– 24/3/1999: NATO tấn công liên bang Nam Tư

– 24/3/1999: NATO tấn công liên bang Nam Tư

Tại khu tự trị Kosovo nơi có 90% là người Albani theo đạo Hồi, 10% người Serbi theo đạo Cơ đốc chính thống, mâu thuẫn dân tộc và tôn giáo lên cao kể từ khi một chính phủ bí mật của người Albani thành lập tồn tại song song cùng chính phủ liên bang; và đặc biệt từ khi “ngọn cờ đòi độc lập” của người Albani rơi vào tay của phái Quân đội giải phóng Kosovo chủ trương bạo lực và chính phủ trung ương Nam Tư tăng cường hành động để đối phó với phong trào này.

Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) tuyên bố rằng người Albania ở Kosovo đang bị các lực lượng FRY (quân đội Nam Tư), cảnh sát Serbia, và cánh bán quân sự nước này bức hại, bởi thế hành động can thiệp là cần thiết để chấm dứt tình hình. Hiến chương Liên Hiệp Quốc quy định hành động chiến tranh chỉ được coi là hợp pháp khi đó là cuộc chiến chống xâm lược hoặc là sự can thiệp quân sự với sự đồng ý của Hội đồng Bảo an. Dự thảo nghị quyết can thiệp quân sự bị Nga bác bỏ, nhưng NATO vẫn quyết tâm dùng sức mạnh không quân và hải quân để ép Nam Tư chấp nhận Kosovo độc lập và lục quân NATO triển khai để “gìn giữ hòa bình”.

Chiến dịch vận động dư luận trên các phương tiện truyền thông được tiến hành với mật độ và tần suất cao chưa từng thấy kể từ thời chiến tranh Việt Nam. Hãng CNN trực tiếp tố cáo người Serbia đang tiền hành “thanh lọc sắc tộc” ở Kosovo giống như cuộc diệt chủng người Do Thái trong Thế chiến thứ hai. Tổng thống Mỹ Bill Clinton cùng bộ trưởng Quốc phòng William Cohen đưa ra con số 100.000 người mất tích hay bị giết (thực tế 5 tháng sau người ta chỉ đào được hơn 2100 xác chết ở 1/3 số mộ, mà lại lẫn lộn trang phục binh lính và thường dân). Báo New York Times đưa tin, “Chính quyền cho hay bằng chứng về hành vi diệt chủng của các lực lượng vũ trang Serbia xuất hiện ngày càng nhiều”. Kết quả là lưỡng viện quốc hội Mỹ phê chuẩn việc đưa 4000 quân cùng các đồng minh NATO đến Nam Tư để “thực thi sứ mệnh gìn giữ hòa bình”. Một khoản chi khẩn cấp 13 tỷ đôla cho chiến dịch quân sự này đã được duyệt.

Đêm 24/3, thủ đô Belgrade rung chuyển bởi những loạt bom và tên lửa đầu tiên. Hệ thống không quân và phòng không Nam Tư không hề yếu nhưng đã gặp phải đối thủ quá mạnh cả về số lượng lẫn công nghệ. Tổng cộng có Nam Tư 136 máy bay chiến đấu (MIg-29 chỉ có 13 chiếc), 132 bệ phóng tên lửa phòng không tầm trung, 30 máy bay hỗ trợ và 53 trực thăng. Trong khi đó, liên quân NATO do Mỹ cầm đầu gồm hơn 600 máy bay chiến đấu (tổng cộng có hơn 1.000 máy bay), trong đó có các các máy bay ném bom chiến lược tàng hình tối tân В-2А và các máy bay tiêm kích tàng hình F-117A, hơn 60 tàu các loại, trong đó có 4 tàu sân bay. Đặc điểm nổi bật của lực lượng này là trong biên chế của nó có một số lượng lớn máy bay không người lái các loại (20 chiếc của Mỹ, gần 10 chiếc Pháp và hơn 10 chiếc của Đức).

Trong chiến dịch không kích gần 3 tháng chống Nam Tư, không quân NATO đã thực hiện tổng cộng hơn 20.000 phi vụ xuất kích và phóng đi 870 tên lửa hành trình (792 tên lửa hành trình phóng từ biển và 78 tên lửa hành trình phóng từ trên không), trong đó phóng 374 tên lửa hành trình phóng từ biển vào các căn cứ của Nam Tư trên lãnh thổ Kosovo.

Thiệt hại của Nam Tư là rất nặng nề. Gần như 100% mục tiêu công nghiệp dầu mỏ, 70% mục tiêu của công nghiệp hàng không, 40-50% các nhà máy xe tăng, đạn dược, gần 70% đường ô tô và đường sắt, 20-80% hạ tầng quân sự bị loại khỏi vòng chiến. Nhiều cây cầu, nhà máy tư nhân và tòa nhà công cộng cũng bị phá hủy. Việc tấn công các cơ sở hạ tầng dân sự là nỗ lực nhằm gây bất ổn cho chính quyền Nam Tư. Tổ chức Human Rights ước tính có 500 dân thường thiệt mạng, trong khi chính quyền đưa ra con số 1200-5700 người. Đại sứ quán Trung Quốc bị trúng tên lửa Mỹ khiến 3 phóng viên thiệt mạng, gây căng thẳng giữa Mỹ và Trung Quốc. Hàng trăm ngàn người Albania ở Kosovo đã phải di tản sang các nước láng giềng là Albania, Macedonia, và Montenegro. Thiệt hại kinh tế ước tính khoảng 30 tỷ đô la.

