Tết Việt thời Lý Trần

Tết Việt thời Lý Trần

Tết Nguyên Đán là một trong những tục lệ truyền thống lâu đời nhất của dân tộc Việt Nam. Tương truyền nó có từ thời Hùng vương qua sự tích Bánh Chưng Bánh Dày. Cũng như nhiều dân tộc làm nông nghiệp theo mùa vụ cố định trên thế giới, người Việt thưở dựng nước ăn tết vào thời điểm sau thu hoạch vụ mùa năm cũ và chuẩn bị bắt đầu vụ mùa mới. Ý nghĩa của Tết ban đầu chính là chào đón một chu kỳ nông nghiệp mới, với những niềm hy vọng vào tương lai tươi sáng. Từ đó mà dần dần phát triển thêm nhiều tục lệ. Tết xưa rất trọng việc lễ nghi và thời cúng, là dịp để mọi người ôn lại truyền thống, thể hiện sự gắn kết gia đình và cộng đồng. Sau đây là đoạn miêu tả Tết Nguyên Đán vào thời Lý – Trần, trích từ sách An Nam Chí Lược của tác giả Lê Tắc sống vào thời nhà Trần :

“Thường năm, trước lễ Tết hai ngày, vua đi xe ngự dụng, các quan tuỳ tùng đều mặc triều phục hầu đạo tiền, tế điện Đế Thích. Ngày 30 Tết, vua ngồi giữa cửa Đoan Củng, các bề tôi đều làm lễ. Lễ rồi, xem các con hát múa trăm lối. Tối lại qua cung Động Nhân, bái yết Tiên Vương. Đêm ấy đoàn thầy tu vào nội làm lễ Khu Na ( nghĩa là đuổi tà ma quỉ mị ). Dân gian thì mở cửa đốt pháo tre, cổ bàn trà rượu cúng tổ. Con trai con gái nhà nghèo, không có người mai dong để làm hôn lễ thì tự mình phối hợp với nhau.

Ngày Nguyên Đán, vào khoảng canh năm, vua ngồi trên điện Vĩnh Thọ, các tôn tử ( con cháu nhà vua ), các quan cận thần làm lễ hạ trước, rồi vào cung Trường Xuân, vọng bái các lăng tổ. Buổi sáng sớm, vua ngồi trên điện Thiên An, các phi tần sắp lớp ngồi, các quan trong nội đứng lộn xộn trước điện đánh thổi các bài ca nhạc trước đại đình. Con cháu nhà vua và bề tôi sắp hàng bái hạ, ba lần rót rượu dâng lên. Xong, các con cháu lên điện chầu và dự yến. Các quan nội thần ngồi tiểu điện phía tây, các quan ngoại thần ngồi hai bên tả hữu vua, ăn tiệc, đến trưa lần lượt đi ra. Các thợ khéo làm một cái đài Chúng Tiên hai tầng ở trước điện, một lúc thì cái đài ấy làm xong, vàng ngọc sáng chói. Vua ngồi ăn trên đài ấy, các quan làm lễ, trước sau chín lạy, và chín tuần rượu rồi giải tán.

Ngày mồng hai Tết, các quan đều làm lễ riêng ở nhà.

Ngày mồng ba Tết, vua ngồi trên gác Đại Hưng, xem các con cháu và các quan nội cung đánh bóng, hễ bắt được mà không rơi xuống đất là thắng. Quả bóng lấy gấm mà làm, bằng nắm tay đứa bé, có tua đeo lòng thòng đến hai mươi sợi.

Mùng năm Tết, lễ khai hạ, ăn yến xong thì để quan và dân lễ các chùa miếu và du ngoạn các vườn hoa.”

Tết ngày nay tuy đã đổi khác nhiều. Có nhiều giá trị cũ đã phai nhạt, nhiều cái mới thay thế, có tốt, có xấu. Tuy nhiên vẫn còn cái cốt lõi thiết thực nhất và ý nghĩa nhất, đó là sự xum vầy.

Bức Thư Cà Mau – Bút ký kinh điển về đời sống của người dân miền nam trước năm 1975

Bức Thư Cà Mau – Bút ký kinh điển về đời sống của người dân miền nam trước năm 1975

Nhà văn Anh Đức ( 1935 – 2014 ), tên thật là Bùi Đức Ái, quê quán ở Bình Hòa – Châu Thành – An Giang. Ông là một trong những cây bút hàng đầu của văn học miền nam trong kháng chiến chống Mỹ. Các tác phẩm kinh điển nổi tiếng của ông là truyện ngắn Biển Động, tiểu thuyết Hòn Đất, truyện ngắn Giấc Mơ Ông Lão Vườn Chim, bút ký Bức Thư Cà Mau … Tác phẩm Bức thư Cà Mau có giá trị lớn về văn học và lịch sử của Anh Đức, phản ánh một cách chân thực và rõ nét về cuộc chiến đấu của quân dân vùng Cà Mau trong kháng chiến chống Mỹ. Tác phẩm được viết dưới hình thức là một lá thư tâm sự với bạn làng văn là nhà văn Nguyễn Tuân. Qua đó, Anh Đức đã tường thuật lại những điều tai nghe mắt thấy của mình trong quãng thời gian sống và chiến đấu cùng quân dân Cà Mau. Giá trị của những mẫu than đước thời chiến tranh như thế nào ? Người Cà Mau đã chiến đấu với bọn ăn thịt người ra sao ? Cái cách người Cà Mau sẵn sàng sống và chết thản nhiên thế nào ? Quân đội Mỹ – VNCH đã sa lầy và bất lực thế nào ? Mời các bạn cùng đọc tác phẩm …

BỨC THƯ CÀ MAU – Tác giả : Anh Đức

Gởi anh Nguyễn Tuân

Anh mà nhận lá thư này của tôi được phát qua Đài phát thanh Giải phóng, chắc anh ngạc nhiên rồi thốt lên: “Lạ quá!”

Vâng, tôi đã đọc bài ký của anh trong một đêm tối trong rừng đước, dưới ánh sáng của ngọn nến trắng. Và biển ở gần sát đó cứ ầm ầm như có trận dông lớn đang đi tới. Biển của mũi đất mà anh đã ví như “ngón chân cái chưa khô bùn vạn dặm” ấy.

