– 10/10/1954: Giải phóng thủ đô

– 10/10/1954: Giải phóng thủ đô

 

giai-phong

Theo Hiệp định Gieneve, Hà Nội nằm trong khu vực tập kết 80 ngày của quân đội Pháp. Người Pháp đã lợi dụng thời gian này để mang đi các máy móc, kho tàng, cắt điện nước, in truyền đơn, công phiếu giả và cuối cùng là tham gia chiến tranh tâm lý để lôi kéo dân di cư vào Nam. Sau quá trình đấu tranh trên mặt trận ngoại giao ở Hội nghị Phù Lỗ đòi Pháp rút khỏi Hà Nội đúng thời hạn, đảm bảo an toàn về tài sản, tiếp quản trong trật tự, ngày 30-9-1954, hai bên đã ký Hiệp định chuyển giao Hà Nội về quân sự; ngày 2-10, ký tiếp Hiệp định chuyển giao Hà Nội về hành chính. Xác định nguyên tắc chuyển giao phải đảm bảo trật tự, an toàn, không được phá hoại và không làm gián đoạn các hoạt động của đời sống thành phố.

Theo các văn bản đã được ký kết, từ ngày 2 đến 5-10-1954, các đội hành chính, trật tự của Việt Minh vào thành phố trước, chuẩn bị cho việc tiếp quản các cơ quan, công sở, các công trình công cộng. 422 cán bộ, nhân viên đội hành chính và 158 công an có vũ trang của đội trật tự đã tiến hành kiểm kê và giải quyết các công việc chuẩn bị, lập xong các biên bản để bàn giao ngày 7-10-1954.

Ngày 6-10-1954, quân Pháp rút khỏi quận lỵ Văn Điển. Đây là quận lỵ đầu tiên ở ngoại thành được giải phóng. Ngày hôm sau, nhiều đơn vị quân đội nhân dân Việt Nam theo nhiều đường tiến về Hà Nội. Chiều ngày 8 tháng 10, một số đơn vị tiến sát vành đai Đê La Thành, Nhật Tân, Cầu Giấy, Ngã Tư Sở, Bạch Mai và Vĩnh Tuy. Trong khi đó, địch rút khỏi Yên Viên. Sáng 9-10-1954, bộ đội đã tiếp quản 4 quận Quảng Bá, Cầu Giấy, Ngã Tư Sở và Quỳnh Lôi, tiếp theo là Đại lý Hoàn Long. Quân đội nhân dân Việt Nam theo nhiều đường, từ ngoại thành tiến vào tiếp thu Hà Nội, chia làm nhiều cánh quân tiến vào năm cửa ô chính rồi tỏa ra các khu. Lần lượt, bộ đội ta tiếp thu nhà ga Hà Nội, phủ Toàn quyền cũ, khu Đồn Thủy, khu Bờ Hồ, Bắc Bộ phủ.

Đến 16 giờ ngày 9-10-1954, những lính Pháp cuối cùng đã rút qua cầu Long Biên; quân dân ta hoàn toàn kiểm soát thành phố. Sáng ngày 10-10-1954, Ủy ban Quân chính thành phố và các đơn vị quân đội nhân dân gồm có bộ binh, pháo binh, cao xạ, cơ giới… chia làm nhiều cánh lớn đã mở cuộc hành quân lịch sử tiến vào Hà Nội. 20 vạn dân Thủ đô với cờ, hoa trong tay hân hoan xuống đường chào đón đoàn quân chiến thắng.

Trong thư gửi đồng bào Hà Nội sau ngày giải phóng Thủ đô, chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Tám năm qua, Chính phủ đã phải xa rời Thủ đô để kháng chiến cứu nước. Tuy xa nhưng lòng Chính phủ luôn gần cạnh đồng bào. Ngày nay do nhân dân ta đoàn kết nhất trí, quân đội ta chiến đấu anh dũng, hòa bình đã thắng lợi, Chính phủ ta lại trở về Thủ đô với đồng bào. Muôn dặm một nhà, lòng vui mừng khôn xiết”.

– 9/10/1806: Phổ tuyên chiến với Pháp trong Chiến tranh Liên minh thứ tư.

– 9/10/1806: Phổ tuyên chiến với Pháp trong Chiến tranh Liên minh thứ tư.