Theo một số nguồn tin, trong chiến dịch này liên quân NATO đã mất 31 máy bay chiến đấu, 6 trực thăng, 11 máy bay không người lái và gần 40 tên lửa hành trình. Ngoài ra, do bị bắn bị thương, 3 máy bay NATO đã phải hạ cánh bắt buộc xuống các sân bay Sarajevo (Bosnia-Herzegovina) và Skopje (Macedonia). Tổn thất của Nam Tư là 20 máy bay (8 MiG-29 và 12 MiG-21), trong đó 12 máy bay (4 MiG-29 và 8 MiG-21) bị tiêu diệt trên mặt đất; 13 đài radar bị loại khỏi vòng chiến.

Kết quả: chính phủ Nam Tư đồng ý rút quân khỏi Kosovo để lực lượng gìn giữ hòa bình quốc tế triển khai tại đây. Điều Mỹ và NATO không ngờ tới là quân đội Nga đã bất ngờ hành quân và chiếm sân bay chiến lược Slatina, do thỏa thuận của chính phủ Nam Tư với Liên Hiệp Quốc không nói rõ lực lượng gìn giữ hòa bình quốc tế gồm những quốc gia nào. Tổng thống Nam Tư Milosevic bị lật đổ trong cuộc “cách mạng Bulldozer” một năm sau. Ông bị đưa ra một tòa án quốc tế để xét xử nhưng tòa chưa kịp tuyên án thì đã qua đời trong tù. Năm 2015, tòa án Công lý Quốc tế của LHQ (ICJ) tuyên bố không thấy có tội ác diệt chủng của Croatia và Serbia, nhưng lại không đưa ra phán quyết về sự vô tội của Milosevic.

Liên bang Nam Tư tan rã thành các quốc gia mới như Kosovo, Montenegró, Serbia. Trong đó, Kosovo trở thành nước nghèo nhất châu Âu (hãy hình dung một quốc gia không đủ khả năng tài chính để tự in tiền, phải xin dùng euro làm đồng tiền chính dù không phải thành viên EU), tỉ lệ thất nghiệp lên tới 45%, lạm phát 8.3%, kiều hối từ nước ngoài gửi về chiếm 18% GDP. Thậm chí lễ kỷ niệm độc lập năm 2015 ở thủ đô Pristina của Kosovo đã không thể tiến hành, vì thị trưởng cho biết ngân sách thành phố không còn xu nào nữa.

– Muitenbac777 –

 

– 23/3/1801: Vụ ám sát Sa hoàng

– 23/3/1801: Vụ ám sát Sa hoàng

Sa Hoàng Paul I vốn dĩ không được sắp xếp để kế vị, do ông xung khắc với mẹ mình, nữ hoàng Catherine II trên nhiều lĩnh vực. Thậm chí đã có lần Paul I công khai buộc tội bà có ý định ám sát mình. Ông viết hẳn một luận văn phản đối chính sách bành trướng của mẹ, bày tỏ rằng nước Nga nên củng cố các vùng đất mới chiếm đóng và duy trì vị thế phòng thủ. Vì thế nên Alexander, con trai Paul I được bà ngoại đích thân nuôi nấng cẩn thận để truyền ngôi. Nhưng ngày 17 tháng 11 năm 1796, nữ hoàng Catherine II đột quỵ và qua đời mà không kịp để lại di chúc gì, vì thế Paul I đăng quang Sa hoàng Nga không gặp sự phản đối nào (thực tế lúc nghe tin mẹ hấp hối, ông ta đã chạy vội vào phòng, lục mọi giấy tờ nghi ngờ đem ra đốt, do lo ngại có văn bản nào đó tước quyền kế vị của mình).

Về đối ngoại, Paul I rút hết lính Nga ở nước ngoài về, kể cả đạo quân tham gia liên minh chống Cách mạng Pháp, và cánh quân đang chuẩn bị đánh Ba Tư (Iran) qua ngả Caucasus. Trong suốt triều đại 5 năm ngắn ngủi của ông, nước Nga không chiếm thêm vùng đất nào mà hầu như chỉ đóng vai trò trung gian, nhằm tái lập hòa bình và cân bằng quyền lực ở châu Âu. Ông lập liên minh với Napoleon (7000 tù binh Nga được chính phủ Pháp cấp đồng phục mới và trả lại vũ khí trước khi đưa về nước), lệnh cho quân Cossack di chuyển xuống phía Nam, nhắm tới Ấn Độ thuộc Anh (Paul I gần như là đã tuyên chiến khi ra lệnh giữ mọi tàu Anh trong cảng và cấm công dân nước này rời khỏi Nga, cắt mọi nguồn hàng nhập khẩu quan trọng của Anh như gỗ, lúa mì và khoáng sản).

Về đối nội, Paul I tổ chức cải cách quân đội Nga, ra lệnh sử dụng quân phục mới giống loại của nước Phổ. Binh lính sĩ quan phản đối ầm ầm vì đồng phục cũ rẻ và dễ mặc hơn. Nguyên soái Alexander Suvorov công khai chế giễu nó ngắn ngủn, bất tiện và bị cho nghỉ hưu lập tức. Nhiều chính sách khác của ông khiến giới quý tộc khó chịu (chẳng hạn như kiên quyết khui ra những vụ bòn rút ngân khố, làm dính líu tới 1 số lớn người), dẫn tới âm mưu ám sát.

Đêm 23/3, một nhóm sĩ quan vũ trang đột nhập vào tận phòng ngủ của Sa hoàng ở lâu đài Mikhailovsky, ép ông ký vào văn bản thoái vị viết sẵn. Có vẻ như Paul I đã từ chối và kháng cự nên bị đánh chết tại chỗ. Các sử gia còn tranh luận về vai trò của thái tử Alexander, nhưng đều thống nhất là không chủ mưu thì cũng thuộc loại đồng phạm chính. Sau khi Sa hoàng chết, một trong số kẻ tham gia là Nikolay Zubov đã đến gặp Alexander (ở phòng khác của lâu đài) và nói” Đến lúc rồi, hãy đi ra và cai trị thôi”. Quan ngự y James Wylie được triệu đến, nhận chỉ thị viết báo cáo khám nghiệm rằng Paul I qua đời do đột quỵ. Nhóm sát thủ không bị trừng phạt gì, dù có chứng cứ là kế hoạch ban đầu chỉ nhằm bức hoàng đế thoái vị thôi, nhưng do nhiều kẻ nốc rượu say nên có lẽ đã làm quá tay khiến Paul I thiệt mạng. Sau đó cả bọn vẫn sống ung dung tại Saint Petersburg và thường được đón tiếp trọng thể ở Cung Điện mùa đông.