Anh Tuân ạ! Sau lúc đọc bài của anh, tôi đã đặt tờ báo Văn Nghệ số 12 năm 1963 đó lên ngực mà suy tưởng, mà ngẫm nghĩ, mà cảm động vô hồi. Bởi vì anh nói với nhân vật Lý, Trần, Lê của anh rằng: anh chưa hề đặt chân tới Cà Mau bao giờ. Nhờ địa lý và lịch sử, nhờ tiếp xúc với những anh như Lý, nhất là nhờ tình yêu của anh dành cho mũi Cà Mau mà anh viết lên những chữ nói về đất, về nước, về lò than, về cây đước, về những con người cầm súng đứng dậy ở đây. Anh cũng nói khá sát, khá đúng. Lâu nay tôi tưởng chẳng có anh nào ở miền Bắc hiểu nổi giá trị của một ca nước ngọt ngày nắng hạn ở nơi đây. Tôi cứ tưởng các anh chỉ có thể nghe nói tới cái địa danh Thới Bình, chớ không thể nào biết ở đó có một ngã ba sông. Với lại các anh thì làm sao biết được cái bầu trời ong ong tái tái chỉ có chốn cuối đất này mới có. Tôi cảm động chính là vì anh nói đến mọi thứ đó, những cái mà ở đây hầu như chúng tôi nghỉ tới nó hàng ngày, là mùi bùn bốc lên từ các bãi bồi, là vị muối trong hơi thở của các con kinh ăn ra biển cả, là vị ngọt cùa ca nước ngọt từ sông Hởu chở đến trong tháng nắng, là đất phân U Minh dày hai, ba thước, mùa khô thường cháy ruỗng bên dưới. Tôi cảm động hơn nữa là vì nhận ra sức mạnh của văn học với tình yêu không nén nổi, nó đã cất lên cái tiếng nói ứng nghiệm lạ thường. Anh Tuân! Anh đã nghe nói tới cái lò than Năm Căn và cũng đã hình dung ra làn khói thoát ra từ các lò than ấy. Xin báo thêm cho anh biết: Ngay bây giờ trong cuộc chiến đấu, các dãy nhà lò ở Năm Căn ngày đêm vẫn đỏ hồng củi đước. Muốn cho cây đước trở thành than, công việc đầu tiên là chuyển cây đước ở rừng về, rồi cưa thành khúc, rồi chất những khúc đước dài chừng non một thước đó vào lò. Lò than hình bán cầu, tợ như cái chén úp, có lỗ thông hơi. Người thợ lò than sẽ gầy lửa đốt suốt ngày đêm, rồi anh ta ngửi mùi coi là thân đã chín chưa. Công việc đại thể là như vậy. Nhưng chính trong những dãy lò ấy, con người thì thế nào? Phải nói là con người vừa đốt than vừa đánh giắc. Có lần tôi đã nhìn thấy một anh thợ đốt lò chiến đấu với khẩu súng tự tạo, lấy lò than của mình làm công sự. Sau khi cùng toàn đội đẩy lùi cuộc tàn, anh bị thương nặng từ trong lò bò ra, người anh bám đầy than đen, ngực anh đầm đìa những máu. Trước lúc chết, anh bảo vợ bồng đứa con gái nhỏ lại gần, anh kề miệng hôn đứa con mình lần cuối. Một vệt than in trên má của con anh, sau đó anh chết. Kỷ niệm cuối cùng của anh để lại trên đời là vất than trên má đứa bé. Những cái chết tương tự như vậy có rất nhiều. Hồi năm 1959 đen tối ở Cà Mau, có lần bọn Mỹ – Diệm đã từng sát hại nguyên một lò than người. Nói vậy để lúc nào anh đó dịp cầm lên trong tay một mẩu than Năm Căn, anh sẽ có một ý niệm về than đước sâu xa hơn. Một mẫu than đước mang trên mình có cái ý nghĩa lớn: lao động hòa bình và tính chiến đấu tự vệ vẻ vang.

Anh Tuân à! Ở mũi Cà Mau, ngày nào cũng có máu hòa vào các dòng kinh nước mặn, ngày nào cũng có đạn rốc két nổ phụp xuống rừng đước, ngày nào cũng có từng đống dây thép gai vây quanh các ấp chiến lược bị cuốn tung lên… ở ngoài đó các anh thường nghe tin về các cuộc đấu tranh trực diện với hàng bao lượt người rầm rộ tràn qua đồn bót, thị trấn tràn vô Cà Mau, nhưng anh vẫn chỉ nghe nói, chớ chưa thấy các cảnh các mẹ, các chị, các cô bơi xuồng ào ào ra Cà Mau đâu. Khí thế chính trị của ta là ở cái mái chèo vỗ sóng vỗ nước, ở rừng xuồng ghe lao mũi tới như tên bắn, ở sự ung dung tự tin của các bà mẹ ngồi trên xuồng đi đấu tranh vẫn điềm nhiên ngoáy trầu ăn, và các cô gái vừa bơi vừa sửa lại khăn đội đầu cho ngay ngắn. Có khi vật đấu tranh chở dưới xuồng là mấy quả đạn 105 ly của địch bắn vô xóm bị lép, có khi là những thi hài bà con bị chúng mổ bụng. Bà con cơm đùm cơm nắm lên đường từ khuya, nơi nào xa thì phải đi tờ chiều hôm trước để kịp đến Cà Mau lúc tan sương. Bình minh là cuộc đấu tranh bùng nổ. Kẻ địch có lần đã mò xuống xuồng để cướp thi hài, hầu phi tan tội ác của chúng. Tức thì lúc đó các đoàn thuyền vây bọc xung quanh chiếc thuyền chở thi hài khe khít lại hơn. Trên mặt sông dàn ra một trận thế vô cùng vững chắc. Mặt sông vang lên những khẩu hiệu đòi nhận đơn, đòi bồi thường tài sản, nhân mạng. Bọn địch nổ súng, lúc đầu chúng bắn dọa, là đạn bay trên cao, bà con cặp xuồng vô bờ đổ bộ lên, bọn địch hạ thấp mũi súng xuống. Súng nổ có người té sấp ở vệ sông. Thế là người ta nhảy từ trên xuồng xuống ôm xác người chết đưa lên đi tới. Cuộc đấu tranh giằng co nhiều khi tới xế chiều. Trong chợ xuất hiện nhiều người bán bánh đi lẫn vào đoàn người, đó là hình thức tiếp tế của bà con ở ngoài chợ. Bánh trái ăn khỏi trả tiền. Một khi cuộc xô xát xảy ra, bà con còn giả cách bưng từng rổ mía chặt khúc đem vô bán, đó là cách tranh bị gậy gộc cho bà con biểu tình khéo léo nhất. Mỗi người cầm lấy một khúc mía làm võ khí tùy thân đánh nhau với lính. Cuộc đấu tranh biến cả chợ thành một cái tổ ong vỡ náo động cả lên, cho kỳ tới lúc tỉnh trưởng bối rối nhận đơn chịu bồi thường mới thôi. Tôi đã nhìn thấy bà con đem về những khúc mía gãy giập sau cuộc xô xát. Đặc biệt có nhưng tấm áo lịch sử. Một lần nọ chúng vây bắt một số bà con ta trong cuộc biểu tình, chúng lấy nước sơn viết lên áo của bà con dòng chữ “Toàn dân tham gia diệt cộng”. Bà con vùng vẫy cưỡng lại, dòng chữ viết ép uổng ngoằn ngoèo chữ nào không ra chữ nào. Sau đó chúng thả bà con ra. Đi ngang phố bà con ghé vào hiệu nhuộm dùng nước thuốc để xóa hết các dòng chữ trái lòng trái dạ kia. Chuyện đấu tranh còn nhiều cái vui lắm, anh Tuân ạ. Giá có anh ở đây, các em, các chị sẽ kể cho anh nghe. Mà họ kể hồn nhiên lắm kia. Các chị vừa thoăn thoắt tay đan lưới, vừa kể vừa cười rúc rích. Câu chuyện đấu tranh nghe như chẳng có cái gì là nguy hiểm chết người cả. Nhưng có những chị vừa cười vừa nói hồn nhiên với ta đó có khi vào hôm sau ta không gặp lại họ nữa. Họ có thể ngã xuống ở hàng đầu cuộc đấu tranh. Họ có thể bị bắt giam, bị đánh bằng gậy sắt, bị quay điện, bị ghim kim vào đầu ngón tay v.v… ấy vậy mà ngày ngày họ vẫn vui cười. Tiếng hát tiếng hò của hộ vẫn thường vút lên trên các dòng kênh hoặc những cánh đồng đã cấy. Cuộc chiến đấu ở mũi đất xa xôi nầy được cái nó trẻ trung, nó tươi đầy. Với giặc thì căm thù xốc tới, với ta thì yêu thương trìu mến. Và vì khát vọng có được một cuộc sống như ở ngoài Bắc nên con người ta dám chết. Hàng ngày Cà Mau rấn lên bùn đất và trong cơn máu đổ. Vậy mà Cà Mau vẫn xanh rờn màu mạ cấy, vẫn sáng loáng những đồng lúa vun cao, vẫn cắm cọc hàn sông ngăn tàu và vẫn bố trí hầm chông giữa ruộng. Nhưng lúc nào bà con cũng lảo đảo vì bắn chìm mấy chiếc thuyền nhựa của bọn công an duyên hải, một lát sau đã đình huỳnh ngồi tại một trại đáy ăn tôm lụi, uống vài ly rượu anít nhãn hiệu “Rồng xanh” cho ấm. Chả là anh ta phải trầm mình dưới kênh về, vì tụi giặc còn lại nó xổ trung liên như mưa theo anh.

