– 9/4/1388: Trận Naffels

– 9/4/1388: Trận Naffels

Là giao tranh cuối cùng của cuộc chiến giữa các bang  Thụy Sĩ và đế chế Áo kéo dài gần như suốt thế kỷ 14. Một vài tuần sau trận Sempach vào ngày 9 tháng 7 năm 1386, Liên bang Thụy Sĩ (cũ) tấn công và bao vây làng Weesen ở vùng Walensee. Sang năm, bang Glarus nổi dậy chống lại nhà Habsburgs và tấn công thị trấn Windegg gần đó. Ngày 11 tháng 3 năm 1387, hội đồng Glarus ban hành luật pháp riêng và tuyên bố họ không còn quan hệ gì với triều đình Habsburg nữa.

Người Áo phản công. Đêm 21-22 tháng 2 năm 1388, một đội quân tập kích làng Weesen và đánh bật lực lượng Thụy Sĩ ra ngoài. Đầu tháng 4, hai cánh quân Áo được huy động để đàn áp “bọn phản loạn” Glarus, lúc này đã là một thành viên liên bang Thụy Sĩ. Chủ lực khoảng 5.000 người, trang bị đầy đủ, tiến về phía thị trấn Näfels dưới sự chỉ huy của Công tước Donat von Toggenburg và Hiệp sĩ Peter Thorberg. 1.500 lính khác dưới quyền Công tước Hans von Werdenberg-Sargans, hành quân qua đèo Kerenzerberg mà không gặp trở ngại gì.

Thị trấn Näfels có nhiều nông trang nhỏ bao quanh các ngọn đồi. Khi quân Áo ùn ùn kéo đến, lực lượng phòng thủ (hơn 400 người) nhận thấy sự chênh lệch quá lớn nên sau một đợt kháng cự ngắn ở các công sự đắp bằng đất, đá có cọc nhọn cắm xung quanh, tất cả rút lên đồi. Quân Áo cho rằng đám “nông dân hèn kém” đã bỏ chạy nên chia nhau ra cướp bóc, đốt phá xung quanh thị trấn. Người Thụy Sĩ nhìn cảnh tượng đó với sự căm thù ngày càng tăng, và rồi họ phản công khi nhận ra lực lượng đối phương đã phân tán, cũng như sương mù đang dần dần phủ lên thị trấn. Hãy hình dung một lính Áo, kiếm đã cho vào bao, đang hì hục bê tấm khiên của mình (trên đặt những cuộn da cừu cướp được) ra khỏi nhà thì gặp phải một nông dân cầm Halberd (kích) lao tới từ trong màn sương. Kết quả gần như là sự tàn sát một chiều.

Kháng cự ít ỏi đến từ những hiệp sĩ, quý tộc Áo cưỡi ngựa, vốn không thèm tham gia cướp bóc. Tuy nhiên nó không kéo dài lâu. Giáo, kích, thương của người Thụy Sĩ có cự ly tác chiến xa hơn kiếm, và những kỵ sĩ ở gần chân núi được ưu tiên “chăm sóc” bằng đá tảng. Cuối cùng thì tinh thần quân Áo sụp đổ. Tất cả bỏ chạy về phía làng Weesen, nhưng do quá nhiều người ngựa chen chúc nhau, cây cầu gỗ bắc qua sông Linth bị gãy khiến lính Áo chìm nghỉm do giáp trụ nặng nề trên người. Công tước Hans von Werdenberg-Sargans đang đi dọc bờ sông đến cứu viện, nhìn thấy cảnh này cũng chẳng dám đánh tiếp và vội vã cho quân rút lui về làng Beglingen gần đó. Trận chiến kết thúc bằng một thảm kịch trong đầm lầy gần làng Weesen, khi những lính Áo không quen đường chạy lạc vào đầm lầy này và bị lún sâu dưới bùn.

Näfels là 1 trong 5 trận đánh “khai quốc” của Thụy Sĩ. Mặc dù tỉ lệ là 1 chọi 16, nhưng người Thụy Sĩ đã kết thúc nó một cách tuyệt vời chỉ với tổn thất tương đối nhỏ. 54 người hy sinh đổi lấy 1700 lính Áo thiệt mạng quả là một con số ấn tượng, đặc biệt trong thời đại vũ khí lạnh và phẩm chất lực lượng hai bên rất chênh lệch (nông dân, thợ thủ công đấu với hiệp sĩ, lính chính quy). Triều đình Habsburgs nhận thấy việc đánh nhau với đám nông dân hung bạo và cứng đầu trên núi quá ư tốn kém, nên đành tiến hành đàm phán hòa bình. Năm 1389, hiệp ước hòa bình 7 năm (sau gia hạn 20 năm) được ký kết tại kinh đô Vienna, liên bang Thụy Sĩ được công nhận độc lập và có chủ quyền với toàn bộ lãnh thổ mà họ giành được trên vùng núi Alpes. Trong cùng năm đó, người ta tổ chức một cuộc hành hương đến địa điểm của trận chiến Näfels (một nhà nguyện được xây ngay sau đó tại nơi này, do quan niệm chiến thắng đó là nhờ phán quyết của Thiên Chúa).