Tất nhiên, giấy không gói được lửa, châu Âu rất nhanh chóng biết tin và ngán ngẩm với cái “tai nạn” đáng phàn nàn về mặt y học đó. Napoleon sau ngồi đọc cho Bộ trưởng ngoại giao Pháp viết hẳn 1 bức thư gần như mỉa mai trực tiếp tội giết cha khiến Alexander nhục nhã ê chề. Sa hoàng bèn trả đũa bằng cách công khai chỉ trích Napoleon là tên độc tài, rằng mình cảm thấy luyến tiếc về sự tiêu vong của nền Cộng hòa Pháp (trong khi chính Alexander lại là hoàng đế chuyên chế của 1 đế quốc xây dựng trên chế độ nông nô).

– 21/3/1800: Lễ đăng quang với vương miện….giấy của giáo hoàng Pius VII .

– 21/3/1800: Lễ đăng quang với vương miện….giấy của giáo hoàng Pius VII .

Sau khi giáo hoàng Pius VI chết ở nơi lưu đày, Napoleon cho ướp xác đến 3 tháng để chờ Cơ mật viện của Giáo hội bầu ra tân giáo hoàng, mới đồng ý cho chôn cất. Thời gian này khá lâu vì cần phải tập trung các Hồng y lại, và cuộc bầu chọn giáo hoàng thường bị can thiệp bởi các cường quốc, cũng như tình hình phe phái trong nội bộ Giáo hội. Cuối cùng thì 35 Hồng y, sau nhiều phiên họp ở đảo Saint-Georges-Majeur, xứ Venice.đã bầu hồng y Chiaramonti làm giáo hoàng thứ 251, hiệu là Pius VII.

Ngày 21 tháng 3, tân giáo hoàng đăng quang ngay tại tu viện Benedictine ở Saint-Georges-Majeur, vì nước Áo từ chối không cho ông làm lễ ở Vương cung thánh đường Saint-Marc. Nghi lễ rất đơn sơ vì cơ sở vật chất thiếu thốn. Khi chiếm đóng thành Roma, quân Pháp đã vơ vét sạch đồ dùng có giá trị của giáo hoàng tiền nhiệm, tính cả hơn 30 mũ triều thiên ba tầng (sau bị tháo dỡ hết để lấy vàng, bạc, ngọc nạm….không thể phục hồi lại được). Thành ra khi chuẩn bị đăng quang, Pius VII lâm vào cảnh không có gì để đội lên đầu. Bởi vậy cấp dưới đã chế tạm một vương miện bằng giấy và keo, gắn lên đó các viên ngọc và đồ trang sức của nhiều nữ quý tộc địa phương hiến tặng. Pius VII trở thành vị giáo hoàng duy nhất trong lịch sử Thiên Chúa Giáo dùng vương miện bằng giấy khi đăng quang. Việc đại diện của Chúa trời lại phải đội lên đầu một đống giấy vụn trộn keo, bị giáo hoàng Gregory XVI (1831-1846) coi là sự sỉ nhục.

(Bạn sẽ không thể tìm được 1 bức tranh nào vẽ giáo hoàng Pius VII đội vương miện giấy)

Napoleon có lẽ cũng nhận ra điều này, nên về sau hoàng đế Pháp có gửi tặng giáo hoàng Pius VII một vương miện mới bằng vàng bạc nạm đá quý (thật ra là nhặt nhạnh lắp ghép từ mấy cái vương miện cũ bị tịch thu), chạm trổ rất đẹp. Nhưng rồi thì đồ mới này cũng nhanh chóng bị đặt trong tủ, do người ta nhận ra nó quá nặng (8kg – tương đương quả tạ nâng 1 tay) và quá nhỏ để đội lên đầu (nghiêng đầu hơi quá là….rơi). Đã thế, khi soi kỹ còn thấy mặt trong và ngoài của vương miện khắc đầy các chiến công của Napoleon (trận Kim Tự Tháp, Marengo, Austerlitz…..). Chỉ về sau khi Napoleon đã sụp đổ và bị đày đi đảo xa rồi, hồng Y Consalvi mới dám đem những dòng này xóa đi và thay thế bằng câu châm ngôn trong Kinh Thánh.

Năm 1820, một vương miện bạc được thiết kế, nhưng rồi thì Pius VII và 3 đời giáo hoàng sau vẫn thích đội cái bằng giấy vì đơn giản là nó rất nhẹ. Đến năm 1845, giáo Hoàng Gregory XVI đặt làm 1 cái mới bằng vàng bạc nhưng dễ đội và nhẹ hơn mẫu cũ, rồi cho vương miện bằng giấy vào kho. Không rõ cái còn lưu đến nay là bản gốc hay phục chế.