Bầu trời Cà Mau cũng vậy, chẳng phải lúc nào cũng ong ong tái tái đâu. Cũng tùy mùa. Sáu tháng nắng, sáu tháng mưa mà. Mùa mưa bầu trời như se lại, bất cứ lúc nào cũng có thể đổ ào xuống một trận mưa to. Các ánh đồng kể cả rừng đước, vẹt, kể cả rừng tràm xứ U Minh Thượng, U Minh Hạ đều nhứ dầm chân trong nước. Không phải lo cho cây lúa, lúa cứ luôn luôn vượt khỏi mặt nước mà sống. Hầm chông, hố chông trong ruộng tựa như được nước lụt che, thằng giặc chẳng biết đâu mà rờ. Trong mùa nước, thằng giặc Mỹ – Diệm đổ bộ từ trực thăng xuống bị sụp chông, máu cứ loang đỏ trên mặt nước, trên màu mạ cấy.

Anh Tuân ạ! Vừa rồi ở trong nầy tôi may mắn được đọc tập “Sông Đà” và một số bài lẻ từ kháng chiến của anh. Trên mạn sông Đà, nếu anh có dịp theo một chiếc thuyền than nào đó xuôi sông Quỳnh Nhai, hoặc giả anh bắt gặp mây Mèo trên các triều núi Tây Bắc thì nay nếu anh mà đến được Cà Mau, tôi tin rằng anh sẽ gặp nhiều cái gợi anh nghĩ đến rất nhiều thứ chất liệu dành cho ký sự. Anh sẽ gặp bà má Năm Căn ngày đêm mong mỏi được ra thăm Hồ Gươm, anh sẽ gặp ông già cao niên nhất ở Viên An chuyên sống nghề hạ bạc, nghề làm củi. Các ông già ấy thể nào cũng cầm giữ anh lại ở trại đáy, cho anh ăn cua biển gạch son hoặc tôm lóng lớn bằng ngón chân cái luộc dấm. Các ông lão không quên đãi anh một vài ly rượu nếp cội (ở đây thì gọi là rượu mắt mèo, và nó trong lắm, trong như mắt con mèo vậy). Anh cứ lưu lại ở đó chơi qua một đêm. Khi đôi mắt của những ông già đã hoe hoe đỏ, khi bếp củi phựt sáng, rơi vạc than hồng, là lúc các ông ấy sắp dẫn anh đi ngược lại cái thuở ban sơ đến đây lập nghiệp, sau khi dời các xứ xa khổ ải, họ đã tới đây dựng lên hàng lưới, hàng đáy ra sao, dựng lên những lò than nung nấu cây đước ở chốn nê địa như thế nào. Anh nên đến đấy lắm, để nhìn xem tàu lá dừa nước óng mượt bụm nước U Minh đỏ ngầu như rượu vang. Rồi đây sẽ không bao giờ trở lại với ta nữa những đêm đi theo xuồng một chuyến giao liên, mỗi lúc cô giao liên khuấy chèo là vẽ lên một dòng sáng rực trên con kinh nước mặn. Có lẽ sau này khó mà nghe lại những hồi mõ, hồi trống nổi lên trong một vùng tranh chấp. Anh cần đến đây để tham quan cái hàng rào vĩ đại của bà con làm bằng cây đước, cây vẹt, vây chặt lấy biệt khu Bình Hưng của lũ giặc Mỹ – Diệm – Tưởng. Và ngày chủ nhật, ở vùng ven Bình Hưng, nghe thấy tiếng chuông nhà thờ từ trong cái địa ngục ấy vọng ra. Con chiên đi lễ là lũ giặc lóp ngóp chui qua từ các hệ thống hầm ngầm, vọng gác. Có tên trước lúc đến nhà thờ mới vừa ăn xong gan người xào, có tên trước giờ xưng tội còn tranh thủ giội nước sôi vô chiếc lu nhốt người cho người chịu tội bóc tuột da ra mà lũ giặc gọi là “làm lông” để sau khi đi nhà thờ về là chúng bắt tay pha thịt nấu nướng. Những chuyện về bọn Nguyễn Lạc Hóa khiến tôi nhớ tên Đèo Văn Long trong bài Một chút tiểu sử và một bản lý lịch và bài Xòe của anh. Ở Tây Bắc, người con gái bị giết sau tối xòe đã là chuyện bi thảm rồi. Nhưng ở Bình Hưng ngày nay, chúng nó chẳng cằn xòe hát gì cả, chúng nó đi càn quét các vùng lân cận bắt con em chúng ta về lập nên nhà chứa cho lính. Tên lính nào vô nhà chứa mấy lần đều có ghi sổ, tới cuối thành tên Nguyễn Lạc Hóa sẽ khấu trừ vào số lương của họ. Chuyện Bình Hưng là cả một chuyện đau lòng, rùng rợn về con người. Bởi vì chúng nó cũng là con người. Bọn ăn thịt người tới mức độ đã biết ngon, biết chế biến ra cách xào nấu, biết lỗ tai người và bàn tay người là ngon nhất. Giành nhau một cái mật người, chúng có thể đâm nhau, bắn nhau, bởi vì một cái mật có thể bán 1.000 đồng, nghe nói nay đã lên tới 1.500 đồng, 1.800 đồng. ở Sài Gòn có một bọn thầu mua, chẳng sợ ế! Bọn Diệm thường gọi Bình Hưng là “Biệt khu Hải Yến bất khả xâm phạm”. Bọn Kennơđi tặng Bình Hưng tên “Ngôi sao của thế giới tự do”. Chỉ có bà con Cà Mau gọi Bình Hưng đúng với cái tên của nó, “Địa ngục Mỹ – Diệm – Tưởng”. Lũ giặc Bình Hưng trong cơn say chếnh choáng giữa bữa tiệc thịt người thường vỗ ngực nói rằng:

– Nếu Việt Cộng đánh được Bình Hưng thì Việt Cộng mới lấy được miền Nam.

Mới đây nghe tin lực lượng võ trang ta triệt hạ hai chi khu quân sự Đầm Dơi, Cái Nước, thì Bình Hưng bị pháo kích dữ dội, 80 tên giặc vừa chết vừa bị thương, bọn Bình Hưng đâm hoảng bảo nhau:

– Việt Cộng nó đã đánh Đầm Dơi, Cái Nước, thì ở đây nguy đến nơi!