Truyền thống hành hương vẫn duy trì đến nay, diễn ra vào ngày thứ Năm đầu tiên của tháng 4 (đây là ngày nghỉ lễ của bang Glarus). Cư dân đi cùng đoàn rước đến nhà thờ và đài tưởng niệm, tại đó người ta tổ chức buổi ăn mừng chiến thắng với đội kèn, trống và các nhóm nghi lễ. Tham gia còn có đại diện của nhà thờ Công giáo và Tin Lành. Một nghi thức quan trọng là đại diện chính quyền bang sẽ đọc to tên từng người một trong số 54 chiến binh đã ngã xuống.

 

– 2/4/1863: Vụ nổi loạn bánh mì

– 2/4/1863: Vụ nổi loạn bánh mì

Là vụ bạo động dân sự ngắn diễn ra ở thủ đô Richmond của liên minh miền Nam trong nội chiến Mỹ. Khoảng 5.000 người nghèo (chủ yếu là phụ nữ), đã xông vào các cửa hàng và lấy đi mọi thứ: thực phẩm, quần áo, giày dép, và đồ trang sức trước khi quân đội được huy động đến khôi phục lại trật tự.

Do hậu quả của chiến tranh, lạm phát ở miền Nam tăng vọt và thất nghiệp tràn lan, nhất là phụ nữ. Thủ đô Richmond nhận thêm 60.000 dân tị nạn trong 3 năm, gây nên sự quá tải về nhà ở và nhu yếu phẩm. Vụ thu hoạch mùa xuân năm đó phần lớn bị chất vào kho dự trữ hay chuyển ra tiền tuyến, trong khi liên bang miền Bắc thực hiện chính sách tiêu thổ (đi đến đâu là phá nông trại, giết gia súc đến đấy). Hệ quả là giá ngô tăng gấp đôi, trong khi giá bơ và sữa thì gấp ba. So với năm 1861, bột mì và thịt xông khói tăng giá cao nhất: 10 lần. Muối khan hiếm và gần như vô giá, do đường biển bị hải quân liên bang phong tỏa khiến không thể nhập khẩu, mỏ muối ngầm duy nhất thì vừa bị đánh chiếm.

Những người bức xúc tin rằng tình hình tồi tệ là do chính phủ quản lý kém và bọn đầu cơ tích trữ. Để bày tỏ sự bất mãn, nhiều người (chủ yếu là phụ nữ, vì nam giới hầu hết đã ra trận) phản đối sự tăng giá hàng hóa đã chuyển sang hành động bạo lực. Trong suốt tháng 3 và 4 năm 1863, tại các bang Columbus, Georgia, Macon, Atlanta, Bắc Carolina và Augusta, những đám đông vũ trang gậy gộc tấn công các cửa hàng và nhà kho, một số bị đập phá sau khi vét sạch hàng hóa.

Ngày 2 tháng 4 năm 1863, một nhóm phụ nữ nghèo, trong cơn đói và sự tuyệt vọng, kéo đến trụ sở chính quyền tại thủ đô Richmond yêu cầu cứu trợ. Bị từ chối một cách thô lỗ, đám đông chuyển thành biểu tình tự phát và rất nhanh chóng tăng số lượng lên đến hàng ngàn. Họ hét lên “Bánh mì hoặc máu!”, kéo nhau đi đập phá cửa sổ những cửa hàng xung quanh, lấy mọi thứ có thể. Thống đốc Letcher dùng luật bạo loạn để ra lệnh đám đông giải tán, nhưng chẳng ai tuân theo. Giới giàu có co rúm trong nhà với súng lăm lăm trong tay. Quân đội được huy động đến, lưỡi lê chĩa thẳng, nhưng không ai nổ súng vì trước mặt họ chỉ toàn phụ nữ và trẻ em. Đám đông hơi chững lại nhưng không có dấu hiệu giải tán.

Các tướng Elze và Winder muốn gọi thêm quân đến và sử dụng vũ lực, nhưng Bộ trưởng Chiến tranh James Seddon từ chối ban hành lệnh đó. Tình hình căng thẳng, cuối cùng tổng thống Jefferson Davis phải ra mặt. Người ta lấy một chiếc xe bò gần đó làm bục cho ông này đứng, Jefferson Davis nói một hồi, bày tỏ sự thông cảm và đề nghị đám đông giải tán, sau đó ông ra lệnh mang thức ăn từ nhà mình ra để phát. Dĩ nhiên số này chỉ là muối bỏ biển, Jefferson Davis gần như phải cầu xin bằng cách mở ví, dốc hết tiền trong túi ra trước mặt đám đông: “Đây, đây là tất cả những gì tôi có”. Lính bắt đầu lôi đạn trong túi ra nạp, có lẽ để dọa dẫm. Biện pháp này tỏ ra hiệu quả, mọi người chạy vội về nhà, ôm chặt những gì mình lấy được.

Tuy thiệt hại chỉ là mấy chục nghìn đô la hàng hóa bị đánh cắp và vài người bị thương, nhưng sự kiện này đã làm bẽ mặt chính quyền Liên minh miền Nam. Báo chí được chỉ đạo im lặng. Nhưng rồi tin tức vẫn rò rỉ ra ngoài và bị phe miền Bắc thu được. Vụ bạo động bánh mì nhanh chóng được tờ New York Times đưa lên trang nhất. Người ta còn viết thêm là một số phụ nữ chậm chân đã bị bắt lại và tống giam vì tội trộm cắp, nhưng sau vài tuần chính quyền thả họ ra vì nhận thấy những người này thích ngồi tù (được nuôi ăn) hơn là ra ngoài.