– 20/3/1815: Napoleon vào Pari, bắt đầu thời kỳ “Một trăm ngày”

– 20/3/1815: Napoleon vào Pari, bắt đầu thời kỳ “Một trăm ngày”

Trong buổi dạ hội đêm 7 tháng 3 năm 1815, ở triều đình Áo, người ta tổ chức một cuộc khiêu vũ để chiêu đãi các vua chúa và đại diện của các cường quốc châu Âu đang họp ở Vienna. Cuộc vui đang tưng bừng hứng thú nhất thì bỗng nhiên các quan khách thấy đám cận thần của hoàng đế Francis I lộ vẻ bối rối cực độ, mặt mày xanh xám, hốt hoảng, các đình thần chạy vội xuống cầu thang chính, tưởng như có cháy trong cung điện. Chỉ trong nháy máy, cái tin không ngờ sau đây đã bay khắp các cung, phòng, làm mọi người hốt hoảng rụng rời bỏ cuộc khiêu vũ: một đạo tin vừa báo rằng Napoleon đã rời đảo Elba, đổ bộ lên đất Pháp và tay không khí giới, tiến thẳng về Pari.

Ngay từ những ngày đầu tháng 2 năm 1815, quyết định trở về nước Pháp và phục hưng đế chế đã bắt đầu được xác lập rõ rệt trong đầu óc Napoleon. Mẹ mình – bà Letizia là người đầu tiên được Napoleon thổ lộ tâm tình: “Con không thể chết ở hòn đảo này được đâu và con cũng không thể kết thúc cuộc đời con bằng sự nghỉ ngơi yên tĩnh chẳng xứng đáng với con” – Napoleon nói với mẹ – “Quân đội đang trông đợi con. Chắc chắn là con có thể gặp những trở lực không lường trước trên con đường con đi, có thể con sẽ gặp một tên sĩ quan trung thành với dòng họ Bourbon, nó sẽ ngăn chặn bước đi của chúng con và lúc đó sau vài tiếng đồng hồ, con sẽ ngã xuống. Nhưng cái kết thúc đó tốt hơn là chuỗi ngày dài đằng đẵng trên hòn đảo này với tương lai đã vạch là cái chết. Vì vậy mà con còn muốn đi và lao mình vào may rủi một lần nữa. Ý mẹ thế nào, mẹ thân yêu của con?”

Letizia vô cùng sửng sốt trước câu hỏi bất ngờ ấy mà bà không thể trả lời ngay được. “Con hãy để cho mẹ suy nghĩ một lát bằng tình cảm của người mẹ và rồi sau đó mẹ sẽ cho con biết”. Sau một lúc im lặng, bà nói: “Đi đi, con trai mẹ, đi đi, và theo đuổi định mệnh của con. Có lẽ con sẽ thất bại khi mưu toan của con tan vỡ, cái chết sẽ sát bên con. Nhưng con không thể ở lại đây được, đó là điều làm mẹ đau đớn. Mà cũng cầu mong rằng thượng đế đã từng che chở cho con trong bao nhiêu trận thì nay Người hãy còn che chở cho con một lần nữa”. Rồi bà ôm chặt lấy con trai. Ngày 26 tháng 2, Napoleon bí mật rời đảo cùng các sĩ quan trung thành và 1000 lính hộ tống.

Tàu buồm của người Anh và của hải quân hoàng gia Pháp thường xuyên đi lại trên hải phận đảo Elba, đó là nguy cơ đầu tiên. Một chiến hạm Pháp đi sát qua, một sĩ quan trên hạm giơ loa cất tiếng hỏi viên thuyền trưởng của Napoleon: “Ông vĩ nhân ấy có khỏe không?” “Khỏe lắm!”, người thuyền trưởng đáp. Và cuộc chạm trán ấy kết thúc. Chiến hạm của nhà vua không thấy được binh sĩ của Napoleon ẩn kín trong tàu. May mắn thay, cũng không phải gặp tàu Anh nào nữa. Cuộc vượt biển kéo dài gần ba ngày, vì gió đã yếu dần. Ngày 1 tháng 3 năm 1815, hồi ba giờ chiều, hạm đội vào vịnh Golfe-Juan và đổ bộ an toàn.

Hành trình 19 ngày về Pari là cả một sự kỳ diệu, hầu như tất cả các đạo quân, thống chế, tướng tá được vua Pháp cử đi bắt hay chặn Napoleon đều chạy ngay đến gặp ông và tình nguyện phục vụ hoàng đế. Không có bất cứ sự kháng cự nào, không có súng nổ, thậm chí chính Napoleon đã nói “Ta chỉ cần gõ hộp thuốc lá vào cổng thành là cổng phải mở ra”.

Sáng ngày 7 tháng 3, Napoleon đến thị trấn La Muya. Ở đằng xa, quân đội của vua Pháp đã dàn sẵn đội hình chiến đấu, ngăn bước tiến của đạo quân bên cạnh ông và phá cầu để cản họ. Napoleon dùng ống nhòm quan sát hồi lâu lực lượng quân địch đang triển khai. Sau đó, ông hạ lệnh cho binh sĩ chuyển súng qua bên phải, cắp vào nách, chúc nòng xuống đất. “Tiến”, ông phát lệnh. Và ông đi đầu hàng quân tiến trước mũi súng của viên đoàn tiền vệ quân đội nhà vua. “Hỡi các bạn, đừng bắn!” – Các kỵ binh kêu gọi – “Hoàng đế đang tiến đến đấy”. Tiểu đoàn dừng lại. Lúc ấy Napoleon đến sát bên họ, binh lính vẫn đứng im không động đậy, mũi súng chĩa thẳng, mắt chăm chăm nhìn vào con người mặc áo màu xám, đầu đội chiếc mũ nhỏ, đang một mình tiến về phía họ với bước đi chắc nịch.”Hỡi binh sĩ thuộc trung đoàn thứ năm! – Những tiếng ấy cất lên giữa sự im lặng khủng khiếp – Ta là hoàng đế của các người. Có thừa nhận ta không?” -“Có, có, có!”. Những tiếng ấy liền vang dậy trong hàng quân. Napoleon bèn vạch áo và phanh ngực ra: “Nếu trong các người, có ai là người lính muốn bắn vào hoàng đế của mình, thì đây, ta đây!”- Những người được chứng kiến cảnh đó đã suốt đời không quên được những tiếng hoan hô vang trời dậy đất của binh lính khi giải tán hàng ngũ để chạy đến xúm quanh Napoleon. Họ vây chặt lấy hoàng đế, hôn tay, hôn đầu gối ông và bị một thứ cuồng nhiệt chung kích động, họ khóc lên vì vui mừng. Nhân viên tình báo Anh ở đó đã phải kinh ngạc, và sau viết báo cáo tường thuật lại rằng đây là một sự mê muội.