Các hoạt động của cái gọi là Liên minh sông Rhine, do Napoleon làm bảo hộ công, khiên Phổ thấy bất an vì bị gạt ra khỏi các vấn đề ở Tây và Nam Đức. Friedrich Wilhelm III tham chiến khi đồng minh Nga vẫn còn ở rất xa và chưa hồi phục lại sau thảm bại ở Austerlitz. Vua và hoàng hậu Phổ tự mình đi thăm các quân đoàn, kích động tinh thần binh lính. Sĩ khí người Phổ tăng lên rất cao: “Cho tới nay, Napoleon đã chiến thắng được những ai? Quân Áo ư? Chẳng qua đó là một bầy hèn nhát đủ các chủng tộc. Hay quân Ý hèn yếu? Hay đám Mamluk mọi rợ? Hay quân Nga cũng mọi rợ chẳng kém gì Mamluke..…Dễ thường cái vinh quang của Napoleon sẽ không bị tan thành mây khói khi chạm trán với quân đội của Frederick II sao?”.
 
Trong khi đó người Anh lại có cái nhìn thực tế hơn, thủ tướng William Pitt trên giường bệnh đã gọi người hầu đến gỡ bản đồ châu Âu treo trên tường xuống và dặn rằng: “Cuốn nó lại, 10 năm nữa sẽ không cần đến nó”.
 
1024px-myrbach-prussian_garde_du_corps
(Ảnh: Trong một động thái khiêu khích chưa từng có tiền lệ, các sĩ quan Phổ kéo đến và đem gươm ra……mài trước bậc thềm đại sứ quán Pháp ở Berlin, cuối tháng 8/1806.)
Trận Alesia

Trận Alesia

Trận chiến nổi tiếng nhất trong cuộc đời binh nghiệp của Caesar. 12 quân đoàn La Mã (khoảng 60.000 quân chưa kể quân trợ chiến) trong một trận chiến sinh tử với 200.000 đối phương để quyết định số phận xứ Gaul. Đây là một trận đánh thời cổ đại hiếm hoi mà chúng ta biết nhiều chi tiết về mặt quân sự, nhờ có cuốn sách “Cuộc chiến xứ Gaul” do chính tay Caesar viết ra và còn truyền lại đến ngày nay.

alesia_map

80.000 người Gaul cố thủ trong ngôi làng Alesia. Nơi này nằm trên một ngọn đồi cao ở giữa 2 con sông, địa thế hiểm yếu dễ phòng thủ. Thay vì công phá ngôi làng này, Caesar cho xây dựng một hệ thống đồn trại xung quanh để bao vây, chờ tới khi Vercingetorix hết lương thực phải đầu hàng.

Vercingetorix gửi tin cho các bộ lạc Gaul xung quanh nhờ cứu viện. Khi Caesar nghe tin, ông cho gia cố hệ thống phòng ngự, các đồn trại không chỉ có tường hướng vào bên trong, mà còn có tường và hào hướng ra bên ngoài, dưới chân tường cắm thêm cọc nhọn.

alesia-3

100.000 quân Gaul tới cứu viện. Họ quyết định rằng hướng Tây là nơi yếu nhất trên phòng tuyến của La Mã, và dồn sức tấn công, đồng thời Vercingetorix cũng đánh từ bên trong ra. Caesar liên tục gửi quân tiếp viện tới khu vực bị tấn công, và tự mình dẫn đầu đoàn kị binh. Vừa lúc quân La Mã sắp thất thủ thì kị binh của Caesar xuất hiện phía sau lưng người Gaul. Bị kẹp từ 2 phía, người Gaul tan hàng bỏ chạy, bị giết và bị bắt nhiều vô kể.

roman_vs_gaul_alesia

Trận này đánh dấu chấm hết cho các nỗ lực kháng cự của xứ Gaul, và là đỉnh cao vinh quang cá nhân Caesar. Theo những bản ghi chép lại của các học giả Brendan Woods thì kết quả của cuộc chiến 8 năm đó là: tổng cộng 800 thành thị bị chinh phục; 300 bộ lạc bị xóa sổ; 1 triệu người bị bán làm nô lệ và hơn 1 triệu người chết trên các chiến trường. Caesar đạt được chiến thắng này với cái giá 30.000 lính chết trận và 10.000 thương binh. Xứ Gaul trở thành một tỉnh của La Mã và là địa phương rất trung thành trong suốt 500 năm sau, cho tới khi đế quốc sụp đổ.

siege-alesia-vercingetorix-jules-cesar

Tranh: Vercingetorix đầu hàng Caesar

Nguyên Lão Viện tuyên bố 20 ngày ăn mừng, nhưng Caesar từ chối quay về Roma để tổ chức lễ khải hoàn (ông biết rõ các đối thủ chính trị như Pompey đã bày sẵn bẫy). Nhận thấy đối thủ không cắn câu, phe Pompey bèn đạo diễn màn “không tổ chức bầu cử được vì tình hình bất ổn” để Nguyên Lão Viện chỉ định ông này là chấp chính quan duy nhất (thường Cộng hòa La Mã có 2 chấp chính quan, Caesar đã đăng ký ứng cử năm sau và chắc chắn sẽ được bầu do uy tín trong dân chúng đang ở đỉnh cao). Với tư cách đó, ông ta ra lệnh Caesar giải tán quân đội và quay về Roma với tư cách công dân bình thường. Đáp trả, Caesar dẫn quân về đánh chiếm thủ đô, khơi mào cho nội chiến.