Hẳn là như vậy rồi, sớm muộn rồi Bình Hưng củng bị tiêu diệt, lực lượng võ trang của ta đã báo trước cho Bình Hưng biết điều đó. Lực lượng ta lớn mạnh mau chóng thật, anh Tuân ạ. Chỉ huy trẻ trung, chiến sĩ trẻ măng, đôi mươi, có khi còn trẻ hơn nữa. Nhất là các chú trinh sát đặc công. Trong cuộc chiến đấu này, con em ta đã ra tiền tuyến trước tuổi. Đó là điều khiến tấm lòng các bà mẹ vừa kiêu hãng lại vừa xót xa. Một bà má ở U Minh vừa tiễn con trai 17 tuổi đi bộ đội, bảo tôi với giọng nghẹn ngào:

– Biết làm sao bây giờ? Má sợ con má nó chết lắm, nhưng má không thể giữ nó ở nhà với má được!

Bà mẹ U Minh nói như vậy, anh Tuân ạ. Về văn học, cái mâu thuẫn xâu xé trong cõi lòng bà mẹ miền Nam như vậy thì gọi là gì hở anh? Sự thật thì chẳng có bà mẹ nào muốn con mình chết cả, chẳng qua là vì lẽ sống ở đây đòi đổi lấy bằng máu, không thể kỳ kèo tiếng một tiếng hai với kẻ thù được. Trong trận tiêu diệt chi khu Cái Nước tôi có tham dự, chiến sĩ giải phóng quân ở nhà anh nào anh nấy coi hiền lành, cù mì củ mỷ lắm. Đóng quân trong xóm, các anh bị các cô trêu cứ đỏ mặt lên hết. Thế mà ở mặt trận thì họ khác hẳn, anh nào coi cũng dữ, cũng quyết liệt, họ hét, họ tuốt lê lao lên, họ dồn từng tên địch vào góc tường rồi xốc tới trói nghiến lấy. Trận tấn công Cái Nước hôm đó mau lẹ đến nỗi điện đài địch không kịp kêu cứu về Cà Mau. Theo dõi Rađiôphôni nghe thấy một cái đồn lân cận, là đồn Rau Dừa kêu về Cà Mau báo tin chi khu Cái Nước bị tấn công dữ dội. Bọn Cà Mau điện trả lời:

– Hiện thời mọi chi khu đều biến động, chỗ nào nấy lo không thể tiếp cứu được.

Chi khu Cái Nước vừa bị hạ thì xuồng của đồng bào dân công đã bơi ào ào xông ra chở tù binh, chở chiến lợi phẩm. Con rạch dẫn ra Cái Nước, xuồng ghe chật cứng như nêm. Bà con gặp bộ đội, câu hỏi đầu tiên là:

– Sao? anh em mình có sao không?

Một số tù binh nghe các câu hỏi như thế cúi gằm mặt xuống. Bởi suốt cuộc đời lính cho Mỹ – Diệm, họ không sao kiếm ra một câu hỏi như vậy. Tất nhiên một trận đánh diệt ngót 200 địch ở Cái Nước, ta hy sinh năm chiến sĩ thì không có gì đáng kể. Thế nhưng có cái gì rất xót lòng, anh Tuân ạ! Tôi có đến nơi tẩm liệm năm chiến sĩ ấy. Lúc đó lối chừng hai giờ khuya. Dưới ánh sáng của những ngọn nến trắng cỡ lớn, năm anh chiến sĩ nằm gần nhau, mặt anh nào cũng phủ lá cờ Mặt trận. Xung quanh là các má, các chị, người lo thay quần áo cho anh em, xé vải liệm. Một bà má ngồi bên nhẹ tay vén lá cờ nhìn mặt từng anh. Má lắc đầu, nước mắt lã chã. Má thương các anh quá. Tôi trông dáng bà má lúc ấy như đang tìm kiếm cái gì trên nét mặt của những đứa con mình. Có một anh chừng hai mươi tuổi chết rồi mà mắt cứ mở. Bà má vuốt mắt anh nhưng mí mắt anh vẫn không khép lại. Má đưa tay vuốt mặt lần nữa. Vừa vuốt má vừa thì thầm câu gì. Tôi nghe hình như má nói:

– Ngủ đi, ngủ đi con!

Cặp mắt anh chiến sĩ cuối cùng khép lại. Các má các chị lần lượt nâng con em mình đặt vào hòm. Tiếng khóc nấc lên giữa đêm sắp hầu tàn. Tôi cùng các má lội nước đưa các anh ấy ra nghĩa trang, và tôi giã từ những mộ phần mới đó ra đi trong đêm tối nhợt dần. Sáng ra rồi, tôi vẫn thấy ánh nến chập chờn, thấy đôi mắt của các chiến sĩ tiếc nuối nhìn cuộc sống, thấy các má các chị tới lui tất tưởi.

Đêm miền Nam là như vậy. Lứa tuổi trẻ ở miền Nam ngã xuống có anh chưa biết tình yêu là gì, chưa biết cái hơi thở ấm áp của một cô gái phả vào mặt mình, chưa hề cầm nắm một bàn tay khác lạ, nói chi đến chuyện hẹn hò nhau vào những chiều thứ bảy, nói chi đến chuyện dắt nhau đi dạo chơi trong công viên ngày chủ nhật. Sau những đêm như thế, khi ngày rạng, tôi thấy thiên nhiên cũng đổi khác. Nhìn sang rừng đước, tôi thấy dường như nó cắm sâu xuống lòng đất hơn, con rạch, vầng lá hình như cũng nhuộm thắm thêm cái màu sắc lãng mạn của cuộc chiến đấu.

Anh Tuân ơi,

Trong bài viết của anh, anh có nhắc tới những thằng Mỹ đem thân bón cho cây đước Cà Mau. Vào lúc tôi viết bức thư này cho anh, thì số tên lính Mỹ vùi thây dưới đất bãi bồi này tăng lên rất nhiều rồi. Trận gần đây nhất là trận Chà Là. 15 máy bay Mỹ bị bắn hạ. Một kỷ lục cao nhất về bắn hạ máy bay, có hàng chục phi công Mỹ chết theo máy bay của chúng. Có cả vợ quan lái tàu bay Mỹ đi vào vùng ta tìm kiếm thây chồng chết trận này. Mới đây, anh em đưa về chỗ chúng tôi một mớ tài liệu giấy tờ của hai tên Mỹ lái hai phi cơ phóng pháo bị du kích ta bắn rơi. Một trong hai tên phi công đó bị một viên đạn bắn xuyên qua cổ. Hai du kích bắn, một anh bắn khẩu Lơben, một anh bắn khẩu Garăng Mỹ. Tên phi công chết tốt. Chiếc máy bay cằm đầu xuống một cửa biển. Hai an du kích, anh nào cũng quả quyết là do chính khẩu súng của mình bắn hạ. Nhưng chẳng ai phân xử nổi. Tới chừng vớt xác tên Mỹ lên, thì vết đạn ở họng hắn lại chính là vết đạn Lơben. Loại súng này vốn là loại súng trường cổ lỗ của Tây, anh em gọi nó là “Quảng tầm sào”, vì nó dài lêu nghêu như cây sào. Anh du kích bắn Lơben khoái trá nhảy cỡn lên mà la:

– Thấy chưa? Thấy cây “Quảng tầm sào” của tôi chưa? Đừng có khi dễ nó mà!