Ở thành phố Lyon, để biểu dương lòng trung thành của binh sĩ đối với vương triều Bourbon, thống chế Jacques MacDonald yêu cầu binh sĩ chào mừng bá tước Artois, em trai và phái viên của nhà vua, bằng cách hô khẩu hiệu: “Hoàng thượng muôn năm!”. Đáp lời của Jacques MacDonald là một sự im lặng như chết. Sợ hãi rụng rời, bá tước Artois lật đật bỏ cuộc duyệt binh và ba chân bốn cẳng chuồn khỏi Lyon. Tay thống chế bèn ở lại điều khiển công việc phòng ngự một mình. Binh lính trầm lặng và làm việc với tinh thần bất đắc dĩ. Một lính công binh đến gần thống chế, nói: “Thưa ngài, làm thế này thì thật là hoàn hảo, nhưng là một người dũng cảm như vậy thì ngài nên bỏ bọn Bourbon, chúng tôi sẽ đưa ngài đến với hoàng đế, đến gặp ngài chắc hoàng đế sẽ vui mừng lắm!” MacDonald không đáp. Khi kỵ binh của Napoleon vào thành, MacDonald dẫn quân ra giao chiến, nhưng các trung đoàn của ông ta nhất là quân kỵ binh đi đầu vừa trông thấy đối phương đã chạy đến đón và hô lớn: “Hoàng đế muôn năm!”. Để khỏi bị chính binh sĩ của mình bắt làm tù binh, thống chế MacDonald thúc ngựa chuồn thẳng.

Ở Lyon, Napoleon nhắc lại những lời ông đã từng nói đi nói ở Grenoble, cũng như trước khi đến và sau khi rời khỏi Grenoble: ông sẽ đem hoà bình cho nước Pháp, tự do ở trong nước và hòa bình ở nước ngoài. Ông trở về để bảo vệ và củng cố những nguyên tắc của cuộc Đại cách mạng, ông hiểu rằng thời cuộc đã thay đổi, và từ nay trở đi, bằng lòng với một nước Pháp, ông từ bỏ hẳn tư tưởng xâm lược. Napoleon cũng ký lệnh truất phế vương triều Louis XVIII và hiến pháp hiện hành, giải tán quốc hội, cách chức tất cả những viên chức tư pháp do triều đình bổ nhiệm và bổ nhiệm những quan tòa mới.

Ở Pari, khi biết tin Napoleon đang tiến về với 14 vạn quân theo sau (toàn bộ số được huy động để đi bắt ông), triều đình Bourbon sợ hãi rụng rời. Vua Louis XVIII phản đối việc bỏ trốn, vì như vậy là nhục nhã và mất ngai vàng. Nhưng làm thế nào bây giờ? Đám quần thần nổi tiếng vì ngu ngốc của ông vua này bèn thảo luận nghiêm túc cái kế hoạch chiến lược sau đây: vua Louis XVIII sẽ lên xe và rời bỏ thành phố, đi theo là quan chức, linh mục, hoàng tộc. Khi đến cổng thành, cái bầu đoàn ấy sẽ dừng lại và sẽ chờ đợi kẻ thoán nghịch tới, trông thấy ông vua chính thống, cái ông già đầu tóc bạc phơ, mạnh mẽ vì nắm pháp lý trong tay, bạo dạn đem thân ra cản đường không cho kẻ thoán nghịch vào thủ đô, thì chắc chắn y sẽ hổ thẹn vì hành động của y và sẽ rút lui. Cũng may là Louis XVIII còn đủ tỉnh táo để chọn cách lên xe chạy khỏi thủ đô, thay vì nghe theo kế hoạch ngu dại đó.

Ở Pari, báo chí của chính phủ hoặc thân cận với giới cao cấp đã từ thế bình chân như vại một cách ngu xuẩn đến chỗ hoàn toàn tuyệt vọng, rồi cuối cùng là khiếp đảm ra mặt. Trong thời kỳ này, những báo chí ấy có đặc điểm là biểu thị thái độ bằng những lời chê, khen Napoleon liên tiếp thay đổi theo bước tiến về phía Bắc của ông.

– Thời kỳ thứ nhất: “Con rắn đảo Corsica đã đổ bộ lên vịnh Juan”.
– Thời kỳ thứ hai: “Con quỷ tiến về Grenoble”.
– Thời kỳ thứ ba: “Kẻ thoán nghịch tiến vào Grenoble”
– Thời kỳ thứ tư: “Bonaparte đã chiếm Lyon”.
– Thời kỳ thứ năm: “Napoleon đến gần Fontainebleau”.
– Thời kỳ thứ sáu: “Đức Hoàng đế hôm nay đang được thủ đô trung thành của người chờ đón”.