caesar_in_gaul_final_alter_1385565070

Trận Đông Khê (16/9-20/9/1950)

Trận Đông Khê (16/9-20/9/1950)

Năm 1950, cuộc chiến tranh Đông Dương đã kéo dài 4 năm. Quân đội viễn chinh Pháp không thể tiêu diệt được lực lượng Việt Minh ở vùng rừng núi Việt Bắc. Trong khi Việt Minh đang xây dựng các Đại đoàn để thực hiện những cú đấm lớn, thì Pháp cũng xây dựng các binh đoàn cơ động để thực hiện các chiến dịch bình định.

Để lấy lại thế chủ động, Pháp xây dựng một hệ thống phòng ngự kéo dài suốt dọc đường số 4 để kiểm soát biên giới Việt – Trung. Các vị trí phòng ngự Cao Bằng, Đông Khê, Thất Khê, Na Sầm, Đồng Đăng có công sự kiên cố để trú đóng lâu dài, đồng thời có các lực lượng cơ động sẵn sàng ứng cứu khi cần thiết.

Phía Việt Minh quyết tâm đánh bại chiến lược này. Trên toàn tuyến phòng ngự, Đông Khê và Thất Khê là nơi có ít quân đồng trú nhất. Cao Bằng là nơi có lực lượng mạnh nhưng sẽ bị cô lập nếu Đông Khê và Thất Khê bị mất. Lạng Sơn là nơi có lực lượng cơ động trú đóng, quân tiếp viện chắc chắn sẽ từ hướng đó đi lên. Việt Minh thực hiện “công đồn đả viện”, tiêu diệt Đông Khê rồi phục kích các cánh quân Pháp lên chi viện.

Tướng Hoàng Văn Thái sử dụng 2 trung đoàn có cối và DKZ hỗ trợ để tấn công Đông Khê, với một trung đoàn nữa làm dự bị. Quân Pháp có hệ thống công sự mạnh chống trả ác liệt, trận chiến diễn ra suốt 4 ngày. Đại đội trưởng Trần Cừ lấy thân mình lấp lỗ châu mai, tiểu đội trưởng La Văn Cầu nhờ đồng đội chặt cánh tay bị thương để tiếp tục lao lên đánh bộc phá. Đến ngày thứ 4 cứ điểm hoàn toàn thất thủ. Trong tổng số 350 quân Pháp chỉ có 20 người chạy thoát.

Đây là lân đầu tiên Quân đội Nhân dân Việt Nam áp dụng thành công chiến thuật công kiên có hiệu quả ở cấp trung đoàn. Thắng lợi của trận Đông Khê đã tạo điều kiện quan trọng cho chiến dịch, đồng thời mở ra một giai đoạn chiến đấu mới: chuyển từ cách đánh du kích sang đánh chính quy.

Tạm ước Việt – Pháp (14/9/1946)

Tạm ước Việt – Pháp (14/9/1946)

Tháng 9/1946, chính phủ VNDCCH non trẻ tồn tại chưa đầy 1 năm nhưng mối họa thực dân đã trở lại. Pháp đã mang quân vào chiếm Nam Kỳ và lập ra chính phủ bù nhìn ở đó. Sau Hiệp ước Hoa-Pháp (tháng 2/1946), quân Pháp ra Bắc Kỳ thay thế quân Tưởng giải giáp phát xít Nhật. Chính phủ VNDCCH biết rõ nếu lâm vào chiến tranh với Pháp đó sẽ là một cuộc chiến bất cân xứng và kéo dài, cho nên trước tiên tìm cách đàm phán qua con đường ngoại giao. Nội dung đàm phán là thành lập một nhà nước Việt Nam độc lập thực sự bên trong khối Liên Hiệp Pháp. Thực ra Việt Minh không quá hi vọng vào một giải pháp ngoại giao, nhưng quá trình đàm phán là cần thiết để tìm sự công nhận của công luận quốc tế, và để có thêm thời gian chuẩn bị cho chiến tranh.