Tên Mỹ xấu số đó là trung úy Uyliam Xtadi, còn tên thứ hai là trung úy Vôn Hăngri Nétxi cũng bị hạ cùng chiếc phi cơ phóng pháo B.26 tại xã Khánh Bình Đông. Cả mớ tài liệu gồm có thẻ quân nhân, thẻ ăn sáng, thẻ câu lạc bộ hàng không ở Nêvađa, bản đồ, sổ ghi số bom đạn mang theo bao nhiêu, đã ném bao nhiêu và một số ảnh của vợ con chúng. Chiếc thẻ quân nhân của Uyliam Xtadi do Bộ Quốc phòng Mỹ cấp có dán ảnh hắn. Tên này trạc ba mươi tuổi. Đầu hắn hớt cua, mày rậm và hai mắt hơi lộ, trắng dã. Đôi mắt của hắn lúc ngủ mà đã như nhìn về cõi chết. Bức ảnh của tên Hăngri Nétxi bị tróc nham nhở, có lẽ bị thấm nước ruộng Khánh Bình Đông nên tôi không nhận ra được dung mạo của hắn. Trong quyển sổ võ khí có trang ghi: bom napan đã ném 20 quả, đạn rốc két đã bắn 43 trái. Thế có nghĩa là ngày hôm ấy nhà cửa đồng bào đã cháy, các em bé và các bà mẹ đã chết, cây ăn quả ngã gục. Dòng chữ ghi một cách ngắn gọn, tàn nhẫn. Tội ác của chúng được cụ thể hóa bằng số liệu bom và đạn. Vì vậy cái chết của chúng chẳng có gì là quá đáng. Vật cuối cùng tôi chú ý hơn cả là mấy bức ảnh của vợ con chúng, mấy bức ảnh được bọc rất kỹ trong giấy nhựa. Bọn giết người cũng biết nâng niu hình ảnh vợ con chúng. Một bức ảnh chụp người thiếu nữ Mỹ độ hai mươi ba tuổi, mặc áo hở ngực, có đôi mắt sâu thẳm. Ở người thiếu nữ này vẫn có cái gì tươi trẻ như mọi cô gái khác trên trái đất. Cô đang lâm vào một số phận đáng thương. Tôi biết vậy, nhưng lòng sao cứ ngây ngấy nổi lên mối ác cảm. Người thiếu phụ thứ hai lớn tuổi hơn có vẻ là người đàn bà nội trợ, đang nửa ngồi nửa nằm trên ghế sôpha, miệng cười chúm chím. Bức ảnh cuối cùng khiến lòng tôi se lại. Ảnh chụp hai đứa bé, một trai, một gái. Đứa trai chừng năm tuổi, đứa gái chừng ba tuổi… Hai đứa nắm tay nhau đứng nhoẻn miệng cười trên bãi cỏ. Con của kẻ giết người cũng có nụ cười ngây thơ dễ thương như mọi đứa trẻ khác. Chúng ta đã mồ côi cha!

Tôi tự nghĩ rằng từ đây, nếu hai đứa trẻ ấy hỏi đến cha nó, thì liệu mẹ nó phải nói như thế nào? Chị ta có thể bảo thật với nó rằng: Cha chúng đã chết ở miền Nam Việt Nam không? Không, chắc người đàn bà ấy không đáp được câu hỏi của con mình. Tôi tính chị ta sẽ úp mặt vào lòng bàn tay mình mà nức nở, anh Tuân ạ. Và có lẽ đêm đó, người đàn bà đáng thương kia lại mường tượng tới mỏm Cà Mau xa lạ.

Anh Tuân! Mỏm đất đấy thì chúng ta biết rõ, nhất là tôi. Còn anh, anh cũng đi tới rồi đó, anh. Anh đi tới mũi Cà Mau với cây đèn đất lịch sử soi trên bản đồ địa lý, với trái tim nhịp đập theo sự kiện chạy ngày một khỏe của Cà Mau. Anh đến với mũi đất này như thế cũng quý hóa lắm rồi… Tính tới năm 1963 nầy, người dân Cà Mau đã trải qua ngót 20 năm đánh giặc rồi anh Tuân ạ. Nếu không cò thằng Mỹ, thì cuộc đời đã vui tươi sung túc bằng mấy. Nhưng từ nay bước vào cuộc kháng chiến gian khổ lâu dài, dân Cà Mau vẫn lạc quan theo đuổi đến cùng. Ngày ngày những con gió bão lớn nhứt thổi hắt vào mặt họ, nhưng tay cầm tay, họ đứng vững chân trên đất hệt như cây đước. Vấn đề là ở chỗ phải đứng chắc chắn như cái thế của cây đước. Ở Cà Mau đã lâu, tôi chưa hề gặp một cây đước nào bị dông gió thổi bật, cho dù là một trận dông lớn nhất sức gió cũng không thể nhổ bật được hàng trăm rễ đước cắm sâu xuống lòng đất. Vả chăng có cây đước nào đứng riêng lẻ đâu? Nó đứng cạnh nhau, che chở cho nhau. Chỗ đứng đầu sóng ngọn gió sản sinh ra loại cây khả dĩ có thể chống chọi được sóng gió. Con người sinh ra ở đây cũng như vậy. Theo tôi, họ là những người Việt Nam thống khổ nhất, bị áp bức giai cấp mà đi riết các chỗ hết đất hết trời. Tôi cả tin ở lời anh nói rằng: những người tới đất Cà Mau sớm nhất có thể là một anh lính thú, một cung nữ thất sủng, hoặc là những kẻ bất hạnh. Tôi xin bổ sung thêm là gần đây vào thời lịch sử nước ta bị chia cắt lần thứ hai, tại mũi đất cuối cùng này lại đến thêm những con người bất hạnh mới. Đó là những bà con miền Bắc trong cuộc di cư cưỡng ép cuối năm 1954. Sau khi trải qua không biết bao nhiêu cảnh khổ, họ đã trôi dạt tới đây. Bà con này bị Mỹ – Diệm tập trung trong các khu dinh điền. Nhờ lực lượng võ trang ta đánh vào và bà con tự phá ra chạy vô vùng giải phóng. bà con ấy đã định cư làm ăn, tham gia cách mạng. Bà con lại đi bộ đội, du kích. Có người được kết nạp vào Đảng Nhân dân cách mạng, được cử vào Mặt trận ở địa phương. Lá nào rụng về cội ấy. Người Cà Mau giúp đỡ, đùm bọc những người trước kia sống ở đồng bằng sông Nhị, sông Chu, hoặc ở những nơi đồng chiêm trắng nước tỉnh Hà Nam. Bà con miền Bắc này vẫn hay nhắc tới cái cổng xây, cái đình làng họ, cái giếng nước làng họ. Cho dù gặp con cá con tôm mập béo ở xứ đất màu mỡ, họ vẫn nhớ con cua con cáy. Tại Sào Lưới, một xóm nhỏ của Cà Mau nằm bên vịnh biển Thái Lan ầm ầm sóng vỗ, một hôm tôi đã nghe một ông cụ người quê Kẻ Sặt (Hải Dương) nói:

– Chiều chiều tôi nhìn những đám mây mà nhứ làng nhớ quê quá cậu ạ.

Tôi hỏi:

– Thưa cụ, cụ nói những đám mây kia?

Ông cụ gật đầu, đáp giọng như lạc đi:

– Phải, những đám mây đang trôi về quê tôi đấy, cậu ạ.