11 giờ đêm 19 tháng 3, vua Pháp cùng tất cả hoàng gia trốn khỏi Pari, chạy về phía biên giới Bỉ. Ngày 20 tháng 3 năm 1815, hồi 9 giờ đêm, Napoleon tiến vào Pari. Bạt ngàn quần chúng đón chờ ông ở cung điện Tuileries, và những tiếng reo hò vang dậy của những dòng thác người xô theo sau xe của Napoleon từ rất xa vang vọng tới quảng trường mỗi lúc một mạnh mẽ, và dần dần biến thành một tiếng ầm ĩ đầy hoan hỉ thì khối người đứng chật như nêm quanh cung điện đã ùa ra đón hoàng đế. Bị bao vây tứ phía, chiếc xe không thể tiến lên được. Kỵ binh hộ vệ đã uổng công mở đường. Về sau, những người lính cận vệ kể rằng: “Họ reo hò, khóc lóc, lăn xả vào chân ngựa, trèo lên xe, bất chấp tất cả. Khối quần chúng cuồng nhiệt ấy đổ xô tới hoàng đế, chen bật cả đoàn tùy tùng, lôi hoàng đế ra khỏi xe, rồi, giữa những tiếng hoan hô không dứt, họ chuyền Napoleon từ tay người này sang tay người khác cho đến tận cung điện, rồi qua cầu thang chính lên đến tầng cao nhất”.

Sau những thắng lợi to lớn nhất, sau những chiến dịch huy hoàng nhất, sau những cuộc xâm lược các vùng đất rộng lớn và trù phú nhất, Napoleon cũng chưa hề bao giờ được tiếp đón ở Pari như đêm 20 tháng 3 năm 1815 đó. “Những con người không vụ lợi đã dẫn tôi về Pari. Hạ sĩ quan và binh lính đã làm tất cả. Tôi hoàn toàn chịu ơn nhân dân và quân đội” – Napoleon nói. Sau khi người ta đã phải khó nhọc lắm mới khuyên nổi dân chúng giải tán, Napoleon lại trở về phòng làm việc cũ khi xưa và lao ngay vào công việc, đối mặt với ông sẽ là liên quân của toàn bộ châu Âu – liên minh lớn nhất trong lịch sử tính đến trước thế chiến I.

Ngày 13 tháng 3 năm 1815, các cường quốc châu Âu gặp nhau tại hội nghị Vienna đã phản ứng kịch liệt đối với sự quay về của Napoleon. Bằng một tuyên bố chung, đại diện của Anh, Pháp, Nga, Áo, Phổ, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha và Thụy Điển đặt Napoleon ra ngoài vòng pháp luật. Ngày 25 tháng 3, bốn cường quốc Anh, Nga, Áo và Phổ ký hiệp ước liên minh, trong đó mỗi nước cam kết cung cấp 15 vạn quân. Các quốc gia khác tham gia hiệp ước này trong những tuần tiếp theo, đẩy tổng số liên quân lên đến 1.068.000 người (dân số cả châu Âu chỉ có 75 triệu). Con số này gấp hơn 3 lần lực lượng Napleon có thể huy động. Chính phủ Anh tuyên bố chi tài trợ 9 triệu bảng trong suốt thời kỳ chiến tranh (gần gấp đôi cả năm 1814). Bất chấp những nỗ lực của Napoleon để trấn an châu Âu về hòa bình, các nước liên minh tỏ ra quyết tâm chưa từng thấy.và từ chối mọi đề nghị đàm phán. Ngày 12 tháng 6, Napoleon rời Pari cùng quân đội, đánh những trận cuối cùng trong sự nghiệp của mình.

– 17/3/45 TCN: Trận Munda

– 17/3/45 TCN: Trận Munda

Trận Munda diễn ra ngày 17 tháng 3 năm 45 trước Công Nguyên ở miền nam xứ Hispania (Tây Ban Nha thuộc La Mã) , là trận chiến cuối cùng của cuộc nội chiến Caesar (49-45
TCN).

Sự tranh chấp quyền lực giai đoạn cuối Cộng Hòa đã dẫn đến cuộc chiến giữa 2 nhà chính trị-quân sự xuất sắc nhất La Mã lúc đó: Pompey và Caesar. Trong trận Pharsalus năm 48 TCN trên đất Hy Lạp, Caesar đánh bại Pompey và đuổi theo ông này sang tận Ai cập, nơi Pompey bị ám sát. Năm 46 TCN, Caesar tiếp tục tiêu diệt một đạo quân trung thành với Pompey tại trận Thapsus. Tuy nhiên, khi Caesar đang bận rộn với nữ hoàng Ai Cập Cleopatra (họ có 1 đứa con trai nhưng không bao giờ cưới nhau được, vì một luật cổ quy định chỉ hôn nhân giữa 2 công dân La Mã mới tính là hợp pháp), Gnaeus Pompeius (con trai cả của Pompey) trốn sang Tây Ban Nha, kích động các binh đoàn cũ ở đây vốn từng phục vụ dưới quyền cha mình. Mùa xuân năm 46 TCN, Tây Ban Nha nổi loạn.

Nhận thấy tính nghiêm trọng của vấn đề (Tây Ban Nha có nhiều mỏ bạc lớn và là nơi đóng trọng binh), Caesar tự mình đem quân đi đánh dẹp. Với kỷ luật và kỹ thuật quân sự hàng đầu thế giới thời đó, các binh đoàn của ông di chuyển từ Ý sang Tây Ban Nha (hơn 2400 km) trong chưa đầy 1 tháng. Sự bất ngờ này giúp Caesar đánh chiếm được thành lũy trọng yếu Ategua trước khi phe chống đối nhận ra là ông đã đổ bộ vào Tây Ban Nha. Khi biết tin một số đồng minh bắt đầu dao động và đào ngũ sang phía đối thủ, Gnaeus Pompeius quyết định giao chiến.

Hai đạo quân chạm trán nhau trên đồng bằng Munda, miền nam Tây Ban Nha. Caesar có trong tay tám binh đoàn (40.000 lính) và 8.000 kỵ binh, trong khi đối phương có 13 binh đoàn (65.000 lính), 6.000 bộ binh nhẹ và 6.000 kỵ binh. Dù đông hơn gần gấp đôi, Gnaeus Pompeius bố trí lực lượng bao quanh một ngọn đồi thấp cách thành phố Munda khoảng 1,6 km, trong tư thế phòng thủ. Nguyên nhân của việc này là do ông lo ngại đánh trực diện thì không thể thắng được (trong đời mình Caesar chỉ thua vài trận nhỏ ở Gaul, còn đánh vận động chiến thì cả chính Pompey – bố Gnaeus Pompeius – cũng phải ôm cổ ngựa chạy).