– 24/3/1999: NATO tấn công liên bang Nam Tư

– 24/3/1999: NATO tấn công liên bang Nam Tư

Tại khu tự trị Kosovo nơi có 90% là người Albani theo đạo Hồi, 10% người Serbi theo đạo Cơ đốc chính thống, mâu thuẫn dân tộc và tôn giáo lên cao kể từ khi một chính phủ bí mật của người Albani thành lập tồn tại song song cùng chính phủ liên bang; và đặc biệt từ khi “ngọn cờ đòi độc lập” của người Albani rơi vào tay của phái Quân đội giải phóng Kosovo chủ trương bạo lực và chính phủ trung ương Nam Tư tăng cường hành động để đối phó với phong trào này.

Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) tuyên bố rằng người Albania ở Kosovo đang bị các lực lượng FRY (quân đội Nam Tư), cảnh sát Serbia, và cánh bán quân sự nước này bức hại, bởi thế hành động can thiệp là cần thiết để chấm dứt tình hình. Hiến chương Liên Hiệp Quốc quy định hành động chiến tranh chỉ được coi là hợp pháp khi đó là cuộc chiến chống xâm lược hoặc là sự can thiệp quân sự với sự đồng ý của Hội đồng Bảo an. Dự thảo nghị quyết can thiệp quân sự bị Nga bác bỏ, nhưng NATO vẫn quyết tâm dùng sức mạnh không quân và hải quân để ép Nam Tư chấp nhận Kosovo độc lập và lục quân NATO triển khai để “gìn giữ hòa bình”.

Chiến dịch vận động dư luận trên các phương tiện truyền thông được tiến hành với mật độ và tần suất cao chưa từng thấy kể từ thời chiến tranh Việt Nam. Hãng CNN trực tiếp tố cáo người Serbia đang tiền hành “thanh lọc sắc tộc” ở Kosovo giống như cuộc diệt chủng người Do Thái trong Thế chiến thứ hai. Tổng thống Mỹ Bill Clinton cùng bộ trưởng Quốc phòng William Cohen đưa ra con số 100.000 người mất tích hay bị giết (thực tế 5 tháng sau người ta chỉ đào được hơn 2100 xác chết ở 1/3 số mộ, mà lại lẫn lộn trang phục binh lính và thường dân). Báo New York Times đưa tin, “Chính quyền cho hay bằng chứng về hành vi diệt chủng của các lực lượng vũ trang Serbia xuất hiện ngày càng nhiều”. Kết quả là lưỡng viện quốc hội Mỹ phê chuẩn việc đưa 4000 quân cùng các đồng minh NATO đến Nam Tư để “thực thi sứ mệnh gìn giữ hòa bình”. Một khoản chi khẩn cấp 13 tỷ đôla cho chiến dịch quân sự này đã được duyệt.

Đêm 24/3, thủ đô Belgrade rung chuyển bởi những loạt bom và tên lửa đầu tiên. Hệ thống không quân và phòng không Nam Tư không hề yếu nhưng đã gặp phải đối thủ quá mạnh cả về số lượng lẫn công nghệ. Tổng cộng có Nam Tư 136 máy bay chiến đấu (MIg-29 chỉ có 13 chiếc), 132 bệ phóng tên lửa phòng không tầm trung, 30 máy bay hỗ trợ và 53 trực thăng. Trong khi đó, liên quân NATO do Mỹ cầm đầu gồm hơn 600 máy bay chiến đấu (tổng cộng có hơn 1.000 máy bay), trong đó có các các máy bay ném bom chiến lược tàng hình tối tân В-2А và các máy bay tiêm kích tàng hình F-117A, hơn 60 tàu các loại, trong đó có 4 tàu sân bay. Đặc điểm nổi bật của lực lượng này là trong biên chế của nó có một số lượng lớn máy bay không người lái các loại (20 chiếc của Mỹ, gần 10 chiếc Pháp và hơn 10 chiếc của Đức).

Trong chiến dịch không kích gần 3 tháng chống Nam Tư, không quân NATO đã thực hiện tổng cộng hơn 20.000 phi vụ xuất kích và phóng đi 870 tên lửa hành trình (792 tên lửa hành trình phóng từ biển và 78 tên lửa hành trình phóng từ trên không), trong đó phóng 374 tên lửa hành trình phóng từ biển vào các căn cứ của Nam Tư trên lãnh thổ Kosovo.

Thiệt hại của Nam Tư là rất nặng nề. Gần như 100% mục tiêu công nghiệp dầu mỏ, 70% mục tiêu của công nghiệp hàng không, 40-50% các nhà máy xe tăng, đạn dược, gần 70% đường ô tô và đường sắt, 20-80% hạ tầng quân sự bị loại khỏi vòng chiến. Nhiều cây cầu, nhà máy tư nhân và tòa nhà công cộng cũng bị phá hủy. Việc tấn công các cơ sở hạ tầng dân sự là nỗ lực nhằm gây bất ổn cho chính quyền Nam Tư. Tổ chức Human Rights ước tính có 500 dân thường thiệt mạng, trong khi chính quyền đưa ra con số 1200-5700 người. Đại sứ quán Trung Quốc bị trúng tên lửa Mỹ khiến 3 phóng viên thiệt mạng, gây căng thẳng giữa Mỹ và Trung Quốc. Hàng trăm ngàn người Albania ở Kosovo đã phải di tản sang các nước láng giềng là Albania, Macedonia, và Montenegro. Thiệt hại kinh tế ước tính khoảng 30 tỷ đô la.