Chiều hôm đó, tôi mới vỡ lẽ ra ông cụ Kẻ Sặt có rất nhiều buổi chiều ngồi nhìn lên như thế. Ông cụ trông về phương Bắc… Mà thôi, tôi chẳng nói về ông già Kẻ Sặt ấy viết thư về cho những người thân thường bảo rằng “Ngày Bắc đêm Nam”.Cũng đều giống nhau cả, kẻ đàng trong nhớ ra đàng ngoài, kẻ đàng ngoài nhớ vọng vô trong. Thư này tôi viết cho anh đã dài, mà những điều muốn nói về Cà Mau thì lại càng dài hơn. Có lẻ tôi tạm ngừng ở đây chăng? Một dịp khác tôi sẽ lại viết tiếp cho anh. Giờ đây đêm đã khuya, mưa đang đổ lớn, biển động dữ dội. Dạo này, đêm Cà Mau, gió mưa cứ tầm tã, ở ngoài đó chắc đã lập đông rồi, phải không? Mặt nước Hồ Gươm mùa đông có đẹp không anh. Lát nữa trời sẽ rạng sáng. Dù chưa biết Hồ Gươm, tôi vẫn nhớ Hồ Gươm và đoàn rằng lúc ấy Hồ Gươm sẽ đẹp hơn cả mọi lúc, vì khi ấy Tháp Rùa sẽ hiện ra trong sương sớm như xuất hiện từ trong câu chuyện thần thoại của bản thân nó. Cây đước của bà má Năm Căn có ở đó không anh nhỉ? Chừng nào thì xuất hiện cây đước với vòm lá xanh rì của nó, chừng nào thì rễ đước bắt đầu bén đất Hồ Gươm?

Chừng nào? Cái câu hỏi ấy, mỗi người đều phải đặt lấy, định lấy. Ở tôi, ở anh, ở tất cả thảy chúng ta trên hai miền Nam Bắc. Tin rằng: Thời gian sẽ ủng hộ chúng ta. Để anh có thể vô thăm Cà Mau sớm hơn. Và tôi có thể ra viếng Tháp Rùa một thể cùng một chuyến với các bà mà Năm Căn, vai đeo bị bàng đựng những trái đước giống.

Chúc anh sức khỏe.

Cà Mau tháng 11 năm 1963.

Cỏ tương tư

Cỏ tương tư

Ở đời đã tương tư thì hẳn phải do một cái gì đó có sức hấp dẫn, lôi cuốn. Cỏ tương tư ( tương tư thảo ) cũng như thế. Cỏ tương tư khiến bao thế hệ đắm say bởi cảm giác mà nó đem lại, khiến cho người ta một khi đã dùng quen thì khó mà bỏ được. Cỏ tương tư cũng nguy hiểm, giống như bệnh tương tư vậy. Đã có thống kê rằng cỏ tương tư là một trong những tác nhân gây chết người nhiều nhất trong lịch sử, là thứ giết chết khoảng 100 triệu người trong thế kỷ 20.

Cỏ tương tư có xuất xứ từ Châu Mỹ. Ngươi da đỏ ngậm nó trong miệng, hít bột nghiền hay vấn thành điếu hút để tạo khoái cảm, thấy khó chịu khi thiếu nó. Người thám hiểm Columbus đã phát hiện ra công hiệu của cỏ tương tư và mang nó về Châu Âu. Từ đó, cỏ tương tư lan rộng khắp thế giới, với muôn vàn cách sử dụng được sáng tạo. Ban đầu người ta dùng cỏ tương tư để chữa bệnh. Về sau, người ta coi nó như một thú tiêu khiển giống như việc uống trà, uống rượu. Cỏ tương tư có thể dùng để đốt lên mà hút, hít bột, dùng để nhai lấy nước, ngậm, hoặc ăn luôn cả lá …

Cỏ tương tư du nhập vào vùng Đông Á không lâu sau khi du nhập vào Châu Âu. Thời nhà Minh, người Trung Hoa đã sử dụng khá phổ biến để chữa bệnh và tiêu khiển, bất chấp sự ngăn cấm của triều đình. Cỏ tương tư trồng ở đất Mân giá rất cao, có người mua với giá một cân đổi một con ngựa. Sách Thảo tòng tân của Ngô Nghi Khác nhà Thanh xếp Cỏ tương tư vào loại độc dược, dù đánh giá nó có một chút dược tính :

“Tính nó cay, trị các chứng phong, hàn, tê thấp, trệ khí, đọng đờm, sơn lam chướng khí. Khói vào mồm không theo thường độ, một lúc nó chạy khắp người, làm cho khắp cơ thể trong người thông khoái, thay được rượu được chè, cho nên người ta còn gọi là Tương tư thảo. Nhưng hơi lửa nung nấu, hao huyết, tổn thọ, mà người ta không biết. Thật khó sửa chữa.” ( dẫn theo Phan Cẩm Thượng ).

Người Việt mới biết đến cỏ tương tư vào thời Lê – Trịnh, thường chỉ dùng để hút, gọi là hút thuốc hoặc nhai khi ăn trầu. Vì lẽ người Việt bắt chước từ người Lào hút thuốc, nên nhân đó gọi là thuốc lào. Lê Quý Đôn viết trong Vân Đài Loại Ngữ :

“Đời Cảnh Trị [ vua Lê Huyền Tông ], 1665, hai lần hạ lệnh nghiêm cấm hút thuốc, lùng bắt những người trồng thuốc, hay hút thuốc giấu, mà tuyệt không được. Nhiều người khoét tre, làm ống điếu (điếu cày), lại chôn điếu sành xuống đất mà hút, tàn đóm còn lại, thường sinh hỏa tai. Lâu lâu, bỏ lệnh cấm ấy, bây giờ nhân dân lại hút như thường.”

Bởi vì người dân đã nghiện cỏ tương tư như nghiện một người tình, bất chấp lệnh cấm của vua mà ngầm chốn giấu điếu cày để hút thuốc nên dân gian có câu ca dao :

“Nhớ em như nhớ thuốc lào
Đã chôn điếu xuống lại đào điếu lên”

Ngoài các tên gọi thuốc lá, thuốc lào thì cỏ tương tư còn có các tên gọi sau : Linh thảo ( cỏ thần ), yên diệp, yên tửu, thuốc rê …

Càng phổ biến, cỏ tương tư càng gây ra nhiều tác hại cho con người. Nhưng xét ra, chẳng qua người ta lạm dụng nó nên mới thế. Nếu trả nó đúng về vai trò thì nó cũng là một thứ cỏ cây hữu ích. Cỏ tương tư ngoài nhiều dược tính đã liệt kê như trên, dùng để hút ẩm, diệt côn trùng, khử mùi … Cũng như các sản phẩm là rượu, bia, cà phê, trà … Cái gì dùng đúng mực, đúng mục đích thì tốt, lạm dụng thì xấu. Cũng như khi yêu một người cũng phải giữ cho mình tinh thần sáng suốt.

Nhà thiên văn học lỗi lạc ĐẶNG LỘ – Ông tổ của nền thiên văn Việt Nam

Nhà thiên văn học lỗi lạc ĐẶNG LỘ – Ông tổ của nền thiên văn Việt Nam

Trong lịch sử Việt Nam, tuy có rất nhiều danh nhân nhưng phần lớn là trong các lĩnh vực chính trị, quân sự và khoa học xã hội. Đặng Lộ xuất hiện trong sử Việt như một ngôi sao sáng về khoa học tự nhiên.

Nhà thiên văn học Đặng Lộ sống vào thế kỷ 14 dười triều nhà Trần. Ông quê ở làng Mạc Xá, huyện Chương Đức, lộ Ứng Thiên ( thuộc Chương Mỹ, Hà Nội ngày nay ). Đặng Lộ làm quan trải ba triều vua Trần Minh Tông, Trần Hiến Tông, Trần Dụ Tông.Thuở nhỏ Đặng Lộ có sở thích ngắm trăng sao và mặt trời, đến nổi bị đau mắt nặng vì ngắm mặt trời.