Sau vài nỗ lực để dụ đối phương tấn công bất thành, Caesar ra lệnh các binh đoàn tiến lên xáp chiến. Hai bên giằng co suốt 8 tiếng đồng hồ do cả hai chỉ huy đều rất thận trọng, và cũng bởi sự chênh lệch quân số được bù đắp bằng chất lượng: các binh đoàn của Caesar quá nửa là lính kỳ cựu nên rất thiện chiến, trong khi phía bên kia có nhiều tân binh mới tuyển.

Cuối cùng thì cả Caesar và Gnaeus Pompeius đều phải rời vị trí để đi kích thích sĩ khí. Caesar lên tuyến đầu và rút kiếm đâm chém y như một người lính bình thường (sau này ông kể rằng riêng ở đất Munda mình đã phải chiến đấu để sống, chứ không phải để thắng). Cánh phải quân Caesar – nơi chủ soái tham chiến nhờ vậy chiếm ưu thế và dần dần đẩy lui đối phương. Gnaeus Pompeius vội điều một binh đoàn đến giúp, nhưng do vậy cánh trái lại không đủ quân ứng phó khi kỵ binh địch tấn công. Nhờ đông hơn nên kỵ binh của Caesar có thể tách một phần ra làm quân dự bị, đạo kỵ binh 2000 người này vẫn bất động từ đầu trận đến lúc đó.

Trận Munda đi đến hồi kết do sai lầm của Titus Labienus, tướng chỉ huy kỵ binh phe Gnaeus Pompeius. Thấy đối phương tập kích vào sườn phải, đe dọa trại chính, ông này rút một cánh kỵ binh đang tham chiến ở giữa về, rồi lệnh vòng sang phía đó để ứng cứu. Hành động này khiến một số chỉ huy khác hiểu nhầm là rút lui và cũng quay ngựa chạy theo. Tinh thần suy sụp, lính phe Gnaeus Pompeius bắt đầu bỏ hàng ngũ hàng loạt, gây nên hiệu ứng tan rã tập thể dù tình hình thực tế thời điểm đó vẫn ở thế cân bằng. Một số chạy được vào thành, còn lại tứ tán hay bị kỵ binh đuổi theo chém giết. 13 con đại bàng bằng bạc, biểu tượng cho 13 quân đoàn chống đối đều bị thu giữ, đánh dấu sự thất bại hoàn toàn. Thương vong theo Caesar công bố chỉ là 1000 lính so với hơn 30.000 người chết bên Gnaeus Pompeius.

Titus Labienus chết trận và được hậu táng. Gnaeus bỏ chạy nhưng bị bắt và hành hình khoảng một tháng sau. Mất lãnh tụ, các thành phố Tây Ban Nha nổi loạn đều lần lượt đầu hàng, chừng 14.000 người đã bị hành quyết công khai để răn đe dân chúng. Không còn đối thủ nào, Caesar ca khúc khải hoàn quay về Roma. Một bức tượng của ông được đặt ở đền thờ Quirinus với dòng đề tặng “Dâng lên vị thần không thể bị đánh bại”. Caesar được Viện Nguyên Lão phong làm nhà độc tài suốt đời – danh hiệu cho phép người mang nó sở hữu quyền lực chưa từng có trong nền Cộng hòa – ngang với một vị vua. Đây là mầm mống sẽ dẫn đến sự bất mãn của một số quý tộc, mà dẫn đến vụ ám sát ông sau này.

– 15/3/44 TCN: Vụ ám sát Julius Caesar

– 15/3/44 TCN: Vụ ám sát Julius Caesar

Sau khi đánh bại tất cả đối thủ trong cuộc nội chiến, Julius Caesar khải hoàn trở về Rome và được Viện Nguyên Lão phong là nhà độc tài vĩnh viễn (dictator perpetuo) của La Mã. Đây là một sự kiện chưa từng có tiền lệ, vì chức vụ “Độc tài” (dictator) chỉ được đặt ra khi xuất hiện nguy cơ đe dọa sự tồn vong của La Mã, người giữ chức này sẽ có quyền lực tối thượng nhưng chỉ với nhiệm kỳ 6 tháng – 1 năm, và phải rời bỏ vị trí ngay khi hết thời gian hoặc hoàn thành nhiệm vụ. Việc Julius Caesar được bổ nhiệm làm nhà độc tài vĩnh viễn khiến số ít Nguyên lão tin rằng ông có thể xưng vương. Nghi vấn tăng thêm khi Sở đúc tiền thành Roma bắt đầu sản xuất đồng bạc denarius với danh hiệu Dictator perpetuo ở mặt trước, mặt sau là hình nữ thần nông nghiệp Ceres.

Vào ngày 15 tháng 3 (Ides of March) năm 44 TCN, một nhóm các Nguyên lão gọi Caesar đến để đọc đơn thỉnh cầu ông giao trả quyền lực cho Viện Nguyên Lão. Lá đơn này là giả mạo; Mark Antony cảm thấy nghi ngờ một kẻ trong nhóm Liberatores (người giải phóng) tên là Servilius Casca, và cảm thấy lo lắng tột độ khi nghe tin Caesar đi lại không vệ sĩ như mọi khi, đến gặp một nhóm các nguyên lão; ông vội vàng đi chặn Caesar lại. Nhưng đã quá muộn, khi đi qua Nhà hát Pompey Caesar bị một nhóm các Nguyên lão chặn lại và dẫn ông vào một căn phòng ở cửa Đông.