14232593_159618997817642_8635807176881292735_n

Ảnh: Phái đoàn sang Pháp dự hội nghị

Chủ tịch Hồ Chí Minh và bộ trưởng tài chính Phạm Văn Đồng dẫn đầu phái đoàn sang Paris đàm phán về quy chế độc lập cho Việt Nam trong khuôn khổ Liên Hiệp Pháp. 2 bên đồng ý Việt Nam có thể có chính phủ, nghị viện, quân đội và tài chính riêng. Tuy nhiên về mặt chính danh và ngoại giao thì Pháp không muốn Việt Nam được tự chủ, mà phải nằm trong Liên bang Đông Dương.

Người Pháp cũng tìm cách chia cắt Việt Nam bằng cách quy định rằng Nam Kỳ quốc (thể chế mà Pháp vừa mới dựng lên ở miền Nam) và Việt Nam là 2 thực thể khác nhau cùng nằm trong Liên bang Đông Dương. Phái đoàn Việt Nam phản đối kịch liệt dự định này. Để xoa dịu đoàn Việt Nam, phía Pháp hứa sẽ thực hiện trưng cầu dân ý ở Nam Kỳ về việc thống nhất đất nước. Tuy nhiên khi phía Việt Nam đòi thời hạn cụ thể thì phía Pháp im lặng. Bộ trưởng Phạm Văn Đồng bỏ về nước. Đến ngày 13/9/1946, Hội nghị gần như đã thất bại.

ob-yi445_radosh_p_20130726135649

Ngày 14/9/1946 chủ tịch Hồ Chí Minh đến gặp riêng Ngoại trưởng Pháp và kí kết một bản tạm ước. Bản tạm ước này không nhắc gì đến những bất đồng quan trọng nhất, mà chỉ là thỏa thuận về ngừng bắn, hợp tác về tiền tệ, thuế quan.

Việc kí kết bản Tạm ước này là một cố gắng cá nhân của Hồ chủ tịch để kéo dài thời gian cho Việt Minh chuẩn bị kháng chiến. Chỉ 2 tháng sau khi bản Tạm ước được kí, chiến tranh Đông Dương mở màn.

– 7/9/1812: Trận Borodino

– 7/9/1812: Trận Borodino

 

Napoleon đã huy động 1 đạo quân viễn chinh chưa từng có trong lịch sử với 68,5 vạn người để đánh nước Nga. Nhưng lãnh thổ quá rộng lớn của Nga khiến cho con số này bị hao hụt dần do phải rải quân để bảo vệ tuyến đường tiếp tế. Khi đến gần làng Borodino thì trong tay Napoielon chỉ còn 13,5 vạn lính. Ở phía đối diện là 10 vạn quân Nga, 7000 lính Cossack và khoảng 1 vạn dân quân tổng động viên. Người Nga đã đào đắp công sự trước đó vài ngày trong một động thái quyết chiến, vì sau lưng họ là thành Moscow.

Trận Borodino đã diễn ra từ sáng đến tối với thương vong lớn của cả hai bên (trong 1 ngày có 7 vạn người chết và bị thương). Quân Nga kháng cự anh dũng chưa từng thấy, các sử gia Pháp thừa nhận rằng lính Nga sẵn sàng hy sinh đến người cuối cùng để tìm cách xoay chuyển tình thế (sư đoàn 24 của tướng Likhatrov tử trận toàn bộ, kể cả chỉ huy). Khi rút lui, quân Nga bị 400 khẩu pháo Pháp bắn đuổi theo nhưng các quan sát viên cho biết không một ai chạy trốn. Napoleon thắng trận này một cách vô cùng vất vả với thương vong 3,5 vạn người và 47 viên tướng. Về phía Nga, tuy thiệt hại nặng hơn (4,5 vạn) nhưng chủ lực vẫn được bảo toàn và nhất là sĩ khí họ không hề suy sụp như những đối thủ trước kia của Napoleon. Khi rút lui, Kutuzov đã để lại câu nói nổi tiếng “Mất Moscow nhưng không mất nước Nga”!

Đại quân Pháp tiến vào Moscow, nhưng đón tiếp họ chỉ là những người dân tự tay châm lửa đốt nhà mình, phần lớn cựu kinh đô nước Nga cháy rụi khiến Napoleon không còn chỗ trú ẩn và buộc phải ra lệnh rút về. Mùa đông ập đến sớm với giá rét bất thường khiến quân Pháp phải khốn đốn, trong khi đối thủ của họ đã quen với việc sống và tác chiến trong băng tuyết. 20 vạn người được xác định là chết không phải trong chiến đấu. Nước Nga với 41 triệu dân dư sức bổ sung lực lượng (lên đến 90 vạn lính và dân quân) đánh đuổi Napoleon chạy dài và từ đây sự nghiệp của hoàng đế Pháp bắt đầu xuống dốc.

Vào lúc cuối đời, Napoleon đã thừa nhận Borodino là trận kinh khủng nhất ông từng chứng kiến.