Theo một số nguồn tin, trong chiến dịch này liên quân NATO đã mất 31 máy bay chiến đấu, 6 trực thăng, 11 máy bay không người lái và gần 40 tên lửa hành trình. Ngoài ra, do bị bắn bị thương, 3 máy bay NATO đã phải hạ cánh bắt buộc xuống các sân bay Sarajevo (Bosnia-Herzegovina) và Skopje (Macedonia). Tổn thất của Nam Tư là 20 máy bay (8 MiG-29 và 12 MiG-21), trong đó 12 máy bay (4 MiG-29 và 8 MiG-21) bị tiêu diệt trên mặt đất; 13 đài radar bị loại khỏi vòng chiến.

Kết quả: chính phủ Nam Tư đồng ý rút quân khỏi Kosovo để lực lượng gìn giữ hòa bình quốc tế triển khai tại đây. Điều Mỹ và NATO không ngờ tới là quân đội Nga đã bất ngờ hành quân và chiếm sân bay chiến lược Slatina, do thỏa thuận của chính phủ Nam Tư với Liên Hiệp Quốc không nói rõ lực lượng gìn giữ hòa bình quốc tế gồm những quốc gia nào. Tổng thống Nam Tư Milosevic bị lật đổ trong cuộc “cách mạng Bulldozer” một năm sau. Ông bị đưa ra một tòa án quốc tế để xét xử nhưng tòa chưa kịp tuyên án thì đã qua đời trong tù. Năm 2015, tòa án Công lý Quốc tế của LHQ (ICJ) tuyên bố không thấy có tội ác diệt chủng của Croatia và Serbia, nhưng lại không đưa ra phán quyết về sự vô tội của Milosevic.

Liên bang Nam Tư tan rã thành các quốc gia mới như Kosovo, Montenegró, Serbia. Trong đó, Kosovo trở thành nước nghèo nhất châu Âu (hãy hình dung một quốc gia không đủ khả năng tài chính để tự in tiền, phải xin dùng euro làm đồng tiền chính dù không phải thành viên EU), tỉ lệ thất nghiệp lên tới 45%, lạm phát 8.3%, kiều hối từ nước ngoài gửi về chiếm 18% GDP. Thậm chí lễ kỷ niệm độc lập năm 2015 ở thủ đô Pristina của Kosovo đã không thể tiến hành, vì thị trưởng cho biết ngân sách thành phố không còn xu nào nữa.

– Muitenbac777 –

 

– 23/3/1801: Vụ ám sát Sa hoàng

– 23/3/1801: Vụ ám sát Sa hoàng

Sa Hoàng Paul I vốn dĩ không được sắp xếp để kế vị, do ông xung khắc với mẹ mình, nữ hoàng Catherine II trên nhiều lĩnh vực. Thậm chí đã có lần Paul I công khai buộc tội bà có ý định ám sát mình. Ông viết hẳn một luận văn phản đối chính sách bành trướng của mẹ, bày tỏ rằng nước Nga nên củng cố các vùng đất mới chiếm đóng và duy trì vị thế phòng thủ. Vì thế nên Alexander, con trai Paul I được bà ngoại đích thân nuôi nấng cẩn thận để truyền ngôi. Nhưng ngày 17 tháng 11 năm 1796, nữ hoàng Catherine II đột quỵ và qua đời mà không kịp để lại di chúc gì, vì thế Paul I đăng quang Sa hoàng Nga không gặp sự phản đối nào (thực tế lúc nghe tin mẹ hấp hối, ông ta đã chạy vội vào phòng, lục mọi giấy tờ nghi ngờ đem ra đốt, do lo ngại có văn bản nào đó tước quyền kế vị của mình).

Về đối ngoại, Paul I rút hết lính Nga ở nước ngoài về, kể cả đạo quân tham gia liên minh chống Cách mạng Pháp, và cánh quân đang chuẩn bị đánh Ba Tư (Iran) qua ngả Caucasus. Trong suốt triều đại 5 năm ngắn ngủi của ông, nước Nga không chiếm thêm vùng đất nào mà hầu như chỉ đóng vai trò trung gian, nhằm tái lập hòa bình và cân bằng quyền lực ở châu Âu. Ông lập liên minh với Napoleon (7000 tù binh Nga được chính phủ Pháp cấp đồng phục mới và trả lại vũ khí trước khi đưa về nước), lệnh cho quân Cossack di chuyển xuống phía Nam, nhắm tới Ấn Độ thuộc Anh (Paul I gần như là đã tuyên chiến khi ra lệnh giữ mọi tàu Anh trong cảng và cấm công dân nước này rời khỏi Nga, cắt mọi nguồn hàng nhập khẩu quan trọng của Anh như gỗ, lúa mì và khoáng sản).

Về đối nội, Paul I tổ chức cải cách quân đội Nga, ra lệnh sử dụng quân phục mới giống loại của nước Phổ. Binh lính sĩ quan phản đối ầm ầm vì đồng phục cũ rẻ và dễ mặc hơn. Nguyên soái Alexander Suvorov công khai chế giễu nó ngắn ngủn, bất tiện và bị cho nghỉ hưu lập tức. Nhiều chính sách khác của ông khiến giới quý tộc khó chịu (chẳng hạn như kiên quyết khui ra những vụ bòn rút ngân khố, làm dính líu tới 1 số lớn người), dẫn tới âm mưu ám sát.

