì.

(Đại diện Trung Quốc đưa vụ việc ra trình bày ở Hội Quốc Liên)

Ngày 7 tháng 1 năm 1932, Bộ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ Henry Stimson công bố Học thuyết Stimson, trong đó tuyên bố rằng Hoa Kỳ sẽ không công nhận bất kỳ chính phủ nào được thành lập nhờ các hành động quân sự của Nhật Bản tại Mãn Châu. Vào ngày 14 tháng 1 năm 1932, một ủy ban của Hội Quốc Liên, đứng đầu là bá tước Anh Victor Bulwer-Lytton xuống tàu biển đến Mãn Châu để điều tra. Tuy nhiên đến tháng 3, Nhật đã thành lập xong cái gọi là Mãn Châu Quốc, do hoàng đế bù nhìn Phổ Nghi làm lãnh đạo.

Bất chấp vị thế cao của Nhật Bản trong Hội Quốc Liên, báo cáo của Lytton tuyên bố Nhật Bản là thế lực xâm chiếm, Mãn Châu Quốc là “một nước do bộ tham mưu Nhật tạo ra”, yêu cầu hoàn trả Mãn Châu cho Trung Quốc, dù có khéo léo dung hòa lợi ích bằng việc từ chối khẳng định người Nhật là chủ mưu vụ đánh bom đường sắt. Trước khi báo cáo có thể được bỏ phiếu tại Đại hội đồng Hội Quốc Liên, chính phủ Nhật Bản tuyên bố ý định tiến xa hơn nữa vào lãnh thổ Trung Quốc. Báo cáo được Đại hội đồng thông qua với kết quả 42–1 vào năm 1933 (chỉ Nhật Bản bỏ phiếu trống), song thay vì rút binh sĩ khỏi Trung Quốc, Nhật Bản quyết định rời bỏ Hội Quốc Liên.

Sử gia người Anh Charles Mowat khi đó viết rằng ý tưởng về an ninh tập thể và pháp quyền đã bị đánh bại. Hội Quốc Liên không có lực lượng vũ trang riêng để buộc các nước thành viên thực thi nghị quyết của mình. Sau thế chiến I, các cường quốc đều không muốn dính líu vào một cuộc xung đột quân sự xa xôi. Cấm vận kinh tế cũng không hiệu quả, do Mỹ không phải thành viên Hội Quốc Liên nên Nhật có thể buôn bán trực tiếp với nước này qua ngả Thái Bình Dương. Người Nhật lập ra một chính phủ quân chủ lập hiến – trên danh nghĩa là chính phủ cai trị đất Mãn Châu, tuy nhiên các cố vấn Nhật (giữ vai trò thứ trưởng) là người quyết định mọi việc. Nhà nước bù nhìn Mãn Châu Quốc được các đồng minh của Nhật công nhận (28 quốc gia), trở thành bàn đạp quan trọng cho việc xâm chiếm lãnh thổ Trung Quốc về sau.

(Mãn Châu Quốc năm 1939)

 – Muitenbac777 –