Lớn lên, Đặng Lộ được học ở Quốc tử giám và thi đậu Thái học sinh, được phong làm Liêm phòng sứ hai lộ Đại Hoàng, An Tiêm ( vùng Hà Nam, Nam Định ngày nay ). Sang thời Trần Hiến Tông, tài năng thiên văn của Đặng Lộ được vua và triều thần phát hiện nên ông được phong làm Hậu Nghi lang thái sử cục lệnh, đứng đầu đài Hậu Nghi, thuộc Khâm Thiên giám là cơ quan chuyên trách về thiên văn thời Trần.

Trong thời gian này, Đặng Lộ đã phát minh ra một loại máy dùng quan sát, đo đếm thiên tượng gọi là Lung Linh Nghi. Đây là phát minh quan trọng bậc nhất về lĩnh vực thiên văn của nước ta. Đại Việt Sử Ký Toàn Thư đánh giá : ” Lung linh nghi khảo nghiệm thiên tượng, không việc gì là không đúng”.

Với vốn kiến thức tích lũy và qua nghiên cứu từ Lung linh nghi, Đặng Lộ đã biên soạn một bộ lịch pháp mới gọi là Hiệp Kỷ Lịch và dâng lên vua Trần Hiến Tông. Bộ lịch này đã được dùng để thay thế Lịch Thụ Thời, là thứ lịch mà nước ta đã dùng dựa trên lịch của nhà Tống. Thời thượng cổ, nước ta vốn dĩ đã có lịch pháp cho riêng mình nhưng đã bị thất truyền. Sau thời Bắc thuộc, đành tạm dùng lịch của Trung Quốc. Tuy nhiên khí hậu nam bắc vốn khác biệt và bản thân lịch pháp Trung Quốc thời kỳ này cũng đã có nhiều bất cập nên dẫn đến lịch không khớp với chu kỳ thời tiết, gây khó khăn cho sản xuất nông nghiệp. Việc áp dụng lịch Hiệp kỷ, một thứ lịch mới chính xác hơn là bước tiến lớn về văn minh của Đại Việt, giúp cho sản xuất nông nghiệp được thuận lợi hơn. Công lao này của Đặng Lộ rất lớn.

Về sau, dựa vào các nghiên cứu này mà Trần Nguyên Đán viết sách Bách thế thông khảo, ghi rõ những sự kiện thiên văn trải dài nhiều thế kỷ đến tận thế kỷ 14. Đáng tiếc là thời nhà Hồ mất nước, các sách vở của Đặng Lộ và Trần Nguyên Đán đều bị giặc Minh cướp phá hoặc hủy hoại, công trình của họ bị thất truyền. Sang đến thời nhà Nguyễn, Khâm Thiên giám nhà Nguyễn mới soạn lại được Hiệp kỷ lịch, dựa trên sự tham khảo lịch pháp nhà Thanh.

Nguồn : FB Văn Hóa Lịch Sử

Chữ Nho, nên để hay là nên bỏ?

Chữ Nho, nên để hay là nên bỏ?

Bài viết đăng trên Đông Dương Tạp chí, cách đây đã 103 năm, thế mà đến nay vẫn còn nguyên giá trị. Cuộc tranh luận về chữ Nho không hề là chủ đề cũ, và tác giả Nguyễn Văn Vĩnh đã có những nhìn nhận rất hợp lý từ tận năm 1913.

(Faut-il ou non garder les caractères chinois?)

Đông Dương Tạp chi số 31, ngày 22.12.1913

Có một điều ấy, bao nhiêu người nghị-luận, mà nghị-luận mãi không ra mối, cũng chỉ vì thường cứ bàn bạc nên bỏ, hay không nên bỏ, nhưng mà để là để thế nào, để ở đâu: nên bỏ thế nào, nên bỏ ở đâu, không hay bàn cho dứt-khoát, cho nên cứ bối-dối mãi. Người nói rằng bỏ đi là phải, vì học chữ nho mất hàng nửa đời người, mà trăm người học, không được một người hay; học được hay cũng chỉ ích lấy một mình, không đem ra mà dùng cho đời được nhờ cái học-vấn của mình chẳng qua là một cái thú rung-đùi mà thôi. Người nói rằng để lại là phải, vì não-chất cuả người an-nam đã mấy mươi đời nay nghiền bằng đạo Khổng Mạnh; phong-tục, tính tình, luân-thường, đạo-lý, đều là ở đạo Nho mà ra cả. Vả lại tiếng An–nam ta nói, ước có nửa phần do chữ-nho mà ra. Lại nói rằng lối học nho là một lối, tuy không tiện, nhưng mà muốn bỏ đi, thì phải có lối nào mới, tiện hơn mà đem thế vào. Nay lối mới chưa nghĩ được tuyệt–diệu, mà đã bỏ đì thi ra bỏ cái nền cũ, mà chưa có cái gì mới thay vào sốt cả.

Hai bên nói như thế, nghe ra cũng phải cả, thế mà cứ nói mãi, thì ra kéo dài trong trăm năm một câu truyện dằng-co.

Trước hết tưởng hay nên phân ra hiện việc học của người An-nam, ngày nay có mấy lối, mấy đằng; đằng nào nên để cho học chữ nho, mà đằng nào nên bỏ chữ-nho đi.

Sau lại nên xét xem chữ-nho bây giờ đối với dân ta, đối với việc học của người An-nam, thì là thế nào, là cái gì?

Giả nhời rằng: chữ-Nho là một lối văn-tự cũ cuả nước Tầu, là một nước cho ta mượn văn-minh, phong-tục, tính-tình; chữ ấy sang đến nước ta, đổi cả cách đọc, đổi cả lối dùng, mà lại thấm nhiễm vào tiếng-nói của nước ta; lại thành ra một thứ văn riêng cuả đám thượng-lưu ta dùng, tuy là mượn cuả Tầu, mà có điệu riêng, hay dở không giống như hay dở cuả văn Tầu.

Thế thì cái địa-vị chữ-nho ở nước ta cũng khác nào như địa-vị chữ la-tinh ở bên nước Đại-pháp.

Dẫu ra như thế rồi, thì muốn giải cái vấn-đề: nên để hay nên bỏ chữ nho? cứ việc xem bên nước Đại-pháp đãi chữ la-tinh thế nào, thì ta nghĩ ra được ngay cách nên đãi chữ nho như thế.

Bên Đại-pháp, chữ la-tinh là gốc phần nhiều tiếng-nói nước nhà, văn-chương dựa lối la-tinh, cho nên ai học khoa ngôn-ngữ, các bậc vào cao-đẳng học, phải học tiếng la-tinh, phải nghiền văn-chương cổ la-tinh; ngôn-ngữ văn-từ bên Tây mà pha tiếng la-tinh vào cũng như bên ta người nói nôm thỉnh thoảng pha mấy câu chữ-sách. Còn người làm ăn, đi học qua bậc sơ-đẳng gọi là biết đủ nhân-cách, biết đọc, biết viết, thì tuy rằng tiếng nói cuả mình do tiếng la-tinh mà ra, nhưng không cần phải biết chi đến gốc rễ xa xôi ấy. Không ai dám bảo rằng: không học tiếng la-tinh thì không học được tiếng Đại-pháp bao giờ.

Thế thì chữ nho đối với tiếng An-nam mình cũng vậy.