Đêm 23/3, một nhóm sĩ quan vũ trang đột nhập vào tận phòng ngủ của Sa hoàng ở lâu đài Mikhailovsky, ép ông ký vào văn bản thoái vị viết sẵn. Có vẻ như Paul I đã từ chối và kháng cự nên bị đánh chết tại chỗ. Các sử gia còn tranh luận về vai trò của thái tử Alexander, nhưng đều thống nhất là không chủ mưu thì cũng thuộc loại đồng phạm chính. Sau khi Sa hoàng chết, một trong số kẻ tham gia là Nikolay Zubov đã đến gặp Alexander (ở phòng khác của lâu đài) và nói” Đến lúc rồi, hãy đi ra và cai trị thôi”. Quan ngự y James Wylie được triệu đến, nhận chỉ thị viết báo cáo khám nghiệm rằng Paul I qua đời do đột quỵ. Nhóm sát thủ không bị trừng phạt gì, dù có chứng cứ là kế hoạch ban đầu chỉ nhằm bức hoàng đế thoái vị thôi, nhưng do nhiều kẻ nốc rượu say nên có lẽ đã làm quá tay khiến Paul I thiệt mạng. Sau đó cả bọn vẫn sống ung dung tại Saint Petersburg và thường được đón tiếp trọng thể ở Cung Điện mùa đông.

Tất nhiên, giấy không gói được lửa, châu Âu rất nhanh chóng biết tin và ngán ngẩm với cái “tai nạn” đáng phàn nàn về mặt y học đó. Napoleon sau ngồi đọc cho Bộ trưởng ngoại giao Pháp viết hẳn 1 bức thư gần như mỉa mai trực tiếp tội giết cha khiến Alexander nhục nhã ê chề. Sa hoàng bèn trả đũa bằng cách công khai chỉ trích Napoleon là tên độc tài, rằng mình cảm thấy luyến tiếc về sự tiêu vong của nền Cộng hòa Pháp (trong khi chính Alexander lại là hoàng đế chuyên chế của 1 đế quốc xây dựng trên chế độ nông nô).

– 21/3/1800: Lễ đăng quang với vương miện….giấy của giáo hoàng Pius VII .

– 21/3/1800: Lễ đăng quang với vương miện….giấy của giáo hoàng Pius VII .

Sau khi giáo hoàng Pius VI chết ở nơi lưu đày, Napoleon cho ướp xác đến 3 tháng để chờ Cơ mật viện của Giáo hội bầu ra tân giáo hoàng, mới đồng ý cho chôn cất. Thời gian này khá lâu vì cần phải tập trung các Hồng y lại, và cuộc bầu chọn giáo hoàng thường bị can thiệp bởi các cường quốc, cũng như tình hình phe phái trong nội bộ Giáo hội. Cuối cùng thì 35 Hồng y, sau nhiều phiên họp ở đảo Saint-Georges-Majeur, xứ Venice.đã bầu hồng y Chiaramonti làm giáo hoàng thứ 251, hiệu là Pius VII.

Ngày 21 tháng 3, tân giáo hoàng đăng quang ngay tại tu viện Benedictine ở Saint-Georges-Majeur, vì nước Áo từ chối không cho ông làm lễ ở Vương cung thánh đường Saint-Marc. Nghi lễ rất đơn sơ vì cơ sở vật chất thiếu thốn. Khi chiếm đóng thành Roma, quân Pháp đã vơ vét sạch đồ dùng có giá trị của giáo hoàng tiền nhiệm, tính cả hơn 30 mũ triều thiên ba tầng (sau bị tháo dỡ hết để lấy vàng, bạc, ngọc nạm….không thể phục hồi lại được). Thành ra khi chuẩn bị đăng quang, Pius VII lâm vào cảnh không có gì để đội lên đầu. Bởi vậy cấp dưới đã chế tạm một vương miện bằng giấy và keo, gắn lên đó các viên ngọc và đồ trang sức của nhiều nữ quý tộc địa phương hiến tặng. Pius VII trở thành vị giáo hoàng duy nhất trong lịch sử Thiên Chúa Giáo dùng vương miện bằng giấy khi đăng quang. Việc đại diện của Chúa trời lại phải đội lên đầu một đống giấy vụn trộn keo, bị giáo hoàng Gregory XVI (1831-1846) coi là sự sỉ nhục.

(Bạn sẽ không thể tìm được 1 bức tranh nào vẽ giáo hoàng Pius VII đội vương miện giấy)

Napoleon có lẽ cũng nhận ra điều này, nên về sau hoàng đế Pháp có gửi tặng giáo hoàng Pius VII một vương miện mới bằng vàng bạc nạm đá quý (thật ra là nhặt nhạnh lắp ghép từ mấy cái vương miện cũ bị tịch thu), chạm trổ rất đẹp. Nhưng rồi thì đồ mới này cũng nhanh chóng bị đặt trong tủ, do người ta nhận ra nó quá nặng (8kg – tương đương quả tạ nâng 1 tay) và quá nhỏ để đội lên đầu (nghiêng đầu hơi quá là….rơi). Đã thế, khi soi kỹ còn thấy mặt trong và ngoài của vương miện khắc đầy các chiến công của Napoleon (trận Kim Tự Tháp, Marengo, Austerlitz…..). Chỉ về sau khi Napoleon đã sụp đổ và bị đày đi đảo xa rồi, hồng Y Consalvi mới dám đem những dòng này xóa đi và thay thế bằng câu châm ngôn trong Kinh Thánh.