Khi Caesar đang đọc lá đơn giả mạo, Servilius Casca tiến lại giật áo choàng của Caesar và sượt tay qua cổ ông. Caesar quay lại và nắm lấy cằm của Casca la to bằng tiếng Latin: “Tên khốn Casca, ngươi đang làm gì đó?” Casca hoảng sợ, kêu những Nguyên lão đồng mưu bằng tiếng Hy Lạp: “Anh em làm ơn giúp đỡ!” (αδελφοι βοήθει!, adelphoi boethei!). Ngay lập tức, toàn bộ nhóm nguyên lão, kể cả Brutus, rút dao xông lên tấn công Caesar. Brutus được cho là đã bị thương ở tay và ở chân. Caesar tìm cách thoát thân, nhưng mờ mắt vì mất máu và vì cái áo choàng quá dài nên bị vấp ngã. Rốt cục những kẻ ám sát chỉ giết được ông khi ông ngã xuống và không thể chống cự trên bậc thềm của cánh cổng. Theo Eutropous, có hơn 60 người tham gia vào âm mưu giết ông và Caesar đã bị đâm tổng cộng 23 nhát. Báo cáo về các vết thương trên cơ thể Caesar do các y sĩ lập, được coi là biên bản khám nghiệm tử thi đầu tiên trên thế giới.

Điều cuối cùng Caesar nói là gì? Điều này còn đang được tranh cãi. Trong tác phẩm Julius Caesar, William Shakespeare viết rằng câu cuối cùng Caesar nói là: Et tu, Brute? (“Kể cả anh sao, Brutus?”). Nhưng đó là sáng tạo của Shakespeare. Nhà sử học La Mã Suetonius ghi lại rằng những lời cuối của Caesar bằng tiếng Hy Lạp là “καί σύ τέκνον”-“Kài sú, Teknon?” (“Cả con nữa à?”). Nhưng hầu hết người La Mã tin rằng ông đã nói câu cuối cùng bằng tiếng Latin:”Tu qouque, Brute, fili mihi?”-“Cả ngươi nữa sao, Brutus, con trai của ta?”. Plutarch cho rằng ông không nói gì cả, chỉ kéo áo dài lên đầu khi nhìn thấy Brutus trong đám người ám sát.

Sau cuộc ám sát, các nguyên lão ra khỏi tòa nhà và nói chuyện với nhau một cách đầy kích động. Brutus còn la to: “Nhân dân La Mã, một lần nữa chúng ta lại tự do !”. Đáp lại họ chỉ là sự im lặng đáng sợ, vì dân chúng vốn yêu quý Caesar, đa phần người dân đóng kín cửa khi nghe thấy tin đồn về vụ ám sát. Nhận thấy tình hình không như dự tính, những kẻ ám sát chạy trốn khỏi Roma. Bạo động bắt đầu bùng lên khi người ta xác định được Caesar đã chết thực sự. Nhà cửa bị đốt và đập phá, nhiều đám đông kéo ra đường đòi hỏi sự trừng phạt nhóm ám sát vị lãnh tụ yêu quý của họ.

Hai ngày sau vụ ám sát, Marcus Antonius triệu tập phiên họp đặc biệt của Viện Nguyên Lão và đề xuất một sự thỏa hiệp, trong đó thì nhóm ám sát sẽ không bị trừng phạt, và tất cả các sắc lệnh cũng như sự bổ nhiệm của Caesar trước kia vẫn có hiệu lực. Mục đích của Antonius có lẽ là tạo ra một liên minh nắm quyền do mình kiểm soát. Ý đồ này bị ngăn chặn bởi sự xuất hiện của một người cháu kiêm con nuôi, và cũng là người thừa kế của Caesar. Octavianus khi đó mới 19 tuổi, được thừa hưởng lòng trung thành của phần lớn dân La Mã. Và thế là chế độ Tam hùng lần 2 được hình thành: Octavianus với sự ủng hộ của dân chúng, Marcus Antonius đại diện phe quý tộc, còn Lepidus (tướng kỵ binh cũ của Caesar) có uy tín lớn trong quân đội. Ba người này bắt tay nhau thực hiện cuộc thanh trừng chính trị đẫm máu nhằm vào những nhóm chống đối, và thu thêm tài chính để tổ chức lại quân đội. Khoảng 300 Nguyên lão và 2000 quý tộc La Mã đã bị hành hình.

Sau khi đánh bại những kẻ ám sát Caesar (Cassius và Brutus) ở trận Philippi (hơn 40.000 lính La Mã thiệt mạng), Tam hùng lần 2 mất mục tiêu chung nên dần dần tan rã, ba nhân vật chính quay sang chống lại nhau. Octavianus tước bỏ quyền của Lepidus rồi đưa quân đánh bại phe Antonius-Cleopatra, trở thành hoàng đế đầu tiên của La Mã dưới cái tên Caesar Augustus. Năm 42 TCN, Caesar được thánh hóa với tên Divus Iulius (“Thần thiêng Julius”), còn Augustus thì trở thành Divi filius (“Con của một vị thần”).

Cái chết của Caesar, mỉa mai thay, đã đánh dấu sự sụp đổ của Cộng Hòa La Mã. Sự cám dỗ về quyền lực cá nhân, bắt nguồn từ thời Sulla và Caesar đã được dứt điểm bởi Octavianus. Ông chỉ định Nguyên Lão Viện sắc phong mình chức quyền bảo pháp quan (tribunicia potestas), cho phép  đề xuất và phản bác bất kỳ luật nào. Thêm vào đó là quyền chỉ huy quân đội (Imperium maius) và quyền lựa chọn các ứng viên khi bầu cử. Như vậy dù vẫn tự xưng là chính thể cộng hòa, nhưng thực sự La Mã đã trở thành 1 đế quốc do Octavianus kiểm soát tuyệt đối.

– Muitenbac777-