Ai chuyên học văn-chương, tuy rằng phải gây cho An-nam mình có văn-chương riêng, nhưng mà cũng phải học lấy cái văn-cũ, phải biết lịch-sử văn-chương cuả nước mình, phải biết gốc tích tiếng nói mình, thì mới hay được, thì mới gây được cho văn mình mỗi ngày một hay lên. Trong tiếng ta nhan-nhản những chữ-nho, dùng đến những chữ ấy, mà chẳng sao đừng dùng được, tất phải học tận căn-nguyên nó, mới biết hết nghĩa nó được, về sau có làm tự-vị, tự-điển tiếng an-nam, thì mới có cách biện-nguyên mà cắt nghĩa từng tiếng cho đúng được.

Còn những người thường, con nhà làm-ăn đến tuổi cho vào tràng sơ-đẳng học (mới định nhưng thực còn chưa có) cốt để học lấy biết đọc, biết viết, biết lễ phép, phong-tục, địa–dư, cách–trí mỗi thứ mỗi người gọi là phải biết qua-la một đôi chút, cho người nó khỏi như lũ xá-dại, ngây ngô chẳng biết chi chi. Hạng ấy thì cho học chữ-nho mà làm gì? Nhân-thân hạn sơ-đẳng học có ba năm giời, mà lại còn chiều tục cũ, bắt học thêm chút chữ nho, thì thực là làm uổng thì-giờ cho trẻ con, không được việc gì. Chữ nho không phải là một lối chữ học gọi-là được. Đã biết phải biết hẳn, không biết thì thôi, biết răm ba chữ, học một vài năm, thì có biết được mấy chữ cũng không được việc gì.

Chớ có nói rằng, trong tiếng nói an-nam có nhiều chữ nho, thì phải bắt trẻ con học lấy vài ba chữ nho. Phàm chữ nho nào đã lẫn vào với tiếng-nói thông dụng, thì là những chữ thành ra tiếng an-nam rồi, dẫu không học sách nho cũng biết nghĩa nó là gì.

Có kẻ bảo rằng nếu không cho trẻ con học chữ-nho nữa, thì nay phải cho học ít nhiều tiếng Đại-pháp. Ấy cũng là một cách làm cho trẻ con mất thì giờ vô ích.

Việc học ta ngày nay nhà- nước đã phân hẳn ra làm hai lối. Một lối Pháp – việt-học để cho trẻ con học chữ Pháp, có từ sơ-đẳng cho tới trung-đẳng học. Nhà ai có con muốn học tiếng Đại-pháp, học-thuật Đại-pháp, văn-chương Đại-pháp, thì đã có tràng Pháp-việt. Tùy gia-tư mà theo học, muốn cho biết gọi-là để đi làm việc, hoặc là để buôn bán giao-thiệp với người Đại-pháp, thì cho vào các tràng Pháp-việt sơ-đẳng học, xong sơ-đẳng rồi, lại còn một khoa học lấy tốt-nghiệp nữa. Ai có của, muốn cho con học theo lối Đại-pháp, cũng được thi tú-tài, thì đã có tràng trung-đẳng mới mở ra ở Hà-nội, học phải mất tiền, muốn vào hạng học-sinh, một ngày hai buổi đến học cũng được; muốn vào hạng lưu-học-sinh, ăn ngủ ở tràng mà học cũng được.

Lối thứ hai là lối học riêng cuả dân an-nam, đặt ra cho phần nhiều, cho trẻ con các nhà-quê, thực là một lối mới, xưa nay không có, vì lối học nho ngày xưa, không phải là một lối học phổ-thông, thực là một lối học đi làm quan Tàu, với cũng như lối Pháp-việt học bây giờ là lối học đi làm việc với nhà-nước Đại-pháp. Nhưng ai cũng muốn làm quan cả, cho nên ngày xưa đua nhau học nho thế nào, từ nay giở đi đua nhau học vào lối Pháp-việt cũng thế!

Còn lối học riêng mới, cũng đặt ra tiểu-học, trung-học, lấy quốc-ngữ làm gốc, mà học cách-trí, vệ-sinh, địa-dư, phong-tục, mỗi thứ một đôi chút, để gây cho lấy nhân-cách cuả phần nhiều người trong dân an-nam, thì xét ra thực là một lối nhà-nườc bảo-hộ mới gia ân đặt ra, không tỉ được với lối học nho cũ, mà cũng không tỉ được với lối học Pháp-việt.

Trong lối học ấy phải có hai bậc, một bậc sơ-đẳng để cho trẻ con mới lớn lên, học lấy biết gọi-là mỗi thứ một chút. Trong bậc ấy, học có ba năm, tưởng không nên dạy chữ nho, mà cũng không nên dạy chữ Pháp một tí nào. Còn bậc trung-đẳng, để đi thi cử, để nên cho những bậc có tài riêng tiếng an–nam ngày sau, chẳng phải hay chữ nho, mà cũng chẳng phải thông chữ Pháp, thực là những người thông chữ Ta, thì phải có học chữ Nho và chữ Pháp, chữ nho để mà am hiểu lịch sử nước mình, văn-chương nước mình, do ở đó mà ra; chữ Pháp là chữ cuả nước Bảo-hộ ta ngày nay, là chữ cuả ông thầy mới, mình trông mong mà học lấy thuật hay.

Nhà nước Đại-pháp đặt thêm ra lối học ta ấy, thực đã tỏ ra lòng ngay thực với ta, muốn cho ta giữ được mãi quốc-thúy, vì nếu nhà-nước cứ bắt ta học chữ Đại-pháp mới được làm quan làm việc, thì chắc ta cũng phải vì lợi mà theo học cả, như là ông cha ta ngày xưa vì lợi, mà theo học nho.

Nhà–nước định ai có bằng tuyển-sinh mới được vào tràng Pháp-việt ấy là giữ cho dân thế nào cũng phải theo lối học ta làm gốc trước đã, thực là đặt ra lối quốc-học, mà lại khiến cho người trong nước phải học theo quốc-học.

Trung-đẳng học ta thì nên bắt học cả chữ nho và chữ Pháp, nhưng Pháp–việt-học, thì lại nên bỏ đứt chữ nho đi. Lối học ta mới, còn gần lối học nho ngày trước, cho nên học chữ nho được kỹ. Mà chữ-nho đã học không học dối được, ở các tràng Pháp-việt mà đem dạy chữ nho thì dạy buổi nào, học-trò thiệt mất buổi ấy. Phàm trẻ-con an-nam đã vào học Pháp-việt, toàn là đi học cướp-gạo cả, chỉ muốn chóng thông tiếng Đại-pháp mà đi làm việc hoặc để buôn bán với người Đại-pháp. Họa là mới có một hai người, học tiếng Đại-pháp để mà, tốt-nghiệp chi hậu, lại còn chăm vào việc học cho quán thông lịch-sử, luân-lý cũ nước Nam. Bởi thế ở các tràng Pháp-việt, cứ hôm nào đến phiên mấy thầy giáo chữ nho dạy, thì học-trò như là một buổi phải nghỉ, ngồi mà ngủ gật, trong khi thầy giáo viết lên bảng những bài học nhỡ-nhàng, dễ quá cho kẻ biết rồi, khó quá cho kẻ chưa biết.

Tổng kết lại, thì chữ nho chỉ còn nên giữ lại để mà dạy ở khoa trung-đẳng nam-học mà thôi, đợi mai sau khi nào có cả khoa cao-đẳng nam-học, hoặc khoa ngôn-ngữ văn-chương ở cao-đẳng, bấy giờ mới lại có nơi khác phải dùng đến chữ nho.

Bây giờ trẻ con xin nhất quyết đừng cho học chữ nho nữa, mà các tràng Pháp–việt cũng xin bỏ lối dạy chữ nho đi.

NGUYỄN VĂN VĨNH

Tân Nam Tử