Năm 1820, một vương miện bạc được thiết kế, nhưng rồi thì Pius VII và 3 đời giáo hoàng sau vẫn thích đội cái bằng giấy vì đơn giản là nó rất nhẹ. Đến năm 1845, giáo Hoàng Gregory XVI đặt làm 1 cái mới bằng vàng bạc nhưng dễ đội và nhẹ hơn mẫu cũ, rồi cho vương miện bằng giấy vào kho. Không rõ cái còn lưu đến nay là bản gốc hay phục chế.

– 20/3/1815: Napoleon vào Pari, bắt đầu thời kỳ “Một trăm ngày”

– 20/3/1815: Napoleon vào Pari, bắt đầu thời kỳ “Một trăm ngày”

Trong buổi dạ hội đêm 7 tháng 3 năm 1815, ở triều đình Áo, người ta tổ chức một cuộc khiêu vũ để chiêu đãi các vua chúa và đại diện của các cường quốc châu Âu đang họp ở Vienna. Cuộc vui đang tưng bừng hứng thú nhất thì bỗng nhiên các quan khách thấy đám cận thần của hoàng đế Francis I lộ vẻ bối rối cực độ, mặt mày xanh xám, hốt hoảng, các đình thần chạy vội xuống cầu thang chính, tưởng như có cháy trong cung điện. Chỉ trong nháy máy, cái tin không ngờ sau đây đã bay khắp các cung, phòng, làm mọi người hốt hoảng rụng rời bỏ cuộc khiêu vũ: một đạo tin vừa báo rằng Napoleon đã rời đảo Elba, đổ bộ lên đất Pháp và tay không khí giới, tiến thẳng về Pari.

Ngay từ những ngày đầu tháng 2 năm 1815, quyết định trở về nước Pháp và phục hưng đế chế đã bắt đầu được xác lập rõ rệt trong đầu óc Napoleon. Mẹ mình – bà Letizia là người đầu tiên được Napoleon thổ lộ tâm tình: “Con không thể chết ở hòn đảo này được đâu và con cũng không thể kết thúc cuộc đời con bằng sự nghỉ ngơi yên tĩnh chẳng xứng đáng với con” – Napoleon nói với mẹ – “Quân đội đang trông đợi con. Chắc chắn là con có thể gặp những trở lực không lường trước trên con đường con đi, có thể con sẽ gặp một tên sĩ quan trung thành với dòng họ Bourbon, nó sẽ ngăn chặn bước đi của chúng con và lúc đó sau vài tiếng đồng hồ, con sẽ ngã xuống. Nhưng cái kết thúc đó tốt hơn là chuỗi ngày dài đằng đẵng trên hòn đảo này với tương lai đã vạch là cái chết. Vì vậy mà con còn muốn đi và lao mình vào may rủi một lần nữa. Ý mẹ thế nào, mẹ thân yêu của con?”

Letizia vô cùng sửng sốt trước câu hỏi bất ngờ ấy mà bà không thể trả lời ngay được. “Con hãy để cho mẹ suy nghĩ một lát bằng tình cảm của người mẹ và rồi sau đó mẹ sẽ cho con biết”. Sau một lúc im lặng, bà nói: “Đi đi, con trai mẹ, đi đi, và theo đuổi định mệnh của con. Có lẽ con sẽ thất bại khi mưu toan của con tan vỡ, cái chết sẽ sát bên con. Nhưng con không thể ở lại đây được, đó là điều làm mẹ đau đớn. Mà cũng cầu mong rằng thượng đế đã từng che chở cho con trong bao nhiêu trận thì nay Người hãy còn che chở cho con một lần nữa”. Rồi bà ôm chặt lấy con trai. Ngày 26 tháng 2, Napoleon bí mật rời đảo cùng các sĩ quan trung thành và 1000 lính hộ tống.

Tàu buồm của người Anh và của hải quân hoàng gia Pháp thường xuyên đi lại trên hải phận đảo Elba, đó là nguy cơ đầu tiên. Một chiến hạm Pháp đi sát qua, một sĩ quan trên hạm giơ loa cất tiếng hỏi viên thuyền trưởng của Napoleon: “Ông vĩ nhân ấy có khỏe không?” “Khỏe lắm!”, người thuyền trưởng đáp. Và cuộc chạm trán ấy kết thúc. Chiến hạm của nhà vua không thấy được binh sĩ của Napoleon ẩn kín trong tàu. May mắn thay, cũng không phải gặp tàu Anh nào nữa. Cuộc vượt biển kéo dài gần ba ngày, vì gió đã yếu dần. Ngày 1 tháng 3 năm 1815, hồi ba giờ chiều, hạm đội vào vịnh Golfe-Juan và đổ bộ an toàn.

Hành trình 19 ngày về Pari là cả một sự kỳ diệu, hầu như tất cả các đạo quân, thống chế, tướng tá được vua Pháp cử đi bắt hay chặn Napoleon đều chạy ngay đến gặp ông và tình nguyện phục vụ hoàng đế. Không có bất cứ sự kháng cự nào, không có súng nổ, thậm chí chính Napoleon đã nói “Ta chỉ cần gõ hộp thuốc lá vào cổng thành là cổng phải mở ra”.

Sáng ngày 7 tháng 3, Napoleon đến thị trấn La Muya. Ở đằng xa, quân đội của vua Pháp đã dàn sẵn đội hình chiến đấu, ngăn bước tiến của đạo quân bên cạnh ông và phá cầu để cản họ. Napoleon dùng ống nhòm quan sát hồi lâu lực lượng quân địch đang triển khai. Sau đó, ông hạ lệnh cho binh sĩ chuyển súng qua bên phải, cắp vào nách, chúc nòng xuống đất. “Tiến”, ông phát lệnh. Và ông đi đầu hàng quân tiến trước mũi súng của viên đoàn tiền vệ quân đội nhà vua. “Hỡi các bạn, đừng bắn!” – Các kỵ binh kêu gọi – “Hoàng đế đang tiến đến đấy”. Tiểu đoàn dừng lại. Lúc ấy Napoleon đến sát bên họ, binh lính vẫn đứng im không động đậy, mũi súng chĩa thẳng, mắt chăm chăm nhìn vào con người mặc áo màu xám, đầu đội chiếc mũ nhỏ, đang một mình tiến về phía họ với bước đi chắc nịch.”Hỡi binh sĩ thuộc trung đoàn thứ năm! – Những tiếng ấy cất lên giữa sự im lặng khủng khiếp – Ta là hoàng đế của các người. Có thừa nhận ta không?” -“Có, có, có!”. Những tiếng ấy liền vang dậy trong hàng quân. Napoleon bèn vạch áo và phanh ngực ra: “Nếu trong các người, có ai là người lính muốn bắn vào hoàng đế của mình, thì đây, ta đây!”- Những người được chứng kiến cảnh đó đã suốt đời không quên được những tiếng hoan hô vang trời dậy đất của binh lính khi giải tán hàng ngũ để chạy đến xúm quanh Napoleon. Họ vây chặt lấy hoàng đế, hôn tay, hôn đầu gối ông và bị một thứ cuồng nhiệt chung kích động, họ khóc lên vì vui mừng. Nhân viên tình báo Anh ở đó đã phải kinh ngạc, và sau viết báo cáo tường thuật lại rằng đây là một sự mê muội.

Ở thành phố Lyon, để biểu dương lòng trung thành của binh sĩ đối với vương triều Bourbon, thống chế Jacques MacDonald yêu cầu binh sĩ chào mừng bá tước Artois, em trai và phái viên của nhà vua, bằng cách hô khẩu hiệu: “Hoàng thượng muôn năm!”. Đáp lời của Jacques MacDonald là một sự im lặng như chết. Sợ hãi rụng rời, bá tước Artois lật đật bỏ cuộc duyệt binh và ba chân bốn cẳng chuồn khỏi Lyon. Tay thống chế bèn ở lại điều khiển công việc phòng ngự một mình. Binh lính trầm lặng và làm việc với tinh thần bất đắc dĩ. Một lính công binh đến gần thống chế, nói: “Thưa ngài, làm thế này thì thật là hoàn hảo, nhưng là một người dũng cảm như vậy thì ngài nên bỏ bọn Bourbon, chúng tôi sẽ đưa ngài đến với hoàng đế, đến gặp ngài chắc hoàng đế sẽ vui mừng lắm!” MacDonald không đáp. Khi kỵ binh của Napoleon vào thành, MacDonald dẫn quân ra giao chiến, nhưng các trung đoàn của ông ta nhất là quân kỵ binh đi đầu vừa trông thấy đối phương đã chạy đến đón và hô lớn: “Hoàng đế muôn năm!”. Để khỏi bị chính binh sĩ của mình bắt làm tù binh, thống chế MacDonald thúc ngựa chuồn thẳng.

Ở Lyon, Napoleon nhắc lại những lời ông đã từng nói đi nói ở Grenoble, cũng như trước khi đến và sau khi rời khỏi Grenoble: ông sẽ đem hoà bình cho nước Pháp, tự do ở trong nước và hòa bình ở nước ngoài. Ông trở về để bảo vệ và củng cố những nguyên tắc của cuộc Đại cách mạng, ông hiểu rằng thời cuộc đã thay đổi, và từ nay trở đi, bằng lòng với một nước Pháp, ông từ bỏ hẳn tư tưởng xâm lược. Napoleon cũng ký lệnh truất phế vương triều Louis XVIII và hiến pháp hiện hành, giải tán quốc hội, cách chức tất cả những viên chức tư pháp do triều đình bổ nhiệm và bổ nhiệm những quan tòa mới.

Ở Pari, khi biết tin Napoleon đang tiến về với 14 vạn quân theo sau (toàn bộ số được huy động để đi bắt ông), triều đình Bourbon sợ hãi rụng rời. Vua Louis XVIII phản đối việc bỏ trốn, vì như vậy là nhục nhã và mất ngai vàng. Nhưng làm thế nào bây giờ? Đám quần thần nổi tiếng vì ngu ngốc của ông vua này bèn thảo luận nghiêm túc cái kế hoạch chiến lược sau đây: vua Louis XVIII sẽ lên xe và rời bỏ thành phố, đi theo là quan chức, linh mục, hoàng tộc. Khi đến cổng thành, cái bầu đoàn ấy sẽ dừng lại và sẽ chờ đợi kẻ thoán nghịch tới, trông thấy ông vua chính thống, cái ông già đầu tóc bạc phơ, mạnh mẽ vì nắm pháp lý trong tay, bạo dạn đem thân ra cản đường không cho kẻ thoán nghịch vào thủ đô, thì chắc chắn y sẽ hổ thẹn vì hành động của y và sẽ rút lui. Cũng may là Louis XVIII còn đủ tỉnh táo để chọn cách lên xe chạy khỏi thủ đô, thay vì nghe theo kế hoạch ngu dại đó.

Ở Pari, báo chí của chính phủ hoặc thân cận với giới cao cấp đã từ thế bình chân như vại một cách ngu xuẩn đến chỗ hoàn toàn tuyệt vọng, rồi cuối cùng là khiếp đảm ra mặt. Trong thời kỳ này, những báo chí ấy có đặc điểm là biểu thị thái độ bằng những lời chê, khen Napoleon liên tiếp thay đổi theo bước tiến về phía Bắc của ông.

– Thời kỳ thứ nhất: “Con rắn đảo Corsica đã đổ bộ lên vịnh Juan”.
– Thời kỳ thứ hai: “Con quỷ tiến về Grenoble”.
– Thời kỳ thứ ba: “Kẻ thoán nghịch tiến vào Grenoble”
– Thời kỳ thứ tư: “Bonaparte đã chiếm Lyon”.
– Thời kỳ thứ năm: “Napoleon đến gần Fontainebleau”.
– Thời kỳ thứ sáu: “Đức Hoàng đế hôm nay đang được thủ đô trung thành của người chờ đón”.

11 giờ đêm 19 tháng 3, vua Pháp cùng tất cả hoàng gia trốn khỏi Pari, chạy về phía biên giới Bỉ. Ngày 20 tháng 3 năm 1815, hồi 9 giờ đêm, Napoleon tiến vào Pari. Bạt ngàn quần chúng đón chờ ông ở cung điện Tuileries, và những tiếng reo hò vang dậy của những dòng thác người xô theo sau xe của Napoleon từ rất xa vang vọng tới quảng trường mỗi lúc một mạnh mẽ, và dần dần biến thành một tiếng ầm ĩ đầy hoan hỉ thì khối người đứng chật như nêm quanh cung điện đã ùa ra đón hoàng đế. Bị bao vây tứ phía, chiếc xe không thể tiến lên được. Kỵ binh hộ vệ đã uổng công mở đường. Về sau, những người lính cận vệ kể rằng: “Họ reo hò, khóc lóc, lăn xả vào chân ngựa, trèo lên xe, bất chấp tất cả. Khối quần chúng cuồng nhiệt ấy đổ xô tới hoàng đế, chen bật cả đoàn tùy tùng, lôi hoàng đế ra khỏi xe, rồi, giữa những tiếng hoan hô không dứt, họ chuyền Napoleon từ tay người này sang tay người khác cho đến tận cung điện, rồi qua cầu thang chính lên đến tầng cao nhất”.

Sau những thắng lợi to lớn nhất, sau những chiến dịch huy hoàng nhất, sau những cuộc xâm lược các vùng đất rộng lớn và trù phú nhất, Napoleon cũng chưa hề bao giờ được tiếp đón ở Pari như đêm 20 tháng 3 năm 1815 đó. “Những con người không vụ lợi đã dẫn tôi về Pari. Hạ sĩ quan và binh lính đã làm tất cả. Tôi hoàn toàn chịu ơn nhân dân và quân đội” – Napoleon nói. Sau khi người ta đã phải khó nhọc lắm mới khuyên nổi dân chúng giải tán, Napoleon lại trở về phòng làm việc cũ khi xưa và lao ngay vào công việc, đối mặt với ông sẽ là liên quân của toàn bộ châu Âu – liên minh lớn nhất trong lịch sử tính đến trước thế chiến I.

Ngày 13 tháng 3 năm 1815, các cường quốc châu Âu gặp nhau tại hội nghị Vienna đã phản ứng kịch liệt đối với sự quay về của Napoleon. Bằng một tuyên bố chung, đại diện của Anh, Pháp, Nga, Áo, Phổ, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha và Thụy Điển đặt Napoleon ra ngoài vòng pháp luật. Ngày 25 tháng 3, bốn cường quốc Anh, Nga, Áo và Phổ ký hiệp ước liên minh, trong đó mỗi nước cam kết cung cấp 15 vạn quân. Các quốc gia khác tham gia hiệp ước này trong những tuần tiếp theo, đẩy tổng số liên quân lên đến 1.068.000 người (dân số cả châu Âu chỉ có 75 triệu). Con số này gấp hơn 3 lần lực lượng Napleon có thể huy động. Chính phủ Anh tuyên bố chi tài trợ 9 triệu bảng trong suốt thời kỳ chiến tranh (gần gấp đôi cả năm 1814). Bất chấp những nỗ lực của Napoleon để trấn an châu Âu về hòa bình, các nước liên minh tỏ ra quyết tâm chưa từng thấy.và từ chối mọi đề nghị đàm phán. Ngày 12 tháng 6, Napoleon rời Pari cùng quân đội, đánh những trận cuối cùng trong sự nghiệp